Trích nội dung chương
MDR: I am almost sure of it, because he was a dramatist and he created plays. His rays are one, two and six as given in The Destiny of the Nations. MDR: Tôi gần như chắc chắn về điều đó, vì ông là một nhà soạn kịch và đã sáng tác các vở kịch. Các cung của ông là một, hai và sáu, như được nêu trong Vận Mệnh của các Quốc Gia.
Stacy: Astra asked: Michael, did you say that Hercules had a ray four mind?
Stacy: Astra hỏi: Michael, có phải Thầy đã nói rằng Hercules có thể trí cung bốn không?
MDR: I am almost sure of it, because he was a dramatist and he created plays. His rays are one, two and six as given in The Destiny of the Nations.
MDR: Tôi gần như chắc chắn về điều đó, vì ông là một nhà soạn kịch và đã sáng tác các vở kịch. Các cung của ông là một, hai và sáu, như được nêu trong Vận Mệnh của các Quốc Gia.
His great contribution was as a teacher and a dramatist to help people understand discipleship and the triumph of the disciple in many life circumstances and in a number of astrological tests. I think this is in The Destiny of the Nations.
Đóng góp lớn lao của ông là trong vai trò huấn sư và nhà soạn kịch, giúp mọi người thấu hiểu địa vị đệ tử và sự chiến thắng của người đệ tử trong nhiều hoàn cảnh sống cũng như qua một số thử thách chiêm tinh. Tôi nghĩ điều này nằm trong Vận Mệnh của các Quốc Gia.
He does not give a fourth ray, but what he says is:
Ngài không nêu cung bốn, nhưng Ngài nói như sau:
Hercules, the Sun-God, had a first ray soul, a second ray personality and a sixth ray astral body.
Hercules, Thần Mặt Trời, có linh hồn cung một, phàm ngã cung hai và thể cảm dục cung sáu.
Then he goes on:
Rồi Ngài nói tiếp:
The Buddha had a second ray soul, a first ray personality and a sixth ray mind — a very rare phenomenon.
Đức Phật có linh hồn cung hai, phàm ngã cung một và thể trí cung sáu—một hiện tượng rất hiếm.
The Christ had a second ray soul, a sixth ray personality (which accounted for His close relationship with the Master Jesus), plus a first ray mind.
Đức Christ có linh hồn cung hai, phàm ngã cung sáu (điều này giải thích mối liên hệ gần gũi của Ngài với Chân sư Jesus), cùng với thể trí cung một.
These are the rays given, and the mental ray of Hercules is not given. Given the struggle, the conflict of the protagonist—and he became, in a way, the protagonist—it suggests the battles of the fourth ray. Somewhere in Esoteric Psychology Two: that little elemental that loves to fight, the warring elemental of the mind, the fourth-ray mind.
Đó là những cung được nêu, còn cung thể trí của Hercules thì không được nêu. Xét sự đấu tranh, xung đột của nhân vật chính—và theo một cách nào đó, ông đã trở thành nhân vật chính—điều ấy gợi đến những cuộc chiến của cung bốn. Ở đâu đó trong Tâm Lý Học Nội Môn, tập Hai: hành khí nhỏ bé thích chiến đấu ấy, hành khí hiếu chiến của thể trí, thể trí cung bốn.
That is my estimation. In the middle of these other rays that are given, he needs something to help him produce the great dramas which have come down now for millions of years. Hercules is probably working in the middle of the Atlantean period, and we still have his dramas that have shown the way for the soul to triumph. No doubt he is associated with the sign Scorpio, and Scorpio is particularly the fourth ray sign, at least at the present time. It is the constellation sign which carries more of the fourth ray than any of the other two—that is, Taurus or Sagittarius. This is my estimation about him and the fourth ray.
