Tóm lược chương
Trong Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, trang 151–152, việc giải thoát khỏi sự cáu giận hay imperil đặc biệt thiết yếu đối với nhóm Các Nhà Quan Sát Thực Tại, nhóm thứ hai trong các Nhóm hạt giống. Chân sư DK cảnh báo rằng trạng thái này trì hoãn bước tiến trên Đường Đạo và tạo căng thẳng nguy hiểm, cản trở sự lưu chuyển của quyền năng và ánh sáng trong nhóm. Những thái độ không biểu lộ ra ngoài vẫn tác động đến trường nhóm, ngay cả khi các thành viên khác không nhận ra nguồn phát sinh. Trạng thái ấy tương phản với sự bình thản vĩnh viễn không xao động gắn với Đức Christ. Theo đoạn trích, sự cáu giận tạo một chất độc tập trung tại vùng dạ dày và…
Commentary GAW 149
Tóm Tắt
Imperil và sự an toàn của công việc nhóm
Trong Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, trang 151–152, việc giải thoát khỏi sự cáu giận hay imperil đặc biệt thiết yếu đối với nhóm Các Nhà Quan Sát Thực Tại, nhóm thứ hai trong các Nhóm hạt giống. Chân sư DK cảnh báo rằng trạng thái này trì hoãn bước tiến trên Đường Đạo và tạo căng thẳng nguy hiểm, cản trở sự lưu chuyển của quyền năng và ánh sáng trong nhóm. Những thái độ không biểu lộ ra ngoài vẫn tác động đến trường nhóm, ngay cả khi các thành viên khác không nhận ra nguồn phát sinh. Trạng thái ấy tương phản với sự bình thản vĩnh viễn không xao động gắn với Đức Christ.
Tùng thái dương và sự chuyển dịch lên trung tâm tim
Theo đoạn trích, sự cáu giận tạo một chất độc tập trung tại vùng dạ dày và tùng thái dương, đồng thời lây lan mạnh trong trường cảm dục. Sống trong đầu và tim giúp chấm dứt imperil và chuyển dịch các mãnh lực từ tùng thái dương lên trung tâm tim; tiến trình này hoạt động mạnh giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. Sao Hỏa cai quản tùng thái dương ở người bình thường, trong khi ở người chí nguyện và đệ tử diễn ra sự cạnh tranh giữa ảnh hưởng Sao Hỏa và Sao Hải Vương. Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tập II, phân biệt một điểm thấp mang ảnh hưởng Sao Hỏa và một điểm cao mang ảnh hưởng Sao Hải Vương, gần với rung động của tim hơn.
Các hành tinh và lần điểm đạo thứ hai
Một cách lý giải được đề xuất liên hệ sự chuyển dịch từ tùng thái dương thuộc cung sáu lên tim thuộc cung hai với Sao Hải Vương, vốn có Chân Thần cung hai và rất có thể có linh hồn cung sáu. Ánh sáng Sao Kim, khát vọng Sao Hải Vương và tính bao gồm của Sao Mộc phải hoàn thành công việc trước khi lần điểm đạo thứ hai có thể diễn ra. Theo phần dẫn chiếu Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 70–71, cả ba hành tinh đều có ảnh hưởng cung hai mạnh ở những cấp độ khác nhau, giúp định hình thể cảm dục của điểm đạo đồ bậc hai. Trước đó, ảnh hưởng Sao Hỏa và Sao Diêm Vương còn tạo đấu tranh, lo âu và xung đột; sự chuyển dịch mở đường cho đời sống hướng về ashram.
Imperil sâu hơn cơn giận thoáng qua
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tập II, trang 68, phân biệt imperil với những gợn cáu giận và cơn giận thoáng qua mà mọi đệ tử đều có thể trải nghiệm. Những phản ứng nhất thời ấy tương đối ít quan trọng và không tạo sự ghi nhận trong thái độ của linh hồn đối với phàm ngã. Imperil ở nghĩa sâu hơn là phản ứng của đệ tử trước điều ác trên thế giới: bất an về tương lai, bực bội với hành động của những người chưa phải đệ tử, chỉ trích kế hoạch quốc gia và quốc tế, bất hạnh và cảm giác hiểu biết hơn người. Các phản ứng này biểu lộ theo cách tiêu cực, thiếu tính xây dựng và làm suy yếu sự hoan hỉ trong công việc phụng sự.
Tri thức huyền môn và quyền tự quyết của nhân loại
Các vấn đề thế giới phải dựa trên nhu cầu và điểm tiến hoá của đông đảo nhân loại, thể hiện qua những người đại diện do họ lựa chọn hoặc do hoàn cảnh áp đặt. Tri thức của Thánh đoàn mà đệ tử sở hữu không thể trở thành cơ sở để trực tiếp quyết định toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Đệ tử có thể tác động, điều chỉnh và nâng cao nhu cầu chung bằng thái độ, giáo huấn và tinh thần nhân đạo. Nếu ý chí và tri thức của đệ tử kiểm soát hoàn toàn thế giới, khoảng cách giữa Thiên Giới và giới nhân loại sẽ sâu hơn, đi ngược công việc hàn gắn của Thánh đoàn và Đức Christ.
Lý tưởng xã hội và giới hạn của sự áp đặt
Những viễn kiến xã hội lý tưởng của Plato, Thomas More và Francis Bacon đặt ra câu hỏi về khả năng thực hiện các ý tưởng tốt đẹp giữa những ảo cảm và ảo tưởng của nhân loại. Khả năng xuất hiện những mô hình xã hội lý tưởng mới trong Kỷ Nguyên Bảo Bình vẫn là một vấn đề để ngỏ. Trường hợp Ataturk được dùng để minh họa rằng việc đánh giá một nhà lãnh đạo cần cân nhắc đóng góp tổng thể, thay vì phóng đại khuyết điểm phàm ngã; theo phần bình giảng, Chân sư DK đánh giá ông rất tích cực dù ông cai trị theo lối độc đoán trong thời gian dài. Cảm giác vượt trội nhờ sở hữu tri thức huyền môn cũng có thể trở thành chính chướng ngại ngăn đệ tử hiểu đúng nhu cầu của cộng đồng.
Sự khéo léo trong truyền đạt Minh Triết Ngàn Đời
Nhân loại tự quyết định vận mệnh; đệ tử chỉ đường, mở ra tầm nhìn, nêu gương và nhấn mạnh những mốc chân lý cổ xưa, được liên hệ với truyền thống Hội Tam Điểm. Cách trình bày cần phù hợp với cấp độ tâm thức của người đối thoại, chẳng hạn dùng những lời trong Kinh Thánh về các huyền nhiệm của Thiên Giới để mở cửa tiếp cận Minh Triết Ngàn Đời. Sự công kích giáo lý Alice Bailey từ một số giới tôn giáo, cùng cáo buộc của Bà Roerich rằng Chân sư Tây Tạng thuộc Hắc đoàn, minh họa khả năng ảo cảm khiến điều thiện khác với quan niệm sẵn có bị xem thành điều ác. Ngay cả đệ tử cũng có thể mắc sự đảo lộn nhận định này.
Gốc rễ tâm lý và tác động lên cơ thể
Trị Liệu Huyền Môn, trang 67–68, xem sự cáu giận là một vấn đề tâm lý căn bản, bắt nguồn từ thể cảm dục bị kích thích mạnh và gây tác động bất thường lên hệ thần kinh. Ba gốc rễ được nêu là tư lợi, tự mãn về khả năng tự đáp ứng và sự hài lòng với bản thân; chúng liên hệ với lòng kiêu hãnh và thái độ xem người khác thấp kém. Chế độ ăn và sinh hoạt có nhịp điệu có ích nhưng chưa phải phương cách chữa tận gốc. Phần bình giảng liên hệ điều này với nhận định của Assagioli rằng mỗi tư tưởng đều để lại dấu ngưng tụ hồng trần, đồng thời nhấn mạnh bệnh do tương tác tâm lý và cơ thể vẫn là bệnh thực sự, với ảnh hưởng truyền qua thể dĩ thái.
Nhịp điệu và việc nhìn lại bản thân
Kỷ nguyên cung bảy được liên hệ với khả năng thiết lập đời sống có nhịp điệu, trong khi ảnh hưởng cung sáu dễ thúc đẩy hành động theo xung động và khó duy trì nhịp điệu ổn định. Việc nhận ra sai trái trên thế giới không biện minh cho thái độ “người khác ngu dốt, mình có thể làm tốt hơn”. Một đối trọng hữu ích là nhớ rằng đệ tử hiện nay từng trải qua những giai đoạn vô minh và có thể từng gây bực bội cho những người hiểu biết hơn. Sự hoan hỉ khi làm công việc của Chân sư giúp chống lại bầu không khí bất hạnh và tự tôn.
Năm nguy cơ của lo âu và cáu giận
Theo các đoạn trích, lo âu và cáu giận làm giảm sinh lực, khiến con người dễ mắc bệnh, đồng thời lây lan trong trường cảm dục và làm bầu không khí chung trở nên ngột ngạt. Sợ hãi, lo âu và cáu giận phổ biến đến mức có thể xem như một dịch bệnh trên quy mô hành tinh. Riêng sự cáu giận còn gây tác động viêm và được liên hệ với một số vấn đề về mắt. Cả lo âu lẫn cáu giận đều che khuất tầm nhìn, khiến con người chỉ thấy nguyên nhân bất mãn của mình, chìm trong tự thương hại và cản trở nhóm; tính ích kỷ cũng có thể tồn tại ở cấp độ nhóm.
“Cúm hành tinh” và vai trò của người phụng sự
Chân sư DK liên hệ bệnh cúm với sợ hãi và lo âu, đồng thời dùng hình ảnh “cúm hành tinh” để mô tả tình trạng bất ổn chung của nhân loại. Phần bình giảng nhắc con số ước tính 50 triệu người chết trong đại dịch cúm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự kiệt quệ của nhân loại thời kỳ ấy. Lời trấn an rằng mọi việc đều ổn không thích hợp khi nhân loại và sự sống hành tinh đang thực sự bất ổn; Thánh đoàn biết tình trạng này và làm việc để cải thiện nó. Công việc trước mắt của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người thiện chí sáng suốt là giúp “người bệnh” yên tĩnh, hạ sốt, rồi mới nghiên cứu và ngăn ngừa tái diễn.
COVID-19 và thử thách về các giá trị
Theo nhận định riêng của Thầy MDR, cách xử lý COVID-19 tại Hoa Kỳ lúc ấy có thể được mô tả bằng những lời gay gắt là giết người thông qua lòng vị kỷ, vì tâm thức Đức Christ đòi hỏi hy sinh bản thân vì người khác. Đại dịch được diễn giải như một thử thách tâm lý và tinh thần thông qua hoàn cảnh hồng trần, đặt việc coi trọng tiền bạc đối diện với phúc lợi và chất lượng sống của con người. Cuộc đấu tranh này được liên hệ với những phương diện tiêu cực của cung ba và triển vọng tích cực của cung hai. Tinh thần nhân đạo và sự anh hùng của đội ngũ y tế được xem là những biểu hiện đáng hy vọng; việc vận động công chúng cần dùng ngôn ngữ nhân đạo phù hợp thay vì trông đợi mọi người tiếp nhận giải thích huyền môn.
