← Commentary GAW 151-189

Commentary GAW 181

Tóm lược chương

Kỹ Thuật Hiện Diện làm tiêu tan ảo tưởng trên cõi trí và cho thấy cách các Chân sư sử dụng thể trí để tiếp xúc với nhân loại, dù bình thường Các Ngài hoạt động bằng những năng lực cao hơn. Kỹ Thuật Ánh sáng vận dụng quyền năng linh hồn, trung tâm ajna và sự soi sáng để xử lý ảo cảm trên cõi cảm dục. Kỹ Thuật Điềm Nhiên vô hiệu hóa sự khống chế của chất liệu đối với Sự sống hay tinh thần hoạt động trong ba cõi giới; chất liệu ấy được diễn giải ở đây là chất liệu dĩ thái–hồng trần. Tuy cả ba thuật ngữ đôi khi mang nghĩa bao quát, việc thực hành đòi hỏi phân biệt đúng phạm vi của từng kỹ thuật. Mỗi điểm tập trung nhất tâm cao hơn trên chiếc…


Commentary GAW 181

Tóm Tắt

Ba kỹ thuật xử lý ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực

Kỹ Thuật Hiện Diện làm tiêu tan ảo tưởng trên cõi trí và cho thấy cách các Chân sư sử dụng thể trí để tiếp xúc với nhân loại, dù bình thường Các Ngài hoạt động bằng những năng lực cao hơn. Kỹ Thuật Ánh sáng vận dụng quyền năng linh hồn, trung tâm ajna và sự soi sáng để xử lý ảo cảm trên cõi cảm dục. Kỹ Thuật Điềm Nhiên vô hiệu hóa sự khống chế của chất liệu đối với Sự sống hay tinh thần hoạt động trong ba cõi giới; chất liệu ấy được diễn giải ở đây là chất liệu dĩ thái–hồng trần. Tuy cả ba thuật ngữ đôi khi mang nghĩa bao quát, việc thực hành đòi hỏi phân biệt đúng phạm vi của từng kỹ thuật.

Ánh sáng và những cấp độ mặc khải

Mỗi điểm tập trung nhất tâm cao hơn trên chiếc thang tiến hóa mở ra một cấp độ ánh sáng và mặc khải mới. Câu diễn giải dùng “ánh sáng” thay cho “đức tin” xem ánh sáng là chất liệu của những điều được hy vọng và bằng chứng của những điều chưa thấy. Tuy nhiên, Thực Tại Tuyệt Đối vượt ngoài cả ánh sáng lẫn bóng tối: Nó chỉ hiện hữu, vĩnh viễn, như giáo lý Vedanta diễn tả bằng lời “Ngươi là Cái Đó”. Theo cách nhìn này, ngay cả vũ trụ cũng hữu hạn và thuộc ảo lực, chưa phải thực tại tối hậu.

Hiện hữu trước, đồng nhất trước

Công thức thực hành riêng được đề xuất là đặt sự hiện hữu, Bản Thể, thực tại và sự tĩnh lặng lên trước việc khảo sát hình tướng. “Sự tĩnh lặng của trái tim” chỉ sự tĩnh lặng chứa tinh túy Sự sống, khác với nhịp tim vốn thuộc thời gian và hình tướng. Nhận biết sự hiện hữu trước khi chú ý đến những khác biệt có thể giải thoát tri giác khỏi sự mê hoặc của biến phân và khơi động nguyên khí sự sống trong trung tâm tim. Công thức “sự đồng nhất trước” tiếp tục hướng này: giữ tri giác ổn định, tĩnh lặng cho đến khi cảm nhận tính đồng nhất xuất hiện, rồi mới khảo sát các hình tướng riêng biệt.

Các giai đoạn đệ tử và những phạm vi bao gồm

Tiến trình được phác họa từ đệ tử trong ánh sáng đến đệ tử được chấp nhận, Đệ tử trên đường dây, rồi Đệ tử trong hào quang của Chân sư, giai đoạn được liên hệ rõ với điểm đạo đồ bậc ba. Đệ tử trong trái tim Chân sư mở ra khả năng lần điểm đạo thứ tư; giai đoạn thứ bảy, sự hòa trộn các ánh sáng, được diễn giải là lúc đệ tử trở thành Chân sư. Ashram của Chân sư DK nằm trong phạm vi ashram cung hai của Chân sư KH, tiếp đến là những phạm vi bao gồm của Đức Christ, Đức Sanat Kumara, Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế. Chuỗi bao gồm này đặt vấn đề về căn tính thực sự và những vòng-giới-hạn mà con người thường lầm tưởng là giới hạn cuối cùng của mình.

Tiếp xúc linh hồn và hiểu biết về ánh sáng

Theo Chân sư DK, tiến bộ trong tiếp xúc linh hồn là một trong những bước quan trọng đầu tiên để thấu hiểu ánh sáng và cách sử dụng nó; việc nghiên cứu giáo lý chưa tự động khiến một đạo sinh trở thành người chí nguyện thực sự. Khoa học đang thâm nhập những bí nhiệm của ánh sáng, nhưng hiểu biết hiện nay còn giới hạn trước những loại ánh sáng mà tâm thức có thể tiếp cận ở các cấp độ cao hơn, kể cả ánh sáng nơi tâm thức thức tỉnh thoát khỏi ràng buộc xác thân. Cung hai mang ảnh hưởng chuyên chở ánh sáng và sáng chói nhất xét từ góc độ linh hồn con người. Xét từ góc độ các Đấng Chúa Tể Cung, Đấng Chúa Tể Cung năm lại được nêu là sáng chói nhất.

Ánh sáng linh hồn khác với trực giác

Ánh sáng linh hồn soi sáng thể trí và phơi bày thế giới hình tướng trong ba cõi thấp, bao gồm phản ứng, tác động, sức hấp dẫn và khả năng giam hãm tâm thức của chúng. Trái lại, Chân sư DK khẳng định trực giác không liên quan đến bất cứ điều gì trong ba cõi kinh nghiệm nhân loại, mà liên quan đến tri giác của Tam Nguyên Tinh Thần và thế giới ý tưởng. Vì vậy, những linh cảm về hoàn cảnh đời thường không nhất thiết là trực giác theo nghĩa chuyên biệt này. Một cách diễn giải được đề xuất là tri giác của Tam Nguyên Tinh Thần cho phép tiếp nhận những phương diện của Trí, Bác ái và Ý Chí của Hành Tinh Thượng Đế trong phạm vi cõi hồng trần vũ trụ.

Tri thức, thấu hiểu và minh triết

Mối liên hệ giữa trực giác với Thế giới của ý nghĩa tương ứng với mối liên hệ giữa thể trí với ba cõi kinh nghiệm: cấp độ cao hơn diễn giải cấp độ thấp hơn. Ánh sáng linh hồn tạo ra tri thức qua kinh nghiệm, còn trực giác tạo ra sự thấu hiểu; sự thấu hiểu và minh triết sâu hơn tri thức đơn thuần. Thế giới của ý nghĩa được liên hệ với linh hồn và Thiên Thần của Hiện Diện, trong khi trực giác được diễn giải là đến từ Thế giới của thâm nghĩa, hướng về tinh túy Chân Thần. Thấu hiểu còn bao hàm khả năng đứng trong nền tảng chung với điều được nhận biết, vừa liên hệ vừa tách rời, thay vì chỉ quan sát từ bên ngoài.

Thấu hiểu bằng trái tim và sự phán xét

Sự thấu hiểu đầy tình thương nhận ra trong kinh nghiệm của người khác điều mà chính mình từng trải qua, kể cả khi hành vi ấy phá hoại và cần tránh. Roberto Assagioli, một đệ tử của Chân sư KH hỗ trợ Chân sư Tây Tạng, được nhắc đến như người có sự thấu hiểu hiếm có; Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cũng cần có thái độ này đối với những người đang trải qua lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, một số linh hồn trẻ đang nhập thể tại Hoa Kỳ và những nước khác dễ phán xét vì chưa tích lũy đủ kinh nghiệm tiến hóa. Cuộc bạo loạn ngày 6 tháng 1 và sự thiếu tôn trọng đối với bốn cảnh sát bảo vệ cơ quan lập pháp được dùng làm ví dụ về hậu quả của hiểu lầm và tính ích kỷ.

Tri thức hiện diện trong mọi giới

Tri thức không chỉ là phản ứng trí tuệ mà hiện diện ở mọi cấp độ, dưới một dạng bản năng trong mọi giới, kể cả các giới chưa có ngã thức. Hình ảnh con mèo được nhận định thuộc cung ba biết nhảy lên nắm tay cửa và đợi người đi vắng mới mở cửa minh họa tri thức thực dụng, khác với con mèo cung hai chỉ chờ được mở cửa. Khả năng kết hợp hay không kết hợp của nguyên tử cũng được diễn giải như một dạng tri thức chìm sâu trong vật chất. Năm giác quan đem lại tri thức cõi hồng trần, tính nhạy cảm thông linh đem lại tri thức cõi cảm dục, còn thể trí đem lại tri giác trí tuệ; cả ba đều biểu hiện ánh sáng tri thức từ linh hồn qua các vận cụ.

Nhập thể, học hỏi và lao động tinh thần

Linh hồn tự giới hạn trong môi trường tam phân để phát triển khả năng điều khiển ba cõi thấp theo mục tiêu và định hướng Thiên Cơ. Tuy nhiên, tri thức không tự động chuyển thành minh triết hay sự thấu hiểu đầy tình thương; quá trình ấy đòi hỏi nỗ lực có chủ đích. Lời thúc giục làm việc của Chân sư DK được liên hệ với lựa chọn sử dụng năng lượng để tiến bộ cá nhân và tập thể. Nghiên cứu, tham thiền, cùng việc áp dụng trong phụng sự tạo thành nền tảng thực hành; đọc chậm và suy ngẫm giúp việc học có chiều sâu thay vì chỉ lướt trên bề mặt văn bản.

Trực giác, Chân Thần và Thiên Ý

Ở một vòng xoắn ốc cao hơn, trực giác biểu hiện Tam Nguyên Tinh Thần tam phân và bắt nguồn từ sự sống Chân Thần, mang theo mặc khải về Thiên Ý. Tam Nguyên Tinh Thần được diễn giải là biểu hiện của Chân Thần trên ba cấp độ rung động thấp hơn; mỗi vòng xoắn lặp lại một tương quan nhưng mở ra mức mặc khải cao hơn. Một diễn giải mở rộng liên hệ Chân Thần được giải thoát với phạm vi bao gồm mới trên cõi Thượng đế, thuộc phương diện Cha, Con hoặc Chúa Thánh Thần. Việc tự hỏi “cái tôi nào đang nói?” giúp phân biệt tiếng nói của phàm ngã chí nguyện với tâm thức thực sự an trụ trong linh hồn, điều kiện quyết định hiệu quả tham thiền.

Từ Thiên Cơ đến đời sống do Thiên Ý dẫn dắt

Đệ tử dần học cách hoạt động trong thế giới mặc khải thiêng liêng, còn điểm đạo đồ hoạt động hữu thức trong đó và thấu hiểu Thiên Cơ như sự phản ánh của Thiên Ý nguyên mẫu. Đáp ứng các năng lượng thúc đẩy của dấu hiệu mọc được xem là bước đầu hướng đến mục đích linh hồn và những phạm vi mục đích cao hơn. Dấu hiệu mọc biểu thị tiềm năng có thể thành hiện thực, nhưng không bảo đảm khả năng ấy sẽ thành tựu. Sự tĩnh lặng và nhận biết Đấng Hiện Diện trước các chi tiết tiếp tục được đề xuất như cách đặt đời sống dưới định hướng sâu hơn này.

