Trích nội dung chương
MDR: Maybe someone knows. I'm not sure that I dealt particularly and in a condensed manner with glamour. Maybe I did. It's been a long time since I wrote that book. MDR: Có lẽ ai đó biết. Tôi không chắc mình đã bàn riêng về ảo cảm một cách cô đọng hay chưa. Có lẽ là có. Đã lâu lắm rồi kể từ khi tôi viết cuốn sách ấy.
MDR: Maybe someone knows. I'm not sure that I dealt particularly and in a condensed manner with glamour. Maybe I did. It's been a long time since I wrote that book.
MDR: Có lẽ ai đó biết. Tôi không chắc mình đã bàn riêng về ảo cảm một cách cô đọng hay chưa. Có lẽ là có. Đã lâu lắm rồi kể từ khi tôi viết cuốn sách ấy.
Participant: Michael, this is not a criticism, but there is nothing in Tapestry that's in a condensed manner.
Người tham dự: Michael, đây không phải lời phê bình, nhưng trong cuốn Tấm Thảm chẳng có gì được trình bày một cách cô đọng cả.
MDR: About nothing that is what? Condensed? Nothing condensed. It is all expanded.
MDR: Hầu như chẳng có gì là sao? Cô đọng à? Không có gì cô đọng. Tất cả đều được khai triển.
Participant: It is quite descriptive.
Người tham dự: Sách mô tả khá tường tận.
MDR: It is all expanded, yes.
MDR: Đúng, tất cả đều được khai triển.
MDR: I'm sure I mentioned foibles for many combinations. I just don't know if I've put them together in glamour lists. Maybe somehow, somewhere in the book.
MDR: Tôi chắc mình đã đề cập đến những điểm yếu của nhiều tổ hợp. Tôi chỉ không biết mình có tập hợp chúng thành những danh sách ảo cảm hay không. Có lẽ bằng cách nào đó, ở đâu đó trong sách.
Martine: The glamour of continuous frustration, in the constant failure to achieve the fullest expression of your spiritual aims and goals. She says DINA II, page 601, to a disciple.
Martine: Ảo cảm của sự thất vọng triền miên, khi liên tục không thể biểu hiện trọn vẹn nhất các mục đích và mục tiêu tinh thần của em. Bà ấy nói rằng đoạn này ở DINA II, trang 601, viết cho một đệ tử.
MDR: I wonder if it is to DLR. If you flip back to where it starts in Volume II, what is the name of the disciple? Or does it just say, “Brother of mine,” or something like that? I think you said 601.
MDR: Tôi tự hỏi liệu đó có phải là thư gửi DLR không. Nếu bạn lật ngược lại đến chỗ bắt đầu trong Tập II, tên người đệ tử là gì? Hay chỉ viết “Huynh đệ của Tôi”, hoặc đại loại như thế? Tôi nghĩ bạn nói là trang 601.
MDR: There was one disciple who was constantly frustrated by circumstance. He got involved in such petty little things that it rather overwhelmed him. And then of course, there's the fear of failure in carrying out one's mission. The idea that one has a special destiny can be a Ray One glamour, but it does sound likely for a man who was really quite a high probationary initiate. I would say he was pushing through the second degree. This was my estimation of him, and he was thwarted again and again by his surroundings.
MDR: Có một đệ tử liên tục gặp sự cản trở của hoàn cảnh. Ông vướng vào những chuyện vụn vặt đến mức chúng gần như lấn át ông. Và dĩ nhiên, còn có nỗi sợ thất bại trong việc thực hiện sứ mệnh của mình. Ý tưởng rằng mình có một vận mệnh đặc biệt có thể là một ảo cảm cung một, nhưng điều ấy quả có vẻ hợp lý đối với một người thực sự là điểm đạo đồ dự bị ở trình độ khá cao. Tôi cho rằng ông đang nỗ lực vượt qua bậc hai. Đó là đánh giá của tôi về ông, và hết lần này đến lần khác, môi trường quanh ông lại cản trở ông.
