← Commentary GAW 71-100 Song Ngữ

Commentary GAW 94

Tóm lược chương

Sự mở rộng tâm thức gắn với việc tăng tính nhạy cảm đối với nội giới, quá khứ, tương lai xa và những mối liên hệ tam giác trên nhiều cấp độ. Sự mặc khải luôn hiện diện, nhưng trạng thái trì độn cùng những cảm xúc và dục vọng hướng đến điều không chân thật ngăn thực tại đi vào tâm thức. Việc xuyên tạc những gì đã biết làm suy yếu lòng tin và nền tảng tiến bộ của nhân loại; vì vậy, công việc làm tiêu tan ảo cảm nhằm giúp chân lý hiển lộ và biểu hiện mà không chịu sự bóp méo của ảo tưởng hay sự hỗn loạn của ảo lực. Trực giác xua tan ảo tưởng, thể trí được soi sáng làm tiêu tan ảo cảm, còn việc sử dụng hơi thở đúng cách làm suy giảm sinh lực…


Commentary GAW 94

Tóm Tắt

Tính nhạy cảm và những chướng ngại đối với chân lý

Sự mở rộng tâm thức gắn với việc tăng tính nhạy cảm đối với nội giới, quá khứ, tương lai xa và những mối liên hệ tam giác trên nhiều cấp độ. Sự mặc khải luôn hiện diện, nhưng trạng thái trì độn cùng những cảm xúc và dục vọng hướng đến điều không chân thật ngăn thực tại đi vào tâm thức. Việc xuyên tạc những gì đã biết làm suy yếu lòng tin và nền tảng tiến bộ của nhân loại; vì vậy, công việc làm tiêu tan ảo cảm nhằm giúp chân lý hiển lộ và biểu hiện mà không chịu sự bóp méo của ảo tưởng hay sự hỗn loạn của ảo lực.

Ba chướng ngại và các phương pháp hóa giải

Trực giác xua tan ảo tưởng, thể trí được soi sáng làm tiêu tan ảo cảm, còn việc sử dụng hơi thở đúng cách làm suy giảm sinh lực của ảo lực. Kỹ Thuật Ánh sáng là phương pháp thực hành chủ yếu hiện tại; Kỹ Thuật của Hiện Diện và Kỹ Thuật Điềm Nhiên thuộc những phương pháp sẽ được nghiên cứu tiếp. Việc xử lý ảo tưởng đòi hỏi huấn luyện trí tuệ sâu hơn việc xử lý ảo cảm, vì trí tuệ phức tạp hơn cảm xúc. Theo cách diễn giải của Thầy MDR, những ảo tưởng rất tinh tế còn tồn tại đến lần điểm đạo thứ chín, trước khi rời cõi hồng trần vũ trụ trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

Trường huyền môn và những cửa ngõ tiếp nhận năng lượng

Con số 24 được liên hệ với Shamballa và với mô hình trường huyền môn cao cấp tương lai gồm 24 đạo sinh cùng ba huấn sư hoặc người hướng dẫn. Các trường dự bị được xem là mục tiêu gần hơn, có thể từng bước thực hiện. Những trường này sẽ trở thành cửa ngõ nội môn cho ánh sáng, tình thương và quyền năng, góp phần thanh lọc môi trường mà tâm thức nhân loại hoạt động trong đó.

Bảy con đường dẫn đến ảo tưởng

Bảy con đường gồm tri giác sai, diễn giải sai, chiếm hữu sai, định hướng sai, tích hợp sai, thể hiện sai và áp dụng sai. Những sai lệch này bóp méo các ý tưởng đang tìm đường biểu hiện, khiến những thành phần của Thiên Cơ không thể thành hiện thực đúng như dự định. Hình ảnh ấy được so sánh với “Lâu đài Sai lầm” của Chân sư Morya: xây sai thời điểm, sai địa điểm, do sai người, bằng sai vật liệu và vì sai mục đích. Những sai sót trong sách cũng được ví như các vết thương viêm nhiễm có thể truyền ảnh hưởng sai lệch sang người đọc.

Cung năm và yêu cầu chính xác

Tính chính xác của cung năm là điều cần thiết để nhận diện và cô lập sai lầm, thay vì chỉ dựa vào cảm nhận chung. Theo nhận định của Thầy MDR, sự chuyển tiếp từ lần điểm đạo thứ hai sang lần điểm đạo thứ ba đòi hỏi vận dụng cung năm; trung tâm ajna và Sao Kim, với linh hồn cung năm, liên hệ với sự soi sáng ở lần điểm đạo thứ ba. Đấng Chúa Tể Cung năm được mô tả là sáng chói nhất trong các Đấng Chúa Tể Cung. Chùm ánh sáng phóng chiếu từ trán trong Kỹ Thuật Ánh sáng cũng thể hiện đặc tính tập trung, phân định và soi rõ của cung này.

Trực giác, antahkarana và tri thức trực tiếp

Ảo tưởng phải được điểm đạo đồ cô lập rồi xua tan, nhưng trí cụ thể thông thường không đủ sức hoàn thành việc ấy. Antahkarana cần được xây dựng để mở đường tiếp cận trực giác, nhờ đó một cách hiểu từng tồn tại nhiều năm có thể đột ngột nhường chỗ cho nhận biết rõ ràng hơn. Trí Tuệ Siêu Việt được đồng nhất với trực giác và liên hệ đặc biệt với phương diện cao của Sao Thủy, đồng thời có sự hỗ trợ của Sao Mộc và Sao Hải Vương. Khác với suy luận tuần tự, trực giác đem lại tri thức trực tiếp trong một chớp sáng; việc chứng nghiệm chủ thể và khách thể là một minh họa cho sự khác biệt giữa hiểu bằng lý luận và thực sự nