← Commentary GAW 61-70 Intuition

Commentary GAW 63

Tóm lược chương

Ảo cảm của bộ phận thay vì toàn thể về căn bản là ảo cảm của phàm ngã thay vì linh hồn: con người đồng nhất mình với một phần giới hạn rồi nảy sinh những ham muốn nhằm củng cố sự đồng nhất ấy. Trạng thái trí-cảm bị dẫn dắt sai lạc làm cõi cảm dục thêm mờ đục và cản trở sự tiếp nhận trực giác. Công việc làm tiêu tan ảo cảm vì vậy đòi hỏi vừa nhận ra căn nguyên nơi chính mình, vừa góp phần làm sáng tỏ tình trạng chung trên cõi cảm dục. Ba phẩm tính của trực giác là soi sáng, thấu hiểu và bác ái; ánh sáng được xét chủ yếu qua khả năng mặc khải, còn thấu hiểu gắn với sự đồng nhất. Theo lời Chân sư DK được trích dẫn, bác ái không phải tình cảm…


Commentary GAW 63

Tóm Tắt

Ảo cảm và sự đồng nhất sai lầm

Ảo cảm của bộ phận thay vì toàn thể về căn bản là ảo cảm của phàm ngã thay vì linh hồn: con người đồng nhất mình với một phần giới hạn rồi nảy sinh những ham muốn nhằm củng cố sự đồng nhất ấy. Trạng thái trí-cảm bị dẫn dắt sai lạc làm cõi cảm dục thêm mờ đục và cản trở sự tiếp nhận trực giác. Công việc làm tiêu tan ảo cảm vì vậy đòi hỏi vừa nhận ra căn nguyên nơi chính mình, vừa góp phần làm sáng tỏ tình trạng chung trên cõi cảm dục.

Ánh sáng, thấu hiểu và bác ái trong trực giác

Ba phẩm tính của trực giác là soi sáng, thấu hiểu và bác ái; ánh sáng được xét chủ yếu qua khả năng mặc khải, còn thấu hiểu gắn với sự đồng nhất. Theo lời Chân sư DK được trích dẫn, bác ái không phải tình cảm trìu mến hay một phàm ngã vốn dễ tỏ ra yêu thương, dù tình cảm và sự hướng lòng đến người khác sẽ xuất hiện dưới dạng thanh khiết khi trực giác phát triển. Bác ái đích thực là sự nắm bắt tổng hợp, bao gồm sự sống và nhu cầu của mọi hữu thể: nó phủ nhận điều dựng rào cản, gây chỉ trích và chia rẽ, đồng thời đem lại sự đồng nhất tức thời với đối tượng được yêu như một linh hồn.

Phân biệt bác ái với hấp lực của phàm ngã

Sự yêu thích hoặc không thích một người thường tùy thuộc vào mức độ người ấy thuận hợp với phàm ngã, nên không thể dùng làm thước đo bác ái. Trạng thái trí-cảm pha trộn tư tưởng với hấp lực, sự ghét bỏ và cảm xúc; quá trình thanh luyện được ví với tác dụng của lửa trong thuật luyện kim, giúp người chí nguyện dần trở thành người quan sát và phân cực trí tuệ. Một người vẫn có thể không tán thành cách hành xử của người khác mà không phủ nhận sự sống sâu xa nơi họ. Tình yêu biểu hiện không đúng, dù có sức hút và đem lại cảm giác thỏa mãn, vẫn có thể chỉ là sự đáp ứng ích kỷ trước điều dễ chịu cho phàm ngã.

Nhận biết nhu cầu như một cách phụng sự

Khả năng cảm nhận nhu cầu thật của người khác được xem là một năng lực thông linh cao, khác với những thị kiến hay ấn tượng thường thuộc phạm vi phàm ngã. Cách thực hành được đề nghị là nhìn xuyên qua biểu hiện bên ngoài để nhận ra sự sống của một người, hỏi họ cần gì cho bước phát triển tiếp theo, rồi khiêm nhường đóng góp bằng tư tưởng, lời nói, chữ viết hoặc hành động. Cách tiếp cận ấy chuyển trọng tâm từ mong muốn thu nhận cho bản thân sang phẩm tính đóng góp; các câu chuyện cá heo, chó và voi cứu người được nêu như những ví dụ về việc cảm nhận nhu cầu rồi hành động.

Tính phổ quát và sự đồng nhất

Soi sáng, thấu hiểu và bác ái cùng hướng đến cảm nhận về tính phổ quát, hay sự hợp nhất bao trùm mọi sự mà không xóa bỏ những nhu cầu khác nhau. Kỷ nguyên của dấu hiệu Bảo Bình được liên hệ với sự nắm bắt cái phổ quát; từ lần điểm đạo thứ ba trở đi, sự tiếp xúc ngày càng lớn với tâm thức của Thái dương Thượng đế được xem là góp phần mở rộng cảm nhận ấy. Việc xây dựng antahkarana được kỳ vọng mang lại thay đổi thực sự trong tâm thức, chứ không chỉ sự tán đồng một ý niệm về hợp nhất. Trong cách diễn giải được đề xuất, đồng nhất không chỉ là thấy mình “trong” người khác mà sâu hơn là nhận ra mình “là” người khác ở tầng sự sống chung, trong khi vẫn phân biệt linh hồn với hành động cụ thể.

Chỉ trích và những gốc rễ của ảo cảm

Cố ép trí óc không chỉ trích chưa tương đương với sự vắng mặt của khuynh hướng chỉ trích; chuyển biến sâu hơn đến từ việc tham dự vào năng lượng bác ái bao gồm. Chỉ trích, tự thương hại và nghi ngờ được nêu là ba gốc rễ lớn của ảo cảm, lần lượt được liên hệ trong phần bình giải với cung ba, cung hai và cung một. Chúng cùng bám vào sự đồng nhất với phàm ngã như một bộ phận tách biệt; khi các rào chắn ấy được tháo bỏ, sự phân biện về hành động của người khác vẫn có thể tồn tại mà không trở thành sự phủ nhận con người họ.

Các cõi phụ và năng lực giác quan

Bảng “Microcosmic Sensory Evolution” trong Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 188, được dùng để trả lời câu hỏi liệu cõi Bồ đề có những phân biệt theo cõi phụ tương tự cõi trí hay không. Phần bình giải cho rằng mỗi cõi phụ có năng lực riêng; việc xây dựng antahkarana mở đường cho sự lĩnh hội các năng lực trên cõi Bồ đề và atma, còn những năng lực cao hơn thuộc phạm vi hoạt động vượt quá một chân sư thông thường. Con số 35 xoáy lửa đặc trưng cho một chân sư được dẫn làm cơ sở để đề xuất thêm giả thuyết 42 xoáy lửa cho Chohan bậc sáu và 49 cho Chohan bậc bảy; các con số mở rộng này là suy luận riêng, không được trình bày như lời trích. Hai cõi phụ thấp nhất của cõi cảm dục được mô tả là không nên tham dự vào thể cảm dục, trong khi cõi phụ khí của cõi hồng trần giữ vai trò chuyển tiếp quan trọng đối với các dĩ thái.

Bảo vệ và chiếu sáng cõi cảm dục

Bài tham thiền nhóm bắt đầu bằng việc hình dung ánh sáng bảo vệ của linh hồn và thập giá được soi sáng, nhằm giữ vững vị trí trong ánh sáng trước các mãnh lực mạnh trên cõi cảm dục. Ánh sáng của vật chất, đặc biệt phần dĩ thái-hồng trần, được hợp với ánh sáng của hạ trí rồi với ánh sáng linh hồn thành một ánh sáng tam phân. Từ đó, nhóm hình dung một luồng sáng mạnh hướng vào cõi cảm dục nói chung, không phải vào riêng thể cảm dục của từng người, và đưa ánh sáng cùng sự thấu hiểu từ Thế giới của ý nghĩa đến nơi có nhu cầu để biến bóng tối thành ban ngày.

Ảo cảm lấy bộ phận làm toàn thể

Ảo cảm của phàm ngã khiến con người quan tâm quá mức đến lợi ích cá nhân, lấy bộ phận làm toàn thể và xem nhẹ bản chất linh hồn. Sự gắn bó với điều có giá trị thấp hơn này cản trở tâm thức nhóm và, về sau, tâm thức về Đấng Duy Nhất mà Chân sư DK muốn vun bồi. Việc nhìn lại những điều tốt đẹp không thể thành tựu vì ảo cảm ấy giúp làm rõ mục đích của công việc làm tiêu tan nó.

Ánh sáng hợp nhất và ý chí tinh thần

Ý chí tinh thần được khẩn cầu để tăng sức mạnh cho chùm ánh sáng của nhóm, hướng chùm sáng ấy vào công việc trên cõi cảm dục. Ba Quyền năng từ được dùng để ngăn ảo cảm ham muốn bộ phận thay vì toàn thể xuất hiện, hóa giải ảnh hưởng của nó đối với nhân loại và phá hủy sự sống duy trì nó; tiếp đó là năm phút im lặng, nhất tâm hình dung ảo cảm suy yếu. Khi năng lượng che phủ bị làm tiêu tan, vòng-giới-hạn của tâm thức mở rộng từ mối bận tâm về bản thân đến các nhóm địa phương, cộng đồng, quốc gia, các nhóm quanh năm trung tâm hành tinh và toàn thể nhân loại. Việc xướng linh từ OM ba lần xác nhận công việc ấy; phàm ngã được đặt vào vai trò công cụ thay vì mục tiêu tối hậu.

Nhận diện ảo cảm trong đời sống

Ảo cảm thường chi phối một người trước khi người ấy nhận ra, rồi dần bộc lộ qua chính những khuynh hướng quen thuộc của mình. Ý nghĩ “tôi vốn như thế và sẽ không thay đổi” có thể là dấu hiệu để xem xét một ảo cảm tiềm ẩn, chứ không nên mặc nhiên coi đó là lý do giữ nguyên cách sống cũ.

Text GAW 63 – Văn bản GAW 63

Glamour: A World Problem — pages 4–5

Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới — trang 4–5

[1] Love. As earlier said, this is not affectionate sentiment, [2] or the possession of a loving disposition; [3] these two later aspects are incidental and sequential. [4] When the intuition is developed, both affection and the possession of a spirit of loving outgo will, necessarily, in their pure form, be demonstrated, but that which produces these is something much more deep and comprehensive. [5] It is that synthetic, inclusive grasp of the life and needs of all beings (I have chosen these two words with intent!) which it is the high prerogative of a divine Son of God to operate. [6] It negates all that builds barriers, makes criticism, and produces separation. [7] It sees no distinction, even when it appreciates need, [8] and it produces in one who loves as a soul immediate identification with that which is loved.

[1] Bác ái. Như đã nói trước đây, đây không phải là tình cảm trìu mến, [2] hay việc có một khuynh hướng yêu thương; [3] hai phương diện vừa nêu chỉ là những biểu hiện đi kèm và xuất hiện như hệ quả. [4] Khi trực giác phát triển, cả tình cảm trìu mến lẫn tinh thần ban rải tình thương tất yếu sẽ biểu lộ dưới hình thức thuần khiết, nhưng điều tạo ra chúng lại sâu sắc và toàn diện hơn nhiều. [5] Đó là sự nắm bắt mang tính tổng hợp và bao gồm về sự sống và nhu cầu của mọi sinh linh (Tôi đã có chủ ý khi chọn hai từ này!), mà việc vận dụng là đặc quyền cao quý của một Con của Thượng đế thiêng liêng. [6] Nó phủ nhận mọi điều dựng nên rào cản, đưa ra sự chỉ trích và tạo ra sự chia rẽ. [7] Nó không thấy sự phân biệt nào, ngay cả khi nhận biết nhu cầu, [8] và nó khiến người yêu thương với tư cách một linh hồn lập tức đồng hoá với đối tượng được yêu thương.

[9] These three words sum up the three qualities [10] or aspects of the intuition and can be covered by the word, universality, or the sense of universal Oneness.

[9] Ba từ này tóm lược ba phẩm tính [10] hay phương diện của trực giác và có thể được bao quát bằng từ tính phổ quát, hay cảm thức về sự Hợp Nhất phổ quát.

