← Commentary GAW 151-189

Commentary GAW 175

Tóm lược chương

Ảo cảm trọng tâm là phản ứng cảm xúc mù quáng, bạo liệt trước lối suy nghĩ trí-cảm mang tính âm mưu và hoang tưởng, với ví dụ lời tiên đoán QAnon rằng cựu Tổng thống Trump sẽ tái nhậm chức vào khoảng ngày 4 tháng 3. Hàng nghìn, hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu người chọn tưởng tượng thay cho việc đối diện thực tế, tạo nguy cơ biến kích động cảm xúc thành bạo lực trên cõi hồng trần. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, Hắc đoàn đang lợi dụng tình trạng này để tiếp tục cuộc Đại Chiến dưới những hình thức mới; sự trở lại của Sao Diêm Vương gần vị trí lúc khởi đầu Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ cũng gợi câu hỏi về bản chất của cuộc cách mạng…


Commentary GAW 175

Tóm Tắt

Tư duy âm mưu và phản ứng cảm xúc bạo liệt

Ảo cảm trọng tâm là phản ứng cảm xúc mù quáng, bạo liệt trước lối suy nghĩ trí-cảm mang tính âm mưu và hoang tưởng, với ví dụ lời tiên đoán QAnon rằng cựu Tổng thống Trump sẽ tái nhậm chức vào khoảng ngày 4 tháng 3. Hàng nghìn, hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu người chọn tưởng tượng thay cho việc đối diện thực tế, tạo nguy cơ biến kích động cảm xúc thành bạo lực trên cõi hồng trần. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, Hắc đoàn đang lợi dụng tình trạng này để tiếp tục cuộc Đại Chiến dưới những hình thức mới; sự trở lại của Sao Diêm Vương gần vị trí lúc khởi đầu Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ cũng gợi câu hỏi về bản chất của cuộc cách mạng đang hình thành.

Di sản Atlantis và năng lượng dấu hiệu Song Ngư

Theo giáo lý được dẫn, Hoa Kỳ thừa hưởng năng lượng dấu hiệu Song Ngư, và vùng đất hiện nay của quốc gia này từng là trung tâm của lục địa Atlantis cổ. Từ đó, một cách lý giải được đề xuất là bầu khí quyển Hoa Kỳ mang di sản thông linh mạnh, góp phần vào tình trạng suy nghĩ hoang tưởng đang lan ra thế giới. Hình ảnh “Atlantis mới” được liên hệ với Francis Bacon, nhưng sự phân bố các lục địa và phạm vi những trận đại hồng thủy vẫn còn nhiều điều chưa rõ. Dấu hiệu Song Ngư vừa liên quan đến ảo cảm sâu đậm, vừa có khả năng đem lại tri giác tinh thần rất sáng rõ.

Thiên Ý và giai đoạn chuyển tiếp thời đại

Đại Khấn Nguyện số hai được dùng để chỉnh hợp với Thiên Ý và Ý Chí của Hành Tinh Thượng Đế, khẩn cầu các Đấng Giải Thoát, Đấng Đại Hùng và Mãnh Lực Cứu Rỗi. Nội dung khẩn cầu kết hợp ý chí cứu rỗi, tình thương và sự trợ giúp tích cực của những người biết chân lý thành sức mạnh bảo vệ chống sự cai trị của điều ác. Trong viễn cảnh được trình bày, bốn năm dẫn tới Đại Mật Nghị năm 2025 sẽ rất căng thẳng, với biến đổi lớn trước hết trên các cõi cao và bên trong rồi mới dần biểu hiện hữu hình. Khoảng 100 năm nữa được xem là cần thiết để ảnh hưởng dấu hiệu Song Ngư và cung sáu rút đi đủ mức cho thời đại dấu hiệu Bảo Bình phát triển không còn chịu sự cản trở mạnh của thời đại cũ.

Sự mặc khải và nguy cơ hóa thành giáo điều

Kỹ Thuật Hiện Diện khảo sát cách ý tưởng và sự mặc khải đi xuống rồi chịu diễn giải sai, biến dạng thành ảo tưởng và cuối cùng đông cứng thành giáo điều. Trí cụ thể có thể nắm giữ những công thức chặt chẽ nhưng vẫn sai lạc, nên địa vị đệ tử đòi hỏi vượt quá lời chứng riêng của trí cụ thể. Theo Chân sư DK, kỹ thuật nền tảng này áp dụng cho cả sự mặc khải sơ cấp với chu kỳ dài và sự mặc khải thứ cấp với chu kỳ ngắn. Shamballa gìn giữ sự mặc khải sơ cấp, còn Thánh đoàn gìn giữ sự mặc khải thứ cấp.

Giáo Lý Bí Nhiệm và vai trò trực giác của Blavatsky

Giáo Lý Bí Nhiệm là ví dụ về sự mặc khải thứ cấp từ Thánh đoàn, truyền qua Bà H. P. Blavatsky với năng lực trực giác xuyên thấu, cảm nhận và tiếp nhận. Khả năng ấy được liên hệ với hoạt động trên cõi Bồ đề và phẩm chất của một vị La Hán, được diễn giải là chiến sĩ cao quý, can đảm. Phần bình luận chiêm tinh kết nối Mặt Trời trong dấu hiệu Sư Tử, dấu hiệu mọc Cự Giải với Sao Hải Vương, cùng Sao Mộc và Sao Thiên Vương đồng vị trong dấu hiệu Bảo Bình với năng lực trực giác và công việc của Thánh đoàn. Dấu hiệu Bảo Bình được liên hệ với Thánh đoàn, còn dấu hiệu Kim Ngưu với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

Chủ nghĩa giáo điều và sự mặc khải liên tục

Theo đoạn trích của Chân sư DK, một số nhóm Thông Thiên Học đã biến Giáo Lý Bí Nhiệm thành giáo lý bất di bất dịch, coi đó là sự mặc khải cuối cùng và chỉ chấp nhận cách diễn giải của mình. Khuynh hướng tương tự xuất hiện khi Kinh Thánh hoặc kinh Quran được coi là lời cuối cùng; cộng đồng nghiên cứu Alice Bailey cũng có thể rơi vào tình trạng ấy, dù lời báo trước về giai đoạn giáo huấn mới giúp duy trì sự cởi mở. Theo bình luận riêng, nhu cầu có một “lời cuối cùng” có thể phản ánh nỗi sợ trước tiến trình mặc khải kéo dài hàng tỷ, hàng nghìn tỷ năm và mong muốn tránh tiếp tục nỗ lực tư duy. Việc mở rộng trí tuệ cũng thách thức quyền lực của những người muốn duy trì trật tự sẵn có.

Sao Thổ, Sao Thiên Vương và xung đột đổi mới

Lời Chân sư Morya về Armageddon được dẫn để mô tả cuộc chiến giữa Sao Thổ và Sao Thiên Vương. Sao Thổ tượng trưng cho những điều kiện hiện hữu, còn Sao Thiên Vương liên quan đến các nguyên mẫu cần biểu hiện, vốn có thể phá vỡ trật tự đang tồn tại. Sự chuyển tiếp này gắn với việc con người mở rộng trí tuệ và phát triển khả năng tự cai quản thay vì phục tùng quyền lực áp đặt.

Antahkarana và việc vượt qua trí cụ thể

Antahkarana được trình bày qua ba giai đoạn: từ đơn vị hạ trí đến linh hồn, từ linh hồn đến Nguyên tử trường tồn manas, rồi trực tiếp từ đơn vị hạ trí đến Nguyên tử trường tồn manas và xa hơn. Việc tham thiền bắt đầu xây dựng cây cầu này ngay cả khi người thực hành chưa hiểu rõ tiến trình. Bài thực hành “Chân sư trong Tim” của Trường Arcane góp phần xây dựng giai đoạn thứ nhất. Theo quan sát riêng của Thầy MDR, một số người thiên về trí cụ thể dễ buồn ngủ hoặc mất khả năng theo dõi khi bài tham thiền đi vào nội dung trừu tượng, vì mối nối từ đơn vị hạ trí đến linh hồn chưa phát triển đủ.

Các giai đoạn cao hơn của antahkarana

Giai đoạn thứ hai đòi hỏi thể trí được linh hồn thấm nhuần và khả năng tập trung tâm thức trong thể nguyên nhân, rồi hướng tới trí trừu tượng, điểm thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần. Trong cách phân biệt được trình bày ở đây, thượng trí và trí trừu tượng không hoàn toàn đồng nghĩa; trí trừu tượng nằm cao hơn thượng trí. Khoảng 100 trang giảng dạy tập trung của Chân sư DK trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo chủ yếu đề cập giai đoạn thứ ba. Những cách trình bày khác nhau giúp nhận thức đầy đủ hơn và tránh đóng cứng một sơ đồ thành cách giải thích duy nhất.

Sự sống sau cái chết và luân hồi

Giáo huấn tương lai của Đức Christ về luân hồi được xem là yếu tố quan trọng giúp con người vượt khỏi lối tư duy giáo điều. Theo viễn cảnh được trình bày, sự tồn tại sau khi rời thể xác sẽ được chứng minh, rồi phương tiện kỹ thuật sẽ phát triển khả năng giao tiếp với những người đã qua đời. Nhóm hạt giống khoa học cuối cùng sẽ chứng minh luân hồi là một sự kiện, làm thay đổi sâu sắc cách nhân loại tiếp nhận sự mặc khải và nhìn nhận nguồn gốc của sự mặc khải.

Trực giác phục vụ lợi ích tập thể

Ngay cả người sơ cơ trên con đường trực giác cũng có thể tiếp nhận một tư tưởng mang sức mạnh mặc khải hoặc ánh sáng mới về chân lý cổ xưa mà hạ trí không thể cung cấp. Trực giác hướng đến lợi ích của nhiều người và phúc lợi nhóm, nên điều tiếp nhận phải dùng cho tất cả thay vì riêng bản thân. Khi tiến gần lần điểm đạo thứ ba, sự soi sáng trí tuệ và trí thông minh tinh thần bắt đầu mở sang một giai đoạn được gọi là bản năng trực giác. Độ nhạy đối với các Ý Tưởng thiêng liêng phát triển từng ngày, từng năm, chứ không xuất hiện trọn vẹn trong một đêm.

Huấn luyện trực giác chính xác

Theo Chân sư DK, hy vọng của thế giới và việc xua tan ảo tưởng nằm ở sự phát triển cùng huấn luyện có chủ đích những người có trực giác. Mục tiêu là dùng ý chí để tiếp nhận trực giác khi cần và kiểm nghiệm một cách khoa học, thay vì chỉ chờ những tia lóe sáng bất chợt. Trực giác tự nhiên thường pha trộn năng lực thông linh cao với trực giác chân thực, một phần do mối liên hệ giữa cõi Bồ đề và cõi cảm dục. Chân sư Hilarion, được xác định là Thánh Paul trước kia, cùng Chân sư Jesus được liên hệ với công việc huấn luyện năng lực thông linh theo phương pháp chính xác và đáng tin cậy hơn.

Trực giác và trí tuệ diễn giải

Trực giác và trí tuệ phải phát triển song song: trực giác tiếp nhận ý tưởng, còn trí tuệ cần đủ năng lực để hiểu và chuyển điều tiếp nhận thành tư tưởng rõ ràng. Các số bốn và năm lần lượt được liên hệ với trực giác và trí tuệ, đồng thời với hai cung quan trọng của nhân loại hiện nay, trong khi cung hai đang tăng trưởng trong bản chất linh hồn nhân loại. Một ấn tượng cao có thể mang năng lượng của ý tưởng vượt quá nội dung tư tưởng thông thường, nhưng cách diễn giải thiếu chính xác vẫn tạo ra ảo tưởng. Phương pháp thực hành là nâng tiến trình tư duy lên ánh sáng, chờ ấn tượng trong im lặng rồi chuyển điều tiếp nhận thành tư tưởng thông minh; bài thiền số năm trong loạt bài Chân sư DK ban được đặc biệt giới thiệu cho việc vun bồi trực giác.

