Tóm lược chương
Tư duy trí-cảm kết hợp dục vọng với hoạt động trí tuệ, khiến ảo cảm và ảo tưởng cùng tác động lên hàng triệu người. Những phản ứng cảm xúc dữ dội, thiếu suy xét và tập trung vào phàm ngã làm suy giảm khả năng chỉnh hợp với Thiên Cơ. Việc thanh lọc tâm thức vì thế đòi hỏi cải thiện phẩm chất tư tưởng, nhận diện phản ứng cá nhân và phát triển sự thấu hiểu tổng hợp. Theo cách diễn giải được Thầy MDR điều chỉnh từ Thư Về Tham thiền Huyền môn và định luật tương đồng, mỗi ashram lớn của một Chohan bao gồm bảy ashram phụ, thay vì sáu như nhận định trước đây. Sự tương ứng giữa bảy màu sắc và quãng tám âm thanh gợi ý rằng mỗi ashram lớn bao gồm cả…
Commentary GAW 176
Tóm Tắt
Tư duy trí-cảm và sự che khuất Thiên Cơ
Tư duy trí-cảm kết hợp dục vọng với hoạt động trí tuệ, khiến ảo cảm và ảo tưởng cùng tác động lên hàng triệu người. Những phản ứng cảm xúc dữ dội, thiếu suy xét và tập trung vào phàm ngã làm suy giảm khả năng chỉnh hợp với Thiên Cơ. Việc thanh lọc tâm thức vì thế đòi hỏi cải thiện phẩm chất tư tưởng, nhận diện phản ứng cá nhân và phát triển sự thấu hiểu tổng hợp.
Bảy ashram lớn và các ashram phụ
Theo cách diễn giải được Thầy MDR điều chỉnh từ Thư Về Tham thiền Huyền môn và định luật tương đồng, mỗi ashram lớn của một Chohan bao gồm bảy ashram phụ, thay vì sáu như nhận định trước đây. Sự tương ứng giữa bảy màu sắc và quãng tám âm thanh gợi ý rằng mỗi ashram lớn bao gồm cả bảy phẩm tính, với màu chủ đạo kết hợp cùng phẩm tính riêng của từng ashram phụ. Ashram của Chân sư KH được lấy làm ví dụ với sắc chàm chủ đạo; việc xác định công việc trong một ashram phụ cần đặt trong sự trực thuộc ashram lớn.
Giả thuyết về ashram của Chân sư DK
Theo giả thuyết mới của Thầy MDR, Chân sư DK có thể phụ trách ashram phụ hai thuộc cung hai, thay vì ashram phụ ba thuộc cung hai như trước đây từng nghĩ. Ảnh hưởng cung ba nổi bật có thể đến từ năng lượng chân thần cung ba, vốn là năng lượng phụ của cung hai lớn hơn trên cõi Thượng Đế. Đây là vấn đề còn được khảo sát, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu xây dựng thể trí phong phú, có trật tự, tương ứng với Thánh đoàn như một đoàn thể những thể trí có tổ chức và được soi sáng.
Trực giác nhóm và các dạng che phủ tâm thức
Phần giáo lý đang khảo sát đặt trọng tâm vào khả năng trực giác nhóm xua tan ảo tưởng thế giới. Chân sư DK phân biệt việc xua tan ảo tưởng, làm tiêu tan ảo cảm và phân tán ảo lực trên bình diện dĩ thái–hồng trần. Tuy nhiên, các thuật ngữ này cũng có thể mang nghĩa bao quát: Vedanta dùng ảo lực cho toàn bộ sự che phủ, còn ảo tưởng hoặc ảo cảm đôi khi cũng chỉ chung nhiều dạng sai lệch nhận thức.
Lý tưởng và sức sống để hiện thực hóa
Nhiều ảo tưởng thế giới ẩn dưới hình thức lý tưởng, khiến con người bám chặt vào chúng như những giá trị không thể nghi ngờ. Dù giới trí thức có quyết tâm cải thiện điều kiện sống cho toàn nhân loại, câu hỏi quyết định vẫn là liệu những kế hoạch ấy có đủ sức sống năng động để biểu hiện thành hành động cụ thể và đáp ứng nhu cầu thực tế hay không. Khát vọng tốt đẹp chưa đủ nếu Thiên Cơ không thể neo đậu xuống cõi hồng trần.
Sao Hải Vương và sự neo đậu lý tưởng
Trong cách diễn giải chiêm tinh, ảnh hưởng thấp của Sao Hải Vương có thể nuôi dưỡng tư duy mong ước, hy vọng thiếu thực tế và khuynh hướng thần bí tránh tiếp xúc với đời sống vật chất. Sao Hải Vương có những liên hệ cao cả với cõi Bồ đề và cõi cảm dục vũ trụ, nhưng Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Vulcan cần góp phần đưa lý tưởng vào biểu hiện đậm đặc. Sao Hải Vương cai quản điểm cao của trung tâm tùng thái dương, còn Sao Hỏa cai quản điểm thấp; Sao Hỏa có thể tạo biểu hiện mạnh bên ngoài nhưng thường mang tính chia rẽ. Khả năng hiện thực hóa cần đi cùng phẩm chất đúng đắn của điều được hiện thực hóa.
Những mặc khải của Đức Phật và Đức Christ
Năm chân lý căn bản được nêu là: dục vọng và tính ích kỷ cá nhân gây đau khổ; có con đường giải thoát dẫn đến soi sáng; chiếm được cả thế gian mà mất linh hồn thì vô ích; mỗi người là một Con của Thượng đế; và con đường giải thoát là con đường bác ái cùng hi sinh. Hai chân lý đầu gắn với Đức Phật, ba chân lý sau gắn với Đức Christ, trong khi cả hai Đấng đều biểu hiện minh triết và tình thương. Dục vọng gây ràng buộc ở cấp độ cá nhân cần được phân biệt với dục vọng như một nguyên khí vũ trụ có vai trò duy trì sự kết hợp của vũ trụ.
Soi sáng và những cấp độ biểu hiện thiêng liêng
Một suy tưởng được đề xuất là Đức Phật phủ bóng Gautama đã đạt tới sự tiếp xúc với cõi trí vũ trụ, trong khi Đức Christ có mối liên hệ đặc biệt với cõi cảm dục vũ trụ. Đối với con người, sự soi sáng tăng dần đến Biến hình ở lần điểm đạo thứ ba và tiếp tục mở rộng sau đó. Đức Sanat Kumara được trình bày như sự phát xạ của Hành Tinh Thượng Đế, sẽ trở về sự viên mãn của Ngài khi được tái hấp thu. Ở lần điểm đạo thứ bảy, Hành Tinh Thượng Đế chủ trì, còn khả năng Đức Sanat Kumara không trực tiếp đảm nhiệm vai trò ấy được nêu với sự dè dặt.
Từ bỏ và trao tặng toàn bộ thành quả
Những chân lý giản dị của các Đấng mặc khải rất khó thực hiện trọn vẹn; chúng là thước đo thực tế cho mức độ thoát khỏi ảo cảm và ảo tưởng. Điểm đạo đồ bậc hai vẫn còn ảo cảm, còn điểm đạo đồ bậc ba vẫn có thể chịu ảo tưởng rằng Hoa Sen Chân Ngã hay thể nguyên nhân là thành tựu tối hậu. Lời Đức Christ yêu cầu người thanh niên giàu có bán hết tài sản, cho người nghèo rồi đi theo Ngài được diễn giải như yêu cầu trao cả tri thức, minh triết và tình thương cho những người còn thiếu các phẩm tính ấy. Nguyên tắc trong Thư Về Tham thiền Huyền môn, rằng người trao tất cả sẽ nhận tất cả, gắn sự từ bỏ với khả năng trở thành Chân sư và tiến xa hơn.
Làm vơi chiếc chén tri thức
Câu chuyện cá nhân về nhà chiêm tinh Charles Jayne minh họa trách nhiệm truyền lại những gì đã tích lũy qua học tập, tham thiền và phụng sự. Trong các buổi học hằng Chủ nhật với Thầy MDR, Charles Jayne từng cảm nhận mình đang “làm vơi chiếc chén”; ông qua đời ngày 31 tháng 12 năm 1985, đúng cuối năm ấy. Những lý thuyết ông truyền lại tiếp tục được các nhà chiêm tinh khác phát triển, trong đó có Nicholas Niklein. Việc chia sẻ cần diễn ra đều đặn, để tri thức không mất đi vì trì hoãn cho đến lúc người nắm giữ qua đời.
Sống đúng giáo lý và tiến trình phát triển nhân loại
Cuộc đời của các Đấng mặc khải biểu hiện chính giáo lý Các Ngài truyền dạy; những lời giảng khác triển khai các chủ đề trung tâm ấy. Trong bốn yêu cầu được nhắc từ Luận về Chánh Thuật, “nêu gương” đứng thứ tư và được nhận định có thể là yêu cầu quan trọng, khó thực hiện nhất. Phần bình luận cũng nhắc các mốc biệt ngã hóa khoảng 21 triệu năm và 18,5 triệu năm trước, cùng mô tả huyền môn về thân thể Lemuria khổng lồ, có thể cao khoảng 60 bộ. Các tượng Phật Bamiyan được liên hệ với tầm vóc ấy, nhằm đối chiếu trạng thái ban sơ với nền văn minh kỹ thuật hiện đại phát triển theo bảy đường hướng ashram.
Mặc khải Đường Đạo và tính giản dị
Dòng mặc khải xuyên suốt các thời đại chỉ ra con đường rời sự lệ thuộc hình tướng để tiến đến Trung tâm của mọi sự sống, được diễn giải là Chân Thần và Bản Thể thuần túy. Một số ít đệ tử, điểm đạo đồ và nhà bí truyền học đã bảo tồn sự trong sáng của giáo lý, tìm người đáp ứng với hạt giống chân lý và huấn luyện người kế tục. Tính giản dị có liên hệ đặc biệt với Shamballa; trang 518 của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tập II, được dẫn để nhấn mạnh rằng tính giản dị cai quản con đường đi vào trung tâm ấy. Sự thấu hiểu vô cùng chi tiết vẫn có thể thống nhất với tính giản dị tổng hợp, như giáo huấn của Chân sư DK minh họa.
Trí trừu tượng và bước chuẩn bị cho trực giác
Giống dân gốc thứ sáu được trình bày là giống dân của trực giác, còn nhân loại hiện tại được đặt trong giống dân phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm. Nhiệm vụ hiện thời là đưa trí trừu tượng, phần thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, vào biểu hiện rõ ràng và thực tế; trí trừu tượng chưa phải trực giác. Trong khoảng 2.000 năm tới, việc phát triển nhận thức trực giác có vai trò quan trọng trong xua tan ảo tưởng, đồng thời trí trừu tượng đã có thể đóng góp đáng kể cho công việc này.
Truyền đạt mặc khải qua thể trí được huấn luyện
Một nhiệm vụ lớn của Thánh đoàn là tìm những người nhạy cảm với mặc khải và có thể diễn đạt chân lý mới sao cho đến được với các nhà tư tưởng thế giới mà ít biến dạng nhất. Mọi mặc khải đều mất phần nào sự trong sáng thiêng liêng khi đi vào ngôn từ; Chân sư DK đặc biệt nêu giới hạn thiếu linh hoạt của tiếng Anh. Việc xây dựng antahkarana và phát triển trí trừu tượng giúp tiếp nhận những tia trực giác về toàn cảnh rồi trình bày chúng đủ chính xác và thuyết phục. Động cơ của công việc này hướng đến phúc lợi nhóm và toàn thể, vượt khỏi sự chú trọng cá nhân.
Giới trí thức và trách nhiệm bắc cầu
Giới trí thức chịu ảnh hưởng đáng kể của cung ba và cung năm, có năng lực tư duy mạnh nhưng vẫn có thể giới hạn thực tại trong phạm vi khiến họ xem huyền bí học là tưởng tượng thiếu thực tế. Người chí nguyện và đệ tử cần kết hợp trí thông minh đủ sức đối thoại với họ cùng khả năng giữ vững chứng nghiệm trực giác. Khi nhận thấy giá trị của các chân lý ấy, giới trí thức có thể giúp đưa chúng vào tư duy của nhân loại vốn phần lớn còn vận hành theo trí-cảm.
Giáo điều che phủ chân lý tôn giáo
Những mặc khải tôn giáo ban đầu có hình thức rất giản dị, nhưng nhiều lớp diễn giải đã tích tụ thành các hệ thống thần học khiến chân lý gốc khó nhận ra. Chân sư DK phê bình cả Kitô giáo lẫn Phật giáo, đồng thời cảnh báo khuynh hướng Phật giáo ngày càng giáo điều. Sự giản lược kiểu chỉ cần tin bằng cảm xúc để được cứu rỗi vĩnh viễn cũng che khuất những câu hỏi căn bản về cứu rỗi, thời gian và cấp độ hiện tồn. Công việc giáo dục cần giúp con người tự suy nghĩ để ra khỏi nhà tù của các xác tín đem lại cảm giác an toàn.
