← Commentary GAW 101-140

Commentary GAW 103

Tóm lược chương

Ảo cảm chiến tranh thuộc cung bốn, có tính bản năng đối với giới nhân loại là giới thứ tư, và biểu hiện qua sự cọ xát trái với những quan hệ đúng đắn giữa người với người. Những bài viết năm 1940 trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn phân biệt hai trật tự thế giới: một do các mãnh lực ánh sáng thúc đẩy, một do phe Trục đáp ứng các Chúa Tể Bóng Tối xây dựng; đồng thời trình bày chín điểm làm nền tảng cho trật tự mới và nền văn minh đón nhận sự ngoại hiện của Thánh đoàn. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, cuộc chiến ấy vẫn tiếp diễn ngầm trên bình diện cảm xúc và trí tuệ, khiến nhiều cảnh báo trong văn bản vẫn mang tính thời sự. Các kế hoạch của…


Commentary GAW 103

Tóm Tắt

Ảo cảm chiến tranh và trách nhiệm xây dựng trật tự thế giới

Ảo cảm chiến tranh thuộc cung bốn, có tính bản năng đối với giới nhân loại là giới thứ tư, và biểu hiện qua sự cọ xát trái với những quan hệ đúng đắn giữa người với người. Những bài viết năm 1940 trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn phân biệt hai trật tự thế giới: một do các mãnh lực ánh sáng thúc đẩy, một do phe Trục đáp ứng các Chúa Tể Bóng Tối xây dựng; đồng thời trình bày chín điểm làm nền tảng cho trật tự mới và nền văn minh đón nhận sự ngoại hiện của Thánh đoàn. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, cuộc chiến ấy vẫn tiếp diễn ngầm trên bình diện cảm xúc và trí tuệ, khiến nhiều cảnh báo trong văn bản vẫn mang tính thời sự. Các kế hoạch của Hitler được mô tả quanh những trang 180–190 cho thấy hậu quả khủng khiếp của một nền văn minh dựa trên phức cảm ưu việt và đặt ra trách nhiệm hành động cho người phụng sự.

Các cặp đối cực và con đường trung đạo

Theo văn bản của Chân sư DK, Thượng đế tạo ra cả tinh thần, vật chất và con đường ở giữa thuộc phương diện tâm thức hay linh hồn. Bộ ba đối cực và con đường quân bình phản chiếu trên cõi cảm dục hoạt động của tinh thần–linh hồn–thân thể, hay sự sống–tâm thức–hình tướng; cả ba đều thiêng liêng. Mối liên hệ này còn được diễn giải thành chủ thể, khách thể và quan hệ giữa chúng, với hoạt động sáng tạo của cung ba làm nền tảng cho vũ trụ phát xạ. Sự quân bình gợi liên hệ với dấu hiệu Thiên Bình, còn trung đạo cao quý gợi Đức Phật và Sao Kim; khác với sự phân chia chủ thể–khách thể gắn với Descartes, huyền bí học khẳng định khả năng phục hồi tri giác hợp nhất.

Nhận lầm bản sắc là gốc rễ của ảo cảm

Theo cách lý giải xuyên suốt của Thầy MDR, hầu hết ảo cảm và ảo tưởng phát sinh từ việc nhận lầm bản sắc: đồng hóa mình với hình tướng hay công cụ biểu hiện rồi phát triển những dục vọng quanh sự đồng hóa ấy. Thực hành giải trừ sự đồng hóa bắt đầu bằng việc nhận biết mình ở phía sau và bên trong những gì đang được quan sát, từ thể xác, các dòng dĩ thái đến dục vọng và tư tưởng. Tiến trình này về sau còn vượt qua sự đồng hóa với thể nguyên nhân, Hoa Sen Chân Ngã, Tam Nguyên Tinh Thần và cả hiện thể chân thần. Quan điểm về thức giả tối hậu là Thượng đế Vũ Trụ thuộc phần diễn giải triết học mở rộng, hướng đến sự chứng nghiệm rằng chỉ có một Bản Thể duy nhất.

Ba cám dỗ và khát vọng được công nhận

Ba cám dỗ của Đức Jesus minh họa những ảo cảm về quyền lực thế gian, sự thỏa mãn vật chất và việc phô diễn quyền năng để thu hút sự ngưỡng mộ. Một vấn đề diễn giải được đặt ra là các thử thách ấy thuộc về Đức Jesus, Đức Christ sử dụng thân thể của Ngài, hay cả hai cùng tham dự; khả năng thứ ba được đề xuất vì tâm thức của đệ tử có thể đứng bên quan sát khi một Đấng cao cả sử dụng thân thể mình. Điểm chung của các cám dỗ là củng cố phàm ngã bằng địa vị, quyền năng và sự chú ý của người khác. Yêu cầu loại bỏ ham muốn được công nhận, kể cả từ Thánh đoàn và các đệ tử đồng môn, được liên hệ với phần đầu Quy luật 11 trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo.

Những biến dạng tinh thần trên Đường Đạo

Ảo cảm trên Đường Đạo gồm kiêu hãnh, phức cảm cứu thế, phức cảm phụng sự và khát vọng cao cả bị diễn giải theo lợi ích cá nhân. Những trường phái khẳng định thiên tính để đạt lợi ích vật chất được đối chiếu với một số giáo hội giàu có hứa hẹn thịnh vượng và quan niệm rằng giàu có chứng tỏ được Thượng đế yêu thương. Sự tập trung vào bản thân, tự thiêu hủy mang tính phô diễn, thái độ lấn át và tự khẳng định trong công việc tinh thần đều có thể làm hỏng tính tự phát của đời sống linh hồn. Ngay cả phụng sự cũng trở thành ảo cảm khi người phụng sự đặt mình ở trung tâm để nhận sự tán thưởng, khiến bộ phận lấn át toàn thể hợp tác.

Giải trừ sự đồng hóa và tự quan sát

Bài tập trong Raja Yoga sử dụng nhận biết “tôi có điều này, nhưng tôi không phải điều này” để phân biệt chủ thể với các công cụ của mình. Dù theo quan điểm hợp nhất tối hậu không có gì thật sự nằm ngoài Bản Ngã, sự phân biệt giữa ngã và phi ngã vẫn cần thiết ở một giai đoạn thanh lọc tâm lý. Năm nhóm ảo cảm đã khảo sát gồm tính vật chất, tình cảm, sùng tín, các cặp đối cực và ảo cảm trên Đường Đạo; sự thích hay không thích một người mà không thấy linh hồn họ thuộc nhóm tình cảm, còn sùng tín đặc biệt liên hệ với cung sáu. Một cơ chế giám sát nội tâm có thể cảnh báo khi hành vi sắp vượt giới hạn của định luật hoặc minh triết, dựa trên kinh nghiệm và có thể cả sự can thiệp của Thiên Thần của Hiện Diện; trách nhiệm trước hết là điều chỉnh chính mình.

Nghi ngờ, tự thương hại và chỉ trích

Chỉ trích, tự thương hại và nghi ngờ được nêu là ba nguyên nhân chính gây ảo cảm, lần lượt liên hệ với cung ba, cung hai và cung một. Theo lời thuật và cách nhìn của Thầy MDR, sự nghi ngờ của Helena Roerich rằng Alice Bailey tiếp nhận giáo huấn từ một nhà hắc thuật mang danh Chân sư Tây Tạng đã làm tổn hại quan hệ giữa hai cộng đồng và còn để lại ảnh hưởng kéo dài. Daniel Entin, người đứng đầu Hội Agni Yoga, được nêu như một ví dụ về khả năng tiếp nhận giá trị trong cả Agni Yoga lẫn giáo huấn Alice Bailey. Tính bao gồm cần đi cùng phân biện tinh thần: đánh giá phẩm chất giáo huấn trong Ánh sáng trên Đường Đạo, tác phẩm của Blavatsky hay Alice Bailey, thay vì bác bỏ theo sự gắn bó phe nhóm.

Địa vị đệ tử được chấp nhận và lần điểm đạo thứ hai

Chiến trường chủ yếu của người sắp trở thành đệ tử được chấp nhận hoặc đang trên Con Đường Đệ Tử là ảo cảm, và việc giải quyết vấn đề này mang tính cấp bách đối với đệ tử cùng người chí nguyện cao cấp. Địa vị đệ tử được chấp nhận thường được đặt trong khoảng giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, nhưng không có quy luật thời gian cố định; một người có thể vượt lần điểm đạo thứ hai mà vẫn chưa được chấp nhận do mối liên hệ riêng với một Chân sư. Khoảng cách giữa hai lần điểm đạo có thể kéo dài nhiều kiếp hoặc chỉ một vài kiếp, tùy khả năng hi sinh và nỗ lực của cá nhân. Khi đạt lần điểm đạo thứ hai, nhiều ảo cảm lớn đã phải tiêu tan, nhưng điều đó chưa bảo đảm thoát khỏi mọi nguy cơ lệch đường.

Hi sinh, tha thứ và sự cho đi

Tha thứ được diễn giải theo giáo huấn trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn là thói quen trao cho người khác những gì cao quý nhất mình có để giúp họ vươn lên. Theo nghĩa này, tha thứ gắn trực tiếp với hi sinh: trao đi điều thiêng liêng bên trong và giảm sự coi trọng những gì thấp hơn. Câu chuyện đồng tiền của người góa phụ cho thấy giá trị của sự cho đi tùy vào mức độ dâng hiến thực sự, chứ không chỉ số lượng; chỉ chính người cho mới biết mình đã hi sinh đến đâu. Lời khuyên của Chân sư DK về việc cho đến khi phàm ngã cảm thấy đau được liên hệ với khả năng thành công của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và việc ngăn ngừa chiến tranh.

Sức mạnh của các bài khấn nguyện

Bài khấn nguyện đầu tiên được nhắc đến kêu gọi ánh sáng, hòa bình, hợp tác giữa những người thiện chí, sự tha thứ và quyền năng hỗ trợ nỗ lực của Các Đấng Cao Cả. Theo lời bình giảng, bài này có sức mạnh thái dương lớn đến mức một số thành viên Thánh đoàn từng lo ngại người chưa đủ khả năng tiếp nhận sẽ bị áp đảo. Việc đưa bài khấn nguyện ấy trở lại sử dụng được đề xuất, cùng với khổ khấn nguyện năm 1940 mang tính chiến đấu mạnh mẽ của cung một. Hiệu lực của các Quyền năng từ đòi hỏi chỉnh hợp thật sự và sự tham dự của bộ não; chỉ đọc lời mà thiếu điều kiện này đem lại rất ít tác dụng.

Raja Yoga và thể trí vững vàng trong ánh sáng

Raja Yoga được nhấn mạnh trong thời đại Arya vì giúp đệ tử giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng, nhận diện ảo cảm và làm tiêu tan màn sương che phủ cõi cảm dục. Đây là khoa học của linh hồn và thể trí được linh hồn thấm nhuần, vượt quá phạm vi tri thức của Jnana Yoga; Agni Yoga cũng cần nền tảng kỷ luật ấy. Các kinh Yoga của Patanjali cùng phần bình giải của Alice Bailey trong Ánh sáng của Linh hồn được xem là tài liệu nền tảng cần thường xuyên sử dụng. Hình ảnh mặt trời mọc làm tan sương tượng trưng cho ánh sáng linh hồn xuyên qua thể trí và khai quang cõi cảm dục; việc duy trì thái độ suy ngẫm suốt ngày giúp giữ tính liên tục của tâm thức và hạn chế tái rơi vào ảo cảm.

Phân biệt phương tiện xử lý ảo cảm và ảo tưởng

Thể trí được soi sáng làm tiêu tan ảo cảm, còn trực giác xua tan ảo tưởng; hai năng lực này có mục tiêu và tác động khác nhau đối với đời sống phàm ngã. Nguyên tắc tác động từ cấp độ cao hơn giải thích sự phân biệt ấy: thể trí đứng trên cõi cảm dục nên có thể xử lý ảo cảm, còn trực giác đứng trên cõi trí nên có thể sửa những hình tư tưởng sai lạc. Đưa trực giác hoặc quá nhiều quyền năng linh hồn trực tiếp vào ảo cảm có thể làm tình hình tệ hơn, vì vậy cần phân biện chính xác phương tiện và đối tượng. Công việc đòi hỏi vừa sử dụng năng lượng linh hồn thành thạo, vừa thấu hiểu rõ tiến trình và duy trì chỉnh hợp.

Nguồn gốc một số giáo huấn Agni Yoga

Phần trao đổi nhắc đến tên Soi sáng gắn với tập đầu Lá trong Vườn Morya và đặt vấn đề về sự chuyển tiếp từ Raja Yoga sang Agni Yoga. Dựa trên ký ức về những cuộc trò chuyện với Daniel Entin, Thầy MDR cho rằng Nicholas Roerich có thể là người ghi lại hai quyển đầu, đồng thời thừa nhận khả năng nhớ sai. Lời mô tả của Chân sư DK về bộ giáo huấn được phân thành ba nguồn: một phần do Chân sư Morya truyền từng lời, một phần hình thành qua sự phủ bóng của Ngài lên những người xuất bản, và một phần do chính họ thêm vào.