Hy vọng tương lai và ảo cảm sợ hãi
Những đề cập của Chân sư DK đến Nga, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và các khả năng hợp tác vào năm 2035, gồm luật bảo vệ phúc lợi trẻ em, được đọc như cơ sở cho hy vọng, dù không phải kết quả tất yếu. Niềm tin vào Thượng đế nội tại và sự hoan hỉ phụng sự giúp duy trì thái độ tích cực giữa khủng hoảng. Sợ hãi được xác định là một ảo cảm nền tảng, đặc biệt đáng lưu ý ở những người có ảnh hưởng cung hai mạnh. Theo lời dẫn Chân sư DK, sợ hãi còn là Kẻ Chận Ngõ chủ yếu của hành tinh chúng ta.
Nhận diện thói quen cũ và trách nhiệm đối với tư tưởng
Khủng hoảng có thể làm trỗi dậy bất an, bực bội, chỉ trích, bất hạnh và cảm giác vượt trội mà người thực hành tưởng đã vượt qua; sự xuất hiện trở lại cho thấy gốc rễ hoặc tàn dư vẫn còn. Nhận biết đúng bản sắc, phương hướng tiến hoá và phương pháp đáng tin cậy giúp giảm những lúc thoái lui ấy. Nhận xét của Kim rằng lo âu là diễn tập trong trí điều mình không muốn xảy ra được tiếp nhận như một mô tả hữu ích về sự dự đoán tiêu cực. Theo cách diễn giải huyền môn trong bài, vì tư tưởng có hiệu lực nên cần chịu trách nhiệm về đời sống tư tưởng và tập hình dung những kết quả xây dựng mà mình muốn góp phần tạo nên.
Dịch bệnh, sự thanh lọc và giới hạn của suy đoán
Đề xuất rằng sợ hãi, cáu giận và lo âu là nguyên nhân của COVID-19 chỉ được tiếp nhận như những khả năng đáng xem xét. Theo suy luận riêng của Thầy MDR, dịch bệnh có thể liên hệ với một sự can thiệp thanh lọc của Đức Sanat Kumara khi nhân loại không tự giải quyết những khuynh hướng nguy hiểm; điều này không được trình bày như nguyên nhân đã xác lập của đại dịch. Phần bình giảng dẫn các đoạn về “dịch bệnh phổ quát” và khả năng can thiệp trong thời chiến, đặc biệt bày tỏ sự kinh ngạc trước đề cập đến sự can thiệp dự kiến của Thái dương Thượng đế vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất. Các dẫn chiếu ấy đi cùng nhận định rằng trong những trường hợp được nhắc đến, nhân loại đã tự giải quyết vấn đề nên sự can thiệp dự kiến không cần diễn ra.
Kinh tế và cách sử dụng nguồn lực
Lời phê phán chủ nghĩa tư bản của Chân sư DK được liên hệ với khuynh hướng đặt biểu tượng tiền bạc và dục vọng cao hơn phúc lợi con người. Phần bình giảng vẫn thừa nhận giá trị của sáng kiến và đổi mới mà hệ thống này có thể tạo ra, đồng thời lưu ý rằng các hệ thống khác có thể kìm hãm chúng. Áp lực của đại dịch lên kinh tế thế giới được xem là dấu hiệu cho thấy cần những điều chỉnh lớn trong việc phân phối và sử dụng nguồn lực. Hướng thay đổi được đề xuất là một cách tiếp cận nhân đạo hơn đối với tiền bạc và những nhu cầu mà tiền bạc giúp đáp ứng.
Sự tĩnh lặng và tinh thần bất khuất
Lời cầu nguyện Suzanne đặt trong phòng tắm nhắc đến sự tĩnh lặng để chấp nhận điều không thể thay đổi, lòng can đảm để thay đổi điều có thể và minh triết để phân biệt hai điều ấy; việc đọc lại nhiều lần mỗi ngày giúp đối diện với lo âu và bực bội. Bài thơ Invictus của William Ernest Henley, được Thầy MDR đặt trên tủ lạnh, biểu đạt tinh thần bất khuất qua hình ảnh đầu chảy máu nhưng không cúi xuống và lời khẳng định làm chủ vận mệnh, làm thuyền trưởng của linh hồn mình. Theo cách diễn giải riêng của Thầy MDR, bài thơ mang phẩm tính cung một kết hợp cung sáu; ông cũng nhắc với mức độ chưa chắc chắn rằng Nelson Mandela đã dùng bài thơ trong thời gian bị giam kéo dài khoảng một chu kỳ Sao Thổ.
Invictus và khả năng vượt qua thương tổn
Prince Harry chọn Invictus làm nền tảng cho Đại hội Thể thao Invictus dành cho các quân nhân chịu thương tổn, trong đó có những người mất chi đang phục hồi. Hình ảnh các chiến binh tiếp tục phấn đấu, cùng liên tưởng đến Thế vận hội Đặc biệt, minh họa sức mạnh của linh hồn trước những giới hạn thể chất. Tính bất khuất của linh hồn không phụ thuộc vào việc một người thuộc cung nào.
Bánh xe bảo vệ bằng bác ái
Trước câu hỏi về tùng thái dương bị kích hoạt bởi lo âu, sợ hãi và bất an, phương pháp Chân sư DK trao cho Roberto Assagioli được đề nghị như một cách bảo vệ bằng bác ái. Phương pháp cổ truyền này mang tên “bánh xe lửa sống không thiêu đốt mà luôn chữa lành”, giúp cách ly khỏi ảnh hưởng của sợ hãi mà không dựng nên bức tường chia cách các mối quan hệ. Khác với cách hình dung một lớp vỏ bao quanh mình trong một số thực hành Thông Thiên Học trước đây, sự bảo vệ này đồng thời mở rộng khả năng phụng sự.
Bảy dòng bác ái sống động
Bài thực hành bắt đầu bằng việc hình dung trước mắt một bánh xe lửa có bảy nan, rồi dùng sự tưởng tượng sáng tạo để đứng tại tâm bánh xe và xem mình chính là trục trung tâm. Từ đó, bảy dòng bác ái sống động tỏa ra thế giới; Thầy MDR diễn giải chúng là những dòng năng lượng của bảy cung. Theo lời Chân sư DK được trích, hành động này vừa phụng sự vừa bảo vệ hoàn toàn người thực hành, tạo một mãnh lực bảo vệ và biến họ thành trung tâm ánh sáng cùng bác ái sống động. Khi thuần thục, bài tập có thể diễn ra tức thời và hữu hiệu, giúp củng cố sự tin tưởng khi đối diện với lo âu, sợ hãi và bực bội.
Lo âu trong trường trí-cảm
Nhận xét của Kim xem lo âu là một thói quen trí tuệ không lành mạnh được bổ sung bằng cách phân tích nó như một hiện tượng trí-cảm: tư tưởng nhuốm cảm xúc, trong đó những dự đoán tiêu cực đi kèm cảm xúc tiêu cực. Với nhiều người, suy nghĩ và cảm xúc gắn chặt đến mức mỗi lần nghĩ đều cảm và mỗi lần cảm đều nghĩ. Vì vậy, một nhiệm vụ quan trọng là tách manas khỏi kama, tức phân biệt hoạt động trí tuệ với dục vọng và cảm xúc.
Sợ hãi và sự đồng hóa sai lầm
Ảo cảm sợ hãi được trình bày như một ảo cảm căn bản, là Kẻ Chận Ngõ của toàn hành tinh và có một phương diện hiện diện trong mọi ảo cảm khác. Một cách lý giải được đề xuất là con người đồng hóa mình với những gì có thể bị hủy diệt, thay vì với Thượng đế nội tại, nên sợ sự tiêu vong và chấm dứt hiện tồn. Đây có thể là nguyên nhân sâu xa, nhưng sợ hãi còn có nhiều dạng biểu hiện theo các tuyến cung khác nhau. Việc làm chủ ảo cảm căn bản này vì thế có thể góp phần lớn vào việc khắc phục những ảo cảm còn lại.
Thập giá Thiên tính và sự hợp nhất ba ánh sáng
Phần tham thiền nhóm, với hơn 40 người tham dự, mở đầu bằng công thức bảo vệ Thập giá Thiên tính qua các điểm trán, tim, mắt trái và mắt phải, đi cùng lời xác nhận làm việc như linh hồn trong ánh sáng và giữ vững vị trí ấy. Thập giá ánh sáng của mỗi người hợp thành một thập giá lớn bảo vệ toàn nhóm. Tiếp đó, ánh sáng vật chất, chủ yếu là ánh sáng dĩ thái–hồng trần, và ánh sáng hạ trí được tập hợp trên cõi trí; sự tiếp xúc linh hồn giúp nhận biết ánh sáng linh hồn và phân biệt nó với hai ánh sáng kia. Ánh sáng linh hồn, được tăng cường qua hoạt động nhóm, được đưa xuống cõi hạ trí để hòa trộn cả ba, cùng lời xác nhận ánh sáng là một và có thể chuyển bóng tối thành ban ngày.
Chùm ánh sáng nhóm hướng vào ảo cảm sợ hãi
Ba ánh sáng hợp nhất tạo thành một đèn pha lớn, phóng chiếu vào cõi cảm dục để phát hiện và làm tiêu tan ảo cảm sợ hãi. Công thức tham thiền nối thế giới bên trong của ý nghĩa với thế giới vi tế của ảo cảm, đưa ánh sáng xuống đáp ứng nhu cầu và đem sự thấu hiểu từ nơi tĩnh lặng vào công việc. Ý chí tinh thần tăng cường chùm sáng; nguồn năng lượng này được mô tả là cuối cùng đến từ Chân Thần, truyền qua linh hồn, ngọc báu và các cánh hoa hi sinh. Những thái độ hỗ trợ gồm sự tin tưởng vào Thượng đế nội tại và sự hoan hỉ của linh hồn.
Quyền năng hợp nhất và tiến trình kết thúc
Ảo cảm sợ hãi được nhìn nhận là đã cản trở nhân loại suốt hàng triệu năm; sự vô úy của đệ tử vì vậy là dấu hiệu bất lợi đối với các mãnh lực đối kháng. Ba lời xác nhận tập trung quyền năng ánh sáng hợp nhất vào việc ngăn ảo cảm xuất hiện, vô hiệu hóa ảnh hưởng của phẩm tính ấy đối với nhân loại và phá hủy sự sống đứng sau nó, rồi tiếp nối bằng năm phút im lặng với mục đích mãnh liệt. Khi kết thúc, chùm sáng được rút từ cõi cảm dục về cõi trí, ba ánh sáng trở lại vị trí thích hợp và thể trí giữ vững trong ánh sáng, với thái độ rằng một phần công việc đã hoàn thành. Ba lần xướng linh từ OM hướng ảnh hưởng tốt lành của công việc đến ba hiện thể phàm ngã của nhân loại: thể xác–dĩ thái, thể cảm dục và thể trí hạ.
