← Commentary GAW 71-100 Song Ngữ

Commentary GAW 91

Tóm lược chương

Ảo cảm và việc say mê theo đuổi những mục tiêu không xứng đáng làm sai lệch chân lý, đặc biệt khi các nhà lãnh đạo lấy bản thân làm thước đo và muốn thay thế thành quả dân chủ bằng quyền lực chuyên chế. Sự phóng đại phàm ngã này được liên hệ với giai đoạn thấp của dấu hiệu Leo, trong khi Abraham Lincoln và Ataturk được nêu như những trường hợp Chân sư DK ghi nhận về việc sử dụng quyền lực vì nguyên tắc, với Ataturk sử dụng mãnh lực Shamballa một cách vô tư. Thánh đoàn còn mang tên “xã hội những trí tuệ có tổ chức và được soi sáng”; việc hướng đến phẩm tính ấy đòi hỏi chỉnh hợp linh hồn, thể trí và bộ não. Thể cảm dục cần tránh xen vào tiến…


Commentary GAW 91

Tóm Tắt

Chân lý, quyền lực và sự chỉnh hợp

Ảo cảm và việc say mê theo đuổi những mục tiêu không xứng đáng làm sai lệch chân lý, đặc biệt khi các nhà lãnh đạo lấy bản thân làm thước đo và muốn thay thế thành quả dân chủ bằng quyền lực chuyên chế. Sự phóng đại phàm ngã này được liên hệ với giai đoạn thấp của dấu hiệu Leo, trong khi Abraham Lincoln và Ataturk được nêu như những trường hợp Chân sư DK ghi nhận về việc sử dụng quyền lực vì nguyên tắc, với Ataturk sử dụng mãnh lực Shamballa một cách vô tư. Thánh đoàn còn mang tên “xã hội những trí tuệ có tổ chức và được soi sáng”; việc hướng đến phẩm tính ấy đòi hỏi chỉnh hợp linh hồn, thể trí và bộ não. Thể cảm dục cần tránh xen vào tiến trình tiếp nhận, để những ý tưởng cao siêu có thể góp phần thực hiện Thiên Cơ thay vì bị xuyên tạc hoặc áp dụng sai.

Hai dạng ảo tưởng đầu tiên

Ảo tưởng do nhận thức sai một ý tưởng bắt nguồn từ thể trí chưa được huấn luyện và chưa được soi sáng; phương thuốc là rèn luyện Kỹ Thuật Raja Yoga. Dù hướng đến Agni Yoga hay yoga tổng hợp, nền tảng khoa học linh hồn này vẫn cần thiết, với các tài liệu được nhắc đến gồm Yoga Sutras của Patanjali qua phần bình giải của Alice Bailey, Bhagavad Gita, Tân Ước và Vivekachudamani. Ảo tưởng do diễn giải sai bắt nguồn từ việc đánh giá quá cao năng lực trí tuệ, khiến một cách nhìn hạn hẹp bị nhầm thành sự thấu hiểu toàn diện. Phương thuốc là phát triển thái độ thận trọng và khiêm nhường, được liên hệ với phẩm tính Sao Thổ, đồng thời kiểm tra cách diễn giải trong cả những lĩnh vực quen thuộc lẫn chưa biết.

Chiếm hữu sai ý tưởng và sự tự khẳng định

Dạng ảo tưởng thứ ba xuất hiện khi phàm ngã chiếm hữu ý tưởng, tự nhận đã tạo ra nó và đòi người khác công nhận quyền sở hữu ấy. Theo văn bản của Chân sư DK, khả năng kịch hóa cùng khuynh hướng khẳng định cái ngã nhỏ bé khiến người tiếp nhận gán cho ý tưởng tầm quan trọng quá mức chỉ vì xem đó là “của mình”. Lời Ramakrishna về “tôi” và “của tôi” làm nổi bật gốc rễ của sự chiếm hữu, còn khuynh hướng kịch hóa được liên hệ với cung bốn và cấu trúc phàm ngã. Dấu hiệu Libra được xem như lực điều chỉnh cần thiết để khôi phục sự cân xứng trước sự tự phóng đại của dấu hiệu Leo ở giai đoạn thấp.

Quyền sở hữu và bản chất phổ quát của ý tưởng

Ý tưởng đến từ cõi trực giác, là tặng phẩm chung và không thuộc riêng một thể trí nào; người tiếp nhận nhận được ấn tượng từ nguồn cao hơn chứ không tạo ra ý tưởng từ hư vô. Mọi quyền nắm giữ đều tạm thời và cần phục vụ Thiên Cơ, ngay cả những gì tích lũy trong thể nguyên nhân cuối cùng cũng trở về kho minh triết phổ quát. Hình ảnh Hercules bắt được con hươu vàng, đưa về đền Apollo rồi thấy nó lại tự do ngoài đồi minh họa tính bất khả chiếm hữu ấy. Việc xem ngôi đền như biểu tượng của thể nguyên nhân chỉ được đề xuất như một cách diễn giải.

Sự quá nhấn mạnh và việc áp đặt ý tưởng

Khi toàn bộ đời sống xoay quanh một ý tưởng được xem là sở hữu riêng, các mục tiêu cá nhân có thể lấn át nhu cầu thực tế của môi trường và những người xung quanh. Sự gắn bó cảm xúc này dẫn đến ảo cảm quá nhấn mạnh, được liên hệ với cung sáu: người ấy thúc ép bản thân và gây phiền nhiễu cho người khác dù thời điểm, hướng đi hoặc hoàn cảnh chưa phù hợp. Việc truyền giáo áp đặt lên các nền văn hóa bản địa và bộ phim The Mission được dùng để minh họa hậu quả của niềm tin tuyệt đối vào tính đúng đắn của quan điểm riêng. Khi ấy, đời sống phục tùng một hình tư tưởng về ý tưởng và lý tưởng hóa nó, còn yếu tố “của tôi” trở nên quan trọng hơn chính nội dung được tiếp nhận.

Những khám phá đồng thời và sự tranh chấp tác quyền

Trường hợp Leibniz và Newton độc lập khám phá phép tính vi tích phân cho thấy nhiều trí tuệ có thể cùng đáp ứng một ý tưởng khi thời điểm biểu hiện của nó đã đến. Cuộc tranh chấp ai là người khám phá được dùng để minh họa việc phàm ngã biến khả năng tiếp nhận thành yêu sách sở hữu. Một cách lý giải được đề xuất là nguyên lý liên kết phi nhân quả có thể tạo ra những ấn tượng đồng thời, trong khi mỗi người vẫn tưởng mình là trường hợp duy nhất. Vì vậy, lịch sử tư tưởng có thể được nghiên cứu như tiến trình nhân loại tiếp nhận các ý tưởng đang giáng xuống, qua đó hiểu lịch sử từ bên trong thay vì chỉ theo chuỗi sự kiện.

Nguyên nhân và phương thuốc cho sự chiếm hữu sai

Nguyên nhân của ảo tưởng này là đánh giá quá cao phàm ngã và để phản ứng cá nhân in dấu quá mạnh lên ý tưởng được cảm nhận cũng như lên những người đang tiếp xúc với cùng ý tưởng. Tính chia rẽ của phàm ngã đối lập với dòng liên hệ hợp nhất giữa các ý tưởng trong lĩnh vực lý trí thuần túy. Antahkarana, trí trừu tượng và ảnh hưởng của Tam Nguyên Tinh Thần mở đường cho tư duy ngày càng vô ngã, trong đó cái ngã nhỏ bé giảm dần tầm quan trọng. Phương thuốc Chân sư DK đưa ra là bền bỉ phi tập trung đời sống khỏi phàm ngã và đặt trọng tâm vào linh hồn, vốn có tâm thức nhóm và không chiếm hữu.

Năm phương diện rèn luyện phàm ngã

Hệ thống “năm chữ D” của Thầy MDR gồm kỷ luật đối với phương diện dĩ thái–hồng trần, không đam mê đối với bản chất cảm xúc, phân biện đối với hạ trí, phi tập trung vào bản thân đối với phàm ngã và tách rời trong quan hệ giữa linh hồn với công cụ của mình. Phi tập trung vào bản thân được diễn tả bằng việc rời khỏi sân khấu riêng, thu nhỏ hình ảnh phàm ngã thành một điểm rồi cuối cùng từ bỏ cả điểm ấy. Phân biện tinh thần là một phẩm tính bổ sung hoạt động trong lĩnh vực linh hồn. Những phương diện này tạo thành cách rèn luyện cụ thể để giảm ảnh hưởng chiếm hữu của phàm ngã lên tư tưởng.

Điều kiện tiếp nhận trực tiếp từ cõi trực giác

Theo Chân sư DK, ý tưởng rất hiếm khi đi thẳng từ các cấp độ trực giác vào tâm thức thế giới và thể trí con người, vì trình độ phát triển hiện tại của nhân loại chưa cho phép điều đó diễn ra tự nhiên. Sự tiếp nhận trực tiếp đòi hỏi tiếp xúc linh hồn phát triển cao, khả năng kiểm soát thể trí mạnh mẽ, trí tuệ được huấn luyện, thể cảm dục thanh lọc và hệ tuyến tốt như kết quả của những điều kiện ấy. Agni Yoga gọi kiểu tiếp nhận không qua trung gian này là tri thức trực tiếp. Trong phần diễn giải, trực giác thực sự được đặt từ cõi phụ thứ tư của cõi Bồ đề, tức cõi phụ thứ tư của cõi phụ vũ trụ thứ tư; sự hoàn thiện hệ tuyến trong hình tướng mayavirupa của Đức Christ cũng được nhắc đến để làm rõ vai trò của công cụ biểu hiện.

Các con đường trung gian đưa ý tưởng vào tâm thức

Phần lớn ý tưởng cao cấp đến với đệ tử sau khi Chân sư hạ giảm cường độ và truyền qua viễn cảm trí tuệ, kết hợp với sự nhạy cảm trước những “làn sóng tặng phẩm thông linh”. Sự tương tác giữa các đệ tử cũng có thể kích thích thể trí, tập trung chú ý chung và mở ra khả năng tiếp xúc thế giới ý tưởng mà từng cá nhân khó đạt được. Thánh đoàn còn đặt những dòng năng lượng mang phẩm tính của ý tưởng trên cõi trí để sự chú ý được huấn luyện của đệ tử có thể tiếp xúc và đưa chúng vào biểu hiện. Người sơ cơ dễ nhầm việc phát hiện những dòng năng lượng ấy thành thành tựu trí tuệ riêng, nên vẫn cần nhận thức đúng, diễn giải đúng và tránh chiếm hữu.

Trí Tuệ Siêu Việt và phương tiện diễn giải

Cõi trí và cõi trực giác cần được phân biệt, dù Chân sư DK cũng gọi trực giác là Trí Tuệ Siêu Việt. Phần bình giảng liên hệ phẩm tính này với những phương diện cao của Sao Thủy cùng Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Hải Vương, đồng thời nhắc Sao Hải Vương, Sao Thủy và Sao Mộc trong quan hệ cai quản cõi Bồ đề. Cùng một ý tưởng trực giác có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều nơi nhưng mang cách biểu hiện vật chất hoặc tinh thần khác nhau. Công cụ tiếp nhận của mỗi cá nhân, nhóm hay quốc gia quyết định đáng kể cách ý tưởng được diễn giải và đưa vào đời sống.

Ghi nhận cá nhân, làm việc nhóm và dấu hiệu Aquarius

Một ý kiến trong phần thảo luận lưu ý rằng khoa học và công nghiệp hiện phụ thuộc vào việc ghi tên cá nhân để được công nhận và tài trợ, nên sự xuất hiện trước công chúng không nhất thiết đồng nghĩa với lòng chiếm hữu. Chân sư DK được dẫn lại với nhận định rằng các nhà khoa học gần linh hồn hơn những người hoạt động tôn giáo nhờ khuynh hướng cộng tác nhóm. Theo dự đoán riêng của Thầy MDR, thời đại Aquarius và tốc độ truyền bá ý tưởng sẽ giúp con người nhận ra cá nhân hoặc nhóm chỉ là công cụ tạm thời cho sự giáng xuống của một ý tưởng. Mặt Trời ở vị trí tù trong dấu hiệu Aquarius được diễn giải như biểu tượng của việc giảm tập trung vào phàm ngã, tăng sự đa dạng và phi tập trung vào bản thân.

