← Commentary GAW 141-150

Commentary GAW 148

Tóm lược chương

Trong giáo lý của Chân sư DK, dục vọng vật chất, sự thỏa mãn các ham muốn động vật, sở hữu, tiện nghi và an toàn kinh tế, xã hội, tôn giáo đặt con người dưới dạng ảo lực đậm đặc nhất, với mãnh lực tập trung tại trung tâm xương cùng. Khát vọng hướng tới một thiên đường vật chất, quyền lực hoặc sự thỏa mãn những ham muốn tinh tế hơn cũng có thể thuộc ảo lực dưới hình thức cảm xúc. Trung tâm xương cùng được diễn giải là trung tâm thu nhận những gì còn thiếu hoặc đang ham muốn, kể cả khả năng kiếm tiền, mang ảnh hưởng cung ba. Theo cách quy ba Cung chính cho các trung tâm thấp, đáy cột sống tương ứng cung một, tùng thái dương tương ứng cung hai…


Commentary GAW 148

Tóm Tắt

Ảo lực, dục vọng và trung tâm xương cùng

Trong giáo lý của Chân sư DK, dục vọng vật chất, sự thỏa mãn các ham muốn động vật, sở hữu, tiện nghi và an toàn kinh tế, xã hội, tôn giáo đặt con người dưới dạng ảo lực đậm đặc nhất, với mãnh lực tập trung tại trung tâm xương cùng. Khát vọng hướng tới một thiên đường vật chất, quyền lực hoặc sự thỏa mãn những ham muốn tinh tế hơn cũng có thể thuộc ảo lực dưới hình thức cảm xúc. Trung tâm xương cùng được diễn giải là trung tâm thu nhận những gì còn thiếu hoặc đang ham muốn, kể cả khả năng kiếm tiền, mang ảnh hưởng cung ba. Theo cách quy ba Cung chính cho các trung tâm thấp, đáy cột sống tương ứng cung một, tùng thái dương tương ứng cung hai và trung tâm xương cùng tương ứng cung ba; lòng ham sở hữu và xa hoa cũng được liên hệ với sự suy vong của Atlantis.

Phân biệt ảo lực và ảo cảm qua kinh nghiệm

Chân sư DK phân biệt ảo cảm tinh tế, thuộc cảm xúc và tập trung tại tùng thái dương với ảo lực hữu hình hơn, thuộc dĩ thái và tập trung tại trung tâm xương cùng, dù hai loại thường pha trộn. Ảo lực biểu hiện rõ trong những thói quen tự động khiến con người hành động mà không nhận biết đầy đủ điều mình đang làm; hoạt động của Mặt Trăng trong lá số có thể giúp phát hiện những khuôn mẫu này. Kinh nghiệm riêng của Thầy MDR mô tả ảo cảm như một sức hấp dẫn và thúc đẩy có cảm giác đặc thù tại tùng thái dương, với sự khác biệt rõ rệt khi nó tiêu tan. Việc hồi tưởng buổi tối, quan sát những thay đổi trạng thái và đối chiếu các trạng thái tương phản giúp phân biệt sự kích hoạt cảm xúc với những thôi thúc dĩ thái.

Tổ chức thể dĩ thái và chuyển dịch năng lượng

Ở người bình thường, các mãnh lực ảo lực chi phối tư tưởng, khát vọng, dục vọng và hoạt động hồng trần; năng lượng từ các trung tâm cao có thể phục vụ những trung tâm thấp thay vì nâng chúng lên. Thời đại dấu hiệu Bảo Bình, đi cùng chu kỳ cung bảy, được liên hệ với khả năng tổ chức thể dĩ thái và thiết lập trật tự đúng đắn trên cõi hồng trần đậm đặc. Cách tiếp cận linh hồn–thể trí–bộ não sẽ giúp biểu hiện những quan hệ đúng đắn, khắc phục sự thiếu tổ chức hoặc hoạt động vô thức đối với đời sống vật chất. Bốn bức màn dĩ thái được nhắc đến là thôi thúc, biến dạng, chia rẽ và khát vọng, lần lượt liên hệ với sự thúc đẩy của ảo lực, sự bóp méo của ảo cảm, tính chia rẽ của hạ trí và khát vọng chưa chuyển thành hành động.

Hai nhiệm vụ để linh hồn kiểm soát

Hai nhiệm vụ chính là đưa mọi trung tâm dưới cảm hứng của linh hồn và chuyển dịch hoặc chuyển hoá mãnh lực của các trung tâm thấp thành năng lượng của các trung tâm trên cơ hoành. Các trung tâm cao vốn thích hợp để tự động đáp ứng linh hồn, trong khi các trung tâm thấp thường cần sự điều chỉnh lâu dài; tuy vậy, trung tâm cổ họng và ajna cũng có thể hoạt động ngoài sự kiểm soát của linh hồn. Cảm hứng được diễn giải theo nghĩa tiếp nhận ngọn lửa thúc đẩy từ một cấp độ nào đó, nên nguồn cảm hứng mới quyết định tính chất cao hay thấp của hoạt động. Trong cách đọc chiêm tinh được đề xuất, góc vuông hoặc quan hệ căng thẳng giữa dấu hiệu mọc và dấu hiệu Mặt Trời có thể biểu thị xung đột giữa định hướng linh hồn và phàm ngã, cùng với ảnh hưởng thói quen từ Mặt Trăng.

Bốn tiến trình nâng cao

Chuyển hoá chủ yếu liên quan đến mãnh lực hồng trần–dĩ thái; chuyển đổi liên quan đến công việc trên thể cảm dục; Biến hình liên quan đến cõi trí và lần điểm đạo thứ ba. Tiến trình thứ tư là sự nâng chuyển từ phần hồng trần vũ trụ đậm đặc sang phần dĩ thái vũ trụ trong thể biểu hiện của Hành Tinh Thượng Đế, bao gồm cõi Bồ đề. Các tiến trình này còn có ý nghĩa cao hơn trên những vòng xoắn tiến hoá tiếp theo, như trong Quy luật 10 của bộ quy luật dành cho điểm đạo đồ. Tương tự, năm từ của Quy luật 14 — biết, biểu lộ, mặc khải, hủy diệt, phục sinh — có thể trải từ lần điểm đạo thứ nhất đến thứ năm, hoặc từ lần thứ ba đến thứ bảy, tùy cấp độ áp dụng.

Hơi thở, động cơ và giới hạn của phương pháp

Giá trị huyền bí và biểu tượng của bài tập thở nằm trong mục tiêu đưa hệ thống trung tâm dưới sự kiểm soát của linh hồn. Những bài tập Chân sư DK giao kết hợp hơi thở với tư tưởng và sự kiểm soát có chủ đích, thay vì chỉ đếm nhịp máy móc. Giáo lý được trích thừa nhận rằng một phương pháp không thích hợp có thể gây hậu quả tai hại cho thể xác chưa chuẩn bị, trong khi khuynh hướng tư tưởng hướng tới linh hồn vẫn có thể ảnh hưởng thuận lợi đến kinh nghiệm tương lai, có lẽ trong một kiếp khác. Điều này không loại bỏ tổn thất hiện tại: quá tải, kích thích quá mức và tổn thương hệ thống trung tâm vẫn đòi hỏi công việc phục hồi.

Thúc đẩy tiến hoá và nguy cơ tổn thương

Con Đường Điểm Đạo thúc đẩy tiến hoá nhanh hơn nhịp phát triển thông thường của nhân loại, đồng thời đặt người chí nguyện trước những nguy cơ tinh tế cần sự thận trọng. Kỷ niệm tại Đại học Minnesota, khi đến xem vở Tosca giữa thời sinh viên chiếm các tòa nhà, được dùng để minh họa tình trạng suy sụp nghiêm trọng mà Thầy MDR liên hệ với việc sử dụng chất gây nghiện và sự phá vỡ các lớp bảo vệ. Theo cách diễn giải này, dùng chất gây nghiện để cưỡng ép phát triển có thể làm lửa thoát khỏi sự kiểm soát và thiêu hủy bộ máy thần kinh; việc lôi kéo con người theo hướng ấy được liên hệ với Hắc đoàn. Sự khác biệt giữa cơ thể phương Đông và phương Tây, cùng trình độ hạn chế của một số người hướng dẫn, cũng được nêu như những yếu tố khiến phương pháp thực hành trở nên không thích hợp.

D.L.R. và sức ép của huấn luyện đệ tử

D.L.R. được nhớ đến như một đệ tử vững vàng, có lẽ đã đạt lần điểm đạo thứ hai, với cung linh hồn một, cung phàm ngã năm, cung thể trí năm, cung thể cảm dục sáu và cung thể xác bảy. Ông là nhà côn trùng học, chơi violin, có Mặt Trời ở dấu hiệu Cự Giải và dấu hiệu mọc Thiên Bình; ảo cảm đặc thù của ông liên quan đến hoàn cảnh tiếp diễn kéo dài. Theo suy luận riêng của Thầy MDR, Chân Thần cung hai và ảnh hưởng mạnh của Sao Hải Vương có thể giải thích những phẩm tính mềm mại phía sau tổ hợp chủ yếu gồm các Cung tuyến cứng. Nhận định rằng người tiếp tục đáp ứng âm điệu của Chân sư DK thường cần linh hồn hoặc Chân Thần thuộc cung hai cũng được đưa ra như một cách lý giải riêng.