Text GAW 149 – Văn bản GAW 149
Glamour: A World Problem pages 151–152
Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới trang 151–152
[1] I would also like, at this point, to touch upon a factor of real importance in this work and to repeat my earlier warning: [2] Will you remember that the effort to free yourselves from irritation or from what is called in Agni Yoga “imperil” (a peculiar yet satisfying word, my brothers) [3] is particularly essential for this group? [4] Irritation is exceedingly prevalent these days of nervous tension and it most [Page 152] definitely imperils [5] progress and retards the steps of the disciple upon the Way. [6] It can produce dangerous group tension if present in any of you, and this induced group tension can interfere with the free play of the power and light which you are supposed to use, even when the other group members remain unconscious of the emanating source. [7] Irritation definitely generates a poison which locates itself in the region of the stomach and of the solar plexus. [8] Irritation is a disease, if I might use that word, of the solar plexus center and it is definitely contagious to an almost alarming extent. [9] So, my brothers, watch yourselves with care and remember that just in so far as you can live in the head and in the heart, [10] you will end the disease of imperil and aid in the transference of the forces of the solar plexus into the heart center.
[1] Ở đây, Tôi cũng muốn đề cập đến một yếu tố thực sự quan trọng trong công việc này và nhắc lại lời cảnh báo trước đây của Tôi: [2] Các bạn hãy nhớ rằng nỗ lực giải thoát bản thân khỏi sự cáu kỉnh hay khỏi điều mà trong Agni Yoga gọi là “hiểm độc” (một từ khác thường nhưng diễn đạt thỏa đáng, hỡi các huynh đệ của Tôi) [3] là điều đặc biệt thiết yếu đối với nhóm này. [4] Sự cáu kỉnh hết sức phổ biến trong những ngày căng thẳng thần kinh này, và nó chắc chắn [Page 152] gây nguy hại cho [5] sự tiến bộ, đồng thời làm chậm bước chân của đệ tử trên Đường Đạo. [6] Nếu hiện diện nơi bất kỳ ai trong các bạn, nó có thể tạo ra sự căng thẳng nguy hiểm trong nhóm; sự căng thẳng nảy sinh như thế có thể cản trở quyền năng và ánh sáng mà các bạn cần sử dụng phát huy tác dụng một cách tự do, ngay cả khi các thành viên khác trong nhóm vẫn không nhận biết nguồn phát ra sự căng thẳng ấy. [7] Sự cáu kỉnh chắc chắn sinh ra một chất độc tích tụ ở vùng dạ dày và tùng thái dương. [8] Nếu Tôi có thể dùng từ ấy, sự cáu kỉnh là một căn bệnh của trung tâm tùng thái dương, và nó quả thực có tính lây lan đến mức gần như đáng báo động. [9] Vì vậy, hỡi các huynh đệ của Tôi, hãy cẩn thận tự quan sát và nhớ rằng các bạn sống trong đầu và trong tim được đến đâu, [10] thì sẽ chấm dứt căn bệnh hiểm độc đến đó, đồng thời giúp chuyển dịch các mãnh lực của tùng thái dương vào trung tâm tim.
Discipleship in the New Age II, pgs 67–69 – Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II, trang 67–69
[11] 3. The stimulation to which the lower vehicles of a disciple are unavoidably subjected. This evokes a full expression of all his inherent qualities, both good and bad. Everything in his nature is intensified, and the more mental he may be, the more he is consciously aware of these revelations. If his orientation is towards his life expression in the three worlds, a phase of depression, of self-accusation and frequently of doubt may have to be endured, thus handicapping his general usefulness.
[11] 3. Sự kích thích mà các hiện thể thấp của đệ tử không thể tránh khỏi. Điều này gợi lên sự biểu lộ trọn vẹn mọi phẩm tính vốn có của y, cả tốt lẫn xấu. Mọi điều trong bản chất của y đều trở nên mạnh mẽ hơn, và y càng phát triển về trí tuệ thì càng nhận biết một cách có ý thức những điều được mặc khải này. Nếu y hướng đến sự biểu lộ của đời sống mình trong ba cõi giới, y có thể phải chịu đựng một giai đoạn chán nản, tự trách và thường cả hoài nghi, do đó làm giảm khả năng đóng góp chung của y.
[12] 4. The evocation of a strong sense of the soul within the personality. An emphasis upon the attitude of the soul to the personality life may also be induced and may prove very misleading. It would appear from the (apparently) voiced expression of soul comment, criticism, encouragement and planning that the main interest of the soul is with the dedicated personality. Such is not the case. The soul is very little aware of the personality nature, its disposition and ideas. The soul can be conscious of the limitations within the personality and of the barriers opposed to the inflow of soul energy, but the details are of no interest to the soul. The soul is occupied with recognising hierarchical planning, with registering world need, and with responding (faintly, very faintly at first) to the developing monadic inflow. These attitudes and reactions of the soul (upon its own plane of being) affect profoundly and fundamentally the personality life and produce those basic changes which evoke the vocation of the disciple. The disciple is occupied with vocation and not so much with evocation. (I would call this to the attention of [Page 68] D.H.B. This type of evoked response is in the nature of illusion. He will know to what I am referring.)
[12] 4. Sự gợi lên một cảm nhận mạnh mẽ về linh hồn bên trong phàm ngã. Điều này cũng có thể dẫn đến việc nhấn mạnh thái độ của linh hồn đối với đời sống phàm ngã và có thể gây ngộ nhận nghiêm trọng. Qua những lời nhận xét, phê bình, khích lệ và hoạch định mà linh hồn (dường như) lên tiếng bày tỏ, có vẻ như mối quan tâm chính của linh hồn là phàm ngã tận hiến. Thực tế không phải vậy. Linh hồn rất ít nhận biết bản chất phàm ngã, khuynh hướng và những ý tưởng của nó. Linh hồn có thể có ý thức về những giới hạn trong phàm ngã và những rào cản đối với dòng năng lượng linh hồn tuôn vào, nhưng linh hồn không quan tâm đến các chi tiết. Linh hồn chuyên chú vào việc nhận biết sự hoạch định của Thánh đoàn, ghi nhận nhu cầu thế giới và đáp ứng (thoạt đầu yếu ớt, rất yếu ớt) với dòng năng lượng chân thần ngày càng tuôn vào. Những thái độ và phản ứng này của linh hồn (trên chính cõi hiện tồn của nó) tác động sâu sắc và căn bản đến đời sống phàm ngã, tạo ra những thay đổi nền tảng khơi dậy thiên chức của đệ tử. Đệ tử chuyên chú vào thiên chức chứ không quá chú trọng đến sự gợi lên. (Tôi muốn lưu ý [Page 68] D.H.B. về điều này. Kiểu đáp ứng được gợi lên như thế mang bản chất ảo tưởng. D.H.B. sẽ biết Tôi đang đề cập đến điều gì.)
[13] 5. The danger of "Imperil," as the Master Morya has called it. This is somewhat erroneously interpreted as irritation by the neophyte, [14] but it is not in fact irritation in the ordinary connotation of the word. [15] The surface ripples of ordinary irritation and the evanescent angers [16] to which all disciples are prone are relatively of small importance. They pass and, in the sum total of the soul's attitudes to the personality, evoke no response or registration whatsoever. [17] What is referred to is the reaction of the disciple to world evil. [18] This produces uncertainty as to the future, annoyance at what is being done throughout the planet by non-disciples, criticism of national and international planning and a general atmosphere of unhappiness, plus a sense of superior knowledge. [19] All this is expressed in a negative, unconstructive manner. [20] To this many disciples are today prone; [21] they need to realise that world affairs are not and cannot be moulded or determined by any hierarchical knowledge in the possession of the disciple. [22] World affairs and conditions have necessarily to be based upon the demand and the point in evolution of the mass of humanity, working through their representatives, chosen or imposed, in every country. [23] This demand can be and is affected, modified and spiritualised by the attitude and the teaching of disciples everywhere who are vocal and of humanitarian instinct. [24] If, however, the will and knowledge of disciples in all nations were to condition world affairs and control entirely the political, economic and social life of the people, it would produce a far more serious cleavage than now exists, [25] for instance between the rich and the poor, or between the classes and the castes. It would produce a pronounced line of demarcation between the Kingdom of God [26] and the kingdom of men. This would run counter to hierarchical intention, which is rapidly healing the existent breach, and thus offset the work which Christ set out to do on Earth. [27] This point is often overlooked by well-intentioned disciples. It is humanity which determines its own destiny. Disciples point the way, indicate the vision, [28] set a needed example and emphasise [29] the ancient landmarks.
[13] 5. Mối nguy hiểm của “Hiểm độc”, như Chân sư Morya đã gọi. Người sơ cơ hiểu điều này là sự cáu kỉnh, một cách hiểu phần nào sai lầm, [14] nhưng thực ra nó không phải là sự cáu kỉnh theo nghĩa thông thường của từ này. [15] Những gợn sóng trên bề mặt của sự cáu kỉnh thông thường và những cơn giận thoáng qua [16] mà mọi đệ tử đều dễ mắc phải tương đối ít quan trọng. Chúng qua đi và, xét toàn bộ thái độ của linh hồn đối với phàm ngã, không gợi lên bất kỳ sự đáp ứng hay ghi nhận nào. [17] Điều được nói đến ở đây là phản ứng của đệ tử trước cái ác trên thế giới. [18] Điều này sinh ra sự bất an về tương lai, sự bực bội trước những việc mà những người chưa phải là đệ tử đang làm trên khắp hành tinh, sự phê phán việc hoạch định ở cấp quốc gia và quốc tế cùng một bầu không khí bất mãn nói chung, cộng thêm cảm giác mình hiểu biết hơn người. [19] Tất cả những điều này đều biểu lộ theo cách tiêu cực, thiếu tính xây dựng. [20] Ngày nay, nhiều đệ tử dễ rơi vào tình trạng ấy; [21] họ cần nhận ra rằng bất kỳ tri thức nào của Thánh đoàn mà đệ tử có được đều không định hình hay quyết định, và cũng không thể định hình hay quyết định, các vấn đề thế giới. [22] Các vấn đề và tình trạng thế giới nhất thiết phải dựa trên yêu cầu và điểm tiến hoá của đại đa số nhân loại, thông qua những người đại diện của họ, dù do lựa chọn hay áp đặt, tại mỗi quốc gia. [23] Thái độ và lời giảng dạy của các đệ tử ở khắp nơi, những người lên tiếng và có bản năng nhân đạo, có thể và thực sự đang tác động, điều chỉnh và tinh thần hóa yêu cầu này. [24] Tuy nhiên, nếu ý chí và tri thức của các đệ tử trong mọi quốc gia định hình các vấn đề thế giới và kiểm soát hoàn toàn đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của người dân, thì điều đó sẽ tạo ra sự chia rẽ nghiêm trọng hơn nhiều so với hiện nay, [25] chẳng hạn giữa người giàu và người nghèo, hoặc giữa các giai cấp và các đẳng cấp. Điều đó sẽ tạo ra một ranh giới phân chia rõ rệt giữa Thiên Giới [26] và giới con người. Điều này sẽ đi ngược lại chủ định của Thánh đoàn, vốn đang nhanh chóng hàn gắn sự chia rẽ hiện hữu, và do đó hóa giải công việc mà Đức Christ đã bắt đầu thực hiện trên Trái Đất. [27] Các đệ tử có thiện ý thường bỏ qua điểm này. Chính nhân loại quyết định vận mệnh của mình. Các đệ tử chỉ đường, chỉ ra tầm nhìn, [28] nêu tấm gương cần thiết và nhấn mạnh [29] những cột mốc từ ngàn xưa.