Hitler, cám dỗ quyền lực và giới hạn của điểm đạo

Theo nhận định riêng của Thầy MDR, Hitler có thể đã ở quanh lần điểm đạo thứ hai, nhưng không thể xác định chính xác cấp độ; ý tưởng thanh lọc của Hitler đã biến dạng thành việc công kích sự “bất thuần khiết” ở người khác. Câu chuyện đồng nhất Hitler với Klingsor, hiệp sĩ sa ngã trong Parsifal của Wagner, được kể như một truyền thuyết không thể kiểm chứng. Phần diễn giải huyền bí còn liên hệ quyền lực của Hitler với sự phối hợp trung tâm ajna và trung tâm xương cùng, cùng sự chiếm hữu của một Thực Thể tà ác thuộc nhóm được mô tả có sáu thủ lĩnh ở phương Tây và sáu ở phương Đông. Bài học được rút ra là ngay cả sau lần điểm đạo thứ hai, phức cảm quyền lực vẫn có thể tồn tại và khả năng rẽ sang tả đạo chưa hoàn toàn chấm dứt.

Vượt qua thử thách và đối diện Kẻ Chận Ngõ

Sự đáng tin cậy thực sự được gắn với việc vượt qua các cám dỗ về thế gian, xác thịt và ma quỷ, chứ không chỉ đạt một cấp điểm đạo. Người đệ tử phải đối diện Kẻ Chận Ngõ của chính mình trước khi tiến trên Con Đường Điểm Đạo đích thực liên hệ với Sirius, dẫn đến Biến hình. Alice Bailey và Roberto Assagioli được Thầy MDR nêu là hai trường hợp có thể xác nhận thuộc cấp điểm đạo thứ ba trong nhóm của Chân sư DK. Việc một người đã trải qua, đang trải qua hay chưa đến thử thách trong hoang mạc thuộc quan hệ giữa Chân sư và đệ tử, không phải đối tượng để người ngoài tùy tiện đánh giá.

Chiếm dụng năng lượng linh hồn và ảo cảm trên Đường Đạo

Theo cách phân biệt được Thầy MDR đề xuất, phàm ngã có thể chiếm dụng và làm biến dạng năng lượng linh hồn từ lâu trước khi cá nhân bước vào Đường Đạo, còn ảo cảm trên Đường Đạo chỉ xuất hiện khi đã thực sự bước vào đó. Những biểu hiện như tàn nhẫn ở người có linh hồn cung một, yếu đuối ở người có linh hồn cung hai hoặc thao túng ở người có linh hồn cung ba có thể phát sinh khi phàm ngã sử dụng sai năng lượng ấy. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào một nhược điểm để suy ra cung phàm ngã. Trên Đường Đạo, việc chiếm dụng vẫn có thể xảy ra, nhưng sự nhận biết linh hồn như cực cao hơn và nỗ lực sống theo phẩm tính của linh hồn có thể làm giảm nguy cơ này.

Quyền lực kinh tế và nguy cơ chia rẽ châu Âu

Ảo cảm chiến tranh gắn với quyền lực, tiền bạc và bất bình đẳng kinh tế; cuộc trao đổi nêu thông tin rằng 26 người giàu nhất sở hữu tài sản ngang với 50% dân số nghèo nhất thế giới. Alex đặt vấn đề về các nhóm lợi ích kinh tế đứng sau Brexit, cùng nguy cơ đối với Thỏa thuận Thứ Sáu Tuần Thánh và Liên minh châu Âu, hai thành tựu được xem là đã đem lại hòa bình cho các đảo Anh–Ireland và cho lục địa châu Âu suốt 70 năm. Nghịch lý được nêu ra là những giải pháp hợp lý vẫn có thể tồn tại, nhưng những người nắm quyền dường như không muốn tiếp nhận lý trí, phản ánh tình trạng được gọi là thời đại hậu sự thật.

Giả thuyết về giai đoạn thứ ba của chiến tranh

Theo nhận định riêng của Thầy MDR, Thế chiến thứ nhất và thứ hai là hai giai đoạn của cùng một cuộc chiến, còn những hoạt động ngầm, khó nhận diện hiện nay tạo thành giai đoạn thứ ba; cách lý giải này vẫn chờ Chân sư DK xác nhận. Hội nghị Bách niên được xem là cơ hội mở rộng lớn lao và tăng cường quyền năng của Thánh đoàn, nên các mãnh lực đối kháng sẽ tìm cách kích động chia rẽ, xung đột, thù địch và cuối cùng là chiến tranh để làm suy giảm hiệu lực của hội nghị. Nhận định ấy liên hệ với lời Chân sư DK rằng các mãnh lực duy vật sẽ chiến đấu đến cùng để giữ đặc quyền, kể cả bằng cách thúc đẩy những nhân vật mang tính chia rẽ. Sáu năm tiếp theo vì vậy được nhìn nhận như một giai đoạn đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực phụng sự tập thể.

Donald Tusk và Jacob Rees-Mogg như hình ảnh đối chiếu

Hai bức ảnh Donald Tusk và Jacob Rees-Mogg lúc trẻ gợi nên sự đối chiếu giữa một người vươn lên từ hoàn cảnh khó khăn và một người sinh trong tầng lớp đặc quyền. Alex giới thiệu Tusk là con một người thợ mộc ở Ba Lan, từng tham gia đấu tranh chống cộng sản và hỗ trợ phong trào Đoàn kết, đồng thời nhắc lại lời chỉ trích của ông đối với những người cổ vũ Brexit mà không có kế hoạch thực hiện an toàn. Theo cách đánh giá riêng của Thầy MDR, sự tương phản này tượng trưng cho hai hướng đi: thúc đẩy đoàn kết và thúc đẩy chia rẽ; đây là bình luận cá nhân về các nhân vật chính trị, không phải nhận định được trích từ Chân sư DK.

Khoảng cách giữa yêu cầu hậu chiến và thực trạng

Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn chứa những dự báo cùng các yêu cầu cho thời kỳ sau chiến tranh, nhưng theo ước lượng riêng của Thầy MDR, nhân loại dường như chưa hoàn thành nổi 10% những điều cần thực hiện. Sự thiếu chuẩn bị cho trật tự thế giới mới tạo khoảng trống để các mãnh lực duy vật mở rộng ảnh hưởng. Trách nhiệm của mỗi đệ tử là xác định cách hoạt động đồng thời về nội môn và ngoại môn nhằm ngăn đà trượt xuống đời sống ích kỷ của bản chất hành khí thấp.

Thiện chí, hợp nhất và sự giám sát phản ứng

Tham thiền nhóm hợp nhất và công việc Tam Giác với mức tập trung cao được xem là những phương tiện thiết thực để hỗ trợ thiện chí và hợp nhất. Tuy nhiên, công việc ấy đòi hỏi giữ gìn tâm thức, tránh rơi vào thù hận ngay cả khi hoàn cảnh khiến thù hận có vẻ chính đáng; lời cảnh báo của Chân sư DK về nguy cơ này đặc biệt áp dụng cho các đệ tử. Câu giáo huấn được trích khuyên nên nghi ngờ sâu sắc những phản ứng trước đời sống và hoàn cảnh nếu chúng khơi dậy sự chỉ trích, tính chia rẽ hoặc lòng kiêu hãnh. Những phản ứng đối với biến cố thế giới và các đệ tử đồng môn vì vậy trở thành cơ hội lắng nghe sự cảnh tỉnh bên trong.

Chuẩn bị tham thiền và hợp nhất ba ánh sáng

Bài tham thiền bắt đầu bằng sự im lặng chung, cảm nhận sự hiện diện của nhau và củng cố niềm tin vào khả năng phụng sự của nhóm qua công thức đã được trao truyền. Công thức bảo vệ sử dụng thập giá thiên tính, bao gồm đôi mắt, cùng sự xác lập vị trí bất lay chuyển trong ánh sáng với tư cách linh hồn. Ba ánh sáng được tập hợp và dung hợp: ánh sáng của vật chất với sinh lực nâng lên cấp độ trí tuệ, ánh sáng lý trí và luận lý của thể trí, cùng ánh sáng linh hồn đưa xuống để hòa nhập với hai ánh sáng thấp hơn. Ánh sáng hợp nhất này mang sinh lực, lý trí và phẩm tính linh hồn, tạo nguồn cho chùm sáng mà nhóm sẽ phóng chiếu.

Chùm sáng và ý chí tinh thần

Chùm sáng lớn hướng vào cõi cảm dục, nối thế giới bên trong của ý nghĩa với thế giới vi tế của ảo cảm, đồng thời mang ánh sáng và sự thấu hiểu đến nơi cần thiết. Ý chí tinh thần được khẩn cầu để tăng cường chùm sáng, với nguồn được xác định nơi Chân Thần và atma, rồi qua Ngọc trong Hoa Sen và các cánh hoa hi sinh. Sự hình dung dòng quyền năng đi xuống giúp tập trung ánh sáng vào mục tiêu cụ thể. Chùm sáng có hai chức năng liên hệ mật thiết: phát hiện ảo cảm và phá hủy nó.

Làm tiêu tan ảo cảm chiến tranh

Ảo cảm chiến tranh là mục tiêu của công việc nhóm, nhưng cần phân biệt những cuộc chiến phải tiến hành với động cơ đúng đắn và những cuộc chiến bắt nguồn từ ý thức hệ, ham muốn chiếm hữu hoặc thống trị. Việc suy ngẫm trước hết hướng đến những mất mát mà nhân loại phải chịu do tinh thần hiếu chiến không cần thiết. Ba Quyền năng từ lần lượt khẳng định sức mạnh ánh sáng hợp nhất ngăn ảo cảm chiến tranh xuất hiện, vô hiệu hóa ảnh hưởng của phẩm tính ấy lên nhân loại và phá hủy sự sống đứng sau nó. Năm phút im lặng với mục đích mãnh liệt tiếp nối công thức, rồi chùm sáng được thu khỏi cõi cảm dục về cõi trí, gắn với hình ảnh biến gươm thành lưỡi cày và giáo thành dụng cụ tỉa cây.

Giải trừ vũ khí và ổn định các thể

Theo lời Chân sư DK được dẫn lại, trật tự thế giới mới sẽ không cho phép quốc gia nào sản xuất phương tiện chiến tranh; vũ khí dùng để chống các quốc gia khác sẽ bị cấm. Sau công việc làm tiêu tan ảo cảm, nhóm xác lập rằng công việc đã được thực hiện và tái tập trung trên cõi trí trong ánh sáng linh hồn. Việc Xướng linh từ OM lần lượt hướng đến thể trí, thể cảm dục và thể xác–dĩ thái nhằm ổn định sự trở về sau tham thiền.

Đấng Tinh thần Hòa Bình và sự trở lại của Đức Christ

Đấng Tinh thần Hòa Bình được giới thiệu là một Thực Thể vĩ đại ngoài hành tinh, đã liên kết với Đức Christ từ thời Ngài hoạt động tại Palestine và hiện tham gia một tam giác trong Shamballa, hoặc hoạt động qua Shamballa, để bảo vệ và trang bị cho sứ mệnh của Ngài. Mối liên hệ của Đấng này đôi khi được đặt với cung một, đôi khi với cung hai, nên đây là một đề tài cần nghiên cứu thêm. Sự trở lại của Đức Christ đòi hỏi hòa bình được khôi phục ở một mức độ nhất định, nguyên khí chia sẻ gần đi vào thực hành với những xu hướng mạnh mẽ trong các chính phủ, và công việc thanh lọc các tổ chức chính trị, tôn giáo ít nhất đã bắt đầu. Theo niềm tin riêng của Thầy MDR, việc giữ Liên minh châu Âu khỏi chia rẽ phù hợp với ý chí của Chân sư R., với Đức Christ, Đấng Tinh thần Hợp Nhất và Đức Sanat Kumara đứng phía sau.

Text GAW 103 – Văn bản GAW 103

Glamour: A World Problem pages 80–81

Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới trang 80–81

[1] As the aspirant learns to free himself from the glamours upon which we have touched, he discovers another world of fog and mist through which the Path seems to run [2] and through which he must penetrate and thus free himself from the glamours of the Path. What are these glamours, my brothers? [3] Study the three temptations of Jesus, [4] if you would know clearly what they are. [5] Study the effect that the affirmation schools which emphasize divinity (materially employed) have upon the thought of the world; [6] study the failures of disciples through pride, [7] the world savior complex, the service complex, and all the various distortions of reality which a man encounters upon the Path, which hinder his progress and which spoils the service to others which he should be rendering. [8] Emphasize in your own minds the spontaneity of the life of the soul and spoil it not with the glamour of high aspiration selfishly interpreted, [9] self-centredness, [10] self-immolation, [11] self-aggressiveness, [12] self-assertiveness in spiritual work—[13] such are some of the glamours of the Path.

[1] Khi người chí nguyện học cách giải thoát mình khỏi những ảo cảm mà chúng ta đã đề cập, y khám phá một thế giới khác đầy sương mù mà Đường Đạo dường như đi xuyên qua [2] và y phải xuyên thấu thế giới ấy để giải thoát mình khỏi những ảo cảm của Đường Đạo. Các huynh đệ của Tôi, những ảo cảm này là gì? [3] Hãy nghiên cứu ba sự cám dỗ của Đức Jesus, [4] nếu các bạn muốn biết rõ chúng là gì. [5] Hãy nghiên cứu ảnh hưởng mà các trường phái khẳng định thiên tính (vận dụng thiên tính vào mục đích vật chất) gây ra đối với tư tưởng của thế giới; [6] hãy nghiên cứu những thất bại của các đệ tử do lòng kiêu hãnh, [7] phức cảm cứu thế, phức cảm phụng sự và mọi sự bóp méo thực tại khác nhau mà con người gặp trên Đường Đạo, vốn cản trở bước tiến của y và làm hỏng việc phụng sự người khác mà lẽ ra y phải thực hiện. [8] Hãy nhấn mạnh trong thể trí của chính các bạn tính tự phát của đời sống linh hồn và đừng làm hỏng nó bằng ảo cảm về khát vọng cao cả được diễn giải một cách ích kỷ, [9] sự tập trung vào bản thân, [10] sự tự hiến mình, [11] sự hiếu thắng, [12] sự tự khẳng định trong công việc tinh thần—[13] đó là một số ảo cảm của Đường Đạo.