Ba cõi thấp như mỏ đá xây đền

Đời sống trong ba cõi thấp là biểu hiện méo lệch của kinh nghiệm cao hơn, đồng thời là trường huấn luyện để phát triển tri giác trực giác và năng lực phụng sự Thiên Cơ. Hình ảnh mỏ đá diễn tả quá trình kinh nghiệm thô được mài giũa thành phẩm tính rồi đưa vào Đền Solomon, tức thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã; Manly Hall gọi đó là Đền của Con Người Thái Dương. Tình trạng ngôi đền này cho phép Chân sư xác định điều thích hợp để truyền dạy cho đệ tử. Liên tưởng đến những bức tường đá ghép khít tại Peru dẫn đến nhận định riêng rằng người xưa có năng lực tác động lên trọng lực, nhưng chi tiết này thuộc lời bình.

Vượt qua những ngôi đền và chướng ngại

Mỗi tập hợp năng lượng và vòng-giới-hạn có thể được xem như một ngôi đền để phát triển những phẩm tính nhất định, từ thể nguyên nhân đến các phạm vi rộng lớn hơn của Thái dương Thượng đế. Tuy nhiên, mọi ngôi đền cuối cùng đều phải nhường chỗ cho điều cao hơn; cách suy rộng này còn hình dung cả ngôi đền vũ trụ cũng được vượt qua. Những khó khăn trong trường huấn luyện thấp được đặt bên cạnh lời Chân sư Morya rằng chướng ngại là những khả năng. Câu “càng tệ, càng tốt” biểu thị một cách nhìn thử thách mà tâm thức thông thường chưa dễ tiếp nhận.

Phân biệt ánh sáng linh hồn, trực giác và sự đồng hóa

Chân sư DK xác định mọi phân biệt trong thời gian và không gian đều thuộc đại ảo tưởng, dù vẫn cần thiết và không thể tránh khi thể trí kiểm soát. Đến một giai đoạn, đệ tử sẽ biết mình đang đáp ứng ánh sáng linh hồn hay tri giác trực giác của Tam Nguyên Tinh Thần. Điều thường gọi là tri giác trực giác khi ấy được nhận ra là phản ứng của phàm ngã được soi sáng trước khuynh hướng đồng hóa của Tam Nguyên Tinh Thần. Việc xây dựng antahkarana nghiêm túc được liên hệ với giai đoạn quanh lần điểm đạo thứ hai và khả năng trải nghiệm sự đồng hóa; tuy nhiên, sự dung hợp và sự đồng hóa hoàn toàn không đồng nghĩa.

Xử lý ảo cảm cá nhân

Kỹ Thuật Ánh sáng có thể áp dụng cho ảo cảm cá nhân bằng một phương pháp gần giống công việc tập thể; các bài thiền cá nhân và nhóm đều có trong kho tư liệu Makara. Khi đã nhận ra một ảo cảm, việc xử lý nó cần trở thành thực hành thường xuyên, có thể ngắn gọn hằng ngày, thay vì chỉ tham thiền cho nhân loại hay quốc gia. Ảo cảm thường ẩn kín đến mức người xung quanh nhận ra dễ hơn chính người mang nó; chín ảo cảm thường gặp trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới được nêu như tài liệu để tự khảo sát. Nhiều ảo cảm được suy đoán bắt nguồn từ ảo cảm sợ hãi đã ăn sâu trong vật chất hành tinh, và sự vô úy của con người được mô tả là dấu hiệu bất lợi đối với Hắc đoàn.

Giả thuyết về năm Chân sư trong ashram của Chân sư DK

Chân sư DK cho biết có năm Chân sư làm việc trong ashram của Ngài; theo giả thuyết riêng của Thầy MDR, cấu trúc 2/2 có thể bao gồm năm ashram phụ tương ứng với các cung phụ 3, 4, 5, 6 và 7 dưới sự giám sát của Ngài. Khả năng 2/3 cũng được cân nhắc vì ảnh hưởng cung ba mạnh, tính động và những liên hệ với dấu hiệu Song Tử, bên cạnh dấu hiệu Kim Ngưu. Cung ba ở cấp Chân Thần và sự tập trung vào phương diện Con ở cấp Thượng đế đều được nêu như suy đoán, chưa phải kết luận xác lập. Liên tưởng giữa ashram 2/4 có thể kém phát triển hơn với ngôi sao thứ tư mờ nhất trong Big Dipper thuộc Great Bear cũng chỉ là giả thuyết; việc Chân sư DK có đệ tử cung một được liên hệ với lời Ngài về yếu tố cung một trong bản chất Tam Nguyên Tinh Thần của mình.

Nghi ngờ, sợ hãi và phóng chiếu

Nghi ngờ, tự thương hại và chỉ trích được nêu là ba nguyên nhân chính của ảo cảm; buổi thực hành tập trung vào ảo cảm nghi ngờ. Nghi ngờ trở thành phóng chiếu khi con người quy cho người khác những động cơ hay khuyết điểm chưa được nhận diện trong chính mình, với sợ hãi nằm phía sau. Theo bình luận riêng của Thầy MDR, sự nghi ngờ trong giới lãnh đạo, thói đạo đức giả quanh cuộc bạo loạn tại Điện Capitol và lòng ham quyền lực cho thấy hậu quả của việc rời xa điều thiện, cái đẹp và chân lý. Phàm ngã nổi loạn cũng được mô tả là thường nghi ngờ linh hồn, Thiên Thần của Hiện Diện và những người đại diện cho linh hồn.

Phân biện sự thật và nghi ngờ thường trực

Điều tra sự thật và nhận diện hành vi sai trái bằng chứng cứ khác với khuynh hướng thường trực quy động cơ xấu cho những người đang cố gắng giúp nhân loại. Nghi ngờ kéo dài làm méo lệch thể trí và ăn mòn tâm thức, giống sự ăn mòn kim loại. Việc tìm thấy động cơ chưa hoàn toàn thanh khiết không biện minh cho sự quy kết ác ý tràn lan. Hướng thực hành là khảo sát những cặn lắng trong hào quang và thái độ của chính mình, đồng thời duy trì khả năng phân biện điều thực sự đang xảy ra.

Chuẩn bị nhóm và hợp nhất ba ánh sáng

Bài thiền bắt đầu bằng sự tĩnh lặng, hợp nhất trong chiều kích linh hồn và hướng tới hoạt động như một tâm thức, một sinh mệnh. Thập giá Thiên tính sáng được hình dung tại trán, tim, mắt trái và mắt phải, bảo vệ cả cá nhân lẫn nhóm, cùng sự xác lập vị thế linh hồn làm việc trong ánh sáng và bất động tại điểm ấy. Ánh sáng vật chất và ánh sáng hạ trí được nâng lên cõi trí, hòa với ánh sáng linh hồn thành một ánh sáng duy nhất. Sau đó, nhóm xướng linh từ OM ba lần và xác nhận ánh sáng hợp nhất có khả năng biến bóng tối thành ban ngày.

Chiếu ánh sáng làm tiêu tan ảo cảm nghi ngờ

Luồng đèn pha của nhóm hướng vào cõi cảm dục, nối thế giới bên trong của ý nghĩa với thế giới vi tế của ảo cảm, đồng thời mang xuống ánh sáng và sự thấu hiểu. Ý chí tinh thần tăng cường luồng sáng, rồi ba xác quyết lần lượt hướng tới ngăn ảo cảm nghi ngờ xuất hiện, vô hiệu hóa phẩm tính của nó đối với nhân loại và hủy diệt sự sống duy trì nó. Trong năm phút im lặng với mục đích mãnh liệt, nhóm hình dung luồng sáng xuyên thấu, làm suy yếu và làm tiêu tan ảo cảm, đồng thời tự khảo sát khuynh hướng nghi ngờ của mình. Cuối cùng, luồng sáng được thu hồi, ba ánh sáng được phân phối lại, sự chú ý rời cõi cảm dục và linh từ OM được xướng ba lần, tiếp nối công việc tháo bỏ những màn che thực tại bên trong.

Nghi kỵ, hoang tưởng và những lệch lạc của các cung

Nghi kỵ và hoang tưởng có quan hệ chặt chẽ: sự nghi ngờ làm nền cho niềm tin rằng người khác đang tìm cách hãm hại mình, rồi phát triển thành hoang tưởng. Một cách diễn giải được đề xuất là xem đây như sự vận hành lệch lạc của cung một, tương ứng với lòng tự thương hại ở cung hai và tính chỉ trích ở cung ba.

Quan sát và thanh lọc hào quang

Việc thanh lọc bản thân đòi hỏi sự quan sát tỉnh táo và liên tục, kể cả khi tưởng rằng nhiều khó khăn đã được giải quyết. Những gì còn ẩn ở phần đáy của hào quang cần được đưa ra ánh sáng và làm tiêu tan; tiến trình này giúp mở rộng sự thấu hiểu.

Tiêu hóa trải nghiệm và đào sâu học hỏi

Những trải nghiệm mới cần thời gian để tiêu hóa, áp dụng và suy ngẫm. Cách Francis trình bày tài liệu của Blavatsky và Manly Hall mang lại một góc nhìn lịch sử có giá trị soi sáng cho việc học hỏi. Tinh thần kiên trì được cô đọng trong lời nhắc của Trường Arcane: tiếp tục bền bỉ tiến bước.

Text GAW 181 – Văn bản GAW 181

Glamour: A World Problem — pages 194–195

Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới — trang 194–195

[1] When, therefore, students and aspirants have made progress in soul contact, [2] they have taken one of the first important steps towards the comprehension of light and its uses. [3] They must however be careful not to confuse the light which they can bring to bear on life, circumstance, events, and on environment with the intuition. [4] The light with which we are concerned [5] expresses itself in the three worlds and reveals form and forms, their reaction and effects, their glamour and attractive appeal, and their power to delude and imprison consciousness. [6] The light concerned is soul light, illuminating the mind and bringing about revelation of the world of forms in which that life is immersed.

[1] Do đó, khi các đạo sinh và người chí nguyện đã tiến bộ trong việc tiếp xúc với linh hồn, [2] họ đã thực hiện một trong những bước quan trọng đầu tiên hướng tới việc thấu hiểu ánh sáng và những công dụng của nó. [3] Tuy nhiên, họ phải thận trọng để không nhầm lẫn ánh sáng mà họ có thể dùng để soi chiếu đời sống, hoàn cảnh, sự kiện và môi trường với trực giác. [4] Ánh sáng mà chúng ta đang đề cập đến [5] biểu lộ trong ba cõi giới và làm hiển lộ hình tướng cùng các hình tướng, những phản ứng và tác động của chúng, ảo cảm và sức hấp dẫn lôi cuốn của chúng, cũng như quyền năng gây mê lầm và giam hãm tâm thức của chúng. [6] Ánh sáng đang được đề cập là ánh sáng linh hồn, soi sáng thể trí và làm hiển lộ thế giới hình tướng mà sự sống ấy đang đắm mình trong đó.

[7] The intuition [8] is concerned with nothing whatsoever in the three worlds of human experience [9] but only with the perceptions of the Spiritual Triad and with the world of ideas. [10] The intuition is to the world of meaning what the mind is to the three worlds of experience. [11] It produces understanding just as the light of soul produces knowledge, through the medium of that experience. [12] Knowledge is not a purely mental reaction but is something which is found on all levels and is instinctual in some form in all kingdoms. [13] This is axiomatic. [14] The five senses bring physical plane knowledge; psychic sensitivity brings a knowledge of the astral plane; the mind brings intellectual perception, but all three are aspects of the light of knowledge (coming from the soul) as it informs its vehicles of expression in the vast threefold environment in which it [15] chooses to imprison itself for purposes of development.