Esoteric Healing, pgs 67–71 – Trị Liệu Huyền Môn, trang 67–71
[30] We hear much today about auto-intoxication, and many efforts are made to cure this by diet and the regulation of the life in terms of rhythmic living. [31] All this is good and of help, but it does not constitute a basic cure, as its protagonists would lead us to believe. [32] Irritation is a basic psychological complaint and has its roots in the intensification of the astral body, which definitely produces abnormal effects upon the nervous system. [33] It is a disease of self-interest, of self-sufficiency, and of self-satisfaction. [34] Again I would say, ponder on these terms, for these three aspects of irritation are of general discovery. We will therefore [Page 68] deal with irritation, “imperil,” as it is called by exponents of the first ray, such as the Master M.
[30] Ngày nay, chúng ta nghe nói nhiều về tình trạng tự nhiễm độc, và người ta thực hiện nhiều nỗ lực chữa trị bằng chế độ ăn uống và điều chỉnh đời sống theo nhịp điệu sinh hoạt đều đặn. [31] Tất cả những điều này đều tốt và hữu ích, nhưng không tạo thành phương pháp chữa trị tận gốc như những người cổ xúy chúng muốn chúng ta tin. [32] Sự cáu kỉnh là một chứng rối loạn tâm lý căn bản, bắt nguồn từ sự tăng cường hoạt động của thể cảm dục, điều chắc chắn gây ra những tác động bất thường lên hệ thần kinh. [33] Đó là căn bệnh của sự tư lợi, tự mãn về khả năng tự lo liệu và hài lòng với bản thân. [34] Một lần nữa, Tôi muốn nói: hãy suy ngẫm về những từ này, vì ba phương diện ấy của sự cáu kỉnh đều có thể nhận thấy phổ biến. Vì vậy, chúng ta sẽ [Page 68] bàn đến sự cáu kỉnh, “hiểm độc”, như cách gọi của những vị tiêu biểu cho cung một, chẳng hạn Chân sư M.
[35] These problems will demonstrate to you how intensely difficult it is for men to face up to life. [36] It will be obvious that the problems of worry [37] and irritation [38] (called by the Master Morya “imperil”) are many and must be considered.
[35] Những vấn đề này sẽ cho các bạn thấy con người vô cùng khó khăn đến mức nào khi phải đối diện với cuộc sống. [36] Rõ ràng là những vấn đề liên quan đến sự lo âu [37] và cáu kỉnh [38] (mà Chân sư Morya gọi là “hiểm độc”) có rất nhiều và cần được xem xét.
[39] Why are these difficulties of the astral body so “perilous” and so serious? Worry and Irritation are dangerous because:
[39] Vì sao những khó khăn này của thể cảm dục lại “nguy hiểm” và nghiêm trọng đến thế? Lo âu và Cáu kỉnh nguy hiểm vì:
[40] 1. They lower the vitality of the man to such a point that he becomes susceptible to disease. [41] The scourge of influenza [42] has its roots in fear and worry, and once the world settles down to freedom from the present “fearful” condition, we shall see the disease die out.
[40] 1. Chúng làm giảm sinh lực của con người đến mức y dễ mắc bệnh. [41] Tai họa dịch cúm [42] bắt nguồn từ sợ hãi và lo âu, và một khi thế giới ổn định trong trạng thái thoát khỏi tình trạng “đầy sợ hãi” hiện nay, chúng ta sẽ thấy căn bệnh ấy dần biến mất.
[43] 2. They are so highly infectious from the astral point of view that they lower in a peculiar manner the astral atmosphere, and thus make it hard for people—in the astral sense—to breathe freely.
[43] 2. Xét từ quan điểm cảm dục, chúng có tính lây nhiễm mạnh đến mức làm suy giảm bầu không khí cảm dục theo một cách đặc biệt, và do đó khiến con người khó thở một cách tự do—xét theo nghĩa cảm dục.
[44] 3. Because the astral conditions of fear, worry and irritation are so widespread today that they might be regarded as epidemic, in a planetary sense.
[44] 3. Vì ngày nay những trạng thái cảm dục như sợ hãi, lo âu và cáu kỉnh lan rộng đến mức có thể xem chúng là dịch bệnh, theo nghĩa toàn hành tinh.
[45] 4. Because irritation (I speak not here of worry) is inflammatory in its effects[46] —and inflammation is hard to bear—and leads to much difficulty. It is interesting to note that certain forms of eye trouble are caused by this. [Page 71]
[45] 4. Vì sự cáu kỉnh (ở đây Tôi không nói đến lo âu) gây ra tác động viêm nhiễm[46] —mà viêm nhiễm thì khó chịu đựng—và dẫn đến nhiều khó khăn. Điều đáng chú ý là một số dạng bệnh về mắt bắt nguồn từ điều này. [Page 71]
[47] 5. Because worry and irritation prevent true vision. They shut out the view. The man who is the victim of these conditions sees nothing but the cause of his complaints and is so submerged through self-pity, self-consideration, or in a focused negative condition, that his vision is narrowed and his group hindered. Remember that there is group selfishness as well as individual selfishness.
[47] 5. Vì lo âu và cáu kỉnh ngăn cản tầm nhìn chân thực. Chúng che khuất tầm mắt. Người là nạn nhân của những trạng thái này không thấy gì ngoài nguyên nhân gây ra nỗi bất mãn của mình, và chìm đắm trong sự tự thương hại, quá quan tâm đến bản thân hoặc tập trung vào một trạng thái tiêu cực đến mức tầm nhìn của y bị thu hẹp và nhóm của y bị cản trở. Hãy nhớ rằng có sự ích kỷ của nhóm cũng như sự ích kỷ của cá nhân.
[48] I have cited sufficient reasons for the effects of Worry and Irritation to demonstrate to you the wideness of the difficulty. It is not much use at this time to talk of the remedy. One does not say to an influenza patient (when the worst throes of the disease are upon him), “There is nothing the matter. Pay no attention. Get up and go about your business.” It is no use saying to men today, “Do not fear. Leave off worrying. All will be well.” They will not believe you, for one thing—and that is fortunate, for it is not true. [49] Things are not well and humanity and the planetary life are not well. This, the Hierarchy knows, and is working for the amelioration of the conditions. When the throes of the “planetary influenza” are over (and the patient will not die), then investigation can be made and effort produced which can prevent a recurrence. [50] At present, all that can be done is to keep the patient quiet and also keep the fever down. [51] This is the work of the New Group of World Servers and the intelligent men of goodwill. Their name is Legion.
[48] Tôi đã nêu đủ lý do về những tác động của Lo âu và Cáu kỉnh để cho các bạn thấy phạm vi rộng lớn của khó khăn này. Vào lúc này, bàn đến phương pháp chữa trị không có nhiều ích lợi. Người ta không nói với một bệnh nhân cúm (khi y đang trải qua những cơn hành bệnh dữ dội nhất): “Không có vấn đề gì cả. Đừng để ý. Hãy đứng dậy và lo công việc của mình.” Nói với con người ngày nay rằng: “Đừng sợ. Hãy ngừng lo âu. Mọi việc rồi sẽ ổn” cũng vô ích. Trước hết, họ sẽ không tin các bạn—và điều đó thật may mắn, vì lời ấy không đúng sự thật. [49] Mọi việc đều không ổn, nhân loại và sự sống hành tinh cũng không ổn. Thánh đoàn biết điều này và đang nỗ lực cải thiện tình trạng ấy. Khi những cơn hành bệnh của “dịch cúm hành tinh” qua đi (và bệnh nhân sẽ không chết), bấy giờ có thể tiến hành khảo sát và thực hiện những nỗ lực để ngăn ngừa tái phát. [50] Hiện nay, tất cả những gì có thể làm là giữ cho bệnh nhân yên tĩnh và hạ sốt. [51] Đây là công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người thiện chí thông minh. Số lượng họ đông vô kể.
Glamour Webinar 149 – Hội thảo trực tuyến về Ảo Cảm 149
Michael D. Robbins • Book pages 151–152
Michael D. Robbins • Trang sách 151–152
Good evening, everyone. Here from Finland, and we are on our webinar 149 and our reading number 89. We’re beginning on page 151 of the Glamour book and we’re going to focus just on a paragraph here from the Glamour book and an additional short compilation on imperil as Master Morya has named it, and as the Tibetan has elaborated upon it.
Chào buổi tối, tất cả các bạn. Tôi đang ở Phần Lan, và đây là buổi hội thảo trực tuyến thứ 149, cũng là buổi đọc sách thứ 89 của chúng ta. Chúng ta bắt đầu ở trang 151 của sách Ảo Cảm và sẽ chỉ tập trung vào một đoạn trong sách Ảo Cảm cùng một bản biên soạn ngắn bổ sung về hiểm độc, theo cách gọi của Chân sư Morya và như Chân sư Tây Tạng đã giảng giải thêm.
I just want to welcome you. There is someone on a special number, so I do not know who that is. Hi, Alex, Anne, Annette, Britta, Carl, Catherine, Cindy, Francois, Frederick, Jesse, Joe Garceau, Joan, Johee, Karen, Kim, Leslie, Lori, Lorraine, Mariana, Martha, Nathalie, Janka, Olivia, Pegg, Risto, Suzanne, Tia, Vicky, Winnie, Zenaidi and Ann Veronica. Over on the other side, Michael, BL and Jo Waltz are keeping things on a steady and even keel. We will do the Great Invocation at the closing. Just align with an inner source of wisdom, however you do that. We'll do the great invocation at the closing and just to align with an inner source of wisdom however you do that.
Tôi muốn chào đón các bạn. Có người đang dùng một số đặc biệt, nên tôi không biết đó là ai. Xin chào Alex, Anne, Annette, Britta, Carl, Catherine, Cindy, Francois, Frederick, Jesse, Joe Garceau, Joan, Johee, Karen, Kim, Leslie, Lori, Lorraine, Mariana, Martha, Nathalie, Janka, Olivia, Pegg, Risto, Suzanne, Tia, Vicky, Winnie, Zenaidi và Ann Veronica. Ở phía bên kia, Michael, BL và Jo Waltz đang giữ cho mọi việc diễn ra ổn định và suôn sẻ. Chúng ta sẽ đọc Đại Khấn Nguyện vào lúc kết thúc. Các bạn hãy chỉnh hợp với một nguồn minh triết bên trong, theo bất cứ cách nào các bạn vẫn thực hiện. Chúng ta sẽ đọc Đại Khấn Nguyện vào lúc kết thúc; còn bây giờ, hãy chỉnh hợp với một nguồn minh triết bên trong, theo bất cứ cách nào các bạn vẫn thực hiện.
