← Commentary GAW 141-150

Commentary GAW 143

Tóm lược chương

Hoa Sen Chân Ngã phát triển trọn vẹn trên cõi thượng trí biểu hiện vẻ huy hoàng trước cao điểm của lần điểm đạo thứ tư, khi con người chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển Chân Thần. Tuy có đường liên hệ trực tiếp giữa Chân Thần và Hoa Sen Chân Ngã, việc sử dụng đường này đòi hỏi Tam Nguyên Tinh Thần phải được chuẩn bị đầy đủ. Sự phát triển cấu trúc tinh thần cao hơn là một biên giới mới, cần công phu tương tự quá trình xây dựng phàm ngã đã diễn ra từ rất lâu. Theo giả thuyết riêng của Thầy MDR, Sao Kim và Trái Đất có thể từng được dự định tiến hoá song song, nhưng một biểu hiện phụ thuộc của Hành Tinh Thượng Đế Trái Đất đã chịu ảnh hưởng…


Commentary GAW 143

Tóm Tắt

Hoa Sen Chân Ngã và sự chuẩn bị cho giai đoạn Chân Thần

Hoa Sen Chân Ngã phát triển trọn vẹn trên cõi thượng trí biểu hiện vẻ huy hoàng trước cao điểm của lần điểm đạo thứ tư, khi con người chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển Chân Thần. Tuy có đường liên hệ trực tiếp giữa Chân Thần và Hoa Sen Chân Ngã, việc sử dụng đường này đòi hỏi Tam Nguyên Tinh Thần phải được chuẩn bị đầy đủ. Sự phát triển cấu trúc tinh thần cao hơn là một biên giới mới, cần công phu tương tự quá trình xây dựng phàm ngã đã diễn ra từ rất lâu.

Vấn đề phàm ngã của Hành Tinh Thượng Đế

Theo giả thuyết riêng của Thầy MDR, Sao Kim và Trái Đất có thể từng được dự định tiến hoá song song, nhưng một biểu hiện phụ thuộc của Hành Tinh Thượng Đế Trái Đất đã chịu ảnh hưởng của ảo cảm vũ trụ. Nhận định này liên hệ với lời Chân sư DK rằng vấn đề của Trái Đất là vấn đề phàm ngã: xét trên bình diện vũ trụ, Trái Đất mới ở bậc điểm đạo thứ nhất, trong khi Sao Kim ít nhất ở bậc thứ ba. Những mãnh lực từ hệ mặt trời trước và có thể cả Dãy Mặt Trăng được đề xuất như các yếu tố làm chậm tiến trình. Nhân loại thừa hưởng khó khăn ấy vì thuộc về sự sống của Hành Tinh Thượng Đế.

Ảo cảm như một chướng ngại có chất liệu

Ảo cảm không chỉ là điều tưởng tượng mà có tính chất liệu, gần như một bức tường ngăn nhận thức thực tại. Các Hình tư tưởng và những tập hợp sự sống nhỏ hơn có thể kết hợp thành những cấu trúc che khuất, giữ con người trong vòng-giới-hạn hiện hữu. Khi dục vọng áp đảo và không được khảo sát, con người dễ chịu tác động của những mãnh lực củng cố sự giam hãm ấy. Việc nhận diện ảo cảm như một thực thể có sự sống, phẩm tính và sắc tướng được chấp nhận như một cách tiếp cận thực hành nếu giúp phát hiện và làm tiêu tan nó.

Phàm ngã tích hợp và nguy cơ của quyền lực

Chân sư DK cảnh báo rằng sự xuất hiện ngày càng nhiều phàm ngã tích hợp nhưng chưa có định hướng tinh thần sẽ tạo nguy cơ cho nhân loại. Những nhà lãnh đạo say mê bản thân, thiếu tầm nhìn rộng được xem là biểu hiện của giai đoạn này. Trong cách diễn giải về Hoa Sen Chân Ngã, khoảng giữa sự phát triển cánh hoa thứ năm đánh dấu lúc tháp vị kỷ bắt đầu sụp đổ, tương ứng với hình ảnh Toà Tháp bị đánh đổ trong Tarot. Sự phá vỡ vị kỷ mở ra khả năng bước vào khát vọng chân chính, Con Đường Dự Bị và Con Đường Đệ Tử.

Nhận lầm bản sắc và sự tập trung vào bản thân

Theo sự tổng hợp riêng của Thầy MDR, vô số ảo cảm bắt nguồn từ ảo tưởng nhận lầm bản sắc, sự tập trung vào phàm ngã và dục vọng muốn giữ vị trí trung tâm. Con người đồng nhất một phần của mình với toàn bộ bản thân, rồi duy trì những sai lầm ấy như điều tự nhiên. Phi tập trung vào bản thân đòi hỏi phân biệt rõ giữa điều mình có và điều mình là: sở hữu các hiện thể không có nghĩa bản sắc chân thật chính là những hiện thể ấy. Sự phân biệt này được liên hệ với dấu hiệu Bạch Dương và dấu hiệu Kim Ngưu.

Ấn Độ, Vedanta và tâm thức hợp nhất

Truyền thống Vedanta được đánh giá cao vì nhận biết sâu sắc bản chất của ảo tưởng. Sự biểu hiện mạnh hơn của cung linh hồn Ấn Độ dưới dấu hiệu Bạch Dương, cùng sự thức tỉnh của trung tâm Darjeeling, được kỳ vọng sẽ đem lại cách nhìn mới về con người. Darjeeling được mô tả là trung tâm huyền bí nhất nhưng hiện chưa thức tỉnh. Tiềm năng của tiến trình này là sự tăng trưởng tâm thức nhóm và tâm thức nhất thể.

Nhóm hạt giống và yêu cầu chuyển đổi

Tác phẩm Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới hình thành phần lớn trong thập niên 1930 cho một nhóm đệ tử ở ngoại vi ashram của Chân sư DK, nhưng nhóm ban đầu chưa thực hiện được mục tiêu Ngài dự định. Dự án các Nhóm hạt giống được nêu là kéo dài đến năm 2200, trong đó nhóm thứ hai, Các Nhà Quan Sát Thực Tại, phụ trách làm tiêu tan ảo cảm. Giai thoại Krishnamurti chỉ đáp “Hãy chuyển đổi!” trước câu hỏi về đời sống tinh thần làm nổi bật khoảng cách giữa yêu cầu đơn giản và công phu thực hiện. Việc ảo cảm tiếp tục qua nhiều kiếp cho thấy chuyển đổi sâu xa khó hơn nhiều so với điều thường được hình dung.

Ánh sáng là đặc tính chủ yếu của linh hồn

Tiền đề thứ nhất của Chân sư DK xác định ánh sáng là phẩm tính và đặc tính chủ yếu của linh hồn. Ánh sáng ấy mặc khải những điều quen thuộc trong một bối cảnh mới, làm thay đổi cả sự thấu hiểu lẫn cách đánh giá giá trị. Hình ảnh thần bí về một con bọ chét trong Thượng đế đáng giá hơn lâu đài ngoài Thượng đế minh hoạ rằng điều nhỏ bé nhất trong ánh sáng linh hồn có thể quý hơn một thành tựu huy hoàng ngoài phạm vi nhận thức ấy. Khả năng cảm nhận vẻ đẹp được liên hệ với lời Chân sư Morya rằng qua vẻ đẹp, con người có ánh sáng.

Tiếp xúc linh hồn qua tham thiền

Muốn sử dụng ánh sáng linh hồn, đệ tử phải đạt sự tiếp xúc với linh hồn mà mình thực sự nhận biết qua tham thiền. Tác phẩm Từ Trí Tuệ Đến Trực Giác của Alice Bailey cảnh báo rằng học tập quá mức hoặc quá bận rộn với hoạt động bên ngoài có thể trở thành cách né tránh việc học tham thiền; phụng sự chân chính là sự toả chiếu tự phát của linh hồn. Chuỗi giai đoạn được nhắc đến gồm tập trung, tham thiền, chiêm ngưỡng, soi sáng, cảm hứng và điểm đạo, với phần chiêm ngưỡng có tham khảo Evelyn Underhill. Ánh sáng trong đầu và những dòng năng lượng mới cảm nhận trong thể dĩ thái được nêu như các dấu hiệu có thể đi cùng tiếp xúc với rung động cao hơn.

Cõi cảm dục và việc tránh những hấp dẫn bên đường

Tiền đề thứ hai xác định ảo cảm là đặc tính chủ yếu của cõi cảm dục. Bốn mươi năm Moses lang thang trong hoang địa được diễn giải như biểu tượng của việc lưu lạc trên cõi này; lời khuyên gắn với Chân sư Morya là đi xuyên qua nhanh chóng, không dừng lại vì những hấp dẫn phụ. Lời dạy “đừng mải xem những tiết mục bên lề mà bỏ lỡ sự kiện chính” cũng áp dụng cho chiêm tinh học và những ngành huyền bí hấp dẫn. Mục tiêu chính là nhận biết Đấng Duy Nhất, hiện hữu trong sự hợp nhất và đồng hoá với Đấng Duy Nhất.

Trận chiến giữa các cặp đối cực

Cõi cảm dục là chiến trường giữa dục vọng cổ xưa đầy ảo cảm, giả dối và khát vọng tinh thần hướng đến điều chân thật. Trận Kurukshetra trong Bhagavad Gita được liên hệ với cuộc chiến này, đồng thời được trình bày như một biến cố giữa thời Atlantis, ở phía nam khu vực Delhi ngày nay, góp phần ngăn nhân loại hoàn toàn đi theo tả đạo. Các chi tiết về vũ khí “Mắt của Kapila”, đá nóng chảy hoặc thuỷ tinh do nhiệt độ cực cao được nêu dưới dạng những thông tin chưa xác minh. Sau cuộc xung đột, Thánh đoàn được mô tả là rút khỏi hoạt động công khai, đặt thêm trách nhiệm lên nhân loại và duy trì các Bí pháp trên những cõi cao.

Kẻ Chận Ngõ và các tầng cánh hoa

Cuộc chiến giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện diễn ra trong mỗi người; khi dục vọng nghiêng về Kẻ Chận Ngõ, ảo cảm tiếp tục chi phối. Ba cánh hoa đầu của Hoa Sen Chân Ngã tương ứng với Phòng Vô Minh, ba cánh tiếp theo với Phòng Hiểu Biết, và ba cánh thứ bảy đến thứ chín với Phòng Minh triết cùng minh triết hi sinh. Trí tuệ sắc bén và kiến thức rộng ở cánh hoa thứ ba vẫn có thể thuộc Phòng Vô Minh vì con người chưa nhận biết đối cực cao hơn. Vì vậy, tích luỹ kiến thức không đồng nghĩa với thoát khỏi vô minh tinh thần.

Dục vọng ích kỷ che khuất con người tinh thần

Chân sư DK khẳng định dục vọng cảm dục, cảm xúc sai lệch và ích kỷ, cùng các phản ứng cảm dục trước đời sống hằng ngày không thuộc bản chất linh hồn. Những phản ứng ấy dần tạo thành màn che hữu hiệu đối với bản chất chân thật của con người tinh thần. Phần bình giảng liên hệ sự củng cố cảm xúc ích kỷ với hoạt động của Hắc đoàn thời Atlantis và xem ảo cảm là một nguyên nhân lớn khiến tiến bộ nhân loại chậm chạp. Khả năng nhiều đạo sinh đã trải nghiệm Dãy Mặt Trăng, thậm chí hệ mặt trời trước, được nêu như một giả thuyết về chiều dài của hành trình này.

Thể cảm dục như bộ máy đáp ứng

Tiền đề thứ ba yêu cầu thiết lập liên hệ giữa linh hồn và cõi cảm dục qua thể cảm dục của đệ tử. Thể cảm dục là bộ máy đáp ứng với thế giới cảm giác và là phương tiện để linh hồn tiếp xúc cấp độ biểu hiện tạm thời ấy. Đệ tử phải chủ động đưa ánh sáng linh hồn vào thể cảm dục, tập trung tại trung tâm tùng thái dương rồi tiến hành công việc khó khăn là làm tiêu tan ảo cảm. Tuy nhiên, năng lượng linh hồn vượt quá khả năng xử lý có thể làm ảo cảm gia tăng, nên việc duy trì bộ máy đáp ứng thích hợp có ý nghĩa thiết yếu.

Soi sáng dục vọng và khảo sát động cơ

Ánh sáng linh hồn trong thể cảm dục giúp nhận biết mình đang ham muốn hay khát vọng điều gì, vì sao tạo những hình tướng dục vọng và động cơ nào thúc đẩy khát vọng. Thánh đoàn thường đánh giá đệ tử qua động cơ hơn là những thành công hoặc thất bại trước mắt. Vẻ đẹp hấp dẫn của cõi cảm dục cũng có thể trở thành một ảo cảm lớn, che giấu tình trạng thực sự của thể cảm dục. Điều này giúp lý giải vì sao công thức chỉnh hợp linh hồn, thể trí và bộ não thường không nhắc thể cảm dục: thể này cần được chuyển đổi trước khi tham gia hữu hiệu.

Chuyển ánh sáng từ tùng thái dương lên tim

Tiền đề thứ tư yêu cầu chuyển ánh sáng đã tạm tập trung ở tùng thái dương lên trung tâm tim, sau khi linh hồn, thể cảm dục và cõi cảm dục đã liên hệ mật thiết. Tiến trình này được gắn với lần điểm đạo thứ hai và đi cùng hoạt động cao hơn của trung tâm cổ họng, kết hợp trí tuệ tinh thần, sự soi sáng trí tuệ và trái tim yêu thương. Đệ tử phải giữ ánh sáng vững vàng tại tim và kiên trì làm việc từ trung tâm cao hơn ấy. Điểm tiếp nhận và toả chiếu được mô tả ở giữa hai bả vai, khoảng ba inch phía sau cột sống.

Tư thế nội tâm của trái tim toả sáng

Huấn thị cổ được Chân sư DK diễn ý mô tả đệ tử đứng vững, quay lưng về sương mù ảo cảm và hướng về phương Đông, nơi ánh sáng tuôn đến. Đệ tử thu gom mọi ánh sáng sẵn có trong tim, rồi để ánh sáng toả ra từ điểm quyền năng giữa hai bả vai. Phương Đông mang ý nghĩa Mặt Trời, quen thuộc trong các hội quán Tam Điểm và truyền thống tinh thần. Thực hành này đòi hỏi sống và suy nghĩ trong tim, thay cho những phản ứng đột ngột, thiếu suy xét do thói quen cũ.

Từ tamas và rajas đến nhịp điệu phù hợp Thiên Cơ

Tamas biểu hiện qua quán tính, sự trì trệ và khuynh hướng né tránh yêu cầu nâng cao rung động; cảm giác nhẹ nhõm khi người khác nhận làm thay một công việc nặng nhọc minh hoạ khuynh hướng ấy trong vật chất. Vượt qua trì trệ thường dẫn đến giai đoạn rajas với hoạt động quá mức, nhưng sự bận rộn này chưa phải mục tiêu cuối cùng. Bước tiến cao hơn là hình thành nhịp điệu đúng, phù hợp theo chu kỳ với Thiên Cơ. Sự ổn định ấy thay thế trạng thái lúc nâng cao, lúc hạ thấp rung động.

Nguồn gốc Chân Thần của các trung tâm

Đoạn trích Luận về Lửa Vũ Trụ, khoảng trang 166–169, mô tả các trung tâm hoàn toàn cấu thành từ những dòng mãnh lực do chân ngã truyền xuống từ Chân Thần. Vì vậy, mọi luân xa đều có nguồn gốc Chân Thần, dù trước tiên chịu sự điều khiển của chân ngã và về sau của Chân Thần. Sự điều khiển ấy làm tăng rung động, sinh lực và cường độ biểu hiện của các trung tâm. Ánh sáng giữa hai bả vai là một biểu hiện của sự toả chiếu luân xa, đặc biệt mang phẩm tính Bác Ái – Minh Triết, tính bao gồm và ảnh hưởng Sao Mộc của trung tâm tim.

Thân lửa bất hoại và sự dung hợp ba ngọn lửa

Khi các trung tâm hoạt động đúng, chúng tạo thành thân lửa, hay thân bất hoại được Thánh Paul nhắc đến, là kết quả tiến hoá và sự hoà hợp hoàn hảo của ba ngọn lửa. Sau khi hình tướng bị huỷ diệt, còn lại một thân lửa tinh thần vô hình, một ngọn lửa thuần nhất với bảy trung tâm cháy sáng mãnh liệt hơn. Lửa Điện biểu hiện khi hai cực hợp nhất trọn vẹn, làm sáng tỏ lời “Thượng đế của chúng ta là Lửa thiêu đốt”. Hình ảnh đôi cánh mà Chân sư Morya thường nhắc được liên hệ với vùng bả vai và sự dung hợp ngày càng sâu giữa con người với bản ngã thiên thần.

Hợp nhất nhóm và sự đáp ứng trước khủng hoảng

Trải nghiệm của Olivia cùng 90 đại biểu quốc tế tại Đất Thánh minh hoạ khả năng chuyển một tập hợp đa dạng thành gia đình yêu thương nhờ tập trung vào tình thương, ánh sáng, chúc lành và hợp nhất. Công việc nhóm được xem là phương tiện tái khẳng định tính thiêng liêng ở những nơi từng chịu nhiều xung đột; Thánh đoàn có thể hoạt động thông qua các sự kiện như vậy. Hình ảnh trong Agni Yoga về các Chân sư sử dụng những phần hào quang sẵn sàng của đệ tử như vũ khí được nhắc để diễn tả tính quyết liệt của cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối. Lời Krishna về sự xuất hiện khi chính pháp suy tàn được liên hệ với sự tái lâm của Đức Christ trong thời kỳ vừa nguy hiểm vừa giàu cơ hội.

Cung bốn và những mối liên hệ của nhân loại

Cung bốn được đặt trong mạng lưới tương ứng gồm giới nhân loại, Huyền Giai nhân loại, Trái Đất với thập giá, Liên Hiệp Quốc, dấu hiệu Hổ Cáp và Bồ đề. Những liên hệ này cung cấp một hướng khảo sát về vai trò của xung đột, hoà hợp và tiến hoá nhân loại. Con số 144 cũng được nhắc như “con số của những người được cứu”, với cách giải thích trong Luận về Chánh Thuật liên quan đến việc đếm các cánh hoa luân xa.

Tự vấn và Mặt Trời trong tim

Phương pháp vichara của Ramana Maharshi được giới thiệu như sự tự vấn liên tục, không ngừng nghỉ nhằm tìm ra chân lý về bản sắc. Phương pháp ấy nối lại chủ đề phân biệt bản thể chân thật với những gì con người sở hữu hoặc đồng nhất sai lầm. Câu “Hãy có Mặt Trời trong tim” gợi hình ảnh sống từ trung tâm tim toả sáng. Sự tìm kiếm bản chất cốt yếu và sự toả chiếu của tim cùng hướng về mục tiêu vượt qua những hấp dẫn phụ để nhận biết thực tại hợp nhất.

Đồng hóa sai lầm và những bức màn che thực tại

Đồng hóa sai lầm khiến con người nhận mình là một điều gì đó thấp hơn nhiều so với bản chất thực sự; việc nhận biết mình là ai không dễ dàng vì có quá nhiều bức màn che phủ. Sai lầm này liên quan cả đến ảo tưởng lẫn ảo cảm: những nhận định sai trên cõi trí được tiếp sức bằng toàn bộ cảm xúc, khiến đời sống hướng đến mục tiêu sai lệch. Sự quan tâm không thích đáng đến phàm ngã làm hao hụt khả năng phụng sự Thiên Cơ, ngay cả trong phạm vi một kiếp sống.

Moses, St. Paul và Đức Christ trong công việc khai mở ánh sáng

Chương mười của tác phẩm Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo được viện dẫn để nghiên cứu giới thiên thần và mối liên hệ với sự soi sáng. Moses, St. Paul và Đức Christ đều được mô tả là thuộc cung một, nhưng thực hiện những phương diện khác nhau của công việc xé bỏ bức màn: Moses đảm nhiệm phần cung ba, St. Paul đảm nhiệm phần cung một và khai mở yếu tố tổng hợp. Đức Christ thực hiện phần cung hai, đưa ánh sáng vào theo cách toàn diện và bao gồm nhất, gắn với hình ảnh bức màn Đền Thờ bị xé từ trên xuống dưới.

Giá trị chuyển tiếp của hoạt động xã hội

Nhiều hoạt động được xem là quan trọng trong xã hội hiện nay có giá trị như những bước chuyển tiếp, giúp thay đổi cấu trúc xã hội để các năng lượng mới có thể đi vào, nhưng chưa biểu đạt chân lý tối hậu. Khi chưa phi tập trung vào bản thân, con người vẫn dễ chịu ảnh hưởng của những tư tưởng đề cao tầm quan trọng của phàm ngã. Những lãnh đạo có tầm nhìn hạn hẹp nhưng nắm quyền lực lớn có thể tác động tiêu cực đến hàng nghìn, hàng triệu người; chống lại ảnh hưởng ấy là một phần công việc cần tiếp tục.

Chỉnh hợp nhóm và công thức bảo vệ

Công việc bắt đầu bằng sự tĩnh lặng, tập hợp như những phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và như các linh hồn trên cõi thượng trí, cùng hợp tác với Thánh đoàn để thực hiện Thiên Cơ trên cõi cảm dục. Mục tiêu là làm tiêu tan những màn che, mây mù và chướng ngại ngăn con người thấy, biết và trải nghiệm thực tại. Công thức bảo vệ do Chân sư DK ban truyền xác lập vị thế của linh hồn hoạt động trong ánh sáng, không để bóng tối chạm đến và không rời điểm đứng ấy. Thập giá ánh sáng dài, có sự tham gia của đôi mắt, hòa vào thập giá lớn của nhóm để bảo vệ công việc tiếp xúc với những nội dung ảo cảm đôi khi rất xấu xí.

Dung hợp ba ánh sáng

Ánh sáng của vật chất dĩ thái–hồng trần và ánh sáng của hạ trí được tập trung trên cõi hạ trí, kết hợp sinh lực với năng lực suy luận, khảo sát và phân tích để tìm đến chân lý. Tiếp xúc với linh hồn trên cõi thượng trí đem lại ánh sáng huy hoàng, vốn luôn hiện diện nhưng có thể được nhận biết và trải nghiệm rõ hơn. Qua sự tưởng tượng, ánh sáng linh hồn, được xác nhận là có thực và có chất liệu, được đưa xuống để tiếp xúc và dung hợp với hai ánh sáng kia. Ba ánh sáng trở thành một, tạo nền tảng cho chùm sáng mặc khải và làm tiêu tan ảo cảm.

Ánh sáng ban ngày và vai trò trung gian

Mantram về ánh sáng duy nhất xác lập rằng trong ánh sáng ấy, những ánh sáng lớn hơn tiếp tục hiển lộ cho đến khi bóng tối chuyển thành ban ngày. Ánh sáng ban ngày được liên hệ với dấu hiệu Hổ Cáp, với giới nhân loại và cõi Bồ đề, nơi con người thực sự thấy và các Chân Thần nhân loại biểu lộ. Nhóm đảm nhiệm vai trò trung gian giữa ánh sáng cao và thấp, giữa Tam Nguyên Tinh Thần và tam nguyên thấp. Công thức phụng sự diễn tả việc nối trời với đất, nối Thế giới của ý nghĩa bên trong với thế giới ảo cảm vi tế, đưa ánh sáng và sự thấu hiểu xuống đáp ứng nhu cầu.

Ý chí tinh thần và mục tiêu phá tan ảo cảm

Chùm sáng tam phân đã hợp nhất được phóng chiếu vào cõi cảm dục như một phương tiện phát hiện và làm tiêu tan ảo cảm. Ý chí tinh thần được khẩn cầu từ những cấp độ cao để tăng quyền năng và tập trung chùm sáng vào mục tiêu; sự chỉnh hợp đúng đắn mở ra khả năng hoạt động mạnh mẽ. Ảo cảm đồng hóa sai lầm được xem là một cuộc tấn công vào trật tự của cái thiện, cái mỹ và cái chân trong nhân loại. Lời mantram Kitô giáo cổ về việc quên cả cái tôi tốt lẫn cái tôi xấu, để chỉ Đức Christ được thấy và nghe, hướng sự chú tâm ra khỏi việc đánh giá phàm ngã.

Quyền năng của ánh sáng hợp nhất

Các Quyền năng từ lần lượt xác lập khả năng ngăn ảo cảm đồng hóa sai lầm xuất hiện, vô hiệu hóa phẩm tính của nó đối với nhân loại, vô hiệu hóa sự thống trị của phàm ngã và hủy diệt sự sống nuôi dưỡng ảo cảm ấy. Công việc nhắm đến những khuynh hướng năng lượng trên cõi cảm dục khiến con người tưởng mình nhỏ bé hơn nhiều so với thực tại. Năm phút tham thiền với mục đích mãnh liệt dành cho việc hình dung tiến trình làm tiêu tan đang diễn ra, để nhân loại thoát khỏi vai trò nạn nhân của sự đồng hóa sai lầm. Khi vòng-giới-hạn cá nhân nhường chỗ và sự hòa nhập thực sự bắt đầu, một vẻ đẹp hiếm có xuất hiện.

Vượt qua chia rẽ bằng sự đồng hóa

Theo nhận định riêng của Thầy MDR, ảo cảm này dựng nên các rào cản giả tạo và đặt nền móng cho Đại Tà thuyết chia rẽ; có thể vượt qua nó bằng cách học trở thành điều mình thấy và tri giác. Vòng-giới-hạn không cần là bức tường bất lay chuyển giữa bản thân và người khác, bởi vẫn có con đường xuyên qua ranh giới tưởng như phân cách hoàn toàn ấy. Sự hình dung một luồng gió mặt trời lớn kết hợp với việc xướng linh từ OM hỗ trợ làm sạch cõi cảm dục và cõi hạ trí khỏi ảo cảm căn bản này. Nhận thức dần chuyển từ những mảnh rời rạc sang sự hợp nhất, rồi tính duy nhất.

Thu hồi ánh sáng và duy trì phụng sự

Khi kết thúc, chùm sáng được thu về cõi hạ trí, rồi từng ánh sáng trở lại nguồn gốc của mình. Phương pháp có thể áp dụng cả cá nhân lẫn tập thể, nhưng hoạt động nhóm đem lại sự bảo vệ đặc biệt. Ngay cả việc làm sáng tỏ ảo cảm trong một phần nhỏ của đời sống cũng có giá trị đối với toàn thể, vì vậy sự bền bỉ tiếp tục phụng sự giữ vai trò thiết yếu.

Minh Triết Ngàn Đời và thời đại Bảo Bình

Lời khẳng định của Bà Blavatsky rằng huyền bí học phải giành thắng lợi vào cuối thế kỷ XXI được liên hệ với nhu cầu định hướng nhân loại trong thời đại Bảo Bình. Một cách diễn giải được đề xuất là việc bước vào thời đại này đúng đắn phụ thuộc vào mức độ chấp nhận Hình tư tưởng Minh Triết Ngàn Đời. Hình tư tưởng ấy giúp định hướng cuộc tìm kiếm cái thiện, cái mỹ và cái chân.

Text GAW 143 – Văn bản GAW 143

Glamour: A World Problem pages 140–142

Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới trang 140–142

[1] Certain basic premises are, therefore, in order and these might be stated as follows:

[1] Do đó, cần nêu ra một số tiền đề căn bản, có thể trình bày như sau:

[2] 1. The quality and the major characteristic of the soul is light. [3] Therefore, if that light is to be used and that quality expressed by the disciple and the worker, he must first of all achieve a recognized contact with the soul through meditation.

[2] 1. Phẩm tính và đặc tính chủ yếu của linh hồn là ánh sáng. [3] Vì vậy, để sử dụng ánh sáng ấy và biểu lộ phẩm tính ấy, trước hết người đệ tử và người hoạt động phải đạt được sự tiếp xúc với linh hồn qua tham thiền và nhận biết rõ sự tiếp xúc đó.

[4] 2. The quality of the astral plane—its major characteristic—[Page 141] [5] is glamour. [6] It is the field whereon the great battle of the pairs of opposites must be fought as they are the expression of ancient desire, in the one case—glamorous, deceptive and false—and in the other, high spiritual longing for that which is real and true. [7] It should be here remembered that astral desire, [8] wrong and selfish emotion and astral reactions to the facts of daily life, are not natural to the soul and constitute eventually a condition which serves to veil successfully the true nature of the spiritual man.

[4] 2. Phẩm tính của cõi cảm dục—đặc tính chủ yếu của cõi ấy—[Page 141] [5] là ảo cảm. [6] Đó là đấu trường nơi phải diễn ra trận chiến lớn giữa các cặp đối cực, vì chúng là biểu hiện của dục vọng từ xa xưa: một bên đầy ảo cảm, lừa dối và giả trá; bên kia là niềm khao khát tinh thần cao cả hướng đến những gì chân thực. [7] Ở đây cần nhớ rằng dục vọng cảm dục, [8] cảm xúc sai lầm và ích kỷ cùng những phản ứng cảm dục trước các sự việc trong đời sống hằng ngày không thuộc bản chất của linh hồn, và rốt cuộc tạo thành một tình trạng che kín bản chất đích thực của con người tinh thần.

[9] 3. A relation must then be established between the soul and the astral plane, via the astral body of the disciple. [10] This astral body must be regarded by him as his response apparatus to the world of sensation and as the only instrument whereby his soul can contact that level of expression—temporary and non-lasting as it may be. [11] The disciple must, therefore, establish contact with the soul and do this consciously and with the needed emphasis and so carry soul light to his own astral body, learn to focus it there in the solar plexus center, and from that point of achievement proceed to work upon the astral plane at the arduous task of dispelling glamour.

[9] 3. Khi đó, cần thiết lập một mối liên hệ giữa linh hồn và cõi cảm dục, thông qua thể cảm dục của người đệ tử. [10] Y phải xem thể cảm dục này là bộ máy đáp ứng của mình với thế giới cảm giác, đồng thời là công cụ duy nhất để linh hồn y có thể tiếp xúc với cấp độ biểu lộ ấy—dù cấp độ đó chỉ là tạm thời và không bền vững. [11] Vì vậy, người đệ tử phải thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn, thực hiện điều này một cách có ý thức và với sự chú trọng cần thiết, qua đó đưa ánh sáng linh hồn vào thể cảm dục của chính mình, học cách tập trung ánh sáng ấy tại trung tâm tùng thái dương, rồi từ thành tựu đó tiến hành công việc gian nan trên cõi cảm dục nhằm xua tan ảo cảm.

[12] 4. When this line of contact has been made and the soul, the astral body and the astral plane have thus been [13] intimately related, [14] the disciple must carry the focused light from the solar plexus (where it has been temporarily localized) to the heart center. [15] There he must steadily hold it and work consistently and perseveringly from that higher center. [16] I might here paraphrase an ancient instruction for disciples, which can be found in the Archives of the Hierarchy and which refers to this particular process. I am giving you a brief and somewhat inadequate paraphrase of this ancient symbolic wording: [Page 142]

[12] 4. Khi đường dây tiếp xúc này đã được thiết lập và linh hồn, thể cảm dục cùng cõi cảm dục nhờ đó đã [13] liên hệ mật thiết với nhau, [14] người đệ tử phải đưa ánh sáng đã tập trung từ tùng thái dương (nơi ánh sáng ấy tạm thời khu trú) lên trung tâm tim. [15] Tại đó, y phải giữ ánh sáng ấy ổn định và làm việc một cách nhất quán, kiên trì từ trung tâm cao hơn ấy. [16] Ở đây, Tôi có thể diễn ý một huấn thị cổ dành cho các đệ tử, được lưu giữ trong Văn Khố của Thánh đoàn và đề cập đến tiến trình cụ thể này. Tôi trình bày với các bạn một bản diễn ý ngắn gọn và phần nào chưa đầy đủ về lời dạy mang tính biểu tượng cổ xưa ấy: [Page 142]

[17] “The disciple stands [18] and, with his back to the glamorous fog, [19] looks towards the East from whence the light must stream. [20] Within his heart he gathers all the light available and from that point of power between the shoulder blades the light streams forth.”