Quy mô thử thách trong nhóm của Chân sư DK

Theo hồi tưởng được nêu với mức độ dè dặt, trong khoảng 50–51 đệ tử từng tham gia nhóm, cuối cùng chỉ còn khoảng tám người, gồm Alice Bailey, Foster Bailey và Regina Keller, có thể cả Marion Walter. Kích thích quá mức, nổi loạn, trạng thái phàm ngã, quá thiên về cảm xúc và cáu kỉnh là những nguyên nhân được liên hệ với việc rời nhóm. Việc chịu sự chú ý của Chân sư tạo áp lực lớn hơn hình dung thông thường, ngay cả với những đệ tử có năng lực. Các chỉ dẫn ban đầu dành cho một nhóm đang được huấn luyện làm tiêu tan ảo cảm cá nhân và thế giới về sau mới tập hợp thành sách; chỉ dẫn cho một đệ tử cũng cung cấp bài học cho những người khác trong nhóm.

Đứng vững, an nghỉ và quan sát

Cổ Luận mô tả ba thái độ của những người có bổn phận làm tiêu tan ảo cảm thế giới: đứng vững giữa các hình tướng xoáy động, an nghỉ trong tâm và quan sát bằng linh thị. Khi hướng về ánh sáng, thể trí trở thành đường dẫn cho ánh sáng thanh khiết làm tiêu tan sương mù; từ trái tim an nghỉ, một tia mãnh lực phóng chiếu và hòa với ánh sáng ấy. Con mắt Bồ đề nhận biết cái chân, thiện, mỹ phía sau ảo cảm và đem lại năng lực xua tan những màn che. Tia từ tim được diễn giải là có thể liên hệ với cõi Bồ đề, còn khả năng định hướng mãnh lực được liên hệ với con mắt thứ ba và trung tâm ajna.

Các Nhà Quan Sát Lão Luyện và phụng sự nhóm

Đứng vững, an nghỉ và quan sát vừa xác định lĩnh vực phụng sự, vừa quy định thái độ sống cá nhân của từng thành viên: kiên định, bình an giữa biến động và nhìn rõ mà không xao động cảm xúc. Công việc này được liên hệ với Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, Nhóm hạt giống thứ hai. Ánh sáng trong sáng của trí tuệ phối hợp với lửa hồng trần và lửa linh hồn được xem là sự phản ánh năng lực Bồ đề. Dự án các Nhóm hạt giống được nhắc là kéo dài 275 năm, có thể tính từ năm 1925, khi nhiều ashram chuyển trọng tâm lên cõi Bồ đề, đến năm 2200.

Hai hình ảnh của sự tĩnh lặng

Sự tĩnh lặng cung hai được ví như tâm bão, nơi bình an tồn tại giữa một xoáy hoạt động dữ dội; sự tĩnh lặng cung ba giống mặt ao cạnh cối xay hoàn toàn yên lặng. Lời đóng góp dẫn Chân sư M. nhấn mạnh khả năng tìm thấy điểm bình an trong những cơn bão đời sống, với điều kiện con người không để mình bị cuốn đi như chiếc lá. Hình ảnh này cũng giúp hiểu Thánh đoàn như một trung tâm hoạt động mạnh mẽ mà vẫn có hạt nhân bình an.

Tâm thức quần chúng và dấu hiệu Cự Giải

Tâm thức quần chúng được mô tả như sự pha trộn giữa ảo lực và ảo cảm, với Mặt Trăng biểu thị khuôn mẫu thói quen tự động và Sao Hải Vương ở biểu hiện thấp kích thích ảo cảm. Hai chủ tinh này của dấu hiệu Cự Giải được liên hệ với phần phi lý trí của con người. Tuy nhiên, Giáo Lý Bí Nhiệm gọi Sao Hải Vương là vị thần của lý trí; một cách lý giải được đề xuất là danh xưng ấy nói đến lý trí thuần khiết, trực giác của cõi Bồ đề. Sự đối chiếu này phân biệt biểu hiện thấp và cao của cùng một ảnh hưởng hành tinh.

Phục hồi tổn thương có thể kéo dài nhiều kiếp

Khả năng phục hồi tổn thương dĩ thái được trình bày như phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng: trường hợp nhẹ hơn có thể còn khả năng làm dịu tình trạng viêm và tái kết các mạng lưới bảo vệ, còn tổn thương nặng có thể không sửa chữa được trong cùng kiếp sống. Tuija bổ sung rằng bỏ lỡ một thời điểm cơ hội gắn với chu kỳ chiêm tinh và công việc hành tinh có thể gây trì hoãn lâu hơn một kiếp, nhất là khi vận cụ đã cần nhiều đời để chuẩn bị. Hai đệ tử I.B.S. và L.T.S.K., mang nhiều ảnh hưởng cung sáu, từng tổn thương do hình tư tưởng về Chân sư DK nhưng được Ngài hỗ trợ phục hồi và trở lại. Ngược lại, một đệ tử tại Australia có tổ hợp Cung 2–1–2–1–3 đã đưa ra một lựa chọn mà Chân sư DK cho biết có lẽ cần ba kiếp để khắc phục; tổn thương bộ máy và hậu quả tâm lý đều có thể gây trì hoãn lâu dài.

Imperil và sự ngưng tụ của tính cáu kỉnh

Theo trích dẫn từ giáo lý Agni Yoga của Chân sư Morya, imperil là một chất độc khá cụ thể phát sinh từ tính cáu kỉnh, ngưng tụ trên thành các đường dẫn thần kinh và lan khắp cơ thể. Giáo lý này mô tả hệ thần kinh càng tinh tế thì tác động càng đau đớn, đồng thời xem imperil có khả năng lan vào không gian và ảnh hưởng đến người khác. Nghỉ ngơi, thái độ thân thiện và những hành động tốt đẹp được đặt đối lập với sự cưỡng ép; sự phát triển của trái tim không thể đạt bằng bạo lực. Lời bình lưu ý rằng Chân sư DK phân biệt imperil với tính cáu kỉnh thông thường, và đệ tử đặc biệt dễ gặp vấn đề này dưới áp lực huấn luyện.

Cảm hứng và độ rõ trong bản dịch Agni Yoga

Chân sư DK được dẫn lại là đã lưu ý những khó khăn dịch thuật trong các sách Agni Yoga. Theo nhận xét riêng của Thầy MDR, bản dịch của Madame Roerich có cảm hứng dù tiếng Anh đôi khi vụng về, còn các bản dịch về sau của Daniel Anton và Edgar Lansbury hướng tới sự rõ ràng, dễ thấu hiểu hơn. Khả năng những bản dịch mới chưa giữ cùng mức độ cảm hứng chỉ được nêu như một nhận xét dè dặt. Đối chiếu này đặt ra sự khác biệt giữa độ sáng rõ của ngôn ngữ và sức truyền đạt cảm hứng của giáo lý.

Agni Yoga và sự chia rẽ giữa các nhóm huyền môn

Theo nhận định riêng của Thầy MDR, những đạo sinh tại Hội Agni Yoga mà Thầy từng tiếp xúc có nhiệt tâm rất lớn nhưng cần nâng cao hiểu biết huyền bí học. Những phát biểu của Bà Roerich công kích Chân sư Tây Tạng được xem là nguyên nhân gây chia rẽ lâu dài giữa các nhóm Agni Yoga và Alice Bailey, đặc biệt tại Nga. Trải nghiệm với Zina Fosdick cho thấy sự phân cực ấy: việc nghiên cứu Alice Bailey bị xem như một lựa chọn loại trừ Agni Yoga, vì phía này coi Chân sư Tây Tạng thuộc con đường tiêu cực. Quan điểm bao gồm phản đối cách phân chia đó và nhìn nhận sự chuyển biến từ tình bạn giữa Bà Roerich với Alice Bailey sang thái độ công kích là điều đáng tiếc.

Phẩm tính các cung và sự bổ sung giữa các nhóm

Arthur Conan Doyle, tác giả những truyện Sherlock Holmes, được xác định là một nhà thần linh học cung bảy. Daniel tự nhận thuộc cung hai và có quan hệ gần gũi hơn với Chân sư KH; lời khen của ông dành cho những người nghiên cứu Alice Bailey được liên hệ với phẩm tính cung hai mạnh mẽ này. Một cách diễn giải được đề xuất là đệ tử có thể được “cho mượn” sang nhóm khác để bổ sung những phẩm tính còn thiếu, tương tự một số đệ tử cung một từng hỗ trợ các nhóm Bailey. Daniel cũng được ghi nhận là người gìn giữ quan trọng công trình Agni Yoga tại bảo tàng ở New York.

Ái kỷ và sự đảo chiều của tình thương

Ảo cảm ái kỷ là tình yêu quá mức dành cho phàm ngã nhỏ bé, đến mức con người có thể tự hủy hoại vì sự mê đắm chính mình. Khuynh hướng tự tôn vinh ở nhiều nhà lãnh đạo khiến họ đánh giá quá cao bản thân và không thấy được toàn cảnh. Trong cách phân tích này, ảo tưởng về cái tôi biệt lập làm phát sinh thái độ tự cao, còn ái kỷ là phương diện cảm xúc của tiến trình ấy. Chức năng yêu thương bị đảo chiều và thu hẹp vào bản thân, thay vì mở rộng, bao gồm và mang phẩm tính của Đức Christ.