Glamour Webinar 63 – Webinar Ảo Cảm 63

Michael D. Robbins • Glamour: A World Problem • Book pages 4–5

Michael D. Robbins • Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới • Trang 4–5 của sách

Good morning, everyone, good morning here from Finland, and we are beginning with the 63rd program in our dissipation of glamour, and our latest approach now after studying some specific subjects is to work through the book.

Chào buổi sáng, tất cả các bạn. Từ Phần Lan, tôi xin chào buổi sáng các bạn. Chúng ta bắt đầu chương trình thứ 63 trong loạt chương trình làm tiêu tan ảo cảm. Sau khi nghiên cứu một số chủ đề cụ thể, cách tiếp cận mới nhất của chúng ta hiện nay là lần lượt nghiên cứu toàn bộ cuốn sách.

These various books were gathered from lesson sets that were sent to the different groups that DK was forming, I may have mentioned, but the instructions on telepathy to the telepathy group, the glamour book instructions in the glamour book and to the glamour group. And then we had… esoteric healing was a much fuller thing because that's an area that DK is going to make himself particularly responsible as one of the, I anticipate, one of the reappearing masters with their ashram, and then onward, education in the New Age that relates to the education group. I think the only groups that don't really have books, entire books, representing them, the science group number seven, although in cosmic fire, there's quite a bit on the scientific approach. But DK seem to say that Alice Bailey didn't have the scientific vocabulary, so he couldn't work in that way, and besides, he's a second ray master, and he could consult with a fifth ray Master, but maybe he didn't think it was worth to do that. And there's not a book on economics per se, the ninth seed group, but although there are many hints given about economics. So, that is the story, I think, with a number of these books.

Có lẽ tôi đã đề cập rằng các cuốn sách khác nhau này được tập hợp từ những bộ bài học gửi đến các nhóm mà Chân sư DK đang thành lập: những huấn thị về viễn cảm gửi đến nhóm viễn cảm; những huấn thị trong cuốn sách về ảo cảm gửi đến nhóm ảo cảm. Rồi đến Trị Liệu Huyền Môn, một công trình đầy đủ hơn nhiều, vì đó là lĩnh vực mà Chân sư DK sẽ đặc biệt đảm nhận trách nhiệm. Tôi dự đoán Ngài sẽ là một trong những Chân sư tái xuất hiện cùng với ashram của Các Ngài. Tiếp đó là Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới, liên quan đến nhóm giáo dục. Tôi nghĩ những nhóm duy nhất thực sự không có những cuốn sách trọn vẹn đại diện cho mình là nhóm khoa học, nhóm số bảy, dù trong Luận về Lửa Vũ Trụ có khá nhiều nội dung về cách tiếp cận khoa học. Nhưng dường như Chân sư DK nói rằng Alice Bailey không có vốn thuật ngữ khoa học, nên Ngài không thể làm việc theo cách đó. Hơn nữa, Ngài là một Chân sư cung hai; Ngài có thể tham khảo một Chân sư cung năm, nhưng có lẽ Ngài cho rằng điều đó không đáng làm. Cũng không có một cuốn sách nào về chính kinh tế học, lĩnh vực của nhóm hạt giống thứ chín, dù có nhiều gợi ý về kinh tế học. Tôi nghĩ đó là câu chuyện đằng sau một số cuốn sách này.

Let us gather ourselves together and think of ourselves as one unit of consciousness. Wherever we may be on the globe, it is as if we are in one room together, and we are each making our contribution to a unified whole, a certain field of consciousness. There will be tremendous studies on consciousness coming up in the centuries ahead. Right now, so many people seem to think it arises from the body, but we know that it is, in a way, responsible even for the appearance of the vehicles of the personality.

Chúng ta hãy cùng quy tụ và nghĩ về mình như một đơn vị tâm thức. Dù đang ở đâu trên bầu hành tinh này, chúng ta cũng như đang cùng ở trong một căn phòng, và mỗi người đều đóng góp vào một tổng thể hợp nhất, một trường tâm thức nhất định. Trong những thế kỷ sắp tới, sẽ có những công trình nghiên cứu hết sức lớn lao về tâm thức. Hiện nay, rất nhiều người dường như cho rằng tâm thức phát sinh từ thân thể, nhưng chúng ta biết rằng, theo một nghĩa nào đó, chính tâm thức còn chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của các hiện thể của phàm ngã.

We are offering ourselves together to combat this condition, this general glamourous condition on the astral plane, which misleads so many. If we could be done with the glamour of personality, which is a lot like the glamour we are studying right now—the part instead of the whole; it is called the glamour of personality, really, another name for it—we could be pretty well done with glamour. It is all mistaken identity, and the desires which arise to fulfill that mistaken identity.

Chúng ta cùng hiến mình để chống lại tình trạng này, tình trạng ảo cảm nói chung trên cõi cảm dục, vốn khiến rất nhiều người lầm đường. Nếu có thể chấm dứt ảo cảm của phàm ngã, vốn rất giống với ảo cảm chúng ta đang nghiên cứu lúc này—lấy bộ phận thay cho toàn thể; thực ra, ảo cảm của phàm ngã là một tên gọi khác của nó—thì chúng ta có thể xem như đã gần chấm dứt ảo cảm. Tất cả đều là sự nhận lầm bản sắc, cùng những dục vọng nảy sinh để đáp ứng bản sắc lầm lạc ấy.

We will continue and offer ourselves to help clarify the condition on the astral plane, which is a danger at this time to everyone. We have to definitely reduce this misguided kama-Manas, and hopefully we can make some impact in that. We will sound an OM to confirm our availability.

Chúng ta sẽ tiếp tục hiến mình để góp phần làm sáng tỏ tình trạng trên cõi cảm dục, vốn đang là mối nguy cho mọi người vào lúc này. Chúng ta nhất định phải giảm bớt trạng thái trí–cảm lầm lạc này, và hy vọng có thể tạo được ảnh hưởng nào đó. Chúng ta sẽ xướng một linh từ OM để xác nhận sự sẵn sàng của mình.

We all know it's serious work, and the number of the other books. But the other group seemed to get through relatively unscathed, but when it came to glamour, there was a problem. People of the glamour group were affected by the glamour of a certain thought form of the Tibetan that appeared and misled people with good words of “mediocre cheer”, as the Tibetan said, complimenting the workers and giving them fair words about how important they were and all the rest of it. So, if you find the Tibetan excessively interested in you and complimenting you for the work you're doing, watch out, because we're running into the thoughtform of the Masters on the astral plane, rather than the real thing.

Tất cả chúng ta đều biết đây là công việc nghiêm túc, cũng như trong một số cuốn sách khác. Nhưng các nhóm khác dường như đã vượt qua tương đối bình an, còn khi đến vấn đề ảo cảm thì lại có khó khăn. Những người trong nhóm ảo cảm chịu ảnh hưởng của ảo cảm do một hình tư tưởng về Chân sư Tây Tạng gây ra. Hình tư tưởng ấy xuất hiện và dẫn dắt họ lầm đường bằng những lời lẽ tốt đẹp mang tính “khích lệ tầm thường”, như Chân sư Tây Tạng đã nói, khen ngợi những người hoạt động, nói những lời dễ nghe về tầm quan trọng của họ và những điều tương tự. Vì vậy, nếu các bạn thấy Chân sư Tây Tạng quan tâm quá mức đến mình và khen ngợi công việc mình đang làm, hãy cảnh giác, vì chúng ta đang gặp hình tư tưởng về các Chân sư trên cõi cảm dục, thay vì các Chân sư thực sự.

Now, we're working in the beginning of the book, and we're discussing intuition, and last week, we discussed the idea of illumination. Do you really see the light? maybe, Or is light that which makes it possible? To see light is that which reveals, and you kind of wonder whether you really see the light. You say, I see a beam of light, but basically, you're probably seeing the effect of the light upon the atmosphere and upon various intangible factors in the atmosphere. Anyway, light is revelatory, and we want to always increase our capacity for revelation. So, here is Illumination, then there's Understanding, which has to do with identification, and now we come to the third factor, which is Love, and I think it's probably greatly misunderstood in terms of its exoteric significance. The Tibetan as usual has to tell us what it is not, and I think until we have some kind of experience, which means we've all had a little bit of what is this great second ray, what is this love of the Christ, what is this amazing energy into which we have to make transition, then maybe we're still caught in old conceptions of what it is. So, he says.

Hiện nay, chúng ta đang nghiên cứu phần đầu cuốn sách và bàn về trực giác. Tuần trước, chúng ta đã thảo luận ý tưởng về sự soi sáng. Các bạn có thực sự nhìn thấy ánh sáng không? Có lẽ có. Hay ánh sáng là điều khiến việc nhìn thấy trở nên khả hữu? Ánh sáng là cái làm hiển lộ, và chúng ta có phần tự hỏi liệu mình có thực sự nhìn thấy ánh sáng hay không. Các bạn nói: tôi thấy một tia sáng, nhưng về cơ bản, có lẽ các bạn đang thấy tác động của ánh sáng lên bầu khí quyển và lên những yếu tố vô hình khác nhau trong đó. Dù sao, ánh sáng có tính mặc khải, và chúng ta luôn muốn gia tăng khả năng tiếp nhận sự mặc khải. Vậy, ở đây có sự Soi Sáng, rồi đến sự Thấu Hiểu, liên quan đến sự đồng hoá, và giờ đây chúng ta đến yếu tố thứ ba là Tình Thương. Tôi nghĩ có lẽ người ta hiểu sai yếu tố này rất nhiều về mặt thâm nghĩa ngoại môn của nó. Như thường lệ, Chân sư Tây Tạng phải cho chúng ta biết tình thương không phải là gì. Tôi nghĩ cho đến khi chúng ta có một trải nghiệm nào đó—nghĩa là tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm đôi chút về cung hai vĩ đại này là gì, tình thương của Đức Christ là gì, năng lượng kỳ diệu mà chúng ta phải chuyển tiếp vào là gì—thì có lẽ chúng ta vẫn còn mắc kẹt trong những quan niệm cũ về tình thương. Vì vậy, Ngài nói.

[1] Love. As earlier said, this is not affectionate sentiment,

[1] Bác ái. Như đã nói trước đây, đây không phải là tình cảm trìu mến,

Love is not affection, actually, this affectionate sentiment is coming from within the personality of self and when the object which is loved is attractive, harmonious with your own personality, then there is affection, coming from the astral body, and there is sentiment. It's a kind of a kama-manasic blend, your mind is ruled by your desire nature and the two together form the kama-Manas, but it is a feeling tinged thought. It's not a pure thought. It's a thought which is filled with attraction or repulsion and the desire content of it, the emotional content of it, the feeling content is very strong. So, we have to learn how to divorce ourselves eventually from kama-Manas, and learn how to think with purity. And I suppose the fires, when you run into the word pyr, it means fire, the fires have to do their work before it's possible alchemically to separate out kama-Manas, so that we have kama and we have Manas instead of this difficult blend of the two, which is, I suppose, kind of a transitional stage that the aspirant goes through. But if we are the true disciple, more and more we're going to be the observer, and more and more mentally focused, and eventually mentally polarized after the alchemy has done its work.

Thực ra, tình thương không phải là sự trìu mến. Cảm tình trìu mến này xuất phát từ bên trong phàm ngã của mỗi người. Khi đối tượng được yêu thương có sức hấp dẫn và hài hòa với phàm ngã của các bạn, thì sự trìu mến nảy sinh từ thể cảm dục, cùng với cảm tình. Đó là một dạng pha trộn trí–cảm: bản chất dục vọng cai quản thể trí của các bạn, và cả hai cùng tạo thành trạng thái trí–cảm. Nhưng đó là tư tưởng nhuốm màu cảm xúc, chứ không phải tư tưởng thuần khiết. Đó là tư tưởng chứa đầy sự thu hút hoặc đẩy lùi, với nội dung dục vọng, cảm xúc và cảm nhận rất mạnh. Vì vậy, rốt cuộc chúng ta phải học cách tách mình khỏi trạng thái trí–cảm và học cách suy nghĩ thuần khiết. Tôi cho rằng những ngọn lửa—khi gặp từ “pyr”, từ ấy có nghĩa là lửa—phải thực hiện công việc của chúng trước khi thuật luyện kim có thể phân tách trí–cảm, để chúng ta có dục vọng và trí tuệ riêng biệt, thay vì hỗn hợp khó xử lý của cả hai. Tôi cho rằng đó là một dạng giai đoạn chuyển tiếp mà người chí nguyện trải qua. Nhưng nếu là đệ tử chân chính, chúng ta sẽ ngày càng trở thành người quan sát, ngày càng tập trung trí tuệ hơn, và cuối cùng sẽ phân cực trí tuệ sau khi thuật luyện kim đã hoàn thành công việc của nó.