Cung năm, cung bảy và việc biểu hiện ý tưởng

Tổ hợp linh hồn cung năm và phàm ngã cung bảy được liên hệ với trung tâm hành tinh Luân Đôn, cùng vị trí cung một mang tính kiến tạo của trung tâm này. Dấu hiệu Gemini của linh hồn Anh quốc hỗ trợ chia sẻ ý tưởng, trong khi khuynh hướng tích lũy của dấu hiệu Taurus nơi phàm ngã có thể cản trở điều đó. Cung năm gắn trực tiếp với dấu hiệu Aquarius, còn thời đại Aquarius trùng với một chu kỳ cung bảy khoảng 2.500 năm; quan điểm Sao Thiên Vương có linh hồn cung bảy được nêu rõ như cách nhìn riêng của Thầy MDR. Những liên hệ với Sir Francis Bacon, Roger Bacon và Le Comte de Saint-Germain minh họa sự phối hợp giữa nghiên cứu và tổ chức, trong đó các liên hệ với hai nhân vật sau được nêu dưới dạng khả năng. Cung năm được xem là ngày càng nổi bật khi tiến đến lần điểm đạo thứ ba, còn cung bảy là năng lượng mọi đệ tử cần học cách sử dụng; linh hồn cung năm của Pháp cũng được liên hệ với triển vọng khám phá linh hồn bằng khoa học.

Các cách tiếp cận thiên tính và tính bao gồm

Quan điểm vô thần của Stephen Hawking được dùng để đặt vấn đề liệu người cung năm có đang bác bỏ chủ yếu hình ảnh Thượng đế như một người cha trên trời hay không. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, họ cần một cách định nghĩa thiên tính phù hợp hơn với phương thức nhận thức của mình. Mỗi cung có thể tiếp cận Thượng đế qua quyền năng, bác ái, ánh sáng hoặc vẻ đẹp, nhưng một cung hay một tổ hợp nhỏ các cung không bao quát toàn thể chân lý. Giáo lý cung hai vì vậy hỗ trợ mở rộng tính bao gồm, đồng thời đòi hỏi khả năng đối thoại với những quan điểm duy vật hoặc hoài nghi mà vẫn thừa nhận giá trị trong phạm vi của chúng.

Bảy ảo tưởng, Hoa Sen Chân Ngã và giới hạn của sự tương ứng

Khả năng phân bố bảy dạng ảo tưởng vào bốn cấp độ của hạ trí được giữ như một giả thuyết cần khảo sát sau khi nghiên cứu đầy đủ cả bảy dạng. Mối liên hệ với các cánh hoa Hoa Sen Chân Ngã cũng chỉ được đề xuất: nỗ lực tập trung hướng đến phân cực trí tuệ xuất hiện rõ khi ba cánh hoa cuối khai mở, nên ảo tưởng có thể đặc biệt tác động đến các điểm đạo đồ bậc một và bậc hai. Từ một góc nhìn cao hơn, toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ vẫn thuộc lĩnh vực ảo tưởng, dù ảo tưởng ngày càng tinh tế. Việc phân loại cần tránh ép một mô hình cao hơn vào cấu trúc thấp hơn khi không có tương ứng thực sự; mức độ phù hợp phải được kiểm tra trong từng trường hợp.

Cung năm và sự tổng hợp chính xác

Cung năm là cung của sự phân biện, cai quản Định luật Phân Chia và giúp nghiên cứu từng yếu tố thật chi tiết trước khi liên hệ chính xác với bối cảnh rộng hơn. Sự tổng hợp cần giữ rõ cấu trúc và quan hệ giữa các thành phần, tránh gom những yếu tố chưa thấu hiểu thành một hỗn hợp mơ hồ. Nhận biết tính hợp nhất thấm nhuần tất cả vẫn có giá trị riêng, nhưng tính toàn thể cần đi cùng độ chính xác của từng bộ phận.

Krishnamurti và sự chuyển đổi ảnh hưởng cung

Krishnamurti được mô tả là người ban đầu biểu lộ rõ cung hai, với lòng sùng tín, tác phẩm Dưới Chân Thầy và mối liên hệ dường như hướng đến Chân sư KH, có sự vun đắp của Ông Leadbeater. Theo cách lý giải riêng của Thầy MDR, một dòng năng lượng cung một mạnh mẽ về sau có thể liên quan đến việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư, nhưng việc Krishnamurti thực sự hoàn tất lần điểm đạo ấy vẫn chưa được xác nhận. Thử nghiệm để Đức Christ Maitreya phủ bóng Krishnamurti được liên hệ với cung hai nổi bật; khả năng ảnh hưởng cung một khiến hướng phát triển của ông không còn phù hợp với thử nghiệm này chỉ là giả thuyết. Phẩm tính soi sáng của cung hai vẫn hiện diện, và chuyến thăm Peppertree Retreat gợi nhận xét rằng ảnh hưởng của ông còn in đậm trong bầu không khí nơi cư trú.

Giới hạn tiếp nhận ý tưởng và giáo dục mở rộng tâm thức

Mỗi người chỉ là một khí cụ tiếp nhận từng phần, vì cấu trúc cung, chiêm tinh, kinh nghiệm và tình trạng thể nguyên nhân đều giới hạn cách một ý tưởng đi vào tâm thức. Việc tìm hiểu cách người khác biểu đạt cùng ý tưởng giúp bổ sung những góc nhìn còn thiếu và giảm sự giam hãm trong khuynh hướng riêng. Đề xuất giáo dục khả năng nhận biết ngay từ mẫu giáo và tiểu học hướng đến việc giúp phàm ngã trẻ tiếp nhận rộng hơn, qua đó hạn chế sự ô nhiễm của ảo cảm. Những thử nghiệm tại các trường tiến bộ được xem là hướng phát triển đáng khuyến khích.

Khoa học và việc nhận biết trí tuệ cao hơn

Ảnh hưởng của Stephen Hawking được nhìn nhận là lớn, nhưng những người thuộc cung năm khác vẫn đang bắc cầu giữa khoa học và sự thừa nhận một nguyên lý trí tuệ tổ chức cao hơn. Galileo được nêu như ví dụ về nhà khoa học tin vào nguyên lý ấy, còn định nghĩa về Thượng đế của Buckminster Fuller được diễn giải theo các cung ba, bảy và năm, khác với cách tiếp cận của cung hai và cung sáu. Những trí tuệ khoa học lớn cần tìm được cách định nghĩa phù hợp và đủ khiêm nhường để nhận biết trí tuệ cao hơn. Đồng hoá với trí tuệ ấy là bước tiến xa hơn, cần thời gian dài.

Chuyển tiếp sang thời đại Bảo Bình

Theo lời Chân sư DK trong thư gửi Roberto Assagioli được dẫn lại, năm 2117 là mốc điểm xuân phân đi vào độ thứ ba mươi của dấu hiệu Bảo Bình theo chuyển động nghịch của tuế sai. Cách xác định này còn đặt ra vấn đề giữa hệ phân chia đều 30 độ và kích thước không đồng đều của các chòm sao; mốc 2117 cũng được liên hệ với hiện tượng Sao Kim đi qua trước đĩa Mặt Trời. Ảnh hưởng của dấu hiệu Song Ngư và cung sáu được trình bày là sẽ suy giảm mạnh vào cuối thế kỷ XXI, dù cung sáu có thể còn kéo dài đến khoảng năm 2125. Sự suy yếu ấy có thể đi cùng đợt tái phát những biểu hiện tiêu cực, được liên hệ với cuộc chống cự đến cùng của chủ nghĩa duy vật.

Giả thuyết về thời điểm khoa học xác nhận linh hồn

Theo phỏng đoán riêng của Thầy MDR, sự xác nhận khoa học rõ ràng về linh hồn có thể phải chờ đến thập độ do Sao Thủy hoặc Sao Kim cai quản trong thời đại Bảo Bình. Trước đó, con người có thể ngày càng nhận biết cấu trúc dĩ thái và những phương diện tinh tế của mình. Giả thuyết dựa trên liên hệ cung năm của hai hành tinh: Sao Thủy có ảnh hưởng cung năm ở cấp Chân Thần, còn Sao Kim có linh hồn cung năm; linh hồn cung năm của nước Pháp cũng được đưa ra để đối chiếu. Đây là suy đoán từ các năng lượng, không phải thời hạn đã được xác lập.

Brexit và nguyên lý tích hợp

Một ý kiến tham dự mô tả ý tưởng Brexit không thể thực hiện đang được nuôi dưỡng qua hoạt động công chúng tại Luân Đôn, sự ủng hộ của các tiếng nói có ảnh hưởng và tin tức về việc Theresa May xin thêm thời gian chuyển tiếp. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, Brexit đi ngược một sự tích hợp vốn đã hiện hữu ở cấp độ cao hơn. Vai trò của Chân sư R. với tư cách Đấng Nhiếp Chính châu Âu và Hoa Kỳ được dùng làm cơ sở cho lập luận rằng sự chia rẽ không phù hợp với hướng tiến hóa khi nhân loại đứng trước thời đại Bảo Bình.

Mục tiêu thực hành và việc quan sát tư tưởng

Việc nghiên cứu giáo lý cần kết hợp hiểu biết học thuật với ứng dụng thực tế nhằm giảm ảo cảm, ảo tưởng và sự hỗn loạn của ảo lực. Xóa bỏ hoàn toàn những trở ngại này là một công trình lớn của Thánh đoàn; đóng góp thiết thực của nhóm là kiên trì làm chúng suy yếu trong phạm vi có thể. Quan sát cách suy nghĩ của chính mình giúp nhận diện những khuôn mẫu làm ý tưởng lệch hướng và chuẩn bị cho công việc làm tiêu tan ảo cảm.

Ảo cảm về quyền lực tuyệt đối của người lãnh đạo

Ảo cảm được chọn cho bài tham thiền là niềm tin vào quyền thiêng liêng của vua chúa và lãnh tụ, khiến phàm ngã tự xem mình có quyền tuyệt đối, kể cả quyết định sự sống chết mà không chịu trách nhiệm trước ai. Khuynh hướng này được liên hệ với giai đoạn đầu của dấu hiệu Sư Tử và sự tái phát của chủ nghĩa chuyên quyền trước một thời kỳ không còn thích hợp với nó. Vụ nhà báo Khashoggi, chiến dịch chống ma túy tại Philippines và các biểu hiện độc đoán ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Saudi Arabia cùng Hoa Kỳ được đưa ra làm ví dụ hoặc đối tượng phê phán; những nghi vấn về mua chuộc để bảo vệ lợi ích tài chính vẫn chỉ là nghi vấn. Hình ảnh trong bộ phim có thể dịch là Người Muốn Làm Vua được dùng để gợi tả tham vọng quyền lực cá nhân.

Quân chủ chính đáng và lý tưởng lãnh đạo minh triết

Chủ nghĩa chuyên quyền cá nhân được phân biệt với khả năng tồn tại một chế độ quân chủ chính đáng theo thiết kế từ Shamballa. Lý tưởng vua triết gia của Plato biểu thị người lãnh đạo vừa có thẩm quyền vừa có minh triết, có thể kết hợp cung một, cung hai và cung ba sau quá trình rèn luyện nghiêm ngặt. Nhân loại hiện chưa có mô hình gần với lý tưởng ấy, trong khi kinh nghiệm châu Âu về quân chủ nghi lễ được đánh giá là giúp giữ thế quân bình. Sự chiếm dụng quyền lực vì phàm ngã vì vậy là một sự bóp méo nguyên lý lãnh đạo.

Bảo vệ nhóm và dung hợp ba ánh sáng

Bài tham thiền bắt đầu bằng sự hợp nhất trong im lặng và thiết lập Thập Giá Thiên Tính để bảo vệ từng cá nhân cùng toàn nhóm, vì công việc xử lý ảo cảm có thể gây tổn hại cho người thiếu thận trọng. Những lời xác quyết đặt người thực hành trong ánh sáng của linh hồn và giữ vị trí làm việc bất lay chuyển. Tiếp đó, ánh sáng sinh động của vật chất được nâng lên cõi trí, dung hợp với ánh sáng của thể trí suy luận, rồi tiếp nhận ánh sáng linh hồn. Ba ánh sáng hợp nhất tạo nguồn cho một chùm sáng vừa tiếp sinh lực, vừa sáng suốt, vừa biểu lộ tính hợp nhất, mang tri thức, bác ái và ý chí hi sinh của linh hồn.

Phóng chiếu chùm sáng và tăng cường ý chí tinh thần

Chùm sáng hợp nhất của nhóm được hình dung như một đèn pha mạnh chiếu vào cõi cảm dục, xuyên qua những màn sương và lớp che phủ làm biến dạng chân lý. Công thức thực hành nối thế giới bên trong của ý nghĩa với thế giới tinh tế của ảo cảm, đưa ánh sáng và sự thấu hiểu xuống đáp ứng nhu cầu. Ý chí tinh thần được khẩn cầu để tăng sức mạnh cho chùm sáng, với những liên hệ đến ý chí của Chân Thần, cõi atma và linh hồn. Trọng tâm là ý chí hướng đến việc thực hiện Thiên Cơ và Thiên Ý, tương xứng với sức mạnh của những mãnh lực đang được xử lý.