Phân biệt ảo tưởng và ảo cảm

Ảo tưởng có thể tạo cảm giác nhìn thấy rất rõ vì các Hình tư tưởng có cấu trúc mạch lạc, dù nội dung vẫn sai. Ảo cảm giống những đám mây che phủ, khiến con người không nhìn thấy chân lý rõ ràng. Kỹ Thuật Hiện Diện dùng trực giác để xua tan ảo tưởng, còn Kỹ Thuật Ánh sáng dùng chùm ánh sáng trí tuệ để làm tiêu tan ảo cảm. Thiên Thần của Hiện Diện giữ vai trò mặc khải Chân Thần, tức Đấng Hiện Diện.

Ký ức và thuật luyện kim của Hoa Sen Chân Ngã

Đơn vị hạ trí, Nguyên tử trường tồn cảm dục và Nguyên tử trường tồn hồng trần–dĩ thái là ba đơn vị lưu trữ nhiều ký ức thuộc ba cõi thấp. Các thành phần này liên hệ với Hoa Sen Chân Ngã theo cách chồng lấn, nên sơ đồ tách biệt chỉ giúp việc nghiên cứu dễ hơn, không mô tả những tầng rời nhau như các chiếc bánh xếp chồng. Thiên Thần của Hiện Diện thực hiện công việc thuật luyện kim: rút tinh túy kinh nghiệm đã lưu trữ và xây dựng chúng thành phẩm tính trong các cánh hoa. Tiến trình nâng kinh nghiệm thành giá trị cao hơn cũng được liên hệ với Sao Kim và ý nghĩa chiêm tinh của giá trị.

Khả năng lưu giữ điều chưa thấu hiểu

Một ý kiến trong phần trao đổi đề xuất rằng người ngủ trong khi tham thiền có thể chưa sẵn sàng tiếp nhận, nhưng nội dung vẫn lưu lại để sử dụng về sau. Khả năng này được để ngỏ, bên cạnh cách giải thích kỹ thuật về sự thiếu phát triển của antahkarana. Lời Chân sư DK nói với một đệ tử rằng thể nguyên nhân chứa lời của nhiều quyển sách được dẫn để minh họa khả năng lưu giữ. Tuy nhiên, sự lưu giữ ấy không thay thế nhu cầu phát triển năng lực vượt khỏi trí cụ thể.

Nhận biết con người qua linh hồn

Hoa Sen Chân Ngã được xem là biểu hiện của con người chân thực và của mức độ khai mở tâm thức qua thời gian. Năng lực thông linh cao trong tương lai có thể cho phép quan sát trực tiếp sự phát triển này như các Chân sư thực hiện. Việc tìm hiểu một người vì thế cần hướng đến sự hòa hợp với bản chất linh hồn phía sau hình tướng bên ngoài và nhận biết mức độ kinh nghiệm của linh hồn. Khả năng cảm nhận ấy cũng được xem là cần thiết đối với người nghiên cứu chiêm tinh và các cung.

Giả thuyết về niên đại điểm đạo của Chân sư DK

Theo giả thuyết riêng của Thầy MDR, niên đại 1875 thường được nêu cho lần điểm đạo thứ năm của Chân sư DK có thể chứa một sự đảo số nhằm che giấu thông tin. Cơ sở là một phát biểu được nhớ là viết khoảng năm 1947, nói cuộc điểm đạo xảy ra khoảng 90 năm trước, dẫn về năm 1857; hai năm 1857 và 1875 có cùng các chữ số cuối đảo vị trí. Khả năng này được nêu để điều tra thêm, không được xác nhận là sự kiện. Những hướng khảo sát gồm việc chuẩn bị cho Hội Thông Thiên Học, quan hệ với Chân sư KH và Chân sư Morya, thời điểm huấn luyện Blavatsky, cùng trường hợp giữ lại thể xác qua lần điểm đạo thứ tư để tiếp tục lần điểm đạo thứ năm.

Danh tính Chân sư DK và giới hạn của suy luận

Việc Alice Bailey có hình Panchen Lama trên tường không đủ để đồng nhất Chân sư DK với Panchen Lama. Một bài nghiên cứu được cho là của Luis Hondros được dẫn như công trình khảo cứu ủng hộ kết luận hai vị không phải cùng một người. Các chi tiết về vai trò viện trưởng một tu viện lớn, có thể là Tashilhunpo, vẫn được nêu với mức độ dè dặt. Những dữ kiện tiểu sử và niên đại cần tiếp tục khảo sát thay vì biến các gợi ý thành khẳng định chắc chắn.

Quá khứ huyền thoại và ảo cảm tập thể

Các nước phe Trục được dùng làm ví dụ về việc phóng đại bản sắc bằng cách tìm về quá khứ huyền thoại: Germany với người Teuton cổ, Japan với Samurai và Italy với sự huy hoàng của Rome. Theo sự phân biệt được dẫn từ Chân sư DK, Italy biểu hiện ảo tưởng và có mức độ nghiêm trọng thấp hơn hai nước kia, Germany biểu hiện ảo cảm mạnh nhất, còn Japan biểu hiện ảo lực. Ba biểu hiện này được ví với chó ba đầu Cerberus ở các vùng thấp. Theo nhận định riêng, làn sóng âm mưu hiện nay phần nào tái diễn tình trạng Atlantis, khi Hắc đoàn khuếch đại xu hướng ảo cảm của nhân loại vượt quá mức bình thường.

Ảo cảm đám đông và nguy cơ độc tài

Cuộc tấn công vào cơ quan dân chủ Hoa Kỳ cùng những kế hoạch tấn công các thủ phủ khác được xem là hậu quả cụ thể của phản ứng cảm xúc bạo liệt trước những điều không có thật. Theo lập luận được trình bày, đám đông phản ứng mù quáng tạo điều kiện cho chủ nghĩa phát xít, nhà độc tài và chế độ chuyên quyền thay thế dân chủ. Việc hóa giải xu hướng này là trách nhiệm chung của những người biết suy nghĩ, kể cả những người chưa nhận ra mối liên hệ của mình với công việc Thánh đoàn. Công việc nội tâm nhằm làm suy yếu năng lượng ảo cảm để con người có thể đáp ứng thích hợp và tư duy sáng rõ hơn.

Chuẩn bị ánh sáng và sự bảo vệ của nhóm

Bài tham thiền bắt đầu bằng im lặng và nhận biết sự hợp nhất nhóm, rồi dùng Thập Giá Thiên Tính làm công thức bảo vệ, lần lượt liên hệ trán, tim, mắt trái và mắt phải. Một thập giá ánh sáng được hình dung trước mỗi người và một thập giá lớn trước toàn nhóm, đi cùng sự xác lập vị thế linh hồn làm việc trong ánh sáng. Ánh sáng sinh lực của vật chất, ánh sáng trí tuệ và ánh sáng linh hồn được dung hợp trên cõi trí thành một ánh sáng tam phân thống nhất. Từ vùng trí tuệ có thể kiểm soát, nhóm tạo chùm sáng để làm tiêu tan ảo cảm và xướng linh từ OM ba lần.

Phóng chiếu ánh sáng vào ảo cảm

Nhóm hình dung mình nối các nguồn thiên thượng với vùng cảm dục nơi ảo cảm hoạt động, đem ánh sáng và sự thấu hiểu đến nơi cần thiết. Chùm sáng phóng từ trán hướng vào cõi cảm dục, rồi ý chí tinh thần tăng cường sức mạnh và độ tập trung của chùm sáng. Ba xác quyết tập trung vào việc ngăn sự xuất hiện của ảo cảm, vô hiệu hóa phẩm tính của nó đối với nhân loại và phá hủy sự sống duy trì nó. Năm phút im lặng được dành để hình dung ánh sáng xuyên thấu, làm suy yếu và làm tiêu tan phản ứng cảm xúc mù quáng, bạo liệt trước tư duy âm mưu hoang tưởng mang tính trí-cảm.

Thu hồi chùm sáng và duy trì công việc

Cuối bài tham thiền, sự suy yếu của ảo cảm được xác quyết qua hình ảnh sương mù tan dưới mặt trời chân lý và sáng rõ, giúp những người chịu ảnh hưởng tách khỏi năng lượng đang khuất phục họ. Chùm sáng được thu về cõi trí và các ánh sáng trở lại nguồn, với hiệu quả được hình dung lan tới thể cảm dục, vùng trí-cảm và sinh lực dĩ thái, tác động đồng thời lên ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực. Công việc kết thúc bằng OM và lời khẩn cầu phục hồi Thiên Cơ trên Trái Đất. Sự kiên trì thực hành nhóm được xem là đóng góp nội tâm có thể giúp giảm sức mạnh của phản ứng tập thể độc hại này.

Text GAW 175 – Văn bản GAW 175

[1] This basic technique underlies both primary and secondary revelations. In the case of the first, the time cycle is long; in the second, the time cycle is short. [2] A very good instance of this process is demonstrated by one of the secondary points of revelation in connection with the teaching which emanated from the Hierarchy (the Custodian of secondary revelations, as Shamballa is of primary) fifty years ago and which took the form of The Secret Doctrine. [3] H.P.B. was the “penetrating, sensing, appropriating intuitive.” [4] The revelation she conveyed followed the accustomed routine of all secondary revelation from the Source to the outer plane. [5] There the minds of men, veiled by illusion and clouded by glamour, [6] formulated it into an inelastic doctrine, recognizing no further revelation and holding steadily—many of the theosophical groups—that The Secret Doctrine was a final revelation and that naught must be recognized but that book and naught deemed correct but their interpretations of that book. [7] If they are correct, then evolutionary revelation is ended and the plight of humanity is hard indeed.

[1] Kỹ thuật căn bản này làm nền tảng cho cả những sự mặc khải sơ cấp lẫn thứ cấp. Trong trường hợp thứ nhất, chu kỳ thời gian dài; trong trường hợp thứ hai, chu kỳ thời gian ngắn. [2] Một minh họa rất rõ cho tiến trình này là một trong những điểm mặc khải thứ cấp liên quan đến giáo huấn xuất phát từ Thánh đoàn (Đấng Gìn Giữ những sự mặc khải thứ cấp, cũng như Shamballa gìn giữ những sự mặc khải sơ cấp) cách đây năm mươi năm và mang hình thức của Giáo Lý Bí Nhiệm. [3] H.P.B. là “người có trực giác thâm nhập, cảm nhận và lĩnh hội.” [4] Sự mặc khải mà Bà truyền đạt đã đi theo lộ trình quen thuộc của mọi sự mặc khải thứ cấp, từ Nguồn đến cõi bên ngoài. [5] Tại đó, thể trí của con người, bị ảo tưởng che phủ và ảo cảm làm lu mờ, [6] đã đúc kết sự mặc khải ấy thành một giáo lý cứng nhắc, không thừa nhận bất kỳ sự mặc khải nào nữa và—ở nhiều nhóm Thông Thiên Học—kiên quyết cho rằng Giáo Lý Bí Nhiệm là sự mặc khải cuối cùng, rằng không được thừa nhận điều gì ngoài cuốn sách ấy và không được xem điều gì là đúng ngoài những cách họ diễn giải cuốn sách ấy. [7] Nếu họ đúng, thì sự mặc khải trong tiến trình tiến hoá đã chấm dứt, và tình cảnh của nhân loại quả thực rất khó khăn.

[8] Even the neophyte [9] upon the way of the intuition can begin to develop in himself the power to recognize that which the lower mind cannot give him. [10] Some thought of revealing potency, to be used for the helping of the many, may drop into his mind; [11] some new light upon an old, old truth may penetrate, releasing the truth from the trammels of orthodoxy, [12] thus illumining his consciousness. [13] This he must use for all and not for himself alone. Little by little, he learns the way into the world of the intuition; day by day, and year by year, [14] he becomes more sensitive to divine Ideas and more apt in appropriating them wisely for the use of his fellowmen.

