Tóm lược chương
Ảo cảm phàm ngã không chỉ thuộc cung một mà còn bao gồm sự giam hãm trong những giới hạn của đời sống phàm ngã, đối nghịch với đời sống linh hồn và Thiên Thần của Hiện Diện. Qua việc sử dụng ý chí một cách hữu thức, năng lượng đi theo chùm ánh sáng phóng chiếu, kết hợp với sự tập trung bền bỉ, ổn định. Chùm sáng vừa đẩy bật và làm tiêu tan ảo cảm như gió mạnh xua sương mù, vừa mở đường cho những ý tưởng và lý tưởng mới thuộc ý định thiêng liêng đi vào. Phần bình giảng xác định những ý tưởng chân thực này đến từ cõi Bồ đề và cao hơn, đồng thời nhấn mạnh rằng các lý tưởng được đón nhận phải không ích kỷ. Khả năng làm tiêu tan ảo cảm thế giới…
Commentary GAW 188
Tóm Tắt
Ảo cảm phàm ngã và công dụng kép của chùm ánh sáng
Ảo cảm phàm ngã không chỉ thuộc cung một mà còn bao gồm sự giam hãm trong những giới hạn của đời sống phàm ngã, đối nghịch với đời sống linh hồn và Thiên Thần của Hiện Diện. Qua việc sử dụng ý chí một cách hữu thức, năng lượng đi theo chùm ánh sáng phóng chiếu, kết hợp với sự tập trung bền bỉ, ổn định. Chùm sáng vừa đẩy bật và làm tiêu tan ảo cảm như gió mạnh xua sương mù, vừa mở đường cho những ý tưởng và lý tưởng mới thuộc ý định thiêng liêng đi vào. Phần bình giảng xác định những ý tưởng chân thực này đến từ cõi Bồ đề và cao hơn, đồng thời nhấn mạnh rằng các lý tưởng được đón nhận phải không ích kỷ.
Nhận diện ảo cảm cá nhân trước khi phụng sự thế giới
Khả năng làm tiêu tan ảo cảm thế giới đòi hỏi trước hết phải nhận diện và xử lý được ít nhất một phần ảo cảm cá nhân, kể cả ảo cảm cho rằng mình không còn ảo cảm. Những hình thức này ngày càng tinh vi, khó phát hiện, dù sự tập trung trí tuệ hoặc phân cực trí tuệ đã bắt đầu thay thế mối bận tâm thông thường với cõi cảm dục. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, ngay cả Alice Bailey và Roberto Assagioli, được xem là những đệ tử ở cấp độ điểm đạo thứ ba và hướng đến lần điểm đạo thứ tư, vẫn có những vấn đề cần vượt qua. Lời cảnh báo của Chân sư DK về tính tự phụ ở người ít kinh nghiệm dẫn đến yêu cầu tự quan sát sát sao, nuôi dưỡng khiêm nhường và đánh giá đúng mức thành tựu, sự chỉnh hợp cùng khả năng đáp ứng của phàm ngã.
Dục vọng và thời gian khai mở Hoa Sen Chân Ngã
Chân sư DK xác định con người đã chịu dục vọng chi phối trong bốn phần năm kinh nghiệm nhập thể. Nếu lấy khoảng 21 triệu năm làm thời gian khởi đầu kinh nghiệm ấy, phần bình giảng ước tính gần 17 triệu năm chịu ảnh hưởng của dục vọng, qua đó lý giải sức bám dai dẳng của ảo cảm. Những cánh hoa đầu tiên trong Phòng Vô Minh cần hàng triệu năm để khai mở; vòng cánh hoa thứ hai cũng trải qua hành trình dài từ tập trung vào bản thân, khủng hoảng và khát vọng đến việc khai mở cánh hoa thứ năm, gắn với lần điểm đạo thứ nhất. Ba cánh hoa hi sinh khai mở nhanh nhất trong chín cánh hoa, còn các cánh hoa tổng hợp được gợi ý là bừng mở ở một giai đoạn nhất định. Dục vọng trong thời kỳ đầu có thể bao gồm cả ham muốn thể xác, chứ không chỉ dục vọng cảm dục.
Chuyển hoá dục vọng thành khát vọng
Người chí nguyện bắt đầu chuyển hoá dục vọng thành khát vọng và tìm kiếm sự chứng nghiệm bằng toàn bộ lòng sùng tín, cảm xúc cùng niềm khao khát, khiến cung sáu giữ vai trò nổi bật. Dẫn lời Chân sư DK về hình thức cao nhất của chủ nghĩa lý tưởng khát vọng trong dấu hiệu Kim Ngưu, phần bình giảng phân biệt biểu hiện cao ấy với giai đoạn sơ khai liên hệ đến cánh hoa thứ hai trong Phòng Vô Minh. “Chứng nghiệm” có thể mang nghĩa thông thường hoặc chỉ một quyền năng cao, được đặt tại cõi phụ thứ năm tính từ trên xuống của cõi atma; bảng giác quan và các tương ứng cao hơn nằm khoảng trang 188 của Luận về Lửa Vũ Trụ. Quan điểm của Chân sư Morya về dục vọng như một nguyên khí vũ trụ lớn dẫn đến yêu cầu lựa chọn dục vọng đúng đắn và giữ sự tương xứng, gắn với khiêm nhường.
Sức mê hoặc và hiểm họa của ảo cảm
Khi khát vọng phát triển, người chí nguyện bắt đầu thấy bản chất kinh khủng của những ảo cảm mà trước đó mình sống trong một cách tự động. Chân sư DK và Alice Bailey đều kinh hãi trước ảo cảm vì sức hấp dẫn của nó có thể dẫn con người lạc hướng như ánh sáng ma trơi đưa người đi vào đầm lầy hoặc cát lún. Một giai thoại được nêu về giới quân sự cấp cao Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất tin vào lời một đồng tử tuyên bố truyền thông điệp từ Aldebaran, nhằm minh họa hậu quả của việc thiếu khả năng đánh giá đúng tỉ lệ. Danh tính đồng tử và mối liên hệ với Maria Orsic hay nhóm Vril không được xác nhận trong cuộc trao đổi. Khả năng tiếp nhận chính linh hồn mình đã là một thành tựu đáng kể; những tuyên bố tiếp xúc trực tiếp với các Sinh Mệnh sao lớn cần sự phân biện nghiêm túc.
Trí tuệ, dục vọng và sự xuất hiện của ích kỷ
Theo Chân sư DK, ảo cảm phát sinh khi con người nhận biết dục vọng như một động lực và dùng trí tuệ để lập kế hoạch thỏa mãn nó. Đây là bước phân biệt con người với động vật: phản ứng bản năng dần nhường chỗ cho sự nhận biết và điều khiển có tính toán, đồng thời làm xuất hiện biểu hiện căn bản của tính ích kỷ thuần túy. Trong giai đoạn ấy, một hiện thể cao hơn tạm thời trở thành công cụ phục vụ một hiện thể thấp hơn; cung ba của trí thông minh và hoạch định có thể kết hợp với cung sáu để khiến dục vọng hiệu quả hơn. Phần bình giảng nhận xét rằng ích kỷ hoàn toàn thuần túy khó tìm thấy vì ngay người rất ích kỷ cũng có thể yêu con cái hoặc nhóm của mình, đồng thời đối chiếu tầm vóc bao dung trong diễn văn nhậm chức lần hai của Abraham Lincoln với sự nhỏ hẹp của tham vọng chiếm đoạt quyền lực.
Sân khấu, sự tưởng tượng sáng tạo và quan hệ bộ phận–toàn thể
Khi dục vọng bớt gắn với ham muốn thể xác, con người tìm khoái cảm trong kinh nghiệm cảm xúc và sự kịch hóa; Chân sư DK xem sân khấu là biểu hiện nghệ thuật đầu tiên của tiến trình này. Việc nhập mình vào hoàn cảnh của nhân vật bổ sung cho kinh nghiệm cá nhân bằng những tình huống do sự tưởng tượng sáng tạo phát triển, đặt nền móng cho sự nhận biết thông minh và thực sự về bộ phận trong quan hệ với toàn thể. Các kỳ công của Hercules, bi kịch Hy Lạp, hợp xướng và nghi lễ Hội Tam Điểm minh họa khả năng truyền đạt qua trình diễn đến những người khó tiếp nhận bằng lời giảng trừu tượng. Kinh nghiệm cá nhân về việc quá nhập tâm vào phim trên máy bay cho thấy nghệ thuật cũng có thể làm suy giảm sự tách rời và khả năng tự quan sát. Câu thơ của Alexander Pope về việc làm tốt phần việc của mình được liên hệ với trách nhiệm của mỗi người trong Thiên Cơ.
Tâm thức nhị nguyên và chiến thắng của Thiên Thần
Từ đầu thời Atlantis, được phần bình giảng đặt ít nhất khoảng 12 triệu năm trước, cảm thức nhị nguyên thần bí dần phát triển qua quan niệm Thượng đế mang hình người đến nhận biết thực tại bên trong con người. Tiến trình ấy đưa đệ tử đến cuộc đối diện giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện. Theo văn bản của Chân sư DK, tâm thức nhị nguyên đạt đỉnh tại lần điểm đạo thứ ba, khi Thiên Thần, hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, nhóm và nhân loại, giành chiến thắng trong cuộc xung đột giữa các cặp đối cực. Dục vọng hướng đến vật chất như một cái gì tách khỏi chính mình suy tàn khi sự đồng hoá với Toàn Thể thay thế nhận thức chia cắt. Phần bình giảng bổ sung rằng hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” mới bắt đầu hiện thực hóa ở đây, còn ý nghĩa đầy đủ hơn liên hệ với dấu hiệu Bảo Bình và Shamballa.
Giai đoạn nhận rõ ảo cảm và giá trị của phản hồi
Theo nhận định riêng của Thầy MDR, khả năng nhận rõ ảo cảm phát triển quanh giai đoạn lần điểm đạo thứ hai, khi trí tuệ được tình thương linh hồn trợ giúp bắt đầu thay thế phản ứng cảm xúc thông thường. Sự tập trung trí tuệ, giữ thể trí vững trong ánh sáng, địa vị đệ tử được chấp nhận và sự giám sát của Chân sư đều có thể hỗ trợ, dù không cần chờ đến lần điểm đạo thứ ba mới bắt đầu nhận diện ảo cảm. Sao Thủy được liên hệ với trí trừu tượng, lý trí thuần túy và việc xây dựng antahkarana ở giai đoạn này. Những người thân cận trung thực có thể nhận ra điều bản thân bỏ sót; việc nhờ họ làm bảng khảo sát bản sắc cá nhân thay mình từng giúp người bình giảng nhận thấy mức độ cuồng tín mà mình chưa đánh giá đầy đủ. Danh sách ảo cảm theo các cung ở trang 120 của Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới là điểm khởi đầu hữu ích, nhưng không bao quát mọi hình thức cá nhân.
Nghệ thuật cao hơn và biểu tượng phượng hoàng
Nghệ thuật có thể nuôi dưỡng sự trốn tránh trong kịch tính phàm ngã, nhưng cũng có thể tinh luyện độ nhạy cảm và đưa con người vượt khỏi những vòng quanh co của tư duy não bộ. Lời hứa về một thời Phục hưng mới được liên hệ với phương diện Chân Thần của cung bốn bắt đầu đi vào khoảng năm 2025; tri thức khoa học khi đã thấm nhuần cũng có thể được vận dụng bằng trực giác như nghệ thuật. Hình tượng phượng hoàng diễn tả sự tự do lớn hơn sau khi những chướng ngại cũ cháy rụi trên các vùng đất cháy trước ba lần điểm đạo đầu. Một cách diễn giải cao hơn được đề xuất là liên hệ phượng hoàng với cuộc điểm đạo thăng thiên thứ sáu và địa vị Chohan bậc bảy của Đức Christ, cùng vai trò của Ngài trong Hội đồng Shamballa. Vì vậy, cần phân biệt cấp độ thấp và cao khi bàn về nghệ thuật, khoa học, sự nâng cao hay thăng thiên.