[14] Next, we will consider glamour on the etheric plane and the theme of the Dweller upon the Threshold, [15] and thus complete the brief outline of our problem which the first part of this teaching was intended to convey.

[14] Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét ảo cảm trên cõi dĩ thái và chủ đề Kẻ Chận Ngõ, [15] qua đó hoàn tất phần phác thảo ngắn gọn về vấn đề của chúng ta mà phần đầu của giáo huấn này nhằm truyền đạt.

[16] Before taking up this subject in some detail, I would like to add something to our previous consideration of the problem of glamour. In your last instruction, I elaborated somewhat upon the subject of the various types of glamour and left with you the concept of their great importance in your individual lives. [17] The battlefield (for the man who is nearing accepted discipleship or who is upon the path of discipleship, in the academic sense) is primarily that of [Page 81] glamour. [18] That is the major problem and its solution is imminent and urgent for all disciples and senior aspirants. [19] It will be apparent, therefore, to you why the emphasis has been put, during the Aryan age, upon the necessity for the study of Raja Yoga, [20] and the cultivation of submission to its discipline. [21] Only through Raja Yoga can a man stand steady in the light, [22] and only through illumination and the achievement of clear vision can the fogs and miasmas of glamour be finally dissipated. [23] Only as the disciple learns to hold his mind “steady in the light,” and as the rays of pure light stream forth from the soul, can the glamour be discovered, discerned, recognized for what it essentially is and thus be made to disappear, as the mists of earth dissolve in the rays of the rising sun. [24] Therefore I would counsel you to pay more adequate attention to your meditation, cultivating ever the ability to reflect and to assume the attitude of reflection—held steady throughout the day.

[16] Trước khi đi vào chủ đề này một cách chi tiết, Tôi muốn bổ sung đôi điều vào phần xem xét trước đây của chúng ta về vấn đề ảo cảm. Trong bài huấn thị gần nhất dành cho các bạn, Tôi đã trình bày khá chi tiết về những loại ảo cảm khác nhau và để lại cho các bạn ý niệm về tầm quan trọng lớn lao của chúng trong đời sống riêng của mỗi người. [17] Chiến trường (đối với người đang tiến gần đến địa vị đệ tử được chấp nhận hoặc đang ở trên Con Đường Đệ Tử, theo nghĩa học thuật) chủ yếu là chiến trường của [Page 81] ảo cảm. [18] Đó là vấn đề chính yếu, và đối với mọi đệ tử cùng những người chí nguyện lâu năm, việc giải quyết vấn đề ấy đã cận kề và cấp bách. [19] Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ vì sao trong thời đại Arya, người ta đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu Raja Yoga, [20] và rèn luyện sự tuân phục kỷ luật của pháp môn này. [21] Chỉ thông qua Raja Yoga, con người mới có thể đứng vững trong ánh sáng, [22] và chỉ thông qua sự soi sáng cùng việc đạt được tầm nhìn rõ ràng, những màn sương mù và chướng khí của ảo cảm mới có thể hoàn toàn tiêu tan. [23] Chỉ khi đệ tử học cách giữ thể trí “vững vàng trong ánh sáng”, và khi những tia sáng thuần khiết tuôn ra từ linh hồn, ảo cảm mới có thể được phát hiện, phân biện, nhận biết đúng bản chất của nó và nhờ đó biến mất, như sương mù trên mặt đất tan đi trong những tia nắng của mặt trời đang mọc. [24] Vì vậy, Tôi khuyên các bạn hãy chú tâm đầy đủ hơn đến việc tham thiền của mình, luôn trau dồi khả năng suy ngẫm và giữ thái độ suy ngẫm ấy vững vàng suốt cả ngày.

[25] You would find it of real value to ponder deeply upon the purposes for which the intuition must be cultivated and the illumined mind developed, asking yourselves if those purposes are identical in objective and synchronous in time. [26] You would then discover that their objectives differ, and the effects of their pronounced unfoldment upon the personality life are likewise different. Glamour is not dispelled through the means of the intuition nor is illusion overcome by the use of the illumined mind.

[25] Các bạn sẽ thấy việc suy ngẫm sâu sắc về những mục đích đòi hỏi phải trau dồi trực giác và phát triển thể trí được soi sáng có giá trị thực sự, đồng thời tự hỏi liệu những mục đích ấy có cùng mục tiêu và đồng thời về thời gian hay không. [26] Khi ấy, các bạn sẽ khám phá ra rằng các mục tiêu của chúng khác nhau, và những tác động của sự khai mở rõ rệt của chúng đối với đời sống phàm ngã cũng khác nhau. Không thể xua tan ảo cảm bằng trực giác, cũng không thể vượt qua ảo tưởng bằng thể trí được soi sáng.

Glamour Webinar 103 – Webinar Ảo cảm 103

Michael D. Robbins • Book pages 80–81

Michael D. Robbins • Các trang sách 80–81

Hi, everybody, and good evening to you.

Xin chào mọi người, chúc các bạn một buổi tối tốt lành.

We're working ahead. This is the beginning of 103, but I just thought I'd do a little segue here because we've been talking about the pairs of opposites, and I think it's worth doing. The glamour we're going to work upon, if I don't forget it here, is the glamour of war. It's a fourth-ray glamour which is instinctive to the fourth kingdom in nature. I've been doing a lot of work in The Externalisation of the Hierarchy and I understand from BL that they are being posted up on Makara. There's about 38 hours of programming from that, from about page 60 to 194, something like that.

Chúng ta đang làm trước một phần. Đây là phần mở đầu của buổi 103, nhưng tôi nghĩ mình sẽ chuyển tiếp một chút ở đây, vì chúng ta đã nói về các cặp đối cực, và tôi nghĩ việc này đáng làm. Ảo cảm mà chúng ta sẽ xử lý, nếu tôi không quên mất, là ảo cảm chiến tranh. Đó là một ảo cảm cung bốn, vốn mang tính bản năng đối với giới thứ tư trong thiên nhiên. Tôi đã làm khá nhiều việc với cuốn Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, và theo BL cho biết, các chương trình ấy đang được đăng lên Makara. Có khoảng 38 giờ chương trình về cuốn sách đó, từ khoảng trang 60 đến trang 194, đại khái như vậy.

There's plenty to listen to and what I have noticed about these essays in the Externalisation is that they're extremely timely. The Tibetan spends very little time talking about what's going on on the ground per se between the Axis powers and the Allies and all of that because the one I'm working on right now is from 1940, a very serious time of the war, and he talks so much about what the new world order must be, how it must be that the Hierarchy externalizes, what kind of civilization it will externalize within, what the disciples have to do. It's extremely timely and I think we will see as we listen to it that even though, in a sense, this war has gone underground and is being fought out on a psychomental level, it is still there and many of the things he warned about are occurring right now. So, it gives us an increased sense of responsibility as we read these apparently old writings, the ones I'm working on right now, about 80 years old, but I'm just amazed at how absolutely current they are and how they point the way into the future for us and what we must do. He speaks of two new world orders, one of them on the side of the forces of light and the other world order sponsored by the Axis powers which are responsive to the Lords of Darkness, and he gives in great detail what the civilization, our civilization now, would have looked like if the other side had prevailed and what our civilization should look like according to his anticipations. Nine points on the founding of the new world order and what it should look like, and I think when we read it, a sense of responsibility will fall upon us and we'll be wanting to really get in motion to make sure that this can happen correctly.

Có rất nhiều nội dung để nghe, và điều tôi nhận thấy về những bài viết này trong cuốn Sự Hiển Lộ là chúng có tính thời sự sâu sắc. Chân sư Tây Tạng dành rất ít thời gian nói về chính những diễn biến thực địa giữa các nước phe Trục và phe Đồng Minh cùng mọi chuyện như thế, vì bài mà hiện tôi đang nghiên cứu được viết năm 1940, một thời điểm hết sức nghiêm trọng của cuộc chiến. Ngài nói rất nhiều về trật tự thế giới mới phải như thế nào, Thánh đoàn phải ngoại hiện ra sao, sẽ ngoại hiện trong nền văn minh nào, và các đệ tử phải làm gì. Nội dung có tính thời sự sâu sắc, và tôi nghĩ khi nghe, chúng ta sẽ thấy rằng dù theo một nghĩa nào đó, cuộc chiến này đã chuyển vào hoạt động ngầm và đang diễn ra trên bình diện tâm lý–trí tuệ, nó vẫn còn đó, và nhiều điều Ngài từng cảnh báo đang xảy ra ngay lúc này. Vì vậy, khi đọc những bài viết có vẻ đã cũ này, chúng ta càng cảm nhận rõ trách nhiệm của mình. Những bài tôi đang nghiên cứu hiện nay đã khoảng 80 năm tuổi, nhưng tôi vô cùng kinh ngạc trước tính thời sự tuyệt đối của chúng, cũng như cách chúng chỉ cho chúng ta con đường đi vào tương lai và những việc chúng ta phải làm. Ngài nói đến hai trật tự thế giới mới: một trật tự thuộc phía các mãnh lực ánh sáng, còn trật tự kia do các nước phe Trục hậu thuẫn, những nước đáp ứng với các Chúa Tể Bóng Tối. Ngài trình bày rất chi tiết nền văn minh của chúng ta ngày nay hẳn sẽ ra sao nếu phía bên kia thắng thế, và nền văn minh của chúng ta nên như thế nào theo những dự kiến của Ngài. Có chín điểm về việc thiết lập trật tự thế giới mới và diện mạo cần có của nó. Tôi nghĩ khi đọc, chúng ta sẽ cảm thấy trách nhiệm đặt lên vai mình và muốn thực sự bắt tay hành động để bảo đảm điều này có thể diễn ra đúng đắn.

I just want to welcome quite a number of us here today: Alexandra, Anne, Anna, Anne-Marie, Antoinette, Ariel, Carol, Catherine, Chris, Deborah, Frida, John, Yopie, Karen, Karinjoy—no, it's Marion; I'm sorry if I've mispronounced—Catherine, Lenny, Leslie, Margo, Mariana, Marriott, Martha, Mienke, Olivia, Risto, Susan, Tia, Tiyu, Winnie, Yvonne, Zenaidi, and Anne Veronica. Welcome to everybody, and over here on the staff side we have Michael and BL keeping me honest and making sure that I can be heard.

Hôm nay, tôi muốn chào đón khá đông các bạn có mặt ở đây: Alexandra, Anne, Anna, Anne-Marie, Antoinette, Ariel, Carol, Catherine, Chris, Deborah, Frida, John, Yopie, Karen, Karinjoy—không, là Marion; xin lỗi nếu tôi phát âm sai—Catherine, Lenny, Leslie, Margo, Mariana, Marriott, Martha, Mienke, Olivia, Risto, Susan, Tia, Tiyu, Winnie, Yvonne, Zenaidi và Anne Veronica. Chào mừng tất cả mọi người. Còn về phía ban hỗ trợ, chúng ta có Michael và BL giúp tôi giữ sự chuẩn xác và bảo đảm mọi người nghe được tiếng tôi.

Just a little bit of an alignment, everybody, and then a segue into our work today, which looks like it may be a continuation of some of the material on the five particular glamours which are assailing humanity at the moment. It's the glamour of the pairs of opposites. So let's just gather for a moment in the silence, and we realize that the kind of work we're doing is very necessary work, so we encourage it wherever it may be found, and we're working esoterically to help humanity rid itself of the distorted emotions and desires which constitute the glamour, because we are trying to see clearly and in truth, and to let the sun shine on the astral plane and dissipate the fogs and the veils and miasmas and all these things that prevent true vision. A great deal of humanity is glamoured, and we cannot say that we are free because it's difficult to really assess oneself. It took the Tibetan to point out to his students the number of the glamours from which they were suffering, and even after the third degree a few things do remain.

Mọi người hãy chỉnh hợp một chút, rồi chúng ta sẽ chuyển sang công việc hôm nay, có vẻ sẽ tiếp tục một phần nội dung về năm ảo cảm đặc thù đang tấn công nhân loại hiện nay. Đó là ảo cảm về các cặp đối cực. Vậy chúng ta hãy cùng quy tụ trong im lặng một lát, và nhận biết rằng loại công việc mình đang làm là hết sức cần thiết. Vì thế, ở bất cứ đâu có công việc này, chúng ta đều khuyến khích. Chúng ta đang hoạt động một cách huyền bí để giúp nhân loại thoát khỏi những cảm xúc và dục vọng méo mó tạo thành ảo cảm, vì chúng ta đang cố gắng nhìn rõ và đúng với chân lý, để mặt trời chiếu sáng trên cõi cảm dục và làm tiêu tan sương mù, những bức màn, chướng khí cùng tất cả những điều ngăn cản tầm nhìn chân thực. Một bộ phận rất lớn nhân loại đang bị ảo cảm chi phối, và chúng ta không thể nói mình đã thoát khỏi, vì thực sự đánh giá bản thân là điều khó khăn. Phải nhờ Chân sư Tây Tạng, các đạo sinh của Ngài mới được chỉ ra những ảo cảm họ đang chịu đựng, và ngay cả sau cấp điểm đạo thứ ba, vẫn còn sót lại đôi điều.