I'm sure you know it's not uncommon. Many of us say, "Oh, if only I had the time to do this, that, or the other, but I'm so involved in what I have to do karmically or dharmically, or in some other way. I just have to do these things. They're not really what I want to do, but I have to do them. And if only I didn't, then I could really fulfill myself." But sometimes, that is actually an untruth.
Tôi chắc các bạn biết điều này không hiếm. Nhiều người trong chúng ta nói: “Ôi, giá mà tôi có thời gian làm việc này, việc kia, hay việc nọ, nhưng tôi quá bận với những gì mình phải làm theo nghiệp quả, theo bổn phận, hoặc theo một cách nào khác. Tôi buộc phải làm những việc này. Chúng không thực sự là điều tôi muốn làm, nhưng tôi phải làm. Và giá mà tôi không phải làm, thì tôi có thể thực sự phát huy trọn vẹn bản thân.” Nhưng đôi khi, điều đó thực ra không đúng.
If we look at the Gemini labor of Hercules, poor Hercules was always being stopped every time he thought he was getting near the Golden Apples of the Hesperides. He found he had something else to do, whether it was going to be to free Prometheus, or to help Atlas, or to fight Antaeus. He had difficult chores that he says, "This is leading me away from the golden apples," when in fact, it was precisely because of his sacrifice, leading him to the golden apples.
Nếu nhìn vào kỳ công của Hercules trong Song Tử, Hercules tội nghiệp luôn bị ngăn lại mỗi khi tưởng mình đang đến gần những Quả Táo Vàng của các Hesperides. Ông thấy mình còn việc khác phải làm, dù là giải thoát Prometheus, giúp Atlas, hay chiến đấu với Antaeus. Ông có những nhiệm vụ khó khăn khiến ông nói: “Việc này đang dẫn tôi rời xa những quả táo vàng”, trong khi thực ra, chính sự hi sinh của ông qua những việc ấy đang dẫn ông đến với những quả táo vàng.
I'm trying to listen to myself talk because I think I'm the victim of this one. Sometimes, when we think that we're being stopped from what our real destiny is, we're actually being led to it by working on the karma and the duty—both Saturn things—that stand between us and the selflessness it requires to receive the Golden Apples of wisdom. That's sometimes a hard lesson to learn. You get really frustrated, and think, "I don't want to do this. Why do I have to do this, and not that? And yet, I have to do this?" Well, that might have to do with the sense of responsibility.
Tôi đang cố lắng nghe chính mình nói, vì tôi nghĩ mình là nạn nhân của ảo cảm này. Đôi khi, khi nghĩ mình đang bị ngăn cản đến với vận mệnh thực sự của mình, chúng ta thực ra đang được dẫn tới đó bằng cách giải quyết nghiệp quả và bổn phận—cả hai đều thuộc Sao Thổ—vốn nằm giữa chúng ta và lòng vị tha cần có để đón nhận những Quả Táo Vàng của minh triết. Đó đôi khi là một bài học khó học. Các bạn thực sự thất vọng và nghĩ: “Tôi không muốn làm việc này. Tại sao tôi phải làm việc này mà không phải việc kia? Thế mà tôi vẫn phải làm việc này sao?” Điều ấy có thể liên quan đến ý thức trách nhiệm.
Djwhal Khul says the very first indication that the soul is really taking control is to fulfill responsibility even though it's annoying at times.
Chân sư Djwhal Khul nói rằng dấu hiệu đầu tiên cho thấy linh hồn đang thực sự nắm quyền kiểm soát là hoàn thành trách nhiệm, dù đôi khi điều đó gây phiền lòng.
BL: You mentioned it [glamour] a number of times. I mean, you literally list the glamour of this or the glamour of that. I found 36 occurrences in Volume One and 20 occurrences in Volume Two. Someone said they don't have the book, but the book is available on Makara. You can download Volumes One and Two in PDF; it is very easy to download and find them.
BL: Thầy đã đề cập đến nó [ảo cảm] nhiều lần. Ý tôi là Thầy thực sự liệt kê ảo cảm này hoặc ảo cảm kia. Tôi tìm thấy 36 lần xuất hiện trong Tập Một và 20 lần trong Tập Hai. Có người nói mình không có sách, nhưng sách có trên Makara. Các bạn có thể tải Tập Một và Tập Hai ở định dạng PDF; rất dễ tải về và tìm chúng.