[8] Ngay cả người sơ cơ [9] trên con đường trực giác cũng có thể bắt đầu phát triển trong mình khả năng nhận biết những điều mà hạ trí không thể mang lại cho y. [10] Một tư tưởng mang tiềm năng mặc khải, để dùng vào việc giúp đỡ nhiều người, có thể chợt đến với thể trí của y; [11] một ánh sáng mới soi rọi một chân lý rất xa xưa có thể xuyên thấu vào, giải thoát chân lý ấy khỏi những ràng buộc của giáo điều chính thống, [12] qua đó soi sáng tâm thức của y. [13] Y phải dùng điều này cho tất cả mọi người, chứ không chỉ cho riêng mình. Từng chút một, y học được con đường đi vào thế giới trực giác; ngày qua ngày, năm qua năm, [14] y trở nên nhạy cảm hơn với những Ý Tưởng thiêng liêng và thành thạo hơn trong việc lĩnh hội chúng một cách minh triết để phục vụ đồng loại.

[15] The hope of the world and the dispelling of illusion lies in the development of intuitives and their conscious training. [16] There are many natural intuitives whose work is a blend of the higher psychism with flashes of true intuition. [17] There must be the training of the exact intuitive. [18] Paralleling their intuitive response and their effort to precipitate their intuition into the world of human thought, there must also be the steady development of the human mind so that it can grasp and apprehend what is projected, and in this too lies the hope of the race.

[15] Niềm hy vọng của thế giới và việc xua tan ảo tưởng nằm ở sự phát triển những người có năng lực trực giác và việc huấn luyện họ một cách có ý thức. [16] Có nhiều người có năng lực trực giác bẩm sinh mà công việc của họ là sự pha trộn giữa năng lực thông linh bậc cao với những tia lóe sáng của trực giác chân chính. [17] Cần huấn luyện những người có năng lực trực giác chuẩn xác. [18] Song song với sự đáp ứng trực giác của họ và nỗ lực ngưng tụ trực giác ấy vào thế giới tư tưởng của con người, trí tuệ con người cũng phải phát triển đều đặn để có thể nắm bắt và thấu triệt những gì được phóng chiếu; chính trong điều này cũng có niềm hy vọng của nhân loại.

Glamour Webinar 175 – Webinar Ảo cảm 175

Good morning, everyone, and welcome to our continuing work with glamour. I guess we have been working with it quite a bit and need to continue. We're focusing on the conspiratorial thinking, if you can call it that, the kama-manasic response to these conspiracies, and the danger that's involved with violent emotional reactions to these kinds of thoughts. We're still in a position around the fourth of March. It's morning here in Finland, and I haven't really checked whether there has been any kind of stirring as a result of this QAnon prophecy that on or about the fourth of March, the former President Trump would be reinaugurated.

Chào buổi sáng tất cả các bạn, và chào mừng các bạn trở lại với công việc tiếp tục nghiên cứu ảo cảm của chúng ta. Tôi nghĩ chúng ta đã làm việc với vấn đề này khá nhiều và cần tiếp tục. Chúng ta đang tập trung vào lối tư duy âm mưu, nếu có thể gọi như vậy, vào sự đáp ứng trí-cảm đối với những âm mưu này, và mối nguy hiểm gắn liền với những phản ứng cảm xúc dữ dội trước những tư tưởng như thế. Chúng ta vẫn đang ở vào khoảng ngày 4 tháng 3. Ở Phần Lan lúc này là buổi sáng, và tôi chưa thực sự kiểm tra xem đã có động thái nào xảy ra do lời tiên tri này của QAnon rằng vào khoảng ngày 4 tháng 3, cựu Tổng thống Trump sẽ tái nhậm chức hay chưa.

Of course, it sounds fantastical, but there are thousands, hundreds of thousands, even millions of people who are indulging in fantasy at this time rather than realistic thinking. This is some of the worst traits of the Piscean energy to which the United States is the heir, we are told. It has inherited the Piscean energy, and perhaps because of its connection with ancient Atlantis—The Tibetan surprisingly tells us that what is now the United States was the center of the old Atlantean continent. Perhaps we haven't got such a good idea about how these land masses were distributed in the early days, the various floods that occurred, or what landmasses they involved.

Dĩ nhiên, điều đó nghe có vẻ hoang đường, nhưng lúc này có hàng nghìn, hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu người đang đắm chìm trong sự tưởng tượng viển vông thay vì suy nghĩ thực tế. Đây là một số đặc điểm tệ hại nhất của năng lượng Song Ngư mà, theo những gì chúng ta được cho biết, Hoa Kỳ là bên thừa hưởng. Hoa Kỳ đã thừa hưởng năng lượng Song Ngư, và có lẽ do mối liên hệ với Atlantis cổ đại—Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết một điều đáng ngạc nhiên rằng vùng đất hiện là Hoa Kỳ từng là trung tâm của lục địa Atlantis xưa. Có lẽ chúng ta chưa hình dung rõ các khối đất liền này phân bố ra sao trong những thời kỳ đầu, những trận đại hồng thủy khác nhau đã xảy ra như thế nào, hoặc chúng đã tác động đến những khối đất liền nào.

But in any case, there is a huge psychic inheritance that is in the atmosphere of the United States. The American continent was called in the old days the new Atlantis. I think Francis Bacon had that in mind, the new Atlantis. The psychism is rampant, fantastical thinking is rampant. Unfortunately, it's spreading all over the world. Rather than deal with the truth as it is—which would come with a higher degree of mental focus among the masses of people—people are choosing fantasy instead. That is dangerous, and it is to be regretted, and we have to esoterically attempt to combat that.

Nhưng dù sao đi nữa, trong bầu không khí của Hoa Kỳ vẫn tồn tại một di sản thông linh khổng lồ. Ngày xưa, châu Mỹ từng được gọi là Atlantis mới. Tôi nghĩ Francis Bacon đã nghĩ đến điều đó, Atlantis mới. Hiện tượng thông linh đang lan tràn, tư duy hoang đường đang lan tràn. Đáng tiếc là nó đang lan rộng khắp thế giới. Thay vì đối diện với chân lý đúng như nó vốn có—điều sẽ đến khi đông đảo quần chúng có mức độ tập trung trí tuệ cao hơn—người ta lại lựa chọn sự tưởng tượng viển vông. Điều đó nguy hiểm và đáng tiếc, và chúng ta phải cố gắng chống lại nó bằng phương cách huyền bí.

I want to welcome you, Vicky and Martha and Catherine and Fred, Karen and Mariana and Mary and Miro, Nathanielle and Pivy, Tia, Sinaydee and Ann Veronica. These early morning European programs pretty much catch America asleep unless it is on the West Coast. We are grateful that some of you are staying up to join us as we attempt to do our part internally to help combat this dangerous psychic situation, which is aided and abetted, no doubt, by the Lodge of Darkness, seeing yet another opportunity to continue the Great War, as it were. Hopefully we avoid the precipitation onto the physical plane. The Revolutionary War in the United States was of fairly long duration, and the position of Pluto at that time when the war began is returning within a year. Already you can see that revolution is in the air, but what kind of revolution will it be? That is the question.

Tôi muốn chào đón các bạn, Vicky, Martha, Catherine, Fred, Karen, Mariana, Mary, Miro, Nathanielle, Pivy, Tia, Sinaydee và Ann Veronica. Những chương trình diễn ra vào sáng sớm ở châu Âu này phần lớn trùng với lúc nước Mỹ đang ngủ, trừ vùng Bờ Tây. Chúng tôi biết ơn vì một số bạn đang thức khuya để tham gia cùng chúng tôi, khi chúng ta cố gắng góp phần từ bên trong nhằm chống lại tình trạng thông linh nguy hiểm này, một tình trạng chắc chắn đang được Hắc đoàn tiếp tay và thúc đẩy, khi họ lại nhìn thấy một cơ hội nữa để tiếp tục cuộc Đại Chiến, có thể nói như vậy. Hy vọng chúng ta tránh được sự ngưng tụ xuống cõi hồng trần. Cuộc Chiến tranh Cách mạng ở Hoa Kỳ kéo dài khá lâu, và trong vòng một năm nữa, Sao Diêm Vương sẽ trở lại vị trí của nó vào lúc cuộc chiến ấy bắt đầu. Các bạn đã có thể thấy bầu không khí cách mạng đang lan tỏa, nhưng đó sẽ là cuộc cách mạng như thế nào? Đó chính là câu hỏi.

We do our work and we use the Great Invocation number two when we can, focusing as much of the energy of Divine Purpose as maybe possible for us. Last night, we talked quite a bit—late night here in Europe anyway—quite a bit about Shamballa, and a couple of times a month, we have the Shamballa meeting, which has some fascinating material about the Divine Will, and perhaps how we can, as students of esotericism, accord better with Divine Purpose and Divine Will.

Chúng ta làm công việc của mình và sử dụng Đại Khấn Nguyện số hai khi có thể, tập trung năng lượng Thiên Ý ở mức cao nhất mà chúng ta có thể đạt được. Tối qua, chúng ta đã nói khá nhiều—dù sao thì lúc ấy ở châu Âu cũng đã khuya—về Shamballa; và mỗi tháng đôi lần, chúng ta có buổi họp về Shamballa, với những tài liệu rất hấp dẫn về Ý Chí thiêng liêng, và có lẽ về cách chúng ta, với tư cách những đạo sinh huyền bí học, có thể hòa hợp tốt hơn với Thiên Ý và Ý Chí thiêng liêng.

Let us begin then before we have our reading on the technique involving illusion, the Technique of the Presence. Before we have that reading, we'll use the Great Invocation number two, and we'll seek an alignment as much as possible with Divine Purpose and express our willingness to be part of the Will of God, the Planetary Logos, however we can understand that.

Vậy chúng ta hãy bắt đầu trước khi đọc về kỹ thuật liên quan đến ảo tưởng, Kỹ Thuật của Hiện Diện. Trước khi đọc phần đó, chúng ta sẽ sử dụng Đại Khấn Nguyện số hai, tìm kiếm sự chỉnh hợp với Thiên Ý ở mức tối đa có thể, và bày tỏ sự sẵn lòng tham dự vào Ý Chí của Thượng Đế, Hành Tinh Thượng đế, theo bất cứ cách nào chúng ta có thể thấu hiểu điều đó.

Meditation – Tham thiền

Let the Lords of Liberation issue forth.

Cầu xin các Đấng Giải Thoát xuất hiện.

Let Them bring succour to the sons of men.

Cầu xin Các Ngài mang sự cứu giúp đến những người con của nhân loại.

Let the Rider from the Secret Place come forth,

Cầu xin Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Ẩn Mật xuất hiện,

And coming, save.

Và khi đến, hãy cứu độ.

Come forth, O Mighty One.

Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.

Let the souls of men awaken to the Light,

Cầu xin linh hồn của mọi người thức tỉnh trước Ánh Sáng,

And may they stand with massed intent.

Và cầu mong họ đứng vững với ý hướng hợp nhất.

Let the fiat of the Lord go forth:

Cầu xin sắc lệnh của Chúa Tể được ban ra:

The end of woe has come!

Thời đau khổ đã chấm dứt!

Come forth, O Mighty One.

Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.

The hour of service of the Saving Force has now arrived.

Giờ phụng sự của mãnh lực cứu độ nay đã đến.

Let it be spread abroad, O Mighty One.

Cầu xin mãnh lực ấy lan tỏa khắp nơi, hỡi Đấng Đại Hùng.

Let Light and Love and Power and Death

Cầu xin Ánh Sáng, Tình Thương, Quyền Năng và Cái Chết

Fulfil the purpose of the Coming One.

Hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến.

The WILL to save is here.

Ý CHÍ cứu độ hiện diện nơi đây.

The LOVE to carry forth the work is widely spread abroad.

TÌNH THƯƠNG để thực hiện công việc đang lan tỏa khắp nơi.

The ACTIVE AID of all who know the truth is also here.

SỰ TRỢ GIÚP TÍCH CỰC của tất cả những ai biết chân lý cũng hiện diện nơi đây.

Come forth, O Mighty One and blend these three.

Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng, và hợp nhất ba điều này.

Construct a great defending wall.

Hãy dựng nên một bức tường bảo vệ vĩ đại.

The rule of evil NOW must end.

Sự thống trị của điều ác nay phải chấm dứt.

Friends, we will continue to do our part, however small in the great scheme of things that part may be. We will continue one way or another for these next four years, which will be intense and which will lead up to the Great Conclave of 2025, when at least on the higher and internal planes, there will be a great change. It may take a while before it works its way down into tangibility, but there are about 100 years remaining before we are clear of the Piscean energy for this cycle and of the sixth ray for this cycle—about 100 years before the Age of Aquarius begins in an untrammeled way, without all of the interference from the waning age.