[17] “Người đệ tử đứng [18] và, quay lưng về phía màn sương ảo cảm, [19] nhìn về phương Đông, nơi ánh sáng phải tuôn ra. [20] Trong tim mình, y quy tụ tất cả ánh sáng sẵn có, và từ điểm quyền năng ấy giữa hai xương bả vai, ánh sáng tuôn tràn.”

Glamour Webinar 143 – Webinar Ảo Cảm 143

Michael D. Robbins • Book pages 140–142

Michael D. Robbins • Các trang sách 140–142

Hi, friends, and good evening from still another broadcasting place. That is actually a fern in back of me, not my latest hairdo. I am glad to be back, and I will work my way gradually back. It has been maybe a couple of weeks now, almost—at least a week—that I have not done some webinars. I am building myself up for things to come. When you do a conference, where I would love to see a lot of you, it takes quite an effort. I arrive two weeks ahead of time, go into isolation mode and try to get ready for this very demanding conference. One of my friends appreciated another conference very much, and then he talked about our conference. He said: the scope of it, the scope!

Xin chào các bạn, chúc các bạn buổi tối tốt lành từ một địa điểm phát sóng khác nữa. Phía sau tôi thực ra là một cây dương xỉ, chứ không phải kiểu tóc mới nhất của tôi. Tôi vui vì đã trở lại, và sẽ dần dần trở lại với công việc. Có lẽ đã gần hai tuần nay—ít nhất cũng một tuần—tôi chưa thực hiện webinar nào. Tôi đang bồi dưỡng sức lực cho những việc sắp tới. Tổ chức một hội nghị, nơi tôi rất mong được gặp đông đảo các bạn, đòi hỏi khá nhiều công sức. Tôi đến trước hai tuần, ở riêng và cố gắng chuẩn bị cho hội nghị đòi hỏi rất nhiều công sức này. Một người bạn của tôi rất tâm đắc với một hội nghị khác, rồi ông ấy nói về hội nghị của chúng ta. Ông ấy nói: phạm vi của hội nghị ấy, thật là một phạm vi rộng lớn!

It is true; we cover a very broad range of subjects and modes of presentation. Some things are really serious, and some things are a lot of fun. We work that way, and the scope is big. By the time we are finished with the preconference and main conference, twelve full days have elapsed, and then there are board meetings and things of that nature. When you travel for 20, 24 or 27 hours, whatever it is for me to get down to the Phoenix area, you have to be in pretty good shape. I am building up to that and feeling better all the time.

Đúng vậy; chúng ta bao quát một phạm vi rất rộng các chủ đề và hình thức trình bày. Có những nội dung thực sự nghiêm túc, và có những nội dung rất vui. Chúng ta làm việc theo cách ấy, và phạm vi rất rộng. Khi chúng ta hoàn tất phần tiền hội nghị và hội nghị chính thì trọn mười hai ngày đã trôi qua, rồi còn các cuộc họp hội đồng và những việc tương tự. Khi phải di chuyển suốt 20, 24 hay 27 giờ, dù thời gian tôi đến khu vực Phoenix là bao lâu đi nữa, thì sức khỏe phải khá tốt. Tôi đang bồi dưỡng sức lực để chuẩn bị cho việc đó và ngày càng cảm thấy khỏe hơn.

I happily welcome Annette, Barbara, Brita, Carl, Catherine, Friedrich, Ishtar, Jan, Joan, Karen, Leslie, Margo, Mario, the two Marthas—Gala View and Mickelson—Natalie, Nicole, Stacia, Suzanne, Tiu, Vera, Winnie, Yvonne, Zenaidi and Veronica. I am really happy to see you here. We are backed up on the staff side by our full team: Michael, Jo and Tuija. I would say we are in pretty good shape.

Tôi vui mừng chào đón Annette, Barbara, Brita, Carl, Catherine, Friedrich, Ishtar, Jan, Joan, Karen, Leslie, Margo, Mario, hai Martha—Gala View và Mickelson—Natalie, Nicole, Stacia, Suzanne, Tiu, Vera, Winnie, Yvonne, Zenaidi và Veronica. Tôi thực sự vui khi thấy các bạn có mặt ở đây. Về phía nhân sự, chúng ta có sự hỗ trợ của đầy đủ đội ngũ: Michael, Jo và Tuija. Tôi nghĩ chúng ta đang ở trong tình trạng khá tốt.

This would be the night when I usually do A Treatise on Cosmic Fire, but I think I will reenter slowly. It invariably goes a long time. I will reenter with that next week and do as much as may be possible.

Thường thì tối nay tôi sẽ trình bày Luận về Lửa Vũ Trụ, nhưng tôi nghĩ mình sẽ từ từ trở lại. Buổi ấy lúc nào cũng kéo dài. Tuần tới tôi sẽ trở lại với tác phẩm ấy và trình bày được đến đâu hay đến đó.

Here is our Egoic Lotus, what we intend to become. This is a kind of nonscintillating picture, right before the climax of the fourth initiation. I am sure that with people like Duane Carpenter and Francis Donald in the world, all those things will be taking on wonderful geometrical movement before long. We will be able to approximate what the Tibetan has told us of the wonder of the display of the fully developed man on the higher mental plane, before he is liberated into the third phase of his development: the Monadic phase of his development. Someone asked me the other day: it looks like you are just going straight to the monad. I wanted to clarify that the Spiritual Triad is—what can I call it?—the mind nature, emotional nature and mental nature of the monad.

Đây là Hoa Sen Chân Ngã của chúng ta, điều chúng ta hướng tới trở thành. Đây là một hình ảnh không lấp lánh, ngay trước cao điểm của lần điểm đạo thứ tư. Tôi tin chắc rằng, khi trên thế giới có những người như Duane Carpenter và Francis Donald, chẳng bao lâu nữa tất cả những hình ảnh ấy sẽ có những chuyển động hình học kỳ diệu. Chúng ta sẽ có thể mô phỏng phần nào những điều Chân sư Tây Tạng đã nói với chúng ta về sự kỳ diệu trong biểu hiện của con người đã phát triển toàn diện trên Cõi thượng trí, trước khi y được giải thoát để bước vào giai đoạn phát triển thứ ba: giai đoạn phát triển chân thần. Hôm nọ có người hỏi tôi: dường như ông đang đi thẳng đến chân thần. Tôi muốn làm rõ rằng Tam Nguyên Tinh Thần là—tôi có thể gọi là gì đây?—bản chất thể trí, bản chất cảm xúc và bản chất trí tuệ của chân thần.

Let us just say that we never reach the monad with full directness until a lot of triadal work has been done. There is a direct line between the Monadic demonstration and its presence in the Lotus, the line direct, but the Triad has to be rather prepared before that line direct can be used. Basically, people like you and I have not yet attended to the development of our upper anatomy, upper spiritual anatomy and physiology, or metaphysiology, the same way we have not yet attended to the development of our personality. Our personality has been under development for a long, long time. We are facing a new frontier, and there are obstacles when we deal with that frontier. We try to overcome those things so the kind of development promised to the human being can truly take place.

Chúng ta không bao giờ tiếp cận chân thần một cách hoàn toàn trực tiếp cho đến khi đã thực hiện rất nhiều công việc liên quan đến Tam nguyên tinh thần. Có một đường nối trực tiếp giữa sự biểu hiện của chân thần và sự hiện diện của chân thần trong Hoa sen, đường nối trực tiếp ấy, nhưng Tam nguyên tinh thần phải được chuẩn bị khá kỹ trước khi có thể sử dụng đường nối trực tiếp đó. Về cơ bản, những người như các bạn và tôi vẫn chưa chăm lo phát triển cấu trúc phần cao của mình, cấu trúc tinh thần phần cao và sinh lý học, hay siêu sinh lý học, cũng như chúng ta vẫn chưa chăm lo phát triển phàm ngã của mình. Phàm ngã của chúng ta đã trải qua quá trình phát triển từ rất lâu, rất lâu rồi. Chúng ta đang đứng trước một miền mới, và có những trở ngại khi chúng ta tiếp cận miền ấy. Chúng ta cố gắng vượt qua những điều đó để sự phát triển đã được hứa hẹn cho con người có thể thực sự diễn ra.

GAW-143-H02 — The Egoic Lotus and the Centers, showing the relation of the monad, Spiritual Triad and Egoic Lotus. Video 6:24.

GAW-143-H02 — Hoa Sen Chân Ngã và các Trung tâm, cho thấy mối quan hệ giữa chân thần, Tam Nguyên Tinh Thần và Hoa Sen Chân Ngã. Video 6:24.

I do believe, or I have the indication, that Venus and Earth were to have evolved in a parallel manner. But somewhere the Logos of Earth, in one of his subsidiary expressions, fell victim to a tendency towards cosmic glamour. Somewhere DK is telling us: the problem with Earth is a personality problem. It has not mastered its personality. In terms of the planets, it is a planetary initiate of the first degree only, cosmically considered, whereas Venus, like Sirius in a way, is minimally a planetary initiate of the third degree, and maybe more. They have their method of evolving as well. We have struggles here because we have allowed certain forces from the previous solar system and from the Moon Chain, I guess, to affect the clarity of our developmental process.

Tôi thực sự tin, hoặc có dấu hiệu cho thấy, rằng Sao Kim và Trái Đất lẽ ra đã tiến hoá song song với nhau. Nhưng ở một thời điểm nào đó, Thượng đế của Trái Đất, trong một trong những biểu hiện phụ thuộc của Ngài, đã trở thành nạn nhân của một khuynh hướng ảo cảm vũ trụ. Ở đâu đó, Chân sư DK nói với chúng ta: vấn đề của Trái Đất là vấn đề phàm ngã. Ngài chưa làm chủ được phàm ngã của mình. Xét về các hành tinh, trên bình diện vũ trụ, Ngài mới chỉ là một điểm đạo đồ hành tinh bậc một, trong khi Sao Kim, theo một cách nào đó giống như Thiên Lang, ít nhất là một điểm đạo đồ hành tinh bậc ba, và có thể còn cao hơn. Các Ngài cũng có phương thức tiến hoá riêng. Ở đây chúng ta phải vật lộn vì đã để cho một số mãnh lực từ hệ mặt trời trước và, tôi đoán, từ Dãy Mặt Trăng ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiến trình phát triển của chúng ta.

Just the way our Planetary Logos is subject to some kind of cosmic glamour, we inherit all that as well, and we have to learn to deal with it. I had this flash the other day: glamour is not really an imaginary thing at all. It really is substantial; you would say it is almost material. It is like a wall. Of course, people eventually are taught to walk through walls; it is one of the psychic abilities. Unless you can get through those barriers, you are not going to see reality as it is.