Participant: Now, let me see. It was RSU was the disciple in DINA II, page 601. Somebody looked that up for us. Thank you.
Người tham dự: Để tôi xem. Người đệ tử trong DINA II, trang 601 là RSU. Có người đã tra giúp chúng ta. Xin cảm ơn.
MDR: That's another important disciple. What did it say of her? That she was Alice Bailey's right hand person. She was the main editor of the books, and she probably had many trivial things to do, and she dreamt of liberation. Finally, a liberation came to her as she was transferred back into her own true ashram, which was that of Master Kuthumi. This means certainly that she was in the area or beyond the second degree.
MDR: Đó là một đệ tử quan trọng khác. Người ta đã nói gì về bà? Rằng bà là cánh tay phải của Alice Bailey. Bà là người biên tập chính của các cuốn sách, và có lẽ bà có nhiều việc vụn vặt phải làm, trong khi bà mơ ước được giải thoát. Cuối cùng, sự giải thoát đã đến với bà khi bà được chuyển trở về ashram thực sự của mình, là ashram của Chân sư Kuthumi. Điều này chắc chắn có nghĩa là bà ở vào khoảng bậc hai hoặc đã vượt qua bậc ấy.
The status of a disciple is pretty much between that disciple and the master, but there are indications, and she was a high achieving disciple who had her own issues, difficult issues, because it was all about for her Judaism. She was born in the Jewish group, but DK assured her that for many lives, she had been not in the Jewish group, and this was just a temporary landing. But she identified so strongly with it that she made some big mistakes in terms of the overall teaching, and became hypersensitive on matters in relation to which she could have had more detachment.
Địa vị của một đệ tử phần lớn là chuyện giữa người đệ tử ấy và Chân sư, nhưng vẫn có những dấu hiệu; và bà là một đệ tử đạt nhiều thành tựu, đồng thời có những vấn đề riêng, những vấn đề khó khăn, vì đối với bà, mọi chuyện đều xoay quanh Do Thái giáo. Bà sinh ra trong cộng đồng Do Thái, nhưng Chân sư DK cam đoan với bà rằng trong nhiều kiếp, bà không thuộc cộng đồng Do Thái, và đây chỉ là một lần dừng chân tạm thời. Nhưng bà đồng hoá với cộng đồng ấy mạnh mẽ đến mức mắc một số sai lầm lớn trong cách hiểu giáo huấn tổng thể, và trở nên quá nhạy cảm về những vấn đề mà lẽ ra bà có thể giữ thái độ tách rời hơn.
Alice Bailey could have taught her that, and probably tried to do so. But there was a stubborn streak within her, and later she realized her errors, but for quite a while she was under that spell. She was a high disciple, and also one of the ones in the telepathic seed group, which had, I think, very abstruse instruction. The more I go through that book, the more I realize The Tibetan is really searching for words to convey something that is not at all easy for him to convey with words.
Alice Bailey có thể đã dạy bà điều đó, và có lẽ đã cố làm như vậy. Nhưng trong bà có một nét cố chấp; về sau bà nhận ra những sai lầm của mình, song trong một thời gian khá dài, bà vẫn chịu sức mê hoặc ấy. Bà là một đệ tử cao cấp, và cũng là một trong những người thuộc Nhóm hạt giống viễn cảm, vốn nhận những huấn thị mà tôi nghĩ là rất thâm áo. Càng đọc kỹ cuốn sách ấy, tôi càng nhận ra Chân sư Tây Tạng thực sự đang tìm kiếm từ ngữ để truyền đạt một điều mà Ngài hoàn toàn không dễ diễn tả bằng lời.
RSU or DLR—they were both high disciples. The story of RSU is a very interesting story. I think, what do her letters stand for? The first one is Restraint. R is restraint. Strength, Understanding.
RSU hay DLR—cả hai đều là những đệ tử cao cấp. Câu chuyện về RSU rất thú vị. Tôi đang nghĩ, các chữ cái của bà tượng trưng cho điều gì? Chữ đầu tiên là Tự chế. R là tự chế. Sức mạnh, Thấu hiểu.