Các bạn thân mến, chúng ta sẽ tiếp tục làm phần việc của mình, dù phần việc ấy có nhỏ bé đến đâu trong toàn bộ trật tự rộng lớn của vạn sự. Bằng cách này hay cách khác, chúng ta sẽ tiếp tục trong bốn năm tới, những năm tháng sẽ đầy căng thẳng và dẫn đến Đại Mật Nghị năm 2025, khi ít nhất trên các cõi cao và bên trong sẽ diễn ra một thay đổi lớn. Có thể phải mất một thời gian trước khi sự thay đổi ấy đi xuống và trở nên hữu hình, nhưng còn khoảng 100 năm nữa trước khi chúng ta thoát khỏi năng lượng Song Ngư trong chu kỳ này và khỏi cung sáu trong chu kỳ này—khoảng 100 năm trước khi Kỷ Nguyên Bảo Bình bắt đầu một cách tự do, không còn mọi sự can nhiễu từ kỷ nguyên đang suy tàn.

We have a lot of work to do before that time. Probably every one of us will have another incarnation before that time, when the new age really begins.

Chúng ta có rất nhiều việc phải làm trước thời điểm đó. Có lẽ mỗi người trong chúng ta sẽ có thêm một kiếp lâm phàm trước thời điểm kỷ nguyên mới thực sự bắt đầu.

Let us continue with our reading. We've been working with the Technique of the Presence and talking about how ideas and revelations descend, and what happens to them on the way down—how they are misinterpreted, how they are distorted, how they're changed into illusion, and how they come out as some kind of concrete doctrinaire, some kind of concrete doctrine which is rigid, but which the people who are strictly concrete minded grasp.

Chúng ta hãy tiếp tục phần đọc. Chúng ta đã nghiên cứu Kỹ Thuật của Hiện Diện và nói về cách các ý tưởng cùng những sự mặc khải đi xuống, và những gì xảy ra với chúng trên đường đi xuống—chúng bị diễn giải sai ra sao, bị bóp méo thế nào, bị biến thành ảo tưởng như thế nào, và cuối cùng xuất hiện dưới dạng một thứ giáo điều cụ thể nào đó, một học thuyết cụ thể cứng nhắc nào đó mà những người có lối tư duy hoàn toàn cụ thể lại nắm lấy.

If we are real disciples, we can never be satisfied with the testimony of the concrete mind only. We are slowly building the antahkarana in its three phases: it is a triangle from the mental unit to the soul, from the soul to the manasic permanent atom, and then directly from the mental unit to the manasic permanent atom and beyond. The moment we start to meditate, we are building this antahkarana, even if in the earlier stages we have very little idea of the process.

Nếu là những đệ tử đích thực, chúng ta không bao giờ có thể thỏa mãn chỉ với sự chứng thực của trí cụ thể. Chúng ta đang dần xây dựng antahkarana qua ba giai đoạn: đó là một tam giác từ đơn vị hạ trí đến linh hồn, từ linh hồn đến nguyên tử trường tồn manas, rồi trực tiếp từ đơn vị hạ trí đến nguyên tử trường tồn manas và xa hơn nữa. Ngay khi bắt đầu tham thiền, chúng ta đã xây dựng antahkarana này, dù trong những giai đoạn đầu, chúng ta còn biết rất ít về tiến trình ấy.

Perhaps there are many people who haven't even begun that process, and perhaps we can help lead them forward into it. Quite a number of people can make the transition—shall we say, go from this strictly concrete doctrinaire attitude into an attitude which is at least accepting the reality of the inner worlds and the ongoingness of life.

Có lẽ nhiều người thậm chí chưa bắt đầu tiến trình đó, và có lẽ chúng ta có thể giúp dẫn dắt họ tiến vào tiến trình ấy. Khá nhiều người có thể thực hiện sự chuyển tiếp—chuyển từ thái độ giáo điều hoàn toàn cụ thể này sang một thái độ ít nhất cũng chấp nhận thực tại của các cõi bên trong và sự tiếp diễn của sự sống.

Christ's teaching on reincarnation will be so important, and it will be accepted. The survival beyond the physical body will be proven, and after that is proven, communication with those who have passed on will be developed by technical means. Eventually the scientific seed group will prove reincarnation to be a fact, and that will change everything in terms of how we receive revelation and from where we receive it, rather than simply repeating the tired old formulas.

Giáo huấn của Đức Christ về luân hồi sẽ vô cùng quan trọng, và người ta sẽ chấp nhận giáo huấn ấy. Sự tồn tại sau khi rời thể xác sẽ được chứng minh, và sau khi điều đó được chứng minh, việc giao tiếp với những người đã qua đời sẽ được phát triển bằng các phương tiện kỹ thuật. Cuối cùng, nhóm hạt giống khoa học sẽ chứng minh luân hồi là một sự thật, và điều đó sẽ thay đổi mọi thứ về cách chúng ta tiếp nhận sự mặc khải cũng như nguồn mà từ đó chúng ta tiếp nhận, thay vì chỉ lặp lại những công thức cũ mòn.

Reread these nine points—that's what we've been doing in order to prepare for understanding the Technique of the Presence, which involves the Angel of the Presence as revealer of the monad, the Presence. We're coming more and more into the possibility that it will be so for us as well, as it has been down the ages.

Hãy đọc lại chín điểm này—đó là điều chúng ta đã làm để chuẩn bị thấu hiểu Kỹ Thuật của Hiện Diện, kỹ thuật có liên quan đến Thiên Thần của Hiện Diện trong vai trò Đấng mặc khải chân thần, tức Hiện Diện. Chúng ta ngày càng tiến gần hơn đến khả năng điều ấy cũng sẽ xảy ra với mình, như đã từng xảy ra qua các thời đại.

Unless I'm much mistaken, this is program 175, reading number 112, and we are on page 183.

Nếu tôi không nhầm nhiều, đây là chương trình 175, bài đọc số 112, và chúng ta đang ở trang 183.

[1] This basic technique underlies both primary and secondary revelations. In the case of the first, the time cycle is long; in the second, the time cycle is short.

[1] Kỹ thuật căn bản này làm nền tảng cho cả những sự mặc khải sơ cấp lẫn thứ cấp. Trong trường hợp thứ nhất, chu kỳ thời gian dài; trong trường hợp thứ hai, chu kỳ thời gian ngắn.

He's going to explain, I hope, what he means here. Sometimes it's difficult to pick up where you left off.

Tôi hy vọng Ngài sẽ giải thích điều Ngài muốn nói ở đây. Đôi khi rất khó tiếp nối từ chỗ mình đã dừng lại.

[2] A very good instance of this process is demonstrated by one of the secondary points of revelation in connection with the teaching which emanated from the Hierarchy (the Custodian of secondary revelations, as Shamballa is of primary) fifty years ago and which took the form of The Secret Doctrine.

[2] Một minh họa rất rõ cho tiến trình này là một trong những điểm mặc khải thứ cấp liên quan đến giáo huấn xuất phát từ Thánh đoàn (Đấng Gìn Giữ những sự mặc khải thứ cấp, cũng như Shamballa gìn giữ những sự mặc khải sơ cấp) cách đây năm mươi năm và mang hình thức của Giáo Lý Bí Nhiệm.

The Hierarchy is the custodian of secondary revelations, and I want to make this a little bit distinct from Shamballa, which provides primary revelations. With all of the Shamballa impacts occurring now, this must indeed be a time of revelation.

Thánh đoàn là Đấng gìn giữ những sự mặc khải thứ cấp, và tôi muốn phân biệt điều này đôi chút với Shamballa, nơi cung cấp những sự mặc khải sơ cấp. Với tất cả những tác động từ Shamballa đang diễn ra lúc này, đây hẳn phải là một thời kỳ mặc khải.

[3] H.P.B. was the “penetrating, sensing, appropriating intuitive.”

[3] H.P.B. là “người có trực giác thâm nhập, cảm nhận và lĩnh hội.”

The Tibetan worked with Madame Blavatsky to a degree, and differently from how it was when he worked with Alice Bailey, she was his amanuensis at that time. Look at those words and think of HPB and her character. She was an Arhat, a noble one, a warrior, a brave one—this is pretty much what Arhat means: noble warrior.

Chân sư Tây Tạng đã làm việc với Bà Blavatsky ở một mức độ nào đó, và khác với cách Ngài làm việc với Alice Bailey, lúc ấy Bà là người chấp bút cho Ngài. Hãy nhìn những từ ấy và nghĩ đến HPB cùng tính cách của Bà. Bà là một vị A La Hán, một người cao quý, một chiến binh, một người dũng cảm—đó gần như chính là ý nghĩa của A La Hán: chiến binh cao quý.

penetrating, sensing, appropriating intuitive.”

người có trực giác thâm nhập, cảm nhận và lĩnh hội.”

She was a Leo as the sun sign goes, but she had Cancer rising with rulership of Neptune, the intuitive, one of the intuitive planets, and she had Jupiter and Uranus together in Aquarius, quite an indication of someone working with the Aquarian Hierarchy. Aquarius is the sign that rules the Hierarchy, just as Taurus rules the New Group of World Servers.

Xét theo dấu hiệu Mặt Trời, Bà thuộc Sư Tử, nhưng dấu hiệu mọc của Bà là Cự Giải do Sao Hải Vương cai quản, hành tinh trực giác, một trong những hành tinh trực giác; và Sao Mộc cùng Sao Thiên Vương của Bà ở gần nhau trong Bảo Bình, một dấu hiệu khá rõ của người làm việc với Thánh đoàn Bảo Bình. Bảo Bình là dấu hiệu cai quản Thánh đoàn, cũng như Kim Ngưu cai quản Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

[4] The revelation she conveyed followed the accustomed routine of all secondary revelation from the Source to the outer plane.

[4] Sự mặc khải mà Bà truyền đạt đã đi theo lộ trình quen thuộc của mọi sự mặc khải thứ cấp, từ Nguồn đến cõi bên ngoài.

Many of us have been, at least, partial students of The Secret Doctrine, and we know of what great value it has been. By the way, you have the opportunity now to work with Francis Donald, who is doing a great job working through and artistically working through The Secret Doctrine every month, and also The Secret Teachings of All Ages by Manly Hall. Do try to participate when Francis is offering these things, because it's one of the best ways right now through group study for those of us who haven't quite dared to pick up the big book, The Secret Doctrine, to get something of real value out of it.

Nhiều người trong chúng ta ít nhất cũng đã nghiên cứu một phần Giáo Lý Bí Nhiệm, và chúng ta biết tác phẩm ấy có giá trị lớn lao đến mức nào. Nhân tiện, hiện nay các bạn có cơ hội học cùng Francis Donald, người đang làm rất tốt việc nghiên cứu và tiếp cận Giáo Lý Bí Nhiệm qua nghệ thuật mỗi tháng, cũng như Giáo Huấn Bí Truyền của Mọi Thời Đại của Manly Hall. Hãy cố gắng tham gia khi Francis tổ chức những buổi này, vì hiện nay, thông qua việc học nhóm, đó là một trong những cách tốt nhất để những người trong chúng ta chưa thực sự dám cầm lên bộ sách lớn ấy, Giáo Lý Bí Nhiệm, có thể thu nhận từ đó điều gì đó có giá trị đích thực.

HPB's revelation, I guess you could say, comes through her power to work on the buddhic plane—a penetrating intuitive approach that follows the normal course of action.

Tôi nghĩ có thể nói rằng sự mặc khải của HPB đến thông qua quyền năng làm việc trên cõi Bồ đề của Bà—một cách tiếp cận trực giác có sức thâm nhập, đi theo tiến trình hoạt động thông thường.

She brought from the source her revelations—not hers, but those of which she became aware to the outer plane. This is what happens, friends, this is what happens.

Bà mang những sự mặc khải từ nguồn đến cõi bên ngoài—không phải những sự mặc khải của Bà, mà là những sự mặc khải Bà đã nhận biết. Các bạn thân mến, đó là điều xảy ra, đúng là như vậy.