Cũng như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chịu một dạng ảo cảm vũ trụ nào đó, chúng ta cũng thừa hưởng tất cả những điều ấy, và phải học cách xử lý chúng. Hôm nọ tôi chợt nhận ra điều này: ảo cảm thực sự hoàn toàn không phải là một điều tưởng tượng. Nó thực sự có chất liệu; có thể nói nó gần như có tính vật chất. Nó giống như một bức tường. Dĩ nhiên, cuối cùng người ta cũng được dạy cách đi xuyên qua tường; đó là một trong những năng lực thông linh. Nếu không vượt qua được những rào cản ấy, các bạn sẽ không thấy thực tại đúng như nó vốn có.

Friends, I am a week behind here at least. Today is the 21st, and tomorrow, if you happen to be in our Esoteric United Nations, or maybe have a very strong desire to join in our subjective work for evoking the soul of nations, we have a meeting. I think it is at six in the evening GMT and will end around 7:30. We will continue, and Tuija will continue to offer the vision of what we hope to do during the next number of years: not only evocatory work but protective work, if I can put it like that. You can understand why, with personalities going a little crazy in our world. DK warned about that.

Các bạn à, ở đây tôi chậm ít nhất một tuần. Hôm nay là ngày 21, và ngày mai, nếu các bạn đang tham gia Liên Hợp Quốc Nội Môn của chúng ta, hoặc có một khát vọng rất mạnh mẽ muốn tham gia công việc chủ quan nhằm gợi lên linh hồn của các quốc gia, chúng ta sẽ có một cuộc họp. Tôi nghĩ cuộc họp bắt đầu lúc sáu giờ tối GMT và sẽ kết thúc vào khoảng 7:30. Chúng ta sẽ tiếp tục, và Tuija sẽ tiếp tục trình bày tầm nhìn về những điều chúng ta hy vọng thực hiện trong một số năm tới: không chỉ công việc gợi lên mà còn cả công việc bảo vệ, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy. Các bạn có thể hiểu vì sao, khi các phàm ngã trên thế giới của chúng ta đang trở nên hơi điên loạn. Chân sư DK đã cảnh báo về điều đó.

I think it was in Esoteric Psychology, Volume One. He said the day is coming when there will be many more personalities per se, integrated personalities, not necessarily spiritual at all, and this will present a point of danger to humanity. We have it: these half-baked leaders who are fascinated with themselves and do not see a wider world. It is happening all over the world. It is a stage through which personalities do pass, but by the time they get to the middle of the fifth petal in their development, the tower begins to fall. That tower comes crashing down, and you have the image of the blasted tower from the Tarot. They are falling out of the tower and their egoism is destroyed.

Tôi nghĩ điều ấy nằm trong Tâm Lý Học Nội Môn, Tập Một. Ngài nói rằng sẽ đến ngày có nhiều phàm ngã hơn hẳn, xét chính các phàm ngã ấy, những phàm ngã tích hợp, hoàn toàn không nhất thiết có tính tinh thần, và điều này sẽ tạo ra một mối nguy cho nhân loại. Chúng ta đang chứng kiến điều đó: những nhà lãnh đạo chưa chín chắn này mê mẩn chính mình và không nhìn thấy một thế giới rộng lớn hơn. Điều ấy đang diễn ra khắp thế giới. Đó là một giai đoạn mà các phàm ngã quả thực phải trải qua, nhưng khi tiến đến giữa quá trình phát triển cánh hoa thứ năm, tòa tháp bắt đầu đổ. Tòa tháp ấy sụp đổ ầm ầm, và chúng ta có hình ảnh tòa tháp bị đánh sập trong bộ bài Tarot. Họ rơi khỏi tòa tháp, và tính vị ngã của họ bị phá hủy.

GAW-143-H01 — Native webinar illustration: The Tower.

GAW-143-H01 — Hình minh họa trong webinar gốc: Tòa Tháp.

With the destruction of egoism comes the beginning of the possibility of being on the first stages of real aspiration and the path towards becoming the aspirant, the probationer, the disciple. It is a dangerous period. He did not say when it would happen, but it is all part of this big glamour of personality that we have been working on. Sometimes I say there are a million glamours according to the particular individual, all kinds of distinctive methods by which a barrier might be set up between them and greater truth.

Khi tính vị ngã bị phá hủy, khả năng bước vào những giai đoạn đầu của khát vọng chân chính và con đường trở thành người chí nguyện, người dự bị, người đệ tử cũng bắt đầu mở ra. Đó là một thời kỳ nguy hiểm. Ngài không nói khi nào điều đó sẽ xảy ra, nhưng tất cả đều là một phần của ảo cảm lớn lao về phàm ngã mà chúng ta đang tìm cách xử lý. Đôi khi tôi nói có cả triệu ảo cảm tùy theo từng cá nhân cụ thể, đủ mọi cách riêng biệt có thể dựng lên một rào cản giữa họ với chân lý rộng lớn hơn.

But in the last analysis, the thing that is really inhibiting is the illusion of mistaken identity and personality centrism, which is why decentralization is so very important, and then the full flood of emotional desire behind that craving to be at the center of the world, namely the limitations of personalism. Out of all that, as far as I can see, come the many other glamours. The main thing is that man does not know who he is. He thinks he is something that he is not, that part of himself is all of himself. As a result, he makes terrible mistakes and perpetuates them as if they were just the natural course of things. We have to break that major illusion and all the desire that goes into reinforcing it. Just ponder on that for a moment.

Nhưng xét cho cùng, điều thực sự gây cản trở là ảo tưởng về việc nhận lầm bản sắc và lấy phàm ngã làm trung tâm, vì thế việc phi tập trung vào bản thân mới vô cùng quan trọng; rồi đến cả dòng lũ dục vọng cảm xúc đứng sau sự khao khát được ở trung tâm thế giới ấy, tức những giới hạn của chủ nghĩa cá nhân. Theo những gì tôi thấy, nhiều ảo cảm khác phát sinh từ tất cả những điều ấy. Điều cốt yếu là con người không biết mình là ai. Y nghĩ mình là một điều gì đó mà thực ra y không phải, rằng một phần của mình là toàn bộ chính mình. Do đó, y phạm những sai lầm khủng khiếp và duy trì chúng như thể chúng chỉ là diễn tiến tự nhiên của sự việc. Chúng ta phải phá vỡ ảo tưởng chủ yếu ấy cùng toàn bộ dục vọng góp phần củng cố nó. Hãy suy ngẫm về điều đó một lát.

The Hindus and that whole Vedanta tradition really have it right; they know the nature of illusion. When the soul ray of India under Aries really begins to emerge, and the spiritual center we call Darjeeling awakens—it is the most occult center and is not by any means awakened yet—we are going to see a whole new attitude towards what the human being really is, a growth of group consciousness and a real movement towards the consciousness of oneness. Misidentification, friends. Until any of us can stand back and say, “I have, but I am not that which I have,” the distinction between Aries and Taurus will not be understood. The mistake being made is that the human being mistakes having for being, possession for its identity. The having must not be mistaken for the being.

Những người theo Ấn giáo và toàn bộ truyền thống Phệ Đàn Đa ấy thực sự đã hiểu đúng; họ biết bản chất của ảo tưởng. Khi cung linh hồn của Ấn Độ dưới ảnh hưởng của Bạch Dương thực sự bắt đầu xuất hiện, và trung tâm tinh thần mà chúng ta gọi là Darjeeling thức tỉnh—đó là trung tâm huyền bí nhất và hoàn toàn chưa thức tỉnh—chúng ta sẽ thấy một thái độ hoàn toàn mới đối với bản chất thực sự của con người, sự phát triển tâm thức nhóm và một chuyển động thực sự hướng tới tâm thức nhất thể. Nhận lầm bản sắc, các bạn à. Chừng nào mỗi người trong chúng ta chưa thể lùi lại và nói: “Tôi có, nhưng tôi không phải là những gì tôi có”, thì vẫn chưa thể thấu hiểu sự khác biệt giữa Bạch Dương và Kim Ngưu. Sai lầm đang mắc phải là con người nhầm lẫn việc có với việc là, nhầm lẫn sự sở hữu với bản sắc của mình. Không được nhầm lẫn cái mình có với cái mình là.

We are on page 140, roughly, making our way through this book written in the 1930s largely to a small group of interested disciples who had been gathered to the periphery of Master DK’s Ashram. We know the story; they were not yet able to do what he had in mind for them. But the seed group project lasts until the year 2200—and who knows how they may adapt that—which is still 175 years roughly away from now. Maybe all this can be brought to a wonderful fruition, and real teams can be out there representing each of the seed groups, including this Observers of Reality seed group, number two, which deals with the dissipation of glamour.

Chúng ta đang ở khoảng trang 140, lần lượt tìm hiểu cuốn sách được viết vào thập niên 1930 này, chủ yếu dành cho một nhóm nhỏ các đệ tử quan tâm đã được quy tụ ở vòng ngoài ashram của Chân sư DK. Chúng ta biết câu chuyện ấy; lúc đó họ chưa thể làm những gì Ngài dự định cho họ. Nhưng dự án nhóm hạt giống kéo dài đến năm 2200—và ai biết được Các Ngài có thể điều chỉnh dự án ấy như thế nào—tức là vẫn còn khoảng 175 năm nữa kể từ bây giờ. Có lẽ tất cả những điều này có thể đạt thành quả tuyệt vời, và những đội ngũ thực thụ có thể hoạt động ngoài kia, đại diện cho từng nhóm hạt giống, kể cả nhóm hạt giống số hai này, Các Nhà Quan Sát Thực Tại, chuyên về việc làm tiêu tan ảo cảm.

Let us do a little thinking together, and then we will have our meditation. He is offering us some basic premises, talking about light being thrown into the astral plane and revealing what otherwise remains present, disruptive, separative, but undetected. That is the problem: undetected and answered by the sad statement, “But that is just the way I am.”

Chúng ta hãy cùng suy nghĩ một chút, rồi sẽ tham thiền. Ngài đang đưa ra cho chúng ta một số tiền đề cơ bản, nói về ánh sáng chiếu vào cõi cảm dục và phơi bày những gì nếu không có ánh sáng ấy thì vẫn hiện diện, gây rối loạn, chia rẽ, nhưng không được phát hiện. Đó là vấn đề: không được phát hiện, rồi được đáp lại bằng câu nói đáng buồn: “Nhưng tôi vốn là như vậy.”

I will never forget my colleague, Marianne Castellino. We were in the United Nations back when Krishnamurti was giving a talk. Obviously, it had to be before 1985, because he passed on then. Everyone was a bit sycophantic, if I can put it that way, a little obsequious: “I am the student; you are the teacher.” An important dignitary asked the question: what should we do to be better, more spiritual people? Krishnamurti was not a big man, but he had tremendous authority, and he could use his voice in various ways that commanded that authority. He just said, “Change!” It resounded through the meeting where the General Assembly, I think, was meeting. It was one of those very big rooms. I do not know what room it was; I think it was that room, but it was huge.