Phát triển phàm ngã và vượt qua sự mê đắm bản thân

Một giai đoạn tập trung vào phàm ngã và phát triển quyền năng phàm ngã vẫn cần thiết để xác lập trung tâm bên trong dưới xung lực của dấu hiệu Sư Tử. Tuy nhiên, sự tập trung ấy trở thành lệch lạc khi kéo dài quá mức và biến thành ái kỷ. Hình ảnh Narcissus ngắm bóng mình trong mặt nước rồi chết đuối minh họa nguy cơ chìm đắm trong chính hình ảnh bản thân.

Chỉnh hợp nhóm và hợp nhất ba nguồn ánh sáng

Bài tham thiền bắt đầu bằng sự chỉnh hợp với các thành viên và thiết lập thập giá thiêng liêng bảo vệ qua các điểm trán, tim, mắt trái và mắt phải. Công thức bảo vệ xác lập vị thế làm việc như linh hồn trong ánh sáng, đứng vững tại đó để bóng tối không thể chạm đến. Ánh sáng kép của vật chất, gồm ánh sáng dĩ thái–hồng trần và ánh sáng trí tuệ, hòa nhập với ánh sáng linh hồn giáng xuống, tạo thành ánh sáng tam phân. Sự hợp nhất này chuẩn bị một chùm đèn pha tập thể hướng vào cõi cảm dục để làm tiêu tan ảo cảm.

Ý chí tinh thần và việc làm tiêu tan ảo cảm ái kỷ

Antahkarana được sử dụng để khẩn cầu ý chí tinh thần, với sự hình dung mối tương tác sống động giữa các cánh hoa hi sinh, các cánh hoa tổng hợp, cõi atma và cả Chân Thần. Nhóm cùng đứng trong ý chí, hình dung thập giá thiêng liêng tỏa sáng xuyên qua nhóm và tập trung chùm ánh sáng vào ảo cảm ái kỷ. Ba lời khẳng định hướng quyền năng ánh sáng hợp nhất đến việc ngăn ảo cảm xuất hiện, vô hiệu hóa ảnh hưởng của phẩm tính ảo cảm lên nhân loại và hủy diệt sự sống đứng sau ảo cảm ấy. Khoảng im lặng năm phút dành cho việc duy trì hình dung ánh sáng xuyên thấu, làm suy yếu và làm tiêu tan ảo cảm.

Thu hồi sự chú ý sau công tác tham thiền

Giai đoạn kết thúc yêu cầu hình dung ảo cảm ái kỷ đã tiêu tan và nhận biết cường độ của mục đích đã sâu sắc hơn. Nhóm rút sự chú ý khỏi cõi cảm dục, tái tập trung trên cõi trí rồi tắt chùm đèn pha của linh hồn và của nhóm. Việc hình dung công tác hoàn thành thành công cùng lòng biết ơn khép lại tiến trình tham thiền.

Text GAW 148 – Văn bản GAW 148

Glamour: A World Problem pages 150–151

Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới trang 150–151

[1] 1. To bring all his centers under the inspiration of the soul.

[1] 1. Đưa tất cả các trung tâm của y vào dưới nguồn cảm hứng của linh hồn.

[2] 2. To transfer or transmute the forces of the lower centers, [3] which control the personality, into the energies of the centers above the diaphragm, [4] which respond automatically to the inspiration of the soul.

[2] 2. Chuyển dịch hoặc chuyển hoá các mãnh lực của những trung tâm thấp, [3] vốn kiểm soát phàm ngã, thành năng lượng của những trung tâm phía trên cơ hoành, [4] vốn tự động đáp ứng với cảm hứng của linh hồn.

[5] It is in this thought that the potency and the symbolic value of breathing exercises consists. [6] The motive is soul control, and though the methods employed are (in many cases) definitely undesirable [7] yet the developing tendency of the life thought will prove inevitably determining and conditioning. [8] The methods used may not save the unprepared physical body from certain evil and disastrous results yet, in the long run and in the last analysis, they may condition the future experience (probably in another life) in such a manner that the aspirant will find himself more able to function as a soul than might otherwise have been the case.

[5] Chính trong tư tưởng này có sức mạnh và giá trị biểu tượng của các bài tập thở. [6] Động cơ là sự kiểm soát của linh hồn, và dù các phương pháp được sử dụng (trong nhiều trường hợp) rõ ràng là không thích hợp, [7] khuynh hướng đang phát triển của tư tưởng về đời sống tất yếu vẫn sẽ có tác dụng quyết định và định hình. [8] Các phương pháp được sử dụng có thể không bảo vệ được thể xác chưa được chuẩn bị khỏi một số hậu quả tai hại và thảm khốc; tuy nhiên, về lâu dài và xét đến cùng, chúng có thể định hình trải nghiệm tương lai (có lẽ trong một kiếp sống khác) theo cách khiến người chí nguyện thấy mình có khả năng hoạt động như một linh hồn tốt hơn so với trường hợp không sử dụng các phương pháp ấy.

[9] Before I close this particular instruction upon glamour, I would like to call the attention of the group to the occult sentences which I gave to D.L.R. prior to his leaving the group. [10] They have a definite relation to the group work and I would like you to give them careful consideration and study. [11] The Old Commentary, in speaking of the work of those whose dharma it is to dissipate world glamour, [12] uses the following illuminating sentences:

[9] Trước khi kết thúc huấn thị riêng biệt này về ảo cảm, Tôi muốn lưu ý nhóm đến những câu huyền bí mà Tôi đã trao cho D.L.R. trước khi ông rời nhóm. [10] Những câu ấy có mối liên hệ rõ rệt với công việc nhóm, và Tôi muốn các bạn suy xét và nghiên cứu chúng cẩn thận. [11] Khi nói về công việc của những người có phận sự làm tiêu tan ảo cảm thế gian, Cổ Luận [12] dùng những câu mang lại sự soi sáng sau đây:

[13] “They come and stand. Within the midst of whirling forms—some of beauty rare and some of [Page 151] horror and despair—they stand. They look not here or there but, with their faces turned towards the light, they stand. Thus through their minds the pure light streams to dissipate the fogs.

[13] “Họ đến và đứng vững. Giữa những hình tướng xoáy cuộn—có những hình tướng mang vẻ đẹp hiếm có, có những hình tướng đầy [Page 151] kinh hoàng và tuyệt vọng—họ đứng vững. Họ không nhìn đây đó mà đứng vững, hướng mặt về ánh sáng. Như thế, ánh sáng thuần khiết tuôn qua thể trí họ để làm tiêu tan những màn sương mù.

[14] “They come and rest. They cease their outer labors, pausing to do a different work. Within their hearts is rest. [15] They run not here and there, but constitute a point of peace and rest. That which upon the surface veils and hides the real begins to disappear and from the heart at rest a beam of dissipating force projects, blends with the shining light and then the mists of man’s creation disappear.

[14] “Họ đến và an tĩnh. Họ ngừng những công việc bên ngoài, tạm dừng để làm một công việc khác. Trong tim họ là sự an tĩnh. [15] Họ không chạy ngược xuôi, mà tạo thành một điểm bình an và an tĩnh. Những gì trên bề mặt che phủ và giấu kín cái thực bắt đầu biến mất; từ trái tim an tĩnh, một tia mãnh lực làm tiêu tan phóng chiếu ra, hoà với ánh sáng rạng ngời, và rồi những màn sương do con người tạo ra biến mất.

[16] “They come and they observe. They own the eye of vision; likewise they own the right direction of the needed force. [17] They see the glamour of the world, and seeing, they note behind it all the true, the beautiful, the real. Thus through the eye of Buddhi comes the power to drive away the veiling, swirling glamours of that glamorous world.

[16] “Họ đến và quan sát. Họ có con mắt linh thị; họ cũng có khả năng định hướng đúng mãnh lực cần thiết. [17] Họ thấy ảo cảm của thế gian, và khi thấy, họ nhận ra đằng sau tất cả những điều ấy là cái chân, cái mỹ, cái thực. Như thế, qua con mắt Bồ đề, quyền năng xuất hiện để xua tan những ảo cảm che phủ và xoáy cuộn của thế gian đầy ảo cảm ấy.

[18] “They stand, they rest, and they observe. [19] Such are their lives and such the service that they render to the souls of men.”

[18] “Họ đứng vững, họ an tĩnh và họ quan sát. [19] Đời sống của họ là như thế, và sự phụng sự mà họ dành cho linh hồn con người cũng là như thế.”

[20] I would commend these lines to your careful thought. [21] They convey to you not only the field of your group service but also the desired attitude of the personal life of every member of the group.

[20] Tôi muốn khuyên các bạn suy ngẫm kỹ những dòng này. [21] Chúng truyền đạt cho các bạn không chỉ lĩnh vực phụng sự của nhóm các bạn mà còn cả thái độ cần có trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên trong nhóm.

Glamour Webinar 148 – Webinar Ảo cảm 148

Michael D. Robbins • Book pages 150–151

Michael D. Robbins • Các trang sách 150–151

Good morning, everyone. We're continuing with our Glamour work. I think this is the 148th program and the reading is number 88. I hope I'm correct on that. Anyway, it's quite close. We'll get it straightened out. You are correct in those numbers. That's good. That's very good. Thank you, Michael. I just want to welcome those of you who have been able to make it despite the early hour in the United States. There's someone here. It says waiting for a name. I'm not sure who it is, but hello, waiting for a name. Anna and Anne and Annette and Beata and Catherine, Jessica, Karen, Kim, Leslie, Laurie, Marjot, Martha, and Risto, Zenaidi, and Veronica, and backing us up, Jo, Michael, Tuija, and I'm here too. So, welcome to you all.