Giới hạn của thể nguyên nhân và những ảo cảm tinh vi
Những đệ tử tiến xa vẫn có thể vướng mắc vào các thành tựu cao mà mình chưa sẵn sàng từ bỏ. Hình ảnh người thanh niên giàu có buồn bã rời Đức Christ khi được yêu cầu bán tài sản, giúp người nghèo và đi theo Ngài được diễn giải như sự quyến luyến đối với tính đầy đủ của thể nguyên nhân ở cấp độ điểm đạo thứ ba. Theo cách đọc này, điều từng là một thành tựu lớn vẫn có thể trở thành giới hạn khi được xem là đủ mãi mãi. Hoa Sen Chân Ngã không tồn tại như phương tiện thích hợp vĩnh viễn; những trạng thái cao hơn cuối cùng phải thay thế nó.
Ảo cảm thất vọng và con đường qua bổn phận
Ảo cảm thất vọng liên tục xuất hiện khi một người cho rằng hoàn cảnh, công việc vụn vặt hoặc nghĩa vụ đang ngăn mình biểu hiện đầy đủ các mục tiêu tinh thần. Kỳ công của Hercules trong dấu hiệu Song Tử cho thấy điều ngược lại: giải cứu Prometheus, trợ giúp Atlas và chiến đấu với Antaeus tưởng như khiến Hercules xa những quả táo vàng của Hesperides, nhưng chính những hi sinh ấy lại đưa chàng đến đích. Nghiệp quả và bổn phận, đều liên hệ với Sao Thổ, có thể rèn tính vị tha cần thiết để tiếp nhận những quả táo vàng của minh triết. Thầy MDR tự nhận có thể cũng chịu ảnh hưởng của ảo cảm này; việc hoàn thành trách nhiệm dù khó chịu được dẫn lại như dấu hiệu đầu tiên cho thấy linh hồn thực sự bắt đầu nắm quyền điều khiển.
Trường hợp RSU và giới hạn của sự đồng nhất với nhóm
Đoạn về thất vọng tại trang 601, tập II của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới được xác định là dành cho RSU, thay vì DLR như phỏng đoán ban đầu. RSU được mô tả là người cộng tác đắc lực của Alice Bailey, biên tập chính các sách và thành viên Nhóm hạt giống viễn cảm; sau đó bà trở về ashram thực sự của mình thuộc Chân sư KH. Theo đánh giá riêng của Thầy MDR, bà ở quanh hoặc vượt lần điểm đạo thứ hai, dù địa vị chính xác thuộc quan hệ giữa đệ tử và Chân sư. Khó khăn của bà được liên hệ với sự đồng nhất quá mạnh với cộng đồng Do Thái trong kiếp sống ấy, dẫn đến nhạy cảm quá mức và một số sai lầm mà về sau bà nhận ra. Ba phẩm tính gắn với ký hiệu RSU là tự chế, sức mạnh và thấu hiểu, trong đó nhu cầu tự chế được liên hệ với những phản ứng bốc đồng có thể cản trở sự hòa hợp nhóm.
Phụng sự trong hoàn cảnh gần gũi
Câu chuyện trong phim Cuộc sống thật tuyệt vời, về một người muốn đi khắp thế giới nhưng hoàn cảnh gia đình giữ lại ở thị trấn nhỏ, tiếp tục minh họa khả năng hoàn thành mục đích qua những trách nhiệm trước mắt. Những giới hạn tưởng như cản trở sự phụng sự có thể chính là nơi cần thực hành sự hi sinh và đáp ứng. Tác phẩm Từ Bethlehem đến Calvary của Alice Bailey được giới thiệu như một cầu nối cho người có nền tảng Kitô giáo đang đứng trước bước chuyển tiếp trong nhận thức tinh thần.
Chuẩn bị và bảo vệ trong tham thiền nhóm
Bài tham thiền tập trung vào việc làm tiêu tan ảo cảm của phàm ngã; khi thực hành trong nhóm riêng, các thành viên có thể lần lượt xưng tên rồi giữ im lặng mười phút. Công thức bảo vệ khẳng định vị thế của linh hồn hoạt động trong ánh sáng, nơi bóng tối không thể chạm tới, và sự kiên định không rời điểm đứng ấy. Việc hình dung thập giá qua trán, tim, mắt trái và mắt phải tạo nên Thập Giá Thiên Tính bằng ánh sáng.
Dung hợp ba ánh sáng
Giai đoạn chuẩn bị hội tụ ánh sáng của vật chất, liên hệ với thể dĩ thái và thể xác, cùng ánh sáng của trí tuệ, biểu hiện qua lôgic và lý trí của trí cụ thể. Tiếp xúc với linh hồn cho phép nhận biết ánh sáng linh hồn rồi đưa ánh sáng ấy xuống để dung hợp với hai ánh sáng thấp thành ánh sáng tam phân; khi chưa trực tiếp nhận biết được, sự tưởng tượng hỗ trợ tiến trình này. Lời xác quyết về ánh sáng duy nhất hướng tới kinh nghiệm nhận ra ánh sáng trong ánh sáng và chuyển bóng tối thành ban ngày.
Luồng ánh sáng nhóm và ý chí tinh thần
Công thức tham thiền xác lập nhóm như một nguồn quang huy và quyền năng, nối trời với đất, Thế giới của ý nghĩa bên trong với thế giới vi tế của ảo cảm. Ánh sáng và sự thấu hiểu được đưa xuống để đáp ứng nhu cầu, trong khi nhiều tia sáng cá nhân hợp thành một luồng đèn pha chiếu vào cõi cảm dục. Ý chí tinh thần được khẩn cầu như sự sẵn lòng thực hiện điều linh hồn, Tam Nguyên Tinh Thần và tinh thần hướng tới, mở rộng đến Đại Hội Đồng và Hành Tinh Thượng Đế trong giới hạn có thể thấu hiểu. Sức mạnh của ý chí tinh thần atma tập trung quyền năng trên luồng sáng và hướng luồng sáng ấy vào mục tiêu.
Bản chất chia rẽ của ảo cảm phàm ngã
Ảo cảm của phàm ngã mang tính chia rẽ và giam hãm, biểu hiện qua việc đặt lợi ích bản thân lên trên hết và sự tách biệt về cảm xúc. Lối sống chăm lo cho “số một” được đối chiếu với sự chăm lo cho tính nhất thể, làm rõ khác biệt giữa ưu tiên cá nhân và đời sống hợp nhất. Tuy nhiên, nhiều người còn chưa phát triển đầy đủ phàm ngã, nên công việc vượt qua ảo cảm này cần được nhìn trong một tiến trình phát triển dài hơn.
Ba tác động của ánh sáng hợp nhất
Ba Quyền năng từ hướng ánh sáng hợp nhất của nhóm vào việc ngăn ảo cảm phàm ngã xuất hiện, vô hiệu hóa ảnh hưởng của phẩm tính ấy đối với nhân loại, và hủy diệt sự sống duy trì ảo cảm. Tác động cuối được diễn giải là rút năng lượng khỏi chướng ngại do phàm ngã chưa chỉnh hợp tạo nên, khiến nó không còn đủ năng lượng để tồn tại. Trong năm phút im lặng với mục đích mãnh liệt, sự hình dung theo dõi ánh sáng xuyên thấu ảo cảm theo cả ba cách, làm nó suy yếu và tiêu tan.
Thay thế ảo cảm và kết thúc công việc
Khi ảo cảm suy yếu, hình ảnh mặt trời linh hồn tượng trưng cho đời sống linh hồn xuất hiện tại nơi trước đó có ảo cảm. Phẩm tính hợp nhất thay thế sự chia rẽ về cảm xúc, còn sức mạnh duy trì điều thiện thay thế năng lượng từng nuôi dưỡng ảo cảm. Luồng đèn pha sau đó được thu về cõi trí, sự chú tâm rời cõi cảm dục và ánh sáng được phân phối trở lại nguồn xuất phát. Việc xướng linh từ OM đánh dấu phần công việc đã thực hiện; thực hành cá nhân có thể tiếp tục giữa các buổi nhóm, gắn với việc nghiên cứu chi tiết từng ảo cảm.
Text GAW 188 – Văn bản GAW 188
Glamour: A World Problem — pages 202–204
Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới — trang 202–204
[1] c. The power to use the light not only through absorption and projection but also by a conscious use of the will, carrying energy upon the beam of projected light. To this they add a persistent and steady focus. This beam, thus projected, has a twofold use: [2] It works expulsively and dynamically, much as a strong wind blows away or dissipates a dense fog or as the rays of the sun dry up and absorb the mist. [3] It acts also as a beam along which that which is new and a part of the divine intention can enter. [4] The new ideas and the desired ideals [5] can come in “on the beam,” just as the beam directs and brings in the airplanes to a desired landing place.
[1] c. Quyền năng sử dụng ánh sáng không chỉ qua sự hấp thụ và phóng chiếu mà còn bằng cách sử dụng ý chí một cách có ý thức, mang năng lượng theo chùm ánh sáng được phóng chiếu. Thêm vào đó, họ duy trì sự tập trung bền bỉ và ổn định. Chùm ánh sáng được phóng chiếu như vậy có công dụng nhị phân: [2] Nó tác động một cách mạnh mẽ để xua tan, giống như một luồng gió mạnh thổi bay hoặc làm tiêu tan lớp sương mù dày đặc, hay như những tia nắng mặt trời làm khô và hấp thụ màn sương. [3] Nó cũng đóng vai trò một chùm tia mà theo đó, những gì mới mẻ và thuộc về ý định thiêng liêng có thể đi vào. [4] Những ý tưởng mới và những lý tưởng hằng mong muốn [5] có thể đi vào “theo chùm tia”, cũng như chùm tia dẫn đường và đưa máy bay đến nơi hạ cánh mong muốn.
[5b] a. The Dissipation of Individual Glamour
[5b] a. Làm tiêu tan ảo cảm cá nhân
[6] Let us first of all consider the mode by which the individual aspirant [7] can succeed in dissipating the glamours which have for ages conditioned his life in the three worlds. [8] He has been dominated [9] by desire for four-fifths of his incarnated experience. [10] He has begun to transmute his desire into aspiration [11] and to seek—with all the devotion, emotion and longing of which he is capable—for realization. [12] It is then that he [13] becomes aware of the appalling nature of the glamours in which he automatically and normally walks. [14] Glamour arose [15] when man recognized and registered desire as an incentive, [16] thus demonstrating his humanity and his distinction from the animal, because it is the mind which reveals the existence of desire. The instinctual effort to satisfy desire—innate and inherent in the lower nature—gave place to planned efforts to meet desire, involving the directive use of the mind. [17] Thus the line of demarcation between the animal and the human has become increasingly apparent and the first and basic expression of pure selfishness appeared eons ago. [18] Later, as evolution proceeded and desire shifted from one planned satisfaction to another, [19] it began to take on a less physical aspect [20] and men sought pleasure in emotional experience and in its dramatization: [21] this led to the establishment of the drama as its first artistic expression; by means of this, down the ages, man has supplemented individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it, thus exteriorising himself and supplementing his personal dramas, desires, and objectives with those which were developed by means of the creative imagination, thus laying the foundation for the recognition—intelligent and real—of the part in relation to the whole. [22] Thus from earliest Atlantean times [23] the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity [24] to the recognition of the real in man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple. Then the Dweller on the Threshold confronts the Angel of the Presence and the last and major conflict is fought out.