We're going to work on the glamour of war today, and that is very necessary because the attitude of people towards each other is often frictional, and the opposite of right human relations, and it's all based on a fundamental egoism, which is a mistaken identity, and not really knowing who we are. Almost every glamour and illusion you can think of arises from what I simply call mistaken identity. So that's our little preamble, and we finished last time, and it was saying that

Hôm nay, chúng ta sẽ xử lý ảo cảm chiến tranh. Điều đó hết sức cần thiết, vì thái độ của con người đối với nhau thường gây va chạm, trái ngược với những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Tất cả đều bắt nguồn từ tính vị kỷ căn bản, tức là nhận lầm mình là ai và không thực sự biết mình là ai. Hầu như mọi ảo cảm và ảo tưởng mà các bạn có thể nghĩ đến đều nảy sinh từ điều tôi đơn giản gọi là sự nhận lầm bản thân. Đó là lời mở đầu ngắn của chúng ta. Lần trước chúng ta đã kết thúc ở đoạn nói rằng

God Himself produced the pairs of opposites—spirit and matter

Chính Thượng đế đã tạo ra các cặp đối cực—tinh thần và vật chất

I have a pretty wild theory about what matter really is, but I'll spare you for the moment. Suffice it to say that in actuality, if not in reality, they do exist,

Tôi có một lý thuyết khá táo bạo về việc vật chất thực sự là gì, nhưng lúc này tôi tạm chưa nói đến để các bạn khỏi phải nghe. Chỉ cần nói rằng trên thực tế, dù không phải trong thực tại, chúng quả có tồn tại,

—and also produced the middle way which is that of the consciousness aspect or the soul aspect. Ponder deeply on this thought.

—và cũng tạo ra con đường ở giữa, con đường của phương diện tâm thức hay phương diện linh hồn. Hãy suy ngẫm sâu sắc về tư tưởng này.

It's subject, object, and the relationship, relation between.

Đó là chủ thể, khách thể và mối quan hệ giữa hai bên.

This is what we have to come to terms with and clarify that whole fundamental universal triangle, subject, object, and the relation between. At a certain point we begin to merge with the object and are restored to the perception of oneness rather than division. If you followed Descartes, it would seem that it would never be possible to unite subject and object, but in esotericism it is, and that there was an original union there, but the creativity of the third ray is involved with this fundamental triangle, and from it the entire emanated universe comes forth.

Đây là điều chúng ta phải đi đến chỗ thấu hiểu, làm sáng tỏ toàn bộ tam giác phổ quát căn bản ấy: chủ thể, khách thể và mối quan hệ giữa hai bên. Đến một thời điểm nhất định, chúng ta bắt đầu hòa nhập với khách thể và trở lại nhận thức về sự duy nhất thay vì sự chia cắt. Nếu theo Descartes, dường như sẽ chẳng bao giờ có thể hợp nhất chủ thể và khách thể, nhưng trong huyền bí học thì có thể, và vốn đã có một sự hợp nhất ban đầu ở đó. Tuy nhiên, tính sáng tạo của cung ba gắn liền với tam giác căn bản này, và từ đó toàn bộ vũ trụ phát xạ xuất hiện.

The triplicity of the pairs of opposites and of the narrow way of balance between them,

Bộ ba gồm các cặp đối cực và con đường cân bằng hẹp giữa chúng,

Whenever he says balance, always think of the sign Libra.

Bất cứ khi nào Ngài nói đến sự cân bằng, hãy luôn nghĩ đến dấu hiệu Thiên Bình.

the noble middle path,

con đường trung đạo cao quý,

Think of the Buddha and also of Venus and Libra,

Hãy nghĩ đến Đức Phật, cả Sao Kim và Thiên Bình nữa,

is the reflection on the astral plane of the activity of spirit, soul and body; of life, consciousness and form, the three aspects of divinity—all of them equally divine.

là sự phản chiếu trên cõi cảm dục của hoạt động của tinh thần, linh hồn và thân thể; của sự sống, tâm thức và hình tướng, ba phương diện của thiên tính—tất cả đều thiêng liêng như nhau.

So he's constantly presenting us with triplicities which we have to understand, life, quality, and appearance or body, but we one day learn that appearance is not real and it's a projection from within the consciousness of the observer. That gets into the philosophy of it all, but we can be practical about it without necessarily understanding every philosophical nicety. So here we are on number 43, and it's the 8th of February, and we're on page 80. I’ll read some. Please take notes of anything you may have wanted to discuss, or thoughts that come; we’ll have our occasion to do that. A few more of you have come: welcome, thank you for being here.

Như vậy, Ngài liên tục trình bày cho chúng ta những bộ ba cần thấu hiểu: sự sống, phẩm tính và sắc tướng hay thân thể. Nhưng đến một ngày, chúng ta học được rằng vẻ ngoài không có thực, mà là sự phóng chiếu từ bên trong tâm thức của người quan sát. Điều đó đi sâu vào phương diện triết học của toàn bộ vấn đề, nhưng chúng ta có thể tiếp cận một cách thực tiễn mà không nhất thiết phải thấu hiểu mọi điểm tinh tế của triết học. Vậy ở đây chúng ta đang ở buổi số 43, hôm nay là ngày 8 tháng 2, và chúng ta đang ở trang 80. Tôi sẽ đọc một phần. Xin các bạn ghi lại bất cứ điều gì muốn thảo luận, hoặc những tư tưởng nảy ra; chúng ta sẽ có dịp làm việc đó. Có thêm một số bạn vừa tham gia: chào mừng, cảm ơn các bạn đã có mặt.

[1] As the aspirant learns to free himself from the glamours upon which we have touched, he discovers another world of fog and mist through which the Path seems to run

[1] Khi người chí nguyện học cách giải thoát mình khỏi những ảo cảm mà chúng ta đã đề cập, y khám phá một thế giới khác đầy sương mù mà Đường Đạo dường như đi xuyên qua

These are the glamours of the path, yeah. So we actually did finish the glamours of the pairs of opposites, glamours of the path, and I wonder if there's any of us who has not been subjected to them along the way. Another world of fog and mist, which means that we're blinded and we can't see clearly, and we certainly can't see reality clearly,

Đây là những ảo cảm của Đường Đạo. Vậy thực ra chúng ta đã kết thúc phần những ảo cảm về các cặp đối cực, những ảo cảm của Đường Đạo, và tôi tự hỏi liệu trong chúng ta có ai chưa từng chịu tác động của chúng trên hành trình ấy hay không. Một thế giới sương mù khác, nghĩa là chúng ta bị che mắt, không thể nhìn rõ, và chắc chắn không thể nhìn rõ thực tại,

through which the Path seems to run

mà dường như Đường Đạo đi xuyên qua

[2] and through which he must penetrate and thus free himself from the glamours of the Path. What are these glamours, my brothers?

[2] và y phải xuyên thấu thế giới ấy để giải thoát mình khỏi những ảo cảm của Đường Đạo. Các huynh đệ của Tôi, những ảo cảm này là gì?

The glamours of the path?

Những ảo cảm của Đường Đạo là gì?

[3] Study the three temptations of Jesus,

[3] Hãy nghiên cứu ba sự cám dỗ của Đức Jesus,

Now I guess we have to question, were they strictly the temptations of Jesus, or were they of the Christ using his body? Because they were on a very, very high level. But the thing is that whenever the body of a disciple is used, the vacating psyche of that disciple stands by and sees what is being done by the more elevated possessor of the house.

Tôi nghĩ chúng ta phải đặt câu hỏi: đó hoàn toàn là những cám dỗ của Đức Jesus, hay là của Đức Christ đang sử dụng thân thể Ngài? Bởi chúng diễn ra ở một cấp độ rất, rất cao. Nhưng vấn đề là bất cứ khi nào thân thể của một đệ tử được sử dụng, phần tâm thức rời khỏi thân thể của người đệ tử ấy vẫn đứng bên cạnh và chứng kiến những gì Đấng cao cả hơn đang ngự trong ngôi nhà ấy thực hiện.

So it seems that you can say they were both involved. It seems oftentimes that DK uses these names indiscriminately and almost as you would not expect. So you have to think, who is he really talking about? The three temptations, the world will be his, he can, strike the stone and he can get bread, he can throw himself down from a great parapet, and everybody will worship him, and always the Christ, let us say, had a one-line answer to the temptations of the personality, and so, the world, the flesh, and the devil were overcome in a very large way in the desert. One of them is thou shalt not tempt the Lord thy God. I think that's throwing themselves down from the high place and, of course, recovering, and man does not live by bread alone, that is, but by the very word that cometh out of the mouth of God, that is the second temptation. I'm starting with temptation three, and two, and then one, and I can't remember what the word is. Maybe you remember that, or someone can put that in, but he says, I'll give you the world. Well, so, what is Christ's answer to that?

Vì vậy, dường như có thể nói cả hai Ngài đều tham dự. Có vẻ Chân sư DK thường dùng những danh xưng này mà không phân biệt, gần như trái với điều chúng ta mong đợi. Vì thế, các bạn phải suy nghĩ: Ngài thực sự đang nói về ai? Ba cám dỗ: thế gian sẽ thuộc về Ngài; Ngài có thể đập vào đá để có bánh ăn; Ngài có thể gieo mình xuống từ một bờ thành rất cao và mọi người sẽ tôn thờ Ngài. Và có thể nói, Đức Christ luôn có một câu trả lời ngắn gọn trước những cám dỗ của phàm ngã. Như vậy, trong sa mạc, thế gian, xác thịt và ma quỷ đã bị chế ngự ở một mức độ rất lớn. Một trong những câu ấy là: ngươi chớ thử thách Chúa, Thượng đế của ngươi. Tôi nghĩ đó là việc gieo mình từ nơi cao xuống rồi tất nhiên vẫn bình an; còn con người không chỉ sống bằng bánh, mà bằng chính linh từ phát ra từ miệng Thượng đế, đó là cám dỗ thứ hai. Tôi đang bắt đầu từ cám dỗ thứ ba, rồi thứ hai, rồi thứ nhất, và tôi không nhớ câu ấy là gì. Có lẽ các bạn nhớ, hoặc ai đó có thể ghi vào, nhưng hắn nói: ta sẽ cho ngươi cả thế gian. Vậy Đức Christ trả lời điều đó như thế nào?

Study the three temptations of Jesus,

Hãy nghiên cứu ba cám dỗ của Đức Jesus,

If you would know clearly what some of these glamours are, they all appeal to the ego and to the exercise of certain powers which give a person prominence, and which are noticed by others, and somehow just reinforce that ego, lower ego, that he's trying to get rid of.

Nếu muốn biết rõ một số ảo cảm này là gì, thì tất cả đều lôi cuốn phàm ngã và việc vận dụng một số quyền năng khiến người ta trở nên nổi bật, được người khác chú ý, và bằng cách nào đó chỉ củng cố chính phàm ngã ấy, cái phàm ngã thấp mà người ấy đang cố loại bỏ.

So, we do not succumb to these particular things. We do not care to be noticed. We do not care to be recognized, as it were. That's the third of the three eliminations. Eliminate all tendency to desire recognition, whether from the Hierarchy, or from your friends, or peers, or whatever, and that's found in the beginning of Rule 11 in The Rays and the Initiations.

Vì vậy, chúng ta không khuất phục trước những điều cụ thể này. Chúng ta không mong được chú ý. Có thể nói, chúng ta không mong được công nhận. Đó là điều thứ ba trong ba điều cần loại bỏ. Hãy loại bỏ mọi khuynh hướng mong muốn được công nhận, dù từ Thánh đoàn, bạn bè, những người ngang hàng hay bất cứ ai. Điều này nằm ở phần đầu Quy luật 11 trong cuốn Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo.

Study the three temptations of Jesus,

Hãy nghiên cứu ba cám dỗ của Đức Jesus,

[4] if you would know clearly what they are.

[4] nếu các bạn muốn biết rõ chúng là gì.

They summarize in the world, the world, the flesh, and the devil. Now, so many of the multi-billionaires, well, we cannot say are they subject to the glamour of the world, but they certainly own a fair share of the world, and have had to exert a great deal of attention to acquire that. We also know the people who work wonders and are admired for that, and that's like doing something extremely risky and surviving.

Chúng được tóm lại trong thế gian, xác thịt và ma quỷ. Với rất nhiều người sở hữu hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ, chúng ta không thể nói liệu họ có chịu tác động của ảo cảm thế gian hay không, nhưng chắc chắn họ sở hữu một phần đáng kể của thế gian và đã phải tập trung chú ý rất nhiều để có được điều đó. Chúng ta cũng biết những người làm nên những điều kỳ diệu và được ngưỡng mộ vì thế, giống như làm một việc vô cùng mạo hiểm mà vẫn sống sót.

Then the flesh is there as well. what do you live by? What, what really comes to you in the second place? Are you in touch with the Word of God, or do you nourish yourself from the lower sources? We could write a whole book on these three temptations, and I'm sure they have been done.

Rồi còn có xác thịt nữa. Các bạn sống bằng gì? Điều gì thực sự đến với các bạn ở trường hợp thứ hai? Các bạn có tiếp xúc với Linh từ của Thượng đế, hay nuôi dưỡng mình từ những nguồn thấp hơn? Chúng ta có thể viết cả một cuốn sách về ba cám dỗ này, và tôi chắc đã có những cuốn như vậy.

[5] Study the effect that the affirmation schools which emphasize divinity (materially employed) have upon the thought of the world;

[5] Hãy nghiên cứu ảnh hưởng mà các trường phái khẳng định thiên tính (vận dụng thiên tính vào mục đích vật chất) gây ra đối với tư tưởng của thế giới;

Now, there are some Christian groups in megachurches, very, very wealthy, and basically it's the old Calvinistic idea that if you're rich, it proves that God loves you, and so, material welfare is promised to the congregants, and well, it's a bit upside down, isn't it?