So, it's not affectionate sentiment. In other words, the Tibetan talks about this. He says, It's not liking or disliking. It has nothing to do with that, and normally, we think, we like the people we love, and we dislike the people we don't love, or really hate, or reject. But that is that personality interpretation, and it's possible to have nothing in common with somebody, and even disapprove of the way the personality is expressing itself, and still be within the field of this greater energy called love. So, I've always found it to be a very deep mystery, into which we are moving more and more as disciples who need what DK calls the Heart approach, as well as the mental approach. Anyway.

Vì vậy, tình thương không phải là cảm tình trìu mến. Nói cách khác, Chân sư Tây Tạng có đề cập đến điều này. Ngài nói: đó không phải là thích hay không thích; tình thương không liên quan gì đến những điều ấy. Thông thường, chúng ta nghĩ mình thích những người mình yêu thương, và không thích những người mình không yêu thương, hoặc thực sự căm ghét hay khước từ. Nhưng đó là cách diễn giải của phàm ngã. Chúng ta có thể không có điểm chung nào với một người, thậm chí không tán thành cách phàm ngã của họ đang biểu lộ, mà vẫn ở trong trường năng lượng lớn lao hơn mang tên tình thương này. Vì vậy, tôi luôn thấy đây là một điều huyền nhiệm rất sâu xa mà chúng ta đang ngày càng đi sâu vào, với tư cách những đệ tử cần cách tiếp cận bằng Tâm, như Chân sư DK gọi, cũng như cách tiếp cận bằng trí tuệ.

[2] or the possession of a loving disposition;

[2] hay việc có một khuynh hướng yêu thương;

Which of course, it's important.

Dĩ nhiên, điều đó là quan trọng.

[3] these two later aspects are incidental and sequential.

[3] hai phương diện vừa nêu chỉ là những biểu hiện đi kèm và xuất hiện như hệ quả.

So, eventually, we will be kind, we will have that kind of personality disposed towards affection, but not affected, and we will have that loving disposition, but the cause is something else, and we can use words to talk about these things, but it has to come down and it has to, shall we say, overcome us. It has to sweep through us before we really know and understand what this is all about.

Vì vậy, cuối cùng chúng ta sẽ trở nên tử tế, sẽ có một phàm ngã thiên về sự trìu mến nhưng không kiểu cách, và sẽ có thiên hướng yêu thương ấy. Tuy nhiên, nguyên nhân lại là một điều khác. Chúng ta có thể dùng lời nói để bàn về những điều này, nhưng điều ấy phải giáng xuống và, có thể nói, phải chiếm lĩnh chúng ta. Nó phải tràn qua chúng ta trước khi chúng ta thực sự biết và thấu hiểu tất cả những điều này là gì.

[4] When the intuition is developed, both affection and the possession of a spirit of loving outgo will, necessarily, in their pure form, be demonstrated, but that which produces these is something much more deep and comprehensive.

[4] Khi trực giác phát triển, cả tình cảm trìu mến lẫn tinh thần ban rải tình thương tất yếu sẽ biểu lộ dưới hình thức thuần khiết, nhưng điều tạo ra chúng lại sâu sắc và toàn diện hơn nhiều.

Notice, he says, in their pure form, in a purified form. it's always possible under the aspect of love to find something in a person, another person, which is even likable. I was once told by relative that I love you, but I don't like you., that clarified things for me between those two aspects. So, later.

Hãy lưu ý, Ngài nói: dưới hình thức thuần khiết của chúng, dưới một hình thức đã được thanh lọc. Trong phương diện tình thương, chúng ta luôn có thể tìm thấy ở một người, một người khác, điều gì đó thậm chí còn đáng mến. Một người họ hàng từng nói với tôi: tôi yêu thương anh, nhưng tôi không thích anh. Điều đó đã làm sáng tỏ cho tôi sự khác nhau giữa hai phương diện này. Tiếp theo.

both affection and the possession of a spirit of loving outgo will, necessarily, in their pure form, be demonstrated, but that which produces these is something much more deep and comprehensive.

cả sự trìu mến lẫn tinh thần tuôn tỏa tình thương tất yếu sẽ biểu lộ dưới hình thức thuần khiết của chúng, nhưng điều tạo ra những biểu hiện ấy sâu xa và toàn diện hơn nhiều.

These are desirable things, and that's what we're looking for. Now, Let's see what it is, what is this far deeper thing which hides behind or conceals itself behind the ways in which we usually identify love. So.

Đó là những điều đáng mong muốn, và cũng là điều chúng ta đang tìm kiếm. Giờ hãy xem điều ấy là gì, điều sâu xa hơn nhiều ấy là gì, điều ẩn sau những cách mà chúng ta thường dùng để nhận diện tình thương.

[5] It is that synthetic, inclusive grasp of the life and needs of all beings (I have chosen these two words with intent!) which it is the high prerogative of a divine Son of God to operate.

[5] Đó là sự nắm bắt mang tính tổng hợp và bao gồm về sự sống và nhu cầu của mọi sinh linh (Tôi đã có chủ ý khi chọn hai từ này!), mà việc vận dụng là đặc quyền cao quý của một Con của Thượng đế thiêng liêng.

I mean, this is beautiful thing, and we will have to ponder on these things, as a matter of fact, in just a few moments, we'll take a little time to ponder on what the Tibetan has said, because it's so extremely beautiful. It is synthetic, so it's holistic. It includes everything about the life of the other, but it's the life, it's the beingness of the person, and also the insufficiencies, what the other person or individual needs to be more in order to be more complete. Now, like when a master looks at us, the master knows immediately what our next step has to be and the ways in which we are incomplete, and what we have to work upon in order to fulfill the next needs related to our spiritual growth, and our general well-being, our general welfare. But also, when you look at someone, you don't get hung up on the externalities, you try to find the beingness, the livingness, the living beingness—some will recognize what this is all about—, of the other individual, and you tap in on that deepest level of the person being a living being. And in order to do that, you have to penetrate through many obvious ordinary things. You look beyond and through, and beyond and through, and beyond and through, until you come to that which is real and cannot be reduced to other lesser things. So, it is that synthetic. Think about these words.

Ý tôi là, đây là một điều tuyệt đẹp, và chúng ta sẽ phải suy ngẫm về những điều này. Thực ra, chỉ ít phút nữa, chúng ta sẽ dành chút thời gian suy ngẫm về những gì Chân sư Tây Tạng đã nói, vì chúng vô cùng đẹp đẽ. Sự nắm bắt ấy có tính tổng hợp, nên có tính toàn thể. Nó bao gồm mọi điều về sự sống của người kia, nhưng đó là sự sống, là tính hiện tồn của người ấy, cùng với những điều còn thiếu, những gì người kia hay cá nhân kia cần thêm để trở nên trọn vẹn hơn. Chẳng hạn, khi một Chân sư nhìn chúng ta, Ngài lập tức biết bước tiếp theo của chúng ta phải là gì, chúng ta chưa trọn vẹn ở những phương diện nào, và chúng ta phải nỗ lực ở đâu để đáp ứng những nhu cầu tiếp theo liên quan đến sự tăng trưởng tinh thần, sự an lạc và phúc lợi chung của mình. Đồng thời, khi nhìn một người, các bạn không vướng mắc vào những biểu hiện bên ngoài mà cố gắng tìm thấy tính hiện tồn, sự sống động, tính hiện tồn sống động của người ấy—một số người sẽ nhận ra điều này muốn nói đến gì—và các bạn tiếp xúc với tầng sâu nhất nơi người ấy là một sinh linh đang sống. Để làm được điều đó, các bạn phải xuyên qua nhiều điều thông thường dễ thấy. Các bạn nhìn vượt qua và xuyên qua, rồi lại vượt qua và xuyên qua, tiếp tục như thế cho đến khi đến với điều chân thực, không thể quy giản thành những điều thấp kém hơn. Vậy, đó là sự nắm bắt có tính tổng hợp ấy. Hãy suy nghĩ về những từ này.

It is that synthetic, inclusive grasp of the life and needs of all beings (I have chosen these two words with intent!) which it is the high prerogative of a divine Son of God to operate.

Đó là sự nắm bắt có tính tổng hợp và bao gồm về sự sống và nhu cầu của mọi sinh linh (Tôi đã chủ ý chọn hai từ này!), mà việc vận dụng sự nắm bắt ấy là đặc quyền cao cả của một Con thiêng liêng của Thượng đế.

This an unusual verb, to operate, or “within which to operate” or to operate? It's a very unusual word in this particular context, unless, of course, the Alice Bailey CD ROM is incorrect. Occasionally, there are things that are not correct, but we always have to check it against the books, and sometimes there are mistakes there too. Now.

Đây là một động từ khác thường: vận dụng, hay “hoạt động trong đó”, hay vận dụng? Trong ngữ cảnh cụ thể này, đó là một từ rất khác thường, trừ phi, dĩ nhiên, bản CD-ROM Alice Bailey có lỗi. Thỉnh thoảng có những chỗ không chính xác, nhưng chúng ta luôn phải đối chiếu với sách, và đôi khi ngay trong sách cũng có lỗi.

[6] It negates all that builds barriers, makes criticism, and produces separation.

[6] Nó phủ nhận mọi điều dựng nên rào cản, đưa ra sự chỉ trích và tạo ra sự chia rẽ.

Oh, goodness. I mean, this is so so potent, really amazing. It negates all that builds barriers, because the Christ knew what was in the human being because he was Neptune, he dissolved the barriers which ordinarily separate the identity of one individual from the next. He dissolved all that, he could slip within the soul and the beingness of the other, and of course, as we advance, especially along the second-ray line, more and more we're able to do that if we don't allow the personality to become a barrier. And then a lot of people try not to be critical, but they're just holding their mind against being critical. It is not the same as not being critical. This is a big one, he calls criticism that dire creator of misery. Think about those words, criticism, that dire creator of misery.

Thật đáng kinh ngạc. Ý tôi là điều này vô cùng mạnh mẽ, thực sự kỳ diệu. Nó phủ định tất cả những gì dựng nên rào cản, vì Đức Christ biết những gì có trong con người bởi Ngài là Sao Hải Vương. Ngài làm tan biến những rào cản thường ngăn cách bản sắc của cá nhân này với cá nhân khác. Ngài làm tan biến tất cả những điều ấy; Ngài có thể đi vào bên trong linh hồn và tính hiện tồn của người kia. Dĩ nhiên, khi tiến bộ, đặc biệt trên tuyến cung hai, chúng ta ngày càng có khả năng làm điều đó nếu không để phàm ngã trở thành rào cản. Nhiều người cố gắng không chỉ trích, nhưng họ chỉ đang kiềm chế thể trí để nó không chỉ trích. Điều đó không giống với việc không có tính chỉ trích. Đây là một vấn đề lớn. Ngài gọi sự chỉ trích là kẻ tạo ra khổ đau đáng sợ ấy. Hãy suy nghĩ về những từ này: sự chỉ trích, kẻ tạo ra khổ đau đáng sợ ấy.

It negates all separation, and therefore we overcome the great heresy of separateness if we have the true love, and that's something we meditated on in the very beginning, the glamour of separateness and the great illusion of separation. It sees no distinction. This is mysterious.

Nó phủ định mọi sự chia rẽ. Vì vậy, nếu có tình thương chân thực, chúng ta vượt qua Đại Tà thuyết về tính chia rẽ. Đó là điều chúng ta đã tham thiền ngay từ đầu: ảo cảm của tính chia rẽ và ảo tưởng lớn lao về sự chia rẽ. Nó không thấy có sự phân biệt nào. Điều này thật huyền nhiệm.

Now, maybe some of you, some of us, will recognize this.

Giờ đây, có lẽ một số các bạn, một số người trong chúng ta, sẽ nhận ra điều này.