[6] Trước hết, chúng ta hãy xem xét phương thức mà qua đó người chí nguyện cá nhân [7] có thể thành công trong việc làm tiêu tan những ảo cảm vốn đã định hình đời sống của y trong ba cõi giới suốt nhiều thời đại. [8] Dục vọng đã thống trị y [9] trong bốn phần năm kinh nghiệm lâm phàm của y. [10] Y đã bắt đầu chuyển hoá dục vọng thành khát vọng [11] và tìm kiếm sự chứng nghiệm—với tất cả lòng sùng tín, cảm xúc và niềm khao khát mà y có thể có. [12] Chính lúc đó, y [13] bắt đầu nhận biết bản chất kinh khủng của những ảo cảm mà y vẫn thường sống trong đó một cách máy móc. [14] Ảo cảm nảy sinh [15] khi con người nhận ra và ghi nhận dục vọng như một động lực, [16] qua đó biểu lộ nhân tính và sự khác biệt của mình với loài vật, bởi chính thể trí vén lộ sự tồn tại của dục vọng. Nỗ lực thoả mãn dục vọng theo bản năng—vốn bẩm sinh và cố hữu trong bản chất thấp—đã nhường chỗ cho những nỗ lực có kế hoạch nhằm đáp ứng dục vọng, trong đó thể trí được sử dụng để chỉ đạo. [17] Như vậy, đường ranh phân định giữa loài vật và con người ngày càng trở nên rõ rệt, và biểu hiện đầu tiên, căn bản của tính ích kỷ thuần tuý đã xuất hiện từ những thời đại xa xưa. [18] Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn và dục vọng chuyển từ sự thoả mãn có kế hoạch này sang sự thoả mãn có kế hoạch khác, [19] nó bắt đầu mang một phương diện ít thiên về hồng trần hơn [20] và con người tìm kiếm lạc thú trong trải nghiệm cảm xúc cũng như trong việc kịch hoá trải nghiệm ấy: [21] điều này dẫn đến sự hình thành kịch nghệ như hình thức biểu hiện nghệ thuật đầu tiên của trải nghiệm ấy; nhờ đó, qua nhiều thời đại, con người đã bổ sung cho đời sống cảm xúc và đầy kịch tính của cá nhân bằng cách gián tiếp đắm mình vào đời sống ấy, qua đó biểu hiện bản thân ra bên ngoài và bổ sung cho những vở kịch, dục vọng cùng mục tiêu cá nhân của mình bằng những gì được phát triển nhờ sự tưởng tượng sáng tạo, từ đó đặt nền tảng cho việc nhận biết—một cách thông minh và thực sự—bộ phận trong mối quan hệ với toàn thể. [22] Như vậy, từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất, [23] nền tảng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về tính nhị nguyên thần bí, qua các giai đoạn nhận biết Thượng đế dưới hình thức nhân hoá [24] cho đến sự nhận biết thực tại trong chính con người, để cuối cùng chúng ta đi đến vấn đề mà người đệ tử phải đối diện. Khi ấy, Kẻ Chận Ngõ đối mặt với Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột cuối cùng, lớn lao nhất diễn ra.
[25] This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory [26] of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity. Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved.
[25] Tâm thức nhị nguyên này đạt đến đỉnh điểm vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba, trong trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối cực và chiến thắng vẻ vang [26] của Thiên Thần—hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, trong nhóm và trong nhân loại. Khi ấy, tính nhị nguyên và dục vọng đối với những gì thuộc vật chất và không phải là bản thân mình (khi đồng hoá với Toàn Thể) đều tiêu vong. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được thành tựu.
Glamour Webinar 188 – Webinar về Ảo cảm 188
Michael D. Robbins • Glamour: A World Problem • Book pages 202–204
Michael D. Robbins • Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới • Các trang sách 202–204
Friends, good evening here from Finland in the Temple of Silence, which is not always so very silent during the making of programs. We've just been discussing and getting ready for you program number 39 for Telepathy and the Etheric Vehicle. Pretty soon you'll either be getting the uploaded version that BL and Joe and Harold put in two different places—either Makara or YouTube—and then Michael Gaeta will send out this other version to some of the people who have requested it. It's slightly different and has some words on the side, not all of which are correct, of course.
Các bạn thân mến, xin chào buổi tối từ Phần Lan, tại Đền Im Lặng, nơi không phải lúc nào cũng thật im lặng trong khi thực hiện các chương trình. Chúng tôi vừa thảo luận và chuẩn bị cho các bạn chương trình số 39 về Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái. Chẳng bao lâu nữa, các bạn sẽ nhận được bản mà BL, Joe và Harold tải lên hai nơi khác nhau—Makara hoặc YouTube—rồi Michael Gaeta sẽ gửi một phiên bản khác cho một số người đã yêu cầu. Phiên bản ấy hơi khác và có phần chữ ở bên cạnh, dĩ nhiên không phải chữ nào cũng chính xác.
Our glamour for today is the glamour of personality. It's not just the first ray glamour, though a lot of first ray people seem to fall victim to it. It involves getting involved with the opponents of the Angel of the Presence, the opponents of the Solar Angel, and falling into the constraints, the strictures, the restraints of the personality life, when compared to what soul life might be like. In the telepathy book, DK deals a lot with that kind of contrast, so it's probably very interesting.
Ảo cảm hôm nay của chúng ta là ảo cảm của phàm ngã. Đó không chỉ là ảo cảm cung một, dù nhiều người cung một dường như trở thành nạn nhân của nó. Nó liên quan đến việc vướng vào những đối thủ của Thiên Thần của Hiện Diện, những đối thủ của Thái dương Thiên Thần, và rơi vào những ràng buộc, hạn chế, kiềm tỏa của đời sống phàm ngã, so với đời sống linh hồn có thể như thế nào. Trong sách về viễn cảm, Chân sư DK bàn nhiều đến sự tương phản ấy, nên có lẽ rất thú vị.
He's talking about a beam through the conscious use of the will. It is
Ngài đang nói về một chùm sáng qua việc sử dụng ý chí một cách có ý thức. Đó là
[1] c. carrying energy upon the beam of projected light. To this they add a persistent and steady focus.
[1] c. Quyền năng sử dụng ánh sáng không chỉ qua sự hấp thụ và phóng chiếu mà còn bằng cách sử dụng ý chí một cách có ý thức, mang năng lượng theo chùm ánh sáng được phóng chiếu. Thêm vào đó, họ duy trì sự tập trung bền bỉ và ổn định. Chùm ánh sáng được phóng chiếu như vậy có công dụng nhị phân:
This beam is projected, and then it has a twofold use:
Chùm sáng này được phóng chiếu, rồi có hai công dụng:
[2] It works expulsively and dynamically, much as a strong wind blows away or dissipates a dense fog or as the rays of the sun dry up and absorb the mist.
[2] Nó tác động một cách mạnh mẽ để xua tan, giống như một luồng gió mạnh thổi bay hoặc làm tiêu tan lớp sương mù dày đặc, hay như những tia nắng mặt trời làm khô và hấp thụ màn sương.
I guess we're talking about methods of deglamourization.
Tôi đoán chúng ta đang nói về các phương pháp loại bỏ ảo cảm.
[3] It acts also as a beam along which that which is new and a part of the divine intention can enter.
[3] Nó cũng đóng vai trò một chùm tia mà theo đó, những gì mới mẻ và thuộc về ý định thiêng liêng có thể đi vào.
The new ideas—the true ideas, of course—are coming from the buddhic plane and beyond, but
Những ý tưởng mới—dĩ nhiên là những ý tưởng chân thực—đang đến từ cõi Bồ đề và xa hơn nữa, nhưng
[4] The new ideas and the desired ideals
[4] Những ý tưởng mới và những lý tưởng hằng mong muốn
which, may I add, are not selfish,
mà, xin cho tôi nói thêm, không mang tính ích kỷ,
[5] can come in “on the beam,” just as the beam directs and brings in the airplanes to a desired landing place.
[5] có thể đi vào “theo chùm tia”, cũng như chùm tia dẫn đường và đưa máy bay đến nơi hạ cánh mong muốn.
Think about how long ago this was written. The next section on which we will concentrate today will be maybe a little easier of assimilation when compared to the Seeds of the Infinite: Identify as Being program. That has its own problems in terms of language, and what's really trying to be said there. But now we're right back into solid DK esotericism. Instead of deviating into a foreign land of identification, we might say to us, identification is still a foreign land. I'm talking about the kind of identification that is a reflection of what the Christ, as the great expert in the art of identification can accomplish.
Hãy nghĩ xem những dòng này đã được viết cách đây bao lâu. Phần tiếp theo mà chúng ta sẽ tập trung vào hôm nay có lẽ sẽ dễ tiếp thu hơn một chút so với chương trình Những Hạt Giống của Vô Hạn: Đồng Hóa Với Bản Thể. Chương trình ấy có những khó khăn riêng về ngôn ngữ và về điều thực sự muốn diễn đạt. Nhưng giờ đây, chúng ta trở lại ngay với huyền bí học vững chắc của Chân sư DK. Thay vì rẽ sang miền đất xa lạ của sự đồng hóa, có thể nói rằng đối với chúng ta, sự đồng hóa vẫn là một miền đất xa lạ. Tôi đang nói đến loại đồng hóa phản ánh điều mà Đức Christ, bậc chuyên gia vĩ đại trong nghệ thuật đồng hóa, có thể thực hiện.
There are quite a number of us here. Maybe I won't go through everybody, but I just want to welcome you. A lot of people we are seeing fairly often, and I am very grateful for your return appearance, as it were, and definitely grateful to BL and Michael here to keep me on the tracks, which is sometimes a little difficult. We are learning, or I am being taught, how to simplify the process, which is a definite help. Very happy to see you here.
Ở đây có khá đông chúng ta. Có lẽ tôi sẽ không điểm qua từng người, nhưng tôi chỉ muốn chào mừng các bạn. Có nhiều người mà chúng ta gặp khá thường xuyên, và tôi rất biết ơn vì các bạn lại có mặt, có thể nói như vậy, và chắc chắn rất biết ơn BL cùng Michael ở đây đã giúp tôi đi đúng hướng, điều đôi khi hơi khó. Chúng tôi đang học, hay đúng hơn là tôi đang được hướng dẫn cách đơn giản hóa quy trình, điều đó chắc chắn rất hữu ích. Rất vui được gặp các bạn ở đây.
Let's go on with The Tibetan here. The Tibetan speaks, and I'll read a few things that he is saying in this new section, which looks like it is taking off on the subject of the dissipation of individual glamour. If we don't manage some kind of attainment that way, I wonder how we can be of much use when we approach world glamour. We can't. It's as simple as that. We have to be able to handle, or at least recognize some of our individual glamours, and let's not fall victim to the glamour of having no glamour.
Chúng ta hãy tiếp tục với Chân sư Tây Tạng. Chân sư Tây Tạng lên tiếng, và tôi sẽ đọc một vài điều Ngài nói trong phần mới này, có vẻ bắt đầu bàn về việc làm tiêu tan ảo cảm cá nhân. Nếu chúng ta không đạt được điều gì đó theo hướng ấy, tôi tự hỏi làm sao chúng ta có thể giúp ích nhiều khi tiếp cận ảo cảm thế giới. Chúng ta không thể. Đơn giản là vậy. Chúng ta phải có khả năng xử lý, hoặc ít nhất nhận ra một số ảo cảm cá nhân của mình, và đừng trở thành nạn nhân của ảo cảm cho rằng mình không có ảo cảm.
Glamour goes on for quite a while and they are ever more subtle, difficult to recognize, difficult to deal with, even if the eventual mental focus, or sometimes called mental polarization, begins to obliterate our usual preoccupation with the astral plane. I was just reading that DK says that the majority of aspirants really are subject to the glamours of the astral plane, and they have to have an increasing mental soul-inspired focus in order to help obliterate the trap that such glamours present.
Ảo cảm còn kéo dài khá lâu, ngày càng tinh vi, khó nhận ra, khó xử lý, ngay cả khi sự tập trung trí tuệ cuối cùng đạt được, đôi khi gọi là sự phân cực trí tuệ, bắt đầu xóa bỏ mối bận tâm thường lệ của chúng ta với cõi cảm dục. Tôi vừa đọc thấy Chân sư DK nói rằng đa số người chí nguyện thực sự chịu tác động của những ảo cảm trên cõi cảm dục, và họ phải ngày càng tập trung trí tuệ dưới cảm hứng của linh hồn để giúp xóa bỏ cạm bẫy mà những ảo cảm ấy tạo ra.
I don't think there was one of the students that were attracted to DK and which he had chosen as part of his project that didn't have glamours. All of them did. I think even Alice Bailey, even Roberto Assagioli, who were definitely initiate disciples, disciples of the third degree definitely and working towards other self-sacrificial possibilities, namely working towards the ability to take the fourth initiation. That's pretty high. Some people who were so anxious to take it, really were nowhere near being able to do that, but they thought they were.
Tôi không nghĩ có một đạo sinh nào bị thu hút đến với Chân sư DK và được Ngài chọn tham gia dự án của Ngài mà lại không có ảo cảm. Tất cả đều có. Tôi nghĩ ngay cả Alice Bailey, ngay cả Roberto Assagioli, những người chắc chắn là đệ tử đã được điểm đạo, chắc chắn là đệ tử cấp ba và đang hướng đến những khả năng hi sinh bản thân khác, cụ thể là hướng đến khả năng tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư. Đó là một trình độ khá cao. Một số người hết sức nóng lòng muốn tiếp nhận lần điểm đạo ấy thực ra còn cách rất xa khả năng làm được điều đó, nhưng họ lại nghĩ mình đã có thể.