We’ll begin our reading about this factor called Imperil. It can be used as a noun, which is unusual, and that’s how master M. Usually uses it, and Master DK also, or as a verb. Occasionally, they do that. On page 151, DK tells us:
Chúng ta sẽ bắt đầu đọc về yếu tố gọi là hiểm độc này. Từ này có thể dùng như một danh từ, một cách dùng khác thường, và đó là cách Chân sư M. thường sử dụng; Chân sư DK cũng vậy. Hoặc nó có thể dùng như một động từ. Đôi khi, Các Ngài dùng theo cách đó. Ở trang 151, Chân sư DK nói với chúng ta:
[1] I would also like, at this point, to touch upon a factor of real importance in this work and to repeat my earlier warning:
[1] Ở đây, Tôi cũng muốn đề cập đến một yếu tố thực sự quan trọng trong công việc này và nhắc lại lời cảnh báo trước đây của Tôi:
He does talk about factors which the sensitive disciple has to take into consideration.
Ngài có nói đến những yếu tố mà người đệ tử nhạy cảm phải cân nhắc.
[2] Will you remember that the effort to free yourselves from irritation or from what is called in Agni Yoga “imperil” (a peculiar yet satisfying word, my brothers)
[2] Các bạn hãy nhớ rằng nỗ lực giải thoát bản thân khỏi sự cáu kỉnh hay khỏi điều mà trong Agni Yoga gọi là “hiểm độc” (một từ khác thường nhưng diễn đạt thỏa đáng, hỡi các huynh đệ của Tôi)
This is interesting because so often you know with Master DK he doesn’t at all feel satisfied with the words that he is compelled to use because of the English language. So, when he says it’s satisfying, then we know it has value to express what he intends. The effort to free ourselves.
Điều này thật thú vị, vì rất thường xuyên, Chân sư DK hoàn toàn không thấy thỏa đáng với những từ mà Ngài buộc phải dùng do những giới hạn của tiếng Anh. Vì vậy, khi Ngài nói từ này thỏa đáng, chúng ta biết rằng nó có giá trị trong việc diễn đạt điều Ngài muốn nói. Nỗ lực giải thoát chính mình.
[3] is particularly essential for this group?
[3] là điều đặc biệt thiết yếu đối với nhóm này.
This is the Observers of Reality, group the second of the Seed Groups which he was cultivating.
Đây là nhóm Những Người Quan Sát Thực Tại, nhóm thứ hai trong các Nhóm hạt giống mà Ngài đang vun bồi.
[4] Irritation is exceedingly prevalent these days of nervous tension and it most definitely imperils
[4] Sự cáu kỉnh hết sức phổ biến trong những ngày căng thẳng thần kinh này, và nó chắc chắn [Page 152] gây nguy hại cho
Now there he uses as a verb.
Ở đây, Ngài dùng từ ấy như một động từ.
and it most definitely imperils
và chắc chắn nó gây nguy hại
[5] progress and retards the steps of the disciple upon the Way.
[5] sự tiến bộ, đồng thời làm chậm bước chân của đệ tử trên Đường Đạo.
Somewhere in these books, he speaks of the Christ in terms of a state of mind which can be called, I think, he calls it calmness forever unperturbed. Calmness forever unperturbed. I mean it’s quite different from the factor that we are now going to take up. It retards our steps upon the way.
Ở đâu đó trong những cuốn sách này, Ngài nói về Đức Christ qua một trạng thái của thể trí có thể gọi là — tôi nghĩ Ngài gọi đó là sự bình thản mãi mãi không xao động. Sự bình thản mãi mãi không xao động. Ý tôi là trạng thái ấy hoàn toàn khác với yếu tố mà chúng ta sắp xem xét. Nó làm chậm bước chân của chúng ta trên Đường Đạo.
[6] It can produce dangerous group tension if present in any of you, and this induced group tension can interfere with the free play of the power and light which you are supposed to use, even when the other group members remain unconscious of the emanating source.
[6] Nếu hiện diện nơi bất kỳ ai trong các bạn, nó có thể tạo ra sự căng thẳng nguy hiểm trong nhóm; sự căng thẳng nảy sinh như thế có thể cản trở quyền năng và ánh sáng mà các bạn cần sử dụng phát huy tác dụng một cách tự do, ngay cả khi các thành viên khác trong nhóm vẫn không nhận biết nguồn phát ra sự căng thẳng ấy.
DK is always remarking about how the unnoticed attitude of the disciple in a group contributes to the good or to the not-so-good. He sees subjectively exactly what we are contributing to the group process, and even though these factors are invisible to other group members, to him they are definitely important, and he tells us about them, I mean or at least he told his students about them and identified them and wanted them to take corrective action.
Chân sư DK luôn nhận xét rằng thái độ không ai để ý của một đệ tử trong nhóm góp phần tạo nên điều tốt hoặc điều không mấy tốt như thế nào. Về mặt chủ quan, Ngài thấy chính xác chúng ta đang đóng góp điều gì vào tiến trình của nhóm. Dù những thành viên khác trong nhóm không thấy các yếu tố này, đối với Ngài chúng chắc chắn quan trọng, và Ngài nói với chúng ta về chúng — hay ít nhất, Ngài đã nói với các môn sinh của Ngài, chỉ rõ chúng và muốn họ có hành động điều chỉnh.
[7] Irritation definitely generates a poison which locates itself in the region of the stomach and of the solar plexus.
[7] Sự cáu kỉnh chắc chắn sinh ra một chất độc tích tụ ở vùng dạ dày và tùng thái dương.
Well you know Let’s say Mars, the normal ruler of the solar plexus for average humanity, is a planet that induces friction and irritation. You kind of wonder how Alice Bailey survived all that. She had, Mars rising in Leo. Well I think she was with her first ray personality, kind of a commanding Presence, and she had a great sense of humor. So, the story goes which can offset a lot of the irritability that maybe goes with group work in which the group members are not quite schooled regarding its danger.
Sao Hỏa, chủ tinh thông thường của tùng thái dương đối với nhân loại ở mức phát triển trung bình, là một hành tinh gây ra sự cọ xát và bực bội. Các bạn hẳn cũng tự hỏi làm sao Alice Bailey vượt qua được tất cả những điều đó. Bà có Sao Hỏa đang mọc trong Sư Tử. Tôi nghĩ rằng, với phàm ngã cung một, Bà có một phong thái đầy uy quyền, và Bà rất có óc hài hước. Theo những gì người ta kể lại, óc hài hước ấy có thể hóa giải phần lớn sự dễ bực bội có lẽ đi kèm với công việc nhóm khi các thành viên chưa được chỉ dạy đầy đủ về mối nguy của nó.
Irritation definitely generates a poison which locates itself in the region of the stomach and of the solar plexus.
Sự bực bội chắc chắn sinh ra một chất độc tích tụ ở vùng dạ dày và tùng thái dương.
You know Probably a lot of those digestive issues and stomach ulcers and other problems there are aided and abetted by this factor of imperil.
Có lẽ yếu tố hiểm độc này tiếp tay cho nhiều vấn đề tiêu hóa, chứng loét dạ dày và những vấn đề khác ở vùng đó.
[8] Irritation is a disease, if I might use that word, of the solar plexus center and it is definitely contagious to an almost alarming extent.
[8] Nếu Tôi có thể dùng từ ấy, sự cáu kỉnh là một căn bệnh của trung tâm tùng thái dương, và nó quả thực có tính lây lan đến mức gần như đáng báo động.
You know we have all been in groups where the I think Morya talks about you know irritation spreading like pepper dust in the group field, and everybody starts to sneeze. So we I think we know something about how catching it, can be.
Tất cả chúng ta đều từng ở trong những nhóm mà — tôi nghĩ Chân sư Morya có nói đến điều này — sự bực bội lan ra như bụi tiêu trong trường của nhóm, và mọi người đều bắt đầu hắt hơi. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta phần nào biết được nó có thể lây lan đến mức nào.
definitely contagious to an almost alarming extent.
chắc chắn nó có tính lây lan đến mức gần như đáng báo động.
[9] So, my brothers, watch yourselves with care and remember that just in so far as you can live in the head and in the heart,
[9] Vì vậy, hỡi các huynh đệ của Tôi, hãy cẩn thận tự quan sát và nhớ rằng các bạn sống trong đầu và trong tim được đến đâu,
I guess not the solar plexus.
Tôi đoán là không phải trong tùng thái dương.
[10] you will end the disease of imperil and aid in the transference of the forces of the solar plexus into the heart center.
[10] thì sẽ chấm dứt căn bệnh hiểm độc đến đó, đồng thời giúp chuyển dịch các mãnh lực của tùng thái dương vào trung tâm tim.
Well think of it somewhere between the first and second initiation, this transference from solar plexus to heart is really activated. Now, if you are a disciple esoterically inclined, even a true aspirant, your solar plexus is ruled not so much by Mars, or at least there is a contest going on in your solar plexus center between Mars and Neptune.
Hãy nghĩ xem, ở một giai đoạn nào đó giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, sự chuyển dịch từ tùng thái dương lên tim này thực sự được kích hoạt. Nếu các bạn là đệ tử có khuynh hướng huyền bí, thậm chí là người chí nguyện chân chính, thì tùng thái dương của các bạn không còn chịu sự cai quản của Sao Hỏa nhiều đến thế; hoặc ít nhất, trong trung tâm tùng thái dương của các bạn đang diễn ra một cuộc tranh chấp giữa Sao Hỏa và Sao Hải Vương.
So you'll see you know those lists on page 517 of Esoteric Astrology you know the centers and the planetary rulers of those centers- chakras for the average human being, non aspiring, and then for the aspirant and disciple, the spiritually inclined person. Things are probably more tranquil when the solar plexus is ruled by Neptune than when it’s ruled by Mars, and in Discipleship in the New Age II, he deals with a lower point within the solar plexus which is Martian and a higher point within the solar plexus which is Neptunian and more akin to the heart vibration. Neptune is interesting because it has in all probability a sixth ray soul and definitely a second-ray monad.
Các bạn sẽ thấy những danh sách ấy ở trang 517 của Chiêm Tinh Học Nội Môn: các trung tâm cùng những hành tinh chủ quản của chúng — tức các luân xa của người bình thường chưa có khát vọng, rồi đến các luân xa của người chí nguyện và đệ tử, những người có khuynh hướng tinh thần. Có lẽ mọi việc yên bình hơn khi Sao Hải Vương cai quản tùng thái dương so với khi Sao Hỏa cai quản nó. Trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II, Ngài bàn đến một điểm thấp hơn bên trong tùng thái dương thuộc Sao Hỏa, và một điểm cao hơn bên trong tùng thái dương thuộc Sao Hải Vương, gần với rung động của tim hơn. Sao Hải Vương thật thú vị, vì rất có thể hành tinh này có linh hồn cung sáu và chắc chắn có chân thần cung hai.
