← Commentary GAW 101-140

Commentary GAW 116

Tóm lược chương

Ảo cảm đã xuất hiện nơi những người tiến bộ của thời Lemuria, khi các màn sương cảm dục bắt đầu làm lệch nhận thức về chân lý và hướng tiến hóa. Sự ích kỷ đối lập với thiện chí bắt nguồn sâu xa từ việc đồng nhất bản thân với hiện thể, xem hiện thể là bản ngã duy nhất; vì vậy, công việc giải trừ ảo cảm cũng đòi hỏi giáo dục về bản chất con người. Theo dự đoán riêng của Thầy MDR, việc thanh lọc ô nhiễm dĩ thái có thể đi trước cuộc đối phó rộng khắp với ảo cảm; bài tham thiền trong Quy luật 10 của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo hỗ trợ công việc này. Việc khám phá Vulcan trong tương lai được liên hệ, dưới dạng giả thuyết, với khả năng hình thành…


Commentary GAW 116

Tóm Tắt

Căn nguyên của ảo cảm và công việc giải trừ

Ảo cảm đã xuất hiện nơi những người tiến bộ của thời Lemuria, khi các màn sương cảm dục bắt đầu làm lệch nhận thức về chân lý và hướng tiến hóa. Sự ích kỷ đối lập với thiện chí bắt nguồn sâu xa từ việc đồng nhất bản thân với hiện thể, xem hiện thể là bản ngã duy nhất; vì vậy, công việc giải trừ ảo cảm cũng đòi hỏi giáo dục về bản chất con người. Theo dự đoán riêng của Thầy MDR, việc thanh lọc ô nhiễm dĩ thái có thể đi trước cuộc đối phó rộng khắp với ảo cảm; bài tham thiền trong Quy luật 10 của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo hỗ trợ công việc này. Việc khám phá Vulcan trong tương lai được liên hệ, dưới dạng giả thuyết, với khả năng hình thành một nỗ lực hợp nhất và vững chắc hơn chống lại ảo cảm.

Học tập và phát triển nhận thức huyền môn

Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới hình thành từ những huấn thị Chân sư DK dành cho nhóm đệ tử chuyên làm việc với ảo cảm. Việc học hằng ngày giúp duy trì sự tiếp xúc sống động với giáo lý; Trường Arcane từng yêu cầu ít nhất một giờ nghiên cứu mỗi ngày, trong khi khối lượng giáo huấn cần hấp thụ và truyền đạt vẫn rất lớn. Cách tiếp cận triết học được đề xuất như phương tiện khai mở trí trừu tượng và dẫn đến trực giác, cả đối với những vấn đề rộng lớn lẫn sự nhận biết trực tiếp. Công việc phổ biến các ý tưởng huyền môn được nhìn nhận là nhiệm vụ kéo dài qua nhiều kiếp sống.

Ba lần điểm đạo đầu và sự vượt qua nhị nguyên

Ở lần điểm đạo thứ nhất, đệ tử chứng tỏ khả năng giải quyết nhị nguyên trên cõi hồng trần bằng cách đặt năng lượng thể xác dưới sự điều khiển đúng đắn của năng lượng dĩ thái; đây là cuộc điểm đạo gắn với thời Lemuria. Lần điểm đạo thứ hai đòi hỏi lựa chọn giữa các cặp đối cực và kiên quyết đi trên trung đạo, tạo nên chiến trường Kurukshetra có thể kéo dài hơn một kiếp sống. Ảnh hưởng mạnh của dấu hiệu Hổ Cáp được liên hệ với sự quyết liệt của cuộc chiến này, với Thánh Paul là một ví dụ về chiến thắng qua đấu tranh. Ở lần điểm đạo thứ ba, trực giác cho phép nhận thức chân lý đúng đắn và lần đầu nhìn thấy thực sự Kẻ Chận Ngõ cùng Thiên Thần của Hiện Diện; trước đó, những khuyết điểm thường chỉ lộ ra từng phần.

Sự hợp nhất ở lần điểm đạo thứ tư và thứ năm

Lần điểm đạo thứ tư hoàn tất sự hợp nhất giữa phương diện cao và thấp của linh hồn đang biểu hiện, trong đó phàm ngã được xem là biểu hiện thấp của linh hồn. Kẻ Chận Ngõ, tức phàm ngã mạnh mẽ và tích hợp hoàn toàn, hòa nhập vào Thiên Thần của Hiện Diện; phần bình giảng xem đây là sự thấm nhuần thực sự của linh hồn. Ở lần điểm đạo thứ năm, Kẻ Chận Ngõ, Thiên Thần và Đấng Hiện Diện hợp nhất thành một tổng hợp thiêng liêng, đưa Chân Thần vào phạm vi nhận biết hữu thức dù Chân Thần vốn luôn hoạt động phía sau. Khả năng tiến xa trong thời đại dấu hiệu Bảo Bình và chuẩn bị cho những thành tựu cao hơn vào thời đại dấu hiệu Ma Kết được nêu như một hy vọng, không phải thời hạn chắc chắn.

Ba nhóm nguyên nhân tạo nên ảo cảm thế giới

Các nguyên nhân tạo nên ảo cảm thế giới gồm nguyên nhân hành tinh, nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát và nguyên nhân do từng cá nhân tạo ra trên nền hai nhóm trước. Hai nguyên nhân hành tinh là những khuynh hướng sẵn có trong chất liệu và tình trạng tiến hóa của Hành Tinh Thượng Đế. Chân sư DK đề nghị tiếp nhận các trình bày vượt quá khả năng hiểu biết hiện tại như những suy đoán hợp lý hoặc giả thuyết có thể chính xác. Cách tiếp cận này đòi hỏi suy xét độc lập, tránh thái độ chấp nhận một mệnh đề chỉ vì Chân sư đã nói.

Di sản của chất liệu từ hệ mặt trời trước

Các nguyên tử cấu thành hình tướng mang dấu ấn của hệ mặt trời trước, khiến những kết quả của chu kỳ ấy trở thành nguyên nhân tác động lên hệ mặt trời và đời sống hành tinh hiện tại. Di sản này quy định xung lực sống, chiều hướng khai mở, khả năng tăng trưởng, sự biểu hiện nguyên mẫu và cấu trúc các giới trong tự nhiên. Theo cách diễn giải của Thầy MDR, hệ hiện tại là hệ thứ năm trong chuỗi sáu hoặc bảy hệ mặt trời, đồng thời là hệ lớn thứ hai; bốn hệ đã đi trước gồm ba hệ nhỏ, còn hệ tiếp theo gắn với ý chí. Hệ thứ bảy được phỏng đoán là sự tổng hợp cả sáu trong Hiện Tại Vĩnh Cửu; từ “vũ trụ” trong đoạn nguồn cũng được lưu ý là có thể chỉ một hệ mặt trời, chứ không nhất thiết toàn bộ vũ trụ.

Quán tính cung ba và yêu cầu chỉnh hợp

Động lượng cung ba từ quá khứ tiếp tục thúc đẩy những khuynh hướng từng phù hợp với Dãy Mặt Trăng hoặc hệ mặt trời trước nhưng không còn đáp ứng đầy đủ chủ đề hiện tại. Hình tướng có xu hướng duy trì cấu hình năng lượng và phương thức tồn tại của mình, tương tự quán tính trong vật lý, nên sự đổi hướng gặp sức kháng cự. Phần bình giảng liên hệ vấn đề này với ngôi sao thứ ba của Great Bear không thẳng hàng, một cuộc nổi loạn trong hệ mặt trời trước và khó khăn ở dãy thứ ba của hệ hành tinh. Ở cấp con người, mối tương ứng là nhu cầu chỉnh hợp phàm ngã, vốn thuộc cung ba theo nghĩa tổng quát, với linh hồn thuộc cung hai theo nghĩa tổng quát, bất kể các cung riêng của cá nhân.

Sự bất toàn của Hành Tinh Thượng Đế

Hành Tinh Thượng Đế thể hiện sự hoàn thiện đối với nhân loại nhưng vẫn thuộc hàng những “Thượng đế bất toàn” khi nhìn từ các Sự Sống cao hơn trên Con đường vũ trụ. Phần bình giảng xác định Ngài là điểm đạo đồ vũ trụ bậc một, dẫn Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 384–385, và liên hệ cuộc đấu tranh hiện tại với việc chuyển trọng tâm từ cõi phụ thứ tư của xung đột sang cõi phụ thứ năm của soi sáng trên cõi cảm dục vũ trụ. Vấn đề của Ngài được gọi là ảo cảm của phàm ngã ở cấp vũ trụ, gắn với những khó khăn chưa giải quyết trong thể cảm dục và sự phát triển các trung tâm cao. Trái Đất được mô tả là lần lâm phàm nam tính của Hành Tinh Thượng Đế, còn Sao Kim là lần lâm phàm nữ tính; ở lần điểm đạo thứ bảy, điểm đạo đồ đứng trước Hành Tinh Thượng Đế sau khi phương diện Đức Sanat Kumara đã được tái hấp thu.

Những hạt giống của chết và suy hoại

Sự bất toàn của Hành Tinh Thượng Đế kết hợp với những khuynh hướng thừa hưởng trong chất liệu tạo nên “những hạt giống của chết và suy hoại” trong cả bốn giới tự nhiên. Các chướng ngại này buộc linh hồn trong hình tướng phải đấu tranh, nhờ đó tăng trưởng sức mạnh, sự thấu hiểu và cuối cùng đạt giải thoát. Cung Chân Thần một của Hành Tinh Thượng Đế được liên hệ với quyền chi phối các chu kỳ sống và chết, trong khi vô số hình tướng xuất hiện rồi bị loại bỏ trong tiến trình tìm kiếm phương tiện biểu hiện thích hợp. Hình ảnh Trái Đất như một “bệnh viện hành tinh” diễn tả nhu cầu chữa lành những ảnh hưởng quá khứ; các điều kiện ấy có thể trì hoãn nhưng không thể ngăn chặn vĩnh viễn sự giải thoát của linh hồn.

Nhân loại tạo nên màn ảo cảm cảm dục

Nhân loại từng bước tạo dựng và tăng cường trạng thái tâm thức ảo cảm được gọi là cõi cảm dục. Phần bình giảng phân biệt chất liệu cảm dục, vốn có vị trí trong tính liên tục của các cõi, với những hình tướng gây chướng ngại mà con người xây dựng từ chất liệu ấy; việc giải trừ ảo cảm không hàm ý loại bỏ toàn bộ chất liệu cảm dục. Một hay nhiều dòng năng lượng hội tụ tạo thành xoáy năng lượng tạm thời, gây tối tăm, hoang mang và cản trở lựa chọn cùng phân biện đúng đắn. Sự hòa trộn giữa trí tuệ và cảm thụ được đề xuất như một cách hiểu cơ chế này, tạo nên thế giới huyễn cảnh có tính hút cạn sinh lực.

Bầu hào quang tập thể và khó khăn nhận diện ảo cảm

Màn ảo cảm hiện nay bao phủ rộng đến mức mọi người đều sống bên trong ảnh hưởng của nó. Cõi cảm dục được mô tả như một thế giới xám tối, sương mù và dễ gây lạc hướng, nơi những ánh sáng dẫn dụ có thể giống ánh lửa ma trơi đưa người theo chúng vào đầm lầy. Năng lượng đáng lẽ dành cho những mục đích khác bị tiêu hao trong trường ảnh hưởng này, khiến tiến hóa chậm lại. Việc nhận diện ảo cảm cá nhân đặc biệt khó vì một khuynh hướng lâu đời thường được xem đơn giản là “con người mình vốn như vậy”.

Từ đời sống bản năng đến sự phức tạp trí-cảm

Ở buổi đầu nhân loại, ảo cảm chủ yếu bao quanh những người tiến bộ hơn, trong khi những người sống gần với bản năng phản ứng trực tiếp với đói ăn, sinh sản, chết, tự vệ và duy trì nòi giống. Sự đơn giản của cảm xúc và thể trí chưa thức tỉnh bảo vệ họ khỏi nhiều rắc rối tinh tế, nhưng không đồng nghĩa với thành tựu tinh thần cao. Khi tâm thức trở nên tinh tế và yếu tố trí tuệ hoạt động mạnh hơn, sự phối hợp trí-cảm khiến ảo cảm và ảo tưởng phát triển nhanh chóng. Theo suy đoán trong phần bình giảng, sự xuất hiện của các nhóm từ Dãy Mặt Trăng vào khoảng giống dân phụ thứ ba của giống dân gốc thứ tư, cùng những sinh mệnh thông minh nhưng thoái hóa thuộc phe bóng tối, đã làm tình hình phức tạp thêm.