Ba tác động làm tiêu tan ảo cảm chuyên quyền

Ảo cảm về quyền thiêng liêng của lãnh tụ được xác định là sự phóng đại tầm quan trọng của phàm ngã đến mức cuồng đại, khiến cá nhân tự xem mình có quyền áp đặt ý muốn mà không ai được chất vấn. Những tuyên bố kiểu “chỉ mình tôi có thể” là dấu hiệu cảnh báo về sự mất tỉ lệ trong cách nhìn bản thân. Ánh sáng hợp nhất của nhóm lần lượt hướng đến ba tác động: ngăn ảo cảm xuất hiện, phủ định phẩm tính của nó đang ảnh hưởng nhân loại và hủy diệt sự sống nuôi dưỡng nó. Sau đó là năm phút làm việc trong im lặng để xuyên thấu, làm suy yếu và làm tiêu tan ảo cảm trong khả năng của nhóm.

Khiêm nhường và lãnh đạo phụng sự

Theo định nghĩa được dẫn từ Chân sư Tây Tạng, khiêm nhường là sự điều chỉnh để có ý thức đúng về tỉ lệ; đây là phẩm tính thiết yếu còn thiếu ở nhiều lãnh tụ chuyên quyền. Sự thấu hiểu gắn với dấu hiệu Thiên Bình giúp đặt phàm ngã trong tương quan đúng với toàn thể và góp phần tạo nên tính vô tổn hại. Sự phình lớn của phàm ngã được ví như khối u, cần giảm xuống bằng việc phi tập trung vào bản thân và chuyển sang lãnh đạo phụng sự. Tấm gương Đức Christ nhấn mạnh rằng người muốn đứng đầu phải phụng sự, và nguyên tắc này cũng áp dụng trong những môi trường nhỏ khi mỗi người đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo.

Thu hồi chùm sáng và khơi dậy linh hồn quốc gia

Bài tham thiền kết thúc bằng ba lần xướng linh từ OM, hình dung những đầu Hydra ở các cấp độ dần chịu sự điều phục khi người thực hành ngày càng trở thành linh hồn đang nhập thể. Chùm sáng được thu hồi, còn ánh sáng tam phân vẫn sẵn sàng cho lần sử dụng tiếp theo; việc quan sát nội tâm tiếp tục giúp nhận diện và làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống cá nhân. Ở cấp quốc gia, phản ứng phàm ngã mang tính dân tộc chủ nghĩa có thể kích thích linh hồn tái khẳng định ảnh hưởng của mình. Việc phụng sự vì vậy bao gồm tìm cách đưa cung và dấu hiệu hoàng đạo của linh hồn quốc gia vào biểu hiện, phù hợp với cấu trúc chiêm tinh và cung của quốc gia ấy.

Text GAW 91 – Văn bản GAW 91

Glamour: A World Problem pages 57–62 – Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới trang 57–62

The cause is an untrained, unillumined mind.

Nguyên nhân là một thể trí chưa được rèn luyện, chưa được soi sáng.

The cure is training in the technique of Raja Yoga.

Phương thuốc là sự rèn luyện theo kỹ thuật Du già Vương giả.

Through wrong interpretation. The idea, a vital entity or a germ of living potency, is seen through the medium of a partial view, distorted through the inadequacy of the mental equipment, and frequently stepped down into futility. The [Page 60] mechanism for right understanding is lacking, and though the man may be giving his highest and his best, and though he may be able in some measure to hold his mind steady in the light, yet what he is offering to the idea is but a poor thing at the best. This leads to illusion through misinterpretation.

Thông qua việc diễn giải sai lầm. Ý tưởng, một thực thể sống động hay một mầm quyền năng sống động, được nhìn nhận qua một góc nhìn phiến diện, bị bóp méo do bộ máy trí tuệ còn bất toàn, và thường bị hạ thấp đến mức vô dụng. Bộ máy [Page 60] để thấu hiểu đúng đắn còn thiếu, và dù con người có thể đang cống hiến những gì cao cả nhất và tốt đẹp nhất của mình, dù y có thể giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng ở một mức độ nào đó, thì ngay cả trong trường hợp tốt nhất, những gì y đem đến cho ý tưởng ấy vẫn chỉ là một điều nghèo nàn. Điều này dẫn đến ảo tưởng do diễn giải sai lầm.

The cause is an over-estimation of one’s mental powers. The sin, par excellence, of the mental type is pride, and that colors all activities in the early stages.

Nguyên nhân là sự đánh giá quá cao năng lực trí tuệ của bản thân. Tội lỗi điển hình nhất của người thuộc loại hình trí tuệ là lòng kiêu hãnh, và điều đó nhuốm màu mọi hoạt động trong những giai đoạn đầu.

The cure is the development of a cautious spirit.

Phương thuốc là sự phát triển một tinh thần thận trọng.

[5] 3. Through wrong appropriation of ideas. [6] Misappropriation of an idea is based upon the drama-making faculty [7] and tendency of the personality to the self-assertion of the little self. [8] These lead a man to appropriate an idea as his own, [9] to credit himself with its formulation, [10] and to give therefore [11] undue importance to it, because he regards it as his. [12] He proceeds to build his life around his idea, and to make his aims and his objectives [13] of major importance, [14] expecting others to recognize his proprietorship of the idea. [15] He forgets that no one idea belongs to anyone but, coming as ideas do, from the plane of the intuition, they are a universal [16] gift and possession, and the property of no one mind. [17] His life, as a personality also, becomes subordinated to his idea of an idea, [18] and his ideal of an idea. [19] The idea becomes the dramatic agent of his self-imposed life purpose, driving him from one extreme to another. [20] This leads to illusion through misappropriation. [Page 61]

[5] 3. Thông qua việc chiếm hữu ý tưởng một cách sai lầm. [6] Việc chiếm hữu sai lầm một ý tưởng bắt nguồn từ khả năng tạo kịch tính [7] và khuynh hướng của phàm ngã muốn khẳng định bản ngã nhỏ bé. [8] Những điều này khiến con người chiếm hữu một ý tưởng làm của riêng, [9] tự nhận công hình thành ý tưởng ấy, [10] và do đó gán cho nó [11] tầm quan trọng quá mức, vì y xem nó là của mình. [12] Y bắt đầu xây dựng cuộc đời mình quanh ý tưởng của mình, và đặt những mục đích của mình cùng những mục tiêu của mình [13] lên hàng đầu, [14] mong người khác công nhận quyền sở hữu của y đối với ý tưởng ấy. [15] Y quên rằng không một ý tưởng nào thuộc về riêng ai; vì các ý tưởng đến từ cõi trực giác, chúng là tặng phẩm và tài sản chung của tất cả [16] chứ không phải sở hữu của riêng một thể trí nào. [17] Đời sống của y, xét như một phàm ngã, cũng trở nên lệ thuộc vào ý tưởng mà y có về một ý tưởng, [18] và lý tưởng mà y có về một ý tưởng. [19] Ý tưởng ấy trở thành tác nhân tạo kịch tính cho mục đích sống do y tự đặt ra, thúc đẩy y đi từ cực đoan này sang cực đoan khác. [20] Điều này dẫn đến ảo tưởng do chiếm hữu sai lầm. [Page 61]

[21] The cause is over-estimation of personality and undue impress of personality reactions upon the sensed idea and upon all who attempt to contact the same idea.

[21] Nguyên nhân là sự đánh giá quá cao phàm ngã và dấu ấn quá mức mà những phản ứng của phàm ngã ghi lên ý tưởng đã cảm nhận được, cũng như lên tất cả những ai cố gắng tiếp xúc với cùng ý tưởng ấy.

[22] The cure is a steady attempt to decentralize the life from the personality, and to center it in the soul.

[22] Phương thuốc là kiên trì nỗ lực để đời sống không còn tập trung vào phàm ngã mà tập trung nơi linh hồn.

[23] One point I would like to make clear at this point. Ideas very seldom come into the world consciousness and into the human mind direct from the intuitional levels. [24] The stage of human development today does not yet permit this. [25] They can come from the intuitional levels only when there is a very highly developed soul contact, a potent mind control, a trained intelligence, a purified emotional body, and a good glandular equipment, [26] as the result of the above requirements. Ponder upon this thought.

[23] Có một điểm Tôi muốn làm sáng tỏ ở đây. Các ý tưởng rất hiếm khi đi thẳng từ những cấp độ trực giác vào tâm thức thế giới và thể trí con người. [24] Giai đoạn phát triển hiện nay của nhân loại chưa cho phép điều này. [25] Các ý tưởng chỉ có thể đến từ những cấp độ trực giác khi có sự tiếp xúc với linh hồn đã phát triển rất cao, khả năng kiểm soát thể trí mạnh mẽ, trí thông minh đã được rèn luyện, thể cảm xúc đã được thanh lọc, và một hệ thống tuyến tốt, [26] vốn là kết quả của những điều kiện nêu trên. Hãy suy ngẫm về tư tưởng này.

[27] Most ideas, when of a very high order, are stepped down into the consciousness of a disciple by his Master and are imparted to him through mental telepathy, and as a result of his sensitivity to the “psychic gift waves,” [28] as the Tibetan teaching calls them. [29] Ideas are also sensed in the interplay between disciples. Frequently, when disciples meet together and thus stimulate each others’ minds and centralize each others’ focused attention, they can unitedly make a contact with the world of ideas which would otherwise be impossible, and bring through the newer concepts into being. [30] Again, certain great ideas are to be found existing as currents of energy upon the mental plane, and can there be contacted and forced into embodiment through the trained attention of disciples. [31] These currents of mental energy, colored by a basic idea, are placed there by the Hierarchy. [32] When thus contacted and discovered, the neophyte [33] is apt to regard his achievement in a personal way [Page 62] and attribute the idea to his own wisdom and power. [34] You will note therefore the great need for right understanding of that which is contacted as well as for right interpretation.

[27] Phần lớn những ý tưởng thuộc cấp độ rất cao đều do Chân sư hạ giảm xuống để đi vào tâm thức của đệ tử và truyền đạt cho y qua viễn cảm trí tuệ, cũng như nhờ sự nhạy cảm của y đối với những “làn sóng tặng phẩm thông linh”, [28] theo cách gọi trong giáo huấn của Chân sư Tây Tạng. [29] Các ý tưởng cũng được cảm nhận trong sự tương tác giữa các đệ tử. Thường khi các đệ tử gặp nhau, qua đó kích thích thể trí và giúp nhau quy tụ sự chú ý, họ có thể cùng nhau tiếp xúc với thế giới ý tưởng theo một cách mà nếu riêng lẻ thì không thể, và đưa những quan niệm mới hơn vào hiện tồn. [30] Ngoài ra, có thể tìm thấy một số ý tưởng lớn tồn tại dưới dạng những dòng năng lượng trên cõi trí; tại đó, nhờ sự chú ý đã được rèn luyện, các đệ tử có thể tiếp xúc với chúng và thúc đẩy chúng hiện thân. [31] Thánh đoàn đặt những dòng năng lượng trí tuệ này trên cõi trí, mỗi dòng mang sắc thái của một ý tưởng nền tảng. [32] Khi tiếp xúc và khám phá được chúng như vậy, người sơ cơ [33] dễ nhìn nhận thành tựu của mình theo góc độ cá nhân [Page 62] và cho rằng ý tưởng ấy bắt nguồn từ minh triết và quyền năng của chính mình. [34] Vì vậy, các bạn sẽ nhận thấy nhu cầu rất lớn về việc thấu hiểu đúng đắn những gì mình tiếp xúc, cũng như diễn giải đúng đắn.

Glamour Webinar 91 – Webinar về Ảo cảm 91

Michael D. Robbins • Book pages 57–62

Michael D. Robbins • Các trang sách 57–62

Hi, good morning everyone here from southern Finland, this time nearer to the Temple of Silence than to the Little Bear Center, although I'm in neither one right at the moment. We have been working on illusion and we seem to be doing or looking over or trying to understand one illusion per session. We'll see if two may be possible, but I sometimes think it's better for the idea to sink in since these are sometimes a little bit obscure. In other words, we're not used to thinking in terms of these particular illusions. It's almost easier to think in terms of glamours, so maybe driving the point home would be useful and maybe we should stick to one. We'll see how it goes.

Xin chào, chúc mọi người buổi sáng tốt lành từ miền nam Phần Lan. Lần này tôi ở gần Đền Tĩnh Lặng hơn Trung tâm Gấu Nhỏ, dù ngay lúc này tôi không ở nơi nào trong hai nơi ấy. Chúng ta đang nghiên cứu ảo tưởng, và dường như mỗi buổi chúng ta xem xét hoặc cố gắng thấu hiểu một ảo tưởng. Chúng ta sẽ xem liệu có thể bàn đến hai ảo tưởng hay không, nhưng đôi khi tôi nghĩ tốt hơn là để ý tưởng thấm sâu, vì đôi lúc những điều này hơi khó hiểu. Nói cách khác, chúng ta chưa quen suy nghĩ theo những ảo tưởng cụ thể này. Suy nghĩ theo ảo cảm gần như dễ hơn, nên có lẽ việc làm rõ và khắc sâu điểm này sẽ hữu ích, và có lẽ chúng ta nên chỉ bàn một ảo tưởng. Chúng ta sẽ xem diễn tiến thế nào.