[7] Trực giác [8] không liên quan đến bất cứ điều gì trong ba cõi giới kinh nghiệm của con người [9] mà chỉ liên quan đến những nhận thức của Tam Nguyên Tinh Thần và thế giới ý tưởng. [10] Vai trò của trực giác đối với Thế giới của ý nghĩa cũng như vai trò của thể trí đối với ba cõi giới kinh nghiệm. [11] Trực giác tạo ra sự thấu hiểu, cũng như ánh sáng linh hồn tạo ra tri thức thông qua kinh nghiệm ấy. [12] Tri thức không phải là một phản ứng thuần túy trí tuệ mà là điều hiện hữu ở mọi cấp độ và mang tính bản năng dưới một hình thức nào đó trong mọi giới. [13] Đây là một chân lý hiển nhiên. [14] Năm giác quan đem lại tri thức về cõi hồng trần; sự nhạy cảm thông linh đem lại tri thức về cõi cảm dục; thể trí đem lại nhận thức trí năng, nhưng cả ba đều là những phương diện của ánh sáng tri thức (đến từ linh hồn) khi linh hồn thấm nhuần các hiện thể biểu lộ của mình trong môi trường tam phân bao la mà linh hồn [15] chọn để tự giam hãm nhằm mục đích phát triển.

[16] On a higher turn of the spiral, the intuition is the expression of the threefold Spiritual Triad, [17] placing it in relation to the higher levels of divine expression; [18] it is a result of the life of the Monad—[19] an energy which carries revelation of divine purpose. [20] It is in the world of this divine revelation that the disciple learns eventually [21] to work and in which the initiate consciously functions. [22] Of this higher experience, the active life of the three worlds is a distorted expression but constitutes also the training ground in which capacity to live the initiate life of intuitional perception and to serve the Plan is slowly developed. [23] These distinctions (in time and space, because all distinctions are part of the great illusion, [24] though necessary and inevitable when the mind controls) must be carefully considered. [25] Disciples will reach a point in their development where they will know whether they are reacting to the light of the soul or to the intuitional perception of the Triad. [26] They will then come to the point where they will realize that intuitive perception—as they call it—[27] is only the reaction of the illumined personality to the identification tendency of the Triad. [28] But these concepts are beyond the grasp of the average man because fusion and identification are by no means the same.

[16] Trên một vòng xoắn ốc cao hơn, trực giác là sự biểu lộ của Tam Nguyên Tinh Thần tam phân, [17] đưa Tam Nguyên ấy vào mối liên hệ với các cấp độ biểu lộ thiêng liêng cao hơn; [18] trực giác là kết quả của sự sống chân thần—[19] một năng lượng mang lại sự mặc khải về Thiên Ý. [20] Chính trong thế giới của sự mặc khải thiêng liêng này, cuối cùng người đệ tử học cách [21] làm việc, và điểm đạo đồ hoạt động một cách có ý thức trong thế giới ấy. [22] Đời sống hoạt động của ba cõi giới là một biểu hiện méo mó của kinh nghiệm cao siêu này, nhưng cũng tạo thành môi trường rèn luyện, trong đó khả năng sống đời sống của điểm đạo đồ với nhận thức trực giác và phụng sự Thiên Cơ dần dần phát triển. [23] Những sự phân biệt này (trong thời gian và không gian, vì mọi sự phân biệt đều là một phần của ảo tưởng lớn lao, [24] dù chúng là cần thiết và không thể tránh khỏi khi thể trí nắm quyền kiểm soát) cần được xem xét cẩn thận. [25] Các đệ tử sẽ đạt đến một điểm trong sự phát triển của mình, tại đó họ biết mình đang đáp ứng với ánh sáng linh hồn hay với nhận thức trực giác của Tam nguyên tinh thần. [26] Khi ấy, họ sẽ đi đến chỗ nhận ra rằng nhận thức trực giác—theo cách họ gọi—[27] chỉ là phản ứng của phàm ngã được soi sáng đối với xu hướng đồng hoá của Tam nguyên tinh thần. [28] Nhưng những khái niệm này vượt ngoài khả năng lĩnh hội của người bình thường, vì sự dung hợp và sự đồng hoá hoàn toàn không phải là một.

Glamour Webinar 181 – Webinar Ảo Cảm 181

Michael D. Robbins • Glamour: A World Problem • Book pages 194–195

Michael D. Robbins • Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới • Trang sách 194–195

Hi, everybody, and welcome to our program 181 or something like that.

Xin chào tất cả các bạn, chào mừng đến với chương trình 181 của chúng ta, hoặc khoảng số đó.

Welcome everybody. Today, we're going to meditate on getting rid of the glamour of suspicion, and I guess all of us who have been studying the current situation will know why we want to do that. Suspicion, along with self-pity and criticism, are considered to be the three main causes of glamour.

Chào mừng tất cả các bạn. Hôm nay, chúng ta sẽ tham thiền để loại bỏ ảo cảm nghi ngờ, và tôi nghĩ tất cả những ai đang nghiên cứu tình hình hiện nay đều hiểu vì sao chúng ta muốn làm điều đó. Nghi ngờ, cùng với tự thương hại và chỉ trích, được xem là ba nguyên nhân chính của ảo cảm.

Last time when we worked together, we looked at the Technique of the Presence, which is used to dispel illusion. In a way, it is the highest of the techniques and tells us how the Masters use the mind because normally they use something much higher, but in order to connect with us, they use something that can reach us more easily. Then we examined the Technique of Light, and that's the one we focus on mostly because it has to do with soul power and with the ajna center and with the power of illumination. It's very useful in relation to the astral plane, just the way the Technique of the Presence is useful in relation to the mental plane, and then the Technique of Indifference. It renders ineffective or neutralizes the hold of substance—I guess etheric physical—over the Life or Spirit functioning in the three worlds. For soul is the evidence of life.

Lần trước khi cùng làm việc, chúng ta đã xem xét Kỹ Thuật của Hiện Diện, dùng để xua tan ảo tưởng. Theo một nghĩa nào đó, đây là kỹ thuật cao nhất, chỉ cho chúng ta cách các Chân sư sử dụng thể trí, vì thông thường Các Ngài sử dụng một điều gì đó cao hơn nhiều; nhưng để kết nối với chúng ta, Các Ngài dùng một điều có thể tiếp cận chúng ta dễ dàng hơn. Sau đó, chúng ta xem xét Kỹ Thuật Ánh sáng, và đây là kỹ thuật chúng ta tập trung vào nhiều nhất, vì nó liên quan đến quyền năng linh hồn, trung tâm ajna và quyền năng soi sáng. Kỹ thuật này rất hữu ích đối với cõi cảm dục, cũng như Kỹ Thuật của Hiện Diện hữu ích đối với cõi trí; rồi đến Kỹ Thuật Điềm Nhiên. Kỹ thuật này làm mất hiệu lực hoặc trung hòa sự kìm giữ của chất liệu—tôi nghĩ là chất liệu dĩ thái hồng trần—đối với Sự Sống hay Tinh Thần đang hoạt động trong ba cõi giới. Vì linh hồn là bằng chứng của sự sống.

Interestingly, we have to meditate on this: we don't use the word Faith; we use the word light. Light is the substance of things hoped for, the evidence of things not seen. We're always entering into a new light at a new point of tension. Every new point of tension rising on the rungs of the ladder of evolution is a point of revelation—of added revelation. We can enter into higher and higher lights. The great Absoluteness, which is the One and only Ultimate Reality, doesn't have light and dark connected with it. It doesn't have those qualities; it just IS, and it is forever. As the old Vedantists would tell us, Thou art That. They go beyond this arena of self-perception that we call the universe into something that is truly real. A universe is still a finite, mayavic illusion, and we have to dwell upon those things.

Điều thú vị là chúng ta phải tham thiền về điều này: chúng ta không dùng từ Đức Tin; chúng ta dùng từ ánh sáng. Ánh sáng là chất liệu của những điều được hy vọng, là bằng chứng của những điều chưa thấy. Chúng ta luôn bước vào một ánh sáng mới tại một điểm tập trung nhất tâm mới. Mỗi điểm tập trung nhất tâm mới, khi vươn lên trên các bậc thang tiến hoá, đều là một điểm mặc khải—một sự mặc khải được bổ sung. Chúng ta có thể bước vào những ánh sáng ngày càng cao hơn. Tính Tuyệt Đối vĩ đại, vốn là Thực Tại Tối Hậu duy nhất, không gắn với ánh sáng và bóng tối. Nó không có những phẩm tính ấy; nó chỉ HIỆN HỮU, và hiện hữu mãi mãi. Như các nhà hiền triết Vedanta xưa từng nói với chúng ta: Ngươi là Cái Đó. Họ vượt khỏi phạm vi tự tri giác mà chúng ta gọi là vũ trụ này, để đi vào một điều thực sự chân thật. Một vũ trụ vẫn là một ảo tưởng hữu hạn mang tính ảo lực, và chúng ta phải suy ngẫm về những điều ấy.

Yesterday, in Identify as Being, I gave some little mantric formulas which I thought were very much to the point. They had to do with Stillness of the Heart—not the beating of the heart, which is timed and also mayavic, but the stillness of the heart which is filled with Life essence. I said these words: Is-ness first. Just two words. Isness first. That is, before you do anything with the form that you are going to seek to examine, find the Isness of the form. It's a lot like saying, Being first, Reality first, Substantiality first. They are first things, and we need to find a way to detect that.

Hôm qua, trong chương trình Đồng Hoá Với Bản Thể, tôi đã đưa ra vài công thức mantram ngắn mà tôi cho là rất đúng trọng tâm. Chúng liên quan đến Sự Tĩnh Lặng của Trái Tim—không phải nhịp đập của tim, vốn chịu sự chi phối của thời gian và cũng mang tính ảo lực, mà là sự tĩnh lặng của trái tim tràn đầy tinh tuý Sự Sống. Tôi đã nói những lời này: Hiện hữu trước. Chỉ vài từ thôi. Hiện hữu trước. Nghĩa là, trước khi làm bất cứ điều gì với hình tướng mà các bạn định khảo sát, hãy tìm ra tính hiện hữu của hình tướng ấy. Điều này rất giống như nói: Bản Thể trước, Thực Tại trước, Thực Chất trước. Đó là những điều có trước, và chúng ta cần tìm cách nhận biết điều ấy.

I've been working on this a lot today, and I realized it's powerful if it works correctly, because it rescues you from captivation by differentiation. Most of us are captive of mayavic differentiation. The form has captured us, and all of its differences and limitations, and we're stuck. But if we can find the Isness before we start investigating the form, something happens in the life principle which is found in the heart center. So it requires practice.

Hôm nay tôi đã thực hành điều này rất nhiều, và tôi nhận ra rằng nó có sức mạnh nếu vận hành đúng, vì nó giải thoát các bạn khỏi sự mê hoặc của biến phân. Phần lớn chúng ta đều bị giam giữ trong sự biến phân mang tính ảo lực. Hình tướng đã bắt giữ chúng ta, cùng tất cả những khác biệt và giới hạn của nó, và chúng ta mắc kẹt. Nhưng nếu có thể tìm ra tính hiện hữu trước khi bắt đầu khảo sát hình tướng, thì một điều gì đó sẽ xảy ra trong nguyên khí sự sống nơi trung tâm tim. Vì vậy, điều này đòi hỏi thực hành.

We apparently ended this couple of weeks ago, and we're on page 194. This is the 30th of July. I'll keep going here for a little while. You can take notes, or see what it is you might like to discuss or mention. My method is not as complex or cumbersome as it was before. I'm just allowing myself to dilate a bit between DK's sentences if I feel moved, but I think you will not have any difficulty in determining what DK said compared to what I'm trying to offer.

Dường như chúng ta đã dừng ở đây cách nay vài tuần, và hiện đang ở trang 194. Hôm nay là ngày 30 tháng Bảy. Tôi sẽ tiếp tục ở đây thêm một lúc. Các bạn có thể ghi chú, hoặc xem có điều gì mình muốn thảo luận hay nêu ra. Phương pháp của tôi không còn phức tạp hay cồng kềnh như trước. Tôi chỉ cho phép mình diễn giải thêm đôi chút giữa các câu của Chân sư DK khi thấy có cảm hứng, nhưng tôi nghĩ các bạn sẽ không gặp khó khăn khi phân biệt lời Chân sư DK với những điều tôi đang cố gắng trình bày.

Three great techniques are discussed in Glamour: A World Problem, and we have to learn to use all three. Every one of those words is a generic word. Illusion is generic and covers all three. Glamour is generic and covers all three. Maya is generic and covers all three. But DK gives us the specifications of how those different areas have to be cleaned up.