Phân biện, khoa học và sự đồng hóa sai lầm
Khả năng thông minh cụ thể trong Phòng Vô Minh chưa đồng nghĩa với việc đã bước vào Phòng Hiểu Biết, nơi con người học nhận ra các cặp đối cực và lựa chọn phương diện cao hơn. Khoa học có thể góp phần phá vỡ những giáo điều lâu nay được coi là chân lý tuyệt đối. Tuy nhiên, sự bám chấp vào cái tôi và đồng hóa với điều mình không thực sự là vẫn khó từ bỏ, do cấu trúc hiện tại của thể trí con người. Việc thanh lọc vì thế cũng cần khảo sát những lĩnh vực bản thân tưởng đã mạnh và sáng rõ.
Đời sống tinh thần giản dị
Các thánh đường đồ sộ và nghi lễ phô trương cách xa đời sống khiêm nhường của Đức Christ, Chân sư của các Chân sư và Huấn sư của thiên thần cùng nhân loại. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, đại dịch, bất ổn kinh tế và tác động của Sao Diêm Vương cùng Vulcan có thể thúc đẩy con người trở về một đời sống ít lệ thuộc vật chất hơn. Hình ảnh Đức Jesus sinh trong máng cỏ và căn phòng chỉ có giường cùng một chiếc tủ nhỏ của Ramakrishna minh họa khả năng giàu có về tinh thần với rất ít sở hữu. Nhận xét của Ralph Waldo Emerson rằng đồ vật đang cưỡi lên nhân loại diễn tả sự đảo ngược giữa con người và phương tiện vật chất.
Vulcan và Sao Diêm Vương trước lần điểm đạo thứ nhất
Giáo lý được trích nêu rằng ứng viên lần điểm đạo thứ nhất phải đối diện các mãnh lực kết tinh và hủy diệt của Vulcan cùng Sao Diêm Vương. Vulcan đưa ý chí tinh thần xuống tận chiều sâu phàm ngã, tạo áp lực phá vỡ những lập trường trí tuệ và phản ứng cảm xúc đã kết tinh; hình ảnh Vulcan đánh bóng chiếc khiên của Sao Hỏa biểu thị sự thanh luyện phàm ngã để tỏa sáng. Sao Diêm Vương kéo lên bề mặt rồi hủy bỏ những chướng ngại ẩn sâu trong các vùng thấp của bản chất con người. Cả hai được liên hệ với cung một, nhưng cung chân thần của chúng không vì thế nhất thiết là cung một.
Phơi bày, nghi ngờ và ảo cảm tập thể
Theo cách diễn giải thời sự của Thầy MDR, COVID-19, bạo lực và các hành vi lạm dụng bị phơi bày cho thấy hoạt động của Sao Diêm Vương: chữa lành thông qua đưa điều ẩn giấu ra ánh sáng. Tuy nhiên, năng lượng ấy cũng có thể bị tiếp nhận lệch lạc thành nghi ngờ và thuyết âm mưu; nghi ngờ, tự thương hại và chỉ trích được nêu là ba nguyên nhân gốc của ảo cảm. Chân sư DK còn lưu ý rằng phản ứng quá mạnh trước lỗi người khác có thể chỉ ra hạt giống tương ứng trong chính bản chất người lên án. Sự phơi bày vì thế đòi hỏi tự quan sát cùng khả năng phân biện.
Điểm đạo của nhân loại và sự trở lại của Đức Christ
Hoạt động chuẩn bị của Vulcan và Sao Diêm Vương được liên hệ với khả năng một bộ phận đủ lớn của nhân loại trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Không phải mọi người đều đồng thời đạt cấp độ ấy, nhưng thành tựu của số người thích hợp có thể nâng toàn thể nhân loại và cho phép nói đến lần điểm đạo thứ nhất của nhân loại. Sự trở lại của Đức Christ được đặt trong mối liên hệ với bước chuẩn bị và nâng cao tập thể này.
Lòng tham doanh nghiệp và giá trị giả tạo
Câu hỏi về thực phẩm biến đổi gen, chất tổng hợp và quyền lực doanh nghiệp đặt ra vấn đề phân biệt thực tại với ảo tưởng trong một môi trường chịu động cơ lợi nhuận chi phối. Phần trả lời tập trung vào chủ nghĩa duy vật, sự nhầm lẫn rằng chứng cứ giác quan là toàn bộ thực tại và việc hi sinh những giá trị thực để theo đuổi tiền bạc như một biểu tượng năng lượng. Một liên hệ biểu tượng với sự lệch hàng của Alioth trong Big Dipper được đề xuất, nhưng việc xác định các sao liên quan còn do dự. Lời cảnh báo của Chân sư DK về các nhóm ích kỷ nhấn mạnh rằng lòng ích kỷ có tổ chức có thể gây tác hại lớn hơn lòng ích kỷ cá nhân.
Khả năng tái định hướng đời sống doanh nghiệp
Chân sư Morya được dẫn với viễn cảnh con người và các nhóm sẽ cạnh tranh để làm điều thiện; khả năng các doanh nghiệp cũng tái định hướng theo hướng ấy là suy luận được bổ sung. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, ý chí đáp ứng nhu cầu của người dân, tác động của Sao Diêm Vương qua dấu hiệu Ma Kết và dấu hiệu Bảo Bình, cùng sức ép tinh thần từ sự hiển lộ của Thánh đoàn có thể làm suy yếu lòng ích kỷ doanh nghiệp. Sự thay đổi có thể mang tính cách mạng, hướng đến chuyển đổi động cơ và cơ cấu kinh tế; việc lật đổ chính quyền dân chủ hợp pháp bị bác bỏ. Viễn cảnh này được trình bày như một niềm tin và kỳ vọng cần đi cùng nỗ lực bền bỉ, còn thời điểm hiển lộ của các Chân sư vẫn tùy thuộc phần nào vào đáp ứng của nhân loại.
Khủng hoảng dân chủ và giới hạn quyền bầu cử
Theo nhận định riêng của Thầy MDR, Đảng Cộng hòa đã nghiêng mạnh về chủ nghĩa Trump; tuy luồng tuyên truyền sai lệch giảm đáng kể sau nhiệm kỳ tổng thống, ảnh hưởng gây chia rẽ vẫn cho thấy hàng triệu người còn chịu tác động của ảo cảm và ảo tưởng. Cuộc đấu tranh bảo vệ dân chủ tiếp tục chuyển sang quyền bầu cử, với những hạn chế tại Iowa và vụ kiện Arizona được nêu làm ví dụ về nỗ lực giảm số phiếu của phía đối lập. Vấn đề đặt quyền của từng bang và chủ nghĩa cá nhân trước trách nhiệm liên bang phải xem xét lợi ích của toàn thể. Công việc giáo dục, hoạt động pháp lý và công việc huyền bí cần tiếp tục giữa những xáo động bên ngoài.
Sao Thổ và triển vọng trách nhiệm pháp lý
Sao Thổ đi vào dấu hiệu Bảo Bình, đối diện dấu hiệu chứa Điểm mọc của Donald Trump, được liên hệ với khả năng ông phải đối mặt với pháp luật. Đây là suy đoán chiêm tinh của Thầy MDR, bao gồm khả năng truy tố hoặc tù giam, chứ không phải sự kiện đã xác lập tại thời điểm bình giảng. Nhận định này đi cùng niềm tin rằng Hoa Kỳ sẽ chứng minh nguyên tắc không cá nhân nào, dù có sức thu hút lớn đến đâu, được đứng trên pháp luật.
Sao Diêm Vương và Sao Hải Vương
Ở biểu hiện thấp, sự kết hợp Sao Diêm Vương–Sao Hải Vương được liên hệ với những hình thức hủy diệt tập thể trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, gồm phòng hơi ngạt và các chương trình tận diệt. Nhận xét rằng nhiều người tham gia những hành vi ấy có hai hành tinh đồng vị là một liên hệ chiêm tinh được nêu trong phần bình giảng. Ở biểu hiện cao, Sao Diêm Vương có thể phá hủy ảo tưởng và lối suy nghĩ theo điều mình mong muốn gắn với Sao Hải Vương, qua đó dọn đường cho hành động thực sự hữu hiệu đối với Thiên Cơ. Bên cạnh liên hệ thường gặp giữa Sao Diêm Vương, Vulcan và sự trở lại của Đức Christ, cặp Sao Diêm Vương–Sao Hải Vương cũng được xem là hữu ích trong việc làm tiêu tan ảo cảm.
Sợi chỉ chân lý giữa ảo tưởng
Chân lý không chỉ được tìm thấy bằng cách rời bỏ thế giới bên ngoài; lời khuyên trong Luận về Chánh Thuật yêu cầu phân biệt điều sai với điều đúng trong thế giới tư tưởng và tìm sợi chỉ vàng chân lý ngay giữa ảo tưởng. Danh sách 15 lời khuyên, được nhớ là nằm khoảng trang 473, được đánh giá đáng học thuộc vì giá trị hướng dẫn thực hành. Theo lời Chân sư DK được dẫn lại, sống trọn vẹn theo những lời khuyên này sẽ đưa đến địa vị Chân sư.
Cung ba, sự tĩnh lặng và lòng tham doanh nghiệp
Đoạn dành cho cung ba tại trang 360, Tâm Lý Học Nội Môn, tập II, kêu gọi hình tướng đứng yên, im lặng, không sợ hãi và hướng lên một đường duy nhất, thay vì chạy theo vô số đường đã dệt qua nhiều thời đại. Đường hướng thượng ấy được diễn giải là antahkarana; những đường phân tán còn lại có thể trở thành mạng lưới giam giữ tâm thức trong hình tướng chóng tàn. Lời khuyên này được áp dụng vào lòng tham doanh nghiệp và sự nhầm lẫn về giá trị, vốn không nhất thiết phải tồn tại mãi. Khi linh hồn mạnh lên và Thánh đoàn trở lại, những khuynh hướng ấy được kỳ vọng sẽ ngày càng khó duy trì.
Những nhóm thiện chí và vai trò tiền phong
Các nhóm tham thiền, hình dung hòa bình và phụng sự đang âm thầm phát triển trên toàn thế giới, dù ít xuất hiện trên tin tức hằng ngày. Một video do Sheldon và Helena Hughes giới thiệu liệt kê hàng nghìn nhóm xây dựng, được xem như dấu hiệu những mầm sống mới đang xuất hiện giữa sự suy tàn của các hình thức cũ. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian quy tụ những người nam và nữ thiện chí có mức độ phụng sự thích hợp, nhưng vai trò tiền phong ấy không bảo đảm một con đường dễ dàng. Hình ảnh “nhóm của John the Baptist” nhắc đến sự chống đối và hy sinh mà những người chuẩn bị cho thời kỳ mới có thể phải đối diện.
Bảo vệ quyền bầu cử bằng phương tiện huyền bí
Đề xuất tham thiền bảo vệ quyền bầu cử được tán thành, cùng khả năng khôi phục tiến trình VIGIL để hỗ trợ việc hóa giải các biện pháp hạn chế. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, những biện pháp này nhằm duy trì quyền lực và đặc biệt ngăn cản người da đen, da nâu cùng các nhóm khác tham gia bầu cử. Cách đánh giá con người qua màu da và hình tướng bên ngoài được xem là biểu hiện của chủ nghĩa duy vật và tầm nhìn hời hợt. Thể dĩ thái, thể nguyên nhân và ánh sáng bên trong mới cung cấp nền tảng sâu hơn để nhận biết con người.
Tự phản tỉnh trước sự phân cực
Ý kiến của Michael Crow lưu ý rằng cả hai phía đều có thể bị cực đoan hóa, trong khi đổ lỗi và công kích chỉ làm tăng chia rẽ cùng xung đột phàm ngã. Sự thiếu tiếp xúc linh hồn, khuynh hướng chia để trị và cách nhìn mọi việc như tận thế được đề xuất là những nguyên nhân sâu hơn cần khảo sát. Phản hồi thừa nhận nhu cầu thấu hiểu bằng tình thương, tự phản tỉnh và thể hiện sự thay đổi trong từng tương tác. Đồng thời, giải pháp không chỉ nằm ở nguồn lực hiện có của nhân loại mà còn bao gồm việc khẩn cầu sự trợ giúp của Thánh đoàn.
Phụng sự, khẩn cầu và niềm tin vào chuyển biến
Thánh đoàn, Đức Christ và các Đấng Chohan đứng đầu bảy ashram được đặt trong viễn cảnh giải phóng những quyền năng có khả năng làm tiêu tan các chướng ngại hiện thời. Công việc đòi hỏi cả hành động tập trung, hy sinh của Người Phụng Sự Thế Gian lẫn việc khẩn cầu các Đấng Giải Thoát và chư Phật Hoạt Động qua mạng lưới tam giác. Linh hồn đang nhập thể có thể tiếp cận những nguồn lực tinh thần huyền bí ấy, đồng thời phải duy trì kỳ vọng tích cực theo lời khuyên của Chân sư DK. Những lạm dụng và trở ngại trước mắt được nhìn nhận là tạm thời, dù vẫn đòi hỏi hành động cụ thể để hóa giải.