You can see how that transference could work out from the sixth ray solar plexus to the second ray heart center. Anyway, we can’t really take the second initiation until the light of Venus, the aspiration of Neptune, and the inclusiveness of Jupiter have done their work. In your Esoteric Astrology book, page 70 and 71, you will find those planets which are active in the taking of various initiations, and as you see Venus, Neptune, and Jupiter, all of them but in different places, have a very strong second ray which is what is supposed to begin conditioning the astral body of the initiate of the second degree.
Các bạn có thể thấy sự chuyển dịch ấy có thể diễn ra như thế nào, từ tùng thái dương cung sáu lên trung tâm tim cung hai. Dù sao, chúng ta thực sự không thể trải qua lần điểm đạo thứ hai cho đến khi ánh sáng của Sao Kim, khát vọng của Sao Hải Vương và tính bao gồm của Sao Mộc đã hoàn thành công việc của chúng. Trong sách Chiêm Tinh Học Nội Môn, ở trang 70 và 71, các bạn sẽ tìm thấy những hành tinh hoạt động trong các lần điểm đạo khác nhau. Như các bạn thấy, Sao Kim, Sao Hải Vương và Sao Mộc đều có ảnh hưởng cung hai rất mạnh, dù ở những vị trí khác nhau; chính ảnh hưởng ấy cần bắt đầu tác động để định hình thể cảm dục của điểm đạo đồ bậc hai.
It’s a struggle with Mars and Pluto before that initiation can be taken, and you can enter the stream as it were, and be borne along via the ashram, toward the ashram, or you can still suffer in the anxiety and conflict of the lesser planets. But Venus Jupiter and Neptune are all involved in making the second initiation a fact in your life. Now, what is over here is where I’m going to stop the reading, specifically in the glamour book, and turn to this little compilation. Michael reminded me that we had this to deal with, so I just brought a few things together.
Trước khi có thể trải qua cuộc điểm đạo ấy, phải có một cuộc đấu tranh với Sao Hỏa và Sao Diêm Vương. Các bạn có thể nhập vào dòng chảy, có thể nói như vậy, rồi được đưa đi qua ashram, hướng đến ashram; hoặc các bạn vẫn có thể chịu đựng sự lo âu và xung đột của những hành tinh kém cao cả hơn. Nhưng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Hải Vương đều tham gia vào việc khiến lần điểm đạo thứ hai trở thành hiện thực trong cuộc đời các bạn. Đến đây, tôi sẽ dừng phần đọc, cụ thể là trong sách Ảo Cảm, và chuyển sang bản biên soạn ngắn này. Michael đã nhắc tôi rằng chúng ta cần bàn đến điều này, nên tôi vừa tập hợp một vài đoạn lại.
Not long. There’s eight references and I think two of them are not on our subject. Here is the first one. These are all a question of the factors to which the disciple is sensitive. I’m not sure what are they the proceeding for you know The astral or emotional vortex that humanity lives in and then The glamour on the astral plane produced by the cry of humanity and the spiritual energies of the Planetary Logos and the retreating forces of evil. That’s quite a mixture.
Không dài đâu. Có tám đoạn tham khảo, và tôi nghĩ hai đoạn trong số đó không thuộc chủ đề của chúng ta. Đây là đoạn đầu tiên. Tất cả đều liên quan đến những yếu tố mà người đệ tử nhạy cảm. Tôi không chắc những điểm trước đó là gì: xoáy cảm dục hay cảm xúc mà nhân loại đang sống trong đó, rồi đến ảo cảm trên cõi cảm dục do tiếng kêu của nhân loại tạo ra, các năng lượng tinh thần của Hành Tinh Thượng đế và những mãnh lực tà ác đang rút lui. Quả là một sự pha trộn phức tạp.
[11] 3. The stimulation to which the lower vehicles of a disciple are unavoidably subjected.
[11] 3. Sự kích thích mà các hiện thể thấp của đệ tử không thể tránh khỏi. Điều này gợi lên sự biểu lộ trọn vẹn mọi phẩm tính vốn có của y, cả tốt lẫn xấu. Mọi điều trong bản chất của y đều trở nên mạnh mẽ hơn, và y càng phát triển về trí tuệ thì càng nhận biết một cách có ý thức những điều được mặc khải này. Nếu y hướng đến sự biểu lộ của đời sống mình trong ba cõi giới, y có thể phải chịu đựng một giai đoạn chán nản, tự trách và thường cả hoài nghi, do đó làm giảm khả năng đóng góp chung của y.
The disciple is sensitive to that.
Người đệ tử nhạy cảm với điều đó.
[12] 4. The evocation of a strong sense of the soul within the personality.
[12] 4. Sự gợi lên một cảm nhận mạnh mẽ về linh hồn bên trong phàm ngã. Điều này cũng có thể dẫn đến việc nhấn mạnh thái độ của linh hồn đối với đời sống phàm ngã và có thể gây ngộ nhận nghiêm trọng. Qua những lời nhận xét, phê bình, khích lệ và hoạch định mà linh hồn (dường như) lên tiếng bày tỏ, có vẻ như mối quan tâm chính của linh hồn là phàm ngã tận hiến. Thực tế không phải vậy. Linh hồn rất ít nhận biết bản chất phàm ngã, khuynh hướng và những ý tưởng của nó. Linh hồn có thể có ý thức về những giới hạn trong phàm ngã và những rào cản đối với dòng năng lượng linh hồn tuôn vào, nhưng linh hồn không quan tâm đến các chi tiết. Linh hồn chuyên chú vào việc nhận biết sự hoạch định của Thánh đoàn, ghi nhận nhu cầu thế giới và đáp ứng (thoạt đầu yếu ớt, rất yếu ớt) với dòng năng lượng chân thần ngày càng tuôn vào. Những thái độ và phản ứng này của linh hồn (trên chính cõi hiện tồn của nó) tác động sâu sắc và căn bản đến đời sống phàm ngã, tạo ra những thay đổi nền tảng khơi dậy thiên chức của đệ tử. Đệ tử chuyên chú vào thiên chức chứ không quá chú trọng đến sự gợi lên. (Tôi muốn lưu ý [Page 68] D.H.B. về điều này. Kiểu đáp ứng được gợi lên như thế mang bản chất ảo tưởng. D.H.B. sẽ biết Tôi đang đề cập đến điều gì.)
All of these are factors to which the disciple is sensitive. Then comes the fifth point which is this imperil, that we’ve been discussing, and as we discuss this or at least read from it, you can make notes to yourself as to the degree to which you find that you suffer occasionally or more consistently from imperil. But let's you know further refine the word. Not every casual loss of temper is necessarily the kind of imperil. That Master DK is discussing.
Tất cả đều là những yếu tố mà người đệ tử nhạy cảm. Rồi đến điểm thứ năm, chính là hiểm độc mà chúng ta đang thảo luận. Khi chúng ta thảo luận về điều này, hay ít nhất đọc về nó, các bạn có thể tự ghi chú xem mình thỉnh thoảng, hay thường xuyên hơn, chịu đựng hiểm độc đến mức nào. Nhưng chúng ta hãy làm rõ hơn ý nghĩa của từ này. Không phải mọi lần mất bình tĩnh thoáng qua đều nhất thiết là loại hiểm độc mà Chân sư DK đang bàn đến.
Here is that fifth point regarding that to which the disciple is subjected because of his or her sensitivity.
Đây là điểm thứ năm, nói về điều mà người đệ tử phải chịu do tính nhạy cảm của mình.
[13] 5. The danger of "Imperil," as the Master Morya has called it. This is somewhat erroneously interpreted as irritation by the neophyte,
[13] 5. Mối nguy hiểm của “Hiểm độc”, như Chân sư Morya đã gọi. Người sơ cơ hiểu điều này là sự cáu kỉnh, một cách hiểu phần nào sai lầm,
He’s giving a different point of view here, isn’t he?
Ở đây, Ngài đưa ra một góc nhìn khác, phải không?
[14] but it is not in fact irritation in the ordinary connotation of the word.
[14] nhưng thực ra nó không phải là sự cáu kỉnh theo nghĩa thông thường của từ này.
Actually, When I first read this, I found it a little bit surprising, because there are so many undesirable effects of even ordinary irritation. DK does comment upon ordinary irritation as well. But in this particular, yeah, this particular paragraph which is taken from Discipleship 2, page 68, He goes at it in a different way.
Thực ra, khi lần đầu đọc đoạn này, tôi thấy hơi ngạc nhiên, vì ngay cả sự bực bội thông thường cũng gây ra rất nhiều tác động không mong muốn. Chân sư DK cũng có bình luận về sự bực bội thông thường. Nhưng trong đoạn cụ thể này, trích từ Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II, trang 68, Ngài tiếp cận vấn đề theo một cách khác.
[15] The surface ripples of ordinary irritation and the evanescent angers
[15] Những gợn sóng trên bề mặt của sự cáu kỉnh thông thường và những cơn giận thoáng qua
They are fleeting, evanescent angers.
Đó là những cơn giận thoáng qua, chóng tan.
[16] to which all disciples are prone are relatively of small importance. They pass and, in the sum total of the soul's attitudes to the personality, evoke no response or registration whatsoever.
[16] mà mọi đệ tử đều dễ mắc phải tương đối ít quan trọng. Chúng qua đi và, xét toàn bộ thái độ của linh hồn đối với phàm ngã, không gợi lên bất kỳ sự đáp ứng hay ghi nhận nào.
Basically DK does emphasize the idea that the soul on its own plane, and by that we do mean a higher being who is supervising the development of the extended monad, the monad in extension, our Self as it were, projected down into the lower worlds. We have a supervisor but the supervisor doesn’t really pay attention to a lot of the things that we think it might attend to. It doesn't register. It’s not really important to that overshadowing Being that is part of our consciousness or has extended itself in some measure into our consciousness on the mental plane.
Về cơ bản, Chân sư DK quả có nhấn mạnh ý tưởng rằng linh hồn trên cõi riêng của mình — ở đây chúng ta thực sự muốn nói đến một sinh mệnh cao hơn đang giám sát sự phát triển của chân thần được mở rộng, Chân Thần-trong-sự-mở-rộng, có thể nói là Bản Ngã của chúng ta, phóng chiếu xuống các cõi thấp. Chúng ta có một đấng giám sát, nhưng đấng giám sát ấy thực sự không chú ý đến nhiều điều mà chúng ta nghĩ rằng Ngài có thể quan tâm. Ngài không ghi nhận chúng. Chúng không thực sự quan trọng đối với Sinh Mệnh phủ bóng ấy, vốn là một phần tâm thức của chúng ta, hoặc đã mở rộng chính mình đến một mức độ nào đó vào tâm thức của chúng ta trên cõi trí.
[17] What is referred to is the reaction of the disciple to world evil.
[17] Điều được nói đến ở đây là phản ứng của đệ tử trước cái ác trên thế giới.