[5] There the minds of men, veiled by illusion and clouded by glamour,

[5] Tại đó, thể trí của con người, bị ảo tưởng che phủ và ảo cảm làm lu mờ,

With an illusion, you may think you see clearly, your thought forms are clearer, but they're still erroneous. But when you're dealing with glamour, it's the clouds and you just don't see. There's a difference.

Với ảo tưởng, các bạn có thể nghĩ mình thấy rõ, các hình tư tưởng của các bạn rõ ràng hơn, nhưng chúng vẫn sai lầm. Còn khi đối diện với ảo cảm, đó là những đám mây che phủ, và các bạn đơn giản là không nhìn thấy. Có sự khác biệt.

On the outer plane, the minds of men, veiled by illusion, clouded by glamour—

Trên cõi bên ngoài, thể trí của con người, bị ảo tưởng che phủ, bị ảo cảm làm lu mờ—

[6] formulated it into an inelastic doctrine, recognizing no further revelation and holding steadily—many of the theosophical groups—that The Secret Doctrine was a final revelation and that naught must be recognized but that book and naught deemed correct but their interpretations of that book.

[6] đã đúc kết sự mặc khải ấy thành một giáo lý cứng nhắc, không thừa nhận bất kỳ sự mặc khải nào nữa và—ở nhiều nhóm Thông Thiên Học—kiên quyết cho rằng Giáo Lý Bí Nhiệm là sự mặc khải cuối cùng, rằng không được thừa nhận điều gì ngoài cuốn sách ấy và không được xem điều gì là đúng ngoài những cách họ diễn giải cuốn sách ấy.

It's customary for limited minds to do that kind of thing. The Christians have done it, the Muslims have done it—the Quran is the last word, the Bible is the last word. It seems there is something in the human psyche which is looking for the last word, to spare people the terror they must feel when they confront the idea of ongoing revelation over billions and trillions of Earth years.

Những thể trí hạn hẹp thường làm những việc như vậy. Người Kitô giáo đã làm thế, người Hồi giáo cũng đã làm thế—kinh Koran là lời cuối cùng, Kinh Thánh là lời cuối cùng. Dường như trong tâm lý con người có điều gì đó tìm kiếm lời cuối cùng, để người ta khỏi phải chịu nỗi kinh hoàng hẳn sẽ cảm thấy khi đối diện với ý tưởng về sự mặc khải liên tục qua hàng tỷ, hàng nghìn tỷ năm Trái Đất.

There are these Theosophical fundamentalists, and I guess we could even turn into Bailey fundamentalists too, except that The Tibetan has become so clear that a new phase of the teaching is on its way. That kind of loosens our dogmatism a bit and allows us to remain open to new possibilities.

Có những người theo chủ nghĩa duy căn Thông Thiên Học như thế, và tôi nghĩ ngay cả chúng ta cũng có thể trở thành những người theo chủ nghĩa duy căn Bailey, nếu không có việc Chân sư Tây Tạng đã nói hết sức rõ rằng một giai đoạn giáo huấn mới đang đến. Điều đó phần nào làm giảm tính giáo điều của chúng ta và cho phép chúng ta tiếp tục cởi mở trước những khả năng mới.

[7] If they are correct, then evolutionary revelation is ended and the plight of humanity is hard indeed.

[7] Nếu họ đúng, thì sự mặc khải trong tiến trình tiến hoá đã chấm dứt, và tình cảnh của nhân loại quả thực rất khó khăn.

Because we're in the middle of just learning about the ABCs of Occultism and of the true mysteries, imagine if revelation just stopped at a comfortable place, as it may make some relatively lazy minds that don't want to go further. No, the truth is quite different, and many people have been eliminated along the way because they challenged the conventional orthodoxy that said this is it. They expanded the human mind, and the people in power didn't want that, because when the human mind begins to expand, then the right to rule of the rulers is challenged, and people are looked at in a different way as if they have to provide their own self rule.

Bởi vì chúng ta mới chỉ đang học những điều vỡ lòng về Huyền bí học và những huyền nhiệm đích thực, hãy tưởng tượng nếu sự mặc khải chỉ dừng lại ở một chỗ dễ chịu, đem lại sự thoải mái cho một số thể trí tương đối lười biếng không muốn tiến xa hơn. Không, sự thật hoàn toàn khác, và nhiều người đã bị loại trừ trên đường đi vì họ thách thức quan điểm chính thống thông thường vốn khẳng định rằng mọi sự chỉ có thế. Họ đã mở rộng trí tuệ con người, và những người nắm quyền không muốn điều đó, bởi khi trí tuệ con người bắt đầu mở rộng, quyền cai trị của những người cai trị bị thách thức, và người ta nhìn nhận con người theo một cách khác, như thể họ phải tự quản lấy mình.

It's a transition astrologically from Saturn to Uranus, and Master Morya has said that all of Armageddon is a battle between Saturn and Uranus. Saturn rules conditions as they are, and Uranus rules the archetypes which should be and which are disruptive to conditions as they are.

Về mặt chiêm tinh, đó là sự chuyển tiếp từ Sao Thổ sang Sao Thiên Vương, và Chân sư Morya đã nói rằng toàn bộ cuộc chiến Armageddon là cuộc chiến giữa Sao Thổ và Sao Thiên Vương. Sao Thổ cai quản những hoàn cảnh hiện hữu, còn Sao Thiên Vương cai quản những nguyên mẫu cần phải thành hiện thực và gây xáo trộn cho những hoàn cảnh hiện hữu.

[8] Even the neophyte

[8] Ngay cả người sơ cơ

That's us, friends, we are the neophytes.

Đó là chúng ta, các bạn thân mến, chúng ta là những người sơ cơ.

Even the neophyte

Ngay cả người sơ cơ

[9] upon the way of the intuition can begin to develop in himself the power to recognize that which the lower mind cannot give him.

[9] trên con đường trực giác cũng có thể bắt đầu phát triển trong mình khả năng nhận biết những điều mà hạ trí không thể mang lại cho y.

I assume that we have made this recognition, otherwise we could not be persistent students of the Ageless Wisdom. Think about that for a minute.

Tôi cho rằng chúng ta đã nhận biết điều này, nếu không, chúng ta không thể kiên trì làm đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời. Hãy suy nghĩ về điều đó một chút.

Even the neophyte upon the way of the intuition

Ngay cả người sơ cơ trên con đường trực giác

That's a special way. It's not just the way of concrete thought.

Đó là một con đường đặc biệt. Đó không chỉ là con đường của tư duy cụ thể.

Even the neophyte upon the way of the intuition can begin to develop in himself the power to recognize that which the lower mind cannot give him.

Ngay cả người sơ cơ trên con đường trực giác cũng có thể bắt đầu phát triển trong mình quyền năng nhận biết điều mà hạ trí không thể đem lại cho y.

I've noticed through observation that a lot of people who are very concrete minded, and who begin a study or participation in meditation, fall asleep. Of course, you can be tired and fall asleep—that's a different thing—but this is just a tendency: their mental process goes no further than the concrete. When you begin to lead the meditation into more abstract matters, touching on the higher mind, the abstract mind, the intuition, they just zone out because the mental process doesn't carry them there.

Qua quan sát, tôi nhận thấy nhiều người có lối tư duy rất cụ thể thường ngủ thiếp đi khi bắt đầu học hoặc tham gia tham thiền. Dĩ nhiên, các bạn có thể mệt và ngủ thiếp đi—đó là chuyện khác—nhưng ở đây chỉ là một khuynh hướng: tiến trình trí tuệ của họ không vượt ra ngoài cái cụ thể. Khi bắt đầu dẫn dắt bài tham thiền vào những vấn đề trừu tượng hơn, chạm đến thượng trí, trí trừu tượng, trực giác, họ liền mất tập trung vì tiến trình trí tuệ không đưa họ đến đó.

Let's not be like that, but let's build that antahkarana.

Chúng ta đừng như thế, mà hãy xây dựng antahkarana ấy.

[10] Some thought of revealing potency, to be used for the helping of the many, may drop into his mind;

[10] Một tư tưởng mang tiềm năng mặc khải, để dùng vào việc giúp đỡ nhiều người, có thể chợt đến với thể trí của y;

Remember how intuition works? It's not really for the helping of you or me. It has a broader connotation, and it operates in group form in relation to the welfare of groups.

Các bạn có nhớ trực giác hoạt động như thế nào không? Nó thực sự không nhằm giúp riêng các bạn hay tôi. Nó có hàm nghĩa rộng hơn và hoạt động dưới hình thức nhóm, liên quan đến phúc lợi của các nhóm.

Some thought of revealing potency, to be used for the helping of the many, may drop into his mind;

Một tư tưởng mang tiềm năng mặc khải, có thể dùng để giúp đỡ nhiều người, có thể đi vào thể trí y;

[11] some new light upon an old, old truth may penetrate, releasing the truth from the trammels of orthodoxy,

[11] một ánh sáng mới soi rọi một chân lý rất xa xưa có thể xuyên thấu vào, giải thoát chân lý ấy khỏi những ràng buộc của giáo điều chính thống,

That's a good phrase, isn't it? A trammel, of course, is a fetter, is a chain. It's something that binds you, imprisons you.

Đó là một cách diễn đạt hay, phải không? Dĩ nhiên, gông cùm là xiềng xích, là dây trói. Đó là thứ ràng buộc, giam hãm các bạn.

[12] thus illumining his consciousness.

[12] qua đó soi sáng tâm thức của y.

This can happen even to the relative neophyte upon the way of intuition. If you are pushing the third initiation, you are moving beyond strictly mental illumination and spiritual intelligence into intuitive instinct—that's a new phase. This is what can happen for us, and it's a lot different than just talking about things. It carries with it a freshness of revelation.

Điều này có thể xảy ra ngay cả với người còn tương đối sơ cơ trên con đường trực giác. Nếu đang tiến đến lần điểm đạo thứ ba, các bạn đang vượt qua sự soi sáng thuần túy trí tuệ và trí thông minh tinh thần để tiến vào bản năng trực giác—đó là một giai đoạn mới. Đây là điều có thể xảy ra với chúng ta, và nó rất khác với việc chỉ nói về mọi thứ. Nó mang theo sự tươi mới của mặc khải.

In German, Einfall literally means intuition; it fell in. So this is something that impressed us that fell into our consciousness.

Trong tiếng Đức, từ chỉ trực giác có nghĩa đen là điều rơi vào bên trong. Vì vậy, đây là điều đã tạo ấn tượng nơi chúng ta, đã rơi vào tâm thức chúng ta.

[13] This he must use for all and not for himself alone. Little by little, he learns the way into the world of the intuition; day by day, and year by year,

[13] Y phải dùng điều này cho tất cả mọi người, chứ không chỉ cho riêng mình. Từng chút một, y học được con đường đi vào thế giới trực giác; ngày qua ngày, năm qua năm,

Because it is not overnight—

Bởi vì điều đó không diễn ra chỉ sau một đêm—

[14] he becomes more sensitive to divine Ideas and more apt in appropriating them wisely for the use of his fellowmen.

[14] y trở nên nhạy cảm hơn với những Ý Tưởng thiêng liêng và thành thạo hơn trong việc lĩnh hội chúng một cách minh triết để phục vụ đồng loại.

This is the path that we are treading, and the Hierarchy seeks to train intuitives. The old Technique of the Presence by means of which we dispel illusion requires the use of the intuition because the intuition is the dispelling agent, just as the beam of logical light, if I can call it that, is the dissipating agent in the Technique of Light to dissipate glamour.

Đây là con đường chúng ta đang bước đi, và Thánh đoàn tìm cách đào tạo những người có trực giác. Kỹ Thuật của Hiện Diện cổ xưa, phương tiện giúp chúng ta xua tan ảo tưởng, đòi hỏi sử dụng trực giác, vì trực giác là tác nhân xua tan, cũng như chùm ánh sáng lôgic, nếu tôi có thể gọi như vậy, là tác nhân làm tiêu tan trong Kỹ Thuật Ánh sáng nhằm làm tiêu tan ảo cảm.

[15] The hope of the world and the dispelling of illusion lies in the development of intuitives and their conscious training.