Hợp tác quốc tế và vai trò của Hoa Kỳ
Lời Chân sư DK được dẫn lại mở ra triển vọng Nga và Hoa Kỳ hợp tác về luật bảo vệ trẻ em, cùng vai trò của ba quốc gia tổng hợp lớn là Hoa Kỳ, Anh và Nga đối với phúc lợi nhân loại. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, hai khuynh hướng chính trị hiện thời không gần linh hồn như nhau: một phía được liên hệ với màu chàm của linh hồn nhân loại, phía kia với màu đỏ Sao Hỏa và Kẻ Chận Ngõ. Cuộc đấu tranh dân chủ tại Hoa Kỳ được đặt trong vấn đề toàn cầu, vì biến chuyển quan trọng ở một nơi có thể lan rộng khắp nhân loại. Châm ngôn “Tôi soi sáng con đường” được hiểu như trách nhiệm phụng sự của Hoa Kỳ, thay vì lời khẳng định chủ nghĩa dân tộc.
Ba loại lửa và sự khác biệt trong thời gian
Lửa ma sát, Lửa Thái dương và Lửa Điện đều cần thiết, nhưng không vì vậy mà có vai trò ngang nhau trong hoàn cảnh hiện tại. Lửa ma sát là lửa của hình tướng, đang chi phối hàng triệu người và chống lại Lửa Thái dương của Thiên Thần của Hiện Diện. Nhiệm vụ hiện thời là tăng cường Lửa Thái dương và giảm một cách minh triết sức mạnh nguy hiểm của Lửa ma sát. Lửa Điện được đặt trong triển vọng giữ vai trò nổi trội ở hệ mặt trời kế tiếp.
Atatürk và sự phân biện giữa giá trị lớn nhỏ
Theo đánh giá của Chân sư DK được dẫn lại từ Vận Mệnh Các Quốc Gia, những vấn đề cá nhân của Atatürk liên quan đến rượu và phụ nữ tương đối nhỏ so với việc sử dụng năng lượng Shamballa một cách vô tư, vô ngã và bao quát quốc gia. Franklin Roosevelt và Churchill được đưa ra làm những ví dụ tương tự về sự đồng tồn tại giữa hạn chế cá nhân và đóng góp lớn trong lãnh đạo. Một khuynh hướng của địa vị đệ tử sơ kỳ là đánh giá toàn bộ giá trị phụng sự qua những lỗi hành vi mà chính mình đang cố khắc phục. Sự phân biện trưởng thành vẫn coi trọng hành vi cá nhân, đồng thời cân nhắc tác động rộng lớn đối với phúc lợi nhân loại.
Giới hạn nhận định về thảm sát người Armenia
Câu hỏi về Atatürk và thảm sát người Armenia làm xuất hiện một giới hạn rõ ràng: Thầy MDR xác nhận chưa đủ hiểu biết lịch sử để kết luận mức độ can dự của Atatürk. Lời kể của Torkom được nhắc lại rằng khoảng 93 người thân của ông bị giết, còn ông và cha mẹ sống sót; việc cha ông được tha vì chuyên môn dược học cũng được trình bày theo lời kể này. Xung đột Hồi giáo–Kitô giáo, những cải cách chống một số hình thức tôn giáo bên ngoài của Atatürk và tình hình Thổ Nhĩ Kỳ đương thời được nêu như các yếu tố cần khảo sát thêm. Đánh giá tích cực của Chân sư Tây Tạng về công việc của Atatürk không giải quyết thay cho việc điều tra trách nhiệm lịch sử cụ thể.
Ảo cảm phản ứng cảm xúc mù quáng
Đối tượng của bài tham thiền là phản ứng cảm xúc mù quáng, bạo liệt trước lối suy nghĩ trí-cảm mang tính âm mưu và hoang tưởng. Những ảo tưởng đi xuống cõi cảm dục tiếp sức cho tính ích kỷ, sợ hãi, tham lam và phản ứng thiếu suy xét, kể cả ở những người dường như có khả năng kiểm soát trí tuệ. Nguy cơ được mô tả là một cuộc nội chiến toàn cầu giữa các khuynh hướng ủng hộ Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện. Công việc nhóm hướng đến làm suy yếu ảo cảm này bằng ánh sáng hợp nhất và Ý Chí tinh thần.
Bảo vệ nhóm và hợp nhất ba ánh sáng
Bài thiền mở đầu bằng việc hợp nhất tâm thức nhóm và thiết lập công thức bảo vệ, trong bối cảnh Hắc đoàn được mô tả là tập trung năng lượng chống lại việc gia tăng ánh sáng. Ánh sáng được hình dung qua trán, tim, mắt trái và mắt phải để tạo Thập Giá Thiên Tính trước mỗi người và toàn nhóm. Trên cõi trí, ánh sáng sinh lực của vật chất hợp nhất với ánh sáng hạ trí, rồi tiếp nhận ánh sáng linh hồn thành ba ánh sáng như một. Sự hợp nhất này tạo nền tảng cho chùm sáng phóng chiếu vào cõi cảm dục, với thể trí giữ vững trong ánh sáng.
Phóng chiếu chùm sáng và ba Quyền năng từ
Chùm sáng nối thế giới bên trong của ý nghĩa với thế giới vi tế của ảo cảm, mang ánh sáng và sự thấu hiểu đến nơi cần thiết. Ý Chí tinh thần tăng cường chùm sáng qua sự hình dung dòng quyền năng đi từ Chân Thần, Tam Nguyên Tinh Thần, viên ngọc và cánh hoa hi sinh xuống phàm ngã. Ba Quyền năng từ lần lượt nhằm ngăn ảo cảm xuất hiện, vô hiệu hóa phẩm tính của nó đối với nhân loại và phá hủy sự sống duy trì nó. Nhóm giữ năm phút im lặng với mục đích mãnh liệt, hình dung ánh sáng xuyên thấu và làm suy yếu đám ảo cảm đang chi phối nhiều người.
Thu hồi ánh sáng và duy trì công việc
Sau giai đoạn im lặng, chùm sáng được thu về điểm tam phân trên cõi trí, ba ánh sáng được phân bố lại và luồng ánh sáng linh hồn ngừng phóng chiếu. Bài thiền kết thúc bằng chỉ dẫn xướng linh từ OM ba lần, đánh dấu hoàn tất công việc tác động chủ yếu lên cõi cảm dục, đồng thời lên trí cụ thể và bản chất dĩ thái–hồng trần. Hiệu quả được kỳ vọng tích lũy từng chút qua sự kiên trì, không gián đoạn. Mối quan tâm tiếp theo là vận dụng công việc ấy để hỗ trợ những người có trách nhiệm bảo vệ quyền bầu cử bằng hành động bên ngoài.
Tư tưởng hạt giống trong chu kỳ trăng non
Tham thiền trăng non được liên hệ với việc gieo một tư tưởng hạt giống cho chu kỳ khoảng một tháng, từ trăng non này đến trăng non kế tiếp. Việc ghi lại tư tưởng đã gieo giúp theo dõi mức độ thành tựu và quyết định tiếp tục cùng hạt giống hay chọn một hạt giống khác. Trọng tâm là duy trì liên hệ giữa ý định bên trong, sự nuôi dưỡng qua chu kỳ và thay đổi có thể hình thành trong đời sống.
Text GAW 176 – Văn bản GAW 176
[1] b. Group Intuition dispels World Illusion
[1] b. Trực Giác Nhóm xua tan Ảo Tưởng Thế Giới
[2] Today the world is full of illusions, many of them veiled under the form of idealisms; [3] it is full of wishful thinking [4] and planning, and even though much of this is rightly oriented and expresses the fixed determination of the intelligentsia to create better living conditions for the entire population of the world, the question arises: Is there in the sum total of this wishful thinking enough of the essential dynamic livingness which will carry it down into physical demonstration and factual expression and thus truly meet human need? [5] I would point out that the two greatest revealing Agents Who have ever come to Earth within the range of modern history made the following simple revelations to humanity:
[2] Ngày nay, thế giới đầy rẫy ảo tưởng, nhiều ảo tưởng trong số đó ẩn dưới hình thức các chủ nghĩa lý tưởng; [3] thế giới đầy những suy nghĩ theo ước muốn [4] và những kế hoạch, và mặc dù phần lớn những điều này có định hướng đúng đắn và biểu lộ quyết tâm kiên định của giới trí thức nhằm tạo ra điều kiện sống tốt đẹp hơn cho toàn thể dân chúng trên thế giới, một câu hỏi vẫn đặt ra: Trong toàn bộ những suy nghĩ theo ước muốn ấy, liệu có đủ sức sống năng động cốt yếu để đưa chúng xuống biểu hiện trên cõi hồng trần và thể hiện trong thực tế, qua đó thực sự đáp ứng nhu cầu của con người hay không? [5] Tôi muốn chỉ ra rằng hai Đấng Mặc Khải vĩ đại nhất từng đến Trái Đất trong phạm vi lịch sử hiện đại đã ban cho nhân loại những mặc khải giản dị sau đây:
[6] 1. The cause of all human suffering is desire [7] and personal selfishness. Give up desire and you will be free.
[6] 1. Nguyên nhân của mọi đau khổ của con người là dục vọng [7] và lòng ích kỷ cá nhân. Hãy từ bỏ dục vọng và các bạn sẽ được tự do.
[8] 2. There is a way of liberation and it leads to illumination.
[8] 2. Có một con đường giải thoát và con đường ấy dẫn đến sự soi sáng.
[9] 3. It profits a man nothing to gain the whole world and lose his soul.
[9] 3. Một người được cả thế gian mà đánh mất linh hồn mình thì cũng chẳng có ích gì.
[10] 4. Every human being is a Son of God.
[10] 4. Mỗi con người đều là một Con của Thượng đế.
[11] 5. There is a way of liberation and it is the way of love and sacrifice.
[11] 5. Có một con đường giải thoát và đó là con đường của tình thương và sự hi sinh.
[12] The lives of these Revealers were symbolic representations of that which They taught, and the rest of Their teaching but an extension of Their central themes. [13] Their contribution was an integral part of the general revelation of the ages which has led men from the primitive state of human existence to the complex state of modern civilization. [14] This general revelation can be called the Revelation of the Path which leads out of form to the Center of all life; the purity of this revelation has been preserved down the ages by a small handful of disciples, initiates and true esotericists [15] who have always been present upon the Earth—defending the simplicity [16] of that teaching, seeking for those who could respond to and recognize the germ or seed of truth, and training men to take Their place and to tread the way of intuitive perception. [17] One of the major tasks of the Hierarchy is to seek for and find those who are sensitive to revelation and whose minds are trained so that they can formulate the emerging truths in such a way that they reach the ears of the world thinkers, relatively unchanged. [18] All revelation, however, when put into words and word forms, loses something of its divine clarity.
[12] Cuộc đời của các Đấng Mặc Khải này là những biểu hiện mang tính biểu tượng của những điều Các Ngài giảng dạy, và phần còn lại trong giáo huấn của Các Ngài chỉ là sự mở rộng những chủ đề cốt lõi ấy. [13] Đóng góp của Các Ngài là một phần không thể tách rời của sự mặc khải chung qua các thời đại, vốn đã dẫn dắt con người từ trạng thái tồn tại nguyên thủy đến trạng thái phức tạp của nền văn minh hiện đại. [14] Sự mặc khải chung này có thể gọi là Sự Mặc Khải về Đường Đạo dẫn ra khỏi hình tướng đến Trung Tâm của mọi sự sống; qua các thời đại, một số ít đệ tử, điểm đạo đồ và các nhà bí truyền học chân chính đã gìn giữ sự thuần khiết của mặc khải này; [15] họ luôn hiện diện trên Trái Đất—bảo vệ tính giản dị [16] của giáo huấn ấy, tìm kiếm những người có thể đáp ứng và nhận ra mầm hay hạt giống chân lý, đồng thời huấn luyện con người đảm nhận vị trí của Các Ngài và bước đi trên con đường nhận thức bằng trực giác. [17] Một trong những nhiệm vụ chính của Thánh đoàn là tìm kiếm và tìm ra những người nhạy cảm với sự mặc khải, có thể trí đã được rèn luyện để có thể diễn đạt những chân lý đang xuất hiện sao cho chúng đến được với các nhà tư tưởng trên thế giới mà tương đối ít bị biến đổi. [18] Tuy nhiên, mọi mặc khải khi được diễn đạt bằng lời nói và các hình thức ngôn từ đều mất đi phần nào sự sáng rõ thiêng liêng.