Now, this is really a different point of view, isn’t it? When DK gives a keener definition of imperil, it is the reaction, regarding the reaction, of the disciple to world evil.
Đây thực sự là một góc nhìn khác, phải không? Khi Chân sư DK định nghĩa hiểm độc một cách sắc sảo hơn, điều ấy liên quan đến phản ứng của người đệ tử trước cái ác trên thế gian.
[18] This produces uncertainty as to the future, annoyance at what is being done throughout the planet by non-disciples, criticism of national and international planning and a general atmosphere of unhappiness, plus a sense of superior knowledge.
[18] Điều này sinh ra sự bất an về tương lai, sự bực bội trước những việc mà những người chưa phải là đệ tử đang làm trên khắp hành tinh, sự phê phán việc hoạch định ở cấp quốc gia và quốc tế cùng một bầu không khí bất mãn nói chung, cộng thêm cảm giác mình hiểu biết hơn người.
Not very desirable reactions, right?
Những phản ứng chẳng mấy đáng mong muốn, phải không?
[19] All this is expressed in a negative, unconstructive manner.
[19] Tất cả những điều này đều biểu lộ theo cách tiêu cực, thiếu tính xây dựng.
Now, that's something—this little part is something we really need to review. The reaction of the disciple to world evil producing uncertainty, lack of confidence regarding the future, annoyance with others especially non-disciples who are handling things, in a way that we may regard as stupid or whatever destructive, however we criticize it, criticism of what the countries are doing nationally and internationally, and just the very opposite of the joy of the soul which the disciple should be experiencing. With Master Morya, we have to review the sentence “It is a joy to do the Master’s work. When we have that general atmosphere of unhappiness, and we’ve all been prone to it, he says, where is the joy?
Đây là điều — phần ngắn này là điều chúng ta thực sự cần xem xét lại. Phản ứng của người đệ tử trước cái ác trên thế gian tạo ra sự bất an, thiếu tin tưởng vào tương lai, sự bực bội với người khác, nhất là những người chưa phải là đệ tử đang điều hành mọi việc theo cách mà chúng ta có thể cho là ngu xuẩn hay mang tính phá hoại, bất kể chúng ta chỉ trích thế nào; rồi sự chỉ trích những gì các nước đang làm trong phạm vi quốc gia và quốc tế — tất cả đều hoàn toàn trái ngược với sự hoan hỉ của linh hồn mà người đệ tử lẽ ra phải trải nghiệm. Với Chân sư Morya, chúng ta phải xem xét lại câu: “Làm công việc của Chân sư là một niềm hoan hỉ. Khi chúng ta có bầu không khí bất hạnh nói chung ấy, mà tất cả chúng ta đều từng dễ rơi vào, Ngài hỏi: sự hoan hỉ ở đâu?
Plus, of course, that which separates us from those others. We criticize, our sense of superior knowledge, and he once told us that if we have kind of a pleased satisfied attitude from receiving the information he’s given first before others have received it, we thereby prove our own unworthiness.
Dĩ nhiên, còn thêm điều khiến chúng ta tách biệt với những người khác ấy. Chúng ta chỉ trích họ, mang cảm giác mình hiểu biết hơn người. Ngài từng nói với chúng ta rằng nếu chúng ta có thái độ vui thích, tự mãn vì nhận được thông tin Ngài ban trước khi những người khác nhận được, thì chính điều đó chứng tỏ chúng ta không xứng đáng.
[20] To this many disciples are today prone;
[20] Ngày nay, nhiều đệ tử dễ rơi vào tình trạng ấy;
Not necessarily all.
Không nhất thiết là tất cả.
[21] they need to realise that world affairs are not and cannot be moulded or determined by any hierarchical knowledge in the possession of the disciple.
[21] họ cần nhận ra rằng bất kỳ tri thức nào của Thánh đoàn mà đệ tử có được đều không định hình hay quyết định, và cũng không thể định hình hay quyết định, các vấn đề thế giới.
Now isn’t that an interesting point? World affairs We have all of this esoteric knowledge, and at least expressed outwardly we cannot seek to mold world affairs in that objective manner using hierarchical information. Maybe behind the scenes we can do something, and he’s given us methods of operating behind the scenes.
Đó chẳng phải là một điểm thú vị sao? Các sự vụ thế giới — chúng ta có tất cả tri thức huyền bí này, nhưng ít nhất khi biểu lộ ra bên ngoài, chúng ta không thể tìm cách định hình các sự vụ thế giới theo cách khách quan ấy bằng việc sử dụng thông tin của Thánh đoàn. Có lẽ ở hậu trường, chúng ta có thể làm điều gì đó, và Ngài đã cho chúng ta những phương pháp hoạt động ở hậu trường.
[22] World affairs and conditions have necessarily to be based upon the demand and the point in evolution of the mass of humanity, working through their representatives, chosen or imposed, in every country.
[22] Các vấn đề và tình trạng thế giới nhất thiết phải dựa trên yêu cầu và điểm tiến hoá của đại đa số nhân loại, thông qua những người đại diện của họ, dù do lựa chọn hay áp đặt, tại mỗi quốc gia.
I think he’s talking here about maybe the difference between democracies and dictatorships, not all of which are bad. In the case of Ataturk, he has almost nothing but praise for that man except perhaps for a few personality foibles that are negligible. Usually when we look at those particular foibles, we make a mountain out of a molehill. He had a problem with alcohol. He had a problem with women, but the way DK looks at it that was negligible, and he was more of a dictator for a long time. So the decisions about how to conduct a nation have to be worked through by the mass of humanity, and that will depend upon their point in evolution and not upon some kind of prestigious hierarchical perspective adopted by the learned aspirant or the learned disciple.
Tôi nghĩ ở đây có lẽ Ngài đang nói đến sự khác biệt giữa các nền dân chủ và các chế độ độc tài, mà không phải chế độ nào cũng xấu. Trong trường hợp Ataturk, Ngài gần như chỉ có lời khen dành cho ông, ngoại trừ có lẽ một vài nhược điểm không đáng kể của phàm ngã. Thông thường, khi nhìn vào những nhược điểm cụ thể ấy, chúng ta làm chuyện bé xé ra to. Ông có vấn đề với rượu. Ông có vấn đề với phụ nữ, nhưng theo cách nhìn của Chân sư DK, điều đó không đáng kể, và trong một thời gian dài ông thiên về vai trò một nhà độc tài. Vì vậy, đại chúng nhân loại phải tự tìm ra những quyết định về cách điều hành một quốc gia; điều đó sẽ tùy thuộc vào điểm tiến hoá của họ, chứ không tùy thuộc vào một quan điểm đầy uy thế nào đó của Thánh đoàn mà người chí nguyện uyên bác hay người đệ tử uyên bác tiếp nhận.
[23] This demand can be and is affected, modified and spiritualised by the attitude and the teaching of disciples everywhere who are vocal and of humanitarian instinct.
[23] Thái độ và lời giảng dạy của các đệ tử ở khắp nơi, những người lên tiếng và có bản năng nhân đạo, có thể và thực sự đang tác động, điều chỉnh và tinh thần hóa yêu cầu này.
We don’t necessarily come out with a bunch of hierarchical information when trying to persuade towards a better way. Now, the next thing is really interesting, and you’ll have to see whether you agree with it because after all we go back to Plato’s Republic and his philosopher king. It seems like a lot of people who have strong Aquarius like Sir Thomas More and Francis Bacon, and I think also Plato, I believe, do write their Utopias and they envision a better way. The question is, is it practical and can they do it? Usually the resistance of humanity is due to all the glamours and illusions is inhibitory of the best ideas of these utopians, at least at this time. But let’s see what kind of utopias emerge during the Age of Aquarius.
Chúng ta không nhất thiết đưa ra hàng loạt thông tin của Thánh đoàn khi cố gắng thuyết phục người khác hướng đến một cách tốt đẹp hơn. Điều tiếp theo thực sự thú vị, và các bạn sẽ phải xem mình có đồng ý với điều đó hay không, vì xét cho cùng, chúng ta có thể nhìn lại tác phẩm Cộng Hòa của Plato và vị vua triết gia của ông. Dường như nhiều người có ảnh hưởng Bảo Bình mạnh, như Ngài Thomas More và Francis Bacon, và tôi nghĩ có lẽ cả Plato nữa, quả có viết về những xã hội lý tưởng của mình và hình dung một cách sống tốt đẹp hơn. Câu hỏi là: điều ấy có thực tế không, và họ có thể thực hiện được không? Thông thường, sự kháng cự của nhân loại do tất cả những ảo cảm và ảo tưởng gây ra kìm hãm những ý tưởng tốt đẹp nhất của các nhà tư tưởng về xã hội lý tưởng này, ít nhất là vào lúc này. Nhưng chúng ta hãy xem những xã hội lý tưởng nào sẽ xuất hiện trong Kỷ Nguyên Bảo Bình.
Certainly it will be an idea prominent.
Chắc chắn đó sẽ là một ý tưởng nổi bật.
[24] If, however, the will and knowledge of disciples in all nations were to condition world affairs and control entirely the political, economic and social life of the people, it would produce a far more serious cleavage than now exists,
[24] Tuy nhiên, nếu ý chí và tri thức của các đệ tử trong mọi quốc gia định hình các vấn đề thế giới và kiểm soát hoàn toàn đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của người dân, thì điều đó sẽ tạo ra sự chia rẽ nghiêm trọng hơn nhiều so với hiện nay,
If our ideas, expressed in the esoteric manner and with esoteric values in mind, and overlooking many of the desires of the masses of people, a far more serious cleavage than now exists.
Nếu những ý tưởng của chúng ta được diễn đạt theo cách huyền bí, lấy những giá trị huyền bí làm trọng, và bỏ qua nhiều dục vọng của đại chúng — một sự chia rẽ nghiêm trọng hơn nhiều so với hiện nay.
[25] for instance between the rich and the poor, or between the classes and the castes. It would produce a pronounced line of demarcation between the Kingdom of God
[25] chẳng hạn giữa người giàu và người nghèo, hoặc giữa các giai cấp và các đẳng cấp. Điều đó sẽ tạo ra một ranh giới phân chia rõ rệt giữa Thiên Giới
Which is meant to be the kingdom of soul expression upon the earth.
Ở đây muốn nói đến giới mà linh hồn biểu lộ trên Trái Đất.
between the Kingdom of God
giữa Thiên Giới
[26] and the kingdom of men. This would run counter to hierarchical intention, which is rapidly healing the existent breach, and thus offset the work which Christ set out to do on Earth.
[26] và giới con người. Điều này sẽ đi ngược lại chủ định của Thánh đoàn, vốn đang nhanh chóng hàn gắn sự chia rẽ hiện hữu, và do đó hóa giải công việc mà Đức Christ đã bắt đầu thực hiện trên Trái Đất.
We can see why, can’t we, that this kind of ideal that some hold of everything being really run by disciples who promote Hierarchical values, in a way that is unmoderated, would run counter to the Plan. This impressed me when I read it, and when he said that it will be a long time before the average human being is ready for the teaching of occultism. I, at the young age that I read it, I said, well, why? Why is the best, why not teach that in an outward way to everybody?