Khởi nguyên ảo cảm tính dục trong thời Lemuria

Những dấu hiệu ảo cảm đầu tiên xuất hiện khi người chí nguyện và đệ tử Lemuria bắt đầu phân biệt mình là sinh linh có ngã thức với các mãnh lực thể xác và sinh lực. Sự phân biệt này kích thích mạnh trung tâm cổ họng, phương diện cao của trung tâm xương cùng, và dẫn đến nhận biết rõ hơn về xung lực tính dục, sức hấp dẫn tính dục cùng nhu cầu chuyển hoá năng lượng ấy. Ảo cảm tính dục vẫn hiện diện mạnh trong quảng cáo và việc dùng sức hấp dẫn để bán hàng hóa. Phần bình giảng dẫn Trị Liệu Huyền Môn để liên hệ những sai lầm trong chuyển hoá, sự ức chế tính dục ở thời Atlantis và bệnh ung thư theo cách giải thích của giáo lý.

Yoga sơ khai và sự thức tỉnh tâm thức cảm dục

Yoga sơ khai hướng đến việc linh hồn kiểm soát thể xác thông qua thể dĩ thái, đồng thời đưa phần tiềm thức vào phạm vi nhận biết hữu thức. Khi các đám mây ảo cảm đầu tiên tụ quanh người chí nguyện, ảo tưởng theo nghĩa kỹ thuật thuộc cõi trí vẫn chưa hiện diện vì trí tuệ chưa phát triển tương ứng. Các công trình lớn thời Atlantis được giải thích là thành quả dân chúng thực hiện dưới sự hướng dẫn và truyền ấn tượng của những vị vua có linh hồn phát triển cao. Đối với người chí nguyện hiện nay, raja yoga, jnana yoga hoặc agni yoga được xem là phù hợp hơn việc tiếp tục tập trung vào hatha yoga, ngoại trừ giá trị rèn luyện thân thể.

Điểm đạo và khả năng hoạt động trước nhân loại

Một bí mật của điểm đạo là sử dụng đúng tâm thức có khả năng hoạt động trên cõi cao hơn cõi mà phần lớn nhân loại đang sống vào thời điểm ấy. Vì vậy, người chí nguyện Lemuria chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất bắt đầu nhận biết cõi cảm dục, còn người chí nguyện hiện nay cần phát triển trí trừu tượng, thượng trí và phần nào trực giác khi nhân loại đang học sử dụng trí cụ thể. Lần điểm đạo thứ nhất gắn với Lemuria, lần thứ hai với Atlantis và lần thứ ba với Arya; khả năng nhiều người đạt lần điểm đạo thứ tư trong giống dân gốc thứ sáu được nêu như một suy luận. Đường Đạo được xem là thực sự bắt đầu ở lần điểm đạo thứ nhất, dù ranh giới khởi đầu vẫn có những điểm cần phân định.

Ba nhận biết của người chí nguyện Lemuria

Người chí nguyện Lemuria nhận biết trước hết xung đột giữa thể xác và thể dĩ thái, chẳng hạn giữa khuynh hướng nghỉ ngơi, làm theo bản năng với xung lực tổ chức và hành động từ cấp cao hơn. Đồng thời, một tâm thức cao hơn còn mờ nhạt xuất hiện qua phẩm tính và khả năng cảm thụ, những đặc điểm phản ánh linh hồn trong thể cảm dục. Nhận biết thứ ba là cảm thức ngày càng rõ về bản sắc của mình, tức linh hồn đang thức tỉnh và đóng vai trò Chân sư đầu tiên, dẫn con người từ tâm thức thuần thể xác sang tâm thức cảm dục. Theo đoạn nguồn, ảo cảm nảy sinh từ phản ứng của con người trước chính sự phức tạp trong cấu tạo mình và trước năng lượng linh hồn; mỗi bước phát triển vẫn mang thiên tính, dù sự quen thuộc và mệt mỏi vì đấu tranh dễ làm con người quên điều đó.

Lịch sử huyền môn và chiều sâu thời gian

Lịch sử do Bà Blavatsky trình bày mở rộng quá khứ Trái Đất đến hàng triệu năm, còn giáo lý Chân sư DK dẫn về Dãy Mặt Trăng hàng tỷ năm trước và gợi đến hệ mặt trời trước xa hơn nữa. Theo cách ước lượng trong phần bình giảng, các hệ mặt trời tồn tại hàng nghìn tỷ năm, khác xa phép tính của Giám mục Ussher đặt sự sáng tạo thế giới vào năm 4004 trước Công nguyên. Sự tương phản này cho thấy khó khăn khi hình dung các khoảng thời gian huyền môn, bởi ngay một thế kỷ cũng đã có vẻ rất dài đối với con người. Tuy nhiên, mọi đơn vị thời gian hữu hạn vẫn nhỏ bé trước trường tồn tuyệt đối, trạng thái Bản Thể không có khởi đầu hay kết thúc.

Nghiệp quả hành tinh và vai trò của Sao Kim

Câu hỏi về nghiệp quả từ Sirius dẫn đến nhận định rằng những sai lầm trên Dãy Mặt Trăng và trong lịch sử nhân loại đã gây trì hoãn đáng kể cho tiến hóa Trái Đất. Theo cách diễn giải của Thầy MDR, Trái Đất lẽ ra có thể đạt mức phát triển tương đương Sao Kim, hành tinh song sinh và chân ngã đối ứng nay trở thành người hướng dẫn của chúng ta. Việc không tiếp nhận được thực tại được liên hệ với hậu quả của các hành động thiếu minh triết, đồng thời với vấn đề ảo cảm phàm ngã của Hành Tinh Thượng Đế; sự mắc kẹt trong 18 cõi phụ thấp được nêu như một suy đoán theo phép tương ứng. Minh Triết Ngàn Đời cùng sự trợ giúp của các Đấng thấu hiểu nghiệp quả hành tinh mở đường cho những lựa chọn tốt hơn dưới ảnh hưởng Sao Thổ, nhờ đó nhân loại có thể tạo dựng tương lai thuận lợi hơn.

Sự chậm tiến của Trái Đất và trách nhiệm đối với hệ mặt trời

Trái Đất và toàn hệ mặt trời chịu sự giám sát của Sirius nhưng vẫn ở tình trạng chậm tiến so với mức đáng lẽ phải đạt tới. Theo phép tương đồng được trình bày, hành tinh chúng ta giữ vị trí trung tâm đáy cột sống trong hệ thống lớn hơn, nên sự phát triển của Trái Đất có ý nghĩa đối với khả năng Thái dương Thượng đế tiếp nhận lần điểm đạo thứ năm trước khi hệ mặt trời kết thúc. Hiện nay, mục tiêu của Ngài là lần điểm đạo thứ ba, tiếp đến là lần thứ tư; khả năng tiến xa hơn gắn với mức phát triển đầy đủ của hành tinh này.

Lựa chọn trên Dãy Mặt Trăng và chức năng của nghiệp quả

Tình trạng hiện nay không chỉ bắt nguồn từ lựa chọn của nhân loại mà còn liên quan đến lựa chọn của Hành Tinh Thượng Đế trên Dãy Mặt Trăng. Một cách lý giải được nêu với sự dè dặt là lòng từ bi quá sớm đã dẫn đến lựa chọn thiếu sáng suốt, giải phóng những mãnh lực thái âm hỗn loạn đang làm chậm tiến trình chung. Các Đấng Lipika từ Sirius cùng bốn Maharaja kiểm soát tình trạng ấy theo những cách vượt ngoài sự thấu hiểu thông thường. Định luật Nghiệp Quả được mô tả như một định luật vũ trụ trung gian mang tính chất thứ tư, khôi phục hài hòa để phương diện Bác Ái – Minh Triết có thể biểu lộ. Những hoàn cảnh khó thoát buộc con người hoàn tất điều còn dang dở, tương ứng với cách Dane Rudhyar gọi là “công việc chưa hoàn thành của quá khứ”.

Sống theo các định luật của linh hồn

Việc học Minh Triết Ngàn Đời đi kèm trách nhiệm giúp tiến trình hành tinh tăng tốc thông qua sự thấu hiểu và thực hành định luật nhân quả. Định luật thứ hai của linh hồn, Định luật Xung Động Từ Tính, còn gọi là Định luật Hợp Nhất Đối Cực, chịu sự cai quản của dấu hiệu Thiên Bình, dấu hiệu gắn với nghiệp quả. Khi đời sống tuân theo các định luật của linh hồn, nghiệp quả có thể phụng sự Định luật Bác Ái và đóng góp tích cực hơn cho sự tiến bộ chung.

Trí-cảm và sự pha trộn giữa tư tưởng với cảm xúc

Sự kết hợp năng lượng không chỉ liên quan đến các cung, luân xa hay prana mà còn diễn ra giữa các nguyên khí, điển hình là trạng thái trí-cảm. Trong trạng thái này, thể cảm dục phản ứng thì thể trí lập tức tham gia, còn tư tưởng vừa xuất hiện đã kéo theo cảm xúc, tạo thành những tư tưởng nhuốm màu tình cảm và thiên kiến. Hình ảnh lửa của trí tuệ gặp nước của cảm dục tạo ra hơi nước diễn tả sự mù mờ của ảo cảm và trở ngại đối với tư duy khách quan. Công việc cần thiết là giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng linh hồn, loại bỏ thiên kiến, giúp trí tuệ và cảm xúc hợp tác đúng cách rồi có thể hoạt động độc lập khi cần.

Các tương ứng hành tinh và xung đột năng lượng nội tại

Sao Hỏa được liên hệ với dục vọng, Sao Thủy với trí tuệ, còn Sao Kim trong một phương diện thấp cai quản trí-cảm; ở một vòng xoắn cao hơn xét theo vũ trụ, Sirius thay vị trí Sao Kim và cai quản trí-cảm vũ trụ. Những năng lượng cung trong cùng một con người cũng có thể giao chiến với nhau, tạo nên điều Chân sư Tây Tạng gọi là chiến tranh nội bộ của hệ thống. Sự quân bình giữa các cung, các luân xa, những loại prana và bảy nguyên khí quyết định chúng hỗ trợ hay gây rối lẫn nhau. Khi một nguyên khí cao lần đầu tuôn vào nguyên khí thấp, sự hỗn loạn có thể xuất hiện như một xoáy nước trước khi tiến trình trở nên điều hòa.

Hai khả năng tác động của Sao Hải Vương

Nhận xét về Sao Hải Vương trong dấu hiệu Song Ngư và góc lục hợp với Sao Diêm Vương trong dấu hiệu Ma Kết mở ra vấn đề các ảnh hưởng chiêm tinh có thể vừa làm tăng hỗn loạn vừa hỗ trợ vượt qua ảo lực và ảo cảm. Sao Hải Vương đặc biệt gắn với ảo cảm nhưng cũng cai quản Bồ đề, vốn cung cấp phương tiện làm tiêu tan ảo tưởng; vì vậy cùng một ảnh hưởng có thể làm sai lệch nhận thức hoặc giúp sửa lại cách diễn giải tư tưởng. Sao Diêm Vương trong dấu hiệu Ma Kết có thể đem lại tính thực tế, dù cũng có khả năng khơi mở những tầng thấp thứ sáu và thứ bảy của cõi cảm dục. Nhân loại được mô tả là chịu sự cai quản của dấu hiệu Hổ Cáp ở cấp độ chân thần, với chủ âm “Hãy để ảo lực phát triển và sự lừa dối ngự trị”, nên cuộc đấu tranh giữa các năng lượng đối nghịch đặc biệt mạnh. Chuỗi tận hiến, ảo cảm và sùng tín được dẫn từ trang 340 của sách Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo như một chỉ dẫn để xử lý ảnh hưởng này.

Khủng hoảng sinh thái và cơ hội hợp nhất nhân loại

Sao Hải Vương còn gắn với Giai kỳ qui nguyên, sự tan rã, lũ lụt và mực nước biển dâng. Theo suy luận riêng của Thầy MDR, những biến động khí hậu có thể vừa liên quan đến sự lạm dụng hành tinh của nhân loại, vừa liên quan đến các chuyển biến điểm đạo của bầu hành tinh; đây cũng có thể là một phần những điều Thánh đoàn biết nhưng chưa được phép công bố. Nguy cơ phân biệt đối xử về môi trường xuất hiện khi người nghèo chịu thiệt hại nặng vì không đủ khả năng tự bảo vệ trước khí hậu biến đổi và nước biển dâng. Một hiểm họa sinh thái chung có thể buộc nhân loại hợp tác giải quyết vấn đề, trong khi thế hệ trẻ được kỳ vọng sẽ không tiếp tục chấp nhận những lề lối cũ gây hại.