Ba kỹ thuật lớn được bàn đến trong Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, và chúng ta phải học cách sử dụng cả ba. Mỗi từ trong số những từ ấy đều mang nghĩa bao quát. Ảo tưởng mang nghĩa bao quát và bao gồm cả ba. Ảo cảm mang nghĩa bao quát và bao gồm cả ba. Ảo lực mang nghĩa bao quát và bao gồm cả ba. Nhưng Chân sư DK cho chúng ta những chỉ dẫn cụ thể về cách thanh lọc từng lĩnh vực khác nhau ấy.

Many of us may be Chelas in the light, and every now and then a superior disciple on the inner planes makes a report to the Master concerning how we're doing. Eventually we become truly accepted disciples, and we move on from there to the still higher points of tension: the Chela on the thread, and Chela in the Master's Aura—definitely a third degree initiate by that time. Then Chela within the Master's Heart, offering the possibility of the fourth initiation, and then something he doesn't really mention much about is the Blending of the Lights, the seventh stage of discipleship, where the Chela has become a Master himself.

Nhiều người trong chúng ta có thể là những Đệ tử trong ánh sáng, và thỉnh thoảng một đệ tử cao cấp hơn trên các cõi bên trong sẽ báo cáo với Chân sư về tình hình tiến triển của chúng ta. Cuối cùng, chúng ta thực sự trở thành những đệ tử được chấp nhận, rồi từ đó tiến đến những điểm tập trung nhất tâm còn cao hơn: Đệ tử trên đường dây và Đệ tử trong Hào quang của Chân sư—đến lúc ấy chắc chắn đã là một điểm đạo đồ bậc ba. Rồi đến Đệ tử trong Trái tim của Chân sư, mở ra khả năng đạt lần điểm đạo thứ tư; và sau đó là điều Ngài thực sự không đề cập nhiều: Sự Hoà Trộn các Ánh Sáng, giai đoạn thứ bảy của địa vị đệ tử, khi chính người đệ tử đã trở thành một Chân sư.

Master DK says he has five masters working in his ashram. If he was positioned within the ashram two-two, and then he counted downward—three, four, five, six, seven—that would make sense. But we just don't know for sure. We do know that Master Kuthumi, the Chohan of the second ray ashram, contains all of that. Whatever Master DK has as Ashram, whatever other masters have as still more subsidiary Ashram, they are all contained by Master Kuthumi, who is, in a way, like all the other great Chohans, contained by the Christ, who is contained by Sanat Kumara, who is contained by the fullness of the Planetary Logos, who is contained by the fullness of the Solar Logos, and on it goes.

Chân sư DK nói rằng có năm Chân sư đang làm việc trong ashram của Ngài. Nếu Ngài ở vị trí hai-hai trong ashram, rồi đếm xuống—ba, bốn, năm, sáu, bảy—thì điều đó có lý. Nhưng chúng ta thực sự không biết chắc. Chúng ta biết rằng Chân sư Kuthumi, Đấng Chohan của ashram cung hai, bao hàm tất cả những điều ấy. Dù ashram của Chân sư DK là gì, dù các Chân sư khác có những ashram phụ thuộc ở cấp thấp hơn nữa, tất cả đều nằm trong Chân sư Kuthumi; theo một nghĩa nào đó, cũng như tất cả các Đấng Chohan vĩ đại khác, Ngài nằm trong Đức Christ, Đức Christ nằm trong Sanat Kumara, Sanat Kumara nằm trong sự viên mãn của Hành Tinh Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế nằm trong sự viên mãn của Thái dương Thượng đế, và cứ tiếp tục như vậy.

We live in a very expansive universal situation until we rediscover what we really are. We don't settle for mistaken identity such as all of us really do. But we'll be done with that big mistake before long, and will melt away or dissolve away or do something with these false rings-pass-not.

Chúng ta sống trong một hoàn cảnh vũ trụ vô cùng rộng mở cho đến khi tái khám phá mình thực sự là gì. Chúng ta không chấp nhận sự nhận lầm bản sắc như tất cả chúng ta thực sự vẫn đang làm. Nhưng chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ chấm dứt sai lầm lớn ấy, và sẽ làm tan biến, giải thể hoặc làm một điều gì đó với những vòng-giới-hạn giả tạo này.

Just a little background there, and going on a bit because we'll read first and then have a chance for some questions or statements or whatever, and then get into a meditation on the glamour of suspicion.

Đó là đôi chút bối cảnh, và tôi nói thêm một chút vì trước hết chúng ta sẽ đọc, rồi có cơ hội đặt câu hỏi, phát biểu hay trao đổi, sau đó mới bước vào bài tham thiền về ảo cảm nghi ngờ.

[1] When, therefore, students and aspirants have made progress in soul contact,

[1] Do đó, khi các đạo sinh và người chí nguyện đã tiến bộ trong việc tiếp xúc với linh hồn,

I would ask, have we really done so? Maybe, when you think back over this incarnation, you will notice there has been some progress. Let's hope so. So repeating there what Master DK says.

Tôi muốn hỏi: chúng ta đã thực sự làm được như vậy chưa? Có lẽ khi nhìn lại kiếp sống này, các bạn sẽ nhận thấy đã có một ít tiến bộ. Hy vọng là vậy. Tôi xin nhắc lại lời Chân sư DK.

When, therefore, students and aspirants

Vì vậy, khi các đạo sinh và những người chí nguyện

He distinguishes between the two. Not every student is a true aspirant.

Ngài phân biệt hai nhóm này. Không phải mọi đạo sinh đều là người chí nguyện chân chính.

When, therefore, students and aspirants have made progress in soul contact,

Vì vậy, khi các đạo sinh và những người chí nguyện đã tiến bộ trong việc tiếp xúc với linh hồn,

[2] they have taken one of the first important steps towards the comprehension of light and its uses.

[2] họ đã thực hiện một trong những bước quan trọng đầu tiên hướng tới việc thấu hiểu ánh sáng và những công dụng của nó.

The scientists whom DK says are the real occultists are penetrating into the mysteries of light, but their understanding of light is still very limited, because there are all of these different lights into which the progressing consciousness can enter at ever higher points of tension. For instance, he is telling that man, that Jesuit priest, that the meditation he's giving him will help with his problem and service "until such time as you enter into that light wherein consciousness awakens, free from the bonds of flesh".

Các nhà khoa học mà Chân sư DK gọi là những nhà huyền bí học thực sự đang thâm nhập vào những bí nhiệm của ánh sáng, nhưng sự thấu hiểu ánh sáng của họ vẫn còn rất hạn chế, vì có tất cả những ánh sáng khác nhau này mà tâm thức đang tiến bộ có thể bước vào tại những điểm tập trung nhất tâm ngày càng cao hơn. Chẳng hạn, Ngài nói với người đàn ông ấy, vị linh mục Dòng Tên ấy, rằng bài thiền Ngài trao cho ông sẽ giúp giải quyết vấn đề và công việc phụng sự của ông, “cho đến khi em bước vào ánh sáng ấy, nơi tâm thức thức tỉnh, thoát khỏi những ràng buộc của xác thịt”.

How much does contemporary science, as advanced as it may be, know about that type of light, and still higher lights? There are so many mysteries in relation to the solar system in which we live, and the ever more inclusive containers—cosmic, super cosmic, and so forth. We're just on the edge of being acquainted with some of these things, and we have to proceed patiently, I guess I would have to say.

Khoa học đương đại, dù có thể tiến bộ đến đâu, biết được bao nhiêu về loại ánh sáng ấy và những ánh sáng còn cao hơn? Có rất nhiều bí nhiệm liên quan đến hệ mặt trời mà chúng ta đang sống, và những hệ thống bao chứa ngày càng rộng lớn hơn—vũ trụ, siêu vũ trụ, vân vân. Chúng ta chỉ mới ở ngưỡng cửa làm quen với một số điều ấy, và tôi nghĩ phải nói rằng chúng ta cần tiến bước một cách kiên nhẫn.

the comprehension of light and its uses.

việc lĩnh hội ánh sáng và những công dụng của nó.

We have to become light bearers. The second ray is called the ray of light bearing influence. Every ray has its own type of light, but the most luminous from the point of view of the human soul is the second ray. From the point of view of the ray Lord, the most luminous ray Lord is the fifth.

Chúng ta phải trở thành những người mang ánh sáng. Cung hai được gọi là cung của ảnh hưởng mang ánh sáng. Mỗi cung đều có loại ánh sáng riêng, nhưng xét từ quan điểm của linh hồn con người, cung hai là cung sáng chói nhất. Xét từ quan điểm của các Đấng Chúa Tể cung, Đấng Chúa Tể cung sáng chói nhất là Đấng Chúa Tể Cung năm.

The mysteries of light lie ahead of us in terms of our comprehension. Going on with DK.

Những bí nhiệm của ánh sáng vẫn còn ở phía trước khả năng lĩnh hội của chúng ta. Tiếp tục với Chân sư DK.

[3] They must however be careful not to confuse the light which they can bring to bear on life, circumstance, events, and on environment with the intuition.

[3] Tuy nhiên, họ phải thận trọng để không nhầm lẫn ánh sáng mà họ có thể dùng để soi chiếu đời sống, hoàn cảnh, sự kiện và môi trường với trực giác.

That's a very thought-provoking statement, isn't it? Light and intuition have such a close connection, but we're talking about life and circumstance and events, and normal environments. The question becomes: where does the intuition really function?

Đó là một phát biểu rất đáng suy ngẫm, phải không? Ánh sáng và trực giác có mối liên hệ rất mật thiết, nhưng ở đây chúng ta đang nói về đời sống, hoàn cảnh, sự kiện và những môi trường thông thường. Câu hỏi đặt ra là: trực giác thực sự hoạt động ở đâu?

Does the intuition function in relation to our common environment, or on what level does it function? Let's continue with Djwhal Khul.

Trực giác có hoạt động trong mối liên hệ với môi trường thông thường của chúng ta không, hay nó hoạt động ở cấp độ nào? Hãy tiếp tục với Chân sư Djwhal Khul.

[4] The light with which we are concerned

[4] Ánh sáng mà chúng ta đang đề cập đến

That's a hint. Of course, there are other types of light with which we are not concerned at this time.

Đó là một gợi ý. Dĩ nhiên, còn có những loại ánh sáng khác mà lúc này chúng ta chưa đề cập.

The light with which we are concerned

Ánh sáng mà chúng ta đang đề cập

[5] expresses itself in the three worlds and reveals form and forms, their reaction and effects, their glamour and attractive appeal, and their power to delude and imprison consciousness.

[5] biểu lộ trong ba cõi giới và làm hiển lộ hình tướng cùng các hình tướng, những phản ứng và tác động của chúng, ảo cảm và sức hấp dẫn lôi cuốn của chúng, cũng như quyền năng gây mê lầm và giam hãm tâm thức của chúng.

Now, that's one form of light.

Đó là một dạng ánh sáng.

[6] The light concerned is soul light, illuminating the mind and bringing about revelation of the world of forms in which that life is immersed.

[6] Ánh sáng đang được đề cập là ánh sáng linh hồn, soi sáng thể trí và làm hiển lộ thế giới hình tướng mà sự sống ấy đang đắm mình trong đó.

There is a kind of light that deals with the revelation of the nature of form. This is maybe the light that we use the most. It is a light that we can maybe understand, and it clarifies the factors that we call personality.

Có một loại ánh sáng liên quan đến sự mặc khải bản chất của hình tướng. Có lẽ đây là ánh sáng mà chúng ta sử dụng nhiều nhất. Đó là một ánh sáng mà có lẽ chúng ta có thể thấu hiểu, và nó làm sáng tỏ những yếu tố mà chúng ta gọi là phàm ngã.

But going on with Djwhal Khul.

Nhưng hãy tiếp tục với Chân sư Djwhal Khul.

[7] The intuition

[7] Trực giác

This is a big statement, really big statement.

Đây là một phát biểu có tầm quan trọng rất lớn.