Đó là nhận định của tôi. Giữa những cung khác đã được nêu, ông cần một điều gì đó để giúp mình tạo ra những vở kịch lớn lao đã lưu truyền đến nay qua hàng triệu năm. Hercules có lẽ hoạt động vào giữa thời kỳ Atlantis, và chúng ta vẫn còn những vở kịch của ông, những vở kịch đã chỉ ra con đường để linh hồn chiến thắng. Chắc chắn ông có liên hệ với dấu hiệu Hổ Cáp, và Hổ Cáp đặc biệt là dấu hiệu cung bốn, ít nhất vào thời điểm hiện tại. Đây là chòm sao hoàng đạo mang nhiều năng lượng cung bốn hơn hai chòm sao còn lại—tức Kim Ngưu hoặc Nhân Mã. Đây là nhận định của tôi về ông và cung bốn.
Stacy: Jan asks: What is the difference between individuation and individualization? Also, when the heart is incorporated into concrete mind is that the birth of intuition?
Stacy: Jan hỏi: Sự khác biệt giữa cá thể hóa và biệt ngã hóa là gì? Ngoài ra, khi trái tim được tích hợp vào trí cụ thể, đó có phải là sự ra đời của trực giác không?
MDR: It depends on what we mean by the heart, because in a way, we mean the causal body and the Egoic Lotus and its influence, and a certain amount of intuitive response exists within the causal body, the Egoic Lotus. It is possible that a map shows it—from the intuitive plane, from the intuitive plane, and there is a line to the love petals of the Egoic Lotus. Therefore, intuition makes its way into the response of the Egoic Lotus. When the Egoic Lotus infuses the concrete mind and the lower aspects of personality, it carries some of that intuition.
MDR: Điều đó tùy thuộc vào điều chúng ta muốn nói khi nhắc đến trái tim, vì theo một cách nào đó, chúng ta muốn nói đến thể nguyên nhân cùng Hoa Sen Chân Ngã và ảnh hưởng của nó, và một mức độ đáp ứng trực giác nhất định tồn tại trong thể nguyên nhân, Hoa Sen Chân Ngã. Có thể một sơ đồ thể hiện điều này—từ cõi trực giác có một đường nối đến các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã. Do đó, trực giác đi vào sự đáp ứng của Hoa Sen Chân Ngã. Khi Hoa Sen Chân Ngã thấm nhuần trí cụ thể và những phương diện thấp của phàm ngã, nó mang theo một phần trực giác ấy.
But let's look at the source. The source of intuition is not the Egoic Lotus, the causal body. As far as we are concerned, the source is found on the fourth sublevel and beyond of the buddhic plane. Because the buddhic connection exists, we can say intuition exists within the causal body, and intuition can descend when the causal body or the Egoic Lotus infuses the normal personality mental apparatus.
Nhưng chúng ta hãy xét nguồn cội. Nguồn cội của trực giác không phải là Hoa Sen Chân Ngã, thể nguyên nhân. Trong phạm vi chúng ta đang xét, nguồn cội ấy nằm trên cõi phụ thứ tư của cõi Bồ đề và cao hơn nữa. Vì có mối liên hệ Bồ đề, chúng ta có thể nói rằng trực giác tồn tại trong thể nguyên nhân, và trực giác có thể giáng xuống khi thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã thấm nhuần bộ máy trí tuệ thông thường của phàm ngã.
GAW-169-H01
GAW-169-H01
We have to look to the buddhic plane and the Monadic plane. Notice I'm skipping the atmic plane. We also have to look to the cosmic astral plane, which has a relationship to the Buddhi. There's a line of Neptunian connections from the cosmic astral plane to the Monadic plane, to the buddhic plane, to the synthesis petals, the love petals of the Egoic Lotus, and finally to the astral plane. However, the origin of intuition is a very high thing, and not just the Egoic Lotus.
Chúng ta phải hướng đến cõi Bồ đề và cõi chân thần. Hãy lưu ý rằng tôi đang bỏ qua cõi atma. Chúng ta cũng phải hướng đến cõi cảm dục vũ trụ, vốn có mối liên hệ với Bồ đề. Có một tuyến liên hệ thuộc Sao Hải Vương từ cõi cảm dục vũ trụ đến cõi chân thần, đến cõi Bồ đề, đến các cánh hoa tổng hợp, các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã, và cuối cùng đến cõi cảm dục. Tuy nhiên, nguồn gốc của trực giác nằm ở một cấp độ rất cao, chứ không chỉ ở Hoa Sen Chân Ngã.