Kết thúc thời đại Song Ngư và mốc Bảo Bình

Theo cách tính được trình bày dựa trên tuế sai điểm phân, thời đại Bảo Bình bắt đầu năm 2117, còn năm 2045 đánh dấu khoảng 72 năm cuối trước mốc ấy. Mốc 2117 được liên hệ với thư Chân sư DK gửi Roberto Assagioli, dù phương pháp tính và độ hiệu chỉnh chưa được xác định rõ trong phần bình giảng. Thời đại Song Ngư được xem là phải gần kết thúc vào cuối thế kỷ hiện tại, đồng thời với sự rút lui của cung sáu. Trước khi bước vào thời đại mới, những biểu hiện tiêu cực của dấu hiệu Song Ngư và cung sáu vẫn có thể tái phát mạnh.

Sao Hải Vương trong dấu hiệu Bạch Dương và sự trở lại của Đức Christ

Sao Hải Vương đi vào dấu hiệu Bạch Dương năm 2025 được diễn giải như biểu tượng báo hiệu sự trở lại của Đức Christ và sự khởi động mạnh hơn của tiến trình ngoại hiện cùng các kế hoạch chuẩn bị. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, sự xuất hiện thực sự có thể còn cách thời điểm bài giảng khoảng một trăm năm vì còn nhiều công việc liên quan đến các Chân sư và các trung tâm hành tinh. Vì vậy, biểu tượng chiêm tinh này được hiểu như tín hiệu mở đầu tiến trình, không xác lập năm Đức Christ trực tiếp trở lại.

Ảo cảm về việc không còn ảo cảm

Niềm tin rằng bản thân đã hết ảo cảm cũng là một ảo cảm cần đề phòng. Phần lớn đệ tử trong các nhóm của Chân sư DK hướng đến lần điểm đạo thứ hai, nhưng mục tiêu ấy có thể nằm ở hai hoặc ba kiếp sau chứ không nhất thiết trong kiếp đang sống. Một trường hợp được nhắc đến là một linh hồn phát triển cao từng có cơ hội tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai ngay trong kiếp ấy nhưng không thực hiện được vì ảo cảm còn quá mạnh. Việc tự đánh giá điểm tiến hóa vì thế cần đi đôi với sự nhận biết thực tế về sức chi phối của ảo cảm.

Khối lượng tới hạn của tư duy sáng rõ

Không có con số xác định về số người tư duy sáng rõ cần thiết để chuyển hóa tình trạng trí-cảm của thế giới; yêu cầu thực tế là cần thêm những người như vậy. Nỗ lực thiện chí lớn vào các năm 1935–1936 được nhắc đến như một trường hợp lực lượng chưa đủ mạnh trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Câu chuyện Alice Bailey từng nói rằng 100.000 tam giác có thể đảo ngược tình thế chỉ trong một đêm được nêu rõ là lời truyền miệng huyền môn, chưa phải dữ kiện đã kiểm chứng. Hiệu lực của công việc còn tùy cường độ đóng góp, sức mạnh tình cảm và ý chí, nên mỗi cá nhân và nhóm vẫn cần hình dung, sử dụng mantram, tư duy sáng rõ và phóng chiếu những tư tưởng ấy vào môi trường chung.

Truyền thông và khả năng quan sát độc lập

Ví dụ về các cuộc tranh luận của Đảng Dân chủ cho thấy khoảng cách có thể xuất hiện giữa điều người xem trực tiếp quan sát và cách truyền thông diễn giải ai thắng, ai thua. Ý kiến bình luận có thể định hướng tư tưởng công chúng mà người tiếp nhận không nhận ra động cơ hoặc thiên kiến phía sau. Tuy vẫn có những phóng viên làm việc tốt, việc lệ thuộc vào những người bình luận để biết mình phải nghĩ gì làm suy yếu khả năng quan sát và phân biện độc lập.

Ảo cảm của các cặp đối nghịch

Cuộc xung đột giữa linh hồn và phàm ngã làm dấy lên một màn bụi che khuất thực tại, nhất là khi con người yêu quý phàm ngã và đồng hóa mình với nó. Sự đồng hóa với linh hồn đem lại nhận thức sáng rõ, hợp nhất và yêu thương hơn, đồng thời nuôi dưỡng khả năng hi sinh cái ngã bề ngoài cho cái ngã lớn hơn. Đức Christ là mẫu mực sống vì người khác; tên tu viện Totus Tuus tại miền bắc Norway, được hiểu gần nghĩa “hoàn toàn dành cho bạn”, minh họa cho định hướng tận hiến ấy. Khi linh hồn thắng thế, cung phàm ngã trở thành cung phụ của cung linh hồn thông qua sự hòa nhập những phương diện cao của nó; chẳng hạn, phương diện hài hòa của cung bốn thay thế sự nổi trội của xung đột.

Bảo vệ và hợp nhất ba ánh sáng

Bài tham thiền bắt đầu bằng sự tĩnh lặng và cảm nhận tính cố kết của nhóm, sau đó hình dung thập giá ánh sáng nối trán, giữa ngực và hai mắt để bảo vệ trước sức xâm nhập khó nhận biết của ảo cảm. Công thức bảo vệ xác lập vị thế làm việc như linh hồn trong ánh sáng, nơi bóng tối không thể chạm đến và người phụng sự giữ vững vị trí. Ánh sáng vật chất được nâng lên cõi trí và kết hợp với ánh sáng trí tuệ, rồi ánh sáng linh hồn được đưa xuống cõi hạ trí để ba ánh sáng hợp nhất. Sự hợp nhất này cần được cảm nhận thực sự bên cạnh việc hình dung, trước khi xướng linh từ OM ba lần.

Chiếu ánh sáng vào ảo cảm của các cặp đối nghịch

Từ Thế giới của ý nghĩa, ánh sáng linh hồn cùng ánh sáng mạnh của thể trí tạo thành luồng đèn pha hướng vào cõi cảm dục để nhận diện và làm tiêu tan ảo cảm. Cõi cảm dục tuy vi tế vẫn là đối tượng mà tâm thức hướng tới; tính vi tế không đồng nghĩa với tính chủ quan. Ý chí tinh thần, được liên hệ với ý chí linh hồn, ý chí atma và ý chí hi sinh, tăng cường sức mạnh của luồng sáng đang tập trung vào mục tiêu. Ba xác quyết của nhóm lần lượt nhằm ngăn sự xuất hiện của ảo cảm các cặp đối nghịch, vô hiệu hóa ảnh hưởng phẩm tính của nó đối với nhân loại và hủy diệt sự sống duy trì nó.

Tĩnh lặng, đồng hóa với linh hồn và kết thúc công việc

Năm phút tĩnh lặng với Thiên Ý tập trung mạnh được dành cho việc hình dung ánh sáng xuyên vào ảo cảm, làm nó suy yếu và tiêu tan. Sự chú tâm vào linh hồn trên Cõi thượng trí giúp nhận biết chân lý trong Thế giới của ý nghĩa và làm màn bụi xung đột lắng xuống nhanh hơn khi sự gắn bó với phàm ngã giảm đi. Khi thực hành đầy đủ trong nhóm, khoảng làm việc tĩnh lặng được khuyến nghị kéo dài trọn mười phút. Cuối cùng, luồng đèn pha được thu về ba ánh sáng hợp nhất, các ánh sáng trở lại vị trí thích hợp và linh từ OM vang lên ba lần, lần lượt xuyên qua cấp độ trí tuệ, cảm xúc và hồng trần.

Text GAW 116 – Văn bản GAW 116

Glamour: A World Problem pages 103–108 – Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới trang 103–108

[1] 2. The Causes Producing World Glamour.

[1] 2. Các Nguyên Nhân Gây Ra Ảo Cảm Thế Giới.

[2] The causes producing world glamour can be divided into three groups: [Page 105]

[2] Các nguyên nhân gây ra ảo cảm thế giới có thể chia thành ba nhóm: [Trang 105]

[3] A. Planetary causes.

[3] A. Các nguyên nhân hành tinh.

[4] B. Causes initiated by humanity itself.

[4] B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát.

[5] C. Causes induced by any individual person which are, nevertheless, founded and based in the two above groups of conditioning factors.

[5] C. Các nguyên nhân do bất kỳ cá nhân nào gây ra, nhưng vẫn có nền tảng và cơ sở trong hai nhóm yếu tố tác động nêu trên.

[6] A. Planetary Causes. These causes are two in number and beyond your finite comprehension. [7] I only state them and ask you to accept them as reasonable speculations and possibly accurate hypotheses:

[6] A. Các Nguyên Nhân Hành Tinh. Có hai nguyên nhân như vậy, và chúng vượt quá khả năng thấu hiểu hữu hạn của các bạn. [7] Tôi chỉ nêu chúng ra và đề nghị các bạn chấp nhận chúng như những suy đoán hợp lý và những giả thuyết có thể chính xác:

[8] 1. Causes inherent in substance itself. [9] The atoms of which all forms are made [10] have been inherited from an earlier universe [11] or solar system and are, therefore, tinged with or colored by the results of that great creative manifestation. [12] The effects produced in that expression of divine existence constitute predisposing factors or initiating causes in this solar system and planetary life. [13] These conditioning and inherited factors cannot be evaded. [14] They determine the nature of the life urge, [15] the trend of the evolutionary unfoldment, [16] and the innate tendencies which all forms possess, such as the capacity to grow and to unfold, to orient the type and to express in time and space the archetype or pattern, and to outline and determine the structure of the kingdoms into which science divides the natural world. [17] These are but a few of the innate, inherent characteristics of substance itself, inherited and conditioning our present manifestation of divine life.

[8] 1. Các nguyên nhân vốn có trong chính chất liệu. [9] Các nguyên tử cấu thành mọi hình tướng [10] là di sản thừa hưởng từ một vũ trụ trước đây [11] hoặc một hệ mặt trời trước đây, và do đó nhuốm sắc hay mang dấu ấn của những kết quả từ cuộc biểu hiện sáng tạo vĩ đại ấy. [12] Những tác động phát sinh trong lần biểu lộ sự hiện hữu thiêng liêng ấy tạo thành các yếu tố tạo khuynh hướng sẵn có hoặc các nguyên nhân khởi phát trong hệ mặt trời và sự sống hành tinh này. [13] Không thể tránh khỏi những yếu tố được thừa hưởng và có sức định hình này. [14] Chúng quyết định bản chất của xung lực sống, [15] chiều hướng khai mở tiến hoá, [16] và những khuynh hướng bẩm sinh mà mọi hình tướng đều có, như khả năng tăng trưởng và khai mở, định hướng loại hình và biểu lộ trong thời gian và không gian nguyên mẫu hay mô hình, cũng như phác định và quyết định cấu trúc của các giới mà khoa học dùng để phân chia thế giới tự nhiên. [17] Đây chỉ là một vài đặc tính bẩm sinh, vốn có của chính chất liệu, được thừa hưởng và đang định hình sự biểu hiện hiện nay của sự sống thiêng liêng nơi chúng ta.

[18] 2. The life or manifestation of the planetary Logos, [19] the “One in Whom we live and move and have our being,” is determined by His Own Nature. [20] To us, that great Life embodies perfection [21] and the qualities which distinguish Him are those to which we direct our highest [Page 106] aspiration. But, from the angle of Those Lives Who are ahead of Him upon the cosmic path [22] (I speak symbolically and in terms of human experience) He is among the “imperfect Gods.” [23] These imperfections, hindering unfoldment or the perfect expression of divine energy when brought into conjunction with the inherited qualities and biases of the substances through which He must express His life, His purposes and intentions, produce the “seeds of death and of decay” which characterize our planetary evolution in all the four kingdoms in nature. [24] They create the obstacles, obstructions and hindrances against which the soul in all created forms must struggle, gaining strength and understanding thereby and eventual liberation.

[18] 2. Sự sống hay sự biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế, [19] “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu”, do chính Bản Chất của Ngài quyết định. [20] Đối với chúng ta, Sự Sống vĩ đại ấy là hiện thân của sự hoàn hảo [21] và những phẩm tính làm nên nét đặc thù của Ngài chính là những phẩm tính mà chúng ta hướng tới bằng khát vọng cao cả nhất [Trang 106] của mình. Nhưng, từ góc nhìn của Những Sự Sống đi trước Ngài trên đường vũ trụ [22] (Tôi nói theo nghĩa biểu tượng và bằng những thuật ngữ của kinh nghiệm con người), Ngài ở trong hàng ngũ “các Thượng đế chưa hoàn hảo”. [23] Những điểm chưa hoàn hảo này cản trở sự khai mở hoặc sự biểu lộ hoàn hảo của năng lượng thiêng liêng; khi kết hợp với những phẩm tính và thiên hướng được thừa hưởng của các chất liệu mà qua đó Ngài phải biểu lộ sự sống, những mục đích và ý định của mình, chúng tạo ra những “hạt giống của sự chết và sự suy tàn”, vốn là đặc trưng của tiến hoá hành tinh chúng ta trong cả bốn giới của tự nhiên. [24] Chúng tạo ra những chướng ngại, vật cản và trở lực mà linh hồn trong mọi hình tướng được sáng tạo phải đấu tranh vượt qua, nhờ đó đạt được sức mạnh, sự thấu hiểu và cuối cùng là giải thoát.