Chào buổi sáng, tất cả các bạn. Chúng ta tiếp tục công việc nghiên cứu Ảo cảm của mình. Tôi nghĩ đây là chương trình thứ 148 và bài đọc số 88. Tôi hy vọng mình nhớ đúng. Dù sao thì cũng khá gần con số ấy. Chúng ta sẽ xác định lại cho đúng. Những con số ấy là chính xác. Tốt rồi. Rất tốt. Cảm ơn Michael. Tôi muốn chào đón những bạn đã có thể tham dự dù ở Hoa Kỳ giờ này còn rất sớm. Có một người ở đây. Hiển thị là đang chờ tên. Tôi không chắc đó là ai, nhưng xin chào người đang chờ tên. Anna, Anne, Annette, Beata, Catherine, Jessica, Karen, Kim, Leslie, Laurie, Marjot, Martha, Risto, Zenaidi và Veronica; hỗ trợ chúng ta có Jo, Michael, Tuija, và tôi cũng có mặt. Xin chào đón tất cả các bạn.

Another person just joined, but I can't, I can't keep going back to the list. So, we were talking about Maya. We were talking about motive and predominating life tendency. I just want to read a little segue just to get us back in the continuity of it.

Một người nữa vừa tham gia, nhưng tôi không thể cứ quay lại xem danh sách mãi. Chúng ta đang nói về ảo lực. Chúng ta đang nói về động cơ và khuynh hướng sống chủ đạo. Tôi chỉ muốn đọc một đoạn chuyển tiếp ngắn để đưa chúng ta trở lại mạch nội dung.

Many people, particularly the unintelligent masses, are solely inspired by desire—material, physical and temporary. Animal desire for the satisfaction of the animal appetites, material desire for possession and for the luxuries of existence,

Nhiều người, đặc biệt là quần chúng thiếu trí tuệ, chỉ nhận cảm hứng từ dục vọng—vật chất, hồng trần và nhất thời. Dục vọng thú tính nhằm thỏa mãn những ham muốn thú tính, dục vọng vật chất nhằm sở hữu và hưởng những xa hoa của cuộc sống,

The downfall of Atlantis really.

Thực sự đó chính là điều đã khiến Atlantis suy vong.

the longing for “things,” for comforts and for security—economic, social and religious—control the majority. The man is under the influence of the densest form of maya, and the forces of his nature are concentrated in the sacral center.

lòng khao khát “đồ vật”, tiện nghi và sự an toàn—về kinh tế, xã hội và tôn giáo—chi phối đa số. Con người chịu ảnh hưởng của hình thức ảo lực đậm đặc nhất, và các mãnh lực trong bản chất của y tập trung ở trung tâm xương cùng.

Which is, in so many ways, the center for the acquisition of that which we do not have or want or desire. Acquisition is key to the sacral center. Even the, the ability to make money, it has a very third ray kind of conditioning. First ray, base of the spine, second ray, solar plexus, and third ray, sacral, if we're putting them in terms of the major three rays.

Theo rất nhiều phương diện, đây là trung tâm giúp thu nhận những gì chúng ta chưa có, hoặc muốn có, hoặc ham muốn. Sự thu nhận là yếu tố then chốt của trung tâm xương cùng. Ngay cả khả năng kiếm tiền cũng chịu một kiểu tác động rất đặc trưng của cung ba. Cung một, đáy cột sống; cung hai, tùng thái dương; và cung ba, xương cùng, nếu chúng ta xét chúng theo ba cung chính.

Others are motivated by some form of aspiration or ambition—aspiration towards some material heaven

Những người khác được thúc đẩy bởi một hình thức khát vọng hay tham vọng nào đó—khát vọng hướng tới một thiên đường vật chất nào đó

Note that.

Hãy lưu ý điều đó.

(and most religions portray heaven in this manner)

(và hầu hết các tôn giáo đều mô tả thiên đường theo cách này)

ambitions for power, desire for the satisfaction

những tham vọng quyền lực, dục vọng nhằm thỏa mãn

desire for the satisfaction of the emotional or aesthetic appetites and for the possession of the more subtle realities, and the longing for emotional comfort, for mental stability and assurance that the higher desires will meet with gratification.

dục vọng nhằm thỏa mãn những ham muốn về cảm xúc hoặc thẩm mỹ và sở hữu những thực tại tinh tế hơn, cùng lòng khao khát sự dễ chịu về cảm xúc, sự ổn định trí tuệ và sự bảo đảm rằng những dục vọng cao hơn sẽ được thỏa mãn.

Now then, DK says, these are so mixed, Maya and glamour mixed together, even when he defines Maya, he calls it that unthinking emotional mess. So he blends the astral body and desire along with the etheric promptings. The whole idea is that we are subject to our habit nature, which is so automatic, we don't even think about it. We just say, well, that's the way I am, and we just do things, and so often, because it's unconscious, we don't know even what we're doing. We just continue with our habit patterns. If you look in the horoscope, and you study how the moon is operating, or in terms of the thought form effect, and the subconscious promptings, you'll see a place where Maya can be detected. Maya, and also glamour and illusion.

Ở đây, Chân sư DK nói rằng những điều này pha trộn với nhau đến mức ấy, ảo lực và ảo cảm hòa lẫn với nhau; ngay cả khi định nghĩa ảo lực, Ngài cũng gọi nó là mớ cảm xúc hỗn độn, không suy nghĩ ấy. Vì vậy, Ngài gộp thể cảm dục và dục vọng cùng với những thôi thúc dĩ thái. Ý chính là chúng ta chịu sự chi phối của bản chất thói quen, vốn tự động đến mức chúng ta thậm chí không nghĩ đến nó. Chúng ta chỉ nói: tôi vốn là như vậy, rồi cứ hành động; và rất thường xuyên, vì việc ấy diễn ra một cách vô thức, chúng ta thậm chí không biết mình đang làm gì. Chúng ta cứ tiếp tục theo những mô hình thói quen của mình. Nếu xem lá số chiêm tinh và nghiên cứu cách Mặt Trăng hoạt động, hoặc xét tác động của hình tư tưởng và những thôi thúc tiềm thức, các bạn sẽ thấy một nơi có thể phát hiện ảo lực. Ảo lực, cũng như ảo cảm và ảo tưởng.

Well, he goes on to say.

Ngài nói tiếp.

All this is maya in its emotional form,

Tất cả những điều này là ảo lực trong hình thức cảm xúc của nó,

Now that's interesting.

Điều đó thật thú vị.

and it is not the same thing as glamour.

và nó không đồng nhất với ảo cảm.

We'll have to sort that out, and get the feel for that distinction that he's talking about here.

Chúng ta sẽ phải làm rõ điều đó và cảm nhận được sự phân biệt mà Ngài đang nói đến ở đây.

All this is maya in its emotional form, and it is not the same thing as glamour.

Tất cả những điều này là ảo lực trong hình thức cảm xúc của nó, và nó không đồng nhất với ảo cảm.

In the case of glamour, the forces of a man’s nature are seated in the solar plexus. In the case of maya, they are seated in the sacral center. Glamour is subtle and emotional.

Trong trường hợp ảo cảm, các mãnh lực trong bản chất của một người trú ở tùng thái dương. Trong trường hợp ảo lực, chúng trú ở trung tâm xương cùng. Ảo cảm có tính tinh tế và cảm xúc.

Maya is tangible and etheric.

Ảo lực có tính hữu hình và dĩ thái.

So at least we have the words on the distinction. Maybe some of us can remember having glamour come over us, or being in some kind of mayavic mess, where we're just doing, doing, doing, and not even conscious of what we're doing, and not quite knowing even what we're doing. Just sort of on automatic. That's why the moon is involved, because the moon is our automaticisms, if I can put it that way. I remember glamour descending over me at one time. Well, it happened more than once. But I remember it, and I just really got the feel of it, even more than what Maya was. It had a peculiar substance to it. Is substance the right word? A peculiar feel to it. It was attractive. It was impelling. It was very solar plexus.

Như vậy, ít nhất chúng ta cũng có lời diễn tả sự phân biệt ấy. Có lẽ một số người trong chúng ta có thể nhớ lúc ảo cảm bao trùm mình, hoặc khi ở trong một tình trạng hỗn độn nào đó của ảo lực, khi chúng ta cứ làm, làm mãi, mà thậm chí không có ý thức về điều mình đang làm, cũng không biết rõ mình đang làm gì. Cứ như thể đang hoạt động tự động. Đó là lý do Mặt Trăng có liên quan, vì Mặt Trăng là những cơ chế tự động của chúng ta, nếu tôi có thể nói như vậy. Tôi nhớ có lần ảo cảm bao phủ mình. Chuyện đó đã xảy ra hơn một lần. Nhưng tôi nhớ lần ấy, và thực sự cảm nhận được nó, thậm chí còn rõ hơn cảm nhận về ảo lực. Nó có một chất liệu đặc biệt. “Chất liệu” có phải là từ đúng không? Một cảm giác đặc biệt. Nó có sức hấp dẫn. Nó có sức thôi thúc. Nó mang tính tùng thái dương rất rõ.