[7] It sees no distinction, even when it appreciates need,

[7] Nó không thấy sự phân biệt nào, ngay cả khi nhận biết nhu cầu,

In other words, it's all one Being, but the different apparent aspects of the one Being have different needs in order to emerge into full divine expression, and he said, “One of the greatest psychic powers”, this always impressed me, “one of the greatest psychic powers, is the ability to sense the need of another”. I think about that, I mean, that would extend to other kingdoms, to the animal kingdom or the plant kingdom. I don't know about the mineral kingdom, maybe that's a very special thing. But to sense, let us say, the need of another human being is one of the foremost psychic powers, but obviously, it has to do with the higher psychism and not the kind of psychism where we're used to, seeing visions and having all kinds of various impressions, which are pretty much in the realm of personality.

Nói cách khác, tất cả đều là một Sinh Mệnh duy nhất, nhưng những phương diện biểu kiến khác nhau của Sinh Mệnh duy nhất ấy có những nhu cầu khác nhau để có thể biểu lộ thiên tính một cách trọn vẹn. Ngài nói: “Một trong những quyền năng thông linh lớn nhất”—điều này luôn gây ấn tượng với tôi—“một trong những quyền năng thông linh lớn nhất là khả năng cảm nhận nhu cầu của người khác”. Tôi suy nghĩ về điều đó. Ý tôi là khả năng ấy sẽ mở rộng sang những giới khác, sang giới động vật hay giới thực vật. Tôi không biết đối với giới kim thạch thì sao; có lẽ đó là một điều rất đặc biệt. Nhưng cảm nhận nhu cầu của một người khác là một trong những quyền năng thông linh hàng đầu. Rõ ràng, điều đó liên quan đến năng lực thông linh bậc cao, chứ không phải loại năng lực thông linh mà chúng ta quen thuộc: thấy các linh ảnh và có đủ loại ấn tượng khác nhau, vốn phần lớn thuộc phạm vi phàm ngã.

It sees no distinction, even when it appreciates need,

Nó không thấy có sự phân biệt nào, ngay cả khi nhận biết nhu cầu,

[8] and it produces in one who loves as a soul immediate identification with that which is loved.

[8] và nó khiến người yêu thương với tư cách một linh hồn lập tức đồng hoá với đối tượng được yêu thương.

Now, Is that enough for us? I mean, this is such a great definition of of love. He has a number of definitions and they all really add something.

Như vậy đã đủ cho chúng ta chưa? Ý tôi là đây là một định nghĩa thật tuyệt vời về tình thương. Ngài có một số định nghĩa, và tất cả đều thực sự bổ sung thêm điều gì đó.

[9] These three words sum up the three qualities

[9] Ba từ này tóm lược ba phẩm tính

We're talking about illumination, understanding and love.

Chúng ta đang nói về sự soi sáng, sự thấu hiểu và tình thương.

[10] or aspects of the intuition and can be covered by the word, universality, or the sense of universal Oneness.

[10] hay phương diện của trực giác và có thể được bao quát bằng từ tính phổ quát, hay cảm thức về sự Hợp Nhất phổ quát.

Now, we are entering the era of universality. The Aquarian Age is said to be the era of the universal, and under Aquarius, comes the grasp of the universal.

Giờ đây, chúng ta đang bước vào thời đại của tính phổ quát. Kỷ nguyên Bảo Bình được cho là thời đại của cái phổ quát, và dưới ảnh hưởng của Bảo Bình, sự nắm bắt cái phổ quát xuất hiện.

Now, what really would that be? More and more we are affected by the consciousness, I guess that's all I can call it, of the Solar Logos. We begin to take the solar initiations, from the third initiation onward, and the sense of the universal grows within our consciousness, within our apprehension of all that we see. So, we see, let's call it, “Unity in diversity”, and with this, you say that diversity does not break the unity.

Vậy điều đó thực sự sẽ là gì? Chúng ta ngày càng chịu ảnh hưởng của tâm thức Thái dương Thượng đế—tôi đoán đó là tất cả những gì tôi có thể gọi nó. Từ lần điểm đạo thứ ba trở đi, chúng ta bắt đầu trải qua các cuộc điểm đạo thái dương, và ý thức về cái phổ quát tăng trưởng trong tâm thức chúng ta, trong sự lĩnh hội tất cả những gì chúng ta thấy. Vì vậy, chúng ta thấy điều có thể gọi là “Hợp nhất trong đa dạng”, và cùng với điều này, các bạn có thể nói rằng tính đa dạng không phá vỡ sự hợp nhất.

This is a very important idea and this is what we have to look forward to as during the next 2000 and something years. We begin to tread more earnestly and with greater effect the Path of Initiation. We look forward to the apprehension of the Oneness of the solar system, and we extend that idea to the Oneness of all things local and beyond, until our entire consciousness is pervaded by the apperception or the infuseception. I use that word infuseception of oneness. We always sense the substratum which holds all things together, and yet we appreciate the needs of the various parts of this perceived oneness.

Đây là một ý tưởng rất quan trọng, và là điều chúng ta hướng tới trong hơn 2.000 năm sắp tới. Chúng ta bắt đầu bước đi trên Con Đường Điểm Đạo một cách chuyên tâm hơn và có hiệu quả hơn. Chúng ta hướng tới việc lĩnh hội tính Nhất Thể của hệ mặt trời, rồi mở rộng ý tưởng ấy đến tính Nhất Thể của mọi sự vật trong phạm vi gần gũi và xa hơn, cho đến khi toàn bộ tâm thức chúng ta thấm nhuần sự trực nhận, hay sự cảm nhận từ bên trong do được thấm nhuần. Tôi dùng cách diễn đạt ấy để nói về tính nhất thể. Chúng ta luôn cảm nhận nền tảng gắn kết mọi sự vật với nhau, đồng thời vẫn nhận biết nhu cầu của các bộ phận khác nhau trong tính nhất thể mà chúng ta tri nhận.

This is what we're moving into, and as we build the antahkarana successfully, more and more of that will come forward in our consciousness, and we will have a real change of consciousness and not just sort of a theoretical grasp of a few things. So, what I'd like to do here for a moment before we get into the meditation, and before we get into the discussion of anything that may have struck you, here, I want to look at this again.

Đó là điều chúng ta đang tiến vào. Khi xây dựng antahkarana thành công, điều ấy sẽ ngày càng xuất hiện rõ hơn trong tâm thức, và chúng ta sẽ có một sự thay đổi tâm thức thực sự, chứ không chỉ nắm bắt một vài điều trên lý thuyết. Vì vậy, trước khi bước vào bài tham thiền và trước khi thảo luận bất cứ điều gì có thể đã gây ấn tượng với các bạn, tôi muốn dành một lát để xem lại điều này.

So, we're talking about this love factor which underlies all things, and as I say these words, I'd like us to be in kind of a meditative state where we see whether in our life, we have any apprehension of what these words by the Tibetan really mean. Now, he's talking about the real love from which the pure affection and pure lovingness or loving outgoing arise. We’re looking at the source of the arising of the usual things which, in our mind, signify the presence of Love.

Chúng ta đang nói về yếu tố tình thương làm nền tảng cho mọi sự vật. Khi tôi nói những lời này, tôi muốn chúng ta ở trong một trạng thái thiền định nào đó, để xem trong đời mình, chúng ta có lĩnh hội được phần nào ý nghĩa thực sự của những lời Chân sư Tây Tạng hay không. Ngài đang nói về tình thương chân thực, nguồn gốc của sự trìu mến thuần khiết và tính yêu thương thuần khiết, hay sự tuôn tỏa tình thương. Chúng ta đang xem xét nguồn gốc phát sinh những biểu hiện thông thường mà trong thể trí mình, chúng ta cho là dấu hiệu của sự hiện diện của Tình Thương.

So meditatively then, and we can think of each other in this way, and those who are in your triangles networks, and those to whom you are related. It is that synthetic, inclusive grasp of the life and the needs of all beings, and he uses those two words purposefully.

Vậy, trong trạng thái thiền định, chúng ta có thể nghĩ về nhau theo cách này, về những người trong các mạng lưới tam giác của các bạn, và về những người có liên hệ với các bạn. Đó là sự nắm bắt có tính tổng hợp và bao gồm về sự sống và nhu cầu của mọi sinh linh; Ngài chủ ý dùng hai từ ấy.

When you find yourself to be in this world, let's call it an agent of fulfillment. It's the second aspect of the will in a way, the will to fulfillment, it's called. When you find yourself to be an agent of fulfillment, you'll always be alert to what may be the need of the other. Let's ask ourselves, do we approach other people, individuals, with that awareness of need? And when we can do that, it turns everything around because we're not desiring for our personal self of little self. We're looking to contribute to help. So, it'd be a good exercise. When you meet people in everyday life and even those around you, what is the real need? Can we be sensitive to that? It will reverse our whole attitude and it will become now a soul attitude. So, if we're a divine Son of God and we know it, then we will operate increasingly with this synthetic grasp of the life and need. But we can try that, as we just pick any individual in your mind's eye, what is the life, what are the needs, and how can you with humility and adjusted sense of right proportion, How can you help with the fulfillment of the needs that you sense? You can use your thoughts, you can use your words, your writing, your actions, whatever, how can you help?

Khi nhận thấy mình hiện diện trong thế giới này như một tác nhân đem lại sự viên mãn, chúng ta hãy gọi như vậy. Theo một nghĩa nào đó, đây là phương diện thứ hai của ý chí, được gọi là ý chí hướng đến sự viên mãn. Khi nhận thấy mình là một tác nhân đem lại sự viên mãn, các bạn sẽ luôn chú tâm đến những gì có thể là nhu cầu của người khác. Hãy tự hỏi: chúng ta có tiếp cận những người khác, những cá nhân khác, với sự nhận biết nhu cầu ấy không? Khi có thể làm như vậy, mọi thứ sẽ đảo chiều, vì chúng ta không còn ham muốn cho cái tôi cá nhân hay cái tôi nhỏ bé của mình. Chúng ta tìm cách đóng góp để giúp đỡ. Vì vậy, đây sẽ là một bài tập tốt. Khi gặp mọi người trong đời sống hằng ngày, kể cả những người quanh mình, nhu cầu thực sự là gì? Chúng ta có thể nhạy cảm với điều đó không? Điều ấy sẽ đảo ngược toàn bộ thái độ của chúng ta, và giờ đây thái độ ấy sẽ trở thành thái độ của linh hồn. Vì vậy, nếu là một Con thiêng liêng của Thượng đế và biết điều đó, chúng ta sẽ ngày càng vận dụng sự nắm bắt có tính tổng hợp này về sự sống và nhu cầu. Chúng ta có thể thử làm như vậy: hãy chọn bất kỳ cá nhân nào trong tâm trí mình; sự sống ấy là gì, những nhu cầu ấy là gì, và với lòng khiêm nhường cùng ý thức đúng đắn, cân nhắc về tỉ lệ, các bạn có thể giúp đáp ứng những nhu cầu mình cảm nhận như thế nào? Các bạn có thể dùng tư tưởng, lời nói, bài viết, hành động hay bất cứ điều gì—các bạn có thể giúp bằng cách nào?

There was a story about a diver who was in trouble, and the next thing he realizes he's being lifted to the surface by a dolphin, Big One, who sensed the need and acted—amazing stories sometimes of the relationship of the animal kingdom to humanity's dire emergencies. The dogs that are saving lives. The elephants, the higher animals sensing the need and acting.

Có một câu chuyện về người thợ lặn gặp nạn. Điều tiếp theo ông nhận biết là mình đang được một con cá heo lớn nâng lên mặt nước; nó đã cảm nhận nhu cầu và hành động. Đôi khi có những câu chuyện kỳ diệu về mối liên hệ giữa giới động vật với những tình huống nguy cấp của con người. Những con chó cứu người. Những con voi, những động vật bậc cao cảm nhận nhu cầu và hành động.

So, imagine you're in that synthetic state and you're sensing the life and the needs, and then we go on it, negates this attitude.

Vì vậy, hãy tưởng tượng các bạn đang ở trong trạng thái tổng hợp ấy, đang cảm nhận sự sống và nhu cầu. Rồi chúng ta tiếp tục: thái độ này phủ định.

negates all that builds barriers, makes criticism, and produces separation.

phủ định tất cả những gì dựng nên rào cản, đưa ra lời chỉ trích và tạo ra sự chia rẽ.