The intuition

Trực giác

[8] is concerned with nothing whatsoever in the three worlds of human experience

[8] không liên quan đến bất cứ điều gì trong ba cõi giới kinh nghiệm của con người

Right there, even if we stopped right there, that's a shocker, compared with how we usually use the term intuition. I've got this intuition about this and that, and we apply it to ordinary life circumstance, but apparently not.

Ngay ở đó, dù chỉ dừng lại ngay ở đó, điều ấy cũng đã gây sửng sốt so với cách chúng ta thường dùng từ trực giác. Tôi có trực giác về điều này, điều kia, và chúng ta áp dụng nó vào những hoàn cảnh đời sống thông thường, nhưng dường như không phải vậy.

The intuition is concerned with nothing whatsoever in the three worlds of human experience

Trực giác hoàn toàn không liên quan đến bất cứ điều gì trong ba cõi giới kinh nghiệm của con người

[9] but only with the perceptions of the Spiritual Triad and with the world of ideas.

[9] mà chỉ liên quan đến những nhận thức của Tam Nguyên Tinh Thần và thế giới ý tưởng.

Where does that world of ideas really begin? It's within the realm of the Triad, and not even within the realm of the soul, as a center upon the higher mental plane. There we have something that we really have to ponder: I wonder, what are the perceptions of the Spiritual Triad? When our consciousness is infused with Triadal energy, what are we perceiving? We are perceiving, I think, something—some little vestige, some little aspects of the mind of God, our Planetary Logos; the love of God, our Planetary Logos; the will of God, our Planetary Logos—some elevated perspective that has to do with how the will, the love, and mind of the Planetary Logos operates on the cosmic physical plane, or we can call it the cosmic etheric physical plane, which is our main map, because even the great masters and Chohans, and even the Christ, have not really stabilized themselves beyond that level.

Thế giới ý tưởng ấy thực sự bắt đầu từ đâu? Nó nằm trong phạm vi của Tam Nguyên Tinh Thần, thậm chí không nằm trong phạm vi của linh hồn như một trung tâm trên cõi thượng trí. Ở đây có điều chúng ta thực sự phải suy ngẫm: tôi tự hỏi, những tri giác của Tam Nguyên Tinh Thần là gì? Khi tâm thức chúng ta được năng lượng Tam Nguyên Tinh Thần thấm nhuần, chúng ta đang tri giác điều gì? Tôi nghĩ chúng ta đang tri giác một điều gì đó—một dấu vết nhỏ, vài phương diện nhỏ của Trí Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta; tình thương của Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta; ý chí của Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta—một góc nhìn cao hơn liên quan đến cách ý chí, tình thương và trí tuệ của Hành Tinh Thượng đế hoạt động trên cõi hồng trần vũ trụ, hay chúng ta có thể gọi là cõi dĩ thái hồng trần vũ trụ, vốn là bản đồ chính của chúng ta, vì ngay cả các Chân sư và các Đấng Chohan vĩ đại, ngay cả Đức Christ, cũng chưa thực sự an trụ vững vàng vượt ngoài cấp độ ấy.

Now, here's an analogy. Let's see if it brings any light to the consciousness.

Đây là một phép tương đồng. Hãy xem nó có đem chút ánh sáng nào đến tâm thức hay không.

[10] The intuition is to the world of meaning what the mind is to the three worlds of experience.

[10] Vai trò của trực giác đối với Thế giới của ý nghĩa cũng như vai trò của thể trí đối với ba cõi giới kinh nghiệm.

We're dealing with opposites in a way, or with two factors, one of which is elevated above the other. The World of Meaning is particularly found in relation to the soul or to the Angel of the Presence, and then the three worlds of experience are below that world of the soul. The intuition is coming from the World of Significance. What does it signify? What does the Triadal perspective signify? It signifies true essence or the very heart of the monad. It points in that direction. It is a derivation of the three aspects of the monad.

Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đang đề cập đến những mặt đối lập, hay hai yếu tố mà một yếu tố cao hơn yếu tố kia. Thế giới của ý nghĩa đặc biệt gắn với linh hồn hay Thiên Thần của Hiện Diện, còn ba cõi giới kinh nghiệm nằm bên dưới thế giới linh hồn ấy. Trực giác đến từ Thế giới của thâm nghĩa. Nó biểu thị điều gì? Góc nhìn của Tam Nguyên Tinh Thần biểu thị điều gì? Nó biểu thị tinh tuý chân thật hay chính tâm điểm của chân thần. Nó chỉ về hướng ấy. Nó phát sinh từ ba phương diện của chân thần.

This intuition—what does he say here?

Trực giác này—ở đây Ngài nói gì?

[11] It produces understanding just as the light of soul produces knowledge, through the medium of that experience.

[11] Trực giác tạo ra sự thấu hiểu, cũng như ánh sáng linh hồn tạo ra tri thức thông qua kinh nghiệm ấy.

He deals with understanding at the beginning of this book, and it has to do with the usual kind of statement: standing beneath, standing within. Knowledge is different from understanding, and knowledge is different from wisdom.

Ngài bàn đến sự thấu hiểu ở đầu cuốn sách này, và điều đó liên quan đến cách diễn đạt quen thuộc: đứng bên dưới, đứng bên trong. Tri thức khác với sự thấu hiểu, và tri thức khác với minh triết.

Knowledge is more superficial than either understanding or wisdom. Understanding and wisdom go together.

Tri thức hời hợt hơn cả sự thấu hiểu lẫn minh triết. Sự thấu hiểu và minh triết đi đôi với nhau.

But here is a nice analogy that can really be pondered.

Nhưng đây là một phép tương đồng hay mà chúng ta thực sự có thể suy ngẫm.

Intuition is to the world of meaning that is within the soul on its own plane, what the mind is to the three worlds of experience.

Trực giác đối với thế giới của ý nghĩa tức là thế giới nằm trong linh hồn trên cõi riêng của linh hồn, cũng như thể trí đối với ba cõi giới kinh nghiệm.

Somehow, the higher is capable of interpreting the lower.

Bằng một cách nào đó, cái cao hơn có khả năng diễn giải cái thấp hơn.

The intuition produces understanding, just as the light of soul produces knowledge, through the medium of that experience

Trực giác tạo ra sự thấu hiểu, cũng như ánh sáng linh hồn tạo ra tri thức thông qua kinh nghiệm ấy

Right there, we should pause and ask: Do we know how to be substantial to whatever we perceive? Do we know how to stand under and be connected and yet detached from what we perceive? If you find yourself as the very source of the perceptions that you have, and that they arise out of what you really are, then you're achieving some degree of understanding. When you understand, there's the factor of identification which is promoted.

Ngay tại đây, chúng ta nên dừng lại và hỏi: chúng ta có biết cách làm nền tảng thực chất cho bất cứ điều gì mình tri giác không? Chúng ta có biết cách đứng bên dưới, kết nối mà vẫn tách rời khỏi điều mình tri giác không? Nếu các bạn nhận thấy mình chính là nguồn của những tri giác mình có, và chúng phát sinh từ điều các bạn thực sự là, thì các bạn đang đạt đến một mức độ thấu hiểu nào đó. Khi thấu hiểu, yếu tố đồng hoá được thúc đẩy.

I think he said to Roberto Assagioli, a KH's disciple who was helping the Tibetan, that his understanding was rare. When you begin to really realize that anything going on in someone else, you are somehow familiar with, because it has happened with you, the experience is not just that you sit in judgment, but that you have a heart understanding or a loving understanding, because this is a familiar experience.

Tôi nghĩ Ngài đã nói với Roberto Assagioli, một đệ tử của Chân sư KH đang trợ giúp Chân sư Tây Tạng, rằng sự thấu hiểu của ông là hiếm có. Khi các bạn bắt đầu thực sự nhận ra rằng bất cứ điều gì diễn ra nơi người khác, bằng cách nào đó mình đều quen thuộc, vì nó đã từng xảy ra với mình, thì kinh nghiệm ấy không chỉ là ngồi phán xét, mà là có sự thấu hiểu bằng trái tim, một sự thấu hiểu đầy tình thương, vì đây là một kinh nghiệm quen thuộc.

At least members of the New Group of World Servers should have that attitude or realization, for those who are passing through the first degree and second degree, because such members have been there, done that. We can imagine that Christ, as the great Initiator of the first degrees, has a profound understanding of the candidate who stands before him in the causal body basically, which is, in a way, the Temple of initiation.

Ít nhất, các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nên có thái độ hay sự nhận biết ấy đối với những người đang trải qua bậc một và bậc hai, vì các thành viên ấy đã từng trải qua những điều đó. Chúng ta có thể hình dung rằng Đức Christ, với tư cách Đấng Điểm đạo vĩ đại của những bậc đầu tiên, có sự thấu hiểu sâu sắc đối với ứng viên đứng trước Ngài, về cơ bản là trong thể nguyên nhân, vốn theo một nghĩa nào đó là Đền Thờ điểm đạo.

It's so different to sit in judgment over someone and contrast that with true heart understanding. There's some kind of intimacy in understanding, even the understanding of those whose behaviour we find destructive and very repulsive, not to be followed, to be shunned, etc. We, even there, recognize in them something that is in ourselves.

Ngồi phán xét một người khác xa với sự thấu hiểu chân thật bằng trái tim. Có một sự gần gũi nào đó trong sự thấu hiểu, kể cả khi thấu hiểu những người có hành vi mà chúng ta thấy là phá hoại và hết sức đáng ghê sợ, không nên noi theo, cần tránh xa, vân vân. Ngay cả ở đó, chúng ta vẫn nhận ra nơi họ một điều gì đó có trong chính mình.

I think that's where the major problem is coming in these days with the younger souls which have now incarnated in the United States and other countries too. They just haven't been through enough. They have had a shorter term of evolutionary development, and they just don't understand, but they certainly do judge. The whole January 6 Insurrection was the result of great misunderstanding.

Tôi nghĩ đó là nơi vấn đề lớn đang nảy sinh ngày nay với những linh hồn trẻ hơn hiện đã lâm phàm tại Hoa Kỳ và cả những quốc gia khác. Họ đơn giản là chưa trải nghiệm đủ. Họ có thời gian phát triển tiến hoá ngắn hơn, và họ thực sự không thấu hiểu, nhưng chắc chắn lại phán xét. Toàn bộ cuộc nổi dậy ngày 6 tháng Một là kết quả của sự thiếu thấu hiểu nghiêm trọng.

Some of you saw the four—let's call them heroic defenders—police officers who put their lives on the line protecting senators and members of the House of Representatives, and were rewarded by some of them with an inconceivable disrespect and fabrication. We've got to get rid of this selfishness, which is a great danger to humanity at this time.

Một số các bạn đã thấy bốn sĩ quan cảnh sát—hãy gọi họ là những người bảo vệ anh hùng—đã liều mạng bảo vệ các thượng nghị sĩ và thành viên Hạ viện, rồi nhận lại từ một số người trong số ấy sự thiếu tôn trọng và những điều bịa đặt không thể tưởng tượng nổi. Chúng ta phải loại bỏ tính ích kỷ này, vốn là một mối nguy lớn đối với nhân loại vào lúc này.

[12] Knowledge is not a purely mental reaction but is something which is found on all levels and is instinctual in some form in all kingdoms.

[12] Tri thức không phải là một phản ứng thuần túy trí tuệ mà là điều hiện hữu ở mọi cấp độ và mang tính bản năng dưới một hình thức nào đó trong mọi giới.

The lower kingdoms don't know they have knowledge. They don't have self-consciousness yet, but they do have knowledge. When I watched my third ray cat opening closed doors by jumping and taking in her paws the handle to those doors and waiting until we are away to do that, that's knowledge, and she has it. Our nice second ray cat doesn't have that yet; he just waits for the door to be opened for him.