What DK has said is that the beginner—though they weren't really beginners entirely—the beginner is always more consciously conceited than the more experienced disciple. In other words, we don't have humility, we don't have that adjusted sense of right proportion. We simply think we have done more than we have, and so, one has to be really watchful about that so as not to be swept away by the glamour of personality, thinking that the personality is ever so much more accomplished and compliant and aligned than it really is.
Điều Chân sư DK đã nói là người mới bắt đầu—dù họ không hoàn toàn là người mới bắt đầu—luôn có sự tự phụ rõ rệt trong tâm thức hơn người đệ tử giàu kinh nghiệm. Nói cách khác, chúng ta thiếu khiêm nhường, thiếu ý thức đã được điều chỉnh về tỉ lệ đúng đắn. Chúng ta chỉ nghĩ mình đã làm được nhiều hơn thực tế, vì vậy cần thật sự cảnh giác về điều đó để không bị ảo cảm của phàm ngã cuốn đi, cho rằng phàm ngã đã thành tựu, thuận phục và chỉnh hợp hơn thực tế rất nhiều.
That's going to take some close self-observation, if you can stand it, if I can stand it.
Điều đó đòi hỏi phải tự quan sát thật kỹ, nếu các bạn chịu nổi, nếu tôi chịu nổi.
[5b] a. The Dissipation of Individual Glamour
[5b] a. Làm tiêu tan ảo cảm cá nhân
[6] Let us first of all consider the mode by which the individual aspirant
[6] Trước hết, chúng ta hãy xem xét phương thức mà qua đó người chí nguyện cá nhân
That's us.
Đó là chúng ta.
[7] can succeed in dissipating the glamours which have for ages conditioned his life in the three worlds.
[7] có thể thành công trong việc làm tiêu tan những ảo cảm vốn đã định hình đời sống của y trong ba cõi giới suốt nhiều thời đại.
Why? Because if emotional polarization is the likelihood throughout the Atlantean period, and if we've all been here during the Atlantean period, that's true of the great majority of us, certainly maybe a few have come in from other places more recently, some of the scientific types and so forth. Then, we know what he's talking about.
Tại sao? Bởi vì nếu sự phân cực cảm xúc rất có thể là tình trạng xuyên suốt thời kỳ Atlantis, và nếu tất cả chúng ta đều đã ở đây trong thời kỳ Atlantis—điều đó đúng với đại đa số chúng ta; tất nhiên, có lẽ một số ít mới đến từ những nơi khác gần đây hơn, một số người thuộc loại hình khoa học, v.v.—thì chúng ta biết Ngài đang nói về điều gì.
We have had our life conditioned by glamour for millions of years, as we labored in the Hall of Ignorance, where the higher of the pairs of opposites was not really known, and the lower of the pairs of opposites was that which commanded our attention.
Đời sống của chúng ta đã chịu ảnh hưởng của ảo cảm suốt hàng triệu năm, khi chúng ta nỗ lực trong Phòng Vô Minh, nơi cực cao hơn trong các cặp đối cực chưa thực sự được biết đến, còn cực thấp hơn trong các cặp đối cực là điều thu hút sự chú ý của chúng ta.
The individual aspirant can succeed in dissipating the glamours which have for ages conditioned his life in the three worlds.
Mỗi người chí nguyện có thể thành công trong việc làm tiêu tan những ảo cảm đã định hình đời sống của y trong ba cõi giới suốt bao thời đại.
[8] He has been dominated
[8] Dục vọng đã thống trị y
Oh my goodness, this is a good proportion!
Ôi trời, tỉ lệ này thật đáng kể!
He has been dominated
Y đã chịu sự chi phối
[9] by desire for four-fifths of his incarnated experience.
[9] trong bốn phần năm kinh nghiệm lâm phàm của y.
Let us say that incarnated experience began 21 million years ago, and four fifths of that—roughly 84 divided by five, which is about 17 million years—has been dominated by glamour. Just pause to think about why it should be so difficult, even for us who believe what we are taught here, to be rid of these glamours, which are often hiding away from our internal realization. That's a big statement: he has been dominated by desire for four fifths of his incarnated experience.
Giả sử trải nghiệm lâm phàm bắt đầu cách đây 21 triệu năm, và bốn phần năm khoảng thời gian ấy—xấp xỉ 84 chia cho năm, tức khoảng 17 triệu năm—đã chịu sự chi phối của ảo cảm. Hãy dừng lại một chút để nghĩ xem tại sao việc thoát khỏi những ảo cảm này lại khó khăn đến vậy, ngay cả đối với chúng ta, những người tin điều mình được dạy ở đây; chúng thường ẩn khuất khỏi sự nhận biết nội tâm của chúng ta. Đó là một phát biểu có sức nặng: y đã chịu sự chi phối của dục vọng trong bốn phần năm trải nghiệm lâm phàm của mình.
When you think that those early petals in the Hall of Ignorance take so long to open, you can understand that a lot of this domination has occurred within the Hall of Ignorance. Just the very first petal alone is going to take millions of years to open, and the same with the second petal. I don't have the figures obviously, but it's a long time, and then less and less time.
Khi nghĩ rằng những cánh hoa đầu tiên trong Phòng Vô Minh phải mất rất lâu mới khai mở, các bạn có thể thấu hiểu rằng phần lớn sự chi phối này đã diễn ra trong Phòng Vô Minh. Chỉ riêng cánh hoa đầu tiên cũng phải mất hàng triệu năm mới khai mở, và cánh hoa thứ hai cũng vậy. Dĩ nhiên tôi không có số liệu, nhưng đó là một thời gian dài, rồi thời gian ngày càng ngắn hơn.
The experience in the emotional petals, which is the second circle of petals, is not short. You have to travel from an egotistical, as we would say in our modern psychology, an egotistical, personal, individual point of view, all the way to being an initiate of the first degree, and that takes time. There are three or four big experiences along the way. At first, you're just an egotist, then you crash and burn, and then you begin saying, "What's this possible higher life that I might live as one who aspires?" Finally your aspiration turns into the attainment of opening the fifth petal, which signals that you have taken the first initiation. That's maybe four steps there. Anyway, it's not quick.
Trải nghiệm nơi những cánh hoa cảm xúc, tức vòng cánh hoa thứ hai, không hề ngắn. Các bạn phải đi từ một quan điểm vị kỷ, cá nhân, riêng biệt—như chúng ta thường nói trong tâm lý học hiện đại—cho đến khi trở thành điểm đạo đồ cấp một, và điều đó cần thời gian. Trên đường có ba hoặc bốn trải nghiệm lớn. Ban đầu, các bạn chỉ là người vị kỷ, rồi gặp thất bại thảm hại, sau đó bắt đầu tự hỏi: “Đời sống cao hơn mà tôi có thể sống như một người chí nguyện là gì?” Cuối cùng, khát vọng của các bạn chuyển thành thành tựu khai mở cánh hoa thứ năm, báo hiệu rằng các bạn đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất. Có lẽ có bốn bước ở đó. Dù sao, việc này không nhanh.
The quickest in the nine petals are the three fire sacrifice petals, and I suppose, in a way, the synthesis petals burst open at a certain point in our experience, but I'm arrested by this idea of dominated by desire for four fifths of his incarnated experience. Or maybe he's also including physical desire and not just astral desire, because the first petal is filled with physicality, and well, in a way, the second petal is as well. They are all earth sign petals.
Trong chín cánh hoa, khai mở nhanh nhất là ba cánh hoa hi sinh bằng lửa, và tôi cho rằng, theo một cách nào đó, những cánh hoa tổng hợp bung nở vào một thời điểm nhất định trong trải nghiệm của chúng ta, nhưng tôi đặc biệt chú ý đến ý tưởng chịu sự chi phối của dục vọng trong bốn phần năm trải nghiệm lâm phàm của mình. Hoặc có lẽ Ngài còn tính cả dục vọng hồng trần chứ không chỉ dục vọng cảm dục, vì cánh hoa đầu tiên tràn đầy tính chất hồng trần, và theo một cách nào đó, cánh hoa thứ hai cũng vậy. Tất cả đều là những cánh hoa thuộc dấu hiệu hành thổ.
Our aspirant here—we're talking about ourselves.
Người chí nguyện của chúng ta ở đây—chúng ta đang nói về chính mình.
[10] He has begun to transmute his desire into aspiration
[10] Y đã bắt đầu chuyển hoá dục vọng thành khát vọng
I'd like to suggest a sentence by The Tibetan which I'll get more or less correct: the highest type of aspirational idealism is found in Taurus. Does that surprise us? The highest form of aspirational idealism is found in Taurus, and thus connected with the second petal or the emotional petal, in the Hall of Ignorance. But at that point, it will not yet be the highest form of aspirational idealism.
Tôi muốn nêu một câu của Chân sư Tây Tạng mà tôi sẽ nhắc lại tương đối chính xác: loại lý tưởng khát vọng cao nhất nằm trong Kim Ngưu. Điều đó có khiến chúng ta ngạc nhiên không? Hình thức lý tưởng khát vọng cao nhất nằm trong Kim Ngưu, và do đó liên hệ với cánh hoa thứ hai, hay cánh hoa cảm xúc, trong Phòng Vô Minh. Nhưng ở giai đoạn ấy, đó vẫn chưa phải là hình thức lý tưởng khát vọng cao nhất.
We will have to somehow wait until a more advanced stage brings Taurus forward again, but as far as we are concerned, either as aspirants or disciples, we have begun to transmute desire into aspiration.
Bằng cách nào đó, chúng ta sẽ phải chờ đến khi một giai đoạn tiến bộ hơn đưa Kim Ngưu trở lại vị trí nổi bật, nhưng đối với chúng ta, dù là người chí nguyện hay đệ tử, chúng ta đã bắt đầu chuyển hoá dục vọng thành khát vọng.
[11] and to seek—with all the devotion, emotion and longing of which he is capable—for realization.
[11] và tìm kiếm sự chứng nghiệm—với tất cả lòng sùng tín, cảm xúc và niềm khao khát mà y có thể có.
You can understand why the sixth ray is becoming very important. I'm going to add a color which I often think is connected with the sixth ray, along with the rose color and sometimes the furious red of Mars.
Các bạn có thể thấu hiểu vì sao cung sáu đang trở nên rất quan trọng. Tôi sẽ thêm một màu mà tôi thường nghĩ có liên hệ với cung sáu, bên cạnh màu hồng và đôi khi là màu đỏ dữ dội của Sao Hỏa.
Nobody here has not transmuted desire, to a certain extent, into aspiration. What are we aspiring after? It's not easy to read The Tibetan, and yet, many of us, year after year, ponder over what he has said, and are accepting him as our teacher, even though ultimately we might belong to KH, Morya, or some other master. The Tibetan does have the great training ashram.
Ở đây không ai là chưa chuyển hoá dục vọng thành khát vọng ở một mức độ nào đó. Chúng ta đang khát vọng điều gì? Đọc Chân sư Tây Tạng không dễ, vậy mà nhiều người trong chúng ta, năm này qua năm khác, suy ngẫm những điều Ngài đã nói và đón nhận Ngài làm huấn sư, dù cuối cùng chúng ta có thể thuộc về Chân sư KH, Chân sư Morya hay một Chân sư nào khác. Chân sư Tây Tạng quả thực có ashram huấn luyện lớn.
He has begun to transmute his desire into aspiration and to seek—
Y đã bắt đầu chuyển hoá dục vọng của mình thành khát vọng và tìm kiếm—
This is so fervent, isn't it?
Thật tha thiết, phải không?
with all the devotion, emotion and longing of which he is capable—for realization.
với tất cả lòng sùng tín, cảm xúc và niềm khao khát mà y có thể có—sự chứng nghiệm.
That term realisation can be used in a general way, or if we look at the particular siddhis or powers of which a man is capable, then on the fifth subplane, fifth from the top, of the atmic plane, comes in this siddhi called Realization. It's of the same ilk, but even beyond divine vision of the astral plane. If you want to know where to get this, and probably many of you do know, turn to about page 188 in A Treatise on Cosmic Fire, and you'll see the senses and their higher correspondences.