[19] Much of the revelation of the past has come along the lines of the religious impulse and, as the illusion has deepened and grown in time, the original simplicity (as it was conveyed by its Revealers) has been lost. [20] All basic revelations are presented in the simplest forms. Accretion after accretion crept in; the minds of men made the teaching complex through their mental dissertations until the great theological systems were built up which we call, for instance, the Christian Church and the Buddhist system. [21] Their Founders would have much difficulty in recognizing the two or three fundamental and divine facts or truths which They sought to reveal and emphasize, so great is the mantle [22] of illusion which has been thrown over the simple pronouncements of the Christ and of the Buddha. [23] The vast cathedrals and the pompous ceremonies of the orthodox are far removed from the humble way of the life of the Christ, the Master of all the Masters and the Teacher alike of angels and of men, and from the simplicity of His present way of life as He watches and waits for the return of His people to the simple way of spiritual realization.
[19] Phần lớn những mặc khải trong quá khứ đã đến theo đường hướng của xung lực tôn giáo, và khi ảo tưởng ngày càng sâu đậm và gia tăng theo thời gian, tính giản dị ban đầu (như các Đấng Mặc Khải đã truyền đạt) đã mất đi. [20] Mọi mặc khải căn bản đều được trình bày dưới những hình thức giản dị nhất. Hết lớp bồi đắp này đến lớp bồi đắp khác dần len vào; thể trí con người đã làm giáo huấn trở nên phức tạp qua những luận giải trí tuệ, cho đến khi hình thành những hệ thống thần học đồ sộ mà chúng ta gọi, chẳng hạn, là Giáo hội Kitô giáo và hệ thống Phật giáo. [21] Các Đấng Sáng Lập những hệ thống ấy sẽ rất khó nhận ra hai hay ba sự thật hoặc chân lý căn bản và thiêng liêng mà Các Ngài đã tìm cách mặc khải và nhấn mạnh, vì lớp màn [22] ảo tưởng phủ lên những lời tuyên dạy giản dị của Đức Christ và Đức Phật đã trở nên quá dày đặc. [23] Những thánh đường đồ sộ và các nghi lễ phô trương của giới chính thống khác xa lối sống khiêm nhường của Đức Christ, Chân sư của tất cả các Chân sư và Huấn sư của cả thiên thần lẫn con người, cũng như khác xa sự giản dị trong lối sống hiện nay của Ngài khi Ngài dõi theo và chờ đợi những người theo Ngài trở về với con đường giản dị dẫn đến sự chứng nghiệm tinh thần.
Glamour Webinar 176 – Webinar về Ảo cảm 176
Hi, everybody, and welcome to our glamour work. We're really in the veil of illusion at the moment, that's what we're going to be considering.
Xin chào mọi người, chào mừng các bạn đến với công việc về ảo cảm của chúng ta. Lúc này, chúng ta thực sự đang ở trong bức màn ảo tưởng; đó là điều chúng ta sẽ xem xét.
We're in a new section: how group intuition dispels world illusion, and we are deeply with millions of people just in the first stage of that combination of glamour and illusion.
Chúng ta đang bước sang một phần mới: trực giác nhóm xua tan ảo tưởng thế giới như thế nào, và cùng với hàng triệu người, chúng ta đang chìm sâu ngay trong giai đoạn đầu của sự kết hợp giữa ảo cảm và ảo tưởng ấy.
I'm very happy to see you here—there's quite a few. I'm not going to go down the entire list, but I'm happy to have BL and Michael Crow assisting me, because I know what it's like to be all thumbs when I'm by myself, and maybe things will go smoother than when I'm on my own. It's a question of the quality of thought, and the fact that there are so many people who just don't think and they react emotionally. That of course veils the possibility of really aligning with the Plan because it all ends up being so personal.
Tôi rất vui khi thấy các bạn ở đây—có khá đông người. Tôi sẽ không đọc hết danh sách, nhưng tôi rất vui vì có BL và Michael Crow hỗ trợ, bởi tôi biết mình vụng về thế nào khi chỉ có một mình, và có lẽ mọi việc sẽ suôn sẻ hơn khi tôi tự làm. Vấn đề nằm ở phẩm tính của tư tưởng, và ở chỗ có quá nhiều người chỉ không suy nghĩ mà phản ứng theo cảm xúc. Dĩ nhiên, điều đó che khuất khả năng thực sự chỉnh hợp với Thiên Cơ, vì cuối cùng mọi chuyện đều trở nên quá cá nhân.
When you're just so personally focused and have your eyes upon the lower self, we're so subject in the world to the inability to think. We're victims of kama-manasic thinking, especially millions of people. When you have kama-manasic thinking, you do have glamour and illusion, both together—the worst of both worlds. We'll be meditating in terms of glamour on our usual violent emotional reactions, which are fairly thoughtless and which are veiling so much of what the truth of the Plan really is.
Khi cứ quá tập trung vào cá nhân và chăm chú vào phàm ngã, chúng ta rất dễ rơi vào tình trạng không có khả năng suy nghĩ trong thế giới này. Chúng ta là nạn nhân của lối suy nghĩ trí-cảm, đặc biệt là hàng triệu người. Khi có lối suy nghĩ trí-cảm, các bạn có cả ảo cảm lẫn ảo tưởng cùng lúc—những mặt tệ hại nhất của cả hai. Về phương diện ảo cảm, chúng ta sẽ tham thiền về những phản ứng cảm xúc dữ dội thường lệ của mình, vốn khá thiếu suy nghĩ và đang che khuất rất nhiều chân lý thực sự của Thiên Cơ.
Before getting into it more fully, I just want to say what we're going to have coming up tomorrow: the New Moon Meditation, which is going to begin at 9:30 a.m. GMT. I assume that's going to be on Zoom.
Trước khi đi sâu hơn, tôi muốn nói qua về chương trình ngày mai: buổi Tham thiền Trăng Non, sẽ bắt đầu lúc 9 giờ 30 sáng GMT. Tôi cho rằng buổi ấy sẽ diễn ra trên Zoom.
The new moon itself is right around 10:20, so we will have a little time to go forward with it. Walter Pullen and I are working on a book. Basically it is coming right off the internet from the old days when Rick Good was managing the TARA test. It is going to be a book of about 165 or 170 pages, a book of process, a meditative book that is going to allow you to go through maybe a month-long process as you begin searching for your higher rays. That does not mean we have perfected the expression of our lower rays, by any means, but at least it will give us a fighting chance to think about what the higher rays may mean to us. Meanwhile, we also have another project going where you will be able, we hope, to go to a website and take the TARA test and see the bar graphs and all the rest, which may help you get a fuller idea of the synthesis of your ray structure.
Thời điểm trăng non chính xác vào khoảng 10 giờ 20, nên chúng ta sẽ có một ít thời gian để tiến hành. Walter Pullen và tôi đang cùng thực hiện một cuốn sách. Về cơ bản, sách lấy trực tiếp nội dung trên mạng từ thời Rick Good còn quản lý bài trắc nghiệm TARA. Đây sẽ là một cuốn sách khoảng 165 hoặc 170 trang, hướng dẫn một tiến trình, một cuốn sách tham thiền cho phép các bạn trải qua một tiến trình có lẽ kéo dài một tháng khi bắt đầu tìm kiếm các cung cao hơn của mình. Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta đã hoàn thiện sự biểu lộ các cung thấp hơn, nhưng ít nhất nó sẽ cho chúng ta một cơ hội thực sự để suy nghĩ xem các cung cao hơn có thể mang ý nghĩa gì đối với mình. Đồng thời, chúng tôi cũng đang triển khai một dự án khác, qua đó chúng tôi hy vọng các bạn sẽ có thể vào một trang web, làm bài trắc nghiệm TARA và xem các biểu đồ cột cùng mọi kết quả khác; những điều này có thể giúp các bạn hiểu đầy đủ hơn về sự tổng hợp trong cấu trúc cung của mình.
When it comes to our coming conference, our theme in the advancing seven ray seminar is all about the synthesis of the ray structure. Anything goes, and we will be looking at the different parts of your energy system. Do make every effort, please, to be with us for at least some of the work we are doing in the preconference. The new moon meeting link is there. Thank you very much, Michael Crow.
Về hội nghị sắp tới, chủ đề của chúng ta trong hội thảo bảy cung nâng cao hoàn toàn xoay quanh sự tổng hợp của cấu trúc cung. Mọi khả năng đều có thể được xem xét, và chúng ta sẽ khảo sát các phần khác nhau trong hệ thống năng lượng của các bạn. Xin hãy cố gắng hết sức để tham gia cùng chúng tôi ít nhất một phần công việc trong chương trình trước hội nghị. Đường liên kết buổi họp trăng non đã có ở đó. Cảm ơn Michael Crow rất nhiều.
Just to say again, David Hopper has been doing this work with Journey of the Soul, and I think this is his eighth and last presentation in that series. Ann and Tuija have sent out a corrected schedule, which gives you David tomorrow, Saturday, and we have moved the EUN, Esoteric United Nations meeting to Sunday. That will probably be at—gosh, I am not exactly sure. Is it 6 p.m.? 7:30 p.m.?
Xin nhắc lại, David Hopper đã thực hiện chương trình Hành Trình của Linh Hồn, và tôi nghĩ đây là bài trình bày thứ tám, cũng là bài cuối cùng của ông trong loạt này. Ann và Tuija đã gửi lịch điều chỉnh, theo đó ngày mai, thứ Bảy, sẽ có buổi của David, còn cuộc họp EUN, Liên Hiệp Quốc Nội Môn, đã chuyển sang Chủ nhật. Có lẽ buổi ấy sẽ vào lúc—tôi không nhớ chính xác. Có phải 6 giờ tối không? Hay 7 giờ 30 tối?
Participant: 7:30 p.m. on Sunday. GMT.
Người tham dự: 7 giờ 30 tối Chủ nhật, theo GMT.
MDR: Very good. I want you to have those things in mind, and I think Ann has sent out to everybody the revised schedule.
MDR: Tốt lắm. Tôi muốn các bạn ghi nhớ những việc ấy, và tôi nghĩ Ann đã gửi lịch điều chỉnh cho mọi người.
That's as far as we go right now. Then we get into illusion—getting up to our neck in the illusion here. Hopefully, our head stays out of it a little bit.
Hiện giờ chúng ta chỉ nói đến đó. Rồi chúng ta sẽ đi vào ảo tưởng—chìm đến tận cổ trong ảo tưởng ở đây. Hy vọng đầu chúng ta vẫn còn nhô lên được một chút.
Now I want to make sure that I have this correct. We're into our reading, friends, and there are 44 of us roughly here. I welcome you all in general. I'm very happy that you are plowing through with Tuija, me, and with the whole communications group behind the effort. You can understand that what we're aiming for in all of these programs might be considered the quality of synthetic understanding. I think it's something that Master DK has in tremendous emphasis in his approach.
Bây giờ tôi muốn bảo đảm rằng mình đã mở đúng phần. Các bạn thân mến, chúng ta bước vào phần đọc, và ở đây có khoảng 44 người. Tôi xin chào mừng tất cả các bạn. Tôi rất vui vì các bạn đang kiên trì cùng Tuija, tôi và cả nhóm truyền thông hỗ trợ nỗ lực này. Các bạn có thể hiểu rằng điều chúng ta hướng đến trong tất cả các chương trình này có thể được xem là phẩm tính của sự thấu hiểu tổng hợp. Tôi nghĩ đây là điều Chân sư DK nhấn mạnh hết sức sâu sắc trong cách tiếp cận của Ngài.
Today, I was looking up the number seven in Letters on Occult Meditation, because I became convinced that, quite apart from how I used to think of it, it has evolved. There are seven subsidiary ashrams in the great Chohanic ashram of any Chohan, like Master KH, not six subsidiary. I got this out of the Law of Analogy by considering the number seven in relation to color and in relation to the octave and sound. What it really means is the seven great Chohanic Ashrams, and each one of them has seven subsidiaries. The Chohanic ashram is tremendously inclusive of all seven qualities.
Hôm nay, tôi đã tra cứu con số bảy trong Thư Về Tham thiền Huyền môn, vì tôi đã tin chắc rằng cách hiểu về điều này đã phát triển, khác hẳn cách tôi từng nghĩ. Trong ashram Chohan lớn của bất kỳ vị Chohan nào, chẳng hạn Chân sư KH, có bảy ashram phụ thuộc, chứ không phải sáu. Tôi rút ra điều này từ định luật tương đồng khi xem xét con số bảy trong mối liên hệ với màu sắc, với quãng tám và âm thanh. Điều đó thực sự có nghĩa là có bảy Ashram Chohan lớn, và mỗi Ashram có bảy ashram phụ thuộc. Ashram Chohan bao gồm cả bảy phẩm tính với phạm vi vô cùng rộng lớn.