Hiện có một số nhóm Cơ Đốc trong các đại giáo hội rất, rất giàu có. Về căn bản, đó là quan niệm cũ của phái Calvin rằng nếu các bạn giàu có, điều ấy chứng tỏ Thượng đế yêu thương các bạn. Vì vậy, người ta hứa hẹn sự sung túc vật chất với các tín hữu. Như thế có hơi đảo ngược, phải không?

[6] study the failures of disciples through pride,

[6] hãy nghiên cứu những thất bại của các đệ tử do lòng kiêu hãnh,

Well, the first one is the world of material accumulation. Then there is the pride of the devil,

Điều thứ nhất là thế giới tích lũy vật chất. Rồi đến lòng kiêu hãnh của ma quỷ,

[7] the world savior complex, the service complex, and all the various distortions of reality which a man encounters upon the Path, which hinder his progress and which spoils the service to others which he should be rendering.

[7] phức cảm cứu thế, phức cảm phụng sự và mọi sự bóp méo thực tại khác nhau mà con người gặp trên Đường Đạo, vốn cản trở bước tiến của y và làm hỏng việc phụng sự người khác mà lẽ ra y phải thực hiện.

It's so simple in a way. It's all based upon egoism, in the lower sense.

Theo một nghĩa nào đó, điều này thật đơn giản. Tất cả đều dựa trên tính vị kỷ, theo nghĩa thấp.

It's all based upon identification with the form, and the great act of release is learning how to dis-identify with the form. If you can find yourself always as the one within, the one interior to that which is observed no matter on what level it is, be it the outer plane, or the etheric flows, or the movement of desires, or the movement of thoughts, if you can always find yourself behind and within, and I mean really find yourself there, really feel your position as behind and within, you will be dis-identifying from that with which most people immediately and instinctively identify. You will be free, freer, let's just say. Of course, eventually one dis-identifies with the causal body, the Egoic Lotus, imagine that. We're not even necessarily there in terms of identifying with it, and now we're going to dis-identify. Or with the Triad, or imagine that the Monadic vehicle itself proves to be a limitation which must be destroyed. Then who are you after all? And on it goes, and on it goes until one discovers oneself as the true observer, which is a true being, and there's nothing else but. But that's a great exercise over many years and many lives.

Tất cả đều dựa trên sự đồng hoá với hình tướng, và hành động giải thoát lớn lao là học cách thôi đồng hoá với hình tướng. Nếu các bạn luôn có thể nhận biết mình là chủ thể ở bên trong, ở phía trong của những gì được quan sát, bất kể ở cấp độ nào—cõi bên ngoài, những dòng chảy dĩ thái, sự vận động của dục vọng hay sự vận động của tư tưởng—nếu luôn có thể nhận biết mình ở phía sau và bên trong, và ý tôi là thực sự nhận biết mình ở đó, thực sự cảm nhận vị trí của mình ở phía sau và bên trong, các bạn sẽ thôi đồng hoá với những gì mà phần lớn mọi người lập tức đồng hoá theo bản năng. Các bạn sẽ tự do, tự do hơn. Tất nhiên, cuối cùng người ta thôi đồng hoá với thể nguyên nhân, Hoa Sen Chân Ngã—hãy hình dung điều đó. Chúng ta thậm chí chưa hẳn đã đạt đến chỗ đồng hoá với thể ấy, mà giờ lại sắp thôi đồng hoá. Hoặc với Tam nguyên tinh thần; hoặc hãy hình dung chính hiện thể chân thần cũng hóa ra là một giới hạn phải phá hủy. Vậy rốt cuộc các bạn là ai? Và cứ tiếp tục như thế, cho đến khi người ta khám phá mình là người quan sát đích thực, vốn là một sinh linh chân thực, và ngoài đó ra không còn gì khác. Nhưng đó là một bài thực hành lớn lao kéo dài qua nhiều năm, nhiều kiếp.

[8] Emphasize in your own minds the spontaneity of the life of the soul and spoil it not with the glamour of high aspiration selfishly interpreted,

[8] Hãy nhấn mạnh trong thể trí của chính các bạn tính tự phát của đời sống linh hồn và đừng làm hỏng nó bằng ảo cảm về khát vọng cao cả được diễn giải một cách ích kỷ,

It's a spiritual ambition really,

Thực ra, đó là một tham vọng tinh thần,

[9] self-centredness,

[9] sự tập trung vào bản thân,

It's all a mistake.

Tất cả đều là một sai lầm.

Who is that object in the middle of my field of consciousness? Is it I, or is it the relinquished point, as in Leo, ever heading towards the vanishing point until it disappears entirely? That's really what it should be.

Đối tượng ở giữa trường tâm thức của tôi là ai? Đó có phải là tôi, hay là điểm được buông bỏ, như trong Sư Tử, luôn hướng đến điểm tan biến cho đến khi hoàn toàn biến mất? Đó thực sự là điều nên diễn ra.

spoil it not with the glamour of high aspiration selfishly interpreted,

đừng làm hỏng nó bằng ảo cảm về khát vọng cao cả được diễn giải một cách ích kỷ,

self-centredness

sự tập trung vào bản thân

Almost unavoidable,

Hầu như không thể tránh khỏi,

[10] self-immolation,

[10] sự tự hiến mình,

You pride yourself on the fiery displays by which you rid yourself of your apparent self. It's all pride,

Các bạn kiêu hãnh về những màn phô diễn rực lửa mà qua đó mình loại bỏ cái ngã bề ngoài. Đó hoàn toàn là lòng kiêu hãnh,

[11] self-aggressiveness,

[11] sự hiếu thắng,

Where you assert your point of view so strongly over other people, and gain the satisfaction of their acquiescence. Sometimes DK has talked to a person about the first-ray mind, and how this individual gained a certain satisfaction of having people acquiesce to his imposed point of view.

Khi các bạn áp đặt quan điểm của mình lên người khác một cách rất mạnh mẽ và thỏa mãn khi họ thuận theo. Đôi khi Chân sư DK đã nói với một người về thể trí cung một, và cách người này có được một sự thỏa mãn nhất định khi khiến người khác thuận theo quan điểm mình áp đặt.

[12] self-assertiveness in spiritual work—

[12] sự tự khẳng định trong công việc tinh thần—

Which naturally emphasizes the part rather than the cooperative whole,

Điều đó tất nhiên nhấn mạnh bộ phận hơn là toàn thể cùng hợp tác,

[13] such are some of the glamours of the Path.

[13] đó là một số ảo cảm của Đường Đạo.

You can sort of look at them and see, do I do this? And every one of these calls attention to the not-self. Now, there is no such thing really as the not-self. Everything is the self. Everything is being. But at a certain stage of development, we have to consider that some things are more self, and some things are more not-self, and with the not-self, with the object, we have to dis-identify. It's one of the psychological means of purification, the dis-identification exercise, which is popular in Raja Yoga. I have this, but I'm not that. I have this, but I'm not that.

Các bạn có thể nhìn vào chúng và tự hỏi: tôi có làm như vậy không? Mỗi điều này đều hướng sự chú ý đến phi ngã. Thực ra, không có cái gọi là phi ngã. Tất cả đều là bản ngã. Tất cả đều là bản thể. Nhưng ở một giai đoạn phát triển nhất định, chúng ta phải xem một số điều gần với bản ngã hơn, còn một số điều gần với phi ngã hơn; và với phi ngã, với khách thể, chúng ta phải thôi đồng hoá. Đó là một trong những phương pháp thanh luyện về mặt tâm lý, bài thực hành thôi đồng hoá, vốn phổ biến trong Raja Yoga. Tôi có cái này, nhưng tôi không phải là nó. Tôi có cái này, nhưng tôi không phải là nó.

So, to identify with the instrument is fallacious, and we have to be the one behind the observer until we discover finally—I don't know how long it will take—that the observer is the Universal Logos itself. So that was the one that was still remaining to be done, the glamours of the path, and I'm sure there are more. They surround the way we carry on our discipleship service. They surround any sense of self-importance that we have about ourselves. We can always be the one who serves and stands in the middle and is observed by others as serving and gain their appreciation and adulation because we are serving and thus in such a way, and all it does is simply emphasize the part rather than the whole. We're on our way to appreciating wholeness, and if we get caught up in mis-identification with the instrument that we are carrying around, well, we are stifling our own progress. We are obstructing our own possibilities when we do that, and we cannot see the truth, the reality of the wholeness, because we're just stuck on the part, and that is really the problem of glamour. It is mistaken identity and the desires arising from mistaken identity. I was reading a lot about World War II and the superiority complex that Germany had. I would really suggest that you go into that book around somewhere in the 180s, and early 190s, and look at what Hitler had planned for a world civilization, and if that doesn't horrify you and get us, all of us doing everything we can, then I don't know what will.

Vì vậy, đồng hoá với công cụ là sai lầm, và chúng ta phải là chủ thể đứng sau người quan sát, cho đến khi cuối cùng khám phá ra—tôi không biết sẽ mất bao lâu—rằng người quan sát chính là Thượng đế Vũ Trụ. Đó là phần vẫn còn phải hoàn tất: những ảo cảm của Đường Đạo, và tôi chắc còn nhiều nữa. Chúng vây quanh cách chúng ta thực hiện việc phụng sự trong địa vị đệ tử. Chúng vây quanh mọi cảm giác tự cho mình là quan trọng. Chúng ta luôn có thể là người phụng sự, đứng ở giữa, được người khác nhìn nhận là đang phụng sự, rồi nhận được sự trân trọng và tán dương của họ vì chúng ta phụng sự theo cách này cách nọ. Nhưng tất cả những điều đó chỉ nhấn mạnh bộ phận hơn là toàn thể. Chúng ta đang trên đường nhận thức giá trị của tính toàn thể; nếu mắc vào sự đồng hoá sai lầm với công cụ mình đang mang theo, chúng ta đang kìm hãm sự tiến bộ của chính mình. Khi làm như thế, chúng ta cản trở những khả năng của mình và không thể thấy chân lý, thực tại của tính toàn thể, vì cứ mắc kẹt ở bộ phận. Đó thực sự là vấn đề của ảo cảm: nhận lầm bản thân và những dục vọng nảy sinh từ sự nhận lầm ấy. Tôi đã đọc rất nhiều về Thế chiến thứ hai và phức cảm tự tôn của nước Đức. Tôi thực sự đề nghị các bạn xem cuốn sách đó, vào khoảng các trang 180 đến đầu các trang 190, và tìm hiểu những gì Hitler đã hoạch định cho một nền văn minh thế giới. Nếu điều đó không khiến các bạn kinh hoàng và thúc đẩy tất cả chúng ta làm mọi điều có thể, thì tôi không biết điều gì sẽ làm được.

We’ve been through five glamours.

Chúng ta đã đi qua năm ảo cảm.

The glamour of materiality we have discussed. The glamour of sentiment we have discussed. That peculiar liking or disliking without really seeing the soul of the individual. The glamour of devotion, well, it could be one of the glamours of the path, but it's particularly connected with those strongly endowed with the sixth-ray. The glamour of the pairs of opposites and the warfare which goes on between the opposites and the wretched disciple or aspirant in between this ongoing war with all of its highs and lows, so that no real stability can be established, but it's always fluctuating, and in that unsettled condition, no one can see reality, and then what we've just gone over a little bit of what he calls the glamours of the path, a very short section, but indicative of what many of us have encountered and may still encounter. There is such a thing, as what you call an inner monitor, and it's always watching, and when we are in danger of trespassing a line that should not be crossed, the monitor will speak, and we had better pay attention to the monitor because it warns us on the basis of our experience and maybe something of the intervention of the Angel of the Presence that we're about to go beyond what the law allows and or what wisdom would sanction, and we don't want to do that. So we stay on the straight and narrow path during our training as much as possible and make sure that we bring ourselves to the right condition rather than worry about the condition of our fellow disciples.

Chúng ta đã thảo luận về ảo cảm vật chất. Chúng ta đã thảo luận về ảo cảm tình cảm: sự ưa thích hay không ưa thích đặc biệt ấy mà không thực sự nhìn thấy linh hồn của cá nhân. Ảo cảm Sùng tín có thể là một trong những ảo cảm của Đường Đạo, nhưng nó đặc biệt gắn với những người mang ảnh hưởng mạnh của cung sáu. Ảo cảm về các cặp đối cực và cuộc chiến diễn ra giữa các đối cực, với người đệ tử hay người chí nguyện khốn khổ ở giữa cuộc chiến không ngừng ấy cùng mọi thăng trầm của nó, khiến không thể thiết lập sự ổn định thực sự, mà luôn dao động. Trong tình trạng bất ổn ấy, không ai có thể thấy thực tại. Rồi đến phần chúng ta vừa xem qua đôi chút mà Ngài gọi là những ảo cảm của Đường Đạo—một phần rất ngắn, nhưng chỉ ra những gì nhiều người trong chúng ta đã gặp và có thể vẫn còn gặp. Có một điều mà người ta gọi là người giám sát bên trong. Người giám sát ấy luôn quan sát, và khi chúng ta có nguy cơ bước qua một ranh giới không nên vượt qua, người giám sát sẽ lên tiếng. Tốt hơn hết chúng ta nên chú ý, vì dựa trên kinh nghiệm của chúng ta, và có lẽ phần nào nhờ sự can thiệp của Thiên Thần của Hiện Diện, người giám sát cảnh báo rằng chúng ta sắp vượt quá điều định luật cho phép hoặc điều minh triết chấp thuận, và chúng ta không muốn làm như vậy. Vì thế, trong quá trình huấn luyện, chúng ta cố gắng hết mức giữ mình trên con đường ngay thẳng và hẹp, bảo đảm đưa bản thân đến trạng thái đúng đắn thay vì lo lắng về trạng thái của các đệ tử đồng môn.