Then when relieved of it at a certain point, you could feel the difference in the relief. This subtle form of allurement, attraction, that whole liking, disliking thing. You could feel that. Then when it was dissipated, you could also feel the contrast. So often we learn through contrast. If we get the opposite of something, that something stands out in greater relief. Like sometimes in order to define a term, I go to the polar opposite in order to get the contrast and see a sharp distinction between this and that. So everybody will have his or her own way, but this is where the evening review and the power of observation comes in. The changes of state. Do we really know the difference between feeling the solar plexus activation and feeling these etheric promptings?

Rồi đến một lúc nào đó, khi thoát khỏi nó, người ta có thể cảm thấy sự khác biệt trong cảm giác nhẹ nhõm ấy. Hình thức quyến rũ, thu hút tinh tế này, toàn bộ chuyện thích và không thích ấy. Người ta có thể cảm nhận điều đó. Rồi khi nó tiêu tan, người ta cũng có thể cảm nhận sự tương phản. Chúng ta rất thường học hỏi qua sự tương phản. Nếu trải nghiệm điều đối lập với một điều gì đó, điều ấy sẽ hiện rõ hơn. Chẳng hạn, đôi khi để định nghĩa một thuật ngữ, tôi tìm đến cực đối lập nhằm có được sự tương phản và thấy rõ sự khác biệt giữa điều này với điều kia. Mỗi người sẽ có cách riêng của mình, nhưng chính ở đây việc hồi tưởng buổi tối và năng lực quan sát phát huy tác dụng. Những thay đổi trạng thái. Chúng ta có thực sự biết sự khác biệt giữa cảm giác tùng thái dương được kích hoạt và cảm giác về những thôi thúc dĩ thái này không?

The mixture between the two of them, because nothing is just cut and dried. Absolutely.

Sự pha trộn giữa hai điều ấy, vì không có gì hoàn toàn rạch ròi. Hoàn toàn đúng.

So that's just a little, segue from where we were last week. Now we're here.

Đó chỉ là một đoạn chuyển tiếp ngắn từ nội dung tuần trước. Bây giờ chúng ta đến đây.

Such are the forces of maya which actuate, motivate and energize the life of the ordinary man.

Đó là những mãnh lực của ảo lực thúc đẩy, tạo động cơ và tiếp năng lượng cho cuộc sống của người bình thường.

I guess the person is living really mostly below the diaphragm or the energies of the higher chakras, such as they are, are basically secondary and they are feeding the lower chakras. It is quite a difference, between the higher chakras feeding the lower and the lower chakras feeding the higher as they are supposed to do when we are operating with the transference of low to high.

Tôi đoán người ấy thực sự sống chủ yếu bên dưới cơ hoành, hoặc năng lượng của các luân xa cao, dù ở mức nào, về cơ bản cũng chỉ giữ vai trò thứ yếu và đang nuôi dưỡng các luân xa thấp. Có một sự khác biệt khá lớn giữa việc các luân xa cao nuôi dưỡng các luân xa thấp và việc các luân xa thấp nuôi dưỡng các luân xa cao, như lẽ ra chúng phải làm khi chúng ta thực hiện sự chuyển dịch từ thấp lên cao.

Such are the forces of maya which actuate, motivate and energize the life

Đó là những mãnh lực của ảo lực thúc đẩy, tạo động cơ và tiếp năng lượng cho cuộc sống

It determines what a person pretty well does, its action.

Nó quyết định phần lớn những gì một người làm, hành động của người ấy.

Under their influence he is helpless for they

Dưới ảnh hưởng của chúng, y bất lực vì chúng

Here the word is used negatively.

Ở đây, từ này được dùng theo nghĩa tiêu cực.

inspire all his thinking, all his aspiration and his desire, and all his activity on the physical plane.

truyền cảm hứng cho mọi suy nghĩ, mọi khát vọng và dục vọng, cùng mọi hoạt động của y trên cõi hồng trần.

So he tends to want to do the things which Maya inspires and tries to bring them down onto the physical plane. Now, we've had a lot of trouble with that during the Piscean age. One trouble has been the neglect of the physical plane because we may have had a kind of materialism, which was the Virgo pole of Pisces. Well, both sides, of course, can be materialistic. It just depends on where we are in our evolution. So we have not had a good organization on the material plane. Eventually, of course, Maya is organized and this etheric veil, which we call the veil of impulsion, changes to order.

Vì vậy, y có khuynh hướng muốn làm những điều mà ảo lực truyền cảm hứng và cố gắng đưa chúng xuống cõi hồng trần. Trong kỷ nguyên Song Ngư, chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn với điều đó. Một khó khăn là sự xao lãng cõi hồng trần, vì chúng ta có thể đã mang một dạng chủ nghĩa duy vật, vốn là cực Xử Nữ của Song Ngư. Dĩ nhiên, cả hai phía đều có thể mang tính duy vật. Điều đó chỉ tùy thuộc vào vị trí của chúng ta trong tiến trình tiến hoá của mình. Vì vậy, chúng ta chưa tổ chức tốt trên cõi vật chất. Dĩ nhiên, cuối cùng ảo lực sẽ được tổ chức, và bức màn dĩ thái mà chúng ta gọi là bức màn thôi thúc này sẽ chuyển thành trật tự.

That's one of the gifts of the coming Aquarian age, accompanied by the seventh ray cycle, that new order will come upon the dense physical plane, and already it is, and it will signify the organization of the etheric body. So instead of this neglect of the physical plane or unconscious approach to it, it will be a soul-mind-brain approach, organizing the etheric so that it brings outward onto the dense physical plane the right kind of order and relationship. I mean, I'm kind of, I'm not exactly the seventh ray type, but at least I can appreciate that that is on its way. So he's helpless under the usual impulsion, impulsion of Maya, the veil of impulsion, the veil of distortion, the veil of separation, and the veil of aspiration. Those are the four veils of the etheric plane.

Đó là một trong những món quà của kỷ nguyên Bảo Bình sắp tới, đi cùng chu kỳ cung bảy: một trật tự mới sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần đậm đặc; điều đó đã bắt đầu, và sẽ biểu thị sự tổ chức thể dĩ thái. Vì vậy, thay cho sự xao lãng cõi hồng trần hay cách tiếp cận vô thức đối với cõi này, sẽ là cách tiếp cận linh hồn–thể trí–bộ não, tổ chức phần dĩ thái để nó đưa đúng loại trật tự và mối quan hệ ra biểu hiện trên cõi hồng trần đậm đặc. Ý tôi là, tôi không hẳn là người cung bảy, nhưng ít nhất tôi có thể nhận thức được giá trị của điều đang đến ấy. Vậy là y bất lực dưới sự thôi thúc thông thường, sự thôi thúc của ảo lực: bức màn thôi thúc, bức màn biến dạng, bức màn chia rẽ và bức màn khát vọng. Đó là bốn bức màn của cõi dĩ thái.

Impulsion, being driven every which way, being impelled, that is Maya. Then the distortion of glamour, the separation of lower mind, and then aspiration, the final veil, seeking what is desirable but not doing anything about it.

Sự thôi thúc, bị xô đẩy theo mọi hướng, bị thúc bách—đó là ảo lực. Tiếp đến là sự biến dạng của ảo cảm, sự chia rẽ của hạ trí, rồi khát vọng, bức màn cuối cùng: tìm kiếm điều đáng mong muốn nhưng không làm gì để đạt được nó.

So his problem, his problem is twofold, and let's take a look at what DK says about this problem.

Vậy vấn đề của y có hai mặt; chúng ta hãy xem Chân sư DK nói gì về vấn đề này.

[1] 1. To bring all his centers under the inspiration of the soul.

[1] 1. Đưa tất cả các trung tâm của y vào dưới nguồn cảm hứng của linh hồn.

See, with inspiration you breathe in the fire from whatever level it happens to come. Usually it's a quite a high word when we say, oh, I was inspired, meaning you're, you're breathing in an impelling fire from a high level.

Các bạn thấy đấy, với sự truyền cảm hứng, các bạn hít vào lửa, bất kể lửa ấy đến từ cấp độ nào. Thông thường, khi nói “tôi được truyền cảm hứng”, chúng ta dùng một từ mang ý nghĩa khá cao, hàm ý rằng mình đang hít vào một ngọn lửa thôi thúc từ một cấp độ cao.

To bring all his centers under the inspiration of the soul.

Đưa tất cả các trung tâm của y vào dưới sự truyền cảm hứng của linh hồn.

Obviously for the average individual, maybe you can't even call the average individual, individual, maybe you can just call the average individual a person. It's not working. So, when we talk about inspiration of Maya, it's nothing high, it's just where the fire comes from. That's what, okay, I'll put that down, where the impelling fire comes from. So finally, from the soul, the centers will be directed.

Rõ ràng, đối với cá nhân trung bình—có lẽ thậm chí không thể gọi cá nhân trung bình là một cá nhân, có lẽ chỉ có thể gọi đó là một người bình thường. Điều đó chưa vận hành. Vì vậy, khi nói về sự truyền cảm hứng của ảo lực, đó không phải là điều gì cao cả, mà chỉ là nói đến nơi lửa phát xuất. Tôi sẽ ghi lại điều đó: nơi ngọn lửa thôi thúc phát xuất. Vậy cuối cùng, linh hồn sẽ chỉ đạo các trung tâm.

[2] 2. To transfer or transmute

[2] 2. Chuyển dịch hoặc chuyển hoá các mãnh lực của những trung tâm thấp,

It's the very first T word there, we transmute, we transform, we transfigure, and we translate. That goes into the cosmic ethers, the buddhic plane and so forth. We transmute, that's the first step, and it has more to do with force and the lower kinds of energies. We transmute, we transform, that's emotional. We trans, gosh, what is it called, transfigure, that's mental, and we translate, that's Buddhic.