So, the lower mind is a critical factor and the separative factor, and it slays the real, we've been told. You have to move beyond that,not just by trying, but by being in this greater energy stream if we can remain open to it, and then this one:

Hạ trí là một yếu tố chỉ trích và chia rẽ; chúng ta được dạy rằng nó giết chết cái chân thực. Các bạn phải vượt lên trên điều đó, không chỉ bằng cách cố gắng, mà bằng cách ở trong dòng năng lượng lớn lao hơn này, nếu chúng ta có thể tiếp tục mở lòng đón nhận nó. Rồi đến câu này:

It sees no distinction,

Nó không thấy có sự phân biệt nào,

It sees no distinction. What does that mean?

Nó không thấy có sự phân biệt nào. Điều đó có nghĩa là gì?

even when it appreciates need,

ngay cả khi nhận biết nhu cầu,

The diversity is unified.

Tính đa dạng được hợp nhất.

and it produces in one who loves

và nơi người yêu thương, nó tạo ra

This is a climactic statement.

Đây là một phát biểu đạt đến cao trào.

it produces in one who loves as a soul immediate identification with that which is loved.

nơi người yêu thương với tư cách linh hồn, nó tạo ra sự đồng hoá tức thời với đối tượng được yêu thương.

I think we have to admit that this is very much different than the customary personality attitude. So, I would recommend that all of us be aware of this description of love, page five of the glamour book. We’ll get there, move along, and review it and ponder it, because it is so revealing.

Tôi nghĩ chúng ta phải thừa nhận rằng điều này khác rất nhiều với thái độ thông thường của phàm ngã. Vì vậy, tôi khuyên tất cả chúng ta hãy ghi nhớ phần mô tả tình thương này ở trang năm của cuốn sách về ảo cảm. Chúng ta sẽ đến đó, tiếp tục tiến bước, rồi xem lại và suy ngẫm về nó, vì nó có sức khai mở rất lớn.

So, this is the academic reading portion of our present webinar. There is enough to ponder on, and we don't need to go further. In other words, basically the Tibetan is doing is setting up a realization of the intuitive, illuminated understanding and loving state that exists beyond the subjection to glamour. Basically, he starts right at the very beginning with what it's like to be free of glamour, because if we're under the influence of a glamour, or more than one, like he says about second ray people pretty responsive to all of them, so for under that kind of influence, we're not going to be appreciating what the intuition can reveal. So, he, in a way, sets the ideal here at the at the outset of the book.

Đây là phần đọc và nghiên cứu trong buổi webinar hiện tại của chúng ta. Đã có đủ điều để suy ngẫm, nên chúng ta không cần đi xa hơn. Nói cách khác, về cơ bản, Chân sư Tây Tạng đang giúp chúng ta nhận ra trạng thái trực giác, thấu hiểu được soi sáng và yêu thương vốn tồn tại bên ngoài sự lệ thuộc vào ảo cảm. Về cơ bản, ngay từ đầu Ngài đã trình bày trạng thái thoát khỏi ảo cảm là như thế nào. Vì nếu chịu ảnh hưởng của một ảo cảm, hoặc nhiều hơn một—như Ngài nói, những người cung hai khá dễ đáp ứng với tất cả các ảo cảm—thì dưới loại ảnh hưởng ấy, chúng ta sẽ không nhận biết được những gì trực giác có thể mặc khải. Vì vậy, theo một cách nào đó, ngay từ đầu cuốn sách, Ngài đã đặt ra lý tưởng ở đây.

So, very important words, and energies behind these words is even more important than the words themselves. So, ponder these things and ponder the way you think you love others in whatever kingdom, but especially for our purposes, human beings. Think about how you love human beings and compare your assessment of that with what the Tibetan says real love is, and then I'm sure that some realizations of value will emerge.

Đây là những lời rất quan trọng, và những năng lượng đằng sau chúng còn quan trọng hơn chính những lời ấy. Vì vậy, hãy suy ngẫm những điều này, suy ngẫm cách các bạn nghĩ mình yêu thương những sinh linh khác trong bất kỳ giới nào, nhưng đặc biệt, đối với mục đích của chúng ta, là con người. Hãy nghĩ về cách các bạn yêu thương con người, rồi so sánh sự tự đánh giá ấy với điều Chân sư Tây Tạng nói về tình thương chân thực. Khi đó, tôi chắc chắn một số nhận thức có giá trị sẽ xuất hiện.

Questions and Answers – Hỏi và Đáp

Before we deal with our meditation, we can have a little discussion or questioning period… And looking here, and raise your hand or put up a question or a statement, whatever you want to do, and we can we can spend a few minutes doing that. If you have a thought, you would like to advance the question, would like to ask whatever of this profound stuff. I been reading it and I read it again yesterday, and when I read it this morning, I just realize how deep it goes and how it reverses everything. In the University of the Seven rays, we had a section. Basically, we carry that section on to all of our courses. We talked about two qualities, one was the quality of acquisition or appropriation. It was something we were trying to cultivate. We all need to cultivate things to fill out our causal body. But the other was called the quality of contribution. It was a something that we had developed within ourselves and which we could appropriately give to others, and I think when we begin to sense the need of others and really care about that, we will find resources within ourselves that will allow us to move towards helping to fulfill that need. Obviously everybody eventually has to be a source unto himself or herself, and that's what the Buddha said. He said, rely upon yourself, and by that he meant, of course, a very deep layer of self.

Trước khi đến phần tham thiền, chúng ta có thể dành chút thời gian thảo luận hoặc đặt câu hỏi… Tôi đang xem ở đây; các bạn hãy giơ tay, gửi một câu hỏi hay một ý kiến, tùy các bạn muốn, và chúng ta có thể dành vài phút cho việc đó. Nếu có một ý tưởng muốn nêu ra, một câu hỏi muốn đặt về bất cứ điều gì trong những nội dung sâu xa này. Tôi đã đọc phần này, rồi hôm qua đọc lại, và khi đọc sáng nay, tôi mới nhận ra nó sâu xa đến mức nào và đảo ngược mọi thứ ra sao. Tại Đại Học Bảy Cung, chúng tôi có một phần học. Về cơ bản, chúng tôi đưa phần học ấy vào tất cả các khóa học. Chúng tôi nói về hai phẩm tính: một là phẩm tính thu nhận hay tiếp thu. Đó là điều chúng ta đang cố gắng vun bồi. Tất cả chúng ta đều cần vun bồi những điều cần thiết để làm đầy đủ thể nguyên nhân của mình. Nhưng phẩm tính kia được gọi là phẩm tính đóng góp. Đó là điều chúng ta đã phát triển bên trong mình và có thể trao tặng người khác một cách thích hợp. Tôi nghĩ khi bắt đầu cảm nhận nhu cầu của người khác và thực sự quan tâm đến điều đó, chúng ta sẽ tìm thấy những nguồn lực bên trong mình, cho phép chúng ta tiến đến việc giúp đáp ứng nhu cầu ấy. Rõ ràng, cuối cùng mỗi người đều phải trở thành nguồn lực cho chính mình, và đó là điều Đức Phật đã nói. Ngài nói: hãy nương tựa vào chính mình; dĩ nhiên, qua đó Ngài muốn nói đến một tầng rất sâu của bản ngã.

Vera: I have been recently wondering: on the mental body, there are seven different subplanes—lower mental and soul mind and abstract mind and causal body. I’m just wondering, is there something more on the buddhic level?

Vera: >Gần đây tôi tự hỏi: trên thể trí có bảy cõi phụ khác nhau—hạ trí, trí tuệ linh hồn, trí trừu tượng và thể nguyên nhân. Tôi chỉ đang tự hỏi, liệu trên cấp độ Bồ đề còn có điều gì hơn nữa không?

MDR: Yes, and there it is; it is right in front of us. As a matter of fact, if you also go to Cosmic Fire page 188 or so, I’ll show you the place to begin reading, or that area of the book where we can read.

MDR: Có, và đây rồi; nó ở ngay trước mắt chúng ta. Thực ra, nếu bạn cũng mở Luận về Lửa Vũ Trụ ở khoảng trang 188, tôi sẽ chỉ cho bạn chỗ bắt đầu đọc, hay phần trong sách mà chúng ta có thể đọc.

Mental.....

Trí tuệ.....

1. Higher clairaudience... 7th ... FORM

1. Thông nhĩ bậc cao... Thứ 7 ... HÌNH TƯỚNG

2. Planetary psychometry... 6th... FORM

2. Thuật trắc tâm hành tinh... Thứ 6... HÌNH TƯỚNG

3. Higher clairvoyance... 5th... FORM

3. Thông nhãn bậc cao... Thứ 5... HÌNH TƯỚNG

4. Discrimination... 4th... FORM

4. Phân biện... Thứ 4... HÌNH TƯỚNG

5. Spiritual discernment... 3rd... FORMLESS

5. Phân biện tinh thần... Thứ 3... VÔ HÌNH TƯỚNG

Response to group vibration... 2nd FORMLESS

Đáp ứng với rung động nhóm... Thứ 2 VÔ HÌNH TƯỚNG

Spiritual telepathy... 1st... FORMLESS

Viễn cảm tinh thần... Thứ 1... VÔ HÌNH TƯỚNG

Buddhic.....

Bồ đề.....

1. Comprehension... 7th

1. Lĩnh hội... Thứ 7

2. Healing... 6th

2. Chữa lành... Thứ 6

3. Divine vision... 5th

3. Linh thị thiêng liêng... Thứ 5

4. Intuition... 4th

4. Trực giác... Thứ 4

5. Idealism... 3rd

5. Chủ nghĩa lý tưởng... Thứ 3

These are the microcosmic sensory evolution, page 188, and here are the different subplanes, only on the plane of mind. It’s possible to cultivate all seven. But here, we have the buddhic levels, and in some of our classes, we deal specifically with what any of these may mean. So, notice that he stops at subplane number three or subplane number five, depending on which way you're counting, and we have some very high abilities here on the buddhic plane, on the atmic plane. And, of course, that it also exists for the Monadic plane and the logoic plane. So, he says what makes a master, a master is characterized by 35 vortices of fire. So, that fits very because the height of an area in which to be able to work effectively is the atmic plane for a master, and if we were the Chohan, we could work on the Monadic plane.

Đây là sự tiến hoá giác quan của tiểu thiên địa, trang 188, và đây là các cõi phụ khác nhau, chỉ riêng trên cõi trí. Chúng ta có thể vun bồi cả bảy năng lực. Nhưng ở đây, chúng ta có các cấp độ Bồ đề, và trong một số lớp học, chúng ta đề cập cụ thể ý nghĩa có thể có của từng năng lực này. Hãy lưu ý rằng Ngài dừng ở cõi phụ số ba, hoặc cõi phụ số năm, tùy theo các bạn đếm theo chiều nào. Ở đây, chúng ta có một số năng lực rất cao trên cõi Bồ đề và cõi atma. Dĩ nhiên, điều đó cũng tồn tại trên cõi chân thần và cõi Thượng đế. Ngài nói điều gì làm nên một Chân sư: một Chân sư có đặc trưng là 35 xoáy lửa. Điều đó rất phù hợp, vì cõi cao nhất mà một Chân sư có thể hoạt động hiệu quả là cõi atma; còn nếu là một Đấng Chohan, chúng ta có thể hoạt động trên cõi chân thần.

GAW-063-H01 — Microcosmic sensory evolution: mental, buddhic and atmic faculties. Original figure from the bilingual source.

GAW-063-H01 — Sự tiến hoá giác quan của tiểu thiên địa: các năng lực trí tuệ, Bồ đề và atma. Hình gốc từ tài liệu nguồn song ngữ.

If we were a seventh degree Chohan, like the Christ, we could be doing some work up there on the logoic plane. So, in this aggregated chart, all of these abilities are listed, but every one of them has to be studied in its own right, and we do that in the various classes in the PhE. D class, and in the Morya Federation and so forth.

Nếu là một Đấng Chohan cấp độ bảy, như Đức Christ, chúng ta có thể thực hiện một số công việc trên cõi Thượng đế ở trên đó. Trong biểu đồ tổng hợp này, tất cả những năng lực ấy đều được liệt kê, nhưng mỗi năng lực đều phải được nghiên cứu riêng. Chúng tôi thực hiện điều đó trong các lớp học khác nhau, trong lớp PhE. D, trong Liên Đoàn Morya, v.v.