That's their business, and they'll have to take care of it. I'm going to go on a little bit more. We're going to come up on some other types of glamours, if we can call them that.

Đó là việc của họ, và họ sẽ phải tự lo liệu. Tôi sẽ tiếp tục thêm một chút. Chúng ta sắp đến một số loại ảo cảm khác, nếu có thể gọi chúng như vậy.

[14] Next, we will consider glamour on the etheric plane and the theme of the Dweller upon the Threshold,

[14] Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét ảo cảm trên cõi dĩ thái và chủ đề Kẻ Chận Ngõ,

There he says some really surprising things. So when we get there, I'll point them out to you if you don't see them already

Ở đó, Ngài nói một số điều thực sự đáng ngạc nhiên. Vì vậy, khi đến phần ấy, tôi sẽ chỉ ra cho các bạn nếu các bạn chưa tự thấy

[15] and thus complete the brief outline of our problem which the first part of this teaching was intended to convey.

[15] qua đó hoàn tất phần phác thảo ngắn gọn về vấn đề của chúng ta mà phần đầu của giáo huấn này nhằm truyền đạt.

The trouble is glamour is so subtle, so elusive that we always think it's something that pertains to someone else and it doesn't pertain to us at all. But maybe when we see the results of our behavior, we may know that we have been functioning under some kind of glamour after all.

Điều khó khăn là ảo cảm tinh vi và khó nắm bắt đến mức chúng ta luôn nghĩ nó thuộc về người khác, hoàn toàn chẳng liên quan đến mình. Nhưng có lẽ khi nhìn thấy kết quả hành vi của mình, chúng ta có thể nhận biết rằng rốt cuộc mình đã hành động dưới tác động của một loại ảo cảm nào đó.

What does he say? It's a criticism, self-pity, and suspicion. These are three main causes of glamour. To reverse them, suspicion ray one, self-pity ray two, criticism ray three. Of course, he comes up with many other causes of glamour, but at certain points in the reading, he nails these three particularly, and we all maybe have a tendency towards one or the other. I've dealt with a lot of first-ray people, and I know that they have a peculiar tendency towards this imagining motives behind people's suspicion. I'll tell you a little story. Basically, Helena Roerich and Alice Bailey were friends for a long time, but something happened, and Helena Roerich began to suspect Alice Bailey as if she was channeling some dark magician called the Tibetan. It seems ludicrous to us knowing what the Tibetan has written, and maybe she didn't, and so forth, but that suspicion that Alice Bailey was not on the right track poisoned a lot of relations between the Agni Yoga people and the Bailey people, and still to this day, that suspicion hovers, and it has to be dissipated.

Ngài nói gì? Đó là sự chỉ trích, lòng tự thương hại và tính nghi ngờ. Đây là ba nguyên nhân chính gây ra ảo cảm. Đảo thứ tự lại thì: nghi ngờ thuộc cung một, tự thương hại thuộc cung hai, chỉ trích thuộc cung ba. Tất nhiên, Ngài còn nêu nhiều nguyên nhân khác gây ra ảo cảm, nhưng ở một số chỗ trong sách, Ngài đặc biệt nhấn mạnh ba điều này, và có lẽ tất cả chúng ta đều có khuynh hướng nghiêng về điều này hay điều kia. Tôi đã làm việc với nhiều người cung một, và tôi biết họ có một khuynh hướng đặc biệt là tưởng tượng những động cơ ẩn sau hành vi của người khác với lòng nghi ngờ. Tôi sẽ kể các bạn nghe một câu chuyện ngắn. Về căn bản, Helena Roerich và Alice Bailey từng là bạn trong một thời gian dài, nhưng có chuyện gì đó xảy ra, và Helena Roerich bắt đầu nghi ngờ Alice Bailey, như thể Bà đang làm trung gian truyền đạt cho một nhà hắc thuật nào đó được gọi là Chân sư Tây Tạng. Đối với chúng ta, những người biết Ngài đã viết gì, điều đó có vẻ lố bịch; có lẽ Bà ấy không biết, vân vân. Nhưng sự nghi ngờ rằng Alice Bailey không đi đúng đường đã đầu độc nhiều mối quan hệ giữa những người theo Agni Yoga và những người theo Bailey. Đến tận ngày nay, sự nghi ngờ ấy vẫn lởn vởn và cần được làm tiêu tan.

Now, I'll tell you what, when I was working with the Agni Yoga Society in New York for quite a number of years, I knew Daniel Entin, wonderful man. He recently passed away. He was the head of the Agni Yoga Society as a whole, and he always felt that he belonged more to K.H. and was on loan into the society. Maybe it was true, but I never found in him anything of that nature. He could accept what Agni Yoga said. He could accept, within reason what Alice Bailey was saying, and I think we have to be very inclusive. We don't want to accept what is glamorous, because there's so much of that nonsense out there right now, so we have to have discrimination, but at the same time, when something of value shows up, we have to take it in.

Tôi kể các bạn nghe điều này: trong khá nhiều năm làm việc với Hội Agni Yoga ở New York, tôi có quen Daniel Entin, một người tuyệt vời. Ông mới qua đời gần đây. Ông đứng đầu toàn bộ Hội Agni Yoga, và luôn cảm thấy mình thuộc về Chân sư KH nhiều hơn, được tạm cử sang làm việc trong hội. Có lẽ điều đó đúng, nhưng tôi chưa bao giờ thấy ở ông bất cứ sự nghi ngờ nào như thế. Ông có thể chấp nhận những gì Agni Yoga nói. Trong phạm vi hợp lý, ông có thể chấp nhận những gì Alice Bailey nói, và tôi nghĩ chúng ta phải có tính bao gồm rất rộng. Chúng ta không muốn chấp nhận những gì mang ảo cảm, vì hiện nay có quá nhiều điều vô nghĩa như thế ngoài kia, nên chúng ta phải có sự phân biện. Nhưng đồng thời, khi một điều có giá trị xuất hiện, chúng ta phải tiếp nhận nó.

Now, we pretty well know from all sources that Master Hilarion, through a certain disciple called Mabel Collins, wrote this book called Light on the Path. It's a very militant little book. Should we reject it because Hilarion wrote it, you know? Shall we reject Blavatsky because we're students of Bailey, or Bailey because we're students of Blavatsky? All of that is just nonsense. We have to run things through our evaluator, and see with real discernment what carries the note of the teaching, no matter what ray it may be upon, and if it doesn't say everything that the profound occult books of DK say, then okay, it doesn't. It says something else. So, this is taking a step away from the glamour of criticism, which is, what does he say, that dire producer of misery, something like that. Criticism, that dire producer of misery, and I guess he knows whereof he speaks. Now let's do a little more.

Từ mọi nguồn, chúng ta biết khá rõ rằng Chân sư Hilarion, thông qua một đệ tử tên là Mabel Collins, đã viết cuốn Ánh sáng trên Đường Đạo. Đó là một cuốn sách nhỏ mang tinh thần đấu tranh rất mạnh. Chúng ta có nên bác bỏ nó vì Chân sư Hilarion đã viết không? Chúng ta có nên bác bỏ Blavatsky vì mình là đạo sinh của Bailey, hay bác bỏ Bailey vì mình là đạo sinh của Blavatsky không? Tất cả những điều đó đều vô nghĩa. Chúng ta phải đưa mọi điều qua khả năng thẩm định của mình, và bằng sự phân biện tinh thần thực sự, nhận ra điều gì mang âm điệu của giáo huấn, bất kể nó thuộc cung nào. Nếu nó không nói tất cả những gì các sách huyền bí sâu sắc của Chân sư DK nói, thì cũng được, nó không nói những điều ấy. Nó nói điều khác. Như vậy là bước ra khỏi ảo cảm chỉ trích, điều mà Ngài gọi là—Ngài nói thế nào nhỉ—nguồn gây khổ đau tai hại, đại khái như vậy. Sự chỉ trích, nguồn gây khổ đau tai hại, và tôi nghĩ Ngài biết rõ điều mình nói. Giờ chúng ta tiếp tục thêm một chút.

[16] Before taking up this subject in some detail, I would like to add something to our previous consideration of the problem of glamour. In your last instruction, I elaborated somewhat upon the subject of the various types of glamour and left with you the concept of their great importance in your individual lives.

[16] Trước khi đi vào chủ đề này một cách chi tiết, Tôi muốn bổ sung đôi điều vào phần xem xét trước đây của chúng ta về vấn đề ảo cảm. Trong bài huấn thị gần nhất dành cho các bạn, Tôi đã trình bày khá chi tiết về những loại ảo cảm khác nhau và để lại cho các bạn ý niệm về tầm quan trọng lớn lao của chúng trong đời sống riêng của mỗi người.

Well, we perhaps are not as free of glamour as we might think we are. Those five glamours listed there have to be reviewed, and we have to evaluate ourselves in terms of what we would find if we are very, very perceptive.

Có lẽ chúng ta chưa thoát khỏi ảo cảm nhiều như mình tưởng. Cần xem xét lại năm ảo cảm được liệt kê ở đó, và chúng ta phải tự đánh giá dựa trên những gì mình sẽ tìm thấy nếu quan sát thật tinh tường.

[17] The battlefield (for the man who is nearing accepted discipleship or who is upon the path of discipleship, in the academic sense) is primarily that of glamour.

[17] Chiến trường (đối với người đang tiến gần đến địa vị đệ tử được chấp nhận hoặc đang ở trên Con Đường Đệ Tử, theo nghĩa học thuật) chủ yếu là chiến trường của [Page 81] ảo cảm.

Now, when can accepted discipleship occur? Well, there's no hard and fast rule, but it looked like somewhere between the first and second initiation, and yet it's possible to go beyond the second initiation and not even be an accepted disciple.

Vậy khi nào một người có thể đạt địa vị đệ tử được chấp nhận? Không có quy luật cứng nhắc nào, nhưng có vẻ vào khoảng giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. Tuy vậy, vẫn có thể vượt qua lần điểm đạo thứ hai mà thậm chí chưa phải là một đệ tử được chấp nhận.

He says it all has to do with your relationship to a particular Master, why you might be taken in as an accepted disciple. When does the second initiation occur? It can be many lives after the first, or it can be the next life or two. There's no pinning it down. The time equation is very much in our own hands, and it's related to our ability to really sacrifice.

Ngài nói rằng tất cả đều liên quan đến mối quan hệ của các bạn với một Chân sư cụ thể, đó là lý do các bạn có thể được tiếp nhận làm đệ tử được chấp nhận. Khi nào lần điểm đạo thứ hai diễn ra? Có thể nhiều kiếp sau lần thứ nhất, hoặc ngay trong một hay hai kiếp kế tiếp. Không thể xác định chắc chắn. Yếu tố thời gian phần lớn nằm trong tay chúng ta, và liên quan đến khả năng thực sự hi sinh của chúng ta.

What is sacrifice? I've read some marvelous things here in The Externalisation of the Hierarchy, just amazing, but basically it's all about forgiveness, and what is forgiveness? It's not pardon. It's not pardoning anyone or being pardoned. It is the habit of giving all you have of a high quality to others so that they can rise. That is what real forgiveness is, and it's related directly to the giving of sacrifice, the giving of what is sacred within you, and the de-emphasis upon what is not.

Hi sinh là gì? Tôi đã đọc một số điều tuyệt diệu trong cuốn Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, thật đáng kinh ngạc. Nhưng về căn bản, tất cả đều liên quan đến sự tha thứ. Và tha thứ là gì? Đó không phải là xá lỗi. Không phải xá lỗi cho ai hay được xá lỗi. Đó là thói quen trao cho người khác tất cả những gì có phẩm tính cao đẹp mà mình có, để họ có thể vươn lên. Đó là sự tha thứ thực sự, và nó liên quan trực tiếp đến sự trao tặng trong hi sinh, trao đi những gì thiêng liêng bên trong mình, đồng thời giảm sự chú trọng vào những gì không thiêng liêng.

So in between, and see, only you will know whether you are really forgiving, whether you are really sacrificing. Something may look like a sacrifice to someone who is the observer, and only you will know whether it is a real sacrifice.

Vì vậy, trong khoảng thời gian ấy, chỉ chính các bạn mới biết mình có thực sự tha thứ, có thực sự hi sinh hay không. Một điều có thể trông như sự hi sinh đối với người quan sát, và chỉ chính các bạn mới biết đó có phải là sự hi sinh thực sự hay không.

That doesn't mean that the ordinary understanding of sacrifice should be dismissed. In the temple, the Christ was pointing out to his disciples in regard to the widow's mite. The Pharisee gave a lot, and the widow came along and gave a little, just a little, and he asked his disciples, who gave more? Well, of course it was the widow, because she gave all she hath, and the Pharisee just gave as it was comfortable to give. So when you're putting yourself under stress, DK says, give until it hurts. He really said that, and he said it more than once. Give until it hurts. It won't hurt the soul. We're talking about the personality, and when do you know that you've poured out all that you can rightly pour out in a circumstance? You'll know it yourself, and no one else will be able to tell you, and these are the things that will make the New Group of World Servers successful, and forestall the possibility of war, basically. I can't help it.