[25] These are the two major planetary causes. [26] They cannot finally deter the soul from emancipation [27] but they can and do hinder and delay. [28] It is useless for men to speculate upon these hypotheses with their present inadequate equipment and type of brain. Nothing would be achieved and you would be none the wiser.

[25] Đó là hai nguyên nhân hành tinh chủ yếu. [26] Rốt cuộc, chúng không thể ngăn linh hồn đạt tới giải thoát [27] nhưng chúng có thể, và thực sự đang, cản trở và trì hoãn. [28] Với bộ máy và loại bộ não còn bất cập hiện nay, con người suy đoán về những giả thuyết này cũng vô ích. Sẽ chẳng đạt được điều gì, và các bạn cũng chẳng sáng suốt hơn.

[29] B. Causes initiated by humanity itself. [30] Slowly, step by step, humanity has created and intensified that glamorous condition of consciousness which we call the astral plane. [31] All glamour is produced by the bringing together of one or more streams of energy which produce a temporary whirlpool of energies and, from the angle of man—the onlooker and participator—produce a condition of darkness, a state of bewilderment which makes clear choice and right discrimination difficult and, in the early stages, impossible. [32] It creates an aura which is today of such a general nature and so all-enveloping that everybody is, figuratively speaking, immersed in it. [33] This aura, in the infancy [Page 107] of the race, only surrounded the more advanced people. [34] To understand what I mean by this statement, I would call your attention to the fact that very unintelligent people, those who are among the lowest human types, and those who are little more than active animals, governed primarily by the instincts, are apt to deal very simply and with complete directness with the facts of existence with which they are faced and which to them are of paramount or sole importance—the facts of hunger, of birth and death, of self-protection and perpetuation. [35] There is little true glamour [36] in their reaction to life and living, and their simplicity, like that of a child, saves and protects them from many of the subtler ills. [37] Their emotions [38] are not subtle, and their minds are unawakened. But, as humanity evolved and the higher levels of the racial consciousness became more subtle and the mind factor slowly became more active, [39] then glamour and illusion developed very rapidly.

[29] B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát. [30] Chậm rãi, từng bước một, nhân loại đã tạo ra và làm gia tăng trạng thái tâm thức đầy ảo cảm mà chúng ta gọi là cõi cảm dục. [31] Mọi ảo cảm đều phát sinh từ sự hội tụ của một hay nhiều dòng năng lượng, tạo thành một xoáy năng lượng tạm thời và, từ góc nhìn của con người—vừa là người quan sát vừa là người tham dự—tạo ra một tình trạng tối tăm, một trạng thái hoang mang khiến việc lựa chọn sáng suốt và phân biện đúng đắn trở nên khó khăn, và ở những giai đoạn đầu thì không thể thực hiện được. [32] Nó tạo ra một hào quang mà ngày nay đã phổ biến và bao trùm đến mức, nói theo nghĩa bóng, mọi người đều đắm chìm trong đó. [33] Vào thời kỳ sơ khai [Trang 107] của nhân loại, hào quang này chỉ bao quanh những người tiến bộ hơn. [34] Để các bạn thấu hiểu điều Tôi muốn nói qua nhận định này, Tôi xin lưu ý các bạn rằng những người có trí tuệ rất kém, những người thuộc các loại hình nhân loại thấp nhất, và những người chẳng hơn loài vật năng động là bao, chủ yếu chịu sự chi phối của bản năng, thường đối diện rất đơn giản và hoàn toàn trực tiếp với những sự kiện của đời sống mà họ gặp phải và xem là quan trọng nhất hoặc duy nhất—những sự kiện về cái đói, sự sinh và sự chết, sự tự bảo vệ và duy trì nòi giống. [35] Có rất ít ảo cảm thực sự [36] trong phản ứng của họ trước sự sống và việc sống, và sự đơn giản của họ, giống như sự đơn giản của trẻ thơ, cứu họ và bảo vệ họ khỏi nhiều tai hại tinh vi hơn. [37] Những cảm xúc của họ [38] không tinh tế, và thể trí của họ chưa thức tỉnh. Nhưng khi nhân loại tiến hoá, các cấp độ cao hơn của tâm thức nhân loại trở nên tinh tế hơn và yếu tố trí tuệ dần hoạt động mạnh hơn, [39] thì ảo cảm và ảo tưởng phát triển rất nhanh chóng.

[40] The first indications of glamour arose when the disciples and the aspirants of the Lemurian world [41] (whose problem was the right comprehension, correct functioning and control of the physical body) [42] began to differentiate between themselves, as self-conscious beings, and physical and vital forces. [43] That immediately set up a tremendous activity in the throat center [44] which is the higher aspect of the sacral center (the sex center) and thus led to the initial glamour and to the first definite recognition and consideration of the sex impulse, of sex attraction, and—for the initiate of that period—of the necessary sex transmutation. [45] This went hand in hand with the earliest Yoga, [46] or the cult of the physical body with the objective of its control by the soul, [47] and the consequent merging of the conscious and the subconscious.

[40] Những dấu hiệu đầu tiên của ảo cảm xuất hiện khi các đệ tử và những người chí nguyện trong thế giới Lemuria [41] (những người có vấn đề cần giải quyết là thấu hiểu đúng, vận hành đúng và kiểm soát thể xác) [42] bắt đầu phân biệt giữa chính mình, với tư cách những sinh linh có ngã thức, và các mãnh lực hồng trần cùng sinh lực. [43] Điều đó lập tức khơi dậy hoạt động mãnh liệt trong trung tâm cổ họng, [44] vốn là phương diện cao hơn của trung tâm xương cùng (trung tâm tính dục), và do đó dẫn đến ảo cảm ban đầu cùng sự nhận biết và xem xét rõ rệt đầu tiên về xung lực tính dục, sức hấp dẫn tính dục, và—đối với điểm đạo đồ thời kỳ ấy—sự chuyển hoá tính dục cần thiết. [45] Điều này song hành với hình thức Yoga sơ khai nhất, [46] hay phép tu luyện thể xác nhằm đặt thể xác dưới sự kiểm soát của linh hồn, [47] và sự hoà nhập giữa ý thức và tiềm thức theo sau đó.

[48] Around the aspirants of that time could then be seen gathering the first clouds and fogs of glamour, [49] though illusion [Page 108] was nowhere present. [50] The first recognition of the plane of the emotions, of the astral plane, was evoked in the consciousness of the groups under preparation for the first initiation [51] which was the highest initiation possible at that time. [52] The reason for this slowly emerging astral consciousness in the physically polarized aspirant of that time, [53] was due to the fact that one of the secrets of initiation consists in the right understanding and use of the consciousness which is aware and capable of functioning upon a plane higher than that on which humanity as a whole is, at any given time, living. [54] Hence, in Lemurian times, the physically centered man who was on the verge of admission to the Path [55] was aware of:

[48] Bấy giờ, có thể thấy những đám mây và sương mù ảo cảm đầu tiên tụ lại quanh những người chí nguyện thời ấy, [49] dù ảo tưởng [Trang 108] chưa hiện diện ở bất cứ đâu. [50] Sự nhận biết đầu tiên về cõi cảm xúc, tức cõi cảm dục, đã được khơi dậy trong tâm thức của các nhóm đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất, [51] vốn là lần điểm đạo cao nhất có thể đạt được vào thời ấy. [52] Lý do tâm thức cảm dục này dần xuất hiện nơi người chí nguyện phân cực trong thể xác thời ấy [53] là vì một trong những bí nhiệm của điểm đạo nằm ở việc thấu hiểu và sử dụng đúng tâm thức có khả năng nhận biết và hoạt động trên một cõi cao hơn cõi mà toàn thể nhân loại đang sống vào bất kỳ thời điểm nào. [54] Do đó, vào thời Lemuria, người tập trung nơi thể xác và đang ở ngưỡng cửa bước vào Đường Đạo [55] đã nhận biết:

[56] 1. The physical duality wherein his consciousness was accustomed to function normally and of the conflict between the physical body per se and the vital etheric body.

[56] 1. Tính nhị nguyên hồng trần, trong đó tâm thức của y vốn quen hoạt động bình thường, và sự xung đột giữa chính thể xác với thể dĩ thái mang sinh lực.

[57] 2. A dimly sensed higher consciousness [58] which was distinguished by quality and sentiency. [59] This was all that he could at that time contact upon the most familiar plane today, the astral plane.

[57] 2. Một tâm thức cao hơn mà y chỉ cảm nhận lờ mờ, [58] có đặc trưng là phẩm tính và khả năng cảm nhận. [59] Đó là tất cả những gì y có thể tiếp xúc vào thời ấy trên cõi quen thuộc nhất ngày nay, tức cõi cảm dục.

[60] 3. A growing sense of self-identity which was the awakening soul or self, [61] the Master who was to lead him out of the purely physical consciousness into the next divine stage, the astral consciousness. Forget not, through familiarity and fatigue of conflict, [62] the divinity of each developing step.

[60] 3. Một cảm nhận ngày càng rõ về bản sắc riêng của mình, vốn là linh hồn hay chân ngã đang thức tỉnh, [61] là Chân sư sẽ dẫn y ra khỏi tâm thức thuần tuý hồng trần để bước vào giai đoạn thiêng liêng kế tiếp, tức tâm thức cảm dục. Đừng vì quá quen thuộc và mỏi mệt trong xung đột [62] mà quên đi thiên tính của mỗi bước phát triển.

[63] Thus it will be apparent to you, if the above is a true statement of fact, that glamour arose from the recognition of these factors in consciousness and was the result of man’s reactions to the complexities of his own constitution and to the energy of his own soul.

[63] Như vậy, nếu những điều trình bày trên phản ánh đúng sự thật, các bạn sẽ thấy rõ rằng ảo cảm nảy sinh từ việc nhận biết những yếu tố này trong tâm thức, và là kết quả của những phản ứng của con người trước tính phức tạp trong cấu tạo của chính mình và trước năng lượng của chính linh hồn mình.

Glamour Webinar 116 – Webinar về Ảo cảm 116

Michael D. Robbins • Book pages 103–108

Michael D. Robbins • Các trang sách 103–108

Hi everybody and welcome to, gosh, I wonder Michael, what number is this? We're quite advanced in our numbering, but I think we're around the 55th reading or 54th reading, something like that.

Xin chào tất cả các bạn, chào mừng các bạn. Michael, tôi tự hỏi đây là buổi số mấy rồi? Số buổi của chúng ta đã khá cao, nhưng tôi nghĩ chúng ta đang ở khoảng buổi đọc thứ 55 hay 54, đâu đó như vậy.

Michael Stacey: My notes have reading number 56 and webinar number 116.

Michael Stacey: Theo ghi chép của tôi thì đây là buổi đọc số 56 và webinar số 116.

MDR: Well we've been at it for a while, especially considering that we've had to have some little breaks. I'm just letting everybody know, Tuija and I will do our best. We had kind of an iPod issue. It just decided it wouldn't go. So, that could affect tomorrow's broadcast on the Soul of Nations, but I do think we'll be all right. We'll find some kind of workaround. Then starting Sunday and then Monday, Tuesday are off, and Wednesday we will not have programs because we'll be away for a little while, and on the 4th too, so Wednesday, Thursday.

MDR: Chúng ta đã làm việc này được một thời gian rồi, nhất là khi tính đến những quãng nghỉ ngắn mà chúng ta đã phải có. Tôi chỉ muốn báo cho mọi người biết rằng Tuija và tôi sẽ cố gắng hết sức. Chúng tôi gặp một trục trặc với iPod. Nó cứ nhất quyết không hoạt động. Vì vậy, điều đó có thể ảnh hưởng đến buổi phát sóng ngày mai về Linh Hồn Các Quốc Gia, nhưng tôi nghĩ chúng ta sẽ ổn thôi. Chúng tôi sẽ tìm cách khắc phục. Rồi bắt đầu từ Chủ nhật; thứ Hai, thứ Ba vốn là ngày nghỉ, và thứ Tư chúng ta sẽ không có chương trình vì chúng tôi sẽ đi vắng ít lâu, cả ngày mùng 4 nữa, tức là thứ Tư, thứ Năm.