I don't know which one was italicized. I'd have to go hunting. But part of her difficulty was, I guess, that she was impulsive and needed to hold back in places where she was prone to act in ways that were maybe not meshing with a group. Just like Alice Bailey, Skill in Action, I think, was the one. I think so. Maybe you could tell me different. Alice Bailey was DSR, was it? Detachment, rest, and skill in action.
Tôi không biết từ nào được in nghiêng. Tôi phải đi tìm mới biết. Nhưng tôi đoán một phần khó khăn của bà là tính bốc đồng, và bà cần kiềm chế ở những chỗ mà bà dễ hành động theo cách có lẽ không hoà hợp với nhóm. Cũng như Alice Bailey, tôi nghĩ đó là Khéo léo trong Hành động. Tôi nghĩ vậy. Có lẽ các bạn có thể cho tôi biết khác đi. Alice Bailey là DSR, phải không? Tách rời, nghỉ ngơi, và khéo léo trong hành động.
Participant: Detachment was the one italicized for her.
Người tham dự: Tách rời là từ được in nghiêng đối với bà.
MDR: That's the italicized one. You wouldn't know it. Good thing she had a good Gemini sense of humor. So the story goes about her.
MDR: Đó là từ được in nghiêng. Nhìn bà thì khó mà đoán được. May là bà có óc hài hước của Song Tử rất tốt. Người ta kể về bà như thế.
Ann: Your story of Hercules and the golden apples reminds me of my favorite movie, It's a Wonderful Life, with Jimmy Stewart.
Ann: Câu chuyện của Thầy về Hercules và những quả táo vàng khiến tôi nhớ đến bộ phim yêu thích của mình, Cuộc Sống Thật Tuyệt Vời, với Jimmy Stewart.
MDR: That's about Christmas time back in the thirties, isn't it? I've probably seen snippets of that movie, but probably he concludes at the end, ‘It's a wonderful life.’ It's a bit like that movie about the man who basically saved his son during the concentration camp experience. It's called Life Is Beautiful, or, yes, I think that's what it was. He had to go through all kinds of terrible things, but he did manage to reunite the son with the mother, both of whom survived, whereas he did not.
MDR: Phim ấy nói về dịp Giáng sinh hồi những năm ba mươi, phải không? Có lẽ tôi đã xem vài đoạn của bộ phim ấy, nhưng có lẽ cuối cùng ông ấy kết luận: “Cuộc sống thật tuyệt vời.” Nó hơi giống bộ phim về người đàn ông về cơ bản đã cứu con trai mình trong thời gian ở trại tập trung. Phim có tên Cuộc Đời Tươi Đẹp, đúng, tôi nghĩ đó là tên phim. Ông ấy phải trải qua đủ thứ kinh khủng, nhưng đã xoay xở để đưa con trai đoàn tụ với mẹ; cả hai đều sống sót, còn ông thì không.
Ann: In the movie It's a Wonderful Life, he wants to travel the world, but his family's circumstances keep him in his small town.
Ann: Trong phim Cuộc Sống Thật Tuyệt Vời, ông ấy muốn đi khắp thế giới, nhưng hoàn cảnh gia đình giữ ông lại trong thị trấn nhỏ của mình.
MDR: That is it.
MDR: Đúng là như vậy.
Participant: That is all I see in the way of comments or hands.
Người tham dự: Tôi chỉ thấy có chừng ấy ý kiến và người giơ tay.
MDR: She says, "Look, don't go out and save the world until you fulfill Bethlehem." From Bethlehem to Calvary is a wonderful book for Christians who are on the brink of a possible transition. Alice Bailey, from her Christian background, was able to write in a way that could be understood.
MDR: Bà nói: “Này, đừng ra ngoài cứu thế giới cho đến khi các bạn hoàn tất Bethlehem.” Từ Bethlehem đến Calvary là một cuốn sách tuyệt vời dành cho những tín đồ Kitô giáo đang ở ngưỡng cửa của một sự chuyển tiếp có thể xảy ra. Với nền tảng Kitô giáo của mình, Alice Bailey đã có thể viết theo một cách dễ hiểu.