The other question had to do with individuation, a term popularized by Carl Jung. Individualization is the entry of Animal Man into the human kingdom. Individuation is the integration of the human psyche under the directorship of the soul.
Câu hỏi còn lại liên quan đến cá thể hóa, một thuật ngữ do Carl Jung phổ biến. Biệt ngã hóa là sự gia nhập giới nhân loại của người thú. Cá thể hóa là sự tích hợp tâm lý con người dưới sự chỉ đạo của linh hồn.
When Jung was dealing with this, he was dealing with something—maybe he called it the higher self, maybe he didn't—because he wasn't entirely happy about Theosophy. He felt that it tried to answer too many questions, and he was not convinced that it could answer all those questions. But the way individuation worked was, as we would call it, a soul-inspired process of integration for the advanced human being. That's what individuation was—very different from the entry into the fourth kingdom of nature, which brought Animal Man into the condition of being a thinking, self-conscious being. That would have been individualization.
Khi Jung đề cập đến điều này, ông đang đề cập đến một điều gì đó—có lẽ ông gọi nó là chân ngã, có lẽ không—vì ông không hoàn toàn hài lòng với Thông Thiên Học. Ông cảm thấy Thông Thiên Học cố trả lời quá nhiều câu hỏi, và ông không tin chắc rằng nó có thể trả lời tất cả những câu hỏi ấy. Nhưng cách cá thể hóa vận hành, theo cách chúng ta gọi, là một tiến trình tích hợp do linh hồn truyền cảm hứng cho con người tiến hóa cao. Cá thể hóa là như vậy—rất khác với việc gia nhập giới thứ tư trong thiên nhiên, vốn đưa người thú vào trạng thái một sinh linh biết suy nghĩ và có ngã thức. Đó mới là biệt ngã hóa.
Stacy: Leslie writes: the feminine levels?
Stacy: Leslie viết: Các cấp độ nữ tính thì sao?
MDR: The 2-4-6 line here is what we've been looking at, and that includes the Monadic plane. So it's everything that has to do with Neptune. Neptune is said to be a symbol or a stand-in of the permanent atom for the cosmic astral plane, while Saturn is the permanent atom of the cosmic physical plane.
MDR: Tuyến 2-4-6 ở đây là điều chúng ta đang xem xét, và nó bao gồm cả cõi chân thần. Vậy đó là tất cả những gì liên quan đến Sao Hải Vương. Người ta nói Sao Hải Vương là một biểu tượng hay đại diện cho nguyên tử trường tồn của cõi cảm dục vũ trụ, trong khi Sao Thổ là nguyên tử trường tồn của cõi hồng trần vũ trụ.
It is definitely the most powerful planet, I think, in our solar system. This particular solar system is a system of initiation and a system in which Love-Wisdom is developed. Neptune having the second-ray monad, Neptune in a way has great sway over the entire cosmic astral plane. When you bring it down onto the cosmic physical plane, we look at the Monadic plane, which has to do with Pisces. What is that Pisces? “I go forth…” What is the key phrase there?
Tôi nghĩ đây chắc chắn là hành tinh mạnh nhất trong hệ mặt trời của chúng ta. Hệ mặt trời đặc biệt này là một hệ thống điểm đạo và là một hệ thống trong đó Bác Ái – Minh Triết được phát triển. Vì có chân thần cung hai, theo một cách nào đó, Sao Hải Vương có ảnh hưởng rất lớn đối với toàn bộ cõi cảm dục vũ trụ. Khi đưa điều này xuống cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta xét cõi chân thần, vốn liên quan đến Song Ngư. Song Ngư ấy là gì? “Tôi tiến ra…” Cụm từ chủ chốt ở đó là gì?