So, here we have the possibility, once we build the antahkarana, and really not before, of getting into the comprehension of the four sounds, of true healing, of true divine vision, and then finally, whatever intuition is, and then finally idealism, and then we stop. Why do we stop? We stopped for a very interesting reason that the sixth plane from below and the seventh plane from below have to do with siddhis or powers that even the master has not developed, and they belong to Chohanship. And here it is the same up here on the spiritual plane, that the Chohan can relate to, and he doesn't even name them, the sixth and seventh plane or the first and second, depending which way you're counting, and then when we move beyond Mastership, we can understand something of what's available.

Vì vậy, một khi xây dựng antahkarana, và thực sự không thể trước đó, chúng ta mới có khả năng đi vào sự lĩnh hội bốn âm thanh, sự chữa lành chân thực, linh thị thiêng liêng chân thực, rồi đến trực giác—dù trực giác thực sự là gì—và cuối cùng là chủ nghĩa lý tưởng; đến đó thì chúng ta dừng lại. Vì sao lại dừng? Chúng ta dừng vì một lý do rất thú vị: cõi thứ sáu tính từ dưới lên và cõi thứ bảy tính từ dưới lên liên quan đến những thần thông hay quyền năng mà ngay cả Chân sư cũng chưa phát triển; chúng thuộc về địa vị Chohan. Ở trên này, trên cõi tinh thần cũng vậy: có những năng lực mà Đấng Chohan có thể liên hệ đến, nhưng Ngài thậm chí không nêu tên chúng, ở cõi thứ sáu và thứ bảy, hoặc thứ nhất và thứ hai, tùy theo các bạn đếm theo chiều nào. Khi vượt qua địa vị Chân sư, chúng ta có thể thấu hiểu phần nào những gì hiện hữu ở đó.

Now also, if I can do this properly. When we get into the area of of the Monadic plane and the the logoic plane, I want to extend what the Tibetan said. He said 35 vortices make a master. I want to say that 42 vortices make a Chohan of the sixth degree, and 49, that's that number of completion in a way 49 vortices make the completed Chohan of the seventh degree, and every one of those subplanes has its own particular power, a number of them beyond our ability to understand, because it's obvious that when you get to this aggregation, we've got to study very deeply what these buddhic qualities mean, and what these atmic: will, beatitude, active service, realization, perfection, all knowledge, that's the peak of what a master can do. We have to study these things, and we do. So this is perhaps not the place where we can go into it in great detail. But yes, every one of the subplanes has his own siddhi.

Còn nữa, nếu tôi có thể thực hiện điều này cho đúng. Khi đi vào phạm vi cõi chân thần và cõi Thượng đế, tôi muốn mở rộng điều Chân sư Tây Tạng đã nói. Ngài nói 35 xoáy lửa làm nên một Chân sư. Tôi muốn nói rằng 42 xoáy lửa làm nên một Đấng Chohan cấp độ sáu, và 49—theo một nghĩa nào đó, đó là con số hoàn tất—49 xoáy lửa làm nên một Đấng Chohan hoàn thiện ở cấp độ bảy. Mỗi cõi phụ ấy đều có quyền năng riêng; một số vượt ngoài khả năng thấu hiểu của chúng ta. Rõ ràng, khi xem bảng tổng hợp này, chúng ta phải nghiên cứu rất sâu ý nghĩa của những phẩm tính Bồ đề này, cũng như những phẩm tính atma: ý chí, phúc lạc, phụng sự tích cực, chứng nghiệm, hoàn thiện, toàn tri. Đó là đỉnh cao những gì một Chân sư có thể thực hiện. Chúng ta phải nghiên cứu những điều này, và chúng tôi có làm như vậy. Vì thế, có lẽ đây không phải là nơi để đi vào thật chi tiết. Nhưng đúng vậy, mỗi cõi phụ đều có thần thông riêng.

Now, going down here, we notice that something is missing on the emotional plane, the sixth subplane down and the seventh subplane down are so low that no matter from these subplanes is supposed to enter into the astral body of the individual. So, these are very low and rather demonic worlds, we’re not to have anything to do with them. He says that the Hell world of the average believer is found on the seventh subplane here, so we don't want that.

Giờ đây, đi xuống phía dưới, chúng ta nhận thấy có điều gì đó còn thiếu trên cõi cảm xúc: cõi phụ thứ sáu tính xuống và cõi phụ thứ bảy tính xuống thấp đến mức không một chút vật chất nào từ các cõi phụ này được phép đi vào thể cảm dục của cá nhân. Đây là những thế giới rất thấp và khá ma quỷ; chúng ta không nên có bất kỳ liên hệ nào với chúng. Ngài nói thế giới Địa Ngục trong quan niệm của tín đồ thông thường nằm ở cõi phụ thứ bảy tại đây, nên chúng ta không muốn điều đó.

Here we have the the gaseous subplane and down on the physical, and we know how important it is this gaseous subplane to activate the ethers. That's the transitional plane, but when it comes to liquid, and it comes to density, they are simply subplanes of effect, and they are not really subplanes that we are working on cultivating, they just respond to the higher cultivations. So, this is a whole unit of study in itself area, and very deep, very deep. Really, it was so we got to do that. I mean, in the Morya Federation, we do do that, get into it later in the program, and then of course, look, I'm not saying we will be completely accurate, but we will know more about what it really is by building the antahkarana, thinking in that way, pondering in that way for impression coming from those levels.

Ở đây, phía dưới trên cõi hồng trần, chúng ta có cõi phụ thể khí. Chúng ta biết cõi phụ thể khí này quan trọng đến mức nào trong việc kích hoạt các chất dĩ thái. Đó là cõi chuyển tiếp. Nhưng khi đến thể lỏng và vật chất đậm đặc, chúng chỉ là các cõi phụ của kết quả, chứ không thực sự là những cõi phụ mà chúng ta đang vun bồi; chúng chỉ đáp ứng với sự vun bồi ở các cấp cao hơn. Vì vậy, đây là cả một lĩnh vực nghiên cứu riêng, rất sâu xa, rất sâu xa. Thực sự, chúng ta phải làm điều đó. Ý tôi là tại Liên Đoàn Morya, chúng tôi quả có thực hiện việc ấy, đi sâu vào phần sau của chương trình. Dĩ nhiên, tôi không nói rằng chúng ta sẽ hoàn toàn chính xác, nhưng chúng ta sẽ biết nhiều hơn về thực chất của những điều này bằng cách xây dựng antahkarana, suy nghĩ và suy ngẫm theo hướng đó để tiếp nhận ấn tượng từ những cấp độ ấy.

…

…

There's so much in occultism, so much. We just have to find a way to assimilate. That's the thing.

Trong huyền bí học có rất nhiều điều, rất nhiều. Chúng ta chỉ phải tìm cách lĩnh hội và hấp thu. Vấn đề là vậy.

In DINA I, page 669, DK writes:

Trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I, trang 669, Chân sư DK viết:

knowing that the potency of love rightly expressed is great and is—at this time—the only factor that can offset hate. (DINA I, p. 669)

biết rằng sức mạnh của tình thương được biểu lộ đúng đắn là lớn lao và—vào lúc này—là yếu tố duy nhất có thể hóa giải lòng thù hận. (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I, tr. 669)

If there is love rightly expressed, what is then love not rightly expressed?

Nếu có tình thương được biểu lộ đúng đắn, vậy tình thương biểu lộ không đúng đắn là gì?

It's usually a type of magnetism that has to do with personality likes and dislikes, and it is selfish in as much as it is attracted to that which is pleasant for the personality fields and stimulating for the personality fields. But is not the real embracing synthetic love of the life and needs of another. It's still selfish, but it is magnetic, because desire and love are very related, and they keep on kind of one turns into another as we go higher and higher. So, the desire from the cosmic astral plane is like what we experienced as love on this cosmic physical plane, they are interrelated all the time, rays two and six. But if it comes from the personality, it's magnetic, it may be fulfilling, but it's not the kind of love that DK is talking about. It's a real question to distinguish between love and desire.

Đó thường là một loại từ điện liên quan đến những điều phàm ngã thích và không thích; nó ích kỷ ở chỗ bị thu hút bởi những gì dễ chịu và kích thích các trường phàm ngã. Nhưng đó không phải là tình thương tổng hợp đích thực, bao dung sự sống và nhu cầu của người khác. Nó vẫn ích kỷ, nhưng có từ tính, vì dục vọng và tình thương có quan hệ rất gần gũi; khi chúng ta tiến ngày càng cao, cái này dần chuyển thành cái kia. Vì vậy, dục vọng từ cõi cảm dục vũ trụ giống như điều chúng ta trải nghiệm là tình thương trên cõi hồng trần vũ trụ này; chúng luôn tương quan với nhau, cũng như cung hai và cung sáu. Nhưng nếu xuất phát từ phàm ngã, nó có từ tính, có thể đem lại sự mãn nguyện, nhưng không phải loại tình thương mà Chân sư DK đang nói đến. Phân biệt tình thương với dục vọng quả là một vấn đề.

Michael: I had two thoughts, the first being when we look at the seeming other as if that he or she is a mirror and we are seeing ourselves reflected in and from them. How would we treat them which is really ourselves. That's the first thought.

Michael: Tôi có hai suy nghĩ. Thứ nhất, khi nhìn người dường như là người khác như thể người ấy là một tấm gương, và chúng ta thấy chính mình phản chiếu trong họ và từ họ, chúng ta sẽ đối xử với họ ra sao, khi họ thực sự chính là chúng ta? Đó là suy nghĩ thứ nhất.

The second thought, as I have been doing my studies and pondering on questions, I have this thing come to me, and I'm going to read. Being at the midway point, humanity has great opportunity and responsibility in this world period to lift the Four Kingdoms of Nature into their next mode of evolution. All of the outer world conflicts in religion, politics, economics, science, etc. are just distractions keeping us from focusing on our actual work. This is not saying that we should not address and solve these distractions, the masses of people are drowning in the emotionalism of this aspect of the great illusion, as I write this, a smile came upon my face, as the thought of divine indifference entered my mind.

Suy nghĩ thứ hai xuất hiện khi tôi nghiên cứu và suy ngẫm về các câu hỏi. Một ý tưởng đã đến với tôi, và tôi sẽ đọc ra. Ở điểm ở giữa, nhân loại có cơ hội và trách nhiệm lớn lao trong giai đoạn thế giới này: nâng bốn giới của thiên nhiên lên phương thức tiến hoá kế tiếp. Mọi xung đột ở thế giới bên ngoài trong tôn giáo, chính trị, kinh tế, khoa học, v.v. chỉ là những điều gây xao lãng, khiến chúng ta không tập trung vào công việc thực sự của mình. Điều này không có nghĩa là chúng ta không nên đối diện và giải quyết những điều gây xao lãng ấy. Quần chúng đang chìm đắm trong sự thiên về cảm xúc của phương diện này thuộc ảo tưởng lớn lao. Khi viết những dòng này, tôi mỉm cười lúc ý nghĩ về điềm nhiên thiêng liêng đi vào thể trí tôi.

MDR: Who wrote that, Mike? Was that you, or who wrote that?

MDR: Ai viết đoạn đó vậy, Mike? Bạn viết, hay ai viết vậy?

Michael: That was me.

Michael: Tôi viết.

MDR: It’s good, very good. I said, is the Tibetan saying this?

MDR: Hay lắm, rất hay. Tôi đã tự hỏi: có phải Chân sư Tây Tạng đang nói điều này không?

He begins to use us as outposts of consciousness. So, those are well expressed thoughts, this whole identification is what lies under this whole issue. And the great illusion of mistaken identity and somehow being able not to see our personal self in the other necessarily, because there are those distinctions between persons, but to be able to see the substratum of life, of being, of love, of light, I'm the light of the world, and the love of the world, I am the being of the world, to be able to see those things in the other, and since the fusion that arises when those things are apprehended, this, I think, is the proper attitude. And then all of those more personal things with which we may have to interact, because we're serving and whatever, they will be solved more appropriately in that light, in the light of identification.