If you have friends who are there, and they have been very much committed to the Christian way but are looking for something deeper, Bethlehem to Calvary is the book for them, or at least one of the books.
Nếu các bạn có những người bạn đang ở giai đoạn ấy, vốn hết lòng gắn bó với con đường Kitô giáo nhưng đang tìm kiếm điều gì sâu sắc hơn, thì Từ Bethlehem đến Calvary là cuốn sách dành cho họ, hoặc ít nhất là một trong những cuốn sách ấy.
Meditation – Tham thiền
Thanks for reminding me about the meditation. I would have gone blissfully forward saying we had a nice night. It's a lot easier to make comment on glamours than it is on pure being, but hang in there, and you never know what might come across your consciousness. We have approximately thirty of us here. I'm not going to name everyone, but the glamour of personality is what we're dealing with.
Cảm ơn đã nhắc tôi về phần tham thiền. Tôi hẳn đã cứ vui vẻ tiếp tục và nói rằng chúng ta đã có một buổi tối tốt đẹp. Bình luận về các ảo cảm dễ hơn nhiều so với về bản thể thuần khiết, nhưng hãy kiên trì, các bạn không bao giờ biết điều gì có thể đi vào tâm thức mình. Chúng ta có khoảng ba mươi người ở đây. Tôi sẽ không nêu tên từng người, nhưng ảo cảm của phàm ngã là điều chúng ta đang xử lý.
When you do this with your own groups, you can afford the naming of the group members. Maybe they do it themselves, followed by ten minutes of silence. We can't do that right now. We have a protective formula, and we can visualize the cross—forehead, heart, left eye, right eye—as we use the protective formula.
Khi thực hiện việc này với các nhóm của mình, các bạn có thể dành thời gian nêu tên các thành viên trong nhóm. Có lẽ họ tự xưng tên, rồi tiếp theo là mười phút im lặng. Ngay lúc này chúng ta không thể làm như vậy. Chúng ta có một công thức bảo vệ, và có thể hình dung thập giá—trán, tim, mắt trái, mắt phải—khi dùng công thức bảo vệ ấy.
As a soul, I work in light and darkness cannot touch me.
Là một linh hồn, tôi làm việc trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi.
I take my stand within the light.
Tôi đứng vững trong ánh sáng.
I work, and from that point I never move.
Tôi làm việc, và không bao giờ rời khỏi điểm ấy.
Tracing light, we have made what he calls the Cross of Divinity. The preparatory stages involve light. We are focusing the dual light of matter and mind: one that has a lot to do with the etheric and physical natures, matter, and then the light of logic and reason in the usual customary mind, which is foremost the concrete mind. We focus the two and then establish soul contact. We do our best to recognize soul light, and we fuse the two lesser lights with the imagined, at least, light of the soul, bringing it down until we have a triple light. We try to feel the reality of that, and on the signal, or right away, we say together:
Khi vạch đường ánh sáng, chúng ta đã tạo nên điều Ngài gọi là Thập Giá của Thiên Tính. Những giai đoạn chuẩn bị liên quan đến ánh sáng. Chúng ta đang tập trung ánh sáng kép của vật chất và thể trí: một ánh sáng liên quan nhiều đến bản chất dĩ thái và hồng trần, tức vật chất, rồi ánh sáng của lôgic và lý trí trong thể trí thông thường, mà trước hết là trí cụ thể. Chúng ta tập trung hai ánh sáng ấy rồi thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn. Chúng ta cố hết sức để nhận biết ánh sáng linh hồn, và dung hợp hai ánh sáng thấp hơn với ánh sáng linh hồn, ít nhất là qua sự tưởng tượng, đưa ánh sáng ấy xuống cho đến khi có một ánh sáng tam phân. Chúng ta cố cảm nhận thực tại của điều đó, và khi có hiệu lệnh, hoặc ngay lập tức, chúng ta cùng nói:
The light is one, and in that light shall we see light.
Ánh sáng là một, và trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy ánh sáng.
This is the light that turns the darkness into day.
Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.