So this coming Sunday and Wednesday and Thursday we'll be away, and then on the 5th in the morning schedule, 5th of July, I know it's one day late for all of the hoopla, we'll be dealing then with the broadcast for The Reappearance of the Christ.

Vậy Chủ nhật tới, thứ Tư và thứ Năm chúng tôi sẽ đi vắng, rồi vào lịch buổi sáng ngày mùng 5, ngày 5 tháng Bảy, tôi biết là muộn một ngày so với mọi cuộc tưng bừng náo nhiệt, khi ấy chúng ta sẽ thực hiện buổi phát sóng về Sự Tái Lâm của Đức Christ.

So let's just have a little alignment first and just happy to see you all here. But our task is to unite with each other in consciousness and in a protected mode and to deal with the interior attack, our own interior attack, on the glamours which are besetting humanity at this time. It's an old story really, and it goes way back to Lemurian times actually. I used to think it was Atlantean times, but even the advanced people of Lemuria began to gather around themselves these wisps of glamour, and they were misled in terms of their destination and their apprehension of the truth. So now it's time to do something about it in an organized way.

Trước hết, chúng ta hãy chỉnh hợp đôi chút; tôi rất vui được thấy tất cả các bạn ở đây. Nhưng nhiệm vụ của chúng ta là hợp nhất với nhau trong tâm thức, trong một trạng thái được bảo vệ, và tiến hành cuộc tấn công từ bên trong, cuộc tấn công nội tâm của chính chúng ta, vào những ảo cảm đang vây bủa nhân loại lúc này. Thật ra, đó là một câu chuyện cũ, có từ tận thời Lemuria. Tôi từng nghĩ nó bắt đầu từ thời Atlantis, nhưng ngay cả những người tiến hoá cao của Lemuria cũng đã bắt đầu thu gom quanh mình những làn ảo cảm mỏng manh này, và họ đã lạc lối về đích đến cũng như trong sự lĩnh hội chân lý. Vì vậy, giờ là lúc hành động một cách có tổ chức để giải quyết điều đó.

I think the attack on the etheric contamination will actually come first, and we've been given a very powerful meditation in Rule 10 of The Rays and the Initiations to help clear out the various courts and divisions within the etheric body. But I have a feeling that when the planet Vulcan is at last discovered, I don't know how many decades or centuries ahead that will be, that we'll be in a position to have a firm and united stance among those who can understand these matters against the glamour. Meanwhile, we'll continue to work as best we can trying to detect which glamours are the most dangerous.

Tôi nghĩ cuộc tấn công vào sự ô nhiễm dĩ thái thực ra sẽ diễn ra trước, và chúng ta đã nhận được một bài thiền rất mạnh mẽ trong Quy luật 10 của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo để giúp thanh lọc những khu vực và bộ phận khác nhau bên trong thể dĩ thái. Nhưng tôi có cảm giác rằng khi hành tinh Vulcan cuối cùng được phát hiện, tôi không biết điều đó còn cách bao nhiêu thập niên hay thế kỷ nữa, thì những người có thể thấu hiểu những vấn đề này sẽ có khả năng cùng nhau giữ vững lập trường chống lại ảo cảm. Trong khi chờ đợi, chúng ta sẽ tiếp tục làm việc hết khả năng, cố gắng phát hiện những ảo cảm nào nguy hiểm nhất.

If you really look at the whole thing, the selfishness versus the goodwill, that's a real big issue, and it's based on the, well, we can call it the glamour of selfishness, but it's based on, again, mistaken identity and, again, thinking that one's vehicle is one's one and only self. Now that is a really big problem. But without the necessary occult training, people do persist in thinking that way. So we have an educational work to do as well. Now, just to say, hi to everybody and glad you're here.

Nếu thực sự nhìn vào toàn bộ vấn đề, các bạn sẽ thấy tính ích kỷ đối lập với thiện chí là một vấn đề rất lớn. Chúng ta có thể gọi đó là ảo cảm của tính ích kỷ, nhưng một lần nữa, nền tảng của nó là sự nhận lầm bản sắc, và một lần nữa là suy nghĩ rằng hiện thể của mình chính là bản ngã duy nhất của mình. Đó thực sự là một vấn đề rất lớn. Nhưng khi chưa có sự huấn luyện huyền bí học cần thiết, người ta vẫn cứ nghĩ như vậy. Vì thế, chúng ta còn có một công việc giáo dục phải làm. Giờ tôi chỉ muốn chào tất cả mọi người và rất vui vì các bạn có mặt ở đây.

Alexandra and Carl and Catherine and Dana and Deborah and Diana, George, Jillian, Gloria, Gretchen, Jan, Joan, Karen. Carmen, Joy, let's see, Marion, it's Marion, and Catherine and Laura, Lenny, Margo, Mariana, Martha. Michael and Nienke and Olivia and Risto, Rose, Stephen, Suzanne, Tia, Tuija, Yvonne and Zenaidi and Veronica, and over here on the staff side, managing the technicalities, BL, Jo, Michael Stacey and Tuija’s over there as well, and basically this work was impulsed by Olivia, Tuija and myself, and of course it's going on all over the world. So among the esoterically inclined people, so the three of us invite you to continue your strong attention to it.

Alexandra và Carl và Catherine và Dana và Deborah và Diana, George, Jillian, Gloria, Gretchen, Jan, Joan, Karen. Carmen, Joy, hãy xem, Marion, đúng là Marion, và Catherine và Laura, Lenny, Margo, Mariana, Martha. Michael và Nienke và Olivia và Risto, Rose, Stephen, Suzanne, Tia, Tuija, Yvonne và Zenaidi và Veronica; còn ở phía ban tổ chức, phụ trách các vấn đề kỹ thuật, có BL, Jo, Michael Stacey, và Tuija cũng ở đó. Về cơ bản, Olivia, Tuija và tôi đã khởi xướng công việc này, và dĩ nhiên công việc ấy đang diễn ra trên khắp thế giới, trong số những người có khuynh hướng huyền bí học. Vì vậy, ba chúng tôi mời các bạn tiếp tục dành sự chú tâm mạnh mẽ cho công việc này.

Now, in this particular group, we're reading Glamour: A World Problem. It's made up of the instructions that DK gave his glamour group. It just didn't start out like a book, it became a book, and thus it is when we work on the broadcast for The Reappearance of the Christ, we're reading The Reappearance of the Christ, which I think should be done every year, and when we work on Triangles, we're reading as well a very important section of about 100 pages of Esoteric Astrology on the Triangles, and there's a lot more to that. So I think that will go on.

Hiện nay, trong nhóm này, chúng ta đang đọc Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới. Sách gồm những huấn thị mà Chân sư DK đã ban cho nhóm nghiên cứu ảo cảm của Ngài. Ban đầu, nó không phải là một cuốn sách, mà về sau mới trở thành sách. Tương tự, khi thực hiện buổi phát sóng về Sự Tái Lâm của Đức Christ, chúng ta đọc Sự Tái Lâm của Đức Christ, điều mà tôi nghĩ nên làm mỗi năm. Còn khi làm việc về các Tam Giác, chúng ta cũng đọc một phần rất quan trọng, khoảng 100 trang trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, nói về các Tam Giác, và chủ đề ấy còn nhiều điều hơn nữa. Vì vậy, tôi nghĩ công việc đó sẽ tiếp tục.

I think that pretty well covers it except for The Destiny of the Nations, and when we do the Soul of Nations broadcast, which is coming up tomorrow, we're pretty much reading from The Destiny of the Nations. Fascinating book and giving us the sort of the political angle on esotericism. So in these various programs, we manage to help us all through the reading of the books because we need ever to be reminded through our daily study. I've got to just say daily study. That's the way it was in the Arcane School. There came a time when certain things loosened up a bit, but you were expected to put in your daily at least one hour of study. Whether that's enough for you or not, you can decide.

Tôi nghĩ như vậy gần như đã bao quát hết, ngoại trừ Vận Mệnh Các Quốc Gia. Khi thực hiện buổi phát sóng Linh Hồn Các Quốc Gia, sẽ diễn ra vào ngày mai, chúng ta chủ yếu đọc từ Vận Mệnh Các Quốc Gia. Đây là một cuốn sách hấp dẫn, cho chúng ta một góc nhìn chính trị về huyền bí học. Như vậy, qua những chương trình khác nhau này, chúng ta giúp tất cả mọi người cùng đọc các sách, vì chúng ta luôn cần được nhắc nhở qua việc học hằng ngày. Tôi phải nhấn mạnh là học hằng ngày. Ở Trường Arcane trước đây là như thế. Có một thời điểm một số điều đã được nới lỏng đôi chút, nhưng người ta vẫn yêu cầu các bạn dành ít nhất một giờ học mỗi ngày. Một giờ có đủ cho mình hay không, các bạn có thể tự quyết định.

But I think it’s very important just to keep everything fresh. We know we can't possibly assimilate all that Master DK gave us, and look, now more is coming around the year 2025. So we have to digest all that and learn the way to pass it on to the people who are susceptible to this educational program for the propagation of the esoteric ideas. We have a big job in front of us.

Nhưng tôi nghĩ điều rất quan trọng là giữ cho mọi điều luôn mới mẻ. Chúng ta biết mình không thể đồng hoá hết tất cả những gì Chân sư DK đã ban cho chúng ta, và giờ đây, vào khoảng năm 2025, sẽ còn có thêm nữa. Vì vậy, chúng ta phải tiêu hoá tất cả những điều đó và học cách truyền đạt lại cho những người có khả năng tiếp nhận chương trình giáo dục nhằm phổ biến các ý tưởng huyền bí học này. Trước mắt chúng ta là một công việc lớn.

It will take some incarnations to bring it to the point which is anticipated by the spiritual Hierarchy. this is part of the new book that's been in process maybe for five or six years, and finally, I'm really going to close down on it with our identification or identify as being group, which meets spontaneously now and then. We've had two meetings so far for series three, and it's really the philosophical approach that helps us open up the abstract mind and lead to the intuition regarding very big things, but also the immediate things of perception.

Sẽ cần một số kiếp lâm phàm để đưa công việc ấy đến mức mà Thánh đoàn dự kiến. Đây là một phần của cuốn sách mới đã được thực hiện có lẽ năm hoặc sáu năm nay, và cuối cùng, tôi thực sự sắp hoàn tất nó cùng với nhóm Đồng Hoá, hay Đồng Hoá với Bản Thể của chúng ta, nhóm thỉnh thoảng gặp nhau một cách tự phát. Cho đến nay, chúng ta đã có hai buổi họp trong loạt thứ ba. Chính cách tiếp cận triết học này giúp chúng ta khai mở trí trừu tượng và dẫn đến trực giác về những điều rất lớn lao, nhưng cả những điều trực tiếp trong sự tri giác nữa.

We're getting into a new thing, and I just want to, before we do the causes of glamour, I just kind of want to replant in our minds the sort of history of glamour with respect to the initiations.

Chúng ta sắp bước sang một nội dung mới, và trước khi bàn về các nguyên nhân của ảo cảm, tôi muốn gieo lại vào thể trí chúng ta đôi nét về lịch sử của ảo cảm trong mối liên hệ với các cuộc điểm đạo.

1. In the first initiation the disciple demonstrates that he has resolved the dualities of the physical plane and can rightly impose etheric energy (the higher of the two) upon physical energy.

1. Trong lần điểm đạo thứ nhất, đệ tử chứng tỏ rằng y đã giải quyết các nhị nguyên của cõi hồng trần và có thể áp đặt đúng đắn năng lượng dĩ thái, năng lượng cao hơn trong hai loại, lên năng lượng hồng trần.

Now, that's the great Lemurian initiation, okay? We have had a recapitulation of it.

Đó là cuộc điểm đạo vĩ đại của Lemuria, phải không? Chúng ta đã trải qua sự tái diễn của cuộc điểm đạo ấy.

2. In the second initiation, the initiate demonstrates that he can choose between the pairs of opposites and proceed with decision upon the “middle way.”

2. Trong lần điểm đạo thứ hai, điểm đạo đồ chứng tỏ rằng y có thể lựa chọn giữa các cặp đối cực và quyết tâm tiến bước trên “trung đạo”.

This is the Kurukshetra of every disciple, and it takes more than one life to battle with a great Kurukshetra, and I think that when we find ourselves with a very heavy Scorpio influence, we really realize what that battle is all about.