Let's look at Master KH. Here is the Indigo Chohanic ashram, but there is a subsidiary ashram whose colors are Indigo/indigo, indigo/red, indigo/indigo, indigo/green, indigo/yellow, indigo/orange, pink, rose, and indigo/violet. I've had to revise some of my thinking, and that will be showing up in the new PIP book or the new PIP workbook, however you want to look at it.
Hãy xem Chân sư KH. Đây là ashram Chohan màu Chàm, nhưng có một ashram phụ thuộc với các màu Chàm/chàm, chàm/đỏ, chàm/chàm, chàm/lục, chàm/vàng, chàm/cam, hồng, hồng hoa hồng và chàm/tím. Tôi đã phải điều chỉnh một số suy nghĩ của mình, và những điều đó sẽ xuất hiện trong cuốn sách PIP mới, hay sách thực hành PIP mới, tùy cách các bạn muốn nhìn nhận.
I just want to say, as long as it's on my mind: every one of us is, one day, a member of a Chohanic Major ashram. For most of us, it's the second ray, but it doesn't have to be. It might be another ray, but the great majority of us come in under Master DK and the second ray. As time goes on, we will want to know our specific work within a subsidiary ashram.
Nhân khi còn nhớ, tôi muốn nói rằng: một ngày nào đó, mỗi người chúng ta đều là thành viên của một ashram Chohan Chính. Với phần lớn chúng ta, đó là cung hai, nhưng không nhất thiết phải vậy. Có thể là một cung khác, nhưng đại đa số chúng ta gia nhập dưới sự hướng dẫn của Chân sư DK và cung hai. Theo thời gian, chúng ta sẽ muốn biết công việc cụ thể của mình trong một ashram phụ thuộc.
I used to think that Master DK ran the two sub three (2/3) ashram. Now, I'm not so sure anymore. I think it might be the two sub two subsidiary ashram with a lot of input from his third ray Monadic energy, a sub energy of his major second ray up on the Logoic plane. All of that is stuff that you can learn about as we think carefully together about these matters.
Tôi từng nghĩ Chân sư DK điều hành ashram cung hai, cung phụ ba (2/3). Giờ thì tôi không còn chắc như vậy nữa. Tôi nghĩ đó có thể là ashram phụ thuộc cung hai, cung phụ hai, với rất nhiều ảnh hưởng từ năng lượng chân thần cung ba của Ngài, một năng lượng phụ của cung hai chủ yếu của Ngài trên cõi Thượng đế. Tất cả những điều đó đều là những gì các bạn có thể học hỏi khi chúng ta cùng suy nghĩ cẩn thận về các vấn đề này.
You may say, "Why do I have to know all this?" I would just say: make sure you have a well-stocked mind in order. The Society of organized and illumined minds—that's what the Hierarchy is called. Let's emulate them, and let's learn everything we can, especially in these waning days, or shall I maybe call them intensifying days of the era of the forerunner lasting until the year 2025.
Các bạn có thể nói: “Tại sao tôi phải biết tất cả những điều này?” Tôi chỉ muốn nói: hãy bảo đảm rằng các bạn có một thể trí giàu kiến thức và có trật tự. Hội của những thể trí có tổ chức và được soi sáng—đó là tên gọi của Thánh đoàn. Chúng ta hãy noi gương Các Ngài và học mọi điều có thể, đặc biệt trong những ngày cuối này, hay có lẽ tôi nên gọi là những ngày ngày càng mãnh liệt của kỷ nguyên người đi trước, kéo dài đến năm 2025.
Sorry for the deviation here, but as long as these things were on my mind and freshly on my mind, I wanted to be able to communicate them to you while they were fresh, because otherwise important things can fade away.
Xin lỗi vì đã đi chệch đề ở đây, nhưng vì những điều này vẫn còn mới mẻ trong tâm trí, tôi muốn truyền đạt chúng đến các bạn ngay khi còn nhớ rõ, bởi nếu không, những điều quan trọng có thể phai nhạt đi.
Now let's get into the reading. We're working with illusion, which he considers to be a form of glamour, just the way the Hindus consider glamour to be a form of illusion. Vedanta considers it all to be maya, not just the maya of the etheric physical plane. Basically, words like illusion, glamour, and maya can be generalized words that cover all three specific meanings.
Bây giờ chúng ta hãy bước vào phần đọc. Chúng ta đang nghiên cứu ảo tưởng, điều Ngài xem là một dạng ảo cảm, cũng như người theo Ấn giáo xem ảo cảm là một dạng ảo tưởng. Vedanta xem tất cả đều là ảo lực, chứ không chỉ là ảo lực của cõi hồng trần dĩ thái. Về cơ bản, những từ như ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực có thể là những từ mang nghĩa khái quát, bao trùm cả ba ý nghĩa chuyên biệt.
What I'm going to ask you to do for the sake of our conversation a little later is take notes as you go, or at least make a note if you wish about something you might like to discuss. When it comes time to open the floor and you can speak, you will have a memory prompt of where you want to go. Whether you do it on a computer, or with a pen, or whatever, just make a note of things you might like to reference or discuss as we go.
Để phục vụ cuộc trao đổi lát nữa, tôi sẽ đề nghị các bạn ghi chép trong khi theo dõi, hoặc ít nhất, nếu muốn, hãy ghi lại điều gì đó mà mình muốn thảo luận. Khi đến lúc mở phần trao đổi và các bạn có thể phát biểu, các bạn sẽ có một ghi chú gợi nhớ về hướng mình muốn nói. Dù ghi trên máy tính, bằng bút hay bằng cách nào khác, hãy ghi lại những điều các bạn muốn nhắc đến hoặc thảo luận trong khi chúng ta tiếp tục.
[1] b. Group Intuition dispels World Illusion
[1] b. Trực Giác Nhóm xua tan Ảo Tưởng Thế Giới
We remember that the word dispel is particularly connected with illusion; dissipate, particularly connected with glamour; and disperse, particularly connected with maya, of the etheric, physical plane. DK gives us these mnemonics—all these words are D, all these words are I, all these words are S—so that we can remember what he's talking about, and they come in more easily. This was written 80 years ago or more.
Chúng ta nhớ rằng từ xua tan đặc biệt gắn với ảo tưởng; làm tiêu tan đặc biệt gắn với ảo cảm; và phân tán đặc biệt gắn với ảo lực của cõi dĩ thái, hồng trần. Chân sư DK cho chúng ta những cách gợi nhớ này—tất cả những từ ấy đều có chữ D, đều có chữ I, đều có chữ S—để chúng ta nhớ điều Ngài đang nói, và chúng dễ đi vào trí nhớ hơn. Những điều này đã được viết cách đây 80 năm hoặc hơn.
[2] Today the world is full of illusions, many of them veiled under the form of idealisms;
[2] Ngày nay, thế giới đầy rẫy ảo tưởng, nhiều ảo tưởng trong số đó ẩn dưới hình thức các chủ nghĩa lý tưởng;
People cling very tightly to them [these idealisms], because they are considered their ideals. That's the problem.
Người ta bám rất chặt vào chúng [những chủ nghĩa lý tưởng này], vì xem chúng là lý tưởng của mình. Đó là vấn đề.
[3] it is full of wishful thinking
[3] thế giới đầy những suy nghĩ theo ước muốn
Immediately look for the planet Neptune when you are thinking of the lower part of Neptune and involving it with that kind of unrealistic hopefulness, which does not take practicalities into consideration.
Hãy nghĩ ngay đến Sao Hải Vương khi các bạn nghĩ về phương diện thấp của hành tinh này và liên hệ nó với kiểu hy vọng thiếu thực tế ấy, vốn không xét đến những điều thực tiễn.
it is full of wishful thinking
thế giới đầy lối suy nghĩ theo điều mình mong muốn
Right there, doesn't that tell you? This is kama-manasic. Wishful thinking is an aspect of kama-manasic.
Ngay ở đó, chẳng phải điều ấy đã cho các bạn thấy rồi sao? Đây là trí-cảm. Lối suy nghĩ theo điều mình mong muốn là một phương diện của trí-cảm.
it is full of wishful thinking
thế giới đầy lối suy nghĩ theo điều mình mong muốn
[4] and planning, and even though much of this is rightly oriented and expresses the fixed determination of the intelligentsia to create better living conditions for the entire population of the world, the question arises: Is there in the sum total of this wishful thinking enough of the essential dynamic livingness which will carry it down into physical demonstration and factual expression and thus truly meet human need?
[4] và những kế hoạch, và mặc dù phần lớn những điều này có định hướng đúng đắn và biểu lộ quyết tâm kiên định của giới trí thức nhằm tạo ra điều kiện sống tốt đẹp hơn cho toàn thể dân chúng trên thế giới, một câu hỏi vẫn đặt ra: Trong toàn bộ những suy nghĩ theo ước muốn ấy, liệu có đủ sức sống năng động cốt yếu để đưa chúng xuống biểu hiện trên cõi hồng trần và thể hiện trong thực tế, qua đó thực sự đáp ứng nhu cầu của con người hay không?
I'm going to highlight this particular question, because we have to challenge ourselves with it. Is there really enough of this livingness to touch the lower planes, otherwise we become totally impractical idealists, living mystically within Neptune’s almost aversion to touching down. Neptune is almost like, in one way, the rootless planet, and it has characterized an awful lot of the mysticism of the last 1000 years and maybe earlier. He says there's a special group of mystics that are connected with Neptune, and they have been powerful, or at least emergent, during the last 1000 years or so.
Tôi sẽ tô nổi bật câu hỏi cụ thể này, vì chúng ta phải dùng nó để tự chất vấn mình. Liệu có thực sự đủ sức sống ấy để chạm đến các cõi thấp hơn không? Nếu không, chúng ta trở thành những người lý tưởng hoàn toàn thiếu thực tế, sống một cách thần bí trong khuynh hướng gần như không muốn chạm đất của Sao Hải Vương. Theo một nghĩa nào đó, Sao Hải Vương gần như là hành tinh không có rễ, và nó đã tạo nên đặc trưng cho rất nhiều khuynh hướng Thần bí học trong 1.000 năm qua, và có lẽ cả trước đó. Ngài nói có một nhóm nhà thần bí đặc biệt liên hệ với Sao Hải Vương, và họ đã có ảnh hưởng mạnh mẽ, hoặc ít nhất đã nổi lên, trong khoảng 1.000 năm qua.
The Plan must manifest, of course, on the lowest plane. The highest and the lowest meet: enough dynamic livingness which will carry it down into physical demonstration.
Dĩ nhiên, Thiên Cơ phải biểu hiện trên cõi thấp nhất. Cái cao nhất và cái thấp nhất gặp nhau: đủ sức sống năng động để đưa nó xuống thành sự thể hiện trên cõi hồng trần.
The physical plane has become a mess, but they have been satisfied in their aspiration and probably some of us have experience of being that way and have to correct it. I'm pretty sure I have to go back and correct some of those things in my own series of lives.
Cõi hồng trần đã trở thành một mớ hỗn độn, nhưng họ vẫn mãn nguyện trong khát vọng của mình; có lẽ một số người trong chúng ta đã từng trải qua trạng thái ấy và phải sửa lại. Tôi khá chắc rằng mình phải nhìn lại và sửa một số điều như thế trong chuỗi kiếp sống của chính mình.
Neptune is a great planet, leading us to the buddhic plane and to the mental plane and to the cosmic astral plane. It has a tremendous elevation in it. But can the ideals touch down? This is the question, and really anchor themselves. For that, of course, astrologically we need Saturn, we need Uranus, and Vulcan to make the anchorage of Neptune's wonderful ideals occur on the dense physical plane.
Sao Hải Vương là một hành tinh vĩ đại, dẫn chúng ta đến cõi Bồ đề, cõi trí và cõi cảm dục vũ trụ. Nó có sức nâng cao vô cùng lớn. Nhưng các lý tưởng có thể chạm đất và thực sự neo vững hay không? Đó là câu hỏi. Dĩ nhiên, để làm điều ấy, về mặt chiêm tinh, chúng ta cần Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Vulcan để neo giữ những lý tưởng tuyệt vời của Sao Hải Vương trên cõi hồng trần đậm đặc.
You can see how Neptune will contribute to the kama-manasic illusion unless we guard against the abuses of this particular planet, which rules, we're told, the higher point in the solar plexus center, with Mars ruling the lower point. Mars can make a big demonstration on the outer plane, but it's not the demonstration we necessarily want, because it's so separative, and we've seen a lot of that in the last four or five years.
Các bạn có thể thấy Sao Hải Vương sẽ góp phần tạo nên ảo tưởng trí-cảm như thế nào, trừ khi chúng ta đề phòng việc lạm dụng ảnh hưởng của hành tinh này; theo lời dạy, nó cai quản điểm cao hơn trong trung tâm tùng thái dương, còn Sao Hỏa cai quản điểm thấp hơn. Sao Hỏa có thể tạo nên một sự thể hiện mạnh mẽ trên cõi bên ngoài, nhưng đó chưa chắc là sự thể hiện chúng ta mong muốn, vì nó quá chia rẽ, và chúng ta đã thấy rất nhiều điều như vậy trong bốn hoặc năm năm qua.