I leave the Father’s Home and turning back, I save.
Tôi rời Nhà Cha, và khi quay lại, Tôi cứu rỗi.
The salvation aspect of Neptune is found there.
Phương diện cứu rỗi của Sao Hải Vương nằm ở đó.
Neptune is a special ruler of the Monadic plane and a special ruler of the sign Pisces. Jupiter is the regular ruler of the Monadic plane, but those two are very closely related. Then, of course, there are three planets of the intuition, and they naturally have an important part to play on the buddhic plane: Mercury, Jupiter, and Neptune.
Sao Hải Vương là chủ tinh đặc biệt của cõi chân thần và là chủ tinh đặc biệt của dấu hiệu Song Ngư. Sao Mộc là chủ tinh thông thường của cõi chân thần, nhưng hai hành tinh này có liên hệ rất mật thiết. Rồi dĩ nhiên, có ba hành tinh của trực giác, và tự nhiên chúng giữ vai trò quan trọng trên cõi Bồ đề: Sao Thủy, Sao Mộc và Sao Hải Vương.
Neptune is said to be the God of reasoning, but what we mean there is pure reason, and it is powerful in releasing the intuition on the buddhic plane. Then of course, we're used to the idea of the astral ocean and all the glamour and confusion and the mixing of boundaries and so forth. That too is a lower response to Neptune's vibration.
Người ta nói Sao Hải Vương là Thần của lý luận, nhưng điều chúng ta muốn nói ở đây là lý trí thuần khiết, và hành tinh này có sức mạnh lớn trong việc giải phóng trực giác trên cõi Bồ đề. Rồi dĩ nhiên, chúng ta đã quen với ý tưởng về đại dương cảm dục cùng tất cả ảo cảm, sự hỗn loạn, sự hòa lẫn các ranh giới, v.v. Đó cũng là một đáp ứng thấp hơn đối với rung động của Sao Hải Vương.
Yes, as you say the feminine planes: two, four, six.
Đúng vậy, như bạn nói, các cõi nữ tính: hai, bốn, sáu.
Yvonne: This is about Karen's comment. On CNN last night, they interviewed a group of people in rural Tennessee, and they were avid Trumpies, saying "Jesus is my God and Trump is my President." The talking heads on CNN expressed the same frustration: what can we do about it? What can we say to them? How can we change this?
Yvonne: Điều này liên quan đến nhận xét của Karen. Tối qua trên CNN, họ phỏng vấn một nhóm người ở vùng nông thôn Tennessee, và họ là những người nhiệt thành ủng hộ Trump, nói rằng: “Đức Jesus là Thượng đế của tôi và Trump là Tổng thống của tôi.” Các bình luận viên trên CNN cũng bày tỏ cùng một nỗi bức bối: chúng ta có thể làm gì về chuyện này? Chúng ta có thể nói gì với họ? Làm thế nào để thay đổi điều này?
A lot of people said the only thing that is going to change this is taking care of their socioeconomic needs and then education. They've been brought into this cult, and you're not going to talk them out of it or convince them out of it. You just have to take care of feeding them. It's like Mother Teresa said: heal the body, and then worry about the soul after that.
Nhiều người nói rằng điều duy nhất có thể thay đổi tình hình là chăm lo các nhu cầu kinh tế xã hội của họ, rồi đến giáo dục. Họ đã bị lôi kéo vào giáo phái này, và không thể chỉ nói chuyện hay thuyết phục mà khiến họ rời bỏ nó. Chúng ta phải lo cho họ có cái ăn. Giống như Mẹ Teresa đã nói: hãy chữa lành thân thể, rồi sau đó hãy lo đến linh hồn.
MDR: There is something to be said for that. I ran into the idea that socioeconomic envy has been something, and the resentment against the so-called Elite has been with us since the founding of the country. There is a factor of envy, which characterizes people who have not yet achieved what the envied ones have achieved.