We are working with light, and then we use the formula and visualization along with it, trying to make this as real to ourselves as we can.
Chúng ta đang làm việc với ánh sáng, rồi sử dụng công thức cùng với sự hình dung, cố làm cho điều này trở nên thực đối với mình hết mức có thể.
Radiance are we and power.
Chúng ta là sự rạng ngời và quyền năng.
We stand forever with our hands stretched out, linking the heavens and the earth, the inner world of meaning and the subtle world of glamour.
Chúng ta đứng mãi mãi với đôi tay dang rộng, kết nối trời và đất, thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm.
We reach into the light and bring it down to meet the need.
Chúng ta vươn vào Ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng nhu cầu.
We reach into the silent place and bring from thence the gift of understanding.
Chúng ta vươn vào Chốn Im Lặng và từ đó mang về ân huệ của sự thấu hiểu.
Thus with the light we work and turn the darkness into day.
Như vậy, chúng ta làm việc với ánh sáng và biến bóng tối thành ban ngày.
We visualize the great searchlight we have been creating and turn that light upon the astral plane. The many little beams form, as it were, one beam for the group dissipation of glamour, in this case the glamour of personality. Then we invoke the spiritual will: a willingness to do what soul, Triad, spirit, and even the great council, to the extent we can fathom it, wish to see done, and even what the Planetary Logos wishes to see done. Using the strength of the atmic spiritual will, we say together:
Chúng ta hình dung luồng đèn pha lớn mà mình đang tạo ra và hướng ánh sáng ấy vào cõi cảm dục. Nhiều tia sáng nhỏ hợp thành, có thể nói, một tia sáng cho công việc nhóm làm tiêu tan ảo cảm, trong trường hợp này là ảo cảm của phàm ngã. Sau đó, chúng ta khẩn cầu ý chí tinh thần: sự sẵn lòng thực hiện những gì linh hồn, Tam nguyên tinh thần, tinh thần, và ngay cả hội đồng vĩ đại, trong chừng mực chúng ta có thể thấu đạt, mong muốn được thực hiện, và cả những gì Hành Tinh Thượng đế mong muốn được thực hiện. Dùng sức mạnh của ý chí tinh thần atma, chúng ta cùng nói:
With power upon its beam, the light is focused on the goal.
Với quyền năng trên tia chiếu của mình, ánh sáng tập trung vào mục tiêu.
The detection and dissipation of the glamour of personality, which is a very separative and confining glamour, and yet we find it everywhere. Looking out for number one, as it were. It's not looking out for oneness; it's looking out for number one. We use this list of the Words of Power:
Phát hiện và làm tiêu tan ảo cảm của phàm ngã, một ảo cảm rất chia rẽ và gò bó, nhưng chúng ta lại thấy nó ở khắp nơi. Có thể nói là chỉ lo cho riêng mình. Đó không phải là chăm lo cho tính nhất thể; đó là chỉ lo cho riêng mình. Chúng ta dùng danh sách các Quyền năng từ này:
The power of our united light prevents the appearance of the glamour of personality.
Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm phàm ngã.
Since many people are not even into the personality fully yet, we have a ways to go, we know.
Vì nhiều người thậm chí còn chưa phát triển đầy đủ phàm ngã, chúng ta biết mình còn cả một chặng đường phía trước.
The power of our united light negates the quality of the glamour of personality from affecting humanity.
Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta vô hiệu hoá ảnh hưởng của phẩm tính ảo cảm phàm ngã đối với nhân loại.
That quality, of course: a kind of emotional separateness, and to care for oneself above all.
Dĩ nhiên, phẩm tính ấy là một dạng chia rẽ về cảm xúc, và quan tâm đến bản thân trên hết.
The power of our united light destroys the life behind the glamour of personality.
Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta huỷ diệt sự sống đằng sau ảo cảm phàm ngã.
There is insufficient energy to sustain it, and the energy is directed elsewhere and taken away from the sustainment of the obstacle of the unaligned personality. In our five minutes of silence, we will visualize the light penetrating into the glamour in three different ways, producing its weakening and its dissipation. Five minutes of silence and intensity of purpose, whilst the work is seen proceeding. Let us get into that.