I just want to welcome those of you who are here right now, Anne and Anne-Marie and Annette and Antoinette and Ariel, Catherine, Joanne, and a couple of Catherines here, Catherine O'Brien and Gregory, welcome. Leslie Lourdes, Marianne, Marissa, Martha, Natnia, Risto, Suzanne, Teal, Vera, Winnie, Zenaidi, I know Tuija will be here almost any minute, I suspect. She's one of those four-in-the-morning girls, I don't know how she does it, but night after night, four in the morning, doing all that work.

Tôi muốn chào đón những người đang có mặt lúc này: Anne, Anne-Marie, Annette, Antoinette, Ariel, Catherine, Joanne; ở đây có vài người tên Catherine, Catherine O'Brien, và Gregory, xin chào mừng. Leslie Lourdes, Marianne, Marissa, Martha, Natnia, Risto, Suzanne, Teal, Vera, Winnie, Zenaidi. Tôi đoán Tuija sẽ có mặt trong chốc lát nữa. Cô ấy là một trong những phụ nữ vẫn làm việc lúc bốn giờ sáng. Tôi không biết cô ấy làm thế nào, nhưng đêm nào cũng vậy, bốn giờ sáng vẫn làm ngần ấy công việc.

Well, anyway, maybe she'll be with us, hopefully. Let's just have a little alignment as we begin, remembering this world is, well, it's just rife with glamour and with the distortions and the pursuit of unworthy goals. We might say the passionate pursuit of unworthy goals, and all of this is part of the general distortion of what is truth. I think we may never have needed truth in the public discourse the way we need it now. We need it badly, because it seems that more and more people think we're living in a post-truth era, and that not truth, but they themselves are the measure of all things. As if something of this divine right of kings has slipped into the psyche of certain leaders and the desire to be utter autocrats and to dispense with the hard-won fruits of democracy. So we have to guard very strongly against the inauthentic presumption of power, unjustified presumption of power, which is nothing more in a way than the inflation of the king of beasts, the early Leo part of us, that little personal self, as if it were the main thing. This is going on everywhere, and very few people can withstand the tests of power and use it in the right way.

Dù sao, có lẽ bà ấy sẽ tham gia cùng chúng ta, hy vọng là vậy. Khi bắt đầu, chúng ta hãy chỉnh hợp đôi chút, nhớ rằng thế giới này đầy rẫy ảo cảm, những sự bóp méo và việc theo đuổi những mục tiêu không xứng đáng. Chúng ta có thể nói đó là sự say mê theo đuổi những mục tiêu không xứng đáng, và tất cả những điều này đều góp phần vào sự bóp méo chân lý nói chung. Tôi nghĩ có lẽ chưa bao giờ chúng ta cần chân lý trong diễn ngôn công cộng như lúc này. Chúng ta rất cần chân lý, vì dường như ngày càng nhiều người nghĩ rằng chúng ta đang sống trong một thời đại hậu sự thật, và chính họ, thay vì chân lý, mới là thước đo của vạn vật. Như thể một phần quan niệm về vương quyền do trời ban đã len vào tâm lý của một số nhà lãnh đạo, cùng với ham muốn trở thành những kẻ chuyên quyền tuyệt đối và gạt bỏ những thành quả dân chủ phải khó khăn lắm mới giành được. Vì vậy, chúng ta phải hết sức đề phòng sự tự nhận quyền lực không có thực chất, sự tự nhận quyền lực không có cơ sở chính đáng; xét theo một nghĩa nào đó, đây chẳng qua là sự phình đại của chúa tể muôn thú, phần Sư Tử ở giai đoạn đầu trong chúng ta, cái ngã cá nhân nhỏ bé ấy, như thể nó là điều chủ yếu. Điều này đang diễn ra khắp nơi, và rất ít người có thể vượt qua những thử thách của quyền lực và sử dụng nó đúng cách.

Interesting, DK did mention a couple of people that seem to have been able to do that. Of course, Abraham Lincoln was one, he was considered a kind of a racial avatar at the time, and Ataturk, the founder of modern Turkey, was credited with using this very powerful Shambhala force in a disinterested manner, in a manner which was right and did not exalt his little personality instead of principles. I guess we have to deal with what we call personality and principles, and there are some people who never even thought to live according to principles, and for them the personality is all, is everything.

Điều thú vị là Chân sư DK có nhắc đến một vài người dường như đã làm được điều đó. Tất nhiên, Abraham Lincoln là một người trong số ấy; vào thời đó, ông được xem là một dạng Đấng Hoá Thân của nhân loại. Còn Ataturk, người sáng lập nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại, được ghi nhận là đã sử dụng mãnh lực Shambhala vô cùng mạnh mẽ này một cách vô tư, đúng đắn, không đề cao phàm ngã nhỏ bé của mình thay cho các nguyên khí. Tôi nghĩ chúng ta phải bàn đến cái mà chúng ta gọi là phàm ngã và các nguyên khí; có những người thậm chí chưa bao giờ nghĩ đến việc sống theo các nguyên khí, và đối với họ, phàm ngã là tất cả, là mọi sự.

So let's just kind of for just a moment come together, we're all assuming we are at least on the periphery of this society of organized and illumined minds, which is another very fascinating name for the spiritual Hierarchy of our planet. Well, certainly our minds are less organized and less illumined, but we will achieve, and we are in a position to help humanity move towards a correct organization of the mind and an increasing admission of the light, which brings the revelation of truth. Now how we handle that revelation we've already seen, when looking at the first two glamours, it's possible to take revelation and distort it and misapply it and render it vague and futile. These are all the illusions that we have to deal with, which prevent the higher intuitions from really becoming effective in the lower worlds, and so we try to bring through that alignment, soul, mind, and brain, and not let the astral body, which is so often out of alignment, interfere with the true impression of the higher ideas upon the brain, where it can become an effective part of the outworking of the Divine Plan. Well thank you, and we always work at first with our reading, and we're over here.

Vì vậy, chúng ta hãy cùng quy tụ trong giây lát, với giả định rằng ít nhất tất cả chúng ta đều đang ở ngoại vi của cộng đồng những thể trí có tổ chức và được soi sáng này—một tên gọi khác rất hấp dẫn dành cho Thánh đoàn của hành tinh chúng ta. Chắc chắn thể trí của chúng ta còn kém tổ chức và ít được soi sáng hơn, nhưng chúng ta sẽ đạt tới, và chúng ta đang có khả năng giúp nhân loại tiến tới việc tổ chức thể trí đúng đắn và ngày càng đón nhận nhiều ánh sáng hơn, ánh sáng mang đến sự mặc khải chân lý. Về cách chúng ta xử lý sự mặc khải ấy, khi xem xét hai ảo cảm đầu tiên, chúng ta đã thấy rằng người ta có thể tiếp nhận sự mặc khải rồi bóp méo, áp dụng sai, khiến nó trở nên mơ hồ và vô ích. Đó là tất cả những ảo tưởng mà chúng ta phải xử lý, những điều ngăn cản các trực giác cao thực sự phát huy hiệu quả trong các cõi thấp. Vì vậy, chúng ta cố gắng thiết lập sự chỉnh hợp ấy giữa linh hồn, thể trí và bộ não, không để thể cảm dục, vốn rất thường lệch khỏi sự chỉnh hợp, cản trở sự in dấu chân thực của các ý tưởng cao lên bộ não, nơi sự in dấu ấy có thể trở thành một phần hữu hiệu trong việc triển khai Thiên Cơ. Cảm ơn các bạn; chúng ta luôn bắt đầu bằng phần đọc, và chúng ta đang ở đây.

This is our 91st Dissipation of Glamour program, and we're into our 31st reading, and we are attempting with some of these books to slowly read through them a little bit at a time. Maybe we can never really get enough of them, but they have to be, the information has to be applied, if possible. We have had, we've discussed two particular illusions. I'll just name them, and then of course it's up to us to somehow have them impressed upon us. The first is illusion through the wrong perception of an idea. After all, what is an idea, and are we really receiving it? And if we are receiving it, are we perceiving it correctly, or getting it all mixed up in the glamorous world of potential idealism? So the wrong perception of an idea, and he always comes down to it and says the cause, he gives us the causes of these various illusions.

Đây là chương trình Làm Tiêu Tan Ảo Cảm lần thứ 91 của chúng ta, và chúng ta đang bước vào phần đọc thứ 31. Với một số cuốn sách này, chúng ta đang cố gắng đọc chậm rãi từng chút một cho đến hết. Có lẽ chúng ta chẳng bao giờ thực sự thấy đọc chúng là đủ, nhưng cần áp dụng những thông tin ấy, nếu có thể. Chúng ta đã thảo luận về hai ảo tưởng cụ thể. Tôi sẽ chỉ nêu tên chúng, rồi tất nhiên, việc làm sao để chúng in sâu vào chúng ta là tùy ở mỗi người. Thứ nhất là ảo tưởng do nhận thức sai về một ý tưởng. Xét cho cùng, ý tưởng là gì, và chúng ta có thực sự tiếp nhận nó không? Nếu đang tiếp nhận, liệu chúng ta có nhận thức nó đúng đắn, hay đang làm nó hoàn toàn rối loạn trong thế giới đầy ảo cảm của chủ nghĩa lý tưởng tiềm tàng? Vậy đó là nhận thức sai về một ý tưởng; và Ngài luôn đi đến điểm cốt yếu, nêu nguyên nhân cho chúng ta—Ngài cho chúng ta biết nguyên nhân của những ảo tưởng khác nhau này.

The cause is an untrained, unillumined mind.

Nguyên nhân là một thể trí chưa được rèn luyện, chưa được soi sáng.

I guess we could assess ourselves, I guess we all feel relatively untrained and unillumined, but if it goes too far, illusion is produced, and

Tôi nghĩ chúng ta có thể tự đánh giá mình; tôi nghĩ tất cả chúng ta đều cảm thấy mình tương đối chưa được rèn luyện và soi sáng, nhưng nếu tình trạng ấy đi quá xa thì ảo tưởng sẽ nảy sinh, và

The cure is training in the technique of Raja Yoga.

Phương thuốc là rèn luyện kỹ thuật Raja Yoga.

Even if we're very excited about the new yoga of synthesis, the new Agni Yoga, we do have to have a foundation in the kingly science of the soul, Raja Yoga.

Ngay cả khi rất hào hứng với pháp yoga tổng hợp mới, Agni Yoga mới, chúng ta vẫn phải có nền tảng trong khoa học vương giả về linh hồn, Raja Yoga.

We have a wonderful book to that effect, where Alice Bailey is making commentary upon four books of the Yoga Sutras of Patanjali. So I suppose DK says, well that's one of the books you better have handy, with you, along with the Bhagavad Gita, and the New Testament, and this other little book called the Crest Jewel of Discrimination, in the Sanskrit Vivekachudamani, Vivekachudamani, the Crest Jewel of Discrimination, and then the second illusion that we've been dealing with, illusion through wrong interpretation.

Chúng ta có một cuốn sách tuyệt vời về điều đó, trong đó Alice Bailey bình giảng bốn quyển của bộ Yoga Sutra của Patanjali. Vì vậy, tôi cho rằng Chân sư DK nói đó là một trong những cuốn sách các bạn nên có sẵn bên mình, cùng với Bhagavad Gita, Tân Ước, và một cuốn sách nhỏ khác mang tên Bảo Ngọc của Sự Phân Biện, tiếng Phạn là Vivekachudamani, Vivekachudamani, Bảo Ngọc của Sự Phân Biện. Rồi đến ảo tưởng thứ hai mà chúng ta đã bàn tới: ảo tưởng do diễn giải sai.

It's so easy to just bring a partial point of view to the situation, and imagine your own interpretation of an idea is really somehow correct, when you're bringing to that interpretation a very small mind, which does not encompass the idea at all, so what's the cause of all this?

Thật dễ dàng khi chỉ mang một quan điểm phiến diện vào một tình huống, rồi tưởng rằng cách diễn giải của mình về một ý tưởng bằng cách nào đó thực sự đúng, trong khi thứ chúng ta dùng để diễn giải lại là một thể trí rất nhỏ hẹp, hoàn toàn không bao quát được ý tưởng ấy. Vậy nguyên nhân của tất cả những điều này là gì?

The cause is an over-estimation of one’s mental powers. The sin, par excellence, of the mental type is pride, and that colors all activities in the early stages.

Nguyên nhân là đánh giá quá cao các năng lực trí tuệ của mình. Kiêu ngạo là lỗi lầm điển hình nhất của người thuộc loại hình trí tuệ, và trong những giai đoạn đầu, nó nhuốm màu mọi hoạt động.

And the cure, such a Saturnian cure,

Và phương thuốc, một phương thuốc đậm tính Sao Thổ,

The cure is the development of a cautious spirit.

Phương thuốc là phát triển một tinh thần thận trọng.

As we approach the various ideas, even a true idea, which may somehow via the soul, and from a still higher source, present itself to us. But to approach with humility, caution, this is an amazing, let's say, thought, impression, but am I interpreting it correctly in the context of the world with which I may be familiar, and also the worlds with which I may be unfamiliar.