Đó là từ đầu tiên bắt đầu bằng chữ T ở đây: chúng ta chuyển hoá, chuyển đổi, biến hình và thăng chuyển. Điều đó đưa vào các cõi dĩ thái vũ trụ, cõi Bồ đề, v.v. Chúng ta chuyển hoá, đó là bước đầu tiên, và bước này liên quan nhiều hơn đến mãnh lực và những loại năng lượng thấp. Chúng ta chuyển hoá, rồi chuyển đổi; bước chuyển đổi thuộc về cảm xúc. Chúng ta—gọi là gì nhỉ—biến hình, điều đó thuộc về trí tuệ; rồi chúng ta thăng chuyển, điều đó thuộc về Bồ đề.

To transfer or transmute the forces of the lower centers,

Chuyển dịch hoặc chuyển hoá các mãnh lực của những trung tâm thấp,

This is not easy to do and takes time.

Điều này không dễ thực hiện và cần thời gian.

[3] which control the personality, into the energies of the centers above the diaphragm,

[3] vốn kiểm soát phàm ngã, thành năng lượng của những trung tâm phía trên cơ hoành,

Basically, you see, don't you, the distinction he's making here between forces and energies. It's never a hard and fast distinction, but generally, in his estimation of things, energies are always higher than forces. Unless he's just using the term loosely.

Về cơ bản, các bạn thấy sự phân biệt mà Ngài đang đưa ra ở đây giữa mãnh lực và năng lượng, phải không? Đó không bao giờ là một sự phân biệt tuyệt đối, nhưng nhìn chung, theo cách Ngài đánh giá sự vật, năng lượng luôn cao hơn mãnh lực. Trừ khi Ngài chỉ dùng thuật ngữ theo nghĩa rộng.

To transfer or transmute the forces of the lower centers, which control the personality, into the energies of the centers above the diaphragm,

Chuyển dịch hoặc chuyển hoá các mãnh lực của những trung tâm thấp, vốn chi phối phàm ngã, thành năng lượng của những trung tâm ở trên cơ hoành,

[4] which respond automatically to the inspiration of the soul.

[4] vốn tự động đáp ứng với cảm hứng của linh hồn.

Right there is an important statement that our higher chakras are suited to be enfired, you might say, to be driven, to be impelled by the energies of the soul, and with the lower chakras, it's a bit of a, you have to really work at it, because normally they want to go their own way. So, for instance, if you've got a, in your horoscope, if you've got a square relationship or some stressful relationship between your rising sign and your sun sign, it can indicate just that, that there's a battle on between inspiration from the soul, indicated by the rising sign, and inspiration or enfiring from the personality in general, indicated by the sun, plus whatever the moon contributes to all that.

Ngay ở đó có một phát biểu quan trọng: các luân xa cao của chúng ta thích hợp để được khơi lửa, có thể nói như vậy, để năng lượng của linh hồn dẫn động và thôi thúc; còn với các luân xa thấp, các bạn thực sự phải nỗ lực, vì thông thường chúng muốn đi theo đường riêng. Chẳng hạn, nếu trong lá số chiêm tinh của các bạn có một góc vuông hoặc một mối quan hệ căng thẳng nào đó giữa dấu hiệu mọc và dấu hiệu Mặt Trời, điều đó có thể chỉ ra chính tình trạng ấy: đang có một cuộc đấu tranh giữa sự truyền cảm hứng từ linh hồn, do dấu hiệu mọc biểu thị, và sự truyền cảm hứng hay khơi lửa từ phàm ngã nói chung, do Mặt Trời biểu thị, cộng với bất cứ điều gì Mặt Trăng góp vào toàn bộ tình trạng ấy.

So, I'll just mark these two out, and we'll see that that's what we have to do. Now, his problem is twofold, how to bring everything under the inspiration of the soul. Now, if you were to just pause for a minute, and you were to look at your own chakra system, as you, imagine it to be, let's say, are there times when various of the chakras, and I suppose it doesn't have to be just limited to the lower chakras, it can be your throat center, even, even your ajna center can get away from you, as it were. They are not under soul control. They go their own way. Maybe you'll find that in your nature.

Tôi sẽ đánh dấu hai điều này, và chúng ta sẽ thấy đó là những gì mình phải làm. Vấn đề của y có hai mặt: làm sao đưa mọi thứ vào dưới sự truyền cảm hứng của linh hồn. Bây giờ, nếu các bạn dừng lại một phút và nhìn vào hệ thống luân xa của chính mình theo cách mình hình dung về nó, liệu có những lúc các luân xa khác nhau—và tôi cho rằng không nhất thiết chỉ giới hạn ở các luân xa thấp, có thể là trung tâm cổ họng, thậm chí trung tâm ajna—có thể vuột khỏi sự kiểm soát của các bạn, có thể nói như vậy. Chúng không ở dưới sự kiểm soát của linh hồn. Chúng đi theo đường riêng. Có lẽ các bạn sẽ thấy điều đó trong bản chất của mình.

Sometimes when we just get emotional and we lose our composure and whatever, we all do it, those chakras are just not, at that moment, under the inspiration of the soul. Usually there's some kind of other driving force, and it's personal. So these are important things. His problem is twofold.

Đôi khi, khi chúng ta trở nên xúc động, mất sự điềm tĩnh hay có những phản ứng tương tự—tất cả chúng ta đều như vậy—thì vào lúc ấy, các luân xa đó không ở dưới sự truyền cảm hứng của linh hồn. Thường có một mãnh lực thúc đẩy nào khác, và nó mang tính cá nhân. Vì vậy, đây là những điều quan trọng. Vấn đề của y có hai mặt.

I'll just try to mark that out, and we'll see if we can correct these things in our nature.

Tôi sẽ cố đánh dấu điều đó, rồi chúng ta sẽ xem liệu mình có thể sửa chữa những điều này trong bản chất của mình hay không.

[5] It is in this thought that the potency and the symbolic value of breathing exercises consists.

[5] Chính trong tư tưởng này có sức mạnh và giá trị biểu tượng của các bài tập thở.

Now, what's interesting is that there's such a close relationship between the breath and the etheric system. It's like from the right control of breath comes the control of the chakra system. But when DK occasionally assigns breathing exercises, they are not of the dangerous kind, and they're always accompanied by thought instead of just a certain count. Here's six, here's eight, etc., etc. You have to be thinking while you're using the breathing exercises, so they have a mental component to them and a deliberate effort at control. So it is in this thought, the inspiration by the soul of the chakra system, and especially the renegade part of the chakra system, that all of this is dealing.

Điều thú vị là có một mối quan hệ rất mật thiết giữa hơi thở và hệ thống dĩ thái. Dường như từ việc kiểm soát hơi thở đúng cách sẽ dẫn đến sự kiểm soát hệ thống luân xa. Nhưng khi Chân sư DK thỉnh thoảng giao các bài tập thở, chúng thuộc loại không nguy hiểm và luôn đi kèm với tư tưởng, thay vì chỉ đếm theo một số nhịp nhất định. Ở đây sáu nhịp, ở kia tám nhịp, v.v. Các bạn phải suy nghĩ trong khi thực hành các bài tập thở, vì vậy chúng có một thành phần trí tuệ cùng một nỗ lực kiểm soát có chủ đích. Vậy tất cả những điều này đều liên quan đến tư tưởng ấy: linh hồn truyền cảm hứng cho hệ thống luân xa, đặc biệt là phần bất tuân trong hệ thống này.

It is in this thought that the potency and the symbolic value of breathing exercises consists.

Chính trong tư tưởng này có hiệu lực và giá trị biểu tượng của các bài tập thở.

The motive. Now, always, this word is coming up. What are we driving towards? What are we envisioning? What do we seek to see accomplished? What is our goal? These are the important things, regardless of how well we do in the realization or actuation or accomplishment of the goal. One day we will accomplish. The direction is what's important.

Động cơ. Từ này luôn xuất hiện. Chúng ta đang hướng tới điều gì? Chúng ta đang hình dung điều gì? Chúng ta mong thấy điều gì được hoàn thành? Mục tiêu của chúng ta là gì? Đây là những điều quan trọng, bất kể chúng ta thực hiện, đưa vào hành động hay hoàn thành mục tiêu tốt đến đâu. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ hoàn thành. Phương hướng mới là điều quan trọng.

[6] The motive is soul control, and though the methods employed are (in many cases) definitely undesirable

[6] Động cơ là sự kiểm soát của linh hồn, và dù các phương pháp được sử dụng (trong nhiều trường hợp) rõ ràng là không thích hợp,

This is where he says, well, there's going to be sacrifice, okay? Though the methods employed, the Eastern body and the Western body are often quite different, and the teachers come from the East, maybe not knowing that distinction. They are not masters. They are not really very high initiates. They're initiates of some kind.

Đây là chỗ Ngài nói rằng sẽ có sự hy sinh, đúng không? Mặc dù các phương pháp được sử dụng—thân thể người phương Đông và thân thể người phương Tây thường khá khác nhau, còn các huấn sư đến từ phương Đông có lẽ không biết sự khác biệt ấy. Họ không phải là các Chân sư. Họ không thực sự là những điểm đạo đồ rất cao cấp. Họ là những điểm đạo đồ ở một cấp độ nào đó.

and though the methods employed are (in many cases) definitely undesirable

và mặc dù các phương pháp được sử dụng (trong nhiều trường hợp) rõ ràng là không đáng mong muốn

[7] yet the developing tendency of the life thought will prove inevitably determining and conditioning.