[5] I would point out that the two greatest revealing Agents Who have ever come to Earth within the range of modern history made the following simple revelations to humanity:
[5] Tôi muốn chỉ ra rằng hai Đấng Mặc Khải vĩ đại nhất từng đến Trái Đất trong phạm vi lịch sử hiện đại đã ban cho nhân loại những mặc khải giản dị sau đây:
Notice how he refers to them, Who with the capital, and Who we're going to talk about here.
Hãy chú ý cách Ngài nhắc đến Các Ngài, dùng đại từ viết hoa, và Các Ngài chính là những Đấng chúng ta sắp nói đến ở đây.
This looks very Buddhist.
Điều này có vẻ rất đậm tinh thần Phật giáo.
[6] 1. The cause of all human suffering is desire
[6] 1. Nguyên nhân của mọi đau khổ của con người là dục vọng
Which is a form of lower attachment, at least desire on the microcosmic level. There is a wider type of desire which is a cosmic principle, and it will never go away. It puts the universe back together, so to speak.
Đó là một hình thức chấp trước thấp, ít nhất là dục vọng ở cấp độ tiểu thiên địa. Có một loại dục vọng rộng lớn hơn, vốn là một nguyên khí vũ trụ, và nó sẽ không bao giờ mất đi. Có thể nói, nó kết hợp vũ trụ lại với nhau.
1. The cause of all human suffering is desire
1. Nguyên nhân của mọi đau khổ của con người là dục vọng
[7] and personal selfishness. Give up desire and you will be free.
[7] và lòng ích kỷ cá nhân. Hãy từ bỏ dục vọng và các bạn sẽ được tự do.
This is pretty much the Buddha, though everything the Christ said adds to it through an intensified love nature. They both have the great wisdom, they both have love. Some of the stories about the Buddha are filled with immense, loving sacrifice, but still the Buddha is the Lord of Wisdom and the Lord of Light, and the Christ is the Lord of Love or Love-Wisdom.
Điều này gần như chính là lời Đức Phật, dù mọi điều Đức Christ nói đều bổ sung cho nó qua bản chất bác ái mãnh liệt hơn. Cả hai Ngài đều có minh triết vĩ đại, đều có bác ái. Một số câu chuyện về Đức Phật đầy những hy sinh bao la vì tình thương, nhưng Đức Phật vẫn là Chúa Tể của Minh Triết và Chúa Tể của Ánh Sáng, còn Đức Christ là Chúa Tể của Bác Ái hay Bác Ái – Minh Triết.
[8] 2. There is a way of liberation and it leads to illumination.
[8] 2. Có một con đường giải thoát và con đường ấy dẫn đến sự soi sáng.
Qualitatively it's different from the Christ's rapport with the cosmic astral plane, but imagine how high the Buddha overshadowing Gautama had to go meditatively in his illumination to touch the cosmic mental plane, a cosmic touch. For the rest of us, illumination would come increasingly until we have a Glorification at the third initiation, and it only gets brighter from that point on.
Về phẩm tính, điều ấy khác với sự giao cảm của Đức Christ với cõi cảm dục vũ trụ, nhưng hãy hình dung Đức Phật phủ bóng Gautama đã phải vươn cao đến mức nào trong tham thiền và sự soi sáng của Ngài để chạm đến cõi trí vũ trụ—một sự tiếp xúc vũ trụ. Với những người còn lại trong chúng ta, sự soi sáng sẽ ngày càng gia tăng cho đến khi chúng ta đạt đến sự Vinh Hiển ở lần điểm đạo thứ ba, và từ đó trở đi, ánh sáng chỉ ngày càng rực rỡ hơn.
There is a way of liberation and it leads to illumination.
Có một con đường giải thoát, và con đường ấy dẫn đến sự soi sáng.
We are all seekers after the light and our Planetary Logos will eventually come forth with a great light demonstration at some point, farther on into the existence of our solar system, whether that existence is objective or later subjective.
Tất cả chúng ta đều là những người tìm kiếm ánh sáng, và cuối cùng Hành Tinh Thượng đế của chúng ta sẽ xuất hiện với một sự thể hiện ánh sáng vĩ đại vào một thời điểm nào đó trong tương lai xa hơn của hệ mặt trời, dù sự hiện hữu ấy là khách quan hay về sau là chủ quan.
[9] 3. It profits a man nothing to gain the whole world and lose his soul.
[9] 3. Một người được cả thế gian mà đánh mất linh hồn mình thì cũng chẳng có ích gì.
Number three, this is the Christ.
Điều thứ ba, đây là lời Đức Christ.
I've been to church a lot. I didn't begin in church, but I did so much music that I conducted choirs and sang in choirs in just about every church that could be found in my college and later days. I know the substance of the sermons. I sometimes joke that I went through the whole Age of Pisces, from the age of Aries in 10 years just through church choirs and conducting church choirs.
Tôi đã đến nhà thờ rất nhiều. Tôi không khởi đầu ở nhà thờ, nhưng vì hoạt động âm nhạc nhiều nên tôi đã chỉ huy và hát trong các ca đoàn ở gần như mọi nhà thờ có thể tìm thấy trong thời đại học và những năm sau đó. Tôi biết nội dung cốt lõi của các bài giảng. Đôi khi tôi nói đùa rằng mình đã đi qua toàn bộ Kỷ Nguyên Song Ngư, từ kỷ nguyên Bạch Dương, chỉ trong 10 năm qua việc hát và chỉ huy các ca đoàn nhà thờ.
It's the Christ saying "What should it profit a man if he gain the whole world and lose his soul." Just think about it for a second. The unnecessary things that we still may want to gain for the little personal self—because we're not immune—and it gets more and more subtle as we go, more and more subtle. We have to make those discriminations concerning the unnecessary. I wonder how good we are at doing that.
Đó là lời Đức Christ: “Một người có ích gì nếu có được cả thế gian mà đánh mất linh hồn mình.” Hãy suy ngẫm điều đó trong giây lát. Những thứ không cần thiết mà chúng ta vẫn có thể muốn giành lấy cho cái tôi cá nhân nhỏ bé—vì chúng ta không miễn nhiễm với điều này—ngày càng trở nên tinh vi hơn khi chúng ta tiến bước, ngày càng tinh vi hơn. Chúng ta phải phân biện được những gì không cần thiết. Tôi tự hỏi chúng ta làm điều đó tốt đến đâu.
[10] 4. Every human being is a Son of God.
[10] 4. Mỗi con người đều là một Con của Thượng đế.
Son or daughter, it means a radiant orb of God. That's the Christ again.
Con trai hay con gái, điều đó có nghĩa là một khối cầu rạng ngời của Thượng đế. Đó lại là lời Đức Christ.
Sanat Kumara is an emanation of the Planetary Logos. He is the Planetary Logos in emanation, and when he is reabsorbed, it is into the fullness of the nature of the Planetary Logos.
Sanat Kumara là một xuất lộ của Hành Tinh Thượng đế. Ngài là Hành Tinh Thượng đế trong sự xuất lộ, và khi Ngài được tái hấp thu, Ngài trở về với bản chất trọn vẹn của Hành Tinh Thượng đế.
At the seventh initiation, that Planetary Logos is presiding, and perhaps not Sanat Kumara, as it tells us in Initiation, Human and Solar.
Ở lần điểm đạo thứ bảy, chính Hành Tinh Thượng đế ấy chủ trì, và có lẽ không phải Sanat Kumara, như sách Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương cho chúng ta biết.
[11] 5. There is a way of liberation and it is the way of love and sacrifice.
[11] 5. Có một con đường giải thoát và đó là con đường của tình thương và sự hi sinh.
This is a hard one, the way of love and sacrifice, the very first Law of the Soul. We're going over these laws with our study of group work, and we have to be able to say one day, as Christ can say, I am the love of the world. A number of them—Hermes, Buddha, Christ—have said, I am the Light of the World, and there's a new step required. But remember, when you say it, you can't look at yourself as a form. You have to look at yourself as an energy, then you can say, maybe, at some point, I am the love of the world.
Đây là điều khó thực hiện: con đường bác ái và hy sinh, Định luật đầu tiên của Linh Hồn. Chúng ta đang xem xét các định luật này khi nghiên cứu công việc nhóm, và một ngày nào đó, chúng ta phải có thể nói, như Đức Christ có thể nói: Tôi là tình thương của thế gian. Một số Đấng—Hermes, Đức Phật, Đức Christ—đã nói: Tôi là Ánh Sáng của Thế Gian, và nay cần một bước tiến mới. Nhưng hãy nhớ, khi nói điều ấy, các bạn không thể nhìn mình như một hình tướng. Các bạn phải nhìn mình như một năng lượng; khi đó, có lẽ đến một lúc nào đó, các bạn có thể nói: Tôi là tình thương của thế gian.
He's pointing out the two greatest revealing Agents who have come to Earth in modern times. There were great revealing Agents, and the book The Reappearance of the Christ is so good because it tells us about who these revealing Agents were and when they appeared. Hercules was one of them, actually, with his dramas. Is Vyasa maybe another one? There are a number of names there from ancient times, and what they gave to humanity for their revelations.
Ngài đang chỉ ra hai Đấng Mặc Khải vĩ đại nhất từng đến Trái Đất trong thời cận đại. Đã có những Đấng Mặc Khải vĩ đại, và cuốn sách Sự Tái Lâm của Đức Christ rất hay vì cho chúng ta biết những Đấng Mặc Khải ấy là ai và xuất hiện khi nào. Thực ra, Hercules là một trong các Đấng ấy, với những vở kịch của Ngài. Có lẽ Vyasa là một Đấng khác? Trong sách có một số tên tuổi từ thời cổ đại, cùng những điều mặc khải mà Các Ngài đã ban cho nhân loại.
One of them gave the revelation of immortality after the veil had slipped down over the human consciousness, due to the intervention of the Lodge of Darkness. Whoever this one was, I can't remember exactly, but he restored the hope and the teaching of immortality.
Một trong các Đấng ấy đã ban sự mặc khải về tính bất tử sau khi bức màn buông xuống che phủ tâm thức nhân loại do sự can thiệp của Hắc đoàn. Tôi không nhớ chính xác đó là Đấng nào, nhưng Ngài đã khôi phục niềm hy vọng và giáo lý về tính bất tử.
Simple revelations—every one of them is simple, and every one of them is really difficult to actually fully achieve. Test yourself, measure yourself against these revelations, because it will mean that if you can exhibit them, you are slipping out of the clutches of glamour and illusion. Now, even if we are a second degree initiate, there are still glamours to deal with, and even if we are a third degree initiate, the illusion of the kind of finality of the Egoic Lotus or causal body still hovers over us.
Những điều mặc khải đơn giản—mỗi điều đều đơn giản, và mỗi điều đều thực sự khó thành tựu trọn vẹn. Hãy tự kiểm nghiệm, tự đối chiếu mình với những điều mặc khải này, vì nếu có thể biểu lộ chúng, điều đó có nghĩa là các bạn đang thoát khỏi sự kìm giữ của ảo cảm và ảo tưởng. Dù là điểm đạo đồ bậc hai, chúng ta vẫn còn những ảo cảm phải xử lý; và dù là điểm đạo đồ bậc ba, ảo tưởng rằng Hoa Sen Chân Ngã hay thể nguyên nhân là một dạng đích đến cuối cùng vẫn còn bao phủ chúng ta.
The Christ asked us to give it up and give everything to the poor. Who are the poor? Those who have not yet the knowledge or wisdom or love that we have managed to accumulate—we give it up and follow him. Something's very hard apparently, as that initiate called the "Rich young man" went sadly away at that time. Since that time, he has made the grade, but he went sadly away because he couldn't fulfill the demands of the Christ: "Sell it all, give it away to the poor, and follow me."
Đức Christ yêu cầu chúng ta từ bỏ nó và trao tất cả cho người nghèo. Người nghèo là ai? Là những người chưa có tri thức, minh triết hay tình thương mà chúng ta đã tích lũy được—chúng ta từ bỏ những điều ấy và theo Ngài. Dường như có điều gì đó rất khó, bởi điểm đạo đồ được gọi là “chàng thanh niên giàu có” ấy đã buồn bã bỏ đi vào lúc đó. Kể từ ấy, ông đã đạt yêu cầu, nhưng khi đó ông buồn bã bỏ đi vì không thể đáp ứng đòi hỏi của Đức Christ: “Hãy bán tất cả, trao cho người nghèo và theo Ta.”