Khi chúng ta tiếp cận những ý tưởng khác nhau, ngay cả một ý tưởng chân thực có thể bằng cách nào đó đến với chúng ta qua linh hồn và từ một nguồn còn cao hơn nữa. Nhưng hãy tiếp cận với sự khiêm nhường và thận trọng: đây là một tư tưởng, một ấn tượng đáng kinh ngạc, nhưng liệu tôi có diễn giải nó đúng đắn trong bối cảnh của thế giới mà tôi có thể quen thuộc, cũng như những thế giới mà tôi có thể chưa quen thuộc hay không?

Now, we begin with the third illusion. Have you been sort of testing yourself on the factor of illusion. It's hard to do, because we have maybe a lot of confidence in how our mind works, and how our understanding is delivering to our consciousness, and maybe we have not so much reason to question our conclusions, but it's better to be a little suspicious of one's own interpretation, and one's own registration of ideas.

Bây giờ, chúng ta bắt đầu với ảo tưởng thứ ba. Các bạn có phần nào tự kiểm nghiệm mình về yếu tố ảo tưởng không? Điều này khó thực hiện, vì có lẽ chúng ta rất tin vào cách thể trí mình hoạt động và cách sự thấu hiểu đưa những điều ấy vào tâm thức; có lẽ chúng ta không thấy nhiều lý do để nghi ngờ các kết luận của mình. Nhưng tốt hơn là nên có chút hoài nghi đối với cách diễn giải và cách ghi nhận ý tưởng của chính mình.

It's better to be a little bit cautious about how these higher encompassing energy centers impress our consciousness. Here we go. So, the first one is illusion

Tốt hơn là nên thận trọng đôi chút về cách những trung tâm năng lượng cao hơn, bao quát hơn này in dấu lên tâm thức chúng ta. Chúng ta bắt đầu. Vậy điều đầu tiên là ảo tưởng

[5] 3. Through wrong appropriation of ideas.

[5] 3. Thông qua việc chiếm hữu ý tưởng một cách sai lầm.

Well, appropriation means to make something your own. You appropriate it, it belongs to you, and right there, of course, possessiveness has entered, and all the problem, says Ramakrishna, consists in the words, me and mine, me and mine. So, it's obviously a very limited point of view as to what our true identity is, and we narrow it right down to the personality, and this personality wants to grasp for itself, it wants to own things, it wants to have exclusive rights to certain things, and even in the realm of ideas.

Chiếm hữu có nghĩa là biến điều gì đó thành của riêng mình. Các bạn chiếm hữu nó, nó thuộc về các bạn, và ngay tại đó, tất nhiên, tính chiếm hữu đã xuất hiện. Ramakrishna nói rằng toàn bộ vấn đề nằm trong những từ: tôi và của tôi, tôi và của tôi. Vì vậy, rõ ràng đây là một quan điểm rất hạn hẹp về bản sắc chân thực của chúng ta; chúng ta thu hẹp nó hoàn toàn vào phàm ngã, và phàm ngã này muốn nắm giữ cho riêng mình, muốn sở hữu mọi thứ, muốn có độc quyền đối với một số điều, ngay cả trong lĩnh vực ý tưởng.

So, let's see what he says about this. I think it's quite interesting.

Vậy hãy xem Ngài nói gì về điều này. Tôi nghĩ điều đó khá thú vị.

[6] Misappropriation of an idea is based upon the drama-making faculty

[6] Việc chiếm hữu sai lầm một ý tưởng bắt nguồn từ khả năng tạo kịch tính

Now, remember how close to the fourth ray is, in general, related to the personality, the personality having four parts particularly, the etheric physical, the emotional, lower mental, and then the summation of all of those, which we call the fourth, or the personality elemental, and it likes to stand out as being rather unique. Anyway,

Bây giờ, hãy nhớ nhìn chung cung bốn liên hệ mật thiết thế nào với phàm ngã; phàm ngã đặc biệt có bốn phần: phần dĩ thái–hồng trần, phần cảm xúc, phần hạ trí, rồi tổng hợp của tất cả những phần ấy, mà chúng ta gọi là phần thứ tư, hay hành khí phàm ngã. Nó thích nổi bật như một thứ khá độc đáo. Dù sao,

Misappropriation of an idea is based upon the drama-making faculty

Việc chiếm hữu sai một ý tưởng dựa trên năng lực tạo kịch tính

[7] and tendency of the personality to the self-assertion of the little self.

[7] và khuynh hướng của phàm ngã muốn khẳng định bản ngã nhỏ bé.

We don't just hold back and look at things in proportion and try to reduce the presence in our field of consciousness of that which we call the personality. For some people, that personality looms ever larger in their field of consciousness, till you can hardly see anything else in its true proportion. So this is the early and lower Leo phase, and it requires the ongoing proportionality, proportionalization of Libra in order to correct.

Chúng ta không đơn thuần lùi lại, nhìn mọi sự theo đúng tỉ lệ và cố gắng giảm bớt sự hiện diện trong trường tâm thức của cái mà chúng ta gọi là phàm ngã. Với một số người, phàm ngã ấy ngày càng choán chỗ trong trường tâm thức, đến mức hầu như không còn thấy được bất cứ điều gì khác theo đúng tỉ lệ của nó. Vì vậy, đây là giai đoạn Sư Tử ban đầu và thấp kém, và để điều chỉnh, cần liên tục có sự cân đối, sự đưa mọi thứ về đúng tỉ lệ của Thiên Bình.

We're in Libra right now. So if we assert that we're very important, and we have this idea, and this is my idea, okay,

Hiện giờ chúng ta đang ở Thiên Bình. Vì vậy, nếu chúng ta khẳng định rằng mình rất quan trọng, rằng mình có ý tưởng này, và đây là ý tưởng của tôi,

[8] These lead a man to appropriate an idea as his own,

[8] Những điều này khiến con người chiếm hữu một ý tưởng làm của riêng,

Me and mine. Ownership.

Tôi và của tôi. Quyền sở hữu.

What in the world do we own? Any kind of grasping or power that we have over some situation, or person, or environment? It's all very temporary, and all for use relative to the Divine Plan. There is no permanent ownership. Even that which we have in the causal body is eventually returned to the great storehouse of universal wisdom, and our identity changes entirely as we go along. If we think that we are forever going to look at ourselves and judge the little self that we now see as the true self, then we have a surprise awaiting for us as we disentangle our identification from this lower identification with the little personal self.

Rốt cuộc chúng ta sở hữu điều gì? Bất kỳ sự nắm giữ hay quyền lực nào mà chúng ta có đối với một tình huống, một con người hay một môi trường? Tất cả đều rất tạm thời, và tất cả đều nhằm sử dụng trong mối liên hệ với Thiên Cơ. Không có quyền sở hữu vĩnh viễn. Ngay cả những gì chúng ta có trong thể nguyên nhân cuối cùng cũng được hoàn trả về kho minh triết vũ trụ vĩ đại, và bản sắc của chúng ta thay đổi hoàn toàn khi chúng ta tiến bước. Nếu nghĩ rằng mình sẽ mãi nhìn vào bản thân và xem cái ngã nhỏ bé hiện thấy là chân ngã đích thực, thì chúng ta sẽ gặp một điều bất ngờ khi gỡ bỏ sự đồng hoá của mình khỏi sự đồng hoá thấp kém với cái ngã cá nhân nhỏ bé ấy.

These lead a man to appropriate an idea as his own,

Những điều này khiến một người chiếm hữu một ý tưởng làm của riêng mình,

[9] to credit himself with its formulation,

[9] tự nhận công hình thành ý tưởng ấy,

When in fact an idea is a living being as if he thought it up. He didn't think it up.

Trong khi thực ra một ý tưởng là một sinh linh sống động, cứ như thể y đã nghĩ ra nó. Y không nghĩ ra nó.

He received it from its true source, but he doesn't understand that yet.

Y tiếp nhận nó từ nguồn đích thực của nó, nhưng y chưa thấu hiểu điều đó.

to credit himself with its formulation,

tự cho mình có công hình thành nó,

[10] and to give therefore

[10] và do đó gán cho nó

And this is where the distortion comes in,

Và đây là nơi sự bóp méo xuất hiện,

[11] undue importance to it, because he regards it as his.

[11] tầm quan trọng quá mức, vì y xem nó là của mình.

Now maybe sometimes we've seen people driven by an idea, and even when that idea has not yet had its time to really appear, the timing is all off, the placement, the direction, it's all off, but because it's his idea, because it's her idea, it becomes unduly important, and so we have the glamour of overemphasis.

Có lẽ đôi khi chúng ta đã thấy những người bị một ý tưởng thúc đẩy; ngay cả khi thời điểm để ý tưởng ấy thực sự xuất hiện vẫn chưa tới, thời điểm hoàn toàn không đúng, vị trí và phương hướng đều sai, nhưng vì đó là ý tưởng của ông ấy, vì đó là ý tưởng của bà ấy, nên nó trở nên quan trọng quá mức. Và như vậy, chúng ta có ảo cảm của sự nhấn mạnh quá mức.

It's a sixth-ray type of glamour. We attach our emotions to emphasizing this particular idea, and we just fail to see things in proportion, and we emphasize this thing that has come to us regardless of the need of the environment. It's like having this great idea, and you go along imposing this idea because it's yours, and you don't take into consideration what the real need around you may be. Now we're going to look at that because, some of you have read the Labours of Hercules, and you know the story of Hercules. He's always running after that very elusive golden deer, the golden hind as it's called, and he grasps it, and he says, this is my deer, and then he brings it back to the temple of Apollo, which is maybe standing for his own causal body or something, and he puts it there, and he thinks it's just going to stay there because it's his, and the next thing he knows, it's out there wandering on the hills amidst all the greenery, perfectly free, and not belonging to him at all, but belonging to everybody, and this idea of this is my idea, well, I think a little wider point of view would demonstrate to us how inappropriate it is to put ownership upon any of these beings, that incorporeal beings that we call ideas existing on the buddhic plane and higher.

Đó là một loại ảo cảm thuộc cung sáu. Chúng ta gắn cảm xúc của mình với việc nhấn mạnh ý tưởng cụ thể này, rồi không còn nhìn mọi sự theo đúng tỉ lệ; chúng ta nhấn mạnh điều đã đến với mình, bất kể nhu cầu của môi trường. Giống như có một ý tưởng tuyệt vời, rồi đi khắp nơi áp đặt ý tưởng ấy vì nó là của mình, mà không xét đến nhu cầu thực sự xung quanh có thể là gì. Bây giờ, chúng ta sẽ xem xét điều đó, vì một số bạn đã đọc Những Kỳ Công của Hercules và biết câu chuyện về Hercules. Ông luôn đuổi theo con hươu vàng rất khó nắm bắt ấy, con hươu cái vàng như người ta gọi, rồi bắt được nó và nói: đây là con hươu của tôi. Sau đó, ông mang nó trở về đền Apollo, nơi có lẽ tượng trưng cho thể nguyên nhân của chính ông hay điều gì đó tương tự; ông đặt nó ở đó và nghĩ rằng nó sẽ cứ ở đó vì nó là của ông. Nhưng ngay sau đó, ông lại thấy nó đang lang thang ngoài kia trên những ngọn đồi giữa cây cỏ xanh tươi, hoàn toàn tự do, chẳng thuộc về ông chút nào mà thuộc về mọi người. Còn quan niệm “đây là ý tưởng của tôi”, tôi nghĩ chỉ cần một quan điểm rộng hơn đôi chút cũng sẽ cho chúng ta thấy việc gán quyền sở hữu cho bất kỳ sinh linh nào trong số ấy là không thích hợp đến mức nào—những sinh linh không có thân xác mà chúng ta gọi là các ý tưởng, hiện hữu trên cõi Bồ đề và cao hơn nữa.

So we have to learn, yeah, we may have been affected by the impression of an idea, but you cannot demand ownership of that which has impressed you, and we see that happening all the time, and me and my are associated with it. My interpretation, my perspective, my outlook, all of that, and it may be a very good one, except that we have tainted it by application of the word my. So what does he do?

Vì vậy, chúng ta phải học rằng có thể mình đã chịu tác động từ sự in dấu của một ý tưởng, nhưng không thể đòi quyền sở hữu đối với điều đã in dấu lên mình. Chúng ta thấy điều đó xảy ra suốt, và “tôi”, “của tôi” luôn gắn liền với nó. Cách diễn giải của tôi, góc nhìn của tôi, quan điểm của tôi, tất cả những điều ấy; chúng có thể rất tốt, chỉ có điều chúng ta đã làm chúng vẩn đục khi áp dụng từ “của tôi”. Vậy y làm gì?

[12] He proceeds to build his life around his idea, and to make his aims and his objectives

[12] Y bắt đầu xây dựng cuộc đời mình quanh ý tưởng của mình, và đặt những mục đích của mình cùng những mục tiêu của mình

His aims, his objectives, driven by that idea,

Các mục đích, các mục tiêu của y, do ý tưởng ấy thúc đẩy,

[13] of major importance,

[13] lên hàng đầu,

Whether or not the environment really needs it, or the people around you really need it.