Các giới thấp không biết rằng mình có tri thức. Chúng chưa có ngã thức, nhưng chúng có tri thức. Khi tôi quan sát con mèo cái cung ba của mình mở những cánh cửa đang đóng bằng cách nhảy lên, dùng chân trước nắm lấy tay nắm cửa, và chờ đến khi chúng tôi đi vắng mới làm việc ấy, thì đó là tri thức, và nó có tri thức ấy. Con mèo đực cung hai hiền lành của chúng tôi chưa có điều đó; nó chỉ đợi có người mở cửa cho mình.

There's a lot of instinctual knowledge even in an atom of substance. Whether an atom will combine with another or will not is a factor of some kind of very deeply immersed type of knowledge, deeply immersed in the very matter of things.

Ngay cả trong một nguyên tử chất liệu cũng có rất nhiều tri thức bản năng. Việc một nguyên tử có kết hợp với một nguyên tử khác hay không là một yếu tố của một loại tri thức chìm sâu nào đó, chìm rất sâu trong chính vật chất của vạn vật.

Knowledge is not, as DK says, a purely mental reaction, but it's something found on all levels and is instinctual in some form in all kingdoms, even those lower ones without self-consciousness.

Như Chân sư DK nói, tri thức không phải là một phản ứng thuần tuý trí tuệ, mà là điều hiện diện trên mọi cấp độ và mang tính bản năng dưới một hình thức nào đó trong mọi giới, kể cả những giới thấp chưa có ngã thức.

[13] This is axiomatic.

[13] Đây là một chân lý hiển nhiên.

Meaning that you use it as an abiding principle which is an axiom, which is self evident, which is always true. He goes on to say,

Nghĩa là các bạn dùng điều này như một nguyên lý bền vững, một tiên đề, một điều tự hiển nhiên và luôn đúng. Ngài nói tiếp,

[14] The five senses bring physical plane knowledge; psychic sensitivity brings a knowledge of the astral plane; the mind brings intellectual perception, but all three are aspects of the light of knowledge (coming from the soul) as it informs its vehicles of expression in the vast threefold environment in which it

[14] Năm giác quan đem lại tri thức về cõi hồng trần; sự nhạy cảm thông linh đem lại tri thức về cõi cảm dục; thể trí đem lại nhận thức trí năng, nhưng cả ba đều là những phương diện của ánh sáng tri thức (đến từ linh hồn) khi linh hồn thấm nhuần các hiện thể biểu lộ của mình trong môi trường tam phân bao la mà linh hồn

I.e., the soul.

Tức là linh hồn.

[15] chooses to imprison itself for purposes of development.

[15] chọn để tự giam hãm nhằm mục đích phát triển.

Development, I guess, of the kind that makes it possible for the soul, its consciousness, to handle those lower worlds in a goal-fit Plan-oriented manner means that within the world of the personality, all kinds of knowledges are possible, and beyond all as well, all kinds of knowledges are possible. But the real wisdom and the real loving understanding has to be built up out of that knowledge, and that's not necessarily a foregone conclusion that will happen immediately. We have to work at it.

Tôi nghĩ sự phát triển ở đây là loại phát triển giúp linh hồn, tâm thức của linh hồn, có khả năng xử lý các cõi thấp ấy theo cách phù hợp với mục tiêu và hướng đến Thiên Cơ; điều này có nghĩa là trong thế giới phàm ngã, mọi loại tri thức đều có thể có, và vượt ngoài tất cả những điều ấy cũng vậy, mọi loại tri thức đều có thể có. Nhưng minh triết chân thật và sự thấu hiểu đầy tình thương chân thật phải được xây dựng từ tri thức ấy, và điều đó không nhất thiết sẽ đương nhiên xảy ra ngay lập tức. Chúng ta phải nỗ lực thực hiện.

I guess, may I say that all of us are getting the idea that advancement on the path of Occultism means work. One of the last things that Master DK said as he was ending his instructions was "Work my brothers." That's very simple, and then we have the choice as to whether to work in a constructive manner or whether to slide along and not spend our energy in the right way for real individual and group advancements.

Tôi nghĩ có thể nói rằng tất cả chúng ta đều đang hiểu ra: tiến bước trên con đường huyền bí học có nghĩa là làm việc. Một trong những lời cuối cùng Chân sư DK nói khi kết thúc các huấn thị là: “Hãy làm việc, các huynh đệ của Tôi.” Điều ấy rất đơn giản, rồi chúng ta có quyền lựa chọn làm việc theo cách xây dựng, hay cứ trôi đi và không sử dụng năng lượng đúng cách để đạt tiến bộ thực sự cho cá nhân và nhóm.

[16] On a higher turn of the spiral, the intuition is the expression of the threefold Spiritual Triad,

[16] Trên một vòng xoắn ốc cao hơn, trực giác là sự biểu lộ của Tam Nguyên Tinh Thần tam phân,

Remember, the Triad is derived from the monad and is somehow the expression of the monad on three lower levels of vibration. If we can get some kind of idea, a feeling sense of what the experience on those three levels of the Triad may be, then we'll have a more working knowledge of what it is meant to express.

Hãy nhớ rằng Tam Nguyên Tinh Thần bắt nguồn từ chân thần và bằng cách nào đó là biểu hiện của chân thần trên ba cấp độ rung động thấp hơn. Nếu có thể có được một ý niệm nào đó, một cảm nhận về kinh nghiệm trên ba cấp độ ấy của Tam Nguyên Tinh Thần, thì chúng ta sẽ có tri thức thiết thực hơn về điều mà Tam Nguyên Tinh Thần có nhiệm vụ biểu lộ.

These are the higher issues, and with them the Solar Angels deal and the Masters deal. DK, repeating what he says here,

Đây là những vấn đề cao hơn mà các Thái dương Thiên Thần và các Chân sư đề cập đến. Xin nhắc lại lời Chân sư DK ở đây,

higher turn of the spiral,

vòng xoắn ốc cao hơn,

Notice how we use the word spiral because the factor of repetition is there—a similarity but not an identical point of revelation. Every turn has a similarity to a turn below, but a higher degree of revelation.

Hãy lưu ý cách chúng ta dùng từ xoắn ốc, vì ở đó có yếu tố lặp lại—có sự tương đồng nhưng không phải một điểm mặc khải giống hệt. Mỗi vòng đều tương đồng với một vòng bên dưới, nhưng có mức độ mặc khải cao hơn.

the intuition is the expression of the threefold Spiritual Triad,

trực giác là biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần tam phân,

That if we want to simplify the idea a little bit,

Nếu muốn đơn giản hoá ý tưởng này đôi chút,

[17] placing it in relation to the higher levels of divine expression;

[17] đưa Tam Nguyên ấy vào mối liên hệ với các cấp độ biểu lộ thiêng liêng cao hơn;

Here's where he does tell us what is the origin of it all. He goes on to say

Đây là nơi Ngài thực sự cho chúng ta biết nguồn gốc của tất cả điều ấy. Ngài nói tiếp

[18] it is a result of the life of the Monad—

[18] trực giác là kết quả của sự sống chân thần—

The life of the monad, the very essence of the monad which is Reality itself, Being itself.

Sự sống của chân thần, chính tinh tuý của chân thần, vốn là chính Thực Tại, chính Bản Thể.

it is a result of the life of the Monad—

nó là kết quả của sự sống của Chân thần—

[19] an energy which carries revelation of divine purpose.

[19] một năng lượng mang lại sự mặc khải về Thiên Ý.

In one sense, from the Monadic plane, and in another sense, from a still higher perspective, from the Logoic plane whereon a newly liberated monad finds its new containment within either the Father, the Son, or the Holy Spirit. We have to think above and think below, both. And when we start thinking way above, we might ask, what has this got to do with me? But we really have to think, who is this me we're talking about?

Theo một nghĩa, năng lượng ấy đến từ cõi chân thần; theo một nghĩa khác, từ một góc nhìn còn cao hơn, nó đến từ cõi Thượng đế, nơi một chân thần vừa được giải thoát tìm thấy phạm vi bao chứa mới của mình trong Ngôi Cha, Ngôi Con hoặc Chúa Thánh Thần. Chúng ta phải suy nghĩ cả ở trên lẫn ở dưới. Và khi bắt đầu suy nghĩ lên những tầng rất cao, chúng ta có thể hỏi: điều này liên quan gì đến tôi? Nhưng chúng ta thực sự phải suy nghĩ: cái tôi mà chúng ta đang nói đến là ai?

Although sometimes when people talk to me, they say, I want this, I want that, and I say to them, which I is talking now? And they seem a little perplexed because they haven't thought it over. Which is the "I" that is verbalizing what is wanted? We've got a lot of different 'I's. From what level of "I", from what point of tension are we speaking?

Đôi khi có người nói với tôi: tôi muốn điều này, tôi muốn điều kia; và tôi hỏi họ: cái tôi nào đang nói lúc này? Họ có vẻ hơi bối rối vì chưa suy nghĩ thấu đáo về điều ấy. Cái “tôi” nào đang nói ra điều mình muốn? Chúng ta có rất nhiều cái “tôi” khác nhau. Chúng ta đang nói từ cấp độ nào của cái “tôi”, từ điểm tập trung nhất tâm nào?

I think we will find often, and it's a little bit humbling, that we are speaking from the point of view of the aspiring personality, and DK warns us about that. He says, I'm not talking to you as if you are aspiring personalities. I'm talking to you as if you really are the soul, and your success in meditation will be based on whether you can center consciousness within the soul or this Solar Angel or the Angel of the Presence.

Tôi nghĩ chúng ta sẽ thường nhận thấy, và điều này khiến mình phải khiêm nhường đôi chút, rằng chúng ta đang nói từ quan điểm của phàm ngã đang khát vọng, và Chân sư DK cảnh báo chúng ta về điều ấy. Ngài nói: Tôi không nói với các bạn như thể các bạn là những phàm ngã đang khát vọng. Tôi nói với các bạn như thể các bạn thực sự là linh hồn, và sự thành công trong tham thiền của các bạn sẽ dựa trên việc các bạn có thể đặt tâm thức vào trung tâm linh hồn, hay Thái dương Thiên Thần này, hay Thiên Thần của Hiện Diện hay không.

revelation of divine purpose.

sự mặc khải về Thiên Ý.

Now, for how many of us is that a reality? I guess we'd be doing well enough if we could simply get the revelation of the Plan and a little bit of it.

Với bao nhiêu người trong chúng ta, điều ấy là một thực tại? Tôi nghĩ chúng ta cũng đã làm khá tốt nếu chỉ có thể nhận được sự mặc khải về Thiên Cơ, dù chỉ một chút.

[20] It is in the world of this divine revelation that the disciple learns eventually

[20] Chính trong thế giới của sự mặc khải thiêng liêng này, cuối cùng người đệ tử học cách

There's the word, eventually.

Chính là từ ấy: cuối cùng.

[21] to work and in which the initiate consciously functions.

[21] làm việc, và điểm đạo đồ hoạt động một cách có ý thức trong thế giới ấy.

Functions in the world of assured understanding of the Plan, as it reflects the archetypal Purpose which is still a higher thing. I think it would be a very good thing if all of us could learn somehow to be Purpose-driven. When we start to respond to our rising sign, which are called the driving energies of the rising sign, with that rising sign called the potency of the Sun of Possibility, but not necessarily of Probability, we're taking our first steps towards really responding to soul purpose, and naturally to ranges of purpose beyond that, that the Angel of the Presence even can conceive, although of course it's a very high Being.

Hoạt động trong thế giới của sự thấu hiểu vững chắc về Thiên Cơ, khi Thiên Cơ phản ánh Thiên Ý nguyên mẫu vốn còn cao hơn nữa. Tôi nghĩ sẽ rất tốt nếu tất cả chúng ta bằng cách nào đó có thể học cách để Thiên Ý dẫn dắt. Khi bắt đầu đáp ứng với dấu hiệu mọc của mình, với những năng lượng được gọi là năng lượng thúc đẩy của dấu hiệu mọc, và dấu hiệu mọc ấy được gọi là uy lực của Mặt Trời Khả Năng, nhưng không nhất thiết là Khả Năng Thành Hiện Thực, thì chúng ta đang thực hiện những bước đầu tiên hướng đến việc thực sự đáp ứng với mục đích của linh hồn, và tự nhiên là với những phạm vi mục đích vượt ngoài điều đó mà ngay cả Thiên Thần của Hiện Diện cũng có thể quan niệm được, dù dĩ nhiên đó là một Sinh Mệnh rất cao cả.