Thuật ngữ chứng nghiệm có thể dùng theo nghĩa tổng quát, hoặc nếu xem xét những thần thông hay quyền năng cụ thể mà con người có thể đạt được, thì trên cõi phụ thứ năm, tính từ trên xuống, của cõi atma, xuất hiện thần thông gọi là Chứng Nghiệm. Nó cùng loại, nhưng còn vượt cả linh thị thiêng liêng của cõi cảm dục. Nếu muốn biết tìm điều này ở đâu, và có lẽ nhiều bạn đã biết, hãy mở khoảng trang 188 trong Luận về Lửa Vũ Trụ, các bạn sẽ thấy các giác quan cùng những tương ứng cao hơn của chúng.
We have to begin apparently with desire, and desire is all about putting the world which has been fragmented in our perception back together, if the desire is of the right kind. As Morya says, desire is a great cosmic principle; we have to use the right kinds of desire. We have to co-measure our desire; whenever you hear the word co-measure, think of a right proportion, think of humility. The Tibetan goes on:
Dường như chúng ta phải bắt đầu với dục vọng, và dục vọng hoàn toàn nhằm tái hợp thế giới đã bị phân mảnh trong nhận thức của chúng ta, nếu đó là loại dục vọng đúng đắn. Như Chân sư Morya nói, dục vọng là một nguyên khí vũ trụ vĩ đại; chúng ta phải sử dụng những loại dục vọng đúng đắn. Chúng ta phải biết cân xứng dục vọng của mình; mỗi khi nghe từ cân xứng, hãy nghĩ đến tỉ lệ đúng đắn, hãy nghĩ đến sự khiêm nhường. Chân sư Tây Tạng tiếp tục:
[12] It is then that he
[12] Chính lúc đó, y
that is, our aspirant disciple,
tức là người đệ tử chí nguyện của chúng ta,
[13] becomes aware of the appalling nature of the glamours in which he automatically and normally walks.
[13] bắt đầu nhận biết bản chất kinh khủng của những ảo cảm mà y vẫn thường sống trong đó một cách máy móc.
The Tibetan is not one who overstates things. He says what he says, and he means what he says. A lot of meditations involving the sixth ray are given by The Tibetan through the use of the color rose, to indicate that it is very emotional. This is almost amusing.
Chân sư Tây Tạng không phải là người nói quá. Ngài nói đúng điều Ngài nói, và thực sự muốn nói điều ấy. Chân sư Tây Tạng ban nhiều bài tham thiền liên quan đến cung sáu qua việc sử dụng màu hồng, để chỉ ra rằng cung này rất giàu cảm xúc. Điều này gần như buồn cười.
appalling nature of the glamours in which he automatically and normally walks.
bản chất kinh hoàng của những ảo cảm mà y vẫn tự động và thường xuyên sống trong đó.
He doesn't even think about it. He's just in it. The Tibetan said that both he and Alice Bailey were horrified by glamour, though he says it may have been a long time since he personally succumbed to glamour, and more recently Alice Bailey has. Both of us were horrified by glamour.
Y thậm chí không nghĩ đến điều đó. Y chỉ sống trong đó. Chân sư Tây Tạng nói rằng cả Ngài lẫn Alice Bailey đều kinh hoàng trước ảo cảm, dù Ngài nói có lẽ đã rất lâu kể từ khi chính Ngài khuất phục trước ảo cảm, còn Alice Bailey thì gần đây hơn. Cả hai chúng tôi đều kinh hoàng trước ảo cảm.
Now, pause for a moment and consider why it would be that astute people in the esoteric field, appraising what glamour is, should be horrified by it. There's a good reason for them to assess glamour as horrific. If you want to get stuck in the swamp, follow the swamp light. There's something called will-o'-the-wisp, sometimes called Irrlicht, or the light of error. You follow what you think is going somewhere, and the next moment you realize that you are in quicksand, and maybe you just can't get out. That's what happens with glamour. It seems so appealing.
Bây giờ, hãy dừng lại một chút và suy xét vì sao những người sáng suốt trong lĩnh vực huyền bí học, khi đánh giá ảo cảm là gì, lại kinh hoàng trước nó. Có lý do xác đáng để họ đánh giá ảo cảm là điều kinh hoàng. Nếu muốn mắc kẹt trong đầm lầy, hãy đi theo ánh sáng đầm lầy. Có một thứ gọi là ma trơi, đôi khi gọi là ánh sáng lầm lạc. Các bạn đi theo thứ mà mình nghĩ đang dẫn đến một nơi nào đó, rồi ngay sau đó nhận ra mình đang ở trong cát lún, và có lẽ không sao thoát ra được. Đó là điều xảy ra với ảo cảm. Nó có vẻ hấp dẫn biết bao.
I'm reminded of this channeling business that was going on during World War One. Some of the German elite, high military people were attending sessions in which a woman—I don't remember her name, but she was given a lot of credit—was channeling the superstar Aldebaran. Any sense of proportion would show the complete impossibility of there being any accuracy in that, and yet that channeling was part of what guided German response during the First World War.
Tôi nhớ đến chuyện truyền dẫn đã diễn ra trong Thế chiến thứ nhất. Một số người thuộc giới tinh hoa Đức, những quân nhân cấp cao, tham dự các buổi trong đó một phụ nữ—tôi không nhớ tên bà, nhưng bà được tín nhiệm rất nhiều—đang truyền dẫn từ ngôi sao siêu lớn Aldebaran. Chỉ cần có chút ý thức về tỉ lệ cũng đủ thấy hoàn toàn không thể có chút chính xác nào trong đó, vậy mà việc truyền dẫn ấy lại góp phần định hướng cách đáp ứng của Đức trong Thế chiến thứ nhất.
It can lead to very bad places, and lead us astray, and delude us until we are lost. Now let's go on a bit more because as we go along, he just says things which tie many more obscure statements together, and then of course, he offers still more obscure statements.
Nó có thể dẫn đến những nơi rất tệ hại, khiến chúng ta lạc đường và mê muội cho đến khi mất phương hướng. Bây giờ hãy tiếp tục thêm một chút, vì càng đi tiếp, Ngài càng nói những điều kết nối nhiều phát biểu khó hiểu hơn với nhau, rồi dĩ nhiên Ngài lại đưa ra những phát biểu còn khó hiểu hơn nữa.
[14] Glamour arose
[14] Ảo cảm nảy sinh
I want to say not so much in the first petal,
Tôi muốn nói rằng không hẳn ở cánh hoa đầu tiên,
Glamour arose
Ảo cảm nảy sinh
[15] when man recognized and registered desire as an incentive,
[15] khi con người nhận ra và ghi nhận dục vọng như một động lực,
It sounds very Taurean, doesn't it? That word incentive is always used in connection with Taurus.
Nghe rất mang tính Kim Ngưu, phải không? Từ động lực ấy luôn được dùng trong mối liên hệ với Kim Ngưu.
[16] thus demonstrating his humanity and his distinction from the animal, because it is the mind which reveals the existence of desire. The instinctual effort to satisfy desire—innate and inherent in the lower nature—gave place to planned efforts to meet desire, involving the directive use of the mind.
[16] qua đó biểu lộ nhân tính và sự khác biệt của mình với loài vật, bởi chính thể trí vén lộ sự tồn tại của dục vọng. Nỗ lực thoả mãn dục vọng theo bản năng—vốn bẩm sinh và cố hữu trong bản chất thấp—đã nhường chỗ cho những nỗ lực có kế hoạch nhằm đáp ứng dục vọng, trong đó thể trí được sử dụng để chỉ đạo.
We might suggest that it's not the best use of the mind, but the mind becomes involved in helping with the fulfillment of such desires.
Chúng ta có thể cho rằng đó không phải là cách sử dụng thể trí tốt nhất, nhưng thể trí tham gia hỗ trợ việc thực hiện những dục vọng ấy.
[17] Thus the line of demarcation between the animal and the human has become increasingly apparent and the first and basic expression of pure selfishness appeared eons ago.
[17] Như vậy, đường ranh phân định giữa loài vật và con người ngày càng trở nên rõ rệt, và biểu hiện đầu tiên, căn bản của tính ích kỷ thuần tuý đã xuất hiện từ những thời đại xa xưa.
I guess we would have to say, somehow in the petals of ignorance. It didn't end there, but I think it began there.
Tôi đoán chúng ta phải nói rằng, bằng cách nào đó, điều ấy xảy ra trong những cánh hoa vô minh. Nó không kết thúc ở đó, nhưng tôi nghĩ nó bắt đầu ở đó.
Glamour arose when man recognized and registered desire as an incentive,
Ảo cảm nảy sinh khi con người nhận ra và ghi nhận dục vọng như một động lực,
Usually in the beginning, what we might call desire was tied to the physical appetites, but later it found its independence from the physical appetites and people desired what is beautiful, let us say, beautiful to them. They began to desire contact with some transcendent Being; desire detached itself from the strictly physical appetites, those appetites were very keen in the opening of the first petal.
Thông thường, lúc ban đầu, điều chúng ta có thể gọi là dục vọng gắn liền với những ham muốn thể xác, nhưng về sau nó trở nên độc lập với những ham muốn thể xác, và con người khao khát cái đẹp, có thể nói là những gì đẹp đối với họ. Họ bắt đầu khao khát tiếp xúc với một Đấng siêu việt nào đó; dục vọng tách khỏi những ham muốn thuần túy thể xác, vốn rất mãnh liệt trong quá trình khai mở cánh hoa đầu tiên.
In doing this, he demonstrated his humanity and his distinction from the animal.
Qua việc này, y thể hiện nhân tính và sự khác biệt của mình với loài vật.
I have friends who say we're just animals and there's no human kingdom per se, just animals—some more stupid and some brighter like human beings, but just animals. Obviously, individuals who believe that have not been trained in esotericism and wouldn't really accept it anyway. But this is interesting.
Tôi có những người bạn nói rằng chúng ta chỉ là động vật và chẳng có chính giới nhân loại nào cả, chỉ có động vật—một số ngu độn hơn, một số thông minh hơn như con người, nhưng vẫn chỉ là động vật. Rõ ràng những người tin như vậy chưa được đào tạo về huyền bí học và dù sao cũng sẽ không thực sự chấp nhận nó. Nhưng điều này thú vị.
the mind which reveals the existence of desire.
thể trí làm hiển lộ sự tồn tại của dục vọng.
Otherwise, what do you have? You don't have sight; you just have response to desire. You hardly know what it is. It's just your way of living. You just have to have what you desire, and you don't see it, you don't evaluate it. You don't compare it in terms of the ladder of evolution, high and low.
Nếu không thì chúng ta có gì? Chúng ta không thấy; chỉ đáp ứng với dục vọng. Chúng ta hầu như không biết nó là gì. Đó chỉ là cách sống của mình. Chúng ta cứ phải có điều mình ham muốn, mà không nhìn thấy, không đánh giá nó. Chúng ta không so sánh nó theo những bậc cao thấp trên thang tiến hoá.
Although we began with instinctual effort to satisfy desire, such as we found very much in the Hall of Ignorance, along the first circle of petals, radiant energy substance gathered and looking perhaps something like a petal.
Dù chúng ta bắt đầu bằng nỗ lực theo bản năng nhằm thỏa mãn dục vọng, điều rất phổ biến trong Phòng Vô Minh, dọc theo vòng cánh hoa đầu tiên, chất liệu năng lượng rạng ngời tụ lại và có lẽ trông hơi giống một cánh hoa.
The instinctual effort to satisfy desire—innate and inherent in the lower nature—gave place to planned efforts to meet desire, involving the directive use of the mind.
Nỗ lực theo bản năng nhằm thỏa mãn dục vọng—vốn bẩm sinh và cố hữu trong bản chất thấp—đã nhường chỗ cho những nỗ lực có kế hoạch nhằm đáp ứng dục vọng, bao hàm việc sử dụng thể trí để chỉ đạo.
Now, as I say, it's not necessarily the best use of the mind to make it the servant of desire, but it's natural, and we all pass through that—a higher vehicle becoming for a while the slave to a lower vehicle. Maybe we can think back on times in our life when we planned and calculated, not to have light, not to have illumination, but to make sure that our desires could be carried out.
Như tôi đã nói, biến thể trí thành kẻ phục vụ dục vọng không nhất thiết là cách sử dụng tốt nhất, nhưng đó là điều tự nhiên, và tất cả chúng ta đều trải qua—một hiện thể cao hơn tạm thời trở thành nô lệ cho một hiện thể thấp hơn. Có lẽ chúng ta có thể nhớ lại những lúc trong đời mình đã lên kế hoạch và tính toán, không nhằm đạt ánh sáng, không nhằm có sự soi sáng, mà để bảo đảm những dục vọng của mình được thực hiện.