Đây là chiến trường Kurukshetra của mỗi đệ tử, và cần hơn một kiếp sống để chiến đấu trên một chiến trường Kurukshetra lớn lao. Tôi nghĩ khi thấy mình chịu ảnh hưởng rất mạnh của Hổ Cáp, chúng ta thực sự nhận ra trận chiến ấy là gì.

3. In the third initiation, the initiate can employ the intuition for the right perception of truth, and in that initiation he catches the first real glimpse of the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence.

3. Trong lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ có thể vận dụng trực giác để tri giác đúng đắn chân lý, và trong cuộc điểm đạo ấy, lần đầu tiên y thực sự thoáng thấy Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện.

So, what has it been before here, you know? Just some unpleasant reflections, say, a fang here and a claw there, something about our negative self, but not looked at in wholeness. Now, finally, at the third degree, when we really are the integrated personality, integrated with the soul, we also see the soul as facing that integrated being. But it does keep going, this material on the dwellers. So, we dealt with this before, but I think it needs to be re-emphasized.

Vậy trước đó chúng ta đã thấy gì? Chỉ là một vài hình ảnh phản chiếu khó chịu, chẳng hạn một chiếc nanh ở đây và một cái vuốt ở kia, đôi điều về bản ngã tiêu cực của chúng ta, nhưng chưa nhìn thấy nó trong tính toàn vẹn. Giờ đây, cuối cùng, ở bậc thứ ba, khi thực sự là phàm ngã tích hợp, tích hợp với linh hồn, chúng ta cũng thấy linh hồn đối diện với sinh linh tích hợp ấy. Nhưng nội dung về những Kẻ Chận Ngõ này vẫn còn tiếp tục. Chúng ta đã bàn đến điều này trước đây, nhưng tôi nghĩ cần nhấn mạnh lại.

4. In the fourth initiation, the initiate demonstrates his ability to produce complete at-one-ment between the higher and lower aspect of the soul in manifestation

4. Trong lần điểm đạo thứ tư, điểm đạo đồ chứng tỏ khả năng tạo ra sự hợp nhất hoàn toàn giữa phương diện cao và thấp của linh hồn trong biểu hiện

You notice he's really calling the personality the lower manifestation of the soul.

Các bạn lưu ý rằng Ngài thực sự đang gọi phàm ngã là biểu hiện thấp của linh hồn.

and sees the Dweller on the Threshold

và thấy Kẻ Chận Ngõ

The very powerful and completely integrated personality,

Phàm ngã rất mạnh mẽ và đã hoàn toàn tích hợp,

merge into the Angel of the Presence.

hoà nhập vào Thiên Thần của Hiện Diện.

This is real soul infusion, as I've said, and then something that lies far ahead for all of us, but maybe not as far as we might think if we really apply ourselves during the Aquarian age. Maybe we'll be ready by the age of Capricorn. Who knows?

Như tôi đã nói, đây là sự thấm nhuần thực sự của linh hồn, rồi đến một điều còn ở rất xa phía trước đối với tất cả chúng ta, nhưng có lẽ không xa như chúng ta tưởng nếu thực sự chuyên tâm trong kỷ nguyên Bảo Bình. Có lẽ đến kỷ nguyên Ma Kết, chúng ta sẽ sẵn sàng. Ai biết được?

5. In the fifth initiation—and here words fail to express the truth—he sees the Dweller on the Threshold, the Angel, and the Presence merged into a divine synthesis.

5. Trong lần điểm đạo thứ năm—và ở đây ngôn từ không thể diễn đạt chân lý—y thấy Kẻ Chận Ngõ, Thiên Thần và Hiện Diện hoà nhập trong một sự tổng hợp thiêng liêng.

So now the three are one, and the monad is also called into activity, or called into consciousness.

Vậy giờ đây ba là một, và chân thần cũng được khơi dậy để hoạt động, hay được đưa vào tâm thức.

It's always active, but behind the scenes and in a way we cannot yet understand. He’s given us this little bit of understanding. But it should be enough to see at what stage we find ourselves and what particular battles we are fighting, and in a way, there's battle all the way, and he says so. He says, he did it in the context of the Second World War, but he did say, see that you battle, and given the resistance of our, the substance of our vehicles, it's going to be a fight as that great Scorpio initiate St. Paul let us know, because he had an amazing battle and he won through. So here are the causes producing world glamour.

Chân thần luôn hoạt động, nhưng ở hậu trường và theo một cách mà chúng ta chưa thể thấu hiểu. Ngài đã cho chúng ta chút hiểu biết này. Nhưng như vậy hẳn cũng đủ để thấy chúng ta đang ở giai đoạn nào và đang chiến đấu trong những trận chiến cụ thể nào. Theo một nghĩa nào đó, suốt con đường đều có chiến đấu, và Ngài cũng nói như vậy. Ngài nói điều đó trong bối cảnh Thế chiến thứ Hai, nhưng Ngài thực sự đã nói: hãy bảo đảm rằng các bạn chiến đấu. Với sức kháng cự của chất liệu cấu thành các hiện thể của chúng ta, đó sẽ là một cuộc chiến, như Thánh Paul, vị điểm đạo đồ Hổ Cáp vĩ đại, đã cho chúng ta biết, vì ông đã trải qua một trận chiến phi thường và đã chiến thắng. Vậy đây là những nguyên nhân tạo ra ảo cảm thế giới.

As we look at these things, we don't know how far we'll go yet. But as we look at these things, please make note of anything you might like to look at a little more strongly. Or any questions that you may have, or statements you may have relating to the subject.

Chúng ta chưa biết mình sẽ đi được bao xa khi xem xét những điều này. Nhưng trong lúc xem xét, xin các bạn ghi lại bất kỳ điều gì muốn tìm hiểu sâu hơn đôi chút, hoặc bất kỳ câu hỏi hay nhận định nào liên quan đến chủ đề này.

[1] 2. The Causes Producing World Glamour.

[1] 2. Các Nguyên Nhân Gây Ra Ảo Cảm Thế Giới.

[2] The causes producing world glamour can be divided into three groups:

[2] Các nguyên nhân gây ra ảo cảm thế giới có thể chia thành ba nhóm: [Trang 105]

You see how orderly the Tibetan often is in his presentations.

Các bạn thấy Chân sư Tây Tạng thường trình bày có trật tự đến thế nào.

[3] A. Planetary causes.

[3] A. Các nguyên nhân hành tinh.

About these, we really can’t do too much.

Đối với những nguyên nhân này, chúng ta thực sự không thể làm được nhiều.

[4] B. Causes initiated by humanity itself.

[4] B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát.

[5] C. Causes induced by any individual person which are, nevertheless, founded and based in the two above groups of conditioning factors.

[5] C. Các nguyên nhân do bất kỳ cá nhân nào gây ra, nhưng vẫn có nền tảng và cơ sở trong hai nhóm yếu tố tác động nêu trên.

So the big factors are the previous planetary conditioning, and also humanity as a whole, and we are by no means yet emerged from the glamour problem. But we are in a position of sufficient intelligence and sensitivity whereby we can begin to emerge from that.

Vì vậy, các yếu tố lớn là những ảnh hưởng định hình từ trước của hành tinh, và cả nhân loại nói chung. Chúng ta còn lâu mới thoát khỏi vấn đề ảo cảm. Nhưng chúng ta đã có đủ trí thông minh và sự nhạy cảm để có thể bắt đầu thoát khỏi nó.

[6] A. Planetary Causes. These causes are two in number and beyond your finite comprehension.

[6] A. Các Nguyên Nhân Hành Tinh. Có hai nguyên nhân như vậy, và chúng vượt quá khả năng thấu hiểu hữu hạn của các bạn.

Maybe something about us on the higher worlds or in the higher worlds would understand.

Có lẽ một phương diện nào đó của chúng ta trên các cõi cao sẽ thấu hiểu.

[7] I only state them and ask you to accept them as reasonable speculations and possibly accurate hypotheses:

[7] Tôi chỉ nêu chúng ra và đề nghị các bạn chấp nhận chúng như những suy đoán hợp lý và những giả thuyết có thể chính xác:

He always approaches with humility, and of course this prevents the devotee attitude. “The Master said it; it must be true.” Well, of course, that's true sometimes, and what is true, but it's not a good state of mind to be in, and you have to think it through for yourself.

Ngài luôn tiếp cận với sự khiêm nhường, và dĩ nhiên điều này ngăn ngừa thái độ sùng tín: “Chân sư đã nói thế; hẳn điều đó phải đúng.” Dĩ nhiên, đôi khi điều ấy đúng, và đó quả là chân lý, nhưng đó không phải là một trạng thái trí tuệ tốt, và các bạn phải tự mình suy xét thấu đáo.

So, Number one—actually, he says these are two in number. Planetary causes and you might even call them solar systemic causes. I think that what he’s going to describe at number one—

Vậy, điều thứ nhất—thực ra Ngài nói có hai nguyên nhân. Những nguyên nhân hành tinh, và thậm chí có thể gọi chúng là những nguyên nhân thuộc hệ mặt trời. Tôi nghĩ điều Ngài sắp mô tả ở mục thứ nhất—

[8] 1. Causes inherent in substance itself.

[8] 1. Các nguyên nhân vốn có trong chính chất liệu.

Substance is a kind of subtler matter which underlies the world of effects out on the outer plane.

Chất liệu là một dạng vật chất tinh tế hơn, làm nền tảng cho thế giới hệ quả trên cõi bên ngoài.

[9] The atoms of which all forms are made

[9] Các nguyên tử cấu thành mọi hình tướng

There are many different levels and many different types of atoms

Có nhiều cấp độ khác nhau và nhiều loại nguyên tử khác nhau

[10] have been inherited from an earlier universe

[10] là di sản thừa hưởng từ một vũ trụ trước đây

Notice he calls it universe when he really means solar system. So when you see that word universe, don't think he necessarily means the grand entirety of cosmos. He can mean something as small as a solar system or as a galaxy, etc.

Hãy lưu ý Ngài gọi đó là vũ trụ trong khi thực sự muốn nói đến hệ mặt trời. Vì vậy, khi thấy từ vũ trụ, các bạn đừng nghĩ rằng nhất thiết Ngài muốn nói đến toàn thể vũ trụ bao la. Ngài có thể muốn nói đến một cái gì đó chỉ nhỏ như một hệ mặt trời hay một thiên hà, v.v.

have been inherited from an earlier universe

được kế thừa từ một vũ trụ trước đây

[11] or solar system and are, therefore, tinged with or colored by the results of that great creative manifestation.

[11] hoặc một hệ mặt trời trước đây, và do đó nhuốm sắc hay mang dấu ấn của những kết quả từ cuộc biểu hiện sáng tạo vĩ đại ấy.

We know right now, I think all of you know by now that we're in the fifth of six or seven solar systems, and we're in the second of the major solar systems. So four solar systems, three of them minor, have gone before us, and they're like incarnations of the Solar Logos. Another one is to come.

Hiện nay, tôi nghĩ đến giờ tất cả các bạn đều biết rằng chúng ta đang ở hệ mặt trời thứ năm trong sáu hoặc bảy hệ mặt trời, và đang ở hệ thứ hai trong các hệ mặt trời chính. Vậy có bốn hệ mặt trời đã xuất hiện trước chúng ta, trong đó ba hệ là thứ yếu, và chúng giống như những kiếp lâm phàm của Thái dương Thượng đế. Một hệ nữa sẽ xuất hiện.

It's based on will, and then somehow in the method of esoteric counting, there is a seventh solar system which is probably seen in the Eternal Now and has to do with combining all six. So they're tinged or colored by the results of our previous solar system.

Hệ ấy đặt nền tảng trên ý chí; rồi bằng một cách nào đó, theo phương pháp đếm huyền bí, có một hệ mặt trời thứ bảy, có lẽ được nhìn thấy trong Hiện Tại Vĩnh Cửu và liên quan đến việc kết hợp cả sáu hệ. Vì vậy, các nguyên tử mang dấu ấn hoặc sắc thái từ những kết quả của hệ mặt trời trước của chúng ta.

[12] The effects produced in that expression of divine existence constitute predisposing factors or initiating causes in this solar system and planetary life.

[12] Những tác động phát sinh trong lần biểu lộ sự hiện hữu thiêng liêng ấy tạo thành các yếu tố tạo khuynh hướng sẵn có hoặc các nguyên nhân khởi phát trong hệ mặt trời và sự sống hành tinh này.

I've pointed out before that the third star of the Great Bear is out of alignment, and that we had, maybe I pointed this out, a lot of trouble with a certain rebellion that occurred in the previous solar system, and that things didn't go so well on the Third Chain of our planetary Scheme. It was called the Moon Chain. Now it's called the Saturn Chain, and so always the number three has been retarding the process and confusing it, and it has to be brought into right alignment with the number two, and I pointed out that this is the same as our personality situation, whatever our ray may be.