Ask yourself the question, because with most of us, there is something that holds us back from giving all. To those who give all, all is given. It's in Letters on Occult Meditation. It's a law. It's what makes a master or a Chohan, or a higher Chohan, or a greater Being, and maybe that's why Dane Rudhyar wrote that book called, at that time, The Gifts of the Spirit. And the word forgiving tells us something about the attitude of one who exists for the privilege of giving whatever he or she has accumulated.
Hãy tự đặt câu hỏi ấy, vì với phần lớn chúng ta, có điều gì đó ngăn chúng ta trao đi tất cả. Ai trao đi tất cả sẽ được ban cho tất cả. Điều ấy có trong Thư Về Tham thiền Huyền môn. Đó là một định luật. Chính điều ấy làm nên một chân sư, một Chohan, một Chohan cao hơn hay một Sinh Mệnh vĩ đại hơn, và có lẽ đó là lý do Dane Rudhyar đã viết cuốn sách lúc ấy mang tên Những Ân Tứ của Tinh Thần. Và từ “tha thứ”, với ý “trao đi” trong cấu tạo tiếng Anh của nó, cho chúng ta biết đôi điều về thái độ của một người hiện hữu vì đặc ân được trao đi bất cứ điều gì mình đã tích lũy.
I remember Charles Jayne, a wonderful astrologer. He tried to get into the Lucis Trust in the year that he was to die, on the very last day of it, and this was the beginning of the year, and somehow I caught him in the hallway and I said, "Look, I'm willing to be your student, and just let me know when I can visit you." So I visited him every Sunday, and I learned a lot.
Tôi nhớ Charles Jayne, một nhà chiêm tinh tuyệt vời. Ông đã cố đến Lucis Trust vào năm mà ông sẽ qua đời đúng ngày cuối cùng của năm ấy; lúc đó mới là đầu năm, và bằng cách nào đó tôi đã gặp ông ở hành lang rồi nói: “Tôi sẵn lòng làm học trò của ông, xin cho tôi biết khi nào tôi có thể đến thăm.” Thế là tôi đến thăm ông mỗi Chủ nhật và học được rất nhiều.
But at one point, I was asking him some questions about his major theories in astrology which have been taken up by astrologers better suited than I to develop it, like Nicholas Niklein, who's done a tremendous work in developing these things, and another as well. He had a shiver go over him. And I said, "What's wrong, Charles?" And he said, "Well, I just had the impression that I'm emptying the bowl." Well, at the time, I thought it was okay, just an impression. But sure enough, by the time the end of the year had come exactly on December 31 of that year, 1985, he had passed on.
Nhưng có lần, tôi hỏi ông một số câu về những lý thuyết chủ yếu của ông trong chiêm tinh học; các lý thuyết này đã được những nhà chiêm tinh có khả năng phát triển chúng phù hợp hơn tôi tiếp nối, chẳng hạn Nicholas Niklein, người đã có đóng góp rất lớn trong việc phát triển những điều này, cùng một người khác nữa. Ông chợt rùng mình. Tôi hỏi: “Có chuyện gì vậy, Charles?” Ông đáp: “Tôi vừa có cảm giác rằng mình đang trút cạn chiếc bát.” Lúc ấy tôi nghĩ không sao, chỉ là một cảm giác thôi. Nhưng quả nhiên, khi năm ấy kết thúc, đúng ngày 31 tháng 12 năm 1985, ông đã qua đời.
During his time with me, I caught enough to give to a lot of people. The major progressive theses that he was advancing were very complicated and very interesting. But I'm glad I was there to catch it, and he was emptying the bowl.
Trong thời gian ở bên ông, tôi đã tiếp nhận đủ để trao lại cho nhiều người. Những luận điểm tiến bộ chủ yếu mà ông đưa ra rất phức tạp và rất thú vị. Nhưng tôi vui vì mình đã có mặt để tiếp nhận, khi ông đang trút cạn chiếc bát.
Now, that's something we all have to consider. We all have a chalice. We have accumulated much in our life of study and meditation and service. It comes to time you just have to make sure that other people have it too, and that you give them as much as you possibly can before it's too late. If it is too late, time is lost.
Đó là điều tất cả chúng ta phải suy xét. Mỗi người đều có một chén thánh. Chúng ta đã tích lũy nhiều điều trong đời sống học hỏi, tham thiền và phụng sự. Đến một lúc, các bạn phải bảo đảm rằng những người khác cũng có được những điều ấy, và trao cho họ nhiều nhất có thể trước khi quá muộn. Nếu đã quá muộn thì thời gian bị mất đi.
I could tell you some stories about that one too, when I personally have not been sufficiently vigilant to realize that an important theorist and practitioner was passing, and he passed with his bowl not emptied. Let's not get caught in that particular situation. Keep the flow steady as you are giving out to people, and then it won't be a huge emergency and crisis in the end.
Tôi cũng có thể kể cho các bạn vài câu chuyện về điều đó, khi chính tôi chưa đủ tỉnh táo để nhận ra một nhà lý luận và thực hành quan trọng đang sắp qua đời, và ông đã ra đi khi chiếc bát vẫn chưa trút cạn. Chúng ta đừng để mình rơi vào tình huống ấy. Hãy giữ cho dòng chảy đều đặn khi trao đi cho mọi người; như vậy, đến cuối cùng sẽ không xảy ra một tình trạng khẩn cấp và khủng hoảng lớn.
[12] The lives of these Revealers were symbolic representations of that which They taught, and the rest of Their teaching but an extension of Their central themes.
[12] Cuộc đời của các Đấng Mặc Khải này là những biểu hiện mang tính biểu tượng của những điều Các Ngài giảng dạy, và phần còn lại trong giáo huấn của Các Ngài chỉ là sự mở rộng những chủ đề cốt lõi ấy.
They lived it right. We can say they lived what they taught, and that itself seems so easy to do, but we know it's not.
Các Ngài đã sống đúng như vậy. Chúng ta có thể nói Các Ngài đã sống những điều mình giảng dạy; điều ấy có vẻ rất dễ thực hiện, nhưng chúng ta biết là không dễ.
That's why out of the four requirements in A Treatise on White Magic, "Set an example" is the fourth and maybe the most important and the hardest to live up to.
Đó là lý do trong bốn yêu cầu của Luận về Chánh Thuật, “Nêu gương” là yêu cầu thứ tư, có lẽ quan trọng nhất và khó sống đúng nhất.
[13] Their contribution was an integral part of the general revelation of the ages which has led men from the primitive state of human existence to the complex state of modern civilization.
[13] Đóng góp của Các Ngài là một phần không thể tách rời của sự mặc khải chung qua các thời đại, vốn đã dẫn dắt con người từ trạng thái tồn tại nguyên thủy đến trạng thái phức tạp của nền văn minh hiện đại.
Individualization occurred 21 million years ago, coming to yourself in terms of understanding your distinct individuality. Then 18 and a half million years ago—what amazing progress it has been. Think of the Lemurian type at first, in these huge tabernacles of clay, immense bodies that make the Atlanteans look like midgets. They were 60 feet tall or whatever. The Bamiyan Buddhas, which were destroyed by one of those groups that can't stand history, were representations of the stature of these huge man-beings in the early days.
Sự biệt ngã hóa diễn ra cách đây 21 triệu năm, khi con người nhận biết chính mình qua sự thấu hiểu cá thể riêng biệt của mình. Rồi đến 18 triệu rưỡi năm trước—quả là một bước tiến đáng kinh ngạc. Hãy nghĩ đến kiểu người Lemuria ban đầu, trong những đền tạm bằng đất sét khổng lồ ấy, những thân thể đồ sộ khiến người Atlantis trông như những người tí hon. Họ cao khoảng 60 bộ hay đại loại như vậy. Các tượng Phật Bamiyan, từng bị một trong những nhóm không chịu nổi lịch sử phá hủy, là hình ảnh thể hiện tầm vóc của những con người khổng lồ thuở ban đầu ấy.
But they were very primitive, really having to do the physical thing first. Think of where we are now in terms of our technicalities, our technical know-how, our modern civilization with all of its advancement along seven ashramic lines.
Nhưng họ rất nguyên thủy, thực sự phải thực hiện những việc thuộc hồng trần trước tiên. Hãy nghĩ xem hiện nay chúng ta đã tiến đến đâu về các phương tiện kỹ thuật, kiến thức kỹ thuật, nền văn minh hiện đại với mọi tiến bộ theo bảy đường hướng ashram.
[14] This general revelation can be called the Revelation of the Path which leads out of form to the Center of all life; the purity of this revelation has been preserved down the ages by a small handful of disciples, initiates and true esotericists
[14] Sự mặc khải chung này có thể gọi là Sự Mặc Khải về Đường Đạo dẫn ra khỏi hình tướng đến Trung Tâm của mọi sự sống; qua các thời đại, một số ít đệ tử, điểm đạo đồ và các nhà bí truyền học chân chính đã gìn giữ sự thuần khiết của mặc khải này;
When he uses that word esoteric, watch out, because oftentimes the monad is implicated in that word.
Khi Ngài dùng từ huyền bí ấy, hãy chú ý, vì từ ấy thường hàm chứa chân thần.
and true esotericists
và những nhà bí truyền học chân chính
[15] who have always been present upon the Earth—defending the simplicity
[15] họ luôn hiện diện trên Trái Đất—bảo vệ tính giản dị
Defending the simplicity as known in Shamballa.
Bảo vệ tính giản dị như được biết đến tại Shamballa.
[16] of that teaching, seeking for those who could respond to and recognize the germ or seed of truth, and training men to take Their place and to tread the way of intuitive perception.
[16] của giáo huấn ấy, tìm kiếm những người có thể đáp ứng và nhận ra mầm hay hạt giống chân lý, đồng thời huấn luyện con người đảm nhận vị trí của Các Ngài và bước đi trên con đường nhận thức bằng trực giác.
The farther we go, the less we know, but the more we realize what has been given to us to assimilate. Today, I was looking over Letters on Occult Meditation, and I was just flabbergasted at what DK has managed to give us and appreciate, in its fullness. We appreciate Master DK, but the incredible completeness—and for him it wouldn't be complete, but for us it is incredible completeness—of what he has given, and all these details and mapping out the future for us. I discovered it when I was just looking at the number seven, seventh, sevenfold, whatever. It just overwhelmed me: the magnitude of his gift to us, and really, of course, to humanity.
Càng đi xa, chúng ta càng biết ít, nhưng càng nhận ra nhiều hơn những gì đã được ban cho chúng ta để lĩnh hội. Hôm nay, tôi xem lại Thư Về Tham thiền Huyền môn, và tôi kinh ngạc trước những gì Chân sư DK đã có thể trao cho chúng ta, và việc trân trọng trọn vẹn những điều ấy. Chúng ta trân trọng Chân sư DK, nhưng mức độ đầy đủ phi thường—đối với Ngài thì chưa phải là đầy đủ, nhưng đối với chúng ta thì đó là sự đầy đủ phi thường—của những gì Ngài đã trao, cùng tất cả những chi tiết và việc vạch ra tương lai cho chúng ta. Tôi khám phá ra điều đó khi chỉ đang xem xét số bảy, thứ bảy, thất phân, hay bất cứ điều gì liên quan. Điều ấy khiến tôi choáng ngợp: tầm vóc món quà Ngài dành cho chúng ta, và dĩ nhiên, thật sự là dành cho nhân loại.
We call it here the revelation of the path—the general revelation. What is the center of all life? It is life itself. It is the monad, it is pure being. Somehow there have been a few in whose minds all of this has not yet fallen into illusion of emotional taint and concrete-mindedness. A few have preserved the revelation intact. They've always been present on Earth.
Ở đây chúng ta gọi đó là sự mặc khải về Đường Đạo—sự mặc khải tổng quát. Trung tâm của toàn thể sự sống là gì? Đó chính là sự sống. Đó là chân thần, là bản thể thuần khiết. Bằng cách nào đó, vẫn có một số ít người mà trong thể trí của họ, tất cả những điều này vẫn chưa rơi vào ảo tưởng do cảm xúc nhuốm màu và lối tư duy cụ thể. Một số ít người đã gìn giữ nguyên vẹn sự mặc khải. Họ vẫn luôn hiện diện trên Trái Đất.
When you see the word simplicity, look out for Shamballic, because DK tells us on page 518 of Discipleship in the New Age II that simplicity governs the way into Shamballa. Can you be tremendously detailed in your understanding and simple at the same time? Master DK shows us the way on this.
Khi thấy từ giản dị, hãy lưu ý đến những gì thuộc Shamballa, vì Chân sư DK cho chúng ta biết ở trang 518 của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II rằng tính giản dị chi phối con đường đi vào Shamballa. Liệu các bạn có thể thấu hiểu vô cùng chi tiết mà đồng thời vẫn giản dị không? Chân sư DK chỉ cho chúng ta con đường thực hiện điều này.
defending the simplicity of that teaching, seeking for those who could respond to and recognize the germ or seed of truth, and training men to take Their place and to tread the way of intuitive perception.
bảo vệ tính giản dị của giáo huấn ấy, tìm kiếm những người có thể đáp ứng và nhận ra mầm hay hạt giống chân lý, đồng thời huấn luyện những người sẽ thay thế Các Ngài và bước trên con đường tri giác trực giác.