A man is distinguished from the animal because he recognizes his desires through the use of the mind. What else happens? The pure selfishness, the basic expression of selfishness appeared aeons ago. So, number one, the line of demarcation becomes increasingly apparent between man and animal, and the first basic expression of pure selfishness also appears.
Con người khác với loài vật vì nhận ra những dục vọng của mình qua việc sử dụng thể trí. Còn điều gì khác xảy ra? Tính ích kỷ thuần túy, biểu hiện căn bản của tính ích kỷ, đã xuất hiện từ nhiều thời đại trước. Vì vậy, thứ nhất, ranh giới phân định giữa con người và loài vật ngày càng rõ rệt, đồng thời biểu hiện căn bản đầu tiên của tính ích kỷ thuần túy cũng xuất hiện.
Now, maybe we don't have too much anymore of that pure selfishness. It's tainted by certain altruistic impulses, even among some of the worst people. They may be basically selfish, but maybe they love their children, or the wolf may hunt down others in a merciless manner, but he loves his own cubs and group, and so forth. Pure selfishness is hard to find. But there are some cases where people are just all wrapped up in themselves, and you are surprised.
Bây giờ, có lẽ chúng ta không còn quá nhiều tính ích kỷ thuần túy ấy nữa. Nó đã pha lẫn những thôi thúc vị tha nhất định, ngay cả ở một số người tệ hại nhất. Về căn bản, họ có thể ích kỷ, nhưng có lẽ họ yêu con cái mình; hoặc con sói có thể săn đuổi những con vật khác một cách tàn nhẫn, nhưng nó yêu đàn con và bầy của mình, v.v. Khó tìm thấy tính ích kỷ thuần túy. Nhưng có những trường hợp người ta hoàn toàn chỉ biết đến bản thân, khiến các bạn ngạc nhiên.
Think about Abraham Lincoln. Maybe some of you have been to the Lincoln Memorial and think about the second inaugural address given basically as the Civil War was winding down, and the loving thoughts expressed there, such that it's an inspiration to all who visit that almost sacred place, and then think of others these days, who are doing everything they can just to grab power for themselves. They seem very small compared to the breadth of soul of a Lincoln.
Hãy nghĩ đến Abraham Lincoln. Có lẽ một số bạn đã đến Đài tưởng niệm Lincoln, hãy nghĩ đến bài diễn văn nhậm chức lần thứ hai, về cơ bản được đọc khi cuộc Nội chiến sắp kết thúc, cùng những tư tưởng đầy tình thương được diễn đạt trong đó, đến mức trở thành nguồn cảm hứng cho tất cả những ai đến thăm nơi gần như thiêng liêng ấy; rồi hãy nghĩ đến những người khác ngày nay đang làm mọi cách chỉ để giành quyền lực cho mình. Họ có vẻ rất nhỏ bé so với tầm vóc linh hồn bao la của một người như Lincoln.
[18] Later, as evolution proceeded and desire shifted from one planned satisfaction to another,
[18] Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn và dục vọng chuyển từ sự thoả mãn có kế hoạch này sang sự thoả mãn có kế hoạch khác,
Remember that the third ray of intelligence is also the ray of planning. When you add third ray to sixth ray, you can make desire more effective.
Hãy nhớ rằng cung ba của trí thông minh cũng là cung lập kế hoạch. Khi kết hợp cung ba với cung sáu, các bạn có thể khiến dục vọng trở nên hiệu quả hơn.
[19] it began to take on a less physical aspect
[19] nó bắt đầu mang một phương diện ít thiên về hồng trần hơn
That's what I've been trying to drive at here. It became less wedded to the body per se.
Đó là điều tôi đang cố làm rõ ở đây. Nó trở nên ít gắn chặt với chính thân thể hơn.
It began—that is, desire began—
Nó bắt đầu—tức dục vọng bắt đầu—
to take on a less physical aspect
mang một phương diện ít tính hồng trần hơn
[20] and men sought pleasure in emotional experience and in its dramatization:
[20] và con người tìm kiếm lạc thú trong trải nghiệm cảm xúc cũng như trong việc kịch hoá trải nghiệm ấy:
Now, it takes us even back to the days of Hercules, who was a great first ray soul, but at the same time a dramatist who wrote stories that were enacted in order to demonstrate the progress of the soul to those who were not thinking verbally, but they could relate to the dramatization that he put forward, and of course, the Greek tragedies as well, and the comedies. The Greek chorus, and the rhythmic, hypnotic intonations of the Greek chorus reach people in a different way than just the verbal outreach.
Điều này đưa chúng ta trở lại tận thời Hercules, vốn là một linh hồn cung một vĩ đại, nhưng đồng thời cũng là một nhà soạn kịch, viết những câu chuyện để diễn lại nhằm cho những người không tư duy bằng ngôn từ thấy sự tiến bộ của linh hồn; họ có thể cảm nhận được cách kịch hóa mà ông trình bày, và dĩ nhiên cả những bi kịch cũng như hài kịch Hy Lạp. Dàn đồng ca Hy Lạp cùng những lối ngâm xướng nhịp nhàng, có sức thôi miên của họ tác động đến con người theo một cách khác với việc chỉ truyền đạt bằng ngôn từ.
The detachment of desire from the strictly physical aspect, emotional experience, and its dramatization. We see a lot of that today. The people that are in the field of acting, and many of them in the arts, are involved in this kind of thing. They have very strong emotions. DK says the artist has a strong astral body, and then finding a way to externalize it. DK goes on:
Sự tách rời dục vọng khỏi phương diện thuần túy hồng trần, trải nghiệm cảm xúc và việc kịch hóa trải nghiệm ấy. Ngày nay, chúng ta thấy điều này rất nhiều. Những người trong lĩnh vực diễn xuất, cùng nhiều người trong các ngành nghệ thuật, tham gia vào loại hoạt động này. Họ có những cảm xúc rất mạnh. Chân sư DK nói người nghệ sĩ có một thể cảm dục mạnh, rồi tìm cách ngoại hiện nó. Chân sư DK tiếp tục:
[21] this led to the establishment of the drama as its first artistic expression; by means of this, down the ages, man has supplemented individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it, thus exteriorising himself and supplementing his personal dramas, desires, and objectives with those which were developed by means of the creative imagination, thus laying the foundation for the recognition—intelligent and real—of the part in relation to the whole.
[21] điều này dẫn đến sự hình thành kịch nghệ như hình thức biểu hiện nghệ thuật đầu tiên của trải nghiệm ấy; nhờ đó, qua nhiều thời đại, con người đã bổ sung cho đời sống cảm xúc và đầy kịch tính của cá nhân bằng cách gián tiếp đắm mình vào đời sống ấy, qua đó biểu hiện bản thân ra bên ngoài và bổ sung cho những vở kịch, dục vọng cùng mục tiêu cá nhân của mình bằng những gì được phát triển nhờ sự tưởng tượng sáng tạo, từ đó đặt nền tảng cho việc nhận biết—một cách thông minh và thực sự—bộ phận trong mối quan hệ với toàn thể.
The drama is the first artistic expression. When you look at masonry, there is much dramatization going on, because certain types in masonry learn best by witnessing the Masonic dramas. We might say that the focus began to take on a less physical aspect.
Kịch nghệ là biểu hiện nghệ thuật đầu tiên. Khi xem xét Hội Tam Điểm, chúng ta thấy có nhiều hoạt động kịch hóa, vì một số loại người trong Hội Tam Điểm học tốt nhất qua việc chứng kiến những vở kịch của hội. Có thể nói rằng trọng tâm bắt đầu mang một phương diện ít tính hồng trần hơn.
We expect that the focus will change as we evolve, and we'll move up the ladder of refinement within the personality establishment of the drama as the first artistic expression. The Labours of Hercules are all part of that, and then, somehow in doing this...
Chúng ta kỳ vọng rằng trọng tâm sẽ thay đổi khi mình tiến hoá, và chúng ta sẽ đi lên những bậc tinh tế hơn trong phàm ngã, với sự hình thành kịch nghệ như biểu hiện nghệ thuật đầu tiên. Những Kỳ Công của Hercules đều thuộc về điều đó, rồi bằng cách nào đó, qua việc này...
Man has supplemented given additional material to, individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it,
Con người đã bổ sung thêm chất liệu cho đời sống cảm xúc và kịch tính cá nhân bằng việc đắm mình gián tiếp vào đó,
You go to a great play, and what's happening is not yours, but you are caught up through a kind of identification with the dramatic situation which the actors are presenting.
Các bạn đi xem một vở kịch lớn, và điều đang diễn ra không phải là chuyện của mình, nhưng các bạn bị cuốn vào qua một kiểu đồng hóa với tình huống kịch mà các diễn viên đang thể hiện.
The man is exteriorising himself and supplementing his personal dramas, desires, and objectives with those developed by means of the creative imagination.
Con người hướng mình ra ngoài và bổ sung cho những bi kịch, dục vọng cùng mục tiêu cá nhân bằng những điều phát triển qua sự tưởng tượng sáng tạo.
This is an interesting one.
Điều này thật thú vị.
thus laying the foundation for the recognition—intelligent and real—of the part in relation to the whole.
qua đó đặt nền móng cho sự nhận biết—thông minh và chân thực—về bộ phận trong mối quan hệ với toàn thể.
It's a very expansive paragraph.
Đây là một đoạn văn có ý nghĩa rất rộng.
Supplementation through creative imagination.
Sự bổ sung qua sự tưởng tượng sáng tạo.
Sometimes you might say that a play or the situation in it was more real to you than life itself. I remember many things about getting caught up in dramas. I was once on an aeroplane, so caught by the film that was going on that when people were standing up oblivious to it and in my way, I said so to them. I was not at all pleased with their rudeness. In fact, it was I perhaps who could not be detached and was being rude accordingly.
Đôi khi các bạn có thể nói rằng một vở kịch hay tình huống trong đó còn thật với mình hơn chính cuộc sống. Tôi nhớ nhiều chuyện về việc bị cuốn vào những vở kịch. Có lần trên máy bay, tôi bị bộ phim đang chiếu cuốn hút đến mức khi có người đứng dậy, chẳng để ý đến phim và chắn tầm nhìn của tôi, tôi đã lên tiếng với họ. Tôi hoàn toàn không hài lòng với sự bất lịch sự của họ. Thực ra, có lẽ chính tôi mới là người không thể tách rời và vì thế đã cư xử bất lịch sự.
I've seen quite a number of plays of that kind, and maybe operas, and so forth. My whole first part of my life was spent in music and opera. I just remember really being caught up in what was being represented.
Tôi đã xem khá nhiều vở kịch như vậy, có lẽ cả những vở nhạc kịch, v.v. Toàn bộ giai đoạn đầu đời tôi dành cho âm nhạc và nhạc kịch. Tôi chỉ nhớ mình thực sự bị cuốn vào những gì đang được trình diễn.
But this is the metaphysical part, laying the foundation for the recognition of the part in relation to the whole. Maybe we wouldn't expect that of a drama. Maybe if we thought about it, we would expect it.
Nhưng đây là phần siêu hình, đặt nền móng cho sự nhận biết về bộ phận trong mối quan hệ với toàn thể. Có lẽ chúng ta không chờ đợi điều đó ở một vở kịch. Có lẽ nếu suy nghĩ kỹ, chúng ta sẽ chờ đợi điều ấy.
Shakespeare had said, "Man struts and frets his hour upon the stage, and then is seen no more." It's from Macbeth—‘Out, out, brief candle.’ It's at the death of Lady Macbeth that Macbeth gives that evaluation about the poor player, man, here today and gone tomorrow, struggling, fretting a brief time.
Shakespeare từng nói: “Con người nghênh ngang rồi bồn chồn lo lắng trong giờ khắc của mình trên sân khấu, rồi không còn ai thấy nữa.” Câu ấy nằm trong Macbeth—‘Tắt đi, tắt đi, ngọn nến ngắn ngủi.’ Chính vào lúc Phu nhân Macbeth qua đời, Macbeth đưa ra nhận định ấy về người diễn viên đáng thương, con người, hôm nay còn đây, ngày mai đã mất, vật lộn và lo lắng trong một thời gian ngắn ngủi.
That's how some people do see things. When we're caught up in the drama of life without the esoteric understanding, that is often how we see things. But this business of the parts in relation to the whole, our tiny little part—there's a quote that comes to mind. What was it, Alexander Pope? Was his first name Alexander? I think so. The English poet. It had to do with the idea: "Act well thy part; there all the honor lies."