Trước đây tôi đã chỉ ra rằng ngôi sao thứ ba của Đại Hùng Tinh bị lệch khỏi sự chỉnh hợp. Có lẽ tôi cũng đã chỉ ra rằng chúng ta từng gặp rất nhiều rắc rối vì một cuộc nổi loạn nào đó xảy ra trong hệ mặt trời trước, và mọi việc đã không diễn ra tốt đẹp trên dãy thứ ba của hệ hành tinh chúng ta. Dãy ấy từng được gọi là Dãy Mặt Trăng. Giờ đây nó được gọi là Dãy Sao Thổ. Vì vậy, con số ba luôn làm chậm và gây rối loạn tiến trình, và cần đưa nó vào sự chỉnh hợp đúng đắn với con số hai. Tôi đã chỉ ra rằng điều này cũng giống tình trạng phàm ngã của chúng ta, bất kể chúng ta thuộc cung nào.

The generic second-ray soul has to come into harmonious response with the generic third-ray personality, whatever your rays may be, because personality is ruled generically by the third ray and soul by the second ray. So anyway,

Linh hồn, xét chung thuộc cung hai, phải đi vào sự đáp ứng hài hoà với phàm ngã, xét chung thuộc cung ba, bất kể các cung của các bạn là gì, vì nói chung phàm ngã chịu sự cai quản của cung ba, còn linh hồn chịu sự cai quản của cung hai. Vậy dù sao đi nữa,

[13] These conditioning and inherited factors cannot be evaded.

[13] Không thể tránh khỏi những yếu tố được thừa hưởng và có sức định hình này.

We live on a planet.

Chúng ta sống trên một hành tinh.

[14] They determine the nature of the life urge,

[14] Chúng quyết định bản chất của xung lực sống,

I suppose within all kinds of beings,

Tôi cho rằng trong mọi loại sinh linh,

[15] the trend of the evolutionary unfoldment,

[15] chiều hướng khai mở tiến hoá,

In other words, we have a lot of third ray momentum still with us, driving us in a direction which was really suitable maybe on the Moon Chain or in the previous solar system, but is not so suitable now when the theme of our solar system is different.

Nói cách khác, chúng ta vẫn còn mang theo rất nhiều động lượng của cung ba, thúc đẩy chúng ta theo một hướng có lẽ từng thực sự thích hợp trên Dãy Mặt Trăng hay trong hệ mặt trời trước, nhưng hiện nay không còn thích hợp lắm, khi chủ đề của hệ mặt trời chúng ta đã khác.

These conditioning and inherited factors cannot be evaded. They determine the nature of the life urge, the trend of the evolutionary unfoldment,

Không thể né tránh những yếu tố được kế thừa và có tác động định hình này. Chúng quyết định bản chất của sự thôi thúc sống, chiều hướng khai mở tiến hoá,

[16] and the innate tendencies which all forms possess, such as the capacity to grow and to unfold, to orient the type and to express in time and space the archetype or pattern, and to outline and determine the structure of the kingdoms into which science divides the natural world.

[16] và những khuynh hướng bẩm sinh mà mọi hình tướng đều có, như khả năng tăng trưởng và khai mở, định hướng loại hình và biểu lộ trong thời gian và không gian nguyên mẫu hay mô hình, cũng như phác định và quyết định cấu trúc của các giới mà khoa học dùng để phân chia thế giới tự nhiên.

Every form seeks to perpetuate itself and pretty much preserve the laws and the kind of energy configuration that it is, whether or not it's in alignment with the higher demands of, let us say, this solar system. So this tendency to perpetuate the past, I guess it's called inertia, which in physics would be the tendency of a body at rest to remain at rest, or the tendency of a body in motion to sustain that motion, and we have to sort of reorient this third ray tendency.

Mọi hình tướng đều tìm cách duy trì sự tồn tại của mình và phần lớn bảo toàn các định luật cùng kiểu cấu hình năng lượng của mình, bất kể có chỉnh hợp với những đòi hỏi cao hơn của hệ mặt trời này hay không. Vì vậy, khuynh hướng duy trì quá khứ ấy, tôi cho rằng được gọi là quán tính; trong vật lý, đó là khuynh hướng một vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, hoặc một vật đang chuyển động sẽ duy trì chuyển động ấy. Chúng ta phải phần nào định hướng lại khuynh hướng cung ba này.

[17] These are but a few of the innate, inherent characteristics of substance itself, inherited and conditioning our present manifestation of divine life.

[17] Đây chỉ là một vài đặc tính bẩm sinh, vốn có của chính chất liệu, được thừa hưởng và đang định hình sự biểu hiện hiện nay của sự sống thiêng liêng nơi chúng ta.

Really, there's nothing we can do about it.

Thực sự, chúng ta không thể làm gì để thay đổi điều đó.

These are the conditions on our planet. Now, this is the next problem here, and it's still part of Category 1, and category 1 is all about planetary causes. So substance has these tendencies, the atomic nature of which our vehicles are built.

Đây là những điều kiện trên hành tinh chúng ta. Giờ đây là vấn đề tiếp theo, vẫn thuộc Nhóm 1, và nhóm 1 hoàn toàn nói về những nguyên nhân hành tinh. Vậy chất liệu có những khuynh hướng này, bản chất nguyên tử cấu thành các hiện thể của chúng ta.

[18] 2. The life or manifestation of the planetary Logos,

[18] 2. Sự sống hay sự biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế,

Our Planetary Logos,

Hành Tinh Thượng đế của chúng ta,

[19] the “One in Whom we live and move and have our being,” is determined by His Own Nature.

[19] “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu”, do chính Bản Chất của Ngài quyết định.

Now, what is that nature? A cosmic initiate of the first degree. If you want to see something interesting, go to A Treatise on Cosmic Fire, page 384, and you're going to see sort of the initiatory status of our Planetary Logos and of our Chain Lord, perhaps, and what's going on right on our little Globe and how the Solar Logos is going through an initiatory process too, and they have their numbers. They have their numbers. So what about this being? He's an imperfect god. It's very perfect as far as we're concerned, relatively, but in terms of the higher beings, not so much. The One in Whom we live and move and have our being, that life or manifestation is determined by his own nature, and he's struggling very hard right now, we understand, on the cosmic astral plane to move his focus on the cosmic astral plane from the fourth plane of struggle to the fifth plane of illumination.

Vậy bản chất ấy là gì? Một điểm đạo đồ vũ trụ bậc thứ nhất. Nếu muốn thấy điều gì thú vị, các bạn hãy xem Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 384. Các bạn sẽ thấy phần nào cấp độ điểm đạo của Hành Tinh Thượng đế chúng ta, và có lẽ của Đấng Chúa Tể Dãy chúng ta, cùng những gì đang diễn ra ngay trên bầu hành tinh nhỏ bé của chúng ta, và cả việc Thái dương Thượng đế cũng đang trải qua một tiến trình điểm đạo như thế nào. Các Ngài đều có những con số của mình. Vậy còn Đấng này thì sao? Ngài là một vị Thượng đế chưa hoàn thiện. Xét tương đối, đối với chúng ta thì Ngài rất hoàn thiện, nhưng xét theo các Đấng cao hơn thì chưa hẳn như vậy. Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu, sự sống hay sự biểu hiện ấy do bản chất của chính Ngài quyết định. Theo những gì chúng ta được biết, hiện nay Ngài đang nỗ lực hết sức trên cõi cảm dục vũ trụ để chuyển trọng tâm của mình trên cõi cảm dục vũ trụ từ cõi thứ tư của sự đấu tranh lên cõi thứ năm của sự soi sáng.

[20] To us, that great Life embodies perfection

[20] Đối với chúng ta, Sự Sống vĩ đại ấy là hiện thân của sự hoàn hảo

After all, when we take the seventh initiation, think of it, we stand before the Planetary Logos, not Sanat Kumara anymore. The Sanat Kumara aspect has been reabsorbed. We stand before the Planetary Logos.

Sau cùng, khi nhận lần điểm đạo thứ bảy, các bạn hãy nghĩ xem, chúng ta đứng trước Hành Tinh Thượng đế, không còn là Sanat Kumara nữa. Phương diện Sanat Kumara đã được tái hấp thu. Chúng ta đứng trước Hành Tinh Thượng đế.

that great Life embodies perfection

Sự Sống vĩ đại ấy là hiện thân của sự hoàn thiện

[21] and the qualities which distinguish Him are those to which we direct our highest aspiration. But, from the angle of Those Lives Who are ahead of Him upon the cosmic path

[21] và những phẩm tính làm nên nét đặc thù của Ngài chính là những phẩm tính mà chúng ta hướng tới bằng khát vọng cao cả nhất [Trang 106] của mình. Nhưng, từ góc nhìn của Những Sự Sống đi trước Ngài trên đường vũ trụ

The sacred Planetary Logos, the Planetary Logos of the three synthesizing planets,

Các Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng, các Hành Tinh Thượng đế của ba hành tinh tổng hợp,

from the angle of Those Lives Who are ahead of Him upon the cosmic path

từ góc nhìn của Những Sự Sống đi trước Ngài trên con đường vũ trụ

[22] (I speak symbolically and in terms of human experience) He is among the “imperfect Gods.”

[22] (Tôi nói theo nghĩa biểu tượng và bằng những thuật ngữ của kinh nghiệm con người), Ngài ở trong hàng ngũ “các Thượng đế chưa hoàn hảo”.

He has not, worked out his higher chakras yet, and he still has trouble with his astral body, we're told. Now, right there is the realm of glamour, and he is the victim of what's called on that high cosmic level the glamour of personality. We can only imagine what it is on that high cosmic level, but okay, he has not solved that particular problem. He's in a masculine incarnation, even though, called Mother Earth at times. This is a masculine incarnation for this Planetary Logos, and for the Planetary Logos of Venus, a feminine incarnation.

Theo những gì chúng ta được cho biết, Ngài chưa hoàn tất việc phát triển các luân xa cao của mình, và vẫn còn gặp khó khăn với thể cảm dục. Chính đó là lĩnh vực của ảo cảm, và Ngài là nạn nhân của điều mà ở cấp độ vũ trụ cao ấy được gọi là ảo cảm của phàm ngã. Chúng ta chỉ có thể hình dung nó là gì ở cấp độ vũ trụ cao ấy, nhưng Ngài chưa giải quyết được vấn đề cụ thể đó. Ngài đang trong một kiếp lâm phàm nam tính, mặc dù đôi khi được gọi là Mẹ Trái Đất. Đây là một kiếp lâm phàm nam tính đối với Hành Tinh Thượng đế này, còn đối với Hành Tinh Thượng đế của Sao Kim thì là một kiếp lâm phàm nữ tính.

[23] These imperfections, hindering unfoldment or the perfect expression of divine energy when brought into conjunction with the inherited qualities and biases of the substances through which He must express His life, His purposes and intentions, produce the “seeds of death and of decay” which characterize our planetary evolution in all the four kingdoms in nature.

[23] Những điểm chưa hoàn hảo này cản trở sự khai mở hoặc sự biểu lộ hoàn hảo của năng lượng thiêng liêng; khi kết hợp với những phẩm tính và thiên hướng được thừa hưởng của các chất liệu mà qua đó Ngài phải biểu lộ sự sống, những mục đích và ý định của mình, chúng tạo ra những “hạt giống của sự chết và sự suy tàn”, vốn là đặc trưng của tiến hoá hành tinh chúng ta trong cả bốn giới của tự nhiên.

Now, we have a first ray monad on this planet, and the monad is always ruling life and death, and when life shall end, and when death shall take over, and then when life shall re-begin, these cycles of life and death, and so it's very natural to see, well, the prodigality of forms on our planet, but how easily they are dispensed with in the death process as part of the great experiment of looking for the best forms through which to express the power of our Planetary Logos. Anyway, when they're brought together, these imperfections, and the difficulties with substance, so we've got an imperfect Planetary Logos, we've got substances that are conditioned by a previous regime, which is not exactly suitable to our present one,

Trên hành tinh này, chúng ta có một chân thần cung một, và chân thần luôn cai quản sự sống và sự chết: khi nào sự sống sẽ chấm dứt, khi nào sự chết sẽ tiếp quản, rồi khi nào sự sống sẽ bắt đầu trở lại, những chu kỳ sống và chết này. Vì vậy, rất tự nhiên khi thấy hình tướng trên hành tinh chúng ta dồi dào biết bao, nhưng cũng dễ dàng bị loại bỏ biết bao trong tiến trình chết, như một phần của cuộc thử nghiệm vĩ đại nhằm tìm kiếm những hình tướng tốt nhất để biểu lộ quyền năng của Hành Tinh Thượng đế chúng ta. Dù sao đi nữa, khi những điều chưa hoàn thiện ấy và những khó khăn với chất liệu kết hợp lại, thì chúng ta có một Hành Tinh Thượng đế chưa hoàn thiện, và có những chất liệu chịu ảnh hưởng định hình của một chế độ trước đây, vốn không hoàn toàn thích hợp với chế độ hiện tại của chúng ta,

[24] They create the obstacles, obstructions and hindrances against which the soul in all created forms must struggle, gaining strength and understanding thereby and eventual liberation.