Bất kể môi trường có thực sự cần điều đó hay những người xung quanh có thực sự cần điều đó hay không.

When you think about it, there were a lot of these missionaries that came into native cultures, and some of them really did help the native cultures, and others were just intent on imposing their idea of Christianity or some other religion upon the native culture, whether or not that imposition was really helpful, and oftentimes it wreaked terrible havoc. I don't know if some of you have seen that movie with Robert De Niro long ago. Was it called The Mission? Something like that.

Khi suy nghĩ về điều này, chúng ta thấy đã có rất nhiều nhà truyền giáo đến với các nền văn hoá bản địa; một số thực sự giúp ích cho những nền văn hoá ấy, còn những người khác chỉ chăm chăm áp đặt quan niệm của mình về Kitô giáo hay một tôn giáo nào khác lên nền văn hoá bản địa, bất kể sự áp đặt ấy có thực sự hữu ích hay không, và thường nó đã gây ra sự tàn phá khủng khiếp. Tôi không biết có bạn nào đã xem bộ phim có Robert De Niro từ lâu rồi không. Có phải phim mang tên Sứ Mệnh không? Đại loại như vậy.

The Mission. It's all about Portuguese missionaries in Brazil and their presumption of correctness and their disregard for the native culture that they encountered. It's a very heart-rending movie, but I think quite accurate in depicting what did happen.

Sứ Mệnh. Bộ phim nói về các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha ở Brazil, về việc họ tự cho mình đúng và coi thường nền văn hoá bản địa mà họ gặp. Đó là một bộ phim rất đau lòng, nhưng tôi nghĩ nó mô tả khá chính xác những gì đã xảy ra.

So, he builds his life around this one distinguishing thought. It becomes almost like an idée fixe, and then everything that is driven by that thought becomes more important than anything else in the environment, and

Vậy y xây dựng cuộc đời quanh một tư tưởng đặc trưng ấy. Nó gần như trở thành một định kiến cố chấp, rồi mọi điều do tư tưởng ấy thúc đẩy đều trở nên quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác trong môi trường, và

[14] expecting others to recognize his proprietorship of the idea.

[14] mong người khác công nhận quyền sở hữu của y đối với ý tưởng ấy.

It's my idea.

Đó là ý tưởng của tôi.

So, what happens? The my part of the idea becomes even more important than the idea itself. Now, this, of course, is a huge downgrading of the impression which has come from above.

Vậy điều gì xảy ra? Phần “của tôi” trong ý tưởng trở nên còn quan trọng hơn chính ý tưởng ấy. Tất nhiên, đây là sự hạ thấp nghiêm trọng ấn tượng đã đến từ bên trên.

[15] He forgets that no one idea belongs to anyone but, coming as ideas do, from the plane of the intuition, they are a universal

[15] Y quên rằng không một ý tưởng nào thuộc về riêng ai; vì các ý tưởng đến từ cõi trực giác, chúng là tặng phẩm và tài sản chung của tất cả

What are they?— a universal

Chúng là gì?—một

[16] gift and possession, and the property of no one mind.

[16] chứ không phải sở hữu của riêng một thể trí nào.

The rays of the sun shine upon all, and these beings who await their proper time for the upliftment of humanity, they are for the benefit of all, and ownership is just a kind of unjustified possessiveness. Now, I'm remembering this example. Both Leibniz and Newton, independently of each other—such was communication in those days—discovered the calculus, and then, with Newton especially, I guess, they spent remaining years fighting over who had discovered that branch of mathematics called the calculus.

Những tia nắng mặt trời chiếu lên tất cả, và những sinh linh đang chờ thời điểm thích hợp để nâng cao nhân loại ấy là vì lợi ích của tất cả; quyền sở hữu chỉ là một dạng chiếm hữu không có cơ sở chính đáng. Bây giờ, tôi nhớ đến ví dụ này. Cả Leibniz lẫn Newton, độc lập với nhau—việc giao tiếp thời đó là như vậy—đều khám phá ra phép tính vi tích phân. Rồi, đặc biệt là Newton, tôi nghĩ vậy, họ đã dành những năm còn lại để tranh cãi xem ai đã khám phá ra ngành toán học gọi là phép tính vi tích phân ấy.

Maybe some of you have, I know I found myself, strangely, in the university with a bunch of engineers, and I was taking calculus, and enjoying it or not enjoying it, but certainly not understanding what it was for, and it's a difficult subject for many. I found it difficult in many ways, once we got into certain things. But the whole idea, too, of fighting over whose idea it really was. Now, each one of them emphasized, perhaps, different aspects of it, but they really were out of touch, and it really was an idea whose time had come, and they were both being brilliant, sort of, third-ray, fifth-ray types. They were responsive to that impression, and you find that going on all the time.

Có lẽ một số bạn đã từng học môn đó. Tôi biết rằng, thật lạ, tôi lại thấy mình ở trường đại học cùng một nhóm kỹ sư, học phép tính vi tích phân; thích hay không thích thì không rõ, nhưng chắc chắn tôi không thấu hiểu nó dùng để làm gì, và với nhiều người, đó là một môn khó. Tôi thấy nó khó ở nhiều mặt, khi chúng tôi đi vào một số nội dung nhất định. Nhưng còn cả chuyện tranh giành xem đó thực sự là ý tưởng của ai nữa. Có lẽ mỗi người nhấn mạnh những phương diện khác nhau của nó, nhưng họ thực sự không liên lạc với nhau, và đó thực sự là một ý tưởng đã đến thời điểm xuất hiện. Cả hai đều thể hiện sự xuất chúng, phần nào thuộc loại hình cung ba, cung năm. Họ đáp ứng với ấn tượng ấy, và các bạn thấy điều đó diễn ra suốt.

People are simultaneously impressed, because, there's a, what do we call it, an a-causal, which means not causal, an a-causal connective principle, which impresses many simultaneously, each one thinking that he is unique. So, okay. So, here we have a disregard for the universality, for the bounty of the higher planes, as they seek to bestow the rays of wisdom and light upon all, gradually.

Nhiều người đồng thời tiếp nhận ấn tượng, vì có một—chúng ta gọi là gì nhỉ—một nguyên khí liên kết phi nhân quả, nghĩa là không theo nhân quả, in dấu lên nhiều người cùng lúc, mà mỗi người lại nghĩ mình là độc nhất. Vì vậy, ở đây chúng ta thấy sự xem nhẹ tính phổ quát, xem nhẹ sự phong phú của các cõi cao khi các cõi ấy tìm cách dần dần ban những tia minh triết và ánh sáng cho tất cả.

they are a universal gift and possession, and the property of no one mind.

chúng là một món quà và tài sản chung của tất cả, chứ không phải tài sản của riêng một thể trí nào.

So, hopefully, in studying the Ageless Wisdom, we've gotten over that tendency to think that our particular impression is the only one, and we own it.

Vì vậy, hy vọng rằng khi nghiên cứu Minh Triết Ngàn Đời, chúng ta đã vượt qua khuynh hướng nghĩ rằng ấn tượng riêng của mình là duy nhất và mình sở hữu nó.

[17] His life, as a personality also, becomes subordinated to his idea of an idea

[17] Đời sống của y, xét như một phàm ngã, cũng trở nên lệ thuộc vào ý tưởng mà y có về một ý tưởng,

—it's a secondary thing, isn't it?

—đó là một thứ phái sinh, phải không?

[18] and his ideal of an idea.

[18] và lý tưởng mà y có về một ý tưởng.

In other words, not, let's just say, not the reality itself, but an idea of an idea, which means a thought form of an idea, and then an ideal, or something worth striving for.

Nói cách khác, đó không phải chính thực tại, mà là một quan niệm về một ý tưởng, nghĩa là một hình tư tưởng về một ý tưởng, rồi một lý tưởng, hay một điều đáng để phấn đấu.

[19] The idea becomes the dramatic agent of his self-imposed life purpose, driving him from one extreme to another.

[19] Ý tưởng ấy trở thành tác nhân tạo kịch tính cho mục đích sống do y tự đặt ra, thúc đẩy y đi từ cực đoan này sang cực đoan khác.

—the old saying regarding the sixth ray, kind of funny—driving himself and irking others, annoying others, because he's so taken by a particular idea.

—câu nói cũ về cung sáu, khá buồn cười—tự thúc ép mình và làm người khác bực bội, khó chịu, vì y quá say mê một ý tưởng cụ thể.

[20] This leads to illusion through misappropriation.

[20] Điều này dẫn đến ảo tưởng do chiếm hữu sai lầm. [Page 61]

So, wrong ownership, wrong grasping, the illusion of exclusive ownership of something that is meant for everybody.

Vậy là sở hữu sai, nắm giữ sai, ảo tưởng về quyền sở hữu độc quyền đối với một điều vốn dành cho tất cả mọi người.

Now, as we study the Ageless Wisdom together, I think maybe we're pretty good about this, and certainly Master DK, in presenting great thought forms to us, which are based upon his own immediate contact with ideas, never pretends that they are his. There's no ownership there at all. They come from the general reservoir of enlightenment, and any enlightened soul will realize that he or she is working in the stream of higher impression, and that he or she themselves are ideas, really.

Bây giờ, khi cùng nhau nghiên cứu Minh Triết Ngàn Đời, tôi nghĩ có lẽ chúng ta làm khá tốt về mặt này. Và chắc chắn Chân sư DK, khi trình bày cho chúng ta những hình tư tưởng vĩ đại dựa trên sự tiếp xúc trực tiếp của chính Ngài với các ý tưởng, không bao giờ cho rằng chúng là của Ngài. Ở đó hoàn toàn không có quyền sở hữu. Chúng đến từ kho giác ngộ chung, và bất kỳ linh hồn giác ngộ nào cũng sẽ nhận ra rằng mình đang hoạt động trong dòng ấn tượng cao, và thực ra chính mình cũng là những ý tưởng.

Every one of us is actually a being incorporeal, and really an idea. So, we have to get our minds into a more abstract, intuitive condition, divorced somewhat from the grasping personality, which wants to call attention to itself. I think we get the idea.

Mỗi người chúng ta thực sự là một sinh linh không có thân xác, và thực sự là một ý tưởng. Vì vậy, chúng ta phải đưa thể trí mình vào một trạng thái trừu tượng hơn, trực giác hơn, phần nào tách khỏi phàm ngã tham giữ vốn muốn thu hút sự chú ý về mình. Tôi nghĩ chúng ta đã nắm được ý.

Now, he's giving us the causes, and all that kind of thing. The cause. Now, measure yourself against this, your pet ideas.

Bây giờ, Ngài cho chúng ta biết các nguyên nhân và những điều tương tự. Nguyên nhân. Hãy đối chiếu bản thân với điều này, với những ý tưởng tâm đắc của các bạn.

We all have them, or have had them, or these pet thought forms which represent an idea, which we may have received directly, or in a secondhand manner.

Tất cả chúng ta đều có, hoặc đã từng có chúng, hay những hình tư tưởng tâm đắc biểu đạt một ý tưởng mà chúng ta có thể đã tiếp nhận trực tiếp hoặc qua trung gian.

[21] The cause is over-estimation of personality and undue impress of personality reactions upon the sensed idea and upon all who attempt to contact the same idea.

[21] Nguyên nhân là sự đánh giá quá cao phàm ngã và dấu ấn quá mức mà những phản ứng của phàm ngã ghi lên ý tưởng đã cảm nhận được, cũng như lên tất cả những ai cố gắng tiếp xúc với cùng ý tưởng ấy.

Maybe we don't... I remember a funny in the New Yorker magazine long ago. You know how there are, if you've ever seen the New Yorker, it's filled with these cartoons, which really have a point. Here's an Indian Swami, and a little Buddhist monk, and they're both glowering at each other, and really hateful, and not happy to see each other at all, and a third person is introducing them, and saying, oh, venerable so-and-so, I'd like you to meet Swami so-and-so. He too has discovered the secret of life. So, the misappropriation of the secret of life, and the resentment that anyone else should somehow possess the secret of life is very amusing, and I wonder if I still have it somewhere. I don't know. Every once in a while, I save those cartoons, because one that's really in my mind, actually, is a man with his toolkit, climbing steps out of a completely flooded basement, which obviously everything has gone wrong, and there's a great flood down there. And, there's no repair has been possible, and he says to himself, as he's climbing out of the deluge, which he has created in the basement, he says, ah, instead, I shall become a plumber of souls. I guess it didn't work out too well to become a real plumber.