[15] Niềm hy vọng của thế giới và việc xua tan ảo tưởng nằm ở sự phát triển những người có năng lực trực giác và việc huấn luyện họ một cách có ý thức.

In other words, when we're going after an intuition, we don't want it to be the kind of thing that is always taking us by surprise, and about which we have no say. We want to be able to appropriate it on demand through the use of the will, and scientifically test the testimony of the intuition, rather than simply having it as a now-and-then experience that occurs when it will and not when we will.

Nói cách khác, khi tìm kiếm một trực giác, chúng ta không muốn nó luôn là điều khiến mình bất ngờ và hoàn toàn nằm ngoài khả năng chủ động của mình. Chúng ta muốn có thể lĩnh hội nó khi cần thông qua việc sử dụng ý chí, và kiểm chứng một cách khoa học sự chứng thực của trực giác, thay vì chỉ trải nghiệm nó thỉnh thoảng, vào lúc nó muốn chứ không phải lúc chúng ta muốn.

The hope of the world lies in the development of the intuitives.

Hy vọng của thế giới nằm ở sự phát triển những người có trực giác.

Now, you have to begin to think to what extent are we potentially these intuitives? And how do we get there?

Giờ đây, các bạn phải bắt đầu suy nghĩ xem chúng ta có tiềm năng trở thành những người có trực giác ấy đến mức nào? Và chúng ta đi đến đó bằng cách nào?

[16] There are many natural intuitives whose work is a blend of the higher psychism with flashes of true intuition.

[16] Có nhiều người có năng lực trực giác bẩm sinh mà công việc của họ là sự pha trộn giữa năng lực thông linh bậc cao với những tia lóe sáng của trực giác chân chính.

Because, as we know, there is a strong connection between the buddhic plane of intuition and the astral plane of psychism. Some of the higher psychism also was occurring on the mental plane.

Bởi như chúng ta biết, có một mối liên hệ mạnh mẽ giữa cõi Bồ đề của trực giác và cõi cảm dục của năng lực thông linh. Một phần hoạt động thông linh cao cấp cũng đã diễn ra trên cõi trí.

[17] There must be the training of the exact intuitive.

[17] Cần huấn luyện những người có năng lực trực giác chuẩn xác.

That's something that Master Hilarion and Master Jesus together are working on. Master Hilarion, the former St. Paul, concentrated much upon the buddhic plane and seeks to train psychics in more exact methods so that they can be really reliable. This we've been told by The Tibetan.

Đó là điều Chân sư Hilarion và Đức Jesus đang cùng thực hiện. Chân sư Hilarion, trước kia là Thánh Paul, đã tập trung rất nhiều vào cõi Bồ đề và tìm cách đào tạo những người có năng lực thông linh theo các phương pháp chính xác hơn, để họ có thể thực sự đáng tin cậy. Chân sư Tây Tạng đã cho chúng ta biết điều này.

Just imagine when some of the scientists of the world are also great intuitives—you can see what progress could be made.

Hãy tưởng tượng khi một số nhà khoa học trên thế giới đồng thời cũng là những người có trực giác lớn lao—các bạn có thể thấy sẽ đạt được những tiến bộ nào.

[18] Paralleling their intuitive response and their effort to precipitate their intuition into the world of human thought, there must also be the steady development of the human mind so that it can grasp and apprehend what is projected, and in this too lies the hope of the race.

[18] Song song với sự đáp ứng trực giác của họ và nỗ lực ngưng tụ trực giác ấy vào thế giới tư tưởng của con người, trí tuệ con người cũng phải phát triển đều đặn để có thể nắm bắt và thấu triệt những gì được phóng chiếu; chính trong điều này cũng có niềm hy vọng của nhân loại.

The two numbers, four and five together, indicate the intuition and the mind respectively. These are two great rays of humanity at this time, even though the second ray is growing in the soul nature of humanity. Intuition and the interpretive mind develop in a parallel manner, and we get into trouble with illusion when we don't have an adequate interpretive mind. We have to question ourselves all the time about our interpretations of these intuitions as they come to us—some advanced thoughts, which carry more than just a thought; they carry the energy of the idea. More and more people like ourselves have to learn how to work in the realm of ideas.

Hai con số bốn và năm đi cùng nhau lần lượt biểu thị trực giác và thể trí. Đây là hai cung lớn của nhân loại vào lúc này, dù cung hai đang tăng trưởng trong bản chất linh hồn của nhân loại. Trực giác và thể trí có khả năng diễn giải phát triển song song, và chúng ta gặp rắc rối với ảo tưởng khi không có một thể trí đủ khả năng diễn giải. Chúng ta phải luôn tự chất vấn về cách mình diễn giải những trực giác đến với mình—những tư tưởng tiến bộ mang theo nhiều hơn một tư tưởng đơn thuần; chúng mang năng lượng của ý tưởng. Ngày càng có nhiều người như chúng ta phải học cách làm việc trong lĩnh vực ý tưởng.

We're on page 184, and we didn't cover a lot of pages from page 183 to 184. It doesn't seem that we should go further right now, because there's a whole new section coming up.

Chúng ta đang ở trang 184, và từ trang 183 đến 184, chúng ta chưa đọc được nhiều trang. Có vẻ lúc này chúng ta không nên đi tiếp, vì sắp đến một phần hoàn toàn mới.

This is program 175, and today's date is the fifth of March. Our reading has been number 112, and we've gone from 183 to 184. Hopefully we have a respect for intuitive development and how we can begin to tread the path of intuition—the way of intuition is what he calls that.

Đây là chương trình 175, và hôm nay là ngày 5 tháng 3. Bài đọc của chúng ta là số 112, và chúng ta đã đi từ trang 183 đến 184. Hy vọng chúng ta trân trọng sự phát triển trực giác và cách mình có thể bắt đầu bước trên con đường trực giác—con đường trực giác là cách Ngài gọi điều đó.

We try to have as many of these glamour programs as we can because the situation is so serious. When people become unhinged, really unmoored and untethered, some very wise things have been said about the state of human consciousness today. It is predictable, especially as a little mini recapitulation of what happened long ago in Atlantean days, when the Lodge of Darkness, seeing an opportunity, stepped in and inflated the tendency to human glamour beyond all normality. It was a huge exaggeration that they promoted. We can say that little humanity was trying to learn how to think, and the Lodge of Darkness introduced all of this tendency towards distortion. We have a recapitulation concerning that now.

Chúng ta cố gắng tổ chức những chương trình về ảo cảm này nhiều nhất có thể vì tình hình hết sức nghiêm trọng. Khi con người trở nên mất thăng bằng, thực sự mất chỗ neo và mọi điểm tựa, đã có những nhận định rất minh triết về trạng thái tâm thức nhân loại ngày nay. Có thể dự đoán được điều đó, nhất là khi đây là một sự tái diễn thu nhỏ của những gì đã xảy ra từ rất lâu trong thời Atlantis, khi Hắc đoàn nhìn thấy cơ hội, liền can thiệp và thổi phồng khuynh hướng ảo cảm của con người vượt xa mọi mức bình thường. Họ đã thúc đẩy một sự phóng đại khổng lồ. Có thể nói rằng nhân loại non trẻ đang cố học cách suy nghĩ, và Hắc đoàn đã đưa vào toàn bộ khuynh hướng bóp méo này. Giờ đây, chúng ta đang có một sự tái diễn điều đó.

Questions and Answers – Hỏi và Đáp

If there is anybody that has anything you would like to offer or question, this would be the time to do it before we get involved with our meditation. I think this takes us to March 12. If I am incorrect, someone correct me. Thanks, Martin. Apparently the 12th of March, and we are in Pisces, the great glamour sign, a sign of such very clear spiritual perception. I will be on the lookout here for anything you might want to say or question or ask in relation to the field of Occultism.

Nếu có ai muốn đóng góp hoặc đặt câu hỏi, thì đây là lúc thực hiện trước khi chúng ta bước vào bài tham thiền. Tôi nghĩ như vậy đưa chúng ta đến ngày 12 tháng 3. Nếu tôi không đúng, xin ai đó sửa giúp. Cảm ơn Martin. Có vẻ là ngày 12 tháng 3, và chúng ta đang ở Song Ngư, dấu hiệu ảo cảm lớn, một dấu hiệu của sự nhận thức tinh thần hết sức sáng rõ. Tôi sẽ chú ý ở đây xem các bạn có điều gì muốn nói hay hỏi liên quan đến lĩnh vực Huyền bí học hay không.

People like you and like me, we're trying to take another step. We're trying to go beyond mental approach only which we have to have, into a sensitive, intuitive approach which gives us the real substance of ideas.

Những người như các bạn và tôi đang cố gắng tiến thêm một bước. Chúng ta đang cố vượt ra ngoài cách tiếp cận chỉ bằng trí tuệ, vốn vẫn cần thiết, để đi vào một cách tiếp cận nhạy cảm, trực giác, đem lại cho chúng ta chất liệu thực sự của các ý tưởng.

Now, as DK says, it's going to take time, but there are meditations in the Morya Federation, of course, given by DK. I would say, particularly meditation number five, out of the six or seven meditations that he gave which are particularly useful in cultivating the intuition, and naturally using the antahkarana techniques that will happen. We hold a thought process up to the light and we wait in silence for impression, and then we begin, if impression has occurred, to translate into intelligent thought our estimation of what has been impressed, and if we are acute in our mind, we will be successful in our translation.

Như Chân sư DK nói, điều đó sẽ cần thời gian, nhưng dĩ nhiên trong Liên đoàn Morya có những bài thiền do Chân sư DK ban. Tôi cho rằng đặc biệt là bài thiền số năm, trong số sáu hay bảy bài thiền Ngài đã ban, rất hữu ích cho việc vun bồi trực giác; và tất nhiên, khi sử dụng các kỹ thuật antahkarana, điều đó sẽ xảy ra. Chúng ta nâng một tiến trình tư tưởng lên ánh sáng và chờ đợi trong im lặng để tiếp nhận ấn tượng, rồi nếu ấn tượng đã đến, chúng ta bắt đầu chuyển nhận định của mình về điều đã ghi ấn thành tư tưởng sáng suốt; và nếu thể trí sắc bén, chúng ta sẽ thành công trong việc chuyển dịch ấy.

Sriyantra: I feel that when some fall asleep—not me, to be clear—during meditations, it means they are not ready to hear what is being offered, but that it lodges somewhere in the mind for later.

Sriyantra: Tôi cảm thấy khi một số người ngủ thiếp đi trong các buổi tham thiền—xin nói rõ là không phải tôi—điều đó có nghĩa là họ chưa sẵn sàng nghe những gì đang được trình bày, nhưng những điều ấy vẫn lưu lại đâu đó trong thể trí để sau này sử dụng.

MDR: You may be correct about this. I've just approached it in a technical way. The concrete mind, unless there is sufficient development of the first stage of the antahkarana from the mental unit to the soul, is an inhibitor. From a technical point of view, those who lack this development do not go any further and they become bored, but they cannot relate to it.

MDR: Bạn có thể đúng về điều này. Tôi chỉ vừa tiếp cận nó theo phương diện kỹ thuật. Trí cụ thể là một yếu tố cản trở, trừ khi giai đoạn thứ nhất của antahkarana từ đơn vị hạ trí đến linh hồn đã phát triển đầy đủ. Theo quan điểm kỹ thuật, những người thiếu sự phát triển này không đi xa hơn được và trở nên buồn chán, nhưng họ không thể kết nối với điều đó.

Both perspectives may be correct, but I was just dealing with the need for us to go beyond the concrete mind.

Cả hai quan điểm đều có thể đúng, nhưng tôi chỉ đang bàn đến nhu cầu chúng ta phải vượt ra ngoài trí cụ thể.

GAW-175-H01

GAW-175-H01

This is one of those charts that Tuija made, from The Tibetan, coloring it in in the appropriate colors. Notice the threefold antahkarana. Phase one comes from that high point on the lower mental plane that we call the mental unit, and the line of light is built into the soul nature. When we use in our meditation something the Arcane School uses right away, called the Master in the Heart, we are building this first phase of the antahkarana. Unless this is somewhat built, if people just hover around the mental unit in their thought, they oftentimes drift off. This is my observation.