MDR: Quan điểm đó có phần xác đáng. Tôi từng gặp ý tưởng rằng sự đố kỵ về kinh tế xã hội là một yếu tố có ảnh hưởng, và lòng oán giận đối với cái gọi là giới tinh hoa đã tồn tại từ khi đất nước được thành lập. Có một yếu tố đố kỵ đặc trưng cho những người chưa đạt được điều mà những người họ đố kỵ đã đạt được.
This takes us straight to the Ageless Wisdom. If the system of development were known and accepted, and even proven in some respects through reincarnation, it would be clear how one becomes a more advanced soul. Maybe some of that envy would dissipate. When you just have one life, and this is it, and you've got it, then it's very easy to be jealous, to be envious, and to want to see the downfall of the people who think they are better than you, so to speak. I'm trying to speak in that language or in a psychological language which is running underneath what people think, though they may not even be aware of it.
Điều này đưa chúng ta thẳng đến Minh Triết Ngàn Đời. Nếu hệ thống phát triển được biết đến và chấp nhận, thậm chí được chứng minh ở một số phương diện thông qua luân hồi, thì sẽ rõ một người trở thành một linh hồn tiến hóa cao hơn bằng cách nào. Có lẽ một phần lòng đố kỵ ấy sẽ tiêu tan. Khi chỉ có một kiếp sống, tất cả chỉ có thế, và đó là toàn bộ những gì mình có, thì rất dễ ghen ghét, đố kỵ và muốn thấy sự sụp đổ của những người mà, có thể nói, cho rằng họ hơn mình. Tôi đang cố nói bằng thứ ngôn ngữ ấy, hay bằng ngôn ngữ tâm lý diễn ra bên dưới những gì người ta suy nghĩ, dù có thể chính họ cũng không nhận biết điều đó.
Eventually, the coming in of the proof of immortality, the proof of reincarnation, the proof of merit—if you will, as the Buddhists understand it—you get certain degrees of merit when you perform well, and it accrues, it collects, it's good for your next incarnation. When all of those things come closer to proof, people will drop their onelifeism that makes them cling to the hope of heaven and want to destroy those who they think pretend are better than they are. There's some very low personality tendencies in why they would like to tear down the so-called Elite.
Cuối cùng, bằng chứng về sự bất tử sẽ xuất hiện, bằng chứng về luân hồi, bằng chứng về công đức—nếu các bạn muốn gọi như vậy, theo cách các Phật tử thấu hiểu—khi hành động tốt, các bạn có được những mức độ công đức nhất định, và công đức ấy tích lũy, gom góp lại, có lợi cho kiếp nhập thể tiếp theo. Khi tất cả những điều đó tiến gần hơn đến chỗ có bằng chứng, người ta sẽ từ bỏ quan niệm chỉ có một kiếp sống, quan niệm khiến họ bám víu vào hy vọng lên thiên đường và muốn hủy hoại những người mà họ cho là đang tỏ ra hơn mình. Có những khuynh hướng phàm ngã rất thấp kém nằm sau việc họ muốn hạ bệ cái gọi là giới tinh hoa.
It shows a very personal possessive attitude which must be outgrown. But when do people want to actually change their ways? It's usually under the spell of suffering that they wish to change, and not before. That is the unfortunate thing.
Điều đó cho thấy một thái độ chiếm hữu rất cá nhân mà con người phải trưởng thành để vượt qua. Nhưng khi nào người ta thực sự muốn thay đổi cách sống của mình? Thông thường, chỉ khi chịu sức chi phối của đau khổ, họ mới muốn thay đổi, chứ không phải trước đó. Đó là điều đáng tiếc.
It is the vision which I see, the dream I dream, the truth I hold, the active form which meets my need, that which I grasp and understand.
Đó là linh ảnh tôi thấy, giấc mơ tôi mơ, chân lý tôi nắm giữ, hình tướng hoạt động đáp ứng nhu cầu của tôi, điều tôi nắm bắt và thấu hiểu.