Tôi sẽ không bao giờ quên người đồng nghiệp của mình, Marianne Castellino. Chúng tôi có mặt tại Liên Hợp Quốc khi Krishnamurti đến nói chuyện. Hiển nhiên, chuyện ấy phải diễn ra trước năm 1985, vì ông qua đời vào năm đó. Mọi người đều có phần xu nịnh, nếu tôi có thể nói như vậy, hơi khúm núm: “Tôi là môn sinh; ông là huấn sư.” Một vị chức sắc quan trọng đặt câu hỏi: chúng ta nên làm gì để trở thành những người tốt hơn, có tính tinh thần hơn? Krishnamurti có vóc người không lớn, nhưng ông có uy lực rất mạnh, và có thể sử dụng giọng nói theo nhiều cách để thể hiện uy lực ấy. Ông chỉ nói: “Hãy thay đổi!” Tiếng nói vang dội khắp phòng họp, nơi tôi nghĩ là Đại Hội Đồng đang họp. Đó là một trong những phòng rất lớn. Tôi không biết đó là phòng nào; tôi nghĩ là phòng ấy, nhưng nó rất rộng.

His voice just resounded through that space. “Change,” he said, and that is all he said.

Giọng ông vang dội khắp không gian ấy. “Hãy thay đổi”, ông nói, và đó là tất cả những gì ông nói.

If you have read some of his material, you discover how difficult the demand really is. We think it is the easiest thing in the world to change. Why do we still have glamours life after life after life? It is not so easy. But he was a very willful man, very second ray but first ray, and he just made demands, maybe the way an arhat would, an arhat of the fourth degree.

Nếu đã đọc một số tác phẩm của ông, các bạn sẽ nhận ra đòi hỏi ấy thực sự khó đến mức nào. Chúng ta nghĩ thay đổi là việc dễ nhất trên đời. Tại sao chúng ta vẫn còn những ảo cảm hết kiếp này đến kiếp khác? Điều ấy không dễ đến vậy. Nhưng ông là người có ý chí rất mạnh, rất đậm tính cung hai mà cũng có tính cung một, và ông cứ đưa ra những đòi hỏi, có lẽ theo cách của một vị la hán, một vị la hán bậc bốn.

Some effort must be made to dissipate the fog and the myths which are concentrated on the astral plane.

Cần nỗ lực làm tiêu tan màn sương mù và những huyền thoại tập trung trên cõi cảm dục.

[1] Certain basic premises are, therefore, in order and these might be stated as follows:

[1] Do đó, cần nêu ra một số tiền đề căn bản, có thể trình bày như sau:

So, let's pay close attention and reflect a little.

Vì vậy, chúng ta hãy chú ý thật kỹ và suy ngẫm một chút.

[2] 1. The quality and the major characteristic of the soul is light.

[2] 1. Phẩm tính và đặc tính chủ yếu của linh hồn là ánh sáng.

Just look at that.

Hãy nhìn vào điều đó.

Just think about that for a minute. Yes, we have love; yes, we have the will as it comes in sacrificially, but the quality is light. What does this light do, and in what way do you see light? Or do you see that which light reveals? That is the question. What do you see? You see beams of light, of course, but it is pretty much like illuminating the atmosphere and what is in it. Do you actually ever see light per se, or the essence of it? Let me put it that way.

Hãy suy nghĩ về điều đó một lát. Đúng vậy, chúng ta có tình thương; đúng vậy, chúng ta có ý chí khi ý chí biểu hiện qua sự hy sinh, nhưng phẩm tính là ánh sáng. Ánh sáng này làm gì, và các bạn nhìn thấy ánh sáng theo cách nào? Hay các bạn nhìn thấy những gì ánh sáng phơi bày? Đó là câu hỏi. Các bạn nhìn thấy gì? Dĩ nhiên, các bạn nhìn thấy những chùm sáng, nhưng điều đó phần lớn cũng giống như việc soi sáng bầu không khí và những gì có trong đó. Các bạn có bao giờ thực sự nhìn thấy chính ánh sáng, hay tinh túy của nó không? Cho phép tôi diễn đạt như vậy.

[3] Therefore, if that light is to be used and that quality expressed by the disciple and the worker, he must first of all achieve a recognized contact with the soul through meditation.

[3] Vì vậy, để sử dụng ánh sáng ấy và biểu lộ phẩm tính ấy, trước hết người đệ tử và người hoạt động phải đạt được sự tiếp xúc với linh hồn qua tham thiền và nhận biết rõ sự tiếp xúc đó.

Some of us have been in this incarnation, in this field, a long time, and we have been trying to learn how to meditate. If you have had the good fortune of reading and rereading From Intellect to Intuition, you understand that there are lots of ways to avoid learning how to meditate. You can get overly absorbed in study. It is good, as long as it is not excessive. You can do a lot of running around on the outer plane and being helpful; you can call it service, even though real service is spontaneous soul radiation, and then avoid ever learning to meditate, says Alice Bailey. It is a wonderful book, From Intellect to Intuition. I have never read anything so good on contemplation as what she has.

Một số người trong chúng ta đã ở trong kiếp lâm phàm này, trong lĩnh vực này, từ lâu, và chúng ta vẫn đang cố gắng học cách tham thiền. Nếu có may mắn đọc đi đọc lại Từ Trí Năng Đến Trực Giác, các bạn sẽ thấu hiểu rằng có rất nhiều cách để né tránh việc học tham thiền. Các bạn có thể quá mải mê nghiên cứu. Việc ấy là tốt, miễn là không quá mức. Theo Alice Bailey, các bạn có thể tất bật làm nhiều việc trên cõi bên ngoài và giúp đỡ mọi người; các bạn có thể gọi đó là phụng sự, dù phụng sự đích thực là sự tỏa chiếu tự phát của linh hồn, rồi cứ thế né tránh việc học tham thiền. Đó là một cuốn sách tuyệt vời, Từ Trí Năng Đến Trực Giác. Tôi chưa từng đọc điều gì về chiêm ngưỡng hay như những gì Bà viết.

She quotes a lot from the mystic Evelyn Underhill, and maybe that is a somehow more detailed book, not necessarily in the language of the wisdom. Alice Bailey includes all that in her chapter on contemplation. If you really want to distinguish what contemplation is—as a matter of fact, we should do that sometime—we should read her descriptions of the phases of meditation: concentration, meditation, contemplation, illumination, inspiration, initiation. Sometime maybe we will do that.

Bà trích dẫn rất nhiều từ nhà thần bí Evelyn Underhill, và có lẽ cuốn sách ấy phần nào chi tiết hơn, dù không nhất thiết sử dụng ngôn ngữ của minh triết. Alice Bailey đưa tất cả những điều ấy vào chương viết về chiêm ngưỡng. Nếu các bạn thực sự muốn phân biệt rõ chiêm ngưỡng là gì—thật ra, lúc nào đó chúng ta nên làm việc này—chúng ta nên đọc những mô tả của Bà về các giai đoạn tham thiền: tập trung, tham thiền, chiêm ngưỡng, soi sáng, cảm hứng, điểm đạo. Có lẽ lúc nào đó chúng ta sẽ làm việc ấy.

Anyway.

Dù sao đi nữa.

1. The quality and the major characteristic of the soul is light.

1. Phẩm tính và đặc điểm chủ yếu của linh hồn là ánh sáng.

So naturally, this light—all matter is light or condensed light—has a revealing quality. When it shines upon what we have considered customary, we see the apparent object in a completely new context and with completely new understanding. I remember I used to chase after bookmobiles because I lived out in the country in the old days. I picked up some of these old mystical books. It was a very familiar world to me, medieval mysticism, really familiar. To give you an idea of the kind of thing you would read: a flea—let us talk about a little animal there—a flea in God is worth far more than a castle outside of God. That is not a direct quote, but you get the idea.

Vì vậy, đương nhiên ánh sáng này—mọi vật chất đều là ánh sáng hoặc ánh sáng cô đặc—có phẩm tính phơi bày. Khi ánh sáng ấy chiếu lên những gì chúng ta vốn xem là quen thuộc, chúng ta thấy đối tượng trước mắt trong một bối cảnh hoàn toàn mới và với một sự thấu hiểu hoàn toàn mới. Tôi nhớ trước đây mình thường đuổi theo những xe thư viện lưu động vì hồi ấy tôi sống ở nông thôn. Tôi đã tìm được một số cuốn sách thần bí xưa ấy. Đó là một thế giới rất quen thuộc với tôi, thần bí học thời trung cổ, thực sự quen thuộc. Để các bạn hình dung loại nội dung có thể đọc được: một con bọ chét—ở đây chúng ta nói về một con vật nhỏ—một con bọ chét trong Thượng đế có giá trị hơn rất nhiều so với một tòa lâu đài bên ngoài Thượng đế. Đó không phải là trích dẫn nguyên văn, nhưng các bạn hiểu ý.

The humblest thing, as we usually perceive things, if in God, that is, if perceived in soul light, is worth far more than the most glorious fabrication outside the range of soul light. Think about that for a minute, because it shows you that we live in a divine world. Some people say: what a beautiful world it is! Is not everything glorious, everything beautiful? Master Morya tells us, “With beauty thou hast the light.” These people are perceiving in the light of the soul. Then there are others who can see the most glorious things, and it moves them not; they are outside the range of soul perception. Better to perceive within the light of the soul.

Điều nhỏ bé nhất theo cách chúng ta thường nhìn nhận sự vật, nếu ở trong Thượng đế, tức là nếu được nhận thức trong ánh sáng linh hồn, thì có giá trị hơn rất nhiều so với công trình lộng lẫy nhất nằm ngoài phạm vi ánh sáng linh hồn. Hãy suy nghĩ về điều đó một lát, vì nó cho các bạn thấy rằng chúng ta sống trong một thế giới thiêng liêng. Có người nói: thế giới này đẹp biết bao! Chẳng phải mọi thứ đều huy hoàng, mọi thứ đều đẹp đẽ sao? Chân sư Morya nói với chúng ta: “Có cái đẹp, ngươi có ánh sáng.” Những người này đang nhận thức trong ánh sáng của linh hồn. Rồi có những người khác có thể nhìn thấy những điều huy hoàng nhất mà vẫn không hề xúc động; họ ở ngoài phạm vi nhận thức của linh hồn. Tốt hơn là nhận thức trong ánh sáng của linh hồn.

Therefore, if that light is to be used and that quality expressed by the disciple and the worker,

Vì vậy, để người đệ tử và người hoạt động sử dụng ánh sáng ấy và biểu lộ phẩm tính ấy,

Is there one without the other?