We are just on the borderlands of that. The sixth root race is the race of intuition. Right now, we are the sixth subrace of the fifth race, and we are the race that has to bring into visibility and practicality the abstract mind, the lowest part of the Spiritual Triad, which is not yet the intuition.
Chúng ta mới chỉ ở vùng ranh giới của điều đó. Giống dân gốc thứ sáu là giống dân của trực giác. Hiện nay, chúng ta là giống dân phụ thứ sáu của giống dân thứ năm, và chúng ta là giống dân phải đưa trí trừu tượng vào sự biểu hiện hữu hình và ứng dụng thực tiễn; đó là phần thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, chưa phải là trực giác.
Our job for the next 2000 years is to bring forward the way of intuitive perception, which will be so important in the dispelling of illusion. Even the abstract mind can help a great deal.
Nhiệm vụ của chúng ta trong 2000 năm tới là phát huy con đường tri giác trực giác, vốn sẽ vô cùng quan trọng trong việc xua tan ảo tưởng. Ngay cả trí trừu tượng cũng có thể giúp ích rất nhiều.
[17] One of the major tasks of the Hierarchy is to seek for and find those who are sensitive to revelation and whose minds are trained so that they can formulate the emerging truths in such a way that they reach the ears of the world thinkers, relatively unchanged.
[17] Một trong những nhiệm vụ chính của Thánh đoàn là tìm kiếm và tìm ra những người nhạy cảm với sự mặc khải, có thể trí đã được rèn luyện để có thể diễn đạt những chân lý đang xuất hiện sao cho chúng đến được với các nhà tư tưởng trên thế giới mà tương đối ít bị biến đổi.
It won't be a personal thing. It's not about personhood. It's about the larger picture and about the welfare of the group and of the whole.
Điều ấy sẽ không mang tính cá nhân. Nó không xoay quanh cá nhân. Nó liên quan đến bức tranh rộng lớn hơn, đến phúc lợi của nhóm và của toàn thể.
to seek for and find those who are sensitive to revelation and whose minds are trained so that they can formulate the emerging truths in such a way that they reach the ears of the world thinkers, relatively unchanged.
tìm kiếm và tìm ra những người nhạy cảm với sự mặc khải, có thể trí đã được huấn luyện để có thể diễn đạt những chân lý đang xuất hiện sao cho chúng đến tai các nhà tư tưởng thế giới mà tương đối không bị biến đổi.
It's always the distortion that's going on as you take the little human mind and a great truth. Before you know it, the great truth has been shrunken into a form which, though similar, is not anywhere complete. It's not full of the value that the great truth had.
Sự xuyên tạc luôn xảy ra khi đem thể trí nhỏ bé của con người tiếp xúc với một chân lý vĩ đại. Chưa kịp nhận ra thì chân lý vĩ đại ấy đã bị thu nhỏ thành một hình tướng tuy tương tự nhưng hoàn toàn không trọn vẹn. Nó không chứa đựng đầy đủ giá trị vốn có của chân lý vĩ đại ấy.
[18] All revelation, however, when put into words and word forms, loses something of its divine clarity.
[18] Tuy nhiên, mọi mặc khải khi được diễn đạt bằng lời nói và các hình thức ngôn từ đều mất đi phần nào sự sáng rõ thiêng liêng.
Djwhal Khul, in a good way, is complaining about the inelastic tongue which he calls English to be, and how very frustrating it is for him to try to put the higher truths into that inelastic tongue. But we should at least develop the antahkarana and the abstract mind so that when some flash of intuition about the larger picture may come to us with all of its impressive truth, we can at least do a reasonable job in representing it before the members of the intelligentsia who perhaps can pick it up and take a deeper look into the substance of humanity.
Theo một nghĩa tích cực, Chân sư Djwhal Khul đang phàn nàn về thứ ngôn ngữ thiếu linh hoạt mà Ngài gọi là tiếng Anh, và việc cố gắng diễn đạt những chân lý cao siêu bằng ngôn ngữ thiếu linh hoạt ấy khiến Ngài bức bối đến mức nào. Nhưng ít nhất chúng ta nên phát triển antahkarana và trí trừu tượng, để khi một tia chớp trực giác nào đó về bức tranh rộng lớn hơn có thể đến với chúng ta cùng toàn bộ chân lý đầy sức thuyết phục của nó, ít nhất chúng ta có thể trình bày tương đối thỏa đáng trước những thành viên của giới trí thức; có lẽ họ có thể tiếp nhận rồi xem xét sâu hơn vào chất liệu của nhân loại.
The intelligentsia has definite limitations, because they are considered to be the acme of civilization, whereas people like ourselves—aspirants, disciples, and initiates—are considered to be fanciful people, unrealistic people, and they are not given the credit that the intelligentsia has. But we know better than that. There are definite limitations when you put together the third and the fifth ray, which govern so much of the intelligentsia. It just does not get into what we call reality, and what they call illusion and fantasy.
Giới trí thức có những giới hạn rõ rệt, vì họ được xem là đỉnh cao của nền văn minh, trong khi những người như chúng ta—người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ—lại bị xem là những người viển vông, thiếu thực tế, và không được coi trọng như giới trí thức. Nhưng chúng ta biết rõ hơn thế. Có những giới hạn rõ rệt khi kết hợp cung ba và cung năm, hai cung chi phối phần lớn giới trí thức. Sự kết hợp ấy đơn giản là không đi vào điều chúng ta gọi là thực tại, còn họ thì gọi là ảo tưởng và hoang tưởng.
Our job—and I'm always saying our job, we have a lot of jobs—is to come forward with the possibility of being intelligent enough and, at the same time, preserving our intuitive realization. We need to be intelligent enough to convince the intelligentsia that what we are dealing with is worthy of their attention. Then they can help think the process into the substance of normally kama-manasic humanity, especially those who stand on the verge of being able to make a bridge into something more real.
Nhiệm vụ của chúng ta—và tôi luôn nói đến nhiệm vụ của chúng ta, chúng ta có rất nhiều nhiệm vụ—là tiến tới khả năng có đủ trí tuệ, đồng thời giữ gìn sự chứng nghiệm trực giác. Chúng ta cần có đủ trí tuệ để thuyết phục giới trí thức rằng những gì chúng ta đang đề cập đến xứng đáng được họ quan tâm. Khi ấy, họ có thể dùng tư duy giúp đưa tiến trình này vào chất liệu của nhân loại vốn thường mang tính trí-cảm, đặc biệt là những người sắp có khả năng bắc cầu đến một điều gì chân thực hơn.
[19] Much of the revelation of the past has come along the lines of the religious impulse and, as the illusion has deepened and grown in time, the original simplicity (as it was conveyed by its Revealers) has been lost.
[19] Phần lớn những mặc khải trong quá khứ đã đến theo đường hướng của xung lực tôn giáo, và khi ảo tưởng ngày càng sâu đậm và gia tăng theo thời gian, tính giản dị ban đầu (như các Đấng Mặc Khải đã truyền đạt) đã mất đi.
The Christ and the Buddha, we're told, hardly recognize what's become of their simple statements in all the dogmatism that now surrounds it.
Chúng ta được cho biết rằng Đức Christ và Đức Phật hầu như không còn nhận ra những lời dạy giản dị của Các Ngài đã trở thành điều gì giữa toàn bộ sự giáo điều hiện đang bao quanh chúng.
This is really an important paragraph.
Đây thật sự là một đoạn quan trọng.
[20] All basic revelations are presented in the simplest forms. Accretion after accretion crept in; the minds of men made the teaching complex through their mental dissertations until the great theological systems were built up which we call, for instance, the Christian Church and the Buddhist system.
[20] Mọi mặc khải căn bản đều được trình bày dưới những hình thức giản dị nhất. Hết lớp bồi đắp này đến lớp bồi đắp khác dần len vào; thể trí con người đã làm giáo huấn trở nên phức tạp qua những luận giải trí tuệ, cho đến khi hình thành những hệ thống thần học đồ sộ mà chúng ta gọi, chẳng hạn, là Giáo hội Kitô giáo và hệ thống Phật giáo.
You may recall that DK didn't really let Buddhism off the hook here. He said that Buddhism would become, in the ensuing years, more and more dogmatic, and certainly Christianity has become more and more dogmatic. There has been a deviation from simplicity.
Các bạn có thể nhớ rằng ở đây Chân sư DK cũng không bỏ qua cho Phật giáo. Ngài nói rằng trong những năm tiếp theo, Phật giáo sẽ ngày càng giáo điều hơn, và chắc chắn Cơ Đốc giáo đã ngày càng giáo điều hơn. Đã có sự lệch xa khỏi tính giản dị.
Of course, in some ways, the garment of God on all of its different levels is not an easy matter when handling. There's a lot of parts and pieces there that we have to be cognizant of. But the great underlying simplicity, which synthesizes everything, has been lost to a lot of people, or it's been so reduced that it's become almost ludicrous: "Just believe emotionally, and you will be saved forever in Heaven".
Dĩ nhiên, xét theo một vài phương diện, việc xem xét tấm áo của Thượng đế trên tất cả các cấp độ khác nhau không phải là chuyện dễ dàng. Có rất nhiều phần và chi tiết mà chúng ta phải nhận biết. Nhưng tính giản dị vĩ đại ẩn bên dưới, vốn tổng hợp mọi sự, đã mai một đối với nhiều người, hoặc đã bị giản lược đến mức gần như lố bịch: “Chỉ cần tin bằng cảm xúc, các bạn sẽ được cứu rỗi mãi mãi trên Thiên Đàng”.
People like ourselves could take that statement apart and get technical about it and say, What does it mean to be saved? What does it mean forever? Where is your salvation occurring? There are all kinds of questions that an Occultist will ask that have never entered the minds of the people who dogmatically hang on to a few simple things.
Những người như chúng ta có thể phân tích phát biểu ấy, đi sâu vào các chi tiết chuyên môn và hỏi: Được cứu rỗi nghĩa là gì? Mãi mãi nghĩa là gì? Sự cứu rỗi của các bạn diễn ra ở đâu? Một nhà huyền bí học sẽ đặt ra đủ loại câu hỏi mà những người giáo điều bám chặt vào vài điều giản đơn chưa từng nghĩ tới.
We've been there too. I know there have been times when we have been just like the people that are up-and-coming and need some kind of really simple formulation, which is full of illusion and full of glamour, in order to make them feel secure.
Chúng ta cũng từng như thế. Tôi biết đã có những lúc chúng ta giống hệt những người đang dần tiến lên ấy, cần một cách diễn đạt thật giản đơn nào đó, đầy ảo tưởng và ảo cảm, để cảm thấy an toàn.
Our task is to help them feel their way out of that prison and think, however, haltingly at first, and think their way out of the prison. This does not mean that these people are not intelligent in a concrete way, and in the Hall of Ignorance, they can be very intelligent, but in terms of building up a recognition of the higher of the pairs of opposites, they haven't even begun.
Nhiệm vụ của chúng ta là giúp họ dò tìm đường ra khỏi nhà tù ấy và suy nghĩ, dù lúc đầu còn chập chững, rồi dùng tư duy để thoát khỏi nhà tù. Điều này không có nghĩa là những người ấy không thông minh theo nghĩa cụ thể; trong Phòng Vô Minh, họ có thể rất thông minh, nhưng xét về việc xây dựng khả năng nhận biết phía cao hơn trong các cặp đối lập thì họ còn chưa bắt đầu.
In a way, they haven't really much entered the Hall of Learning at all, which is really learning about the pairs of opposites and eventually siding with the higher of the pairs of opposites.
Theo một nghĩa nào đó, họ thật sự chưa bước vào Phòng Học Tập được bao nhiêu; nơi ấy thực chất là học về các cặp đối lập và cuối cùng đứng về phía cao hơn trong các cặp đối lập.
Regarding the Christian church and the Buddhist system,
Về Giáo hội Cơ Đốc và hệ thống Phật giáo,
[21] Their Founders would have much difficulty in recognizing the two or three fundamental and divine facts or truths which They sought to reveal and emphasize, so great is the mantle
[21] Các Đấng Sáng Lập những hệ thống ấy sẽ rất khó nhận ra hai hay ba sự thật hoặc chân lý căn bản và thiêng liêng mà Các Ngài đã tìm cách mặc khải và nhấn mạnh, vì lớp màn
The heavy cloak.
Tấm áo choàng nặng nề.
so great is the mantle
vì tấm áo choàng quá dày
[22] of illusion which has been thrown over the simple pronouncements of the Christ and of the Buddha.
[22] ảo tưởng phủ lên những lời tuyên dạy giản dị của Đức Christ và Đức Phật đã trở nên quá dày đặc.