Here comes the limitation of the sixth ray:
Đây là chỗ xuất hiện giới hạn của cung sáu:
My truth, my peace, my satisfied desire, my dream, my vision of reality, my limited ideal, my finite thought of God;—for these I struggle, fight and die.’
Chân lý của tôi, sự bình an của tôi, dục vọng được thỏa mãn của tôi, giấc mơ của tôi, linh ảnh của tôi về thực tại, lý tưởng hạn hẹp của tôi, tư tưởng hữu hạn của tôi về Thượng đế;—vì những điều ấy, tôi đấu tranh, chiến đấu và chết.’
We have so many people that are in the sixth ray soul group, whatever else they may do as personalities in the world, and this is that possessive personality attitude which characterizes them and which has to be worn away through suffering or through science. We have a choice, I think. Science can do it. They don't listen so much to it, but science can help a great deal, and it will be the future science.
Chúng ta có rất nhiều người thuộc nhóm linh hồn cung sáu, bất kể trong tư cách phàm ngã họ làm gì khác trên thế gian, và đây là thái độ phàm ngã chiếm hữu đặc trưng cho họ, một thái độ phải được bào mòn qua đau khổ hoặc qua khoa học. Tôi nghĩ chúng ta có một lựa chọn. Khoa học có thể làm điều đó. Họ không lắng nghe khoa học cho lắm, nhưng khoa học có thể giúp rất nhiều, và đó sẽ là khoa học tương lai.
As a matter of fact, the scientific group, the seed group, will apply itself first to proving the truth of reincarnation. That's what The Tibetan tells us—it will be absolutely essential. The Christ Himself, it will be one of his major teachings.
Thực ra, nhóm khoa học, nhóm hạt giống, trước tiên sẽ chuyên tâm chứng minh chân lý về luân hồi. Đó là điều Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta—điều này sẽ tuyệt đối thiết yếu. Với chính Đức Christ, đây sẽ là một trong những giáo huấn chính của Ngài.
Can you imagine what would happen if the dynamics of reincarnation, not just the way people strangely believe in it—oh, in your next life, you were bad, you might become a rat or a cockroach or something like that, metempsychosis. No, it's not that. If the scientific approach to reincarnation were established, the attitudes would change, and they will be established as the sixth ray and his souls go out of incarnation, and when they come in again in the next cycle, wherever that happens to be, it will be altogether a different world with many factors proved scientifically, which they will not be able to resist just in the same old way.
Các bạn có thể hình dung điều gì sẽ xảy ra nếu động lực vận hành của luân hồi—chứ không chỉ là cách người ta tin vào nó một cách kỳ lạ: kiếp sau, nếu đã sống xấu, bạn có thể trở thành chuột, gián hay thứ gì tương tự, tức sự chuyển sinh linh hồn. Không, không phải như vậy. Nếu cách tiếp cận khoa học đối với luân hồi được xác lập, các thái độ sẽ thay đổi; và cách tiếp cận ấy sẽ được xác lập khi cung sáu cùng các linh hồn của cung này rời khỏi sự nhập thể, rồi khi họ trở lại trong chu kỳ tiếp theo, dù điều đó diễn ra ở đâu, thì thế giới sẽ hoàn toàn khác, với nhiều yếu tố đã được khoa học chứng minh mà họ sẽ không thể chống lại theo cách cũ.
This can tell the story: integration formula number six, and also the Law of Repulse number six.
Những điều này có thể nói lên câu chuyện ấy: công thức tích hợp số sáu, và cả Định luật Đẩy Lùi số sáu.
Meditation – Tham thiền
Stacy: Michael, there are less than 30 minutes before the vigil is scheduled to begin.
Stacy: Michael, còn chưa đầy 30 phút nữa là đến giờ bắt đầu buổi canh thức.