Không còn đủ năng lượng để duy trì nó; năng lượng được hướng sang nơi khác và rút khỏi việc duy trì chướng ngại của phàm ngã chưa chỉnh hợp. Trong năm phút im lặng, chúng ta sẽ hình dung ánh sáng xuyên vào ảo cảm theo ba cách khác nhau, khiến nó suy yếu và tiêu tan. Năm phút im lặng và mãnh liệt trong mục đích, trong khi hình dung công việc đang diễn tiến. Chúng ta hãy bước vào phần ấy.
Five minutes. We have found the glamour, we have weakened the glamour, and the sun, symbolically, stands in place of where glamour existed: the appearance of the sun of the soul, the sun of soul living; the appearance of a quality of unity rather than separateness, emotional separateness; the appearance of the strength to sustain the good, and not the energy which normally sustains the glamour.
Năm phút. Chúng ta đã tìm thấy ảo cảm, đã làm suy yếu ảo cảm, và theo nghĩa biểu tượng, mặt trời đứng vào chỗ từng có ảo cảm: sự xuất hiện của mặt trời linh hồn, mặt trời của đời sống linh hồn; sự xuất hiện của phẩm tính hợp nhất thay cho sự chia rẽ, sự chia rẽ về cảm xúc; sự xuất hiện của sức mạnh duy trì điều thiện, thay cho năng lượng thường duy trì ảo cảm.
We are ready to withdraw our beam back onto the mental plane, and we turn our attention away from the astral plane. We call it the searchlight of the soul and shut that off, and the light is reapportioned to where it came from. We will all sound the OM to indicate that some little bit, at least, of work has been done in combating this glamour of absorption into the rebellious personality. We do continue to work along this line, and in another couple of weeks we will be working as a group, which does not mean that you cannot work meanwhile as an individual, especially as we are once again re-entering that section of the book where the individual glamours are discussed in detail.
Chúng ta sẵn sàng thu tia sáng của mình trở về cõi trí, và chuyển sự chú ý ra khỏi cõi cảm dục. Chúng ta gọi đó là đèn pha của linh hồn và tắt nó đi, rồi ánh sáng được phân bổ trở lại nơi nó phát xuất. Tất cả chúng ta sẽ xướng linh từ OM để biểu thị rằng ít nhất cũng đã thực hiện được một chút công việc nhằm chống lại ảo cảm chìm đắm trong phàm ngã nổi loạn này. Chúng ta tiếp tục làm việc theo hướng ấy, và trong khoảng hai tuần nữa sẽ lại làm việc như một nhóm; điều đó không có nghĩa là trong thời gian này các bạn không thể làm việc với tư cách cá nhân, nhất là khi chúng ta một lần nữa đang trở lại phần của cuốn sách bàn chi tiết về các ảo cảm cá nhân.
All of us on the communications team here—Miguel and Mikhail and Harold and Joe and Michael Stacy, and often Frederick—wish you the very best. Tuija and I also join in, and Olivia, who had a special role in getting these glamour group works started. We are grateful. We will sign off now. Tomorrow morning, check your schedule, because I think we have the new moon. It is at 7:10 a.m., and then at night we will have the EUN, Esoteric United Nations. Wishing all of you many blessings in every way.
Tất cả chúng tôi trong nhóm truyền thông ở đây—Miguel, Mikhail, Harold, Joe, Michael Stacy, và thường có Frederick—đều chúc các bạn mọi điều tốt đẹp nhất. Tuija và tôi cũng cùng gửi lời chúc, cùng với Olivia, người đã giữ một vai trò đặc biệt trong việc khởi động những công việc nhóm về ảo cảm này. Chúng tôi rất biết ơn. Giờ chúng ta sẽ kết thúc. Sáng mai, hãy kiểm tra lịch của các bạn, vì tôi nghĩ chúng ta có buổi trăng non. Buổi ấy diễn ra lúc 7 giờ 10 sáng, rồi buổi tối chúng ta sẽ có EUN, Liên Hợp Quốc Nội Môn. Chúc tất cả các bạn nhận được nhiều phúc lành về mọi mặt.