Có lẽ chúng ta không... Tôi nhớ một tranh hài trên tạp chí New Yorker từ lâu rồi. Nếu từng xem New Yorker, các bạn biết tạp chí ấy có rất nhiều tranh biếm hoạ thực sự sâu sắc. Có một vị Swami Ấn Độ và một nhà sư Phật giáo nhỏ bé, cả hai đều trừng mắt nhìn nhau, đầy căm ghét, hoàn toàn không vui khi gặp nhau. Một người thứ ba đang giới thiệu họ và nói: “Thưa tôn giả nọ, tôi muốn giới thiệu với ngài Swami kia. Ngài ấy cũng đã khám phá ra bí mật của sự sống.” Vậy việc chiếm hữu sai bí mật của sự sống, và sự bực tức khi bất kỳ ai khác cũng sở hữu được bí mật ấy bằng cách nào đó, thật buồn cười. Tôi tự hỏi liệu mình có còn giữ bức tranh ấy ở đâu không. Tôi không biết. Thỉnh thoảng tôi lưu lại những tranh biếm hoạ ấy, vì có một bức thực sự còn đọng trong trí tôi: một người đàn ông mang hộp dụng cụ, leo lên cầu thang từ một tầng hầm ngập nước hoàn toàn; rõ ràng mọi thứ đều hỏng hết, và dưới đó là một trận ngập lớn. Không thể sửa chữa được gì, và khi leo ra khỏi trận lụt do chính mình gây ra trong tầng hầm, ông tự nhủ: “À, thay vào đó, ta sẽ trở thành thợ sửa ống nước cho các linh hồn.” Tôi nghĩ việc trở thành một thợ sửa ống nước thực thụ đã không suôn sẻ lắm.

It's the attitude of the impractical person, not able to solve the real, on the earth problems. Anyway, the cause of this problem of misappropriation, the overestimation of personality, and undue impress of personal reactions, our Lunar Lords upon the sensed idea, thus distorting it, eclipsing it, muffling it, and upon all who attempt to contact the same idea. The personality is, after all, separative.

Đó là thái độ của người thiếu thực tế, không giải quyết nổi những vấn đề thực sự trên mặt đất. Dù sao, nguyên nhân của vấn đề chiếm hữu sai này là đánh giá quá cao phàm ngã, cùng sự in dấu quá mức của các phản ứng cá nhân—các nguyệt tinh quân của chúng ta—lên ý tưởng đã cảm nhận được, do đó bóp méo, che khuất, làm lu mờ nó, và lên tất cả những ai cố gắng tiếp xúc với cùng ý tưởng ấy. Xét cho cùng, phàm ngã mang tính chia rẽ.

In this realm of pure reason, which is way above the personality, instead of separation, we learn about the relation of ideas to each other, and instead of a separative world of exclusively held, appropriated ideas, we have a unitive flow between real ideas, and that, of course, requires the antahkarana and some understanding within the abstract mind, and naturally the impress of pure reason. So at what level do we really think? Are we thinking strictly in a concrete and rather personal manner? Or can we really begin to widen our minds out into areas of thought which really, within the Spiritual Triad, are impersonal? And that's the question. Are we capable of impersonal thinking? Not just transpersonal thinking, but impersonal thinking where the little self becomes less and less and less of concern, and we disidentify from that little personal self more and more and more. Now, the cure.

Trong lĩnh vực lý trí thuần khiết này, vốn vượt xa phàm ngã, thay vì chia rẽ, chúng ta học về mối liên hệ giữa các ý tưởng. Thay cho một thế giới chia rẽ gồm những ý tưởng bị chiếm hữu, nắm giữ độc quyền, chúng ta có một dòng chảy hợp nhất giữa những ý tưởng chân thực. Tất nhiên, điều đó đòi hỏi antahkarana, một mức độ thấu hiểu trong trí trừu tượng, và dĩ nhiên cả sự in dấu của lý trí thuần khiết. Vậy chúng ta thực sự tư duy ở cấp độ nào? Chúng ta có tư duy hoàn toàn theo cách cụ thể và khá cá nhân không? Hay chúng ta thực sự có thể bắt đầu mở rộng thể trí vào những lĩnh vực tư tưởng vốn thực sự phi cá nhân trong Tam Nguyên Tinh Thần? Đó là câu hỏi. Chúng ta có khả năng tư duy phi cá nhân không? Không chỉ là tư duy vượt ngoài cá nhân, mà là tư duy phi cá nhân, trong đó cái ngã nhỏ bé ngày càng ít được quan tâm, và chúng ta ngày càng thôi đồng hoá với cái ngã cá nhân nhỏ bé ấy. Bây giờ, đến phương thuốc.

We all always are interested in the cure, I'm sure.

Tôi chắc rằng tất cả chúng ta luôn quan tâm đến phương thuốc.

[22] The cure is a steady attempt to decentralize the life from the personality, and to center it in the soul.

[22] Phương thuốc là kiên trì nỗ lực để đời sống không còn tập trung vào phàm ngã mà tập trung nơi linh hồn.

Which is non-possessive, and which is group conscious. Now, at the last conference, I gave a lecture on the five Ds, as I called them, and I applied them, as a method of training to the different aspects of the personality.

Linh hồn không chiếm hữu và có tâm thức nhóm. Tại hội nghị vừa qua, tôi đã trình bày về năm chữ D, như tôi gọi, và áp dụng chúng như một phương pháp rèn luyện cho những phương diện khác nhau của phàm ngã.

Here's the way they went. Some of you may remember the discipline of the etheric physical, the dispassion of the emotional nature, the discrimination of the lower mind, and then the decentralization of the personality. That was the fourth one. Decentralization, get off your own stage, shrink that personality image down to a point, and then eventually relinquish the point itself. There's another D above it, we might call it discernment, spiritual discernment, but in general, I think the word detachment is very important when thinking about the relationship of the soul to its instrument. So, discipline, dispassion, discrimination, decentralization, detachment, and then discernment is there operating within the realm of the soul.

Chúng được sắp xếp như sau. Một số bạn có thể nhớ: kỷ luật đối với phần dĩ thái–hồng trần, sự không đam mê đối với bản chất cảm xúc, sự phân biện của hạ trí, rồi phi tập trung vào bản thân đối với phàm ngã. Đó là điều thứ tư. Phi tập trung vào bản thân: hãy bước khỏi sân khấu của chính mình, thu hình ảnh phàm ngã ấy xuống thành một điểm, rồi cuối cùng buông bỏ cả chính điểm ấy. Có một chữ D khác ở trên nữa, chúng ta có thể gọi là phân biện tinh thần, nhưng nhìn chung, tôi nghĩ từ “tách rời” rất quan trọng khi nghĩ về mối liên hệ của linh hồn với công cụ của nó. Vậy là kỷ luật, không đam mê, phân biện, phi tập trung vào bản thân, tách rời; rồi sự phân biện tinh thần hoạt động trong lĩnh vực của linh hồn.

So I think that may be, let's see, how long is this other little section? I think I'm going to wait on that. Well, maybe I'll just do a little bit, just a little here, because this is all a general summary of the first three. I hope that, this is a somewhat obscure area of our study. I always find it sort of difficult to remember the various illusions. I'm going to have to fix them in my mind. Master Morya says, press the bridge of your nose when you want to remember something. Agni Yoga gets that specific. If you want to fix something in your memory, press the bridge of your nose. Interesting, and maybe I'll have to do that for each one of these seven.

Tôi nghĩ có lẽ đến đây... Hãy xem phần nhỏ tiếp theo dài bao nhiêu. Tôi nghĩ mình sẽ để phần đó lại. Có lẽ tôi sẽ chỉ đọc một chút ở đây, vì tất cả đều là phần tổng kết chung của ba điều đầu tiên. Tôi hy vọng rằng... Đây là một lĩnh vực hơi khó nắm bắt trong việc nghiên cứu của chúng ta. Tôi luôn thấy khá khó nhớ các ảo tưởng khác nhau. Tôi sẽ phải khắc sâu chúng vào trí. Chân sư Morya nói: hãy ấn vào sống mũi khi muốn nhớ điều gì đó. Agni Yoga cụ thể đến mức ấy. Nếu muốn khắc sâu điều gì vào trí nhớ, hãy ấn vào sống mũi. Thú vị thật, và có lẽ tôi sẽ phải làm như vậy với từng điều trong bảy điều này.

But now he pauses for a minute and says a bit more.

Nhưng giờ Ngài dừng lại một chút và nói thêm đôi điều.

[23] One point I would like to make clear at this point. Ideas very seldom come into the world consciousness and into the human mind direct from the intuitional levels.

[23] Có một điểm Tôi muốn làm sáng tỏ ở đây. Các ý tưởng rất hiếm khi đi thẳng từ những cấp độ trực giác vào tâm thức thế giới và thể trí con người.

That would be called in Agni Yoga terms, straight knowledge, unmediated knowledge. Usually they are filtered through various aspects of our energy system.

Theo thuật ngữ Agni Yoga, điều đó được gọi là trực tri, tri thức không qua trung gian. Thông thường, chúng được lọc qua những phương diện khác nhau trong hệ thống năng lượng của chúng ta.

[24] The stage of human development today does not yet permit this.

[24] Giai đoạn phát triển hiện nay của nhân loại chưa cho phép điều này.

We are not yet as a race naturally, directly intuitive.

Xét toàn thể nhân loại, chúng ta chưa có trực giác trực tiếp một cách tự nhiên.

[25] They can come from the intuitional levels only when there is a very highly developed soul contact, a potent mind control, a trained intelligence, a purified emotional body, and a good glandular equipment,

[25] Các ý tưởng chỉ có thể đến từ những cấp độ trực giác khi có sự tiếp xúc với linh hồn đã phát triển rất cao, khả năng kiểm soát thể trí mạnh mẽ, trí thông minh đã được rèn luyện, thể cảm xúc đã được thanh lọc, và một hệ thống tuyến tốt,

He points out how the Christ in Esoteric Healing, the mayavirupa that he uses, is perfected with respect to his glandular development, and that is not insignificant,

Trong Trị Liệu Huyền Môn, Ngài chỉ ra rằng mayavirupa mà Đức Christ sử dụng đã hoàn thiện về sự phát triển của hệ tuyến, và điều đó không hề nhỏ,

[26] as the result of the above requirements. Ponder upon this thought.

[26] vốn là kết quả của những điều kiện nêu trên. Hãy suy ngẫm về tư tưởng này.

So, direct impact of ideas from the intuitional plane, and remember it's not necessarily the entire intuitional plane, because when we look at this, this is the intuitional plane, but it's on the fourth level, the four of four, where the real intuition begins. So, here other things are happening, and they're all important, but the intuition begins at the fourth sub-level of the fourth cosmic sub-plane, or systemic plane we call normally the buddhic plane.

Vậy là tác động trực tiếp của các ý tưởng từ cõi trực giác; và hãy nhớ, không nhất thiết là toàn bộ cõi trực giác, vì khi nhìn vào đây, đây là cõi trực giác, nhưng chính ở cấp độ thứ tư, cấp thứ tư của cõi thứ tư, trực giác thực sự mới bắt đầu. Vì vậy, ở đây đang diễn ra những điều khác, và tất cả đều quan trọng, nhưng trực giác bắt đầu ở cõi phụ thứ tư của cõi phụ vũ trụ thứ tư, hay cõi thuộc hệ mặt trời mà chúng ta thường gọi là cõi Bồ đề.

So, anyway, we need a pretty good equipment here, pretty good contact, and purification, and training, and good condition of the glands, and so forth, in order to get an idea directly from the intuitional levels.

Dù sao, ở đây chúng ta cần một bộ máy khá tốt, sự tiếp xúc khá tốt, sự thanh luyện, rèn luyện, tình trạng tốt của các tuyến, v.v., để có thể tiếp nhận một ý tưởng trực tiếp từ các cấp độ trực giác.

[27] Most ideas, when of a very high order, are stepped down into the consciousness of a disciple by his Master and are imparted to him through mental telepathy, and as a result of his sensitivity to the “psychic gift waves,”

[27] Phần lớn những ý tưởng thuộc cấp độ rất cao đều do Chân sư hạ giảm xuống để đi vào tâm thức của đệ tử và truyền đạt cho y qua viễn cảm trí tuệ, cũng như nhờ sự nhạy cảm của y đối với những “làn sóng tặng phẩm thông linh”,

Those meditators in the East are generating that for us,

Những người hành thiền ở phương Đông đang tạo ra điều đó cho chúng ta,

[28] as the Tibetan teaching calls them.

[28] theo cách gọi trong giáo huấn của Chân sư Tây Tạng.

So, the stepping down of ideas is our normal mode of impression or acquisition.

Vậy việc hạ các ý tưởng xuống là phương thức thông thường để chúng ta tiếp nhận ấn tượng hay thu nhận ý tưởng.

Frequently, when disciples, okay,

Thường khi các đệ tử,

[29] Ideas are also sensed in the interplay between disciples. Frequently, when disciples meet together and thus stimulate each others’ minds and centralize each others’ focused attention, they can unitedly make a contact with the world of ideas which would otherwise be impossible, and bring through the newer concepts into being.

[29] Các ý tưởng cũng được cảm nhận trong sự tương tác giữa các đệ tử. Thường khi các đệ tử gặp nhau, qua đó kích thích thể trí và giúp nhau quy tụ sự chú ý, họ có thể cùng nhau tiếp xúc với thế giới ý tưởng theo một cách mà nếu riêng lẻ thì không thể, và đưa những quan niệm mới hơn vào hiện tồn.