Ngài bắt đầu sử dụng chúng ta như những tiền đồn của tâm thức. Những suy nghĩ ấy được diễn đạt rất hay; toàn bộ sự đồng hoá này là nền tảng của toàn bộ vấn đề. Và còn ảo tưởng lớn lao về sự nhận lầm bản sắc. Bằng cách nào đó, chúng ta không nhất thiết phải thấy bản ngã cá nhân của mình nơi người khác, vì giữa những con người vẫn có những khác biệt ấy, mà phải có khả năng thấy nền tảng của sự sống, của bản thể, của tình thương, của ánh sáng: tôi là ánh sáng của thế giới, là tình thương của thế giới, tôi là bản thể của thế giới. Có thể thấy những điều ấy nơi người khác, và cảm nhận sự dung hợp nảy sinh khi nhận biết những điều ấy—tôi nghĩ đó là thái độ đúng đắn. Khi ấy, mọi điều mang tính cá nhân hơn mà chúng ta có thể phải tương tác trong quá trình phụng sự hay trong những hoàn cảnh khác sẽ được giải quyết thích đáng hơn dưới ánh sáng ấy, dưới ánh sáng của sự đồng hoá.

So, obviously, as the antahkarana is built more fully into the Triad, and then eventually towards the monad, the possibility of identification becomes very real. And many things that looked insoluble from a lower level can be solved in the light of that greater understanding, which is loving and illuminating, and is basically the intuitive relationship of Pure Reason and Love Wisdom between the different parts, we find ourselves to be parts of the same thing, and then we find ourselves to be the same thing. Now, this has to be worked on, and it's worked on a lot by removing the barriers, removing the veils, and then it's, like DK says, You are telepathic already, just get the stuff away. That's in the way. I mean, he didn't say those words, better words, but it's the same when it comes to identification. We are already identified at a deep level. Let's get those veils out of the way so that when we see another, we can be another, and so sometimes I say, be what you see, be what you see. This is my little mantra to myself that reminds me about how to treat the apparent object of my consciousness.

Vì vậy, rõ ràng khi antahkarana được xây dựng đầy đủ hơn vào Tam nguyên tinh thần, rồi cuối cùng hướng đến chân thần, khả năng đồng hoá trở nên rất thực. Nhiều điều có vẻ không thể giải quyết ở cấp độ thấp hơn có thể được giải quyết dưới ánh sáng của sự thấu hiểu lớn lao hơn ấy. Sự thấu hiểu ấy đầy tình thương và có sức soi sáng; về căn bản, đó là mối quan hệ trực giác của Lý Trí Thuần Khiết và Bác Ái – Minh Triết giữa các phần khác nhau. Chúng ta nhận thấy mình là những phần của cùng một điều, rồi nhận thấy mình chính là cùng một điều ấy. Điều này cần được thực hành, và phần lớn công việc là loại bỏ những rào cản, vén bỏ những bức màn. Khi ấy, như Chân sư DK nói: Các bạn vốn đã có khả năng viễn cảm rồi, chỉ cần dẹp những thứ đang cản đường đi. Ý tôi là Ngài không dùng đúng những lời ấy; Ngài dùng những lời hay hơn, nhưng với sự đồng hoá thì cũng như vậy. Ở một cấp độ sâu xa, chúng ta vốn đã đồng hoá rồi. Hãy dẹp những bức màn ấy đi để khi thấy một người khác, chúng ta có thể là người ấy. Vì vậy, đôi khi tôi nói: hãy là điều mình thấy, hãy là điều mình thấy. Đó là câu mantram nhỏ tôi tự nhắc mình, giúp tôi nhớ cách đối xử với đối tượng có vẻ như tách biệt trong tâm thức mình.

Criticism and Be critical.

Sự chỉ trích và việc biết phê phán.

The Tibetan differentiates between being critical in one sense and criticizing in the other sense. Criticism as he describes it later in the book is the door that opens one to all other glamours. We can look at things that the seeming other is doing and not approve of those things. This is a separation but it's it's separating the soul from the action.

Chân sư Tây Tạng phân biệt giữa việc biết phê phán theo một nghĩa và việc chỉ trích theo nghĩa khác. Như Ngài mô tả ở phần sau của cuốn sách, sự chỉ trích là cánh cửa mở lối cho mọi ảo cảm khác đi vào. Chúng ta có thể nhìn những việc mà người dường như là người khác đang làm và không tán thành những việc ấy. Đây là một sự phân tách, nhưng là tách biệt linh hồn với hành động.

MDR: Yes, it's very important to know the identity, and then to see that the action is distinctive, but the identity is the same. Look, He gives a triple criticism, self pity, and suspicion, the three great roots of glamour, he lists them together, and they come on different rays, don’t they. Criticism comes on the third major ray, self pity on the second, paranoia, suspicion that comes in on the first ray. So, the first three rays give the key to all glamours that can resolve, and basically, it all has to do with personal identification, identifying yourself as the part rather than the whole. We are both in a way, but we're more essentially the wholes in the part, and we have to learn how to expand our ring-pass-not, dissolve our ring-pass-not at will, and then we can fuse with this substratum which is holding all in being. Those are just words, we just need to work at it until we can really do it.

MDR: Đúng, điều rất quan trọng là nhận biết bản sắc, rồi thấy rằng hành động thì khác biệt, nhưng bản sắc vẫn là một. Hãy xem, Ngài đưa ra một bộ ba: chỉ trích, tự thương hại và nghi ngờ—ba cội rễ lớn của ảo cảm. Ngài liệt kê chúng cùng nhau, và chúng xuất hiện trên những cung khác nhau, phải không? Sự chỉ trích xuất hiện trên cung chính thứ ba, tự thương hại trên cung hai, còn hoang tưởng và nghi ngờ xuất hiện trên cung một. Vì vậy, ba cung đầu cho chúng ta chìa khóa để hóa giải mọi ảo cảm; về căn bản, tất cả đều liên quan đến sự đồng hoá cá nhân, đồng hoá mình với bộ phận thay vì toàn thể. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta là cả hai, nhưng về bản chất sâu xa hơn, chúng ta là toàn thể hiện diện trong bộ phận. Chúng ta phải học cách mở rộng vòng-giới-hạn của mình, làm tan vòng-giới-hạn theo ý muốn, rồi có thể dung hợp với nền tảng đang duy trì mọi sự trong hiện tồn. Đó chỉ là lời nói; chúng ta cần thực hành cho đến khi thực sự làm được.

The key is identification, seeing ourselves not only in but as all.

Chìa khóa là sự đồng hoá: thấy mình không chỉ ở trong tất cả, mà chính là tất cả.

That right. In other words, I always distinguish between the prepositions. I don't like to use identification with another. I'd like to use identification as another. I think it overcomes a certain duality which is necessary in real identification. At least it points us in the right direction.

Đúng vậy. Nói cách khác, tôi luôn phân biệt giữa các giới từ. Tôi không thích dùng cách nói đồng hoá “với” người khác. Tôi thích nói đồng hoá để “là” người khác. Tôi nghĩ cách nói ấy vượt qua một sự nhị nguyên nào đó, và việc vượt qua ấy là điều cần thiết cho sự đồng hoá thực sự. Ít nhất, nó hướng chúng ta đi đúng đường.

Thank you. Thank you, Michael, for your contribution. Bibi, go ahead, please.

Cảm ơn Michael vì phần đóng góp của bạn. Bibi, xin mời bạn.

Oh, yes, yes. Very yes. We found that out about your prime minister.

Đúng vậy, rất đúng. Chúng tôi đã nhận ra điều đó qua vị thủ tướng của bạn.

MDR: Bibi’s written statement is: “It is interesting to ponder on the four different Greek words for love: agape, storge, philia and eros.”

MDR: Bibi viết: “Thật thú vị khi suy ngẫm về bốn từ Hy Lạp khác nhau chỉ tình thương: tình thương phổ quát, tình thân, tình bằng hữu và tình yêu say đắm.”

“Agape is seen as universal love, which is mental and includes no emotion but the right action towards our fellow brothers. This is also the love we need to use when in the Bible it says that we shall love our enemy.”

“Tình thương phổ quát được xem là tình thương thuộc trí tuệ, không bao gồm cảm xúc, mà là hành động đúng đắn đối với các huynh đệ đồng loại của chúng ta. Đây cũng là tình thương mà chúng ta cần vận dụng khi Kinh Thánh nói rằng chúng ta phải yêu thương kẻ thù của mình.”

MDR: That’s a very good point. Of course, in the other extreme, basically, is eros, which is the usual kind of passionate personal love.

MDR: Đó là một nhận xét rất hay. Dĩ nhiên, ở cực kia về căn bản là tình yêu say đắm, loại tình yêu cá nhân nồng nhiệt thường thấy.

When I see philia, I think of the words affiliate, which is probably, derived from it, and I'm not sure about storge or however that may be pronounced. Would you like to say something, Bibi? Because your microphone is clear.

Khi thấy từ chỉ tình bằng hữu, tôi nghĩ đến từ chỉ sự liên kết, có lẽ bắt nguồn từ đó. Còn từ chỉ tình thân thì tôi không chắc, kể cả cách phát âm. Bibi, bạn có muốn nói thêm điều gì không? Vì âm thanh từ micrô của bạn rất rõ.

Agape—people pronounce it in different ways, agape, agape—but that is the kind of love we’re looking for.

Từ chỉ tình thương phổ quát—người ta phát âm từ ấy theo những cách khác nhau—nhưng đó là loại tình thương chúng ta đang tìm kiếm.

Once when I was a younger person, I went back to school after graduating, and I took ancient Greek, and that, gosh, that was 50 years ago, 50 years ago this year, and it felt a bit like a homecoming, you know.

Có một lần, khi còn trẻ hơn, sau khi tốt nghiệp tôi đã trở lại trường và học tiếng Hy Lạp cổ. Đó là 50 năm trước, tính đến năm nay là 50 năm, và các bạn biết đấy, tôi có cảm giác như được trở về nhà.

Some of us have ideas of where we've been before, and, what we've been involved in, and when I saw this language, I really, really related to it. But, it was not the way for me to develop during this particular incarnation.

Một số người trong chúng ta có những ý niệm về nơi mình từng sống trước đây và những việc mình từng tham gia. Khi gặp ngôn ngữ này, tôi cảm thấy rất gắn bó với nó. Nhưng đó không phải con đường phát triển của tôi trong kiếp lâm phàm cụ thể này.

But these words were emerging in the texts that we were studying, you know, and of course, so much from the Aramaic language was translated, biblically into the Greek. But there's also the Greek that came from Plato and others.

Tuy nhiên, những từ này xuất hiện trong các văn bản chúng tôi đang học. Dĩ nhiên, rất nhiều nội dung Kinh Thánh bằng tiếng Aram đã được dịch sang tiếng Hy Lạp. Nhưng còn có tiếng Hy Lạp trong các tác phẩm của Plato và những người khác.

I remember from ancient Greek maybe one thing. You can be impressed by something that’s at the beginning of a whole book. The words were [Greek phrase not captured in the source transcript], and it really stood me in good stead as I thought about my whole life and things happening along the way.

Có lẽ tôi còn nhớ một điều từ tiếng Hy Lạp cổ. Người ta có thể ấn tượng với một câu nằm ngay đầu một cuốn sách. Câu ấy là [Greek phrase not captured in the source transcript], và nó thực sự giúp ích cho tôi rất nhiều khi suy ngẫm về toàn bộ cuộc đời mình cùng những điều xảy ra trên đường đời.

It means, the beginning is half of everything. The beginning is half of the whole. So, and that's like Master Morya says that even to conceive of something is to half do it.

Câu ấy có nghĩa là: khởi đầu là một nửa của mọi sự. Khởi đầu là một nửa của toàn thể. Điều này giống như Chân sư Morya nói: ngay cả việc hình thành ý tưởng về một điều gì đó cũng đã là làm được một nửa.

So, the conceptions better be good ones. well, thank you for these distinctions, and I would be kind of interested in understanding what this storge is, or however it may be pronounced.

Vì vậy, những ý tưởng hình thành ấy nên là những ý tưởng tốt. Cảm ơn bạn về những sự phân biệt này. Tôi cũng khá muốn thấu hiểu từ chỉ tình thân này là gì, dù nó được phát âm thế nào.

Philia, I seem to have an idea. It’s a kind of a likeness, a similarity with whom, with which you can affiliate. Eros, I think we all know to a degree.