Đó là cách một số người nhìn sự việc. Khi bị cuốn vào vở kịch cuộc đời mà không có sự thấu hiểu huyền bí học, chúng ta thường nhìn sự việc như vậy. Nhưng chuyện những bộ phận trong mối quan hệ với toàn thể, phần nhỏ bé của chúng ta—có một câu trích chợt hiện lên trong trí tôi. Của ai nhỉ, Alexander Pope? Tên ông có phải là Alexander không? Tôi nghĩ là vậy. Nhà thơ Anh. Câu ấy mang ý này: “Hãy diễn tốt vai của mình; mọi vinh dự đều nằm ở đó.”
Think about that in relation to your assistance with the Divine Plan. The Tibetan says:
Hãy nghĩ đến điều ấy trong mối liên hệ với sự trợ giúp của các bạn đối với Thiên Cơ. Chân sư Tây Tạng nói:
[22] Thus from earliest Atlantean times
[22] Như vậy, từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất,
Where we're going to go back 12 million years ago at least,
Ở đây chúng ta sẽ quay về ít nhất 12 triệu năm trước,
[23] the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity
[23] nền tảng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về tính nhị nguyên thần bí, qua các giai đoạn nhận biết Thượng đế dưới hình thức nhân hoá
In other words, God is a person, the old man with a white beard etc. But that anthropomorphism is more deeply rooted. It means taking on the form of man, right? Morphic is form, and anthrop is man.
Nói cách khác, Thượng đế là một con người, ông lão với bộ râu trắng, v.v. Nhưng quan niệm nhân hình ấy có cội rễ sâu xa hơn. Nó có nghĩa là mang hình dáng con người, đúng không? Phần chỉ hình thái có nghĩa là hình tướng, còn phần chỉ nhân có nghĩa là con người.
The foundation was laid through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity
Nền móng đã được đặt qua các giai đoạn khác nhau của sự nhận biết Thượng đế theo hình người
[24] to the recognition of the real in man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple. Then the Dweller on the Threshold confronts the Angel of the Presence and the last and major conflict is fought out.
[24] cho đến sự nhận biết thực tại trong chính con người, để cuối cùng chúng ta đi đến vấn đề mà người đệ tử phải đối diện. Khi ấy, Kẻ Chận Ngõ đối mặt với Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột cuối cùng, lớn lao nhất diễn ra.
But in early Atlantean times, mystical duality emerged through anthropomorphic recognition of Deity, which is not what Deity is at all. That evaluation sufficed for the period. And then came the big battle in which, I'm sure, many of us in different ways—and maybe not entirely completely, but sufficiently—find ourselves absorbed.
Nhưng vào thời Atlantis sơ khai, nhị nguyên thần bí xuất hiện qua sự nhận biết Thượng đế theo hình người, điều hoàn toàn không đúng với bản chất của Thượng đế. Cách đánh giá ấy đã đủ cho thời kỳ đó. Rồi đến cuộc chiến lớn mà tôi chắc rằng nhiều người trong chúng ta, theo những cách khác nhau—và có lẽ chưa hoàn toàn trọn vẹn, nhưng cũng ở mức đáng kể—thấy mình đang bị cuốn vào.
[25] This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory
[25] Tâm thức nhị nguyên này đạt đến đỉnh điểm vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba, trong trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối cực và chiến thắng vẻ vang
Think of Scorpio.
Hãy nghĩ đến Hổ Cáp.
the triumphant victory
chiến thắng vẻ vang
[26] of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity. Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved.
[26] của Thiên Thần—hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, trong nhóm và trong nhân loại. Khi ấy, tính nhị nguyên và dục vọng đối với những gì thuộc vật chất và không phải là bản thân mình (khi đồng hoá với Toàn Thể) đều tiêu vong. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được thành tựu.
Certainly begins to be achieved. He gives us the whole story, and however long it may take in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory of the Angel.
Chắc chắn là bắt đầu được thành tựu. Ngài kể cho chúng ta toàn bộ câu chuyện, và dù có mất bao lâu trong cuộc chiến cuối cùng giữa các cặp đối cực và chiến thắng vẻ vang của Thiên Thần.
We go from a dualistic consciousness to the type of consciousness characterized by the three letters, M-O-N—monad, monk, mono—meaning one. Who is the Angel? The good, wherever it shows up, and even if it's in its projection as the Angel of the Presence.
Chúng ta đi từ tâm thức nhị nguyên đến loại tâm thức mang đặc trưng của ba chữ cái M-O-N—chân thần, tu sĩ, đơn nhất—có nghĩa là một. Thiên Thần là ai? Là cái thiện, bất cứ nơi nào nó xuất hiện, ngay cả trong sự phóng chiếu của nó thành Thiên Thần của Hiện Diện.
Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved.
Khi ấy, quan niệm nhị nguyên cùng dục vọng đối với những gì thuộc vật chất và không phải chính mình (khi đã đồng hóa với Toàn Thể) sẽ tàn lụi. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được thành tựu.
At least it begins, because the real ‘life more abundantly’ is an Aquarian factor and has to do with Shamballa. I'm not going to go any further, you will be happy to know.
Ít nhất điều ấy bắt đầu, vì “sự sống dồi dào hơn” thực sự là một yếu tố Bảo Bình và có liên hệ với Shamballa. Các bạn sẽ vui khi biết rằng tôi sẽ không đi xa hơn nữa.
It is not entirely easy to understand, but let us say it is sufficiently simplified by all the Tibetan's angles of explanation, so that it should not be impossible to understand.
Điều này không hoàn toàn dễ thấu hiểu, nhưng có thể nói rằng mọi góc độ giải thích của Chân sư Tây Tạng đã đơn giản hóa nó đủ để việc thấu hiểu không đến mức bất khả thi.
Questions and Answers – Hỏi và Đáp
Participant: Yes. Leslie asked you a question a little earlier on. She wanted to know if was the channeling in Hitler's circle done by Maria Orsic.
Người tham dự: Vâng. Leslie đã hỏi Thầy một câu cách đây ít lâu. Bà muốn biết việc truyền dẫn trong nhóm thân cận của Hitler có phải do Maria Orsic thực hiện không.
MDR: The channeling I was talking about was a World War One channeling, and I can't remember the name of the channel. You may have looked it up. I'm not remembering the name of the channel. I just know that she was much sought after, and apparently convinced the top brass that she was channeling the great star Aldebaran. If you think about it, I would have to look that up, but maybe you have looked it up.
MDR: Việc truyền dẫn mà tôi nói đến diễn ra trong Thế chiến thứ nhất, và tôi không nhớ tên người truyền dẫn. Có lẽ bạn đã tra cứu. Tôi không nhớ tên người truyền dẫn ấy. Tôi chỉ biết bà rất được săn đón, và dường như đã thuyết phục được giới chỉ huy cao cấp rằng bà đang truyền dẫn từ ngôi sao lớn Aldebaran. Nghĩ đến việc ấy, tôi sẽ phải tra cứu lại, nhưng có lẽ bạn đã tra rồi.
Participant: She also asked if it was the Vril group.
Người tham dự: Bà cũng hỏi liệu đó có phải là nhóm Vril không.
MDR: That I just do not know. I just do not know. It is the general idea there that people in the high ranks of the military were glamorously misled by a claimant of preposterous things. We're lucky if we channel our own soul instead of our subconscious mind. A lot of people who are not involved in the intelligent pursuit of occultism are in worse shape.
MDR: Điều đó thì tôi không biết. Ý chính ở đây là những người trong hàng ngũ quân sự cao cấp đã bị ảo cảm dẫn lạc bởi một người đưa ra những lời khẳng định hết sức phi lý. Chúng ta đã may mắn nếu truyền dẫn được từ chính linh hồn mình thay vì từ phần tiềm thức của thể trí. Nhiều người không theo đuổi huyền bí học một cách thông minh còn ở trong tình trạng tệ hơn.
I guess maybe it's quite natural for them to believe, "Oh, she's channeling Aldebaran, but someone else is channeling Betelgeuse." These are huge entities—we're talking about among the royal stars, at least Aldebaran. Common sense of a fairly well-trained esoteric student would warn away from that stuff. But it became an exciting thing, and it became as if truth. Who knows what damage it did on the battlefield and in the conduct of the war. It certainly contributed to a sense of exaltation among some of the leading military people.
Tôi đoán có lẽ đối với họ, tin rằng “Ồ, bà ấy đang truyền dẫn từ Aldebaran, còn người khác đang truyền dẫn từ Betelgeuse” là điều khá tự nhiên. Đây là những Thực Thể khổng lồ—chúng ta đang nói đến những ngôi sao thuộc hàng vương giả, ít nhất là Aldebaran. Lẽ thường của một đạo sinh huyền bí học được đào tạo tương đối tốt cũng đủ cảnh báo tránh xa những chuyện ấy. Nhưng nó đã trở thành một điều đầy kích thích, và trở nên như thể là chân lý. Ai biết nó đã gây ra tổn hại gì trên chiến trường và trong việc tiến hành chiến tranh. Chắc chắn nó đã góp phần tạo nên cảm giác hưng phấn cao độ ở một số lãnh đạo quân sự.
You may be correct, but I would have to go searching, which I'll just leave to you and to others. I have no time right now. I just know the general layout of the event.
Bạn có thể đúng, nhưng tôi sẽ phải tìm kiếm, việc đó tôi xin để bạn và những người khác làm. Lúc này tôi không có thời gian. Tôi chỉ biết đại thể diễn biến của sự việc.
Ann: Could you say a little more about the period of recognizing our own glamours and being horrified? Maybe tell us where that falls on the Path of Initiation?
Ann: Thầy có thể nói thêm một chút về giai đoạn nhận ra những ảo cảm của chính mình và kinh hoàng trước chúng không? Có lẽ xin Thầy cho chúng con biết giai đoạn ấy nằm ở đâu trên Con Đường Điểm Đạo?
MDR: It was true of Alice Bailey and The Tibetan. He said, "It may have been a long time since I succumbed to any glamour, and a shorter time since AAB did, but we're both horrified." So when could that be? It's not going to be before there is a mental focus, even mental polarization with the mind held steady in the light.
MDR: Điều đó đúng với Alice Bailey và Chân sư Tây Tạng. Ngài nói: “Có lẽ đã lâu rồi kể từ khi Tôi khuất phục trước bất kỳ ảo cảm nào, và với AAB thì khoảng thời gian ấy ngắn hơn, nhưng cả hai chúng tôi đều kinh hãi.” Vậy điều đó có thể xảy ra khi nào? Sẽ không thể trước khi có sự tập trung trí tuệ, thậm chí sự phân cực trí tuệ, với thể trí được giữ vững trong ánh sáng.
You have to be at least a disciple of some standing, not necessarily a third degree initiate, but a probationary disciple of some standing, in order to really begin to recognize your glamours. You have to have that mental polarization, where the mind aided by the love of the soul is taking over the usual emotional response. A person who is the victim of emotional glamours but does not have that mental disciplic focus, centering around the second initiation, maybe when the antahkarana is being built and so forth, is just not going to be able to say, "Ah, yes, now I see. I was deluded. I didn't see it before. Yes, it looks like I had been the victim of X, Y or Z."
Ít nhất, các bạn phải là một đệ tử đã có nền tảng nhất định, không nhất thiết là một điểm đạo đồ bậc ba, mà là một đệ tử dự bị đã có nền tảng nhất định, để thực sự bắt đầu nhận ra các ảo cảm của mình. Các bạn phải có sự phân cực trí tuệ ấy, khi thể trí, với sự trợ giúp của bác ái từ linh hồn, đang thay thế lối đáp ứng cảm xúc thông thường. Một người là nạn nhân của các ảo cảm thuộc cảm xúc nhưng không có sự tập trung trí tuệ của người đệ tử ấy—quanh giai đoạn lần điểm đạo thứ hai, có lẽ khi antahkarana đang được xây dựng, v.v.—sẽ không thể nói: “À, đúng rồi, giờ tôi thấy. Tôi đã lầm lạc. Trước đây tôi không thấy điều đó. Đúng, có vẻ tôi đã là nạn nhân của X, Y hoặc Z.”