Đây là một trong những sơ đồ Tuija đã thực hiện dựa trên tài liệu của Chân sư Tây Tạng, tô vào những màu sắc thích hợp. Hãy chú ý antahkarana tam phân. Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ điểm cao trên cõi hạ trí mà chúng ta gọi là đơn vị hạ trí, và đường ánh sáng được xây dựng để đi vào bản chất linh hồn. Khi trong tham thiền, chúng ta sử dụng điều mà Trường Arcane dùng ngay từ đầu, gọi là Chân sư trong Tim, chúng ta đang xây dựng giai đoạn thứ nhất này của antahkarana. Nếu phần này chưa được xây dựng ở một mức độ nào đó, nếu tư tưởng của người ta chỉ quanh quẩn nơi đơn vị hạ trí, thì họ thường lơ đãng trôi đi. Đó là điều tôi quan sát được.

Maybe something in them, as you suggest, hears what is being said and reserves it for later. I'm recalling DK's words to a rather high disciple, someone, I think, who was perhaps a second degree disciple. He says, "In your causal body are stored the words of many books." So the storage factor is there. At the bottom of the Egoic Lotus—and it's not really portrayed right here—the atomic triangle is found. The mental unit is actually in a way associated with the Egoic Lotus, and so is the astral permanent atom, and so is the etheric physical permanent atom. These things are all overlapping; they're not like a bunch of pancakes, but we spread it out to make it easier to understand and to identify what's going on.

Có lẽ, như bạn gợi ý, một điều gì đó trong họ nghe được những gì đang nói và giữ lại để dùng về sau. Tôi đang nhớ lại lời Chân sư DK nói với một đệ tử khá cao cấp, một người mà tôi nghĩ có lẽ là đệ tử bậc hai. Ngài nói: “Trong thể nguyên nhân của em lưu giữ lời của nhiều cuốn sách.” Vì vậy, yếu tố lưu trữ quả có tồn tại. Ở phần đáy của Hoa Sen Chân Ngã—và ở đây chưa thực sự thể hiện điều đó—có tam giác nguyên tử. Thực ra, theo một cách nào đó, đơn vị hạ trí gắn liền với Hoa Sen Chân Ngã, nguyên tử trường tồn cảm dục cũng vậy, và nguyên tử trường tồn hồng trần dĩ thái cũng vậy. Tất cả những thành phần này đều chồng lấn lên nhau; chúng không giống một chồng bánh kếp, nhưng chúng ta trải chúng ra để dễ thấu hiểu và nhận diện những gì đang diễn ra.

These three units—mental unit, astral permanent atom, etheric physical permanent atom—are storage units. Many of the memories that have to do with the lower three worlds are indeed stored within those units. As far as the material being built into the petals of the Egoic Lotus, that is the alchemical work of the Angel of the Presence, who takes what is stored, extracts it, and essentializes it into higher value. In astrology, Venus and value are connected. The Angel of the Presence extracts what is stored of memory and builds it into the petal structure of the Egoic Lotus. That's the beginning of the antahkarana.

Ba đơn vị này—đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục, nguyên tử trường tồn hồng trần dĩ thái—là những đơn vị lưu trữ. Nhiều ký ức liên quan đến ba cõi thấp quả thực được lưu giữ trong những đơn vị ấy. Còn chất liệu được xây dựng vào những cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã là công việc luyện kim của Thiên Thần của Hiện Diện, Đấng lấy những gì đã lưu trữ, chiết xuất và tinh luyện thành tinh chất có giá trị cao hơn. Trong chiêm tinh học, Sao Kim và giá trị có liên hệ với nhau. Thiên Thần của Hiện Diện chiết xuất những ký ức được lưu trữ và xây dựng chúng vào cấu trúc cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Đó là khởi đầu của antahkarana.

The part of the antahkarana DK teaches us in 100 intense concentrated pages in Rays and the Initiations is phase three. Another part, phase two, of the antahkarana is working from the ability to have a soul-infused mind and to focus consciousness within the higher mind, and from the higher mind move to the abstract mind. There is a distinction between these. The abstract mind is higher than the higher mind, per se. If we can actually be successful in focusing within our causal body—the inability to do so, he tells us, is what makes people's meditation not successful—we can build yet another phase toward the lowest point of the Spiritual Triad, the abstract mind.

Phần antahkarana mà Chân sư DK dạy chúng ta trong 100 trang cô đọng, đòi hỏi tập trung cao độ của Các Cung và Những Cuộc Điểm Đạo là giai đoạn thứ ba. Một phần khác, giai đoạn thứ hai của antahkarana, khởi đi từ khả năng có một thể trí được linh hồn thấm nhuần và tập trung tâm thức trong thượng trí, rồi từ thượng trí tiến đến trí trừu tượng. Có sự phân biệt giữa hai điều này. Trí trừu tượng cao hơn chính thượng trí. Nếu thực sự có thể thành công trong việc tập trung bên trong thể nguyên nhân—Ngài cho biết chính việc không có khả năng làm điều đó khiến việc tham thiền của người ta không thành công—chúng ta có thể xây dựng thêm một giai đoạn nữa hướng đến điểm thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, tức trí trừu tượng.

There are different ways, of course, different perspectives. One of the reasons that Master DK is such a good teacher is that he offers so many different perspectives on similar points, so we get a more rounded out point of view, rather than rigidly holding to the idea that this is always the way it is. I was reading just the other day, and I want to say a word about an occult hint. We've been told that Master DK took the fifth initiation in the year 1875. But in one of his later writings, he talks about how he took the fifth initiation about 90 years ago.

Dĩ nhiên, có những cách khác nhau, những quan điểm khác nhau. Một trong những lý do Chân sư DK là một huấn sư giỏi đến thế là Ngài đưa ra rất nhiều góc nhìn khác nhau về những điểm tương tự, để chúng ta có một quan điểm toàn diện hơn, thay vì cứng nhắc bám vào ý tưởng rằng sự việc lúc nào cũng như thế. Mới hôm trước, tôi đang đọc và muốn nói đôi lời về một gợi ý huyền bí. Chúng ta được cho biết Chân sư DK đã trải qua lần điểm đạo thứ năm vào năm 1875. Nhưng trong một tác phẩm về sau, Ngài nói rằng Ngài đã trải qua lần điểm đạo thứ năm cách đó khoảng 90 năm.

I think he wrote it somewhere around 1947. If you go back 90 years from 1947, you don't reach the year 1875, you reach the year 1857. That was 90 years ago, when he said he took the fifth initiation. If you reverse the figures 57 you get 75. With 57 and 75 they have the same digits. Perhaps he took the fifth initiation in 1857, but there was a conventional blinding reversal which he presented as 1875.

Tôi nghĩ Ngài viết điều đó vào khoảng năm 1947. Nếu từ năm 1947 lùi lại 90 năm, các bạn không đến năm 1875, mà đến năm 1857. Đó là 90 năm trước thời điểm Ngài nói rằng mình đã trải qua lần điểm đạo thứ năm. Nếu đảo hai chữ số 57, các bạn được 75. Số 57 và 75 có cùng những chữ số. Có lẽ Ngài đã trải qua lần điểm đạo thứ năm vào năm 1857, nhưng đã dùng một phép đảo số theo quy ước để che giấu, trình bày thành năm 1875.

The way the Master has of blinding certain information involves numerous ways, and they are interesting. When we can begin to discover them, we can begin to receive the import of certain hints that may have just passed us by entirely when we were not aware of his method.

Chân sư có nhiều cách để che giấu một số thông tin, và chúng rất thú vị. Khi bắt đầu khám phá được những cách ấy, chúng ta có thể bắt đầu tiếp nhận ý nghĩa của một số gợi ý mà trước đó có thể đã hoàn toàn bỏ qua vì chưa biết phương pháp của Ngài.

Is there anything else you'd like to discuss or question?

Các bạn còn điều gì muốn thảo luận hoặc đặt câu hỏi không?

This diagram is very useful because it enlarges what we're looking at. In my book on the Egoic Lotus, it's a video book, and it's on Makara. Maybe it is also on YouTube; I do not know. It goes step by step, petal by petal, color by color, astrological indication, ray by ray, planet by planet, through all of these unfoldments over time that the growing consciousness experiences.

Sơ đồ này rất hữu ích vì nó mở rộng điều chúng ta đang xem xét. Trong cuốn sách của tôi về Hoa Sen Chân Ngã, đó là một cuốn sách bằng video và có trên Makara. Có lẽ cũng có trên YouTube; tôi không biết. Cuốn sách lần lượt đi qua từng bước, từng cánh hoa, từng màu sắc, từng chỉ dấu chiêm tinh, từng cung, từng hành tinh, qua tất cả những sự khai mở theo thời gian mà tâm thức đang tăng trưởng trải nghiệm.

One day, in higher psychism, we'll be able to, as the Master can, look directly at the development of the Egoic Lotus which is the real human being. When you're looking at a human being, don't look at the outer form; try to come en rapport with the soul nature and its unfoldment behind the human being.

Một ngày kia, nhờ năng lực thông linh cao cấp, chúng ta sẽ có thể, như Chân sư, trực tiếp nhìn thấy sự phát triển của Hoa Sen Chân Ngã, vốn là con người đích thực. Khi nhìn một con người, đừng nhìn hình tướng bên ngoài; hãy cố gắng hòa nhịp với bản chất linh hồn và sự khai mở của nó phía sau con người ấy.

There are souls with more experience or less experience, and there are maybe ways to tell through some kind of sensitive tuning in on the soul nature within the outer form. Every good astrologer or rayologist has to do that to at least start somewhere.

Có những linh hồn nhiều kinh nghiệm hơn hoặc ít kinh nghiệm hơn, và có lẽ có những cách nhận biết thông qua một sự hòa nhịp nhạy cảm nào đó với bản chất linh hồn bên trong hình tướng bên ngoài. Mỗi nhà chiêm tinh hay nhà nghiên cứu các cung giỏi đều phải làm điều đó để ít nhất có một điểm khởi đầu.

Susie Miller: What good would it do, what purpose would be served, should a Master hide the actual date through reversal?

Susie Miller: Nếu một Chân sư che giấu niên đại thực bằng cách đảo số, điều đó có ích gì, phục vụ mục đích gì?

MDR: It may be that the date 1857 is significant in terms of previous activities in his life, and tells us something about his preparation for the Theosophical Society and so forth. 1875, in many ways, seems convincing. But then why did he write that statement about 90 years ago, which takes us back to a different date, where the digits involved are the same?

MDR: Có thể niên đại 1857 có ý nghĩa liên quan đến những hoạt động trước đó trong cuộc đời Ngài, và cho chúng ta biết điều gì đó về sự chuẩn bị của Ngài cho Hội Thông Thiên Học, vân vân. Xét trên nhiều phương diện, năm 1875 có vẻ thuyết phục. Nhưng vậy thì tại sao Ngài lại viết lời khẳng định ấy về khoảng 90 năm trước, đưa chúng ta lùi về một niên đại khác có cùng những chữ số?

There may be something about his relationship between KH, himself, and Master Morya. It may be something about his training. It might be something about his date of birth. It's a hint, and we have to see if it's worth the attempt to unveil the hint.

Có thể có điều gì đó liên quan đến mối quan hệ giữa Chân sư KH, chính Ngài và Chân sư Morya. Có thể liên quan đến sự huấn luyện của Ngài. Cũng có thể liên quan đến ngày sinh của Ngài. Đó là một gợi ý, và chúng ta phải xem liệu nó có đáng để cố gắng vén mở hay không.

Susie, it could possibly be a hint, but it is written, shall we say, and it is definite, and the word is 90, and it doesn't come out to 1875. But there's a curious connection. We have to remember also when he began to train Madame Blavatsky, who went to Tibet. When did that occur? Did it occur at the time that he was turning a master? Is that possible? Yet she speaks of knowing a youth so pure that no lie would ever cross his lips, and that was Master DK. So, how old was he, and maybe it tells us something also, for those masters who preserve the body at the fourth initiation. Maybe it tells us something about their taking of the fifth initiation and the age at which they could take it.