MDR: That is okay. It is so easy to get into a vigil—I wonder if Tuija would agree with me. We will be doing that, and it will be on Zoom. This time I will try to press the record button. That would be a big help, because we are having some interesting discussions. Let us close with the Great Invocation:
MDR: Không sao. Bắt đầu một buổi canh thức rất dễ—tôi tự hỏi Tuija có đồng ý với tôi không. Chúng ta sẽ thực hiện buổi ấy trên Zoom. Lần này tôi sẽ cố nhấn nút ghi hình. Điều đó sẽ giúp ích rất nhiều, vì chúng ta đang có những cuộc thảo luận thú vị. Chúng ta hãy kết thúc bằng Đại Khấn Nguyện:
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người
Let Light descend on Earth
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian
From the centre where the Will of God is known
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế
Let purpose guide the little wills of men—
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người
Let the Plan of Love and Light work out
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian
OM.
OM.
OM.
OM.
OM.
OM.
Thank you, everybody. Your link for Zoom ends in QT09. I think Michael probably has submitted something where you can just press a link. We will see you shortly, those of you who would like to work with the vigil. Tomorrow we will have The Destiny of the Nations and the vigil; on Sunday, attracting the resources for hierarchical purposes and the vigil.
Cảm ơn mọi người. Liên kết Zoom của các bạn kết thúc bằng QT09. Tôi nghĩ Michael có lẽ đã gửi một thông tin để các bạn chỉ cần nhấn vào liên kết. Chúng ta sẽ gặp lại nhau ngay sau đây, những bạn muốn tham gia buổi canh thức. Ngày mai chúng ta sẽ có Vận Mệnh của các Quốc Gia và buổi canh thức; vào Chủ nhật là thu hút các nguồn lực cho những mục đích của Thánh đoàn và buổi canh thức.
Stacy: A question arose about doing the meditation for the dissipation of glamour.
Stacy: Có một câu hỏi về việc thực hiện bài thiền làm tiêu tan ảo cảm.
MDR: Friends, now I understand why you were hurrying me along. We have to abbreviate it. I got so caught up in the… Now I understand why the timekeepers were rapping at my door. I have an idea: let us simply do our protective formula and ponder the type of glamour we are looking at today, which is sustained and continues to be pressed. I do apologize. I do not think I have done that one before. Let us use the cross, tracing light as we go:
MDR: Các bạn, giờ tôi đã hiểu vì sao các bạn giục tôi tiếp tục. Chúng ta phải rút ngắn phần này. Tôi đã quá mải mê với… Giờ tôi hiểu vì sao những người giữ giờ cứ gõ cửa nhắc tôi. Tôi có một ý: chúng ta chỉ cần thực hiện công thức bảo vệ và suy ngẫm về loại ảo cảm đang xem xét hôm nay, loại ảo cảm vẫn được duy trì và tiếp tục được thúc đẩy. Tôi thực sự xin lỗi. Tôi không nghĩ trước đây mình từng làm như vậy. Chúng ta hãy dùng thập giá, vạch ánh sáng theo từng nét:
“As a soul I work in light and darkness cannot touch me.
“Là một linh hồn, tôi làm việc trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi.
I take my stand within the light.
Tôi giữ vững vị trí trong ánh sáng.
I work and from that point I never move.”
Tôi làm việc và không bao giờ rời khỏi điểm ấy.”
We gather three lights together, and they become one projected beam. We look out upon the astral plane imaginatively, and we see a world in which lies are flourishing—lies and manipulation. We see the emotions of selfishness trying to take away the rights of others, and that beam penetrates the dark clouds, the veils which prevent true orientation toward reality.
Chúng ta quy tụ ba ánh sáng lại với nhau, và chúng trở thành một chùm sáng phóng chiếu. Bằng sự tưởng tượng, chúng ta nhìn ra cõi cảm dục và thấy một thế giới trong đó những lời dối trá đang sinh sôi—dối trá và thao túng. Chúng ta thấy những cảm xúc ích kỷ đang tìm cách tước đi quyền của người khác, và chùm sáng ấy xuyên qua những đám mây đen, những bức màn ngăn cản sự định hướng chân chính về thực tại.