In my opinion, anyway, which is all it is, it would help to be an accepted disciple, it would help to be under the Master’s supervision, it would help to be a kind of individual who had a mental outlook on life—but not just a cold, hard, brittle, dry mental outlook, but one that is characteristic of the soul-infused mind, which is characteristic of the initiate, pending the initiate of the second degree.
Dù sao, theo ý kiến của tôi—và đó chỉ là ý kiến của tôi—việc là một đệ tử được chấp nhận sẽ có ích, việc ở dưới sự giám sát của Chân sư sẽ có ích, việc là người có cách nhìn cuộc sống bằng trí tuệ sẽ có ích; nhưng không chỉ là cách nhìn bằng trí tuệ lạnh lùng, cứng rắn, khô khan, dễ gãy vỡ, mà là cách nhìn đặc trưng của thể trí được linh hồn thấm nhuần, đặc trưng của điểm đạo đồ đang tiến tới bậc hai.
I would say around the period of the second degree, and remember how important Mercury is at that second degree when you can really begin building the antahkarana in the manner that DK suggested. That very mental planet involved with the abstract mind, but also with pure reason. Mercury gets into the act and certainly helps. I would say there's not one of us here, if we are persistent, who cannot recognize some of the glamours to which we are prone, especially as maybe people we live with, or around us, are only too ready to remind us about things that we don't see in ourselves.
Tôi cho rằng đó là vào khoảng giai đoạn bậc hai; và hãy nhớ Sao Thủy quan trọng thế nào ở bậc hai ấy, khi các bạn thực sự có thể bắt đầu xây dựng antahkarana theo cách Chân sư DK đã đề xuất. Hành tinh rất thiên về trí tuệ ấy liên quan đến trí trừu tượng, nhưng cũng liên quan đến lý trí thuần khiết. Sao Thủy tham gia và chắc chắn trợ giúp. Tôi cho rằng trong chúng ta ở đây, nếu kiên trì, không ai lại không thể nhận ra một vài ảo cảm mà mình dễ mắc phải, nhất là khi những người sống cùng chúng ta, hoặc ở quanh chúng ta, có lẽ rất sẵn lòng nhắc chúng ta về những điều mà chúng ta không thấy nơi chính mình.
Sometimes I say, we have a PIP test, personal identity profile, and why don't you have someone who knows you well take the PIP for you, as it were, their impressions of you. Maybe you'll see something that you didn't see as vividly. I had a person do this, who knew me quite well, and I came out to be quite a fanatic, which I had not—at least in their eyes—judged myself to be quite so much along that line. But that's how they saw me, and maybe I found that helpful. I think it's amusing too when their taking of the PIP corresponds with your taking of the PIP, then we may be nearer to truth in both cases, that they have a sharp eye and you have been truthful about yourself.
Đôi khi tôi nói, chúng ta có bài trắc nghiệm PIP, hồ sơ bản sắc cá nhân, vậy tại sao các bạn không nhờ một người hiểu rõ mình làm PIP cho mình, có thể nói là dựa trên ấn tượng của họ về mình. Có lẽ các bạn sẽ thấy điều gì đó mà trước đây mình chưa thấy rõ đến thế. Tôi từng nhờ một người khá hiểu tôi làm việc này, và kết quả cho thấy tôi khá cuồng tín, trong khi tôi chưa từng đánh giá mình thiên về khuynh hướng ấy nhiều đến vậy—ít nhất là như trong mắt người ấy. Nhưng đó là cách người ấy nhìn tôi, và có lẽ tôi thấy điều đó hữu ích. Tôi nghĩ cũng thú vị khi kết quả PIP của họ trùng với kết quả PIP của các bạn; khi ấy, có lẽ cả hai phía đều đến gần sự thật hơn: họ có con mắt tinh tường, còn các bạn đã thành thật về chính mình.
Anyway, you can begin now.
Dù sao, bạn có thể bắt đầu ngay bây giờ.
Mary: I'm reflecting on the discernment between lower desire of glamour, Scorpio, to the aspiration to the light in Sagittarius as the Phoenix, without attachment or aversion, but in beingness, living, embracing compassionately, and being able to be in awe with art and beauty in service to humanity, not to the attachment of the personality.
Mary: Tôi đang suy ngẫm về sự phân biện tinh thần giữa dục vọng thấp của ảo cảm, Hổ Cáp, và khát vọng hướng tới ánh sáng trong Nhân Mã như Phượng Hoàng, không chấp trước hay ác cảm, mà hiện tồn, sống, đón nhận bằng lòng từ bi, và có thể cảm thấy kính ngưỡng trước nghệ thuật và vẻ đẹp trong việc phụng sự nhân loại, không hướng tới sự chấp trước của phàm ngã.
MDR: There are higher arts definitely. It's not to say that when we encounter art, we have some low thing. As a matter of fact, DK is promising for us a new renaissance under the Monadic aspect of the fourth ray, which is coming in around the year 2025. Even though there are ways of escaping through what we normally call art, or television drama, or whatever—if you've ever had the fortune or misfortune of looking at some of the soap operas—they're not exactly the highest in terms of art, and they're very personal. But as Master Morya says, in one transport of art (I'm not going to say it right), the idea is that art transports you rapidly into a realm which transcends—and this I think I have right—the cerebral sinuosity of the brain.
MDR: Chắc chắn có những loại hình nghệ thuật cao hơn. Không phải cứ gặp nghệ thuật là chúng ta gặp một điều gì thấp kém. Thực ra, Chân sư DK hứa hẹn với chúng ta một thời kỳ phục hưng mới dưới phương diện chân thần của cung bốn, đang đi vào biểu hiện vào khoảng năm 2025. Dù có những cách trốn tránh qua những gì chúng ta thường gọi là nghệ thuật, hay phim truyền hình, hay bất cứ thứ gì—nếu các bạn từng may mắn hoặc không may xem một vài bộ phim truyền hình dài tập kiểu ấy—thì chúng không hẳn đạt đỉnh cao nghệ thuật, và chúng rất mang tính cá nhân. Nhưng như Chân sư Morya nói, chỉ trong một lần được nghệ thuật nâng bổng—tôi sẽ không nói đúng nguyên văn—ý tưởng là nghệ thuật nhanh chóng đưa các bạn vào một cảnh giới vượt lên trên—và tôi nghĩ phần này tôi nhớ đúng—những nếp uốn quanh co của bộ não.
There are ways of really respecting the way art has of sensitizing the individual. Frequently, DK uses the word art rather than science. Once the knowledge of science has been learned, it can be applied intuitively, artistically. There are these higher forms.
Có những cách thực sự trân trọng khả năng làm cho con người trở nên nhạy cảm hơn của nghệ thuật. Chân sư DK thường dùng từ nghệ thuật thay vì khoa học. Một khi đã học được tri thức khoa học, người ta có thể vận dụng nó bằng trực giác, một cách nghệ thuật. Có những hình thức cao hơn như thế.
We can become the Phoenix as we pass the burning grounds, because there's an incineration of old obstacles on the burning grounds, at least before the first three initiations; because of that, we can fly much freer.
Chúng ta có thể trở thành Phượng Hoàng khi đi qua những vùng đất cháy, vì tại đó những chướng ngại cũ bị thiêu rụi, ít nhất là trước ba lần điểm đạo đầu tiên; nhờ vậy, chúng ta có thể bay tự do hơn nhiều.
Is there a higher type of Phoenix? I think there is. I think that what happens is you pass the ascension initiation at the sixth degree, as the Christ did, when he, so to speak, disappeared into a cloud, which is all that his disciples could imagine had happened. and went as a seventh degree Chohan to sit at the right hand of the Father symbolically speaking? That is a phoenix-like arising into as high a position on the cosmic physical plane as may be possible, and he holds very close to that very high position on the cosmic physical plane, being a member of the council at Shamballa.
Có một loại Phượng Hoàng cao hơn không? Tôi nghĩ là có. Tôi nghĩ điều xảy ra là người ta vượt qua cuộc điểm đạo Thăng Thiên ở bậc sáu, như Đức Christ đã làm khi, có thể nói, Ngài biến mất vào một đám mây—đó là tất cả những gì các đệ tử của Ngài có thể hình dung đã xảy ra—rồi, với tư cách một Chohan bậc bảy, Ngài đến ngồi bên hữu Đức Chúa Cha, nói theo nghĩa biểu tượng? Đó là sự vươn lên như Phượng Hoàng tới vị trí có lẽ cao nhất có thể trên cõi hồng trần vũ trụ, và Ngài vẫn ở rất gần vị trí vô cùng cao ấy trên cõi hồng trần vũ trụ, với tư cách là thành viên của hội đồng tại Shamballa.
You can interpret arts, sciences, ascension, elevation—you can interpret all these things from a lower perspective or a higher perspective. Try to be clear about which one we're using.
Các bạn có thể diễn giải nghệ thuật, khoa học, sự thăng thiên, sự nâng cao—có thể diễn giải tất cả những điều này từ một góc nhìn thấp hơn hoặc cao hơn. Hãy cố làm rõ chúng ta đang dùng góc nhìn nào.
Participant: I hadn't really finished reading it. She went on to say, could you highlight the discernment here. But I think you actually did that, so I'm pretty sure that covers what she was asking, and then Yvonne put in there to everyone that page 120 of the glamour book is where the glamours are for all the different rays.
Người tham dự: Tôi thực ra chưa đọc xong. Bà ấy nói tiếp: Thầy có thể làm rõ sự phân biện tinh thần ở đây không? Nhưng tôi nghĩ Thầy thực sự đã làm điều đó, nên tôi khá chắc rằng phần ấy đã giải đáp điều bà ấy hỏi. Rồi Yvonne nhắn cho mọi người rằng trang 120 của sách Ảo cảm là nơi liệt kê các ảo cảm của tất cả các cung khác nhau.
MDR: That all starts here. Obviously, he hasn't mentioned all. He came up with many unique glamours for the students to whom he was informing about their glamours, but at least it was a very good start. You may be able to do this quite on your own, but when you have the help of truly honest associates, then maybe what they say can be additionally helpful in pointing out your own individual glamours.
MDR: Tất cả bắt đầu ở đây. Hiển nhiên, Ngài chưa đề cập đến tất cả. Ngài đã nêu ra nhiều ảo cảm riêng biệt cho những đạo sinh mà Ngài đang chỉ cho họ thấy các ảo cảm của mình, nhưng ít nhất đó là một khởi đầu rất tốt. Các bạn có thể tự làm việc này, nhưng khi có sự trợ giúp của những người đồng hành thực sự thành thật, thì có lẽ lời họ nói có thể giúp thêm trong việc chỉ ra những ảo cảm riêng của các bạn.
We have to assume that we still have them even though they might be quite high in a certain sense. We might say, why did the rich young man of the third degree go sadly away, having fulfilled so very much, yet he went sadly away when the Christ said to him, "Take all you have, give it to the poor, or sell it and take the proceeds and give them to the poor, and then follow me." And that was at a high point. What shall we call it? A glamour? An illusion?
Chúng ta phải cho rằng mình vẫn còn những ảo cảm ấy, dù theo một nghĩa nào đó, chúng có thể khá cao. Chúng ta có thể hỏi: tại sao người thanh niên giàu có ở bậc ba lại buồn bã bỏ đi, sau khi đã hoàn thành rất nhiều điều? Thế mà y vẫn buồn bã bỏ đi khi Đức Christ nói với y: “Hãy lấy tất cả những gì ngươi có mà cho người nghèo, hoặc bán đi, lấy tiền thu được mà cho người nghèo, rồi theo Ta.” Và đó là ở một giai đoạn cao. Chúng ta nên gọi điều ấy là gì? Một ảo cảm? Một ảo tưởng?
He had the glamour of the sufficient adequacy of the causal body, and we all know what happens to the Egoic Lotus—that it does not remain sufficient forever. Now, it may be a number of lives ahead before we really experience that, but it does not serve forever. There are other and higher states that have to take its place.
Y có ảo cảm cho rằng thể nguyên nhân đã đầy đủ và thích đáng, và tất cả chúng ta đều biết điều gì xảy ra với Hoa Sen Chân Ngã: nó không mãi mãi đáp ứng đủ. Có thể phải nhiều kiếp nữa chúng ta mới thực sự trải nghiệm điều đó, nhưng nó không phụng sự mãi mãi. Có những trạng thái khác và cao hơn phải thay thế nó.
Yvonne: Where are they located in your book Tapestry of the Gods?
Yvonne: Chúng nằm ở đâu trong cuốn Tấm Thảm của các Thượng Đế của Thầy?