Có thể có điều này mà thiếu điều kia không?

he must first of all achieve

trước hết y phải đạt được

How long we've been attempting.

Chúng ta đã cố gắng lâu biết bao.

a recognized contact with the soul through meditation.

sự tiếp xúc với linh hồn mà mình nhận biết rõ, thông qua tham thiền.

Now note:

Bây giờ hãy lưu ý:

In our usual meditation, which emphasizes light in this dissipation of glamour work, we preliminarily come in touch with the light of the soul. We are supposed to. Do we recognize it when the light of the soul really begins to be activated? Sometimes the light in the head and those kinds of visual phenomena occur, and then there is this more tactile sense of things. You begin to feel within your body or etheric nature currents of energy that you did not feel before. These are all signs that you are contacting a higher level of vibration, and we want persistently to do that until we are Chohans, centered within the monad, and then, of course, beyond that too.

Trong bài thiền thường lệ, vốn nhấn mạnh ánh sáng trong công việc làm tiêu tan ảo cảm này, trước tiên chúng ta tiếp xúc với ánh sáng của linh hồn. Chúng ta cần làm được như vậy. Chúng ta có nhận biết được khi ánh sáng của linh hồn thực sự bắt đầu hoạt động không? Đôi khi ánh sáng trong đầu và những hiện tượng thị giác tương tự xuất hiện, rồi còn có cảm nhận về sự vật gần với xúc giác hơn. Các bạn bắt đầu cảm thấy trong thân thể hoặc bản chất dĩ thái của mình những dòng năng lượng mà trước đây chưa từng cảm thấy. Tất cả đều là dấu hiệu cho thấy các bạn đang tiếp xúc với một cấp độ rung động cao hơn, và chúng ta muốn kiên trì làm như vậy cho đến khi trở thành các Đấng Đế Quân, an trụ trong chân thần, rồi dĩ nhiên còn vượt xa hơn nữa.

[4] 2. The quality of the astral plane—its major characteristic—

[4] 2. Phẩm tính của cõi cảm dục—đặc tính chủ yếu của cõi ấy—[Page 141]

Not a very happy thought here.

Đây không phải là một ý nghĩ vui vẻ cho lắm.

[5] is glamour.

[5] là ảo cảm.

We may have thought: It is attractive; it is the next step, all that. Master Morya says: do not be like Moses. Moses wandering in the wilderness for forty years with the people of Israel is an outer symbol of an inner event. How much of that really took place? How much is allegorical, the parting of the Red Sea and all that? Let us just say the astral plane is the wilderness, wandering in the wilderness. Master Morya advises: go straight through, do not stop, do not become attracted, do not get off the path. Go straight through the wilderness fleetly, swiftly, and do not be attracted to the sideshow. That was one of the.

Có thể chúng ta từng nghĩ: cõi ấy thật hấp dẫn; đó là bước tiếp theo, cùng tất cả những điều như thế. Chân sư Morya nói: đừng giống như Moses. Việc Moses lang thang trong hoang mạc suốt bốn mươi năm cùng dân Israel là một biểu tượng bên ngoài của một sự kiện bên trong. Bao nhiêu phần trong đó thực sự đã xảy ra? Bao nhiêu phần mang tính ẩn dụ, như việc rẽ nước Biển Đỏ và tất cả những điều ấy? Cõi cảm dục là hoang mạc, là sự lang thang trong hoang mạc. Chân sư Morya khuyên: hãy đi thẳng qua, đừng dừng lại, đừng để bị thu hút, đừng rời khỏi con đường. Hãy đi thẳng qua hoang mạc thật nhanh, thật mau, và đừng để những trò diễn bên đường thu hút. Đó là một trong những.

Things I really remember. The teacher to whom I am so indebted—I said: what about this discipline and that discipline? I mentioned astrology and many other occult things. He said: all of that is fine and good, but do not be attracted by the sideshow and miss the main event. The main event was this ability to see the One, to be the One and to identify as the One. I spent many years of my life sometimes in the sideshow, but never forgetting that lesson about the main event. If we get anchored in the main event, it is like the biblical phrase: “Seek ye first the kingdom of heaven, and all things will be added unto you.” Seek ye first the main event, and you will have the sideshow too. The major quality, however, he says.

Những điều tôi thực sự ghi nhớ. Với vị huấn sư mà tôi mang ơn sâu sắc, tôi đã hỏi: còn môn học này, môn học kia thì sao? Tôi nhắc đến chiêm tinh học và nhiều môn huyền bí khác. Ông nói: tất cả những điều đó đều tốt đẹp, nhưng đừng để tiết mục phụ thu hút mà bỏ lỡ sự kiện chính. Sự kiện chính là khả năng thấy Đấng Duy Nhất, là Đấng Duy Nhất và đồng hoá với Đấng Duy Nhất. Trong nhiều năm cuộc đời, đôi khi tôi mải mê với tiết mục phụ, nhưng chưa bao giờ quên bài học ấy về sự kiện chính. Nếu chúng ta bám vững vào sự kiện chính, thì cũng giống như câu Kinh Thánh: “Trước hết hãy tìm kiếm Thiên Quốc, rồi mọi điều sẽ được ban thêm cho các ngươi.” Trước hết hãy tìm kiếm sự kiện chính, rồi các bạn cũng sẽ có cả tiết mục phụ. Tuy nhiên, ông nói, phẩm tính chủ yếu.

is glamour.

là ảo cảm.

[6] It is the field whereon the great battle of the pairs of opposites must be fought as they are the expression of ancient desire, in the one case—glamorous, deceptive and false—and in the other, high spiritual longing for that which is real and true.

[6] Đó là đấu trường nơi phải diễn ra trận chiến lớn giữa các cặp đối cực, vì chúng là biểu hiện của dục vọng từ xa xưa: một bên đầy ảo cảm, lừa dối và giả trá; bên kia là niềm khao khát tinh thần cao cả hướng đến những gì chân thực.

You know.

Các bạn biết đấy.

The battle of Kurukshetra, and somehow the Bhagavad Gita illustrating that tremendous battle. Philip Lindsay knows a lot about this. There is this eight- or nine-hour movie about the great battle between the two sides of the family—one of the names, something like that; I do not know the details. The Bhagavad Gita apparently was a real battle in the middle of the Atlantean period, south of the city now known as Delhi or New Delhi. It was the real thing and, in a way, very decisive for humanity. It compelled various changes of approach, but it was also a kind of victory, at least that humanity would not totally succumb to the left-hand path. It was said to have been fought with stupendous weapons about which we know nothing. One of these weapons was called the Eye of Kapila.

Trận chiến Kurukshetra, và theo một cách nào đó, Bhagavad Gita minh họa cuộc chiến khủng khiếp ấy. Philip Lindsay biết rất nhiều về điều này. Có một bộ phim dài tám hoặc chín giờ về cuộc đại chiến giữa hai nhánh của một gia tộc—một trong những cái tên, đại loại như vậy; tôi không biết rõ chi tiết. Trận chiến trong Bhagavad Gita dường như là một trận chiến có thật vào giữa thời kỳ Atlantis, ở phía nam thành phố ngày nay gọi là Delhi hay New Delhi. Đó là một sự kiện có thật và, theo một phương diện, có tính quyết định rất lớn đối với nhân loại. Nó buộc phải có nhiều thay đổi trong cách tiếp cận, nhưng cũng là một dạng chiến thắng, ít nhất là để nhân loại không hoàn toàn khuất phục trước tả đạo. Người ta nói rằng trong trận chiến ấy đã sử dụng những vũ khí phi thường mà chúng ta hoàn toàn không biết gì. Một trong những vũ khí đó được gọi là Con Mắt của Kapila.

Somewhere—I think Tuija has it—the names of the exoteric and esoteric Kumaras are given. Whatever Kumara occupies an exoteric position is a Buddha of Activity. They keep rotating, apparently changing positions. Among the esoteric Kumaras of the day there is only one whose name begins with a different letter, and that is Kapila. Talk about laser weapons and things of tremendous destructive potential: apparently in this great Atlantean battle those kinds of things were utilized. Someone told me there is some kind of structure of the glass, a melting of stone or an appearance of a certain type of glass, that shows weapons of tremendous heat generation were used in those days. I do not know if you can stand to see a movie for eight or nine hours. Is it Richard Brooks, the director?

Ở đâu đó—tôi nghĩ Tuija có tài liệu ấy—có nêu tên các vị Kumara ngoại môn và nội môn. Bất cứ vị Kumara nào giữ một vị trí ngoại môn đều là một vị Phật Hoạt Động. Các Ngài liên tục luân phiên, dường như thay đổi vị trí. Trong số các vị Kumara nội môn thời đó, chỉ có một vị có tên bắt đầu bằng một chữ cái khác, đó là Kapila. Nói đến vũ khí laze và những thứ có tiềm năng hủy diệt khủng khiếp: dường như trong cuộc đại chiến Atlantis này, người ta đã sử dụng những thứ như thế. Có người nói với tôi rằng có một dạng cấu trúc thủy tinh, dấu vết đá nóng chảy hay sự xuất hiện của một loại thủy tinh nào đó, cho thấy thời ấy người ta đã sử dụng những vũ khí tạo ra nhiệt lượng cực lớn. Tôi không biết các bạn có chịu nổi việc xem một bộ phim suốt tám hoặc chín giờ không. Có phải Richard Brooks là đạo diễn không?

I am not sure; Brooks comes to my mind, but I may be incorrect. It might really be worth seeing because it was a turning point for humanity. The Spiritual Hierarchy had to go indoors, so to speak, and the Mysteries were established on the higher planes, or at least reemphasized. They could not come out among humanity directly anymore, because a lot of responsibility was being put on humanity from that time on. What has it gained? Something, but now you have to help yourself. That is the way it has been up to this time, when again the Masters will come forward and walk among us in recognizable form.

Tôi không chắc; cái tên Brooks hiện lên trong trí tôi, nhưng có thể tôi nhầm. Bộ phim ấy có lẽ thực sự đáng xem, vì đó là một bước ngoặt đối với nhân loại. Có thể nói, Thánh đoàn phải lui vào bên trong, và các Bí Pháp được thiết lập trên các cõi cao, hoặc ít nhất cũng được nhấn mạnh trở lại. Các Ngài không còn có thể trực tiếp xuất hiện giữa nhân loại nữa, vì từ thời điểm đó, nhân loại phải gánh vác rất nhiều trách nhiệm. Nhân loại đã đạt được gì? Cũng được đôi điều, nhưng giờ đây mỗi người phải tự giúp mình. Tình trạng ấy vẫn kéo dài cho đến thời điểm hiện nay, khi các Chân sư sẽ lại bước ra và đi giữa chúng ta trong hình tướng có thể nhận biết.