We imagine with the formula that the glamour of lying and manipulation is held back and cannot appear. The dark cloud that represents that is penetrated by our beam, our beam of triple light. No appearance of that glamour. The quality of that glamour is weakened and cannot surround and affect the millions of people. The cloud that represents that quality is weakened and dispersed, dissipated.
Theo công thức, chúng ta hình dung rằng ảo cảm dối trá và thao túng bị ngăn lại và không thể xuất hiện. Chùm sáng của chúng ta, chùm ánh sáng tam phân, xuyên qua đám mây đen đại diện cho ảo cảm ấy. Ảo cảm ấy không xuất hiện. Phẩm tính của ảo cảm ấy suy yếu và không thể bao trùm, tác động đến hàng triệu người. Đám mây đại diện cho phẩm tính ấy suy yếu, phân tán, tiêu tan.
We imagine that the life, the vitality which sustains that glamour of manipulation and lying, is penetrated by our united light, and the cloud representing that type of sustainment is weakened. It falls down; it cannot sustain the glamour. It is as if the Sun shines, the Sun of truth, the Sun of reality, and the miasmas, the clouds, the veils begin to fall apart. People tell the truth, and they do not manipulate people so that they lose their rights, all because of selfish motivation.
Chúng ta hình dung rằng ánh sáng hợp nhất của mình xuyên qua sự sống, sinh lực duy trì ảo cảm thao túng và dối trá ấy, và đám mây đại diện cho sự duy trì đó suy yếu. Nó sụp xuống; nó không thể duy trì ảo cảm. Như thể Mặt Trời đang chiếu sáng, Mặt Trời của chân lý, Mặt Trời của thực tại, và những chướng khí, những đám mây, những bức màn bắt đầu tan rã. Người ta nói sự thật, và họ không thao túng người khác khiến những người ấy mất đi quyền của mình, chỉ vì động cơ ích kỷ.
There is clarity upon the astral plane, and the energy of love and light sweeps through the astral plane. The darkness, the grayness, the swirling energies that distort are blown away; they are dissipated, they are weakened, they fall, and the Sun shines, making the astral plane now the organ of love and right relations. The Martian selfishness is gone, and so many who were affected by the glamour feel a sense of relief as that glamour lifts, is dissolved, and a new vision which is not distorted takes place.
Sự sáng tỏ hiện diện trên cõi cảm dục, và năng lượng tình thương cùng ánh sáng quét qua cõi cảm dục. Bóng tối, sắc xám, những năng lượng xoáy cuộn gây biến dạng đều bị thổi bay; chúng tiêu tan, suy yếu, sụp xuống, và Mặt Trời chiếu sáng, giờ đây khiến cõi cảm dục trở thành cơ quan của tình thương và các mối quan hệ đúng đắn. Sự ích kỷ thuộc Sao Hỏa đã biến mất, và rất nhiều người từng chịu ảnh hưởng của ảo cảm cảm thấy nhẹ nhõm khi ảo cảm ấy tan đi, hòa tan, và một tầm nhìn mới không bị méo mó xuất hiện.
We withdraw our beam, and we sound the OM three times, sensing that the united light of the group has done something to clarify the distortions of the astral plane.
Chúng ta thu chùm sáng lại và xướng linh từ OM ba lần, cảm nhận rằng ánh sáng hợp nhất của nhóm đã góp phần làm sáng tỏ những biến dạng của cõi cảm dục.
OM.
OM.
OM.
OM.
OM.
OM.
Thank you, everyone. Very abbreviated, but by now we have done it so many times that we have some value in the doing. Now we will go on to our vigil. I apologize, and we will carry on on Zoom. See you soon, and bye for now.
Cảm ơn mọi người. Rất ngắn gọn, nhưng đến nay chúng ta đã thực hiện rất nhiều lần nên việc thực hành này vẫn mang lại giá trị nhất định. Giờ chúng ta sẽ tiếp tục với buổi canh thức. Tôi xin lỗi, và chúng ta sẽ tiếp tục trên Zoom. Hẹn sớm gặp lại, tạm biệt các bạn.