And in a way, in what little effort we're making right here, that's what we are trying to do. The presence of each other, studying these matters, thinking about these matters, we may sharpen our individual ability and our group ability to access ideas.

Theo một nghĩa nào đó, trong nỗ lực nhỏ bé mà chúng ta đang thực hiện ngay tại đây, đó chính là điều chúng ta đang cố gắng làm. Với sự hiện diện của nhau, cùng nghiên cứu và suy nghĩ về những vấn đề này, chúng ta có thể mài sắc khả năng tiếp cận ý tưởng của từng người và của cả nhóm.

[30] Again, certain great ideas are to be found existing as currents of energy upon the mental plane, and can there be contacted and forced into embodiment through the trained attention of disciples.

[30] Ngoài ra, có thể tìm thấy một số ý tưởng lớn tồn tại dưới dạng những dòng năng lượng trên cõi trí; tại đó, nhờ sự chú ý đã được rèn luyện, các đệ tử có thể tiếp xúc với chúng và thúc đẩy chúng hiện thân.

But note, we are speaking of the mental plane, and not the intuitional plane. Now, interestingly enough, however, the term transcendental mind is not entirely removed from the realm of intuition, because the intuition is called by the Tibetan, the transcendental mind.

Nhưng hãy lưu ý, chúng ta đang nói về cõi trí, chứ không phải cõi trực giác. Tuy nhiên, điều khá thú vị là thuật ngữ trí tuệ siêu việt không hoàn toàn tách khỏi lĩnh vực trực giác, vì Chân sư Tây Tạng gọi trực giác là trí tuệ siêu việt.

I always think that's very interesting. It's a higher aspect of Mercury, and it's an aspect of Uranus and Jupiter, these planets convey a transcendental mind, Neptune, Mercury, Jupiter, rulers of the buddhi plane.

Tôi luôn thấy điều đó rất thú vị. Đó là một phương diện cao hơn của Sao Thủy, và là một phương diện của Sao Thiên Vương cùng Sao Mộc; những hành tinh này truyền tải trí tuệ siêu việt—Sao Hải Vương, Sao Thủy, Sao Mộc, các chủ tinh của cõi Bồ đề.

[31] These currents of mental energy, colored by a basic idea, are placed there by the Hierarchy.

[31] Thánh đoàn đặt những dòng năng lượng trí tuệ này trên cõi trí, mỗi dòng mang sắc thái của một ý tưởng nền tảng.

Interesting, just like the idea of the zodiacal signs is placed accessible to man on the mental levels by the Hierarchy, which wants us to interpret correctly.

Thú vị thật, cũng giống như Thánh đoàn đặt ý tưởng về các dấu hiệu hoàng đạo trên những cấp độ trí tuệ để con người có thể tiếp cận, và mong muốn chúng ta diễn giải đúng đắn.

These currents of mental energy, colored by a basic idea, are placed there by the Hierarchy.

Thánh đoàn đặt ở đó những dòng năng lượng trí tuệ này, được một ý tưởng căn bản nhuốm màu.

[32] When thus contacted and discovered, the neophyte

[32] Khi tiếp xúc và khám phá được chúng như vậy, người sơ cơ

That's all of us, isn't it,

Đó là tất cả chúng ta, phải không,

[33] is apt to regard his achievement in a personal way and attribute the idea to his own wisdom and power.

[33] dễ nhìn nhận thành tựu của mình theo góc độ cá nhân [Page 62] và cho rằng ý tưởng ấy bắt nguồn từ minh triết và quyền năng của chính mình.

That's the very thing we're trying to avoid as we study this third method of illusion, the misappropriation of an idea.

Đó chính là điều chúng ta đang cố tránh khi nghiên cứu phương thức gây ảo tưởng thứ ba này, việc chiếm hữu sai một ý tưởng.

[34] You will note therefore the great need for right understanding of that which is contacted as well as for right interpretation.

[34] Vì vậy, các bạn sẽ nhận thấy nhu cầu rất lớn về việc thấu hiểu đúng đắn những gì mình tiếp xúc, cũng như diễn giải đúng đắn.

That brings us right back to point one and point two.

Điều đó đưa chúng ta trở lại ngay với điểm thứ nhất và điểm thứ hai.

So, we do not misperceive what an idea is, and we interpret correctly with adequate equipment. Well, that's it. I guess we got that far.

Vì vậy, chúng ta không nhận thức sai ý tưởng là gì, và chúng ta diễn giải đúng đắn với một bộ máy đầy đủ. Đến đây là hết. Tôi nghĩ chúng ta đã đi được đến đó.

Obviously, friends, these thoughts have to work within us. They have to percolate. They have to steep. They have to be absorbed, and we have to recognize the quality of our thoughts and the errors in thought which we may be making unbeknownst to ourselves, and that takes some, close impartial examination of how we approach thought.

Rõ ràng, các bạn ạ, những tư tưởng này phải hoạt động bên trong chúng ta. Chúng phải thấm dần, phải ngấm sâu, phải được hấp thụ; và chúng ta phải nhận ra phẩm tính trong tư tưởng của mình cùng những sai lầm tư tưởng mà mình có thể đang mắc phải nhưng không hay biết. Điều đó đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng, vô tư về cách chúng ta tiếp cận tư tưởng.

So, what have we got so far? This was the misappropriation of ideas, wrong appropriation of ideas, wrong interpretation of ideas, and the very first one was a kind of a misperception. Let's see. It's a long one here. We dealt with it. Wrong perception of an idea.

Vậy đến đây chúng ta đã có gì? Đây là việc chiếm hữu sai các ý tưởng, chiếm hữu ý tưởng sai cách, diễn giải sai các ý tưởng; còn điều đầu tiên là một dạng nhận thức sai. Hãy xem. Phần này dài thật. Chúng ta đã bàn đến nó. Nhận thức sai về một ý tưởng.

But remember, nothing is more powerful in our individual life or in the life of society than an idea whose time has come, and so, to study the intellectual history of humanity, which is really the study of the way the mind has appropriated approaching ideas, descending ideas, is probably to study history from the inside out rather than simply as a series of events. Friends, now it's time for you and your thoughts, and Vera, there you go.

Nhưng hãy nhớ, trong đời sống cá nhân hay đời sống xã hội, không có gì mạnh mẽ hơn một ý tưởng đã đến thời điểm xuất hiện. Vì vậy, nghiên cứu lịch sử trí tuệ của nhân loại—thực chất là nghiên cứu cách thể trí đã tiếp nhận những ý tưởng đang đến gần, những ý tưởng đang giáng xuống—có lẽ là nghiên cứu lịch sử từ bên trong ra ngoài, thay vì chỉ xem nó như một chuỗi sự kiện. Các bạn ạ, bây giờ là lúc dành cho các bạn và những suy nghĩ của mình; Vera, mời bạn.

Questions and Answers – Hỏi và Đáp

Vera: Yeah, just making a little comment about that wrong appropriation of ideas that, yeah, I absolutely agree what was there. But the systems of discoveries, the science and industry, new forms of industries, they are these systems are based on that recognition of putting the name there, and on that actually is the funding for those projects depends.

Vera: Tôi chỉ muốn bình luận đôi chút về việc chiếm dụng sai trái các ý tưởng. Tôi hoàn toàn đồng ý với những điều vừa được trình bày. Nhưng các hệ thống khám phá, khoa học và công nghiệp, các hình thức công nghiệp mới, đều dựa trên sự công nhận thông qua việc ghi tên người thực hiện, và nguồn tài trợ cho những dự án ấy thực sự phụ thuộc vào điều đó.

So, it's many of those people, they do enjoy the limelight, but there are also many who actually go with it because it's necessary, but they disassociate from that charade. So, that's just the systems are based on that individuality.

Nhiều người trong số ấy quả có thích được chú ý, nhưng cũng có nhiều người chấp nhận việc đó vì cần thiết, trong khi trong lòng họ vẫn tách mình khỏi màn kịch ấy. Các hệ thống ấy vốn dựa trên tính cá nhân như vậy.

MDR: Sometimes, the head person, if there is such, references the entire team, if you will.

MDR: Đôi khi, người đứng đầu, nếu có người như vậy, ghi nhận toàn bộ đội ngũ, có thể nói như thế.

MDR: So, that, DK has said about scientists, they're really much closer to the soul than the religionists, because they're far more group oriented as they work together. So, I guess it just depends, in the old days, Newton was very possessive of his ideas, of his thoughts, and I guess I think he had the Moon in Cancer or something. He was really hanging on to things and irritated when other people came near and said, well, look, I've had that idea too. But I think gradually in the Aquarian age, my guess is going to be with the rapid spread of ideas that have shown themselves as worthy thoughts, we're going to have less of this misappropriation, and it will be recognized that different instruments, different people, different teams have been the temporary instrument for the descent of something whose time has come, and the rest of it will spread rapidly. So, this exaltation of the personality, I think, will not be as strong as it has been. But right now, you're quite right. It's all, we've got a lot of personality in it still. But it's going to, what shall they call it, decentralize.

MDR: Chân sư DK đã nói về các nhà khoa học rằng họ thực sự gần với linh hồn hơn những người theo tôn giáo, vì khi cùng làm việc, họ hướng về nhóm nhiều hơn hẳn. Vì vậy, tôi cho rằng điều này còn tùy trường hợp. Ngày xưa, Newton rất có tính chiếm hữu đối với các ý tưởng, tư tưởng của mình, và tôi nghĩ có lẽ ông có Mặt Trăng ở Cự Giải hay gì đó. Ông thực sự bám chặt vào mọi thứ và bực bội khi người khác đến gần rồi nói: “Xem này, tôi cũng đã có ý tưởng ấy.” Nhưng tôi nghĩ rằng dần dần, trong kỷ nguyên Bảo Bình, với sự lan truyền nhanh chóng của những ý tưởng đã chứng tỏ là những tư tưởng có giá trị, có lẽ việc chiếm dụng sai trái này sẽ giảm bớt. Người ta sẽ công nhận rằng những công cụ khác nhau, những con người khác nhau, những đội ngũ khác nhau từng là công cụ tạm thời cho sự giáng xuống của một điều đã đến thời điểm xuất hiện, rồi phần còn lại sẽ lan truyền nhanh chóng. Vì vậy, tôi nghĩ sự tôn cao phàm ngã này sẽ không còn mạnh như trước. Nhưng hiện nay, bạn hoàn toàn đúng. Trong đó vẫn còn rất nhiều yếu tố phàm ngã. Tuy nhiên, nó sẽ dần, phải gọi là gì nhỉ, phi tập trung vào bản thân.

That's the great beauty of the Aquarian energy, decentralization. Why is it that one of the great symbols of centralization, namely the sun, in astrology is weakened in the sign Aquarius, or we call it is in detriment in the sign Aquarius, because we're going to have a lot more diversification, decentralization, and less concentration of the personal individual. So, let's look for that, I think it's already coming, and in our own life, we can demonstrate that too, as disciples in training. Anything else, Vera?

Đó là vẻ đẹp lớn lao của năng lượng Bảo Bình: phi tập trung vào bản thân. Tại sao trong chiêm tinh học, một trong những biểu tượng lớn của sự tập trung vào trung tâm, tức Mặt Trời, lại suy yếu trong dấu hiệu Bảo Bình, hay chúng ta gọi là ở vị trí thất thế trong dấu hiệu Bảo Bình? Bởi vì chúng ta sẽ có sự đa dạng hóa nhiều hơn, phi tập trung vào bản thân nhiều hơn, và bớt tập trung vào cá nhân riêng biệt. Vì vậy, chúng ta hãy mong đợi điều đó. Tôi nghĩ nó đã bắt đầu xuất hiện, và trong đời sống của chính mình, với tư cách những đệ tử đang được huấn luyện, chúng ta cũng có thể thể hiện điều đó. Bạn còn điều gì nữa không, Vera?

Vera: No, thank you.

Vera: Không, cảm ơn Thầy.

MDR: Thank you.

MDR: Cảm ơn bạn.

Thank you very much. Thank you.

Cảm ơn rất nhiều. Cảm ơn.

So, your thoughts, friends? Wrong appropriation of ideas. Anybody wish to... Friedrich. Friedrich.

Các bạn nghĩ sao? Việc chiếm dụng sai trái các ý tưởng. Có ai muốn… Friedrich. Friedrich.

Participant, unidentified: This is Hendrik.

Người tham dự, chưa xác định: Đây là Hendrik.

MDR: There is Frédéric. We have two things going there, a hand and also a question in the audience: “Good morning, can you zoom out to be able to read the context?”

MDR: Có Frédéric ở đây. Chúng ta có hai việc cùng lúc: một cánh tay giơ lên và một câu hỏi từ người nghe: “Chào buổi sáng, Thầy có thể thu nhỏ để đọc được ngữ cảnh không?”

MDR: Frédéric, maybe you would like to speak.

MDR: Frédéric, có lẽ bạn muốn phát biểu.