It's a question of what it can get across to us. Every once in a while I stop myself and say Isness first, Being first, Reality first, Stillness first, because in the stillness, the Presence is revealed. The Presence first and then the details. Going on with Djwhal Khul.

Vấn đề là Thiên Thần ấy có thể truyền đạt được điều gì đến chúng ta. Thỉnh thoảng tôi tự dừng lại và nói: Hiện hữu trước, Bản Thể trước, Thực Tại trước, Tĩnh Lặng trước, vì trong sự tĩnh lặng, Hiện Diện hiển lộ. Hiện Diện trước, rồi mới đến các chi tiết. Tiếp tục với Chân sư Djwhal Khul.

[22] Of this higher experience, the active life of the three worlds is a distorted expression but constitutes also the training ground in which capacity to live the initiate life of intuitional perception and to serve the Plan is slowly developed.

[22] Đời sống hoạt động của ba cõi giới là một biểu hiện méo mó của kinh nghiệm cao siêu này, nhưng cũng tạo thành môi trường rèn luyện, trong đó khả năng sống đời sống của điểm đạo đồ với nhận thức trực giác và phụng sự Thiên Cơ dần dần phát triển.

Maybe this is another way of saying that the stone quarry from which the stones for the Temple of Solomon, Solar Man, are hewed, is not the same as the Temple that later will be inhabited. You may be working laboriously in the quarry so that one day the rough stones can be made into smooth stones. The Masons have a term for all that, and fit together with right exactitude. Sometimes I think about those kind of walls, I don't know what they are—I think they are walls made of perfectly fashioned stones which fit together so perfectly that the theorists can't figure out how the ancient people made them. I think it was Peru. How did they do that? Of course, they had a lot of abilities over gravity that we are only now rediscovering.

Có lẽ đây là một cách khác để nói rằng mỏ đá, nơi người ta đẽo những khối đá dành cho Đền Thờ Solomon, Con Người Thái Dương, không giống với Đền Thờ mà sau này người ta sẽ cư ngụ. Các bạn có thể đang lao động vất vả trong mỏ đá để một ngày kia những khối đá thô có thể trở thành những khối đá nhẵn. Hội Tam Điểm có một thuật ngữ cho tất cả điều ấy, và các khối đá được ghép với nhau thật chính xác. Đôi khi tôi nghĩ đến những bức tường kiểu ấy, tôi không biết đó là những bức tường nào—tôi nghĩ đó là những bức tường làm bằng các khối đá được tạo tác hoàn hảo, khớp với nhau hoàn hảo đến mức các nhà lý thuyết không thể giải thích người xưa đã làm ra chúng như thế nào. Tôi nghĩ là ở Peru. Họ đã làm điều đó như thế nào? Dĩ nhiên, họ có nhiều khả năng làm chủ trọng lực mà đến bây giờ chúng ta mới đang tái khám phá.

The polished stones from the quarry of our life down here are meant to be lifted up as qualities into the Temple of Solomon, the causal body, and to fit together with right exactitude. There might be quite a revelation if we could actually see the condition of our causal body, or Egoic Lotus. We might be able to imagine a little, but the Master sees and knows, and judges what is of value to us to impart on the basis of the condition of the Temple of Solomon. Manly Hall calls that the Temple of Solar Man, which makes a lot of sense.

Những khối đá đã được mài nhẵn từ mỏ đá của đời sống chúng ta dưới đây có nhiệm vụ được nâng lên như những phẩm tính vào Đền Thờ Solomon, thể nguyên nhân, và ghép với nhau thật chính xác. Có thể sẽ có một sự mặc khải đáng kể nếu chúng ta thực sự thấy được tình trạng thể nguyên nhân, hay Hoa Sen Chân Ngã của mình. Chúng ta có thể hình dung đôi chút, nhưng Chân sư thấy và biết, và dựa trên tình trạng của Đền Thờ Solomon để xét định điều gì có giá trị để truyền đạt cho chúng ta. Manly Hall gọi đó là Đền Thờ của Con Người Thái Dương, một cách gọi rất có lý.

Down here we're sweating it out, but it's all for a beautiful purpose of the perfect Temple, which of course one day must give way to something still higher—temple after temple. Every great collection of energies, every great ring-pass-not, is a kind of Temple—the circle of Father, the circle of Son, the circle of Holy Spirit. Those are temples, and so it is with the causal body of the Solar Logos, and beyond and beyond. They are all Temples where you can cultivate certain qualities, but eventually you outgrow the confines of even the most beautiful Temple, even as the most beautiful Temple of all must be the Universal Temple, and even that breaks and gives way to something Supra Universal. But that's another matter.

Dưới đây, chúng ta đang đổ mồ hôi nhọc nhằn, nhưng tất cả đều hướng đến mục đích tốt đẹp là Đền Thờ hoàn hảo, vốn dĩ nhiên một ngày kia phải nhường chỗ cho điều còn cao hơn nữa—đền thờ này tiếp đến đền thờ khác. Mỗi tập hợp năng lượng lớn, mỗi vòng-giới-hạn lớn, đều là một dạng Đền Thờ—vòng tròn của Ngôi Cha, vòng tròn của Ngôi Con, vòng tròn của Chúa Thánh Thần. Đó là những đền thờ, và thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế cũng vậy, rồi còn xa hơn, xa hơn nữa. Tất cả đều là những Đền Thờ nơi các bạn có thể vun bồi những phẩm tính nhất định, nhưng cuối cùng các bạn sẽ phát triển vượt khỏi giới hạn của ngay cả Đền Thờ đẹp nhất; dù Đền Thờ đẹp nhất trong tất cả hẳn phải là Đền Thờ Vũ Trụ, ngay cả đền thờ ấy cũng tan vỡ và nhường chỗ cho một điều Siêu Vũ Trụ. Nhưng đó là chuyện khác.

A training ground—we're being trained in the lower quarries of life, and things can be difficult—but Master Morya encourages us. He says, when will we at last realize that obstacles are possibilities. And then he had something even more challenging: "The worst, the better." To see things from his point of view is not yet our point of view, is it?

Một trường huấn luyện—chúng ta đang được huấn luyện trong những mỏ đá thấp của đời sống, và mọi việc có thể khó khăn—nhưng Chân sư Morya khích lệ chúng ta. Ngài nói: bao giờ cuối cùng chúng ta mới nhận ra rằng chướng ngại là những khả năng? Rồi Ngài còn nói một điều thách thức hơn nữa: “Càng tệ, càng tốt.” Nhìn sự việc từ quan điểm của Ngài vẫn chưa phải là quan điểm của chúng ta, phải không?

[23] These distinctions (in time and space, because all distinctions are part of the great illusion,

[23] Những sự phân biệt này (trong thời gian và không gian, vì mọi sự phân biệt đều là một phần của ảo tưởng lớn lao,

What a statement!

Thật là một phát biểu đáng kinh ngạc!

because all distinctions are part of the great illusion,

vì mọi sự phân biệt đều là một phần của ảo tưởng lớn,

[24] though necessary and inevitable when the mind controls) must be carefully considered.

[24] dù chúng là cần thiết và không thể tránh khỏi khi thể trí nắm quyền kiểm soát) cần được xem xét cẩn thận.

That's real ponderable. When I see that, that's why I try and encourage others to try to look in all directions and see, feel in the heart. Distinctionlessness, Sameness. Sameness first. That is an easy one to say. It's like Isness first, Sameness first, then if you want to get into the this and the that.

Điều đó thực sự đáng suy ngẫm. Khi thấy điều ấy, đó là lý do tôi cố gắng và khuyến khích những người khác cố gắng nhìn về mọi hướng để thấy, để cảm nhận trong trái tim. Không phân biệt, Đồng Nhất. Đồng Nhất trước. Điều này dễ nói. Cũng giống như Hiện hữu trước, Đồng Nhất trước, rồi nếu muốn, các bạn hãy đi vào cái này và cái kia.

[25] Disciples will reach a point in their development where they will know whether they are reacting to the light of the soul or to the intuitional perception of the Triad.

[25] Các đệ tử sẽ đạt đến một điểm trong sự phát triển của mình, tại đó họ biết mình đang đáp ứng với ánh sáng linh hồn hay với nhận thức trực giác của Tam nguyên tinh thần.

Does that seem to be a meaningless statement to us? He promises that this will take place: disciples will reach a point in their development where they will know whether they are reacting to the light of the soul, in which case their knowledge will be increasing, or to the intuitional perception of the Triad, in which case they will be participating in the perspectives of God, the Planetary Logos, at least at first Sanat Kumara as an extension of that Planetary Logos.

Đối với chúng ta, phát biểu ấy có vẻ vô nghĩa không? Ngài hứa rằng điều này sẽ xảy ra: các đệ tử sẽ đạt đến một điểm trong sự phát triển của mình, khi họ biết mình đang phản ứng với ánh sáng linh hồn, trong trường hợp ấy tri thức của họ sẽ gia tăng, hay với tri giác trực giác của Tam Nguyên Tinh Thần, trong trường hợp ấy họ sẽ tham dự vào những góc nhìn của Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế, ít nhất lúc đầu là của Sanat Kumara như một sự mở rộng của Hành Tinh Thượng đế ấy.

[26] They will then come to the point where they will realize that intuitive perception—as they call it—

[26] Khi ấy, họ sẽ đi đến chỗ nhận ra rằng nhận thức trực giác—theo cách họ gọi—

I know he's hinting that maybe what we call intuitive perception is not really what we think it is, but he gives us some definition here.

Tôi biết Ngài đang gợi ý rằng có lẽ điều chúng ta gọi là tri giác trực giác không thực sự là điều chúng ta tưởng, nhưng ở đây Ngài cho chúng ta một định nghĩa.

that intuitive perception—as they call it—

rằng tri giác trực giác—như họ gọi—

[27] is only the reaction of the illumined personality to the identification tendency of the Triad.

[27] chỉ là phản ứng của phàm ngã được soi sáng đối với xu hướng đồng hoá của Tam nguyên tinh thần.

If we want to know where this factor of identification comes from, we'll realize that as we build the antahkarana, we're much more likely to experience something of that identification which the Christ has perfected. That serious antahkarana building is occurring around the time of the Second Initiation.

Nếu muốn biết yếu tố đồng hoá này đến từ đâu, chúng ta sẽ nhận ra rằng khi xây dựng antahkarana, chúng ta có nhiều khả năng hơn để trải nghiệm phần nào sự đồng hoá mà Đức Christ đã hoàn thiện. Việc xây dựng antahkarana một cách nghiêm túc ấy diễn ra vào khoảng thời gian của lần điểm đạo thứ hai.

They will then come to the point where they will realize that intuitive perception—as they call it—is only the reaction of the illumined personality

Khi ấy, họ sẽ đạt đến điểm nhận ra rằng tri giác trực giác—như họ gọi—chỉ là phản ứng của phàm ngã được soi sáng

Should we say, the soul-illumined personality

Có lẽ chúng ta nên nói là phàm ngã được linh hồn soi sáng

to the identification tendency of the Triad.

đối với khuynh hướng đồng hoá của Tam Nguyên Tinh Thần.

There, we're being told one of the sources of identification, and if we can do Sameness first, then we're on our way to having the experience of Identification, and not just the words. But he concludes,

Ở đây, chúng ta được cho biết một trong những nguồn gốc của sự đồng hoá, và nếu có thể thực hành Đồng Nhất trước, thì chúng ta đang trên đường đạt đến kinh nghiệm Đồng Hoá, chứ không chỉ là những từ ngữ. Nhưng Ngài kết luận,

[28] But these concepts are beyond the grasp of the average man because fusion and identification are by no means the same.