[24] Chúng tạo ra những chướng ngại, vật cản và trở lực mà linh hồn trong mọi hình tướng được sáng tạo phải đấu tranh vượt qua, nhờ đó đạt được sức mạnh, sự thấu hiểu và cuối cùng là giải thoát.

So basically all of our struggles on this fourth major planet from the sun, including Vulcan, are for the purpose of strengthening us, and there's a lot of, what you call on this planet, I joke and other people joke and they call it the hospital, but there is something about that planetary hospital that is really true, and we seem on this planet, which has an active external life at this time when other planets are in latency, to be a lot of healing the sick, you might say, and helping them recover from previous conditioning. So anyway,

Về cơ bản, mọi cuộc đấu tranh của chúng ta trên hành tinh lớn thứ tư tính từ Mặt Trời này, kể cả Vulcan, đều nhằm làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Trên hành tinh này có rất nhiều điều mà tôi và những người khác vẫn đùa khi gọi nơi đây là bệnh viện. Nhưng hình ảnh bệnh viện hành tinh ấy thực sự có phần đúng. Trên hành tinh này, vốn đang có đời sống bên ngoài hoạt động tích cực vào lúc các hành tinh khác còn trong trạng thái tiềm ẩn, dường như chúng ta đang chữa lành cho rất nhiều người bệnh, có thể nói như vậy, và giúp họ phục hồi sau những ảnh hưởng định hình trước kia. Dù sao thì,

[25] These are the two major planetary causes.

[25] Đó là hai nguyên nhân hành tinh chủ yếu.

Basically substance, the conditioning of substance and the state of the Planetary Logos, evolutionary state,

Về cơ bản là chất liệu, tình trạng chịu tác động định hình của chất liệu và trạng thái của Hành Tinh Thượng đế, trạng thái tiến hoá,

[26] They cannot finally deter the soul from emancipation

[26] Rốt cuộc, chúng không thể ngăn linh hồn đạt tới giải thoát

We have the soul is a big thing, but we largely deal with it in terms of the self-conscious units like man, they cannot hold him back and deter him from emancipation,

Linh hồn là một thực tại rộng lớn, nhưng phần lớn chúng ta bàn đến linh hồn qua những đơn vị có ngã thức như con người. Chúng không thể kìm giữ y và ngăn y đạt đến giải thoát,

[27] but they can and do hinder and delay.

[27] nhưng chúng có thể, và thực sự đang, cản trở và trì hoãn.

A lot of people are very subject to this previous condition, in the old saying, the love of money is the root of all evil. Well, you might take that back a little further and say, the love of one's own desires is the root of all evil. So we have an example there of how the third aspect of divinity is retarding our progress. So they can't hinder and delay and DK tells us at one point, and I think it's in Esoteric Psychology I, watch out, you could delay yourselves by 300 years in terms of the entrance into entry in the correct manner into the new age.

Rất nhiều người chịu sự chi phối mạnh mẽ của tình trạng trước kia này, như câu nói xưa, lòng yêu tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác. Các bạn có thể truy xa hơn một chút và nói rằng lòng yêu những dục vọng của chính mình là cội rễ của mọi điều ác. Như vậy, chúng ta có một ví dụ về cách phương diện thứ ba của thiên tính đang làm chậm bước tiến của chúng ta. Vậy chúng không thể cản trở và trì hoãn, và ở một chỗ Chân sư DK bảo chúng ta—tôi nghĩ là trong Tâm Lý Học Nội Môn I—hãy cẩn thận, các bạn có thể tự làm mình chậm trễ 300 năm trong việc bước vào kỷ nguyên mới một cách đúng đắn.

[28] It is useless for men to speculate upon these hypotheses with their present inadequate equipment and type of brain. Nothing would be achieved and you would be none the wiser.

[28] Với bộ máy và loại bộ não còn bất cập hiện nay, con người suy đoán về những giả thuyết này cũng vô ích. Sẽ chẳng đạt được điều gì, và các bạn cũng chẳng sáng suốt hơn.

So we probably accept what DK says as a working hypothesis. We don't have to go too far in thinking that we can necessarily solve it ourselves. Probably there are so many things that he gives us that since we do trust him, we accept temporarily at least until either proven or proven different. Now here is a really important one.

Vì vậy, có lẽ chúng ta chấp nhận những điều Chân sư DK nói như một giả thuyết làm cơ sở nghiên cứu. Chúng ta không cần đi quá xa với ý nghĩ rằng nhất thiết mình có thể tự giải quyết vấn đề này. Có lẽ có rất nhiều điều Ngài đưa ra mà vì tin cậy Ngài, chúng ta chấp nhận, ít nhất là tạm thời, cho đến khi chúng được chứng minh là đúng hoặc được chứng minh là khác đi. Giờ đây là một điểm thực sự quan trọng.

[29] B. Causes initiated by humanity itself.

[29] B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát.

Later maybe we'll learn something about that type of humanity who were the initiates of the previous solar system and who were determined to stop progress and we call them the Lords of Form or the members of the Black Lodge, etc.

Có lẽ về sau chúng ta sẽ học được đôi điều về loại nhân loại vốn là những điểm đạo đồ của hệ mặt trời trước, những kẻ quyết tâm ngăn chặn sự tiến bộ và được chúng ta gọi là các Chúa Tể Hình Tướng hay những thành viên của Hắc đoàn, v.v.

[30] Slowly, step by step, humanity has created and intensified that glamorous condition of consciousness which we call the astral plane.

[30] Chậm rãi, từng bước một, nhân loại đã tạo ra và làm gia tăng trạng thái tâm thức đầy ảo cảm mà chúng ta gọi là cõi cảm dục.

Now there is matter of a certain vibration on those levels, but the forms particularly, so many of them just don't belong, constructed out of the matter of what we have called the astral plane. You can't have a discontinuity. You can't have basically etheric atoms and then suddenly you have mental atoms and you have no emotional atoms at all. You can't have that, but you certainly can have the forms that are created out of those emotional atoms. I don't know what we'll call them, atoms of the emotional sphere. We can have better forms and non-obstructive forms, and basically we've created a whole fantasy, a phantasmagoria on the astral plane and that phantasmagoria, which acts in a somewhat, he tells us, vampiristic manner, is really stopping humanity from seeing the truth.

Trên những cấp độ ấy có vật chất mang một rung động nhất định, nhưng đặc biệt là các hình tướng—rất nhiều hình tướng hoàn toàn không nên có ở đó—được kiến tạo từ vật chất của cái mà chúng ta gọi là cõi cảm dục. Không thể có sự đứt đoạn. Về cơ bản, không thể có các nguyên tử dĩ thái rồi đột nhiên có các nguyên tử trí tuệ mà hoàn toàn không có nguyên tử cảm xúc nào. Không thể như vậy, nhưng chắc chắn có thể có những hình tướng được tạo ra từ các nguyên tử cảm xúc ấy. Tôi không biết chúng ta sẽ gọi chúng là gì, những nguyên tử của khối cầu cảm xúc. Chúng ta có thể có những hình tướng tốt đẹp hơn và không gây cản trở. Về cơ bản, chúng ta đã tạo ra cả một thế giới huyễn hoặc, một cảnh giới huyễn ảnh trên cõi cảm dục. Theo lời Ngài, cảnh giới huyễn ảnh ấy hoạt động phần nào theo cách hút sinh lực và thực sự đang ngăn nhân loại thấy được chân lý.

[31] All glamour is produced by the bringing together of one or more streams of energy which produce a temporary whirlpool of energies and, from the angle of man—the onlooker and participator—produce a condition of darkness, a state of bewilderment which makes clear choice and right discrimination difficult and, in the early stages, impossible.

[31] Mọi ảo cảm đều phát sinh từ sự hội tụ của một hay nhiều dòng năng lượng, tạo thành một xoáy năng lượng tạm thời và, từ góc nhìn của con người—vừa là người quan sát vừa là người tham dự—tạo ra một tình trạng tối tăm, một trạng thái hoang mang khiến việc lựa chọn sáng suốt và phân biện đúng đắn trở nên khó khăn, và ở những giai đoạn đầu thì không thể thực hiện được.

So, basically you might talk here about the coming together of fire and water.

Về cơ bản, ở đây các bạn có thể nói đến sự kết hợp của lửa và nước.

It might be considered the coming together of mind and sentiency, but in the beginning we can't handle it.

Có thể xem đó là sự kết hợp của trí tuệ và khả năng cảm nhận, nhưng lúc đầu chúng ta không thể làm chủ được điều ấy.

[32] It creates an aura which is today of such a general nature and so all-enveloping that everybody is, figuratively speaking, immersed in it.

[32] Nó tạo ra một hào quang mà ngày nay đã phổ biến và bao trùm đến mức, nói theo nghĩa bóng, mọi người đều đắm chìm trong đó.

This is what we walk in and, of course, if we had constant vision of the astral plane we would not necessarily see it as that lovely world that some people seem to think it is, but, as a darkened, grey, veiled, foggy, misleading world, the light there would be swamp light. They call it will-o'-the-wisp. You follow the light and it leads you into trouble, into the swamp. It creates that aura which is of such a general nature people are immersed in it, and he's telling us about this huge area of illusion. He uses the word illusion in a general sense, not just mental, and it has a very retarding effect upon humanity because it drains off the energy which humanity should be using for other things.

Đó là môi trường chúng ta đang bước đi trong đó. Dĩ nhiên, nếu thường xuyên có khả năng nhìn thấy cõi cảm dục, chúng ta chưa chắc sẽ thấy đó là thế giới đẹp đẽ như một số người dường như vẫn nghĩ, mà là một thế giới tối tăm, xám xịt, bị che phủ, đầy sương mù và gây lạc hướng; ánh sáng ở đó là ánh sáng đầm lầy. Người ta gọi đó là ma trơi. Các bạn đi theo ánh sáng ấy và nó dẫn các bạn vào rắc rối, vào đầm lầy. Nó tạo ra hào quang phổ biến đến mức mọi người đều chìm đắm trong đó. Ngài đang nói với chúng ta về vùng ảo tưởng rộng lớn này. Ngài dùng từ ảo tưởng theo nghĩa chung, chứ không chỉ thuộc trí tuệ. Nó có tác dụng làm chậm bước nhân loại rất mạnh, vì nó rút cạn năng lượng mà nhân loại lẽ ra phải dùng cho những việc khác.

[33] This aura, in the infancy of the race, only surrounded the more advanced people.

[33] Vào thời kỳ sơ khai [Trang 107] của nhân loại, hào quang này chỉ bao quanh những người tiến bộ hơn.

Now, we're going back to Lemuria here, and he's telling us that not everybody was the victim of it. Not everybody.

Ở đây, chúng ta đang trở về thời Lemuria, và Ngài cho biết rằng không phải ai cũng là nạn nhân của nó. Không phải tất cả mọi người.

[34] To understand what I mean by this statement, I would call your attention to the fact that very unintelligent people, those who are among the lowest human types, and those who are little more than active animals, governed primarily by the instincts, are apt to deal very simply and with complete directness with the facts of existence with which they are faced and which to them are of paramount or sole importance—the facts of hunger, of birth and death, of self-protection and perpetuation.

[34] Để các bạn thấu hiểu điều Tôi muốn nói qua nhận định này, Tôi xin lưu ý các bạn rằng những người có trí tuệ rất kém, những người thuộc các loại hình nhân loại thấp nhất, và những người chẳng hơn loài vật năng động là bao, chủ yếu chịu sự chi phối của bản năng, thường đối diện rất đơn giản và hoàn toàn trực tiếp với những sự kiện của đời sống mà họ gặp phải và xem là quan trọng nhất hoặc duy nhất—những sự kiện về cái đói, sự sinh và sự chết, sự tự bảo vệ và duy trì nòi giống.

This is the point here.

Đây chính là điểm cần lưu ý.

[35] There is little true glamour

[35] Có rất ít ảo cảm thực sự

These earlier groups, right?

Những nhóm thời kỳ đầu này, đúng không?

little true glamour

rất ít ảo cảm thực sự