Về tình bằng hữu, dường như tôi có một ý niệm. Đó là một dạng giống nhau, một sự tương đồng với người hay điều mà mình có thể gắn kết. Còn tình yêu say đắm thì tôi nghĩ tất cả chúng ta đều biết ở một mức độ nào đó.

But the second one, I'd like to understand that. Thank you for offering. so any others, Brett? Any other folks? Not right now.

Nhưng từ thứ hai thì tôi muốn thấu hiểu. Cảm ơn bạn đã chia sẻ. Brett, còn ai khác không? Còn người nào khác không? Hiện giờ thì chưa.

Not right now. Well, if we stay here the whole day, I'm sure there'll be questions like, why are we here? friends, well, thank you.

Hiện giờ thì chưa. Nếu chúng ta ở đây suốt ngày, tôi chắc sẽ có những câu hỏi như: tại sao chúng ta lại ở đây? Cảm ơn các bạn.

These are wonderful words from the Tibetan. And, well, they're probably even worth memorizing, they're probably even worth learning by heart. Yeah.

Đây là những lời tuyệt vời của Chân sư Tây Tạng. Có lẽ chúng còn đáng để ghi nhớ, đáng để học thuộc lòng.

Before we go on to our meditation, I just want to say that tomorrow we, on the Ask program, we have, one of our more versatile days. We're always looking out for the emergence of the soul of nations, and also for emergency situations occurring either objectively or subjectively in the world, and we try as a group to address ourselves to those things. So Tuija will be leading that.

Trước khi chuyển sang phần tham thiền, tôi chỉ muốn nói rằng ngày mai, trong chương trình ASK, chúng ta sẽ có một ngày với các hoạt động khá đa dạng. Chúng ta luôn chú ý đến sự xuất hiện của linh hồn các quốc gia, cũng như những tình huống khẩn cấp xảy ra một cách khách quan hoặc chủ quan trên thế giới, và cố gắng cùng nhau, với tư cách một nhóm, hướng sự quan tâm vào những điều ấy. Tuija sẽ hướng dẫn phần đó.

Again, it's a morning, on the morning schedule, the soul of nations meditations. and I'm sure there's more coming up, but it just slips me at the moment, and just stay tuned. We'll try to have, what, with Joe and Tuija and Brett and all that, we'll try to have the proper schedule for you so you can tune in on these broadcasts and webinars.

Một lần nữa, các bài thiền về linh hồn các quốc gia nằm trong lịch buổi sáng. Tôi chắc còn những hoạt động khác sắp diễn ra, nhưng lúc này tôi chưa nhớ ra; các bạn hãy tiếp tục theo dõi. Với sự phối hợp của Joe, Tuija, Brett và mọi người, chúng tôi sẽ cố gắng cung cấp lịch trình thích hợp để các bạn có thể theo dõi những buổi phát sóng và webinar này.

Occasionally, there are changes. There's nothing we can do about that, and we try to let about it. and here we go.

Đôi khi có những thay đổi. Chúng tôi không thể tránh được điều đó và cố gắng thông báo cho các bạn. Giờ chúng ta bắt đầu.

Meditation – Tham thiền

So, we begin just in the silence, and there are some 27 of us. That's a good esoteric number of the number of students, plus the three teachers in the advanced esoteric schools, 27. Important number, and we're all coming together in the field of consciousness, and we'll work as one instrument using our creative imagination.

Chúng ta bắt đầu trong im lặng; có khoảng 27 người trong chúng ta. Đó là một con số huyền bí học tốt đẹp, con số đạo sinh cộng với ba huấn sư trong các trường huyền bí học cao cấp: 27. Một con số quan trọng. Tất cả chúng ta đang hội tụ trong trường tâm thức và sẽ hoạt động như một công cụ duy nhất, vận dụng sự tưởng tượng sáng tạo của mình.

So, we use the protective formula with the Cross of Divinity involving the eyes, and we need a protection. It's the most out of control plane that we have on our planet, or at least in relation to the personality of humanity, and so, the forces there are very great, and, when you think about the counterforce of the so-called Black Lodge and all that, their home base is on the astral plane, as far as the usual kind of evil goes.

Chúng ta sử dụng công thức bảo vệ với Thập Giá Thiên Tính có liên quan đến đôi mắt, và chúng ta cần sự bảo vệ. Đây là cõi khó kiểm soát nhất trên hành tinh chúng ta, ít nhất trong mối liên hệ với phàm ngã của nhân loại. Vì vậy, các mãnh lực ở đó rất lớn. Khi nghĩ đến mãnh lực đối kháng của cái gọi là Hắc đoàn và những điều liên quan, xét loại tà ác thông thường thì căn cứ của chúng nằm trên cõi cảm dục.

So, we need the protection. So, we'll say together the mantra that the Tibetan has given us, and we'll make the sign of the cross, which we find will be illuminated, an illuminated cross.

Vì vậy, chúng ta cần sự bảo vệ. Chúng ta sẽ cùng đọc mantram mà Chân sư Tây Tạng đã ban cho chúng ta, và làm dấu thập giá; chúng ta sẽ thấy thập giá ấy được soi sáng, một thập giá rực sáng.

As a soul, I work in light and darkness cannot touch me.

Là một linh hồn, tôi làm việc trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi.

I take my stand within the light.

Tôi đứng vững trong ánh sáng.

I work, and from that point, I never move.

Tôi làm việc, và không bao giờ rời khỏi điểm ấy.

You see the illumination of the protective cross. Each one of us has that, and the group as a whole has that protection. Then we prepare the three lights.

Các bạn thấy thập giá bảo vệ rực sáng. Mỗi người chúng ta đều có sự bảo vệ ấy, và cả nhóm cũng có sự bảo vệ ấy. Sau đó, chúng ta chuẩn bị ba ánh sáng.

We draw up the light of matter, especially etheric, physical, imaginatively onto the mental plane. We focus on the light of lower mind, the reasoning, thinking, revelatory factor. We blend these two lights in our imagination, the vital light of matter and the light of mind, and we meditate for a moment on soul contact now, and we try to recognize the presence of soul light.

Bằng sự tưởng tượng, chúng ta nâng ánh sáng của vật chất, đặc biệt là ánh sáng dĩ thái và hồng trần, lên cõi trí. Chúng ta tập trung vào ánh sáng của hạ trí, yếu tố suy luận, tư duy và mặc khải. Trong sự tưởng tượng, chúng ta hòa hai ánh sáng này vào nhau: ánh sáng sống động của vật chất và ánh sáng của thể trí. Giờ chúng ta tham thiền một lát về sự tiếp xúc với linh hồn, và cố gắng nhận biết sự hiện diện của ánh sáng linh hồn.

We bring that light down onto the lower mental plane and fuse the light of soul, higher mind, with the other two lights. We have a triple light, which is fused into one. We have a light, which is a vital reasoning, soul-strengthened light.

Chúng ta đưa ánh sáng ấy xuống cõi hạ trí và dung hợp ánh sáng của linh hồn, của thượng trí, với hai ánh sáng kia. Chúng ta có một ánh sáng tam phân, dung hợp thành một. Chúng ta có một ánh sáng sống động, có khả năng suy luận và được linh hồn tăng cường.

To affirm the existence of this triple light, we say together.

Để khẳng định sự hiện hữu của ánh sáng tam phân này, chúng ta cùng nói.

the light is one, and in that light shall we see light.

ánh sáng là một, và trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy ánh sáng.

This is the light that turns the darkness into day.

Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.

OM Now we enter the stage where we use the formula, and as we use the formula, we visualize the turning on of a great searchlight and the turning of that light upon the astral plane in general, not our own individual astral body, but out on the astral plane.

OM. Giờ chúng ta bước vào giai đoạn sử dụng công thức. Trong khi sử dụng công thức, chúng ta hình dung việc bật một đèn pha lớn và hướng ánh sáng ấy lên cõi cảm dục nói chung, hướng ra cõi cảm dục bên ngoài chứ không phải thể cảm dục riêng của mình.

It is really an area of objectivity. The subjectivity doesn't even begin until we reach the soul stage. We turn on that, imaginatively turn on that individual and group light, our instrument of revelation and of destruction.

Đó thực sự là một lĩnh vực khách quan. Tính chủ quan thậm chí chỉ bắt đầu khi chúng ta đạt đến giai đoạn linh hồn. Bằng sự tưởng tượng, chúng ta bật ánh sáng cá nhân và ánh sáng nhóm ấy, công cụ mặc khải và hủy diệt của chúng ta.

As we use this formula, we think of the light we have extended onto the astral plane.

Khi sử dụng công thức này, chúng ta nghĩ đến ánh sáng mình đã chiếu ra cõi cảm dục.

Radiance are we and power.

Chúng ta là sự rạng ngời và quyền năng.

We stand forever with our hand stretched out, linking the heavens and the earth, the inner world of meaning and the subtle world of glamour.

Chúng ta mãi đứng với bàn tay vươn ra, nối liền trời và đất, thế giới ý nghĩa bên trong và thế giới ảo cảm vi tế.

The World of Meaning, the world of the soul.

Thế giới của ý nghĩa, thế giới của linh hồn.

We reach into the light and bring it down to meet the need.

Chúng ta vươn vào Ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng nhu cầu.

We reach into the silent place and bring from thence the gift of understanding.

Chúng ta vươn vào Chốn Im Lặng và từ đó mang về ân huệ của sự thấu hiểu.

Thus with the light we work and turn the darkness into day.

Như vậy, chúng ta làm việc với ánh sáng và biến bóng tối thành ban ngày.

Now we're going to strengthen our beam with the spiritual will, which we invoke from the higher sources within our energy system, because this is ultimately dissipative, scattering, destructive work, and it is focused on the goal.

Giờ chúng ta sẽ tăng cường chùm sáng của mình bằng ý chí tinh thần, mà chúng ta khẩn cầu từ những nguồn cao hơn trong hệ thống năng lượng của mình, vì xét đến cùng, đây là công việc làm tiêu tan, phân tán, hủy diệt và tập trung vào mục tiêu.

Empower the beam, spiritual will empowers our group beam, which we visualize as ready to work and effective upon the astral plane. Now we're going to work with this very limiting sort of glamour of personality or the glamour of mistaking the part for the whole, of caring only about the part and not about the whole. we can also call it selfishness, the opposite of selflessness.

Hãy tăng cường quyền năng cho chùm sáng. Ý chí tinh thần tăng cường quyền năng cho chùm sáng của nhóm; chúng ta hình dung chùm sáng ấy sẵn sàng hoạt động và có hiệu lực trên cõi cảm dục. Giờ chúng ta sẽ làm việc với loại ảo cảm phàm ngã hết sức hạn chế này, hay ảo cảm nhận lầm bộ phận là toàn thể, chỉ quan tâm đến bộ phận mà không quan tâm đến toàn thể. Chúng ta cũng có thể gọi đó là tính ích kỷ, đối lập với tính vị tha.

We, before we get into it, we think here about all that may be lost or distorted or prevented, all these good things that may not come to pass because humanity and to a degree we ourselves are subject to this glamour of mistaking the part for the whole, of caring about the personal self rather than the soul nature. Let's pause and think for a moment what is lost because of that. So it's obvious that all these things that the Tibetan wants us to develop group consciousness and eventually consciousness of the one, these things will be prevented if we're stuck in this glamour of personality, if we mistake the part for the whole.

Trước khi bắt đầu, chúng ta nghĩ đến tất cả những gì có thể mất đi, bị bóp méo hay bị ngăn trở—mọi điều tốt đẹp có thể không thành hiện thực vì nhân loại, và ở một mức độ nào đó cả chính chúng ta, đang chịu sự chi phối của ảo cảm nhận lầm bộ phận là toàn thể, quan tâm đến bản ngã cá nhân thay vì bản chất linh hồn. Hãy dừng lại và suy nghĩ một lát về những gì mất đi vì điều đó. Rõ ràng, tất cả những điều Chân sư Tây Tạng muốn chúng ta phát triển—tâm thức nhóm và cuối cùng là tâm thức về cái một—đều sẽ bị ngăn trở nếu chúng ta mắc kẹt trong ảo cảm phàm ngã này, nếu chúng ta nhận lầm bộ phận là toàn thể.