Every one of us microcosmically has this battle between the pairs of opposites within us. None of us escapes being the Dweller and being the Angel. If the Dweller is always winning, and we are oriented in our desire nature towards the Dweller, then indeed we are subject to glamour. In a way, glamour is nothing but personality living without knowing that a higher one of the pairs of opposites exists. If I am in this Lotus, having a grand old time developing the first, second and third petals, I may be a very intelligent person by the later development of petal three. However, I am still in the Hall of Ignorance. One, two, three: Hall of Ignorance; four, five, six: Hall of Learning; seven, eight, nine: Hall of Wisdom, sacrificing wisdom.

Ở quy mô tiểu thiên địa, mỗi chúng ta đều có cuộc chiến giữa các cặp đối cực này bên trong mình. Không ai trong chúng ta tránh khỏi việc vừa là Kẻ Chận Ngõ vừa là Thiên Thần. Nếu Kẻ Chận Ngõ luôn chiến thắng, và bản chất dục vọng của chúng ta hướng về Kẻ Chận Ngõ, thì quả thực chúng ta chịu sự chi phối của ảo cảm. Theo một phương diện, ảo cảm chẳng qua là sống đời phàm ngã mà không biết rằng thành phần cao hơn trong các cặp đối cực có tồn tại. Nếu tôi ở trong Hoa sen này, vui thú phát triển các cánh hoa thứ nhất, thứ hai và thứ ba, thì đến giai đoạn phát triển về sau của cánh hoa thứ ba, tôi có thể là một người rất thông minh. Tuy nhiên, tôi vẫn ở trong Phòng Vô Minh. Một, hai, ba: Phòng Vô Minh; bốn, năm, sáu: Phòng Học Tập; bảy, tám, chín: Phòng Minh triết, minh triết hi sinh.

We have to learn that even though we have knowledge, we may still be in ignorance. The very first tier of petals, when you are learning all about the world and can develop some pretty acute intellect in that third petal, is still the Hall of Ignorance because we are unaware of the higher of the pairs of opposites.

Chúng ta phải học rằng dù có tri thức, chúng ta vẫn có thể ở trong vô minh. Tầng cánh hoa đầu tiên, khi các bạn học hỏi mọi điều về thế giới và có thể phát triển một trí năng khá sắc bén ở cánh hoa thứ ba, vẫn là Phòng Vô Minh, vì chúng ta chưa nhận biết thành phần cao hơn trong các cặp đối cực.

[7] It should be here remembered that astral desire,

[7] Ở đây cần nhớ rằng dục vọng cảm dục,

Just observe yourself—

Hãy cứ quan sát chính mình—

[8] wrong and selfish emotion and astral reactions to the facts of daily life, are not natural to the soul and constitute eventually a condition which serves to veil successfully the true nature of the spiritual man.

[8] cảm xúc sai lầm và ích kỷ cùng những phản ứng cảm dục trước các sự việc trong đời sống hằng ngày không thuộc bản chất của linh hồn, và rốt cuộc tạo thành một tình trạng che kín bản chất đích thực của con người tinh thần.

We know the story; it happened largely in Atlantean days. The time came when the Black Lodge said: let us make it even more difficult for humanity to move into reality. They aided and abetted all these selfish emotions. If we really stretch out how long we have lived on this particular planet and what we have done, it is an amazing saga, one that the average individual cares nothing about and really knows nothing about. We have been here a long time, however you slice it. If you are interested in Theosophy and Master DK, you have been here a long time.

Chúng ta biết câu chuyện ấy; phần lớn nó diễn ra vào thời Atlantis. Đã đến lúc Hắc đoàn nói: hãy khiến việc nhân loại tiến vào thực tại trở nên khó khăn hơn nữa. Họ tiếp tay và dung dưỡng tất cả những cảm xúc ích kỷ này. Nếu thực sự nhìn lại toàn bộ thời gian chúng ta đã sống trên hành tinh này và những gì chúng ta đã làm, thì đó là một thiên sử thi đáng kinh ngạc, một câu chuyện mà người bình thường chẳng hề quan tâm và thực sự cũng chẳng biết gì. Dù xét theo cách nào, chúng ta cũng đã ở đây rất lâu. Nếu các bạn quan tâm đến Thông Thiên Học và Chân sư DK, thì các bạn đã ở đây rất lâu rồi.

It may have been only since the days in Lemuria, in middle Lemuria, but the odds are that it has been billions of years longer, that you are Moon Chain humanity and even beyond, in the previous solar system. When the Tibetan says human progress has been painfully slow, you have to look at glamour as one of the great reasons: self-generated, natural in the personality world, part of the problem of our Planetary Logos, which we have absorbed. Our Planetary Logos, now in a masculine incarnation, is very much delayed compared to where he would be, and we all suffer the consequences as well because, in a way, we are that Logos.

Có thể chỉ từ thời Lemuria, vào giữa thời Lemuria, nhưng nhiều khả năng còn lâu hơn thế hàng tỉ năm, rằng các bạn thuộc nhân loại Dãy Mặt Trăng, thậm chí còn xa hơn nữa, trong hệ mặt trời trước. Khi Chân sư Tây Tạng nói rằng sự tiến bộ của nhân loại chậm chạp đến mức đau đớn, các bạn phải nhìn nhận ảo cảm là một trong những nguyên nhân lớn: do chính chúng ta tạo ra, vốn tự nhiên trong thế giới phàm ngã, và là một phần vấn đề của Hành Tinh Thượng đế chúng ta mà chúng ta đã hấp thụ. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, hiện đang trong một lần lâm phàm nam tính, đã chậm trễ rất nhiều so với vị trí lẽ ra Ngài đã đạt tới, và tất cả chúng ta cũng chịu hậu quả, vì theo một phương diện, chúng ta chính là Thượng đế ấy.

[9] 3. A relation must then be established between the soul and the astral plane, via the astral body of the disciple.

[9] 3. Khi đó, cần thiết lập một mối liên hệ giữa linh hồn và cõi cảm dục, thông qua thể cảm dục của người đệ tử.

It's a very clear principle Now, If we get too much soul energy that we don't know how to handle into the situation, we can make the glamour worse. But this has to be done, and as you see the meditation that we have been doing well.

Đó là một nguyên khí rất rõ ràng. Giờ đây, nếu chúng ta đưa vào tình huống ấy quá nhiều năng lượng linh hồn mà không biết cách xử lý, chúng ta có thể khiến ảo cảm trở nên tồi tệ hơn. Nhưng việc này phải được thực hiện, và như các bạn thấy qua bài tham thiền mà chúng ta đã thực hành.

We've been trying to do that.

Chúng ta đã cố gắng làm điều đó.

[10] This astral body must be regarded by him as his response apparatus to the world of sensation and as the only instrument whereby his soul can contact that level of expression—temporary and non-lasting as it may be.

[10] Y phải xem thể cảm dục này là bộ máy đáp ứng của mình với thế giới cảm giác, đồng thời là công cụ duy nhất để linh hồn y có thể tiếp xúc với cấp độ biểu lộ ấy—dù cấp độ đó chỉ là tạm thời và không bền vững.

This is it.

Chính là như vậy.

The key is the word response apparatus—keep it in good shape. That allows us to enter the world of sentiency and hopefully not the world of illusion.

Chìa khóa nằm ở cụm từ bộ máy đáp ứng—hãy giữ cho nó hoạt động tốt. Điều đó cho phép chúng ta bước vào thế giới cảm nhận và hy vọng tránh được thế giới ảo tưởng.

[11] The disciple must, therefore, establish contact with the soul and do this consciously and with the needed emphasis and so carry soul light to his own astral body, learn to focus it there in the solar plexus center, and from that point of achievement proceed to work upon the astral plane at the arduous task of dispelling glamour.

[11] Vì vậy, người đệ tử phải thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn, thực hiện điều này một cách có ý thức và với sự chú trọng cần thiết, qua đó đưa ánh sáng linh hồn vào thể cảm dục của chính mình, học cách tập trung ánh sáng ấy tại trung tâm tùng thái dương, rồi từ thành tựu đó tiến hành công việc gian nan trên cõi cảm dục nhằm xua tan ảo cảm.

Soul light into the astral body: we will know what we are desiring, what we are aspiring towards, why we desire what we desire, why we build those desire forms, and the motive behind our aspiration. We are told the Hierarchy judges us so often by our motives, not necessarily by our immediate successes and failures. An illumined astral body—at first, I suppose, it is a pretty horrible sight, not at all the way we glamorize it. But the glamour of the beauty of the astral plane, I think, is probably one of the main glamours. We are attracted to that level of life. How often he seems to indicate soul-mind-brain, and leaves the astral body out of it. The astral body really has to be converted before it can be part of that very important alignment.

Ánh sáng linh hồn đi vào thể cảm dục: chúng ta sẽ biết mình đang ham muốn điều gì, đang khát vọng hướng tới điều gì, vì sao chúng ta ham muốn những điều ấy, vì sao chúng ta xây dựng những hình tướng dục vọng ấy, và động cơ đằng sau khát vọng của mình. Chúng ta được cho biết rằng Thánh đoàn rất thường đánh giá chúng ta qua động cơ, chứ không nhất thiết qua những thành công và thất bại trước mắt. Một thể cảm dục được soi sáng—thoạt đầu, tôi cho rằng đó là một cảnh tượng khá kinh khủng, hoàn toàn không giống cách chúng ta tô đẹp nó bằng ảo cảm. Nhưng tôi nghĩ ảo cảm về vẻ đẹp của cõi cảm dục có lẽ là một trong những ảo cảm chủ yếu. Chúng ta bị thu hút bởi cấp độ sự sống ấy. Biết bao lần dường như Ngài chỉ ra chuỗi linh hồn–thể trí–bộ não và bỏ thể cảm dục ra ngoài. Thể cảm dục thực sự phải được cải biến trước khi có thể trở thành một phần của sự chỉnh hợp hết sức quan trọng ấy.

I realize, friends, that I am not covering a lot of ground fast. In a way, I am on my way back. In another way, I would just say that we need to give very close attention to these fundamental ideas about how we live the spiritual life.

Thưa các bạn, tôi nhận ra rằng mình chưa đi qua được nhiều nội dung một cách nhanh chóng. Theo một phương diện, tôi đang trên đường trở lại. Theo một phương diện khác, tôi chỉ muốn nói rằng chúng ta cần hết sức chú tâm đến những ý tưởng nền tảng này về cách sống đời sống tinh thần.

[12] 4. When this line of contact has been made and the soul, the astral body and the astral plane have thus been

[12] 4. Khi đường dây tiếp xúc này đã được thiết lập và linh hồn, thể cảm dục cùng cõi cảm dục nhờ đó đã

Note.

Hãy lưu ý.

[13] intimately related,

[13] liên hệ mật thiết với nhau,

He didn't have to put that word in there.

Ngài không nhất thiết phải đưa từ ấy vào đó.