[28] Nhưng những khái niệm này vượt ngoài khả năng lĩnh hội của người bình thường, vì sự dung hợp và sự đồng hoá hoàn toàn không phải là một.

It's a real "Ponder on this", isn't it? Ponder on this.

Đây thực sự là một điều để “Suy ngẫm về điều này”, phải không? Hãy suy ngẫm về điều này.

I think that's far enough to go. We don't cover a lot of pages, but maybe something of value is emerging, and certainly from Master DK and reading His words.

Tôi nghĩ đến đây là đủ. Chúng ta không đọc được nhiều trang, nhưng có lẽ một điều gì đó có giá trị đang hiện ra, và chắc chắn là từ Chân sư DK cùng việc đọc những lời của Ngài.

The idea is DK said, "Look, read more carefully. Read more carefully." For me, sometimes that means read more slowly and ponder on this, and then my reading, your reading, will take on a vertical dimension, and not just skittering over the surface of things.

Ý ở đây là Chân sư DK đã nói: “Hãy đọc kỹ hơn. Hãy đọc kỹ hơn.” Với tôi, đôi khi điều đó có nghĩa là đọc chậm hơn và suy ngẫm về điều này; rồi việc đọc của tôi, việc đọc của các bạn, sẽ có một chiều kích theo chiều dọc, thay vì chỉ lướt trên bề mặt sự vật.

I have been studying these books, I now realize, for 50 years. I opened them before that, opened them in a metaphysical bookstore, and I said, "How could anyone write all this?" And I was doing Theosophy at the time. I decided to stick with that, and not really open the books. But then 50 years ago, I really did, and I've been, I would say, relatively faithful to the project ever since that time.

Giờ đây tôi nhận ra rằng mình đã nghiên cứu những cuốn sách này suốt 50 năm. Trước đó tôi đã từng mở chúng ra, tại một hiệu sách siêu hình học, và tôi nói: “Làm sao có người viết được tất cả những điều này?” Khi ấy tôi đang theo học Thông Thiên Học. Tôi quyết định tiếp tục với Thông Thiên Học và chưa thực sự mở những cuốn sách ấy ra đọc. Nhưng rồi 50 năm trước, tôi thực sự bắt đầu, và có thể nói rằng từ đó đến nay tôi đã tương đối trung thành với công việc này.

It's not all about study. But if you add meditation, study and application and service, you pretty well have that triangle we need to make your advancement and mine upon the path of Occultism a greater probability.

Không phải tất cả đều chỉ là nghiên cứu. Nhưng nếu kết hợp tham thiền, nghiên cứu cùng ứng dụng và phụng sự, các bạn gần như đã có được tam giác mà chúng ta cần để sự tiến bộ của các bạn và của tôi trên con đường huyền bí học có khả năng thành hiện thực cao hơn.

In my own case, it might be better to develop the concrete mind rather than the abstract mind. The next one is 13 August. That is the day the University of the Seven Rays was founded, one day after Blavatsky’s birthday. It just happened to be that way.

Trong trường hợp của riêng tôi, có lẽ phát triển trí cụ thể sẽ tốt hơn phát triển trí trừu tượng. Buổi tiếp theo là ngày 13 tháng Tám. Đó là ngày Đại học Bảy Cung được thành lập, một ngày sau sinh nhật của Bà Blavatsky. Mọi việc chỉ tình cờ diễn ra như vậy.

Questions and Answers – Hỏi và Đáp

Ann: Is there a Technique of Light of which we are discussing that is best and allowed to aid an individual as opposed to all of humanity?

Ann: Trong số những Kỹ Thuật Ánh sáng mà chúng ta đang thảo luận, có kỹ thuật nào phù hợp nhất và được phép dùng để trợ giúp một cá nhân thay vì toàn thể nhân loại không?

MDR: There is actually a technique, and it's very much like the big one, but he gives us the technique only we apply it to our own detected, or in process of detection, individual glamours. It is pretty much the same, and I think around page 120 in the book, we will find those individual glamours, and maybe what to do with them, but we'll be coming up to that.

MDR: Thực ra có một kỹ thuật, rất giống với kỹ thuật quy mô lớn ấy. Ngài trao cho chúng ta kỹ thuật đó, chỉ khác là chúng ta áp dụng nó vào những ảo cảm cá nhân của chính mình mà chúng ta đã phát hiện hoặc đang trong quá trình phát hiện. Về cơ bản, kỹ thuật ấy cũng tương tự, và tôi nghĩ khoảng trang 120 của cuốn sách, chúng ta sẽ thấy những ảo cảm cá nhân ấy, và có lẽ cả cách xử lý chúng, nhưng chúng ta sẽ sớm đến phần đó.

Participant: On the Makara page where we have the glamour recordings, you have the individual glamour meditation as well as the group glamour meditation.

Người tham dự: Trên trang Makara, nơi lưu các bản ghi âm về ảo cảm, Thầy có cả bài thiền về ảo cảm cá nhân lẫn bài thiền về ảo cảm nhóm.

We might not do the meditation for humanity every day, for our nation, but if you have detected something going on, a hint at an individual glamour, then it's assumed that you, and I, and everybody who has detected that, will be working on it in an individual way. This is an ongoing exercise for these people who are part of what's called the Observers of Reality—it's almost like a daily thing, even if it's done shortly. Something is holding us back from a real perception of higher realities. What are those things? Illusions, glamours, Mayas? We've got to use DK's methods to deal with them, and we will be more successful, I would think.

Có thể chúng ta không thực hành bài thiền cho nhân loại, cho quốc gia mình mỗi ngày, nhưng nếu các bạn phát hiện điều gì đó đang diễn ra, một dấu hiệu của ảo cảm cá nhân, thì mặc nhiên các bạn, tôi và tất cả những ai đã phát hiện điều ấy đều sẽ tự mình xử lý nó. Đây là một bài tập liên tục dành cho những người thuộc nhóm được gọi là Những Người Quan Sát Thực Tại—gần như một việc hằng ngày, dù chỉ thực hiện trong thời gian ngắn. Có điều gì đó đang cản trở chúng ta thực sự nhận thức những thực tại cao siêu hơn. Những điều đó là gì? Ảo tưởng, ảo cảm, ảo lực chăng? Chúng ta phải dùng các phương pháp của Chân sư DK để xử lý chúng, và tôi nghĩ chúng ta sẽ thành công hơn.

Just pause for a second, everybody, and think about any one of those many glamours which he lists or maybe that he doesn't list—which one impresses you as something that you need to work with? It strikes me that a lot of these things are derived from a very great planetary glamour that's built into matter itself: the Glamour of Fear. It has been said that the members of the Black Lodge look at it as a very bad sign when a human being becomes fearless.

Mọi người hãy dừng lại một chút và suy nghĩ về bất kỳ ảo cảm nào trong số rất nhiều ảo cảm mà Ngài liệt kê, hoặc có lẽ cả những ảo cảm Ngài không liệt kê—ảo cảm nào khiến các bạn cảm thấy mình cần xử lý? Tôi nhận thấy rất nhiều điều trong số này bắt nguồn từ một ảo cảm hành tinh vô cùng lớn vốn ăn sâu trong chính vật chất: Ảo cảm Sợ hãi. Người ta nói rằng các thành viên của Hắc đoàn xem việc một người trở nên không còn sợ hãi là một dấu hiệu rất xấu.

I was just reading the other day in the Discipleship in the New Age book about nine customary glamours, and I think if you study what I sent out on Section One, Volume One, Section One, Part Four of Discipleship in the New Age Video Commentary, you'll see what those nine are. But it takes a little digging because glamours hide away, and other people around us are more likely to see them in us than we are likely to see them in ourselves.

Mới hôm nọ, tôi đọc trong cuốn Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới về chín ảo cảm thường gặp, và tôi nghĩ nếu các bạn nghiên cứu phần tôi đã gửi về Mục Một, Tập Một, Mục Một, Phần Bốn của loạt Bình giảng qua Video về Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, các bạn sẽ thấy chín ảo cảm ấy là gì. Nhưng cần tìm hiểu sâu một chút, vì các ảo cảm thường ẩn khuất, và những người xung quanh dễ thấy chúng nơi chúng ta hơn là chúng ta tự thấy chúng nơi mình.

Olivia: Michael, you mentioned the five masters working under Master DK, and it makes sense. They might represent the five sub rays under 2/2. What else can you say about them?

Olivia: Michael, Thầy đã nhắc đến năm Chân sư làm việc dưới quyền Chân sư DK, và điều đó hợp lý. Các Ngài có thể đại diện cho năm cung phụ thuộc 2/2. Thầy có thể nói thêm điều gì về Các Ngài?

MDR: They are Masters of subsidiary Ashrams to the two sub two ashram (2/2).

MDR: Các Ngài là những Chân sư của các ashram trực thuộc ashram cung hai, cung phụ hai (2/2).

Master DK, from the Monadic point of view, obviously has a lot of third ray. From the final Logoic point of view, we just don't know. But he is a profound teacher, and I would say that he would be, from the Logoic point of view, centered in what's called the Son aspect—Father, Son, Holy Ghost.

Xét từ góc độ chân thần, rõ ràng Chân sư DK có rất nhiều ảnh hưởng của cung ba. Xét từ góc độ Thượng đế tối hậu, chúng ta đơn giản là không biết. Nhưng Ngài là một huấn sư uyên thâm, và tôi cho rằng, từ góc độ Thượng đế, Ngài có lẽ tập trung nơi phương diện được gọi là Ngôi Con—Ngôi Cha, Ngôi Con, Chúa Thánh Thần.

From the monad point of view, I would say the third ray, but when it comes to the subsidiary Ashram, subsidiary to Master KH, which he says he is working through, I've toyed a lot with the idea that it is two sub three (2/3). There's reason to think it could be, because he's got so much third ray, and he's willing to go anywhere and run anywhere and go on in the air, and all of that suggests a lot of mobility and a lot of Gemini. But he's got that Taurus thing as well.

Từ góc độ chân thần, tôi cho rằng đó là cung ba, nhưng khi nói đến ashram trực thuộc Chân sư KH mà Ngài cho biết mình đang làm việc thông qua đó, tôi đã nhiều lần cân nhắc ý tưởng rằng đó là cung hai, cung phụ ba (2/3). Có lý do để nghĩ rằng có thể là như vậy, vì Ngài có rất nhiều ảnh hưởng của cung ba, và Ngài sẵn sàng đi bất cứ đâu, chạy khắp nơi, di chuyển trên không, tất cả những điều đó gợi ra rất nhiều tính động và rất nhiều ảnh hưởng của Song Tử. Nhưng Ngài cũng có đặc tính Kim Ngưu ấy.

Or, if he really does have five Masters working under him, which Master DK says he does, then the way to do that is to put him in the two sub two Ashram with the 3-4-5-6-7, the Masters in those subsidiary Ashrams in a way embraced by his overview.

Hoặc, nếu Ngài thực sự có năm Chân sư làm việc dưới quyền, như Chân sư DK cho biết, thì cách lý giải điều đó là đặt Ngài trong ashram cung hai, cung phụ hai, với các cung 3-4-5-6-7; theo một nghĩa nào đó, các Chân sư trong những ashram trực thuộc ấy nằm trong tầm bao quát của Ngài.

We all have superiors, and Master DK being the sort of the right hand individual when it comes to Pythagoras, who is now Master KH, is obviously a highly developed assistant to Master KH, and he would be the supervisor of a number of these lesser masters who are coming along and ruling, or creating, building the subsidiary Ashrams on the second ray. They are pretty well built up.

Tất cả chúng ta đều có các bậc cao hơn mình, và Chân sư DK, vốn là người có thể nói là cánh tay phải của Pythagoras, nay là Chân sư KH, rõ ràng là một vị phụ tá phát triển rất cao của Chân sư KH. Ngài có lẽ là vị giám sát một số Chân sư cấp thấp hơn đang tiến lên và cai quản, hoặc tạo lập, xây dựng các ashram trực thuộc trên cung hai. Những ashram này đã phát triển khá vững.