Chúng ta có thể thấy tại sao lý tưởng mà một số người nuôi dưỡng — rằng mọi việc thực sự đều do những đệ tử cổ xúy các giá trị của Thánh đoàn điều hành một cách không có sự điều tiết — lại đi ngược Thiên Cơ, phải không? Điều này gây ấn tượng với tôi khi tôi đọc nó, cũng như khi Ngài nói rằng còn rất lâu nữa người bình thường mới sẵn sàng tiếp nhận giáo huấn huyền bí học. Khi đọc điều đó lúc còn trẻ, tôi tự hỏi: tại sao? Đó là điều tốt đẹp nhất, tại sao không công khai giảng dạy điều ấy cho mọi người?
But, of course, for the very reason that A pronounced line of demarcation between the kingdom of God and the kingdom of men, the fifth kingdom and the fourth kingdom, would be the result, and thus run counter to the Plan and counter to that which Christ’s plans to accomplish with his reappearance.
Nhưng dĩ nhiên, chính vì kết quả sẽ là một ranh giới phân định rõ rệt giữa Thiên Giới và giới nhân loại, giữa giới thứ năm và giới thứ tư, nên điều đó sẽ đi ngược Thiên Cơ và ngược với những gì Đức Christ dự định hoàn thành qua sự tái lâm của Ngài.
[27] This point is often overlooked by well-intentioned disciples. It is humanity which determines its own destiny. Disciples point the way, indicate the vision,
[27] Các đệ tử có thiện ý thường bỏ qua điểm này. Chính nhân loại quyết định vận mệnh của mình. Các đệ tử chỉ đường, chỉ ra tầm nhìn,
Tactfully so. We cannot, I mean, look at the way the teaching of Alice Bailey has been defamed by Orthodox believing church people as some kind of example of satanic policy. You have only to read the paranoia that is surrounding the Alice Bailey teaching, and even there was that unfortunate incident in which that same kind of paranoia came from Madame Roerich at a certain point. We don’t know what happened. Philip Lindsay did a good analysis of Madame Roerich's horoscope and pointed out the seeds of the trouble. But they are supposed to be working together. Maybe on the inner plane all of that has been straightened out. But it’s so easy to look at the good and imagine, because it is different from the good that you conceive, that it is the bad.
Một cách khéo léo. Chúng ta không thể — hãy nhìn cách những tín đồ giáo hội theo niềm tin chính thống đã bôi nhọ giáo huấn của Alice Bailey, coi đó như một ví dụ về đường lối của quỷ Satan. Các bạn chỉ cần đọc những lời hoang tưởng bao quanh giáo huấn của Alice Bailey; thậm chí đã có một sự việc đáng tiếc khi chính kiểu hoang tưởng ấy xuất phát từ Bà Roerich vào một thời điểm nào đó. Chúng ta không biết điều gì đã xảy ra. Philip Lindsay đã phân tích rất tốt lá số chiêm tinh của Bà Roerich và chỉ ra những mầm mống của vấn đề. Nhưng lẽ ra họ phải cùng làm việc với nhau. Có lẽ trên cõi bên trong, tất cả những điều đó đã được giải quyết ổn thỏa. Nhưng thật dễ nhìn vào điều tốt rồi tưởng rằng đó là điều xấu, chỉ vì nó khác với điều tốt mà mình quan niệm.
In her opinion the Tibetan was a member of the Black Lodge. Ridiculous, but even disciples are subject to this kind of glamour that makes’ up seem down, and down seem up. Well-intentioned disciples overlook this possibility. Humanity determines its own destiny. Disciples do point the way tactfully, tactfully, Not just saying like I say to you, well, on page 70 and 71 of such a book… the planets involved in your forthcoming initiation will be found. I mean you just can’t approach in that manner. Everything has to be more gently and more relatingly approached. If you can, if Christ spoke of the mysteries of the Kingdom of Heaven to his disciples which the Bible tells us he did, then we can say, well, what were those mysteries?
Theo ý kiến của Bà, Chân sư Tây Tạng là một thành viên của Hắc đoàn. Thật vô lý, nhưng ngay cả các đệ tử cũng chịu loại ảo cảm này, khiến trên có vẻ là dưới, còn dưới có vẻ là trên. Những đệ tử đầy thiện ý bỏ qua khả năng này. Nhân loại quyết định vận mệnh của mình. Các đệ tử quả có chỉ đường một cách khéo léo, thật khéo léo, chứ không chỉ nói như tôi đang nói với các bạn: ở trang 70 và 71 của một cuốn sách nào đó… các bạn sẽ tìm thấy những hành tinh tham gia vào cuộc điểm đạo sắp tới của mình. Ý tôi là không thể tiếp cận theo cách ấy. Mọi việc đều cần được tiếp cận nhẹ nhàng hơn và có sự kết nối hơn. Nếu có thể — nếu Đức Christ đã nói với các đệ tử của Ngài về những huyền nhiệm của Thiên Quốc, như Kinh Thánh cho chúng ta biết Ngài đã làm, thì chúng ta có thể hỏi: những huyền nhiệm ấy là gì?
Then we can open a door to the mysterious teaching of the Ageless Wisdom. There are many skillful ways to approach, and one must always have in mind the consciousness level of one’s interlocutor as Morya calls it, the person with whom you are speaking. It is humanity and not us that determines its own destiny because we are, we are humanity, but we are on the borderland of the fifth kingdom, entering the kingdom of souls. Now, more and more people will begin to do that, but that’s not everybody and tact and caution have to be used.
Khi đó, chúng ta có thể mở một cánh cửa dẫn vào giáo huấn huyền nhiệm của Minh Triết Ngàn Đời. Có nhiều cách tiếp cận khéo léo, và người ta phải luôn lưu tâm đến cấp độ tâm thức của người đối thoại, theo cách gọi của Chân sư Morya, tức người mà mình đang nói chuyện cùng. Chính nhân loại, chứ không phải chúng ta, quyết định vận mệnh của mình; vì tuy chúng ta là nhân loại, chúng ta đang ở ranh giới của giới thứ năm, đang bước vào giới các linh hồn. Ngày càng nhiều người sẽ bắt đầu làm điều đó, nhưng chưa phải tất cả mọi người, và cần có sự khéo léo cùng thận trọng.
[28] set a needed example and emphasise
[28] nêu tấm gương cần thiết và nhấn mạnh
It's a Masonic term.
Đó là một thuật ngữ của Hội Tam Điểm.
[29] the ancient landmarks.
[29] những cột mốc từ ngàn xưa.
Basically He’s giving us kind of the Masonic perspective here, and these ancient landmarks are true under all circumstances, and they abide but they can be differently presented. I think that’s an important section on what Imperil really is. It’s quite the opposite of the kind of optimism and confidence in the inner God, and the kind of joy that the disciple is supposed to have, because he’s or she is doing the Master’s work.
Về cơ bản, ở đây Ngài đang cho chúng ta một góc nhìn của Hội Tam Điểm, và những nguyên tắc nền tảng cổ xưa này đều đúng trong mọi hoàn cảnh; chúng trường tồn nhưng có thể được trình bày theo những cách khác nhau. Tôi nghĩ đó là một phần quan trọng về bản chất thực sự của độc tố bực bội. Nó hoàn toàn trái ngược với sự lạc quan và niềm tin vào Thượng đế nội tại, cũng như sự hoan hỉ mà người đệ tử cần có, vì người ấy đang làm công việc của Chân sư.
There’s some other ones here. This one's from Esoteric Healing and it, maybe it brings in more of the medical conventional idea of irritation. He says, from these pages 67 and 68.
Ở đây còn có một vài đoạn khác. Đoạn này trích từ Trị Liệu Huyền Môn và có lẽ đưa vào nhiều hơn quan niệm y học thông thường về sự bực bội. Ngài nói trong các trang 67 và 68 như sau.
[30] We hear much today about auto-intoxication, and many efforts are made to cure this by diet and the regulation of the life in terms of rhythmic living.
[30] Ngày nay, chúng ta nghe nói nhiều về tình trạng tự nhiễm độc, và người ta thực hiện nhiều nỗ lực chữa trị bằng chế độ ăn uống và điều chỉnh đời sống theo nhịp điệu sinh hoạt đều đặn.
Now, that’ll be easier and easier. During the seventh ray age, and Michael was talking about the Law of Rhythm. I mean, so rhythm is approaching and the sixth ray is notably unsuitable for promoting and sustaining rhythm. Basically DK says this is one of the reasons why in the sixth Ray Age, the outer plane is such a mess because people are just going by impulse. The veil of impulsion is operating.
Điều đó sẽ ngày càng dễ dàng hơn. Trong thời đại cung bảy, và Michael vừa nói về Định luật Nhịp Điệu. Ý tôi là nhịp điệu đang đến gần, còn cung sáu thì đặc biệt không thích hợp để thúc đẩy và duy trì nhịp điệu. Về cơ bản, Chân sư DK nói đây là một trong những lý do khiến cõi bên ngoài hỗn loạn đến thế trong thời đại cung sáu, vì người ta chỉ hành động theo sự thôi thúc nhất thời. Bức màn xung động đang tác động.
[31] All this is good and of help, but it does not constitute a basic cure, as its protagonists would lead us to believe.
[31] Tất cả những điều này đều tốt và hữu ích, nhưng không tạo thành phương pháp chữa trị tận gốc như những người cổ xúy chúng muốn chúng ta tin.
Irritation. Now, this is a, this is perhaps a more medical psychological approach.
Sự bực bội. Đây có lẽ là một cách tiếp cận thiên về y học và tâm lý học hơn.
[32] Irritation is a basic psychological complaint and has its roots in the intensification of the astral body, which definitely produces abnormal effects upon the nervous system.
[32] Sự cáu kỉnh là một chứng rối loạn tâm lý căn bản, bắt nguồn từ sự tăng cường hoạt động của thể cảm dục, điều chắc chắn gây ra những tác động bất thường lên hệ thần kinh.
You know what, what Morya says is basically a precipitation of poison against the walls of the nervous system. It reminds us that Assagioli at least says that every thought leaves its physical precipitate, no matter how minuscule that precipitate may be. Things tend to physicalize and hence psyche and soma are related. We have these psychosomatic diseases which does not mean that they’re not real.
Các bạn biết đấy, điều Chân sư Morya nói về cơ bản là chất độc ngưng tụ trên thành của hệ thần kinh. Điều này nhắc chúng ta nhớ rằng, ít nhất theo Assagioli, mỗi tư tưởng đều để lại phần ngưng tụ hồng trần của nó, dù phần ngưng tụ ấy nhỏ bé đến đâu. Mọi sự đều có khuynh hướng biểu hiện trên cõi hồng trần, và do đó tâm lý với thân thể có liên hệ với nhau. Chúng ta có những bệnh tâm thể này, nhưng điều đó không có nghĩa chúng không phải là bệnh thật.