[7] khuynh hướng đang phát triển của tư tưởng về đời sống tất yếu vẫn sẽ có tác dụng quyết định và định hình.

So this is really important, and there are casualties along the way. Even along the good way, there are casualties because you're dealing with energy, and we can get all kinds of overloads and overstimulation and burning and breakthrough and unsettling of the chakra system, so repair work is needed.

Vì vậy, điều này thực sự quan trọng, và trên đường đi có những người chịu tổn hại. Ngay cả trên con đường tốt đẹp cũng có những người chịu tổn hại, vì chúng ta đang làm việc với năng lượng, và có thể gặp đủ loại quá tải, kích thích quá mức, thiêu đốt, xuyên thủng và xáo trộn hệ thống luân xa, nên cần có công việc phục hồi.

[8] The methods used may not save the unprepared physical body from certain evil and disastrous results yet, in the long run and in the last analysis, they may condition the future experience (probably in another life) in such a manner that the aspirant will find himself more able to function as a soul than might otherwise have been the case.

[8] Các phương pháp được sử dụng có thể không bảo vệ được thể xác chưa được chuẩn bị khỏi một số hậu quả tai hại và thảm khốc; tuy nhiên, về lâu dài và xét đến cùng, chúng có thể định hình trải nghiệm tương lai (có lẽ trong một kiếp sống khác) theo cách khiến người chí nguyện thấy mình có khả năng hoạt động như một linh hồn tốt hơn so với trường hợp không sử dụng các phương pháp ấy.

So in other words, in your training, in our training, we're going to make mistakes. Those mistakes may have some dire consequences and even disastrous consequences in a particular life. I would say, working with DK, he pretty much saves us from that kind of experience, but there are other people, I've just, I've seen, incredible burnout among people.

Nói cách khác, trong quá trình huấn luyện của các bạn, của chúng ta, chúng ta sẽ mắc sai lầm. Những sai lầm ấy có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí thảm khốc trong một kiếp sống cụ thể. Tôi cho rằng khi làm việc với Chân sư DK, Ngài phần lớn giúp chúng ta tránh được loại trải nghiệm ấy; nhưng còn những người khác, tôi đã chứng kiến tình trạng kiệt quệ đến mức khó tin ở họ.

I was, I don't know, I found myself, it's really a culture contrast. I was at the University of Minnesota at a time when I had gone there to see the opera Tosca, because that was my business, opera, and I found that there was no place to stay because the students were in the middle of a rebellion and had taken over all the buildings. So I did find my way into what was normally an administration building, completely run by students, and, they let me stay there. It was no problem because I was there a little bit early, a day early, really. I saw some people really, really burned out. Their whole nervous system had been destroyed.

Tôi không biết nữa, tôi thấy mình ở trong một hoàn cảnh thực sự tương phản về văn hóa. Có lần tôi đến Đại học Minnesota để xem vở nhạc kịch Tosca, vì nhạc kịch là nghề của tôi, và tôi nhận thấy không có chỗ ở vì sinh viên đang nổi loạn và đã chiếm giữ tất cả các tòa nhà. Cuối cùng tôi cũng tìm được đường vào một tòa nhà vốn thường là khu hành chính, lúc ấy hoàn toàn do sinh viên điều hành, và họ cho tôi ở lại đó. Không có vấn đề gì, vì tôi đến hơi sớm, thực ra là sớm một ngày. Tôi thấy một số người thực sự kiệt quệ trầm trọng. Toàn bộ hệ thần kinh của họ đã bị hủy hoại.

Young people with a destroyed nervous system, and it had been largely drugs and the kinds of things that allow the fire to escape and burn through the normal protective layers. I said, well, of this one particular person, I was playing the piano, and he came up and back at me, and he wasn't even like a human being. He had been completely shattered and destroyed. This is the kind of thing. People think they can hasten their development through the use of drugs, which is one of the major things that the Black Lodge uses, to lead us astray, as it tells us in letters on occult meditation. Not, I mean, on the Yoga Sutras of Patanjali. We can only force the issue so far.

Những người trẻ có hệ thần kinh bị hủy hoại, phần lớn do ma túy và những thứ khiến lửa thoát ra rồi đốt xuyên qua các lớp bảo vệ bình thường. Tôi nói về một người cụ thể: khi tôi đang chơi đàn dương cầm, người ấy tiến đến rồi lùi ra trước mặt tôi, và thậm chí trông không còn giống một con người nữa. Người ấy đã hoàn toàn suy sụp và bị hủy hoại. Đó là loại chuyện như vậy. Người ta nghĩ mình có thể đẩy nhanh sự phát triển bằng cách dùng ma túy, một trong những phương tiện chủ yếu mà Hắc đoàn sử dụng để dẫn chúng ta lạc đường, như sách Thư Về Tham thiền Huyền môn cho chúng ta biết. Không, ý tôi là trong Yoga Điển của Patanjali. Chúng ta chỉ có thể cưỡng ép tiến trình đến một giới hạn nhất định.

We are in a forcing process, and there are legitimate means of forcing or hastening or speeding up if you want to take the risk. But there are also very illegitimate means of doing so, and to a certain extent, DK is talking about these undesirable methods, which, even though they may destroy you in the present, establish a trend for the future, which may work out in a much better result. So, occultism, the path of occultism must be the path of caution. In other words, take your risks cautiously, because there are risks involved here, and they are of a subtle kind. I mean, you may find yourself battling those on the left-hand path who are warring militantly against the advancement of the disciples. That phrase, warring militantly, that's what DK uses to describe their attitude.

Chúng ta đang ở trong một tiến trình thúc ép, và có những phương cách chính đáng để thúc ép, đẩy nhanh hay tăng tốc, nếu các bạn muốn chấp nhận rủi ro. Nhưng cũng có những phương cách rất không chính đáng để làm điều đó; và ở một mức độ nhất định, Chân sư DK đang nói đến những phương pháp không đáng mong muốn này: dù chúng có thể hủy hoại các bạn trong hiện tại, chúng vẫn xác lập một xu hướng cho tương lai, có thể đưa đến một kết quả tốt đẹp hơn nhiều. Vì vậy, huyền bí học, con đường huyền bí học phải là con đường thận trọng. Nói cách khác, hãy thận trọng khi chấp nhận rủi ro, vì ở đây có những rủi ro, và chúng thuộc loại tinh tế. Ý tôi là, các bạn có thể thấy mình đang chiến đấu với những kẻ trên tả đạo, những kẻ đang ráo riết giao chiến chống lại sự tiến bộ của các đệ tử. Cụm từ “ráo riết giao chiến” chính là cách Chân sư DK dùng để mô tả thái độ của họ.

Well, so basically the possibility of being overwhelmed and even stopped or in some way destroyed or distressed while the energy is being transferred, it is a possibility, especially if one is foolish about it.

Về cơ bản, trong khi năng lượng đang được chuyển dịch, khả năng bị áp đảo, thậm chí bị chặn đứng, hoặc bị hủy hoại hay khốn đốn theo một cách nào đó, quả thực có thể xảy ra, nhất là nếu người ta hành xử thiếu khôn ngoan.

He goes on.

Ngài nói tiếp.

[9] Before I close this particular instruction upon glamour, I would like to call the attention of the group to the occult sentences which I gave to D.L.R. prior to his leaving the group.

[9] Trước khi kết thúc huấn thị riêng biệt này về ảo cảm, Tôi muốn lưu ý nhóm đến những câu huyền bí mà Tôi đã trao cho D.L.R. trước khi ông rời nhóm.

Now, DLR was actually a very solid disciple, so I'd have to read up on that again and find out what his departure from the group meant. I mean, he was, as I remember, he was pretty much an initiate of the second degree, which DK said to another such, you see, we rate you highly, he said, of this initiate of the second degree. So DLR was a stabilizing force in the glamour group, and his rays were 1st ray soul, 5th ray personality, 5th ray mind, 6th ray astral body, his one soft line ray, and 7th ray physical body. He was a scientist, and he was the sun in cancer with Libra on the rising sign. So anyway, DK indicates here that he did leave the group, and I had failed to register.

DLR thực ra là một đệ tử rất vững vàng, nên tôi sẽ phải đọc lại để tìm hiểu việc ông rời nhóm có ý nghĩa gì. Theo tôi nhớ, ông hầu như đã là một điểm đạo đồ bậc hai; và Chân sư DK từng nói với một người khác cũng ở cấp độ ấy: “Chúng Tôi đánh giá em rất cao”—Ngài đã nói như vậy về người điểm đạo đồ bậc hai này. Vì vậy, DLR là một mãnh lực ổn định trong nhóm làm việc với ảo cảm, và các cung của ông là: linh hồn cung một, phàm ngã cung năm, thể trí cung năm, thể cảm dục cung sáu—cung duy nhất của ông thuộc tuyến mềm—và thể xác cung bảy. Ông là một nhà khoa học, có Mặt Trời ở Cự Giải và dấu hiệu mọc là Thiên Bình. Dù sao, ở đây Chân sư DK cho biết ông thực sự đã rời nhóm, và tôi đã không ghi nhận điều đó.