Điều đó không có nghĩa là nên gạt bỏ cách thấu hiểu thông thường về sự hi sinh. Trong đền thờ, Đức Christ đã chỉ cho các đệ tử của Ngài về đồng tiền nhỏ của người góa phụ. Người Pharisee cho rất nhiều, còn người góa phụ đến và cho một chút, chỉ một chút thôi. Ngài hỏi các đệ tử: ai đã cho nhiều hơn? Tất nhiên là người góa phụ, vì bà đã cho tất cả những gì mình có, còn người Pharisee chỉ cho trong mức mình thấy thoải mái. Vì vậy, khi các bạn đặt mình dưới sức ép, Chân sư DK nói: hãy cho đến khi thấy đau. Ngài thực sự nói như thế, và đã nói hơn một lần. Hãy cho đến khi thấy đau. Điều đó sẽ không làm linh hồn đau. Chúng ta đang nói về phàm ngã. Và khi nào các bạn biết mình đã tuôn đổ tất cả những gì có thể tuôn đổ một cách đúng đắn trong một hoàn cảnh? Chính các bạn sẽ biết, không ai khác có thể nói cho các bạn. Đây là những điều sẽ giúp Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian thành công và, về căn bản, ngăn ngừa khả năng chiến tranh. Tôi không thể không nhắc đến.

I'm deeply into this book, Externalisation. It's a marvelous book. The very first invocation

Tôi đang hết sức say mê cuốn Sự Hiển Lộ này. Đó là một cuốn sách tuyệt diệu. Bài khấn nguyện đầu tiên

Let the Forces of Light bring illumination to mankind.

Cầu xin các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại.

Let the Spirit of Peace be spread abroad.

Cầu xin Tinh thần Hòa Bình lan tỏa khắp nơi.

May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.

Cầu mong những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.

I'm forgetting a little bit.

Tôi hơi quên một chút.

May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.

Cầu mong sự tha thứ từ tất cả mọi người là chủ âm vào lúc này.

Let power attend the efforts of the Great Ones.

Cầu xin Quyền Năng hỗ trợ những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.

So let it be, and help us to do our part.

Cầu mong được như vậy, và xin giúp chúng con làm tròn phần việc của mình.

It's an amazingly powerful solar invocation. It is so powerful that a number of members of the Hierarchy didn't want it released to humanity, fearing that those who were unable would be overcome by it.

Đó là một bài khấn nguyện thái dương có quyền năng mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Nó mạnh đến mức một số thành viên của Thánh đoàn không muốn công bố cho nhân loại, vì lo rằng những người chưa đủ khả năng sẽ không chịu nổi quyền năng ấy.

That's the very first of the invocations. So I certainly am going to be an advocate for bringing that back into usage as much as possible, and also the second very militant first ray stanza made in 1940. We'll be discussing those as we go along. Anyway, there is a battlefield. We're nearing accepted discipleship, somewhere when the second initiation may be in sight, or maybe halfway through that span of either many lives or maybe shorter, time equation being in your hands, and the battle is with glamour, so that by the time the second initiation is reached, many of the major glamours will have been dissipated.

Đó là bài đầu tiên trong các bài khấn nguyện. Vì vậy, tôi chắc chắn sẽ cổ vũ việc đưa bài ấy trở lại sử dụng càng nhiều càng tốt, và cả bài kệ thứ hai mang tính cung một, với tinh thần đấu tranh rất mạnh, được đưa ra năm 1940. Chúng ta sẽ thảo luận về chúng khi tiếp tục. Dù sao, có một chiến trường. Chúng ta đang tiến gần đến địa vị đệ tử được chấp nhận, vào một thời điểm nào đó khi lần điểm đạo thứ hai có thể đã ở trong tầm mắt, hoặc có lẽ mới đi được nửa chặng đường ấy, kéo dài nhiều kiếp hay có thể ngắn hơn, vì yếu tố thời gian nằm trong tay các bạn. Cuộc chiến là với ảo cảm, để đến khi đạt lần điểm đạo thứ hai, nhiều ảo cảm lớn đã tiêu tan.

[18] That is the major problem and its solution is imminent and urgent for all disciples and senior aspirants.

[18] Đó là vấn đề chính yếu, và đối với mọi đệ tử cùng những người chí nguyện lâu năm, việc giải quyết vấn đề ấy đã cận kề và cấp bách.

What is a senior aspirant? Well, maybe, one who is approaching the first degree, maybe one who has gone a little beyond the first degree. Let's just say that sometimes the true disciple is only an accepted disciple, and up to then, it's a probationary disciple, and the senior aspirant.

Người chí nguyện cao cấp là gì? Có lẽ là người đang tiến gần đến cấp điểm đạo thứ nhất, có lẽ là người đã vượt qua cấp thứ nhất đôi chút. Có thể nói, đôi khi chỉ đệ tử được chấp nhận mới là đệ tử thực sự, còn trước đó là đệ tử dự bị và người chí nguyện cao cấp.

[19] It will be apparent, therefore, to you why the emphasis has been put, during the Aryan age, upon the necessity for the study of Raja Yoga,

[19] Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ vì sao trong thời đại Arya, người ta đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu Raja Yoga,

The kingly science of the soul, right? The illumined mind and so forth, the yoga of the mind. But more than Jnana Yoga, which is the yoga of knowledge, it's the yoga of the soul-infused mind and the powers that come with it. So why has this study of Raja Yoga been emphasized? It should be obvious to us,

Khoa học vương giả của linh hồn, đúng không? Thể trí được soi sáng, vân vân, pháp yoga của thể trí. Nhưng vượt trên Jnana Yoga, vốn là yoga của tri thức, đây là yoga của thể trí được linh hồn thấm nhuần và những quyền năng đi kèm. Vậy tại sao việc nghiên cứu Raja Yoga lại được nhấn mạnh? Điều đó hẳn phải rõ ràng với chúng ta,

[20] and the cultivation of submission to its discipline.

[20] và rèn luyện sự tuân phục kỷ luật của pháp môn này.

I mean, just because we're interested in the new Agni Yoga, the Yoga of Fire, and we are, it's based upon Raja Yoga, and so one of the books we always carry with us is the Yoga Sutras of Patanjali, the Light of the Soul in Alice Bailey's commentary.

Ý tôi là, dù chúng ta quan tâm đến Agni Yoga mới, Yoga của Lửa—và quả là chúng ta có quan tâm—thì nó vẫn dựa trên Raja Yoga. Vì vậy, một trong những cuốn sách chúng ta luôn mang theo là Yoga Kinh của Patanjali, tức Ánh Sáng của Linh Hồn trong phần bình giảng của Alice Bailey.

[21] Only through Raja Yoga can a man stand steady in the light,

[21] Chỉ thông qua Raja Yoga, con người mới có thể đứng vững trong ánh sáng,

Of course, this is very important in the dissipation of glamour, correct? Because I stand within the light, and I never leave that, and I'm protected thereby.

Tất nhiên, điều này rất quan trọng trong việc làm tiêu tan ảo cảm, đúng không? Vì tôi đứng trong ánh sáng, không bao giờ rời khỏi đó, và nhờ vậy tôi được bảo vệ.

Only through Raja Yoga can a man stand steady in the light,

Chỉ thông qua Raja Yoga, con người mới có thể đứng vững trong ánh sáng,

[22] and only through illumination and the achievement of clear vision can the fogs and miasmas of glamour be finally dissipated.

[22] và chỉ thông qua sự soi sáng cùng việc đạt được tầm nhìn rõ ràng, những màn sương mù và chướng khí của ảo cảm mới có thể hoàn toàn tiêu tan.

The illumination will come through Raja Yoga. So the study simultaneously of Raja Yoga and the dissipation of glamour go hand in hand.

Sự soi sáng sẽ đến thông qua Raja Yoga. Vì vậy, việc nghiên cứu Raja Yoga và việc làm tiêu tan ảo cảm luôn song hành.

[23] Only as the disciple learns to hold his mind “steady in the light,” and as the rays of pure light stream forth from the soul, can the glamour be discovered, discerned, recognized for what it essentially is and thus be made to disappear, as the mists of earth dissolve in the rays of the rising sun.

[23] Chỉ khi đệ tử học cách giữ thể trí “vững vàng trong ánh sáng”, và khi những tia sáng thuần khiết tuôn ra từ linh hồn, ảo cảm mới có thể được phát hiện, phân biện, nhận biết đúng bản chất của nó và nhờ đó biến mất, như sương mù trên mặt đất tan đi trong những tia nắng của mặt trời đang mọc.

It's a beautiful idea, and you've seen it happen too, if you've ever been up very early just before dawn, and the surroundings are covered by some kind of mist or fog, and then the sun begins to rise, and there's the dissipation.

Đó là một ý tưởng đẹp, và các bạn cũng từng thấy điều ấy xảy ra, nếu đã có lần thức dậy thật sớm ngay trước bình minh, khi cảnh vật xung quanh phủ một lớp sương hay sương mù nào đó, rồi mặt trời bắt đầu mọc và sương tan.

It's a perfect symbol. As the sun rises, the mists disappear, and that's why I always, after working with that beam of light, I'd like to see the sun shining over a cleared landscape. So we have to learn how to hold our mind steady in the light. It's not necessarily easy, and we have to be connected with the soul before we can do this work and actually be the soul, because glamour cannot be easily discovered, discerned, or recognized for what it is, usually. That's the problem. So it evades us. It's very slippery. It's very Neptunian in that sense. We have to be very sharp, very discerning, very discerning to notice it.

Đó là một biểu tượng hoàn hảo. Khi mặt trời mọc, sương mù biến mất. Vì vậy, sau khi làm việc với chùm ánh sáng ấy, tôi luôn muốn thấy mặt trời chiếu sáng trên một cảnh quan đã quang đãng. Chúng ta phải học cách giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng. Điều đó không nhất thiết dễ dàng, và chúng ta phải kết nối với linh hồn trước khi có thể làm công việc này, thực sự là linh hồn, vì thông thường không dễ phát hiện, phân biện hay nhận biết ảo cảm đúng với bản chất của nó. Đó là vấn đề. Vì thế, nó lẩn tránh chúng ta. Nó rất khó nắm bắt. Theo nghĩa đó, nó rất mang tính Sao Hải Vương. Chúng ta phải rất sắc bén, rất có khả năng phân biện mới nhận ra nó.

[24] Therefore I would counsel you to pay more adequate attention to your meditation, cultivating ever the ability to reflect and to assume the attitude of reflection—held steady throughout the day.

[24] Vì vậy, Tôi khuyên các bạn hãy chú tâm đầy đủ hơn đến việc tham thiền của mình, luôn trau dồi khả năng suy ngẫm và giữ thái độ suy ngẫm ấy vững vàng suốt cả ngày.

What are we reflecting? What are we reflecting upon? What are we reflecting? We're reflecting the higher worlds within our mind, and this continuity of consciousness, even while we're doing many, many other things, we can slip and fall back into glamours unless we have this continuity of consciousness.

Chúng ta đang phản chiếu điều gì? Chúng ta đang suy ngẫm về điều gì? Chúng ta đang phản chiếu điều gì? Chúng ta phản chiếu các thế giới cao hơn trong thể trí mình. Và sự liên tục của tâm thức này, ngay cả khi đang làm rất nhiều việc khác—chúng ta có thể trượt ngã trở lại vào các ảo cảm nếu không có sự liên tục của tâm thức ấy.

[25] You would find it of real value to ponder deeply upon the purposes for which the intuition must be cultivated and the illumined mind developed, asking yourselves if those purposes are identical in objective and synchronous in time.

[25] Các bạn sẽ thấy việc suy ngẫm sâu sắc về những mục đích đòi hỏi phải trau dồi trực giác và phát triển thể trí được soi sáng có giá trị thực sự, đồng thời tự hỏi liệu những mục đích ấy có cùng mục tiêu và đồng thời về thời gian hay không.

There's a little hint there, and generally, the dispelling of illusion is having to do—well, the intuition dispels illusion, and the clear beam of mental soul light dissipates the glamour, and we can use those words, but we have to think carefully, what do they really mean?

Có một gợi ý nhỏ ở đó. Nói chung, việc xua tan ảo tưởng liên quan đến—trực giác xua tan ảo tưởng, còn chùm ánh sáng rõ ràng của linh hồn qua thể trí làm tiêu tan ảo cảm. Chúng ta có thể dùng những từ ấy, nhưng phải suy nghĩ cẩn thận: chúng thực sự có nghĩa là gì?

[26] You would then discover that their objectives differ, and the effects of their pronounced unfoldment upon the personality life are likewise different. Glamour is not dispelled through the means of the intuition nor is illusion overcome by the use of the illumined mind.

[26] Khi ấy, các bạn sẽ khám phá ra rằng các mục tiêu của chúng khác nhau, và những tác động của sự khai mở rõ rệt của chúng đối với đời sống phàm ngã cũng khác nhau. Không thể xua tan ảo cảm bằng trực giác, cũng không thể vượt qua ảo tưởng bằng thể trí được soi sáng.

Matter of fact, once he says if you throw too much soul power into the glamour, the intuition is thrown into the glamour, it can make matters worse. So, we have to be very discriminating, very careful about how to do this.

Thực ra, có lần Ngài nói rằng nếu đưa quá nhiều quyền năng linh hồn vào ảo cảm, đưa trực giác vào ảo cảm, thì có thể khiến tình hình tồi tệ hơn. Vì vậy, chúng ta phải hết sức phân biện, hết sức cẩn thận về cách thực hiện việc này.

Glamour is not dispelled through the means of the intuition nor is illusion overcome by the use of the illumined mind.

Ảo cảm không được xua tan bằng trực giác, cũng như ảo tưởng không được khắc phục bằng việc sử dụng thể trí đã được soi sáng.