Susie, đó có thể là một gợi ý, nhưng điều ấy đã được viết ra, và rất rõ ràng, con số ấy là 90, và tính ra thì không phải là năm 1875. Nhưng có một mối liên hệ kỳ lạ. Chúng ta cũng phải nhớ thời điểm Ngài bắt đầu huấn luyện Bà Blavatsky, người đã đến Tây Tạng. Việc đó xảy ra khi nào? Có phải vào lúc Ngài trở thành một Chân sư không? Điều đó có thể chăng? Tuy nhiên, Bà kể rằng mình biết một thanh niên thuần khiết đến mức không một lời dối trá nào có thể thốt ra từ môi người ấy, và đó chính là Chân sư DK. Vậy khi ấy Ngài bao nhiêu tuổi? Có lẽ điều đó cũng cho chúng ta biết đôi điều về những Chân sư giữ lại thân thể vào lần điểm đạo thứ tư. Có lẽ nó cho chúng ta biết đôi điều về việc Các Ngài tiếp nhận lần điểm đạo thứ năm và độ tuổi mà Các Ngài có thể tiếp nhận lần điểm đạo ấy.

That's a very special case, because so often people do not preserve the body and they die or they pass away at the fourth degree, and do not use the same body to take the fifth degree. There are many possible lines that one can follow if one suspects that one is being shown a hint.

Đó là một trường hợp rất đặc biệt, vì người ta thường không giữ lại thân thể mà chết đi hoặc từ trần ở cấp điểm đạo thứ tư, và không dùng cùng thân thể ấy để tiếp nhận cấp điểm đạo thứ năm. Có nhiều hướng suy xét mà chúng ta có thể theo đuổi nếu nghi rằng mình đang nhận được một gợi ý.

A very good friend of mine just sent a paper to me that I think was written by Luis Hondros, who's very active in the Latin American work, and it's really a good article. It was all about Master DK: was he the Panchen Lama, or was he not? Some people have concluded that since Alice Bailey had kind of a picture of the Panchen Lama on her wall, that Master DK was the Panchen Lama, but I think, after careful scholarship, it is shown that that is not the case.

Một người bạn rất thân vừa gửi cho tôi một bài viết mà tôi nghĩ là do Luis Hondros viết, người đang hoạt động rất tích cực trong công việc tại Mỹ Latinh, và đó thực sự là một bài viết hay. Toàn bộ bài viết bàn về Chân sư DK: Ngài có phải là Ban Thiền Lạt Ma hay không? Một số người kết luận rằng vì Bà Alice Bailey có một bức hình Ban Thiền Lạt Ma trên tường, nên Chân sư DK chính là Ban Thiền Lạt Ma, nhưng tôi nghĩ công trình khảo cứu cẩn trọng đã cho thấy sự thật không phải như vậy.

All kinds of hints about The Tibetan life—about being an Abbot of a certain monastery, a very big monastery, was it Tashilhunpo, something like that—all of that may be discerned if we choose an earlier date for his fifth initiation. I'm not saying we should. I'm just saying it has to be investigated.

Có đủ loại gợi ý về cuộc đời của Chân sư Tây Tạng—về việc Ngài là viện trưởng một tu viện nào đó, một tu viện rất lớn, có phải là Tashilhunpo hay một tên tương tự không—tất cả những điều ấy có thể được nhận định rõ nếu chúng ta chọn một niên đại sớm hơn cho lần điểm đạo thứ năm của Ngài. Tôi không nói rằng chúng ta nên làm vậy. Tôi chỉ nói rằng cần phải khảo sát điều đó.

Tonight, we are working on the group work, the references regarding the New Group of World Servers. That is our work for this evening.

Tối nay, chúng ta sẽ nghiên cứu công việc nhóm, những đoạn tham chiếu liên quan đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Đó là công việc của chúng ta tối nay.

Now we'll get into our meditation.

Bây giờ chúng ta sẽ bước vào bài thiền.

The glamour that we work with is a blind, violent, emotional reaction to conspiratorial kama-manasic thinking. It's rather long, I apologize, but you understand what I'm talking about. This is now becoming a world problem. I could even, as long as we've got a long glamour anyway, add the word fantastical, because it's really based on fantasy and not on reality at all. This is really what happened in Germany long ago.

Ảo cảm mà chúng ta đang xử lý là phản ứng cảm xúc mù quáng, bạo lực trước lối suy nghĩ trí-cảm mang tính âm mưu. Cách gọi này khá dài, tôi xin lỗi, nhưng các bạn hiểu tôi đang nói đến điều gì. Hiện nay, điều này đang trở thành một vấn đề thế giới. Vì cách gọi ảo cảm này vốn đã dài, tôi thậm chí có thể thêm từ hoang đường, bởi nó thực sự dựa trên sự tưởng tượng hoang đường và hoàn toàn không dựa trên thực tại. Đây chính là điều đã xảy ra ở Đức từ lâu.

In the Axis powers, they inflated who they were. They went backwards, seeking to reawaken the ancient Teuton, to reawaken the Samurai, to reawaken the grandeur of Rome. They went backwards to a mythologized past that they thought was much better than their present. As a result, they fell into huge glamour.

Trong các nước thuộc phe Trục, họ đã thổi phồng bản thân mình. Họ quay ngược về quá khứ, tìm cách đánh thức người Teuton cổ đại, đánh thức tinh thần võ sĩ đạo, đánh thức vẻ huy hoàng của La Mã. Họ quay về một quá khứ đã được huyền thoại hóa mà họ cho là tốt đẹp hơn hiện tại rất nhiều. Kết quả là họ rơi vào ảo cảm vô cùng lớn lao.

Although DK did tell us, when looking at the Axis powers, that Italy represented illusion and was nowhere near as bad as the other two; Germany represented glamour, which was the most powerful. Japan represented maya. There we have the three-headed dog, Cerberus in the lower regions, and there was an attack, a big attack.

Tuy nhiên, khi xem xét các nước thuộc phe Trục, Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng Ý đại diện cho ảo tưởng và mức độ tệ hại còn kém xa hai nước kia; Đức đại diện cho ảo cảm, vốn mạnh mẽ nhất. Nhật Bản đại diện cho ảo lực. Ở đó, chúng ta có con chó ba đầu Cerberus nơi các vùng thấp, và đã có một cuộc tấn công, một cuộc tấn công lớn.

Now we have to make sure that any such attack now is neutralized. That will be our job, and the job of many other thinking people who don't even know that they are associated with the Hierarchy, but they are.

Giờ đây, chúng ta phải bảo đảm rằng bất kỳ cuộc tấn công nào như thế hiện nay đều được vô hiệu hóa. Đó sẽ là công việc của chúng ta, và của nhiều người biết suy nghĩ khác, những người thậm chí không biết rằng họ có liên hệ với Thánh đoàn, nhưng thực sự là vậy.

Meditation – Tham thiền

We begin in silence. We think of ourselves working together, and we begin to unify as a group. We recognize our group unity in the silence.

Chúng ta bắt đầu trong im lặng. Chúng ta nghĩ đến việc cùng nhau làm việc, và bắt đầu hợp nhất thành một nhóm. Trong im lặng, chúng ta nhận biết sự hợp nhất của nhóm mình.

We use the Protective Formula, which is, in this case, the Cross of Divinity: forehead, heart, left eye, right eye. As we make the sign of the cross before us, we trace light in making that cross.

Chúng ta sử dụng Công Thức Bảo Vệ, trong trường hợp này là Thập Giá Thiên Tính: trán, tim, mắt trái, mắt phải. Khi làm dấu thập giá trước mặt, chúng ta vạch nên thập giá ấy bằng ánh sáng.

As a soul I work in light and darkness cannot touch me.

Là một linh hồn, tôi làm việc trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi.

I take my stand within the light.

Tôi đứng vững trong ánh sáng.

I work and from that point I never move.

Tôi làm việc và không bao giờ rời khỏi điểm ấy.

There is a cross before each one of us and a large Cross of Divinity before the entire group, representing the entire group.

Trước mỗi người chúng ta có một thập giá, và trước toàn nhóm có một Thập Giá Thiên Tính lớn, đại diện cho toàn nhóm.

Now we bring together the vital light of matter and the light of mind on the mental plane. We bring them together on the mental plane, and we tune in with soul light. Visualize that above the head.

Bây giờ, chúng ta quy tụ ánh sáng sinh lực của vật chất và ánh sáng của trí tuệ trên cõi trí. Chúng ta kết hợp chúng trên cõi trí, và hòa điệu với ánh sáng linh hồn. Hãy hình dung ánh sáng ấy phía trên đầu.

We bring down the soul light, blending with the other two lights, all on the plane of mind. A triple light is formed: the vital light of matter, the light of mind, and the light of the higher mind, soul light, all coming together on that area of mind which we can control. Visualizing this triple light as one light, from which there will be generated our beam to help dissipate glamour, we say:

Chúng ta đưa ánh sáng linh hồn xuống, hòa trộn với hai ánh sáng kia, tất cả đều trên cõi trí. Một ánh sáng tam phân hình thành: ánh sáng sinh lực của vật chất, ánh sáng của trí tuệ và ánh sáng của thượng trí, tức ánh sáng linh hồn, tất cả cùng hội tụ trong vùng thể trí mà chúng ta có thể kiểm soát. Hình dung ánh sáng tam phân này là một ánh sáng duy nhất, từ đó chùm sáng của chúng ta sẽ phát sinh để giúp làm tiêu tan ảo cảm, chúng ta nói:

The light is one and in that light shall we see light.

Ánh sáng là một và trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy ánh sáng.

This is the light that turns the darkness into day.

Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.

OM.

OM.

OM.

OM.

OM.

OM.

Now we move forward into the formula, and the group says that it visualizes itself between the heavenly sources and the subtle area where glamour occurs.

Bây giờ, chúng ta tiến vào công thức, và nhóm nói rằng nhóm hình dung mình ở giữa những nguồn thiên thượng và vùng vi tế nơi ảo cảm xuất hiện.

Radiance are we and power.

Chúng ta là ánh sáng rạng ngời và quyền năng.

We stand forever with our hands stretched out, linking the heavens and the earth, the inner world of meaning and the subtle world of glamour.

Chúng ta đứng mãi mãi với đôi tay dang rộng, kết nối trời và đất, thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm.

We reach into the light and bring it down to meet the need.

Chúng ta vươn vào Ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng nhu cầu.

We reach into the silent Place and bring from thence the gift of understanding.

Chúng ta vươn vào Chốn Im Lặng và từ đó mang về ân huệ của sự thấu hiểu.

Thus with the light we work and turn the darkness into day.

Như vậy, chúng ta làm việc với ánh sáng và biến bóng tối thành ban ngày.

We visualize that beam of ours going forth from the forehead, the searchlight we have created. We come en rapport with that astral plane and turn the searchlight, the dissipating light, onto the astral plane,

Chúng ta hình dung chùm sáng của mình phát ra từ trán, ngọn đèn pha mà chúng ta đã tạo nên. Chúng ta thiết lập sự giao cảm với cõi cảm dục ấy và hướng ngọn đèn pha, ánh sáng làm tiêu tan ảo cảm, vào cõi cảm dục,

where there are all of these emotional tendencies and reactions that cloud and blind and befog the truth. Our beam is penetrating. Then we invoke the spiritual will to strengthen the beam. We strengthen our willingness to work in this way and imagine the strengthening of the beam we have generated.

nơi có tất cả những khuynh hướng và phản ứng cảm xúc làm che phủ, che khuất và làm mờ chân lý. Chùm sáng của chúng ta đang xuyên thấu. Sau đó, chúng ta khẩn cầu ý chí tinh thần để tăng cường chùm sáng. Chúng ta củng cố sự sẵn lòng làm việc theo cách này và tưởng tượng chùm sáng mình đã tạo ra đang được tăng cường.

We say:

Chúng ta nói:

With power upon its beam the light is focused on the goal.

Với quyền năng trên chùm tia của mình, ánh sáng tập trung vào mục tiêu.

We think about the glamour that we are working with, this same one for a while, and the light is being thrown upon that glamour.

Chúng ta nghĩ đến ảo cảm mà mình đang xử lý, vẫn là ảo cảm ấy trong một thời gian, và ánh sáng đang chiếu vào ảo cảm đó.