I thought he would have been one of the ones that survived. I think that by the time it was all over, out of 50 or 51 students of DK, of DK who had been in the group, only 8 remained, and those were the 8, I think, who pretty well followed instructions, and did what he said, and were not forced to depart the group for any of the usual reasons, overstimulation, rebellion, some personality state, over-emotionalism, irritability, all kinds of things accounted for the departure.

Tôi cứ nghĩ ông hẳn là một trong những người trụ lại. Tôi nghĩ rằng khi mọi việc kết thúc, trong số 50 hay 51 đạo sinh của Chân sư DK từng ở trong nhóm, chỉ còn lại 8 người. Tôi nghĩ đó là 8 người đã làm theo huấn thị khá tốt, làm những gì Ngài nói, và không buộc phải rời nhóm vì bất kỳ lý do thường gặp nào: kích thích quá mức, chống đối, một trạng thái phàm ngã nào đó, cảm xúc thái quá, cáu giận—đủ mọi thứ đã dẫn đến việc rời nhóm.

When you stop to think of it, that the 8 that remained included Alice Bailey, included Foster Bailey, and Regina Keller, who was the editor of all these books, that leaves only 5, and maybe Marion Walter, the lady that Keith Bailey and I knew quite well before she passed on, she was the youngest disciple there, maybe that leaves only 4 of the other less-known disciples remaining with the Tibetan. So it was tough going. People say, you just don't know what it's like to have the eye of the master upon you, and to have to endure that kind of pressure. Anyway, DK gave some occult sentences to DLR.

Khi dừng lại suy nghĩ, các bạn sẽ thấy trong 8 người còn lại có Alice Bailey, Foster Bailey và Regina Keller, người biên tập tất cả những cuốn sách này; như vậy chỉ còn 5 người. Và có lẽ còn Marion Walter, người phụ nữ mà Keith Bailey và tôi từng biết khá rõ trước khi bà qua đời; bà là đệ tử trẻ nhất ở đó. Như vậy, có lẽ chỉ còn 4 đệ tử ít được biết đến khác ở lại với Chân sư Tây Tạng. Vì vậy, chặng đường ấy rất gian nan. Người ta nói rằng các bạn thực sự không biết cảm giác chịu ánh mắt của Chân sư dõi theo mình và phải chịu đựng áp lực như thế là như thế nào. Dù sao, Chân sư DK đã trao một số câu huyền bí cho DLR.

[10] They have a definite relation to the group work and I would like you to give them careful consideration and study.

[10] Những câu ấy có mối liên hệ rõ rệt với công việc nhóm, và Tôi muốn các bạn suy xét và nghiên cứu chúng cẩn thận.

So what you see is that the instructions to one disciple can be used by the other disciples. Basically they all read each other's instructions if they were in the same group, and they were learning from the interaction.

Như vậy, các bạn thấy rằng những huấn thị dành cho một đệ tử có thể được các đệ tử khác sử dụng. Về cơ bản, nếu ở cùng một nhóm, tất cả họ đều đọc huấn thị của nhau và học hỏi qua sự tương tác.

[11] The Old Commentary, in speaking of the work of those whose dharma it is to dissipate world glamour,

[11] Khi nói về công việc của những người có phận sự làm tiêu tan ảo cảm thế gian, Cổ Luận

Now we don't know whether it's our dharma or not, but for some of us we have a tendency towards it.

Chúng ta không biết đó có phải là bổn phận thiêng liêng của mình hay không, nhưng một số người trong chúng ta có khuynh hướng ấy.

[12] uses the following illuminating sentences:

[12] dùng những câu mang lại sự soi sáng sau đây:

We'll find out with what seed group our particular dharma is most affiliated. We have until the year 2200, 175 years from now, 180 years from now, for the completion of this phase of the seed group project. You said it was a 275 year project.

Chúng ta sẽ tìm ra bổn phận thiêng liêng riêng của mình gắn bó mật thiết nhất với nhóm hạt giống nào. Chúng ta có thời gian đến năm 2200, tức 175 năm nữa, 180 năm nữa, để hoàn tất giai đoạn này của dự án nhóm hạt giống. Có nói rằng đó là một dự án kéo dài 275 năm.

So obviously it kind of got started in 1925 when the ashrams moved to the, so many ashrams refocused on the buddhic plane. So what does the old commentary say? In its typically revelatory and intuition-inducing language.

Vì vậy, rõ ràng dự án ấy phần nào đã khởi đầu vào năm 1925, khi các ashram chuyển đến… khi rất nhiều ashram tái tập trung trên cõi Bồ đề. Vậy Cổ Luận nói gì? Bằng ngôn ngữ mang tính mặc khải và khơi dậy trực giác đặc trưng của mình.

[13] “They come and stand. Within the midst of whirling forms—some of beauty rare and some of horror and despair—they stand. They look not here or there but, with their faces turned towards the light, they stand. Thus through their minds the pure light streams to dissipate the fogs.

[13] “Họ đến và đứng vững. Giữa những hình tướng xoáy cuộn—có những hình tướng mang vẻ đẹp hiếm có, có những hình tướng đầy [Page 151] kinh hoàng và tuyệt vọng—họ đứng vững. Họ không nhìn đây đó mà đứng vững, hướng mặt về ánh sáng. Như thế, ánh sáng thuần khiết tuôn qua thể trí họ để làm tiêu tan những màn sương mù.

Sounds a lot like what we're doing, doesn't it? Are we standing? That's the question. There are different phases to this process.

Nghe rất giống những gì chúng ta đang làm, phải không? Chúng ta có đang đứng vững không? Đó là câu hỏi. Tiến trình này có những giai đoạn khác nhau.

[14] “They come and rest. They cease their outer labors, pausing to do a different work. Within their hearts is rest.

[14] “Họ đến và an tĩnh. Họ ngừng những công việc bên ngoài, tạm dừng để làm một công việc khác. Trong tim họ là sự an tĩnh.

Not emotional agitation.

Không phải sự xao động cảm xúc.

[15] They run not here and there, but constitute a point of peace and rest. That which upon the surface veils and hides the real begins to disappear and from the heart at rest a beam of dissipating force projects, blends with the shining light and then the mists of man’s creation disappear.

[15] Họ không chạy ngược xuôi, mà tạo thành một điểm bình an và an tĩnh. Những gì trên bề mặt che phủ và giấu kín cái thực bắt đầu biến mất; từ trái tim an tĩnh, một tia mãnh lực làm tiêu tan phóng chiếu ra, hoà với ánh sáng rạng ngời, và rồi những màn sương do con người tạo ra biến mất.

Those are the glamorous mists, and obviously as well as an ajna center beam, there is a heart beam, which involves, I suppose, the buddhic plane in this particular old commentary section.

Đó là những màn sương ảo cảm; và rõ ràng, ngoài tia sáng từ trung tâm ajna, còn có một tia sáng từ trái tim. Tôi cho rằng trong đoạn Cổ Luận cụ thể này, tia sáng ấy có liên quan đến cõi Bồ đề.

[16] “They come and they observe. They own the eye of vision; likewise they own the right direction of the needed force.

[16] “Họ đến và quan sát. Họ có con mắt linh thị; họ cũng có khả năng định hướng đúng mãnh lực cần thiết.

This sounds like the third eye, and sounds like the ability to direct via the ajna center.

Điều này nghe như con mắt thứ ba, và như khả năng định hướng qua trung tâm ajna.

[17] They see the glamour of the world, and seeing, they note behind it all the true, the beautiful, the real. Thus through the eye of Buddhi comes the power to drive away the veiling, swirling glamours of that glamorous world.

[17] Họ thấy ảo cảm của thế gian, và khi thấy, họ nhận ra đằng sau tất cả những điều ấy là cái chân, cái mỹ, cái thực. Như thế, qua con mắt Bồ đề, quyền năng xuất hiện để xua tan những ảo cảm che phủ và xoáy cuộn của thế gian đầy ảo cảm ấy.

Especially when combined with the clear light of mind. We saw what it was. You blend the physical fire with the mental fire, with the soul fire, and all of that is a reflection of the Buddhi.

Nhất là khi kết hợp với ánh sáng trong trẻo của thể trí. Chúng ta đã thấy đó là gì. Các bạn hòa lửa hồng trần với lửa trí tuệ, với lửa linh hồn, và tất cả những điều ấy là sự phản chiếu của Bồ đề.

[18] “They stand, they rest, and they observe.

[18] “Họ đứng vững, họ an tĩnh và họ quan sát.

These are the trained observers, seed group number two.

Đây là Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, nhóm hạt giống số hai.

“They stand, they rest, and they observe.

“Họ đứng vững, họ an nghỉ, và họ quan sát.

[19] Such are their lives and such the service that they render to the souls of men.”

[19] Đời sống của họ là như thế, và sự phụng sự mà họ dành cho linh hồn con người cũng là như thế.”

[20] I would commend these lines to your careful thought.

[20] Tôi muốn khuyên các bạn suy ngẫm kỹ những dòng này.

We will give it that. Not right now, but we will give it that.

Chúng ta sẽ suy ngẫm kỹ như vậy. Không phải ngay lúc này, nhưng chúng ta sẽ làm như vậy.

[21] They convey to you not only the field of your group service but also the desired attitude of the personal life of every member of the group.

[21] Chúng truyền đạt cho các bạn không chỉ lĩnh vực phụng sự của nhóm các bạn mà còn cả thái độ cần có trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên trong nhóm.