Because we'd be working on the level of mind itself. We're working always from the level above, and from the level above we can do something. The mind is above the astral plane, and we can do something with our clear soul-mind-vitality beam. The intuition is above the mind where illusions occur, and so from that position, elevated position, we can do something with the thought forms in the mind which are erroneous, i.e. illusions. The intuition is a faculty. Oh, goodness, goodness, this is interesting. I'm going to put it off until next time, because I just think that it is really worth considering in depth, and I fear that if we get into it we'll be rushing things.

Bởi vì khi ấy chúng ta sẽ làm việc ngay trên cấp độ của chính thể trí. Chúng ta luôn làm việc từ cấp độ cao hơn, và từ cấp độ cao hơn ấy, chúng ta có thể làm được điều gì đó. Thể trí ở cao hơn cõi cảm dục, và chúng ta có thể làm được điều gì đó bằng chùm tia linh hồn–thể trí–sinh lực trong sáng của mình. Trực giác ở cao hơn thể trí, nơi các ảo tưởng xuất hiện, nên từ vị trí cao hơn ấy, chúng ta có thể tác động lên những hình tư tưởng sai lầm trong thể trí, tức là các ảo tưởng. Trực giác là một năng lực. Điều này thật thú vị. Tôi sẽ để lại đến lần sau, vì tôi thực sự nghĩ rằng điều này đáng được xem xét sâu, và tôi e rằng nếu đi vào ngay thì chúng ta sẽ vội vàng.

Page 81—maybe 81. Does anybody see an 82? I see an 82. We’re right on page 81. We began on page 80. Not as far along as I had hoped or thought, but it's better not to rush, so that assimilation can really occur. We have not only to be skillful in wielding the soul energy, but we have to really know mentally what we're doing, and be in such an alignment that the brain is involved as well. I mean, before saying any of the great Words of Power, our alignment is in question, because otherwise we're just saying words, and that is not terribly useful. So, okay, so 80 to 81, not a long way, not a long way, but okay.

Trang 81—có lẽ là 81. Có ai thấy số 82 không? Tôi thấy số 82. Chúng ta đang ở đúng trang 81. Chúng ta đã bắt đầu ở trang 80. Chưa tiến xa như tôi đã hy vọng hoặc nghĩ, nhưng tốt hơn là đừng vội, để sự đồng hóa thực sự có thể diễn ra. Chúng ta không chỉ phải khéo léo vận dụng năng lượng linh hồn, mà còn phải thực sự biết rõ bằng trí tuệ mình đang làm gì, và ở trong một trạng thái chỉnh hợp có cả sự tham gia của bộ não. Ý tôi là, trước khi xướng bất kỳ Quyền năng từ vĩ đại nào, cần xem xét sự chỉnh hợp của chúng ta, vì nếu không, chúng ta chỉ đang nói những lời mà thôi, và điều đó không hữu ích lắm. Vậy là từ trang 80 đến 81, không xa lắm, nhưng cũng được.

The subject matter is very interesting, and I hope we have absorbed a little bit of it, and this looks like at 7 we get 15, and next time it will be the morning schedule. Now, you all know how this is being done now. On Friday, I'm dealing with the dissipation of glamour, and on Wednesdays, we are alternating, for the moment anyway, with the science of triangles and the normal triangle meditation, which is the practical side. We’re almost to page 82, and we began with the glamours of the Path.

Chủ đề này rất thú vị, và tôi hy vọng chúng ta đã tiếp thu được đôi chút. Có vẻ như ở số 7, chúng ta có số 15, và lần tới sẽ theo lịch buổi sáng. Giờ đây, tất cả các bạn đều biết cách chúng ta đang tiến hành. Vào thứ Sáu, tôi bàn về việc làm tiêu tan ảo cảm; còn vào thứ Tư, ít nhất là trong thời gian hiện tại, chúng ta luân phiên giữa khoa học về các tam giác và bài tham thiền tam giác thông thường, vốn là phần thực hành. Chúng ta đã gần đến trang 82, và đã bắt đầu với các ảo cảm của Đường Đạo.

Questions and Answers – Hỏi và Đáp

Friends, maybe you have made some notes or something that you might like to discuss a little bit, and I'm open to that.

Các bạn thân mến, có lẽ các bạn đã ghi chép đôi điều muốn thảo luận thêm một chút, và tôi sẵn lòng trao đổi.

Michael: Leslie has a question.

Michael: Leslie có một câu hỏi.

Michael: She wrote a question.

Michael: Leslie đã viết một câu hỏi.

MDR: It's interesting that the first book of Agni Yoga, Leaves of Morya’s Garden, Volume 1, was also called Illumination.

MDR:Điều thú vị là cuốn sách đầu tiên của Agni Yoga, Những Chiếc Lá Trong Vườn Chân sư Morya, Tập 1, cũng mang tên Soi Sáng.

Aha, okay, very good. A seamless transition from Raja to Agni question? It sounds good to me. Well, who wrote that? Now, I do believe, I wish I had so many opportunities to talk to Daniel Entin, and I forgot to ask him some important things, but it seems that Madame Roerich didn't write those first two books, that they were written by Nicholas Roerich, and I may be wrong, but yes, right, Daniel seemed to say right. You're saying the same thing that I'm saying, or maybe you, I think you're saying that. I believe that Nicholas Roerich took those things down, and, so how did the Tibetan describe it? He said with regard to the Agni Yoga teaching that Master Morya was responsible for some, word for word, that the overshadowing of the publishers by Morya was responsible for other of the writings, and that some of the publishers simply put in himself. So good, so you talked to Daniel, and good, that's confirmed. Very good. I got the same. Thank you.

À, rất tốt. Một câu hỏi về sự chuyển tiếp liền mạch từ Raja sang Agni? Tôi thấy hay đấy. Ai đã viết cuốn đó? Tôi có nhiều cơ hội trò chuyện với Daniel Entin mà lại quên hỏi ông ấy một số điều quan trọng. Theo tôi được biết, dường như bà Roerich không viết hai cuốn đầu tiên ấy, mà Nicholas Roerich đã viết chúng. Tôi có thể nhầm, nhưng đúng vậy, Daniel dường như đã xác nhận như thế. Bạn đang nói cùng điều tôi đang nói, hoặc có lẽ—tôi nghĩ bạn đang nói như vậy. Tôi tin rằng Nicholas Roerich đã ghi lại những điều ấy. Chân sư Tây Tạng đã mô tả ra sao? Ngài nói rằng, đối với giáo huấn Agni Yoga, Chân sư Morya chịu trách nhiệm về một số phần, từng chữ một; rằng sự phủ bóng của Chân sư Morya lên những người xuất bản đã tạo nên một số phần khác; và rằng một số phần do chính người xuất bản tự đưa vào. Vậy là bạn đã nói chuyện với Daniel, và điều đó đã được xác nhận. Rất tốt. Tôi cũng được biết như vậy. Cảm ơn bạn.

Yvonne has her hand raised. Yvonne, there you are. Go ahead.

Yvonne đang giơ tay. Yvonne, bạn đây rồi. Xin mời.

Yvonne: Hi, Michael. I have a question. Hitler—you were talking about the different stages, the paths of discipleship, probationary and accepted, and where was Hitler? I understand he studied esoterics before he went off the left-hand path. What’s the last point that you can be trusted?

Yvonne:Chào Thầy Michael. Tôi có một câu hỏi. Về Hitler—Thầy vừa nói đến những giai đoạn khác nhau, các chặng trên Con Đường Đệ Tử, dự bị và được chấp nhận; vậy Hitler ở đâu? Theo tôi hiểu, ông ta đã nghiên cứu huyền bí học trước khi đi vào tả đạo. Đâu là mốc cuối cùng để một người có thể được tin cậy?

MDR: What point? You know when you become something that is not a hazard—but before that time you're a hazard, it's after you've passed the temptations in the desert, the world, the flesh, and the devil, then you can be trusted, and before that time, even after the second initiation, you are considered a hazard.

MDR:Mốc nào ư? Bạn biết đấy, khi một người không còn là mối nguy nữa—trước thời điểm đó, người ấy vẫn là một mối nguy—thì đó là sau khi đã vượt qua những cám dỗ trong sa mạc: thế gian, xác thịt và ma quỷ. Khi ấy mới có thể tin cậy người đó; còn trước thời điểm ấy, ngay cả sau lần điểm đạo thứ hai, người đó vẫn được xem là một mối nguy.

Now, the old story about Hitler, and there are so many stories, but that he was in the opera Parsifal, if you're familiar with that, by Wagner, there was a fallen knight of the grail, and his name was Klingsor, and he had in his possession the spear of destiny. It's all very kind of, it's like a great story, and with that spear, which was supposedly the spear that pierced the side of Jesus at the crucifixion, he could wield great power, and his method was to lure the knights of the grail into his, I don't know, garden of delights, and there were so many beautiful women, and they would all fall, and one of the major characters is called Amfortas, and he has this terrible wound from having given up his, having given up his pledge, his oath, and much is centered around this fallen knight, but Klingsor, Hitler that is, was a long ago fallen knight, and he was so bitter that he swore that he would lure the knights of the grail into their downfall. Now, whether this is true or not, or any vestige of truth, I cannot account for that, but obviously, he was a highly developed individual who later combined the powers of the ajna center and the sacral center to wield great power over whoever would listen to him, and he was, as we know, obsessed, possessed by a great evil entity of which there are six leaders in the West and six in the East. So, he certainly had his mind on purity, but the purity was projected outside himself. Well, he was a vegetarian and other things. He had his mind on purity, but it was distorted.

Có một câu chuyện cũ về Hitler—và có rất nhiều câu chuyện—rằng ông ta từng là nhân vật trong vở opera Parsifal của Wagner, nếu bạn biết tác phẩm ấy. Trong đó có một hiệp sĩ Chén Thánh sa ngã tên là Klingsor, người nắm giữ ngọn giáo định mệnh. Tất cả nghe như một câu chuyện lớn; với ngọn giáo được cho là đã đâm vào sườn Đức Jesus khi Ngài chịu đóng đinh trên thập giá, người ấy có thể vận dụng quyền năng lớn lao. Phương pháp của ông ta là dụ các hiệp sĩ Chén Thánh vào nơi mà tôi không biết gọi là gì, một khu vườn lạc thú, có rất nhiều phụ nữ xinh đẹp, và tất cả họ đều sa ngã. Một trong những nhân vật chính tên là Amfortas, mang một vết thương khủng khiếp vì đã từ bỏ lời cam kết, lời thề của mình. Phần lớn câu chuyện xoay quanh vị hiệp sĩ sa ngã này; còn Klingsor, tức là Hitler, đã là một hiệp sĩ sa ngã từ rất lâu trước đó. Ông ta cay đắng đến mức thề sẽ dụ các hiệp sĩ Chén Thánh đến chỗ sa ngã. Tôi không thể xác quyết chuyện này có thật hay không, hoặc có chút sự thật nào trong đó hay không. Nhưng rõ ràng ông ta là một cá nhân phát triển cao, về sau đã kết hợp các quyền năng của trung tâm ajna và trung tâm xương cùng để tạo ảnh hưởng rất lớn lên bất cứ ai chịu nghe mình. Và như chúng ta biết, ông ta bị ám, bị một thực thể tà ác hùng mạnh chiếm hữu; những thực thể ấy có sáu thủ lĩnh ở phương Tây và sáu ở phương Đông. Chắc chắn ông ta chú trọng đến sự thanh khiết, nhưng lại phóng chiếu sự thanh khiết ấy ra bên ngoài bản thân. Ông ta ăn chay và làm những việc khác. Ông ta chú trọng đến sự thanh khiết, nhưng nó đã bị bóp méo.

It was twisted, so that he began to attack others because of their so-called impurity when he himself had not managed. So, I say around the second initiation, and I wouldn't want to say anything else, because even after the second initiation, one can deviate from the path and choose the left-hand path if one does not successfully pass the temptations in the desert. So, I hope that gives a little orientation, and I would just be foolish if I tried to pinpoint that exactly, but I do think he was hovering around that initiation of purification, which was badly distorted in his mind because of his own sins previously.

Nó đã trở nên lệch lạc, đến mức ông ta bắt đầu tấn công người khác vì cái gọi là sự bất khiết của họ, trong khi chính ông ta chưa làm chủ được mình. Vì thế, tôi cho rằng ông ta ở quanh lần điểm đạo thứ hai, và tôi không muốn nói gì khác, bởi ngay cả sau lần điểm đạo thứ hai, một người vẫn có thể lệch khỏi Đường Đạo và chọn tả đạo nếu không vượt qua được những cám dỗ trong sa mạc. Tôi hy vọng điều đó giúp bạn có đôi chút định hướng. Tôi sẽ thật thiếu khôn ngoan nếu cố xác định chính xác, nhưng tôi thực sự nghĩ rằng ông ta đang ở quanh cuộc điểm đạo thanh lọc ấy, vốn đã bị bóp méo nghiêm trọng trong thể trí của ông ta do những tội lỗi trước đây của chính mình.

He said every one of those people surrounding Hitler, and he said the evil gangs surrounding Hitler, every one of them had a past of very deep selfishness. He talks about that. I guess that's all I can say.

Ngài nói rằng từng người trong số những kẻ vây quanh Hitler—Ngài gọi đó là những bè đảng tà ác vây quanh Hitler—đều có một quá khứ ích kỷ rất sâu nặng. Ngài có nói về điều đó. Tôi nghĩ đó là tất cả những gì tôi có thể nói.

If I know more, I'll let you know.

Nếu biết thêm, tôi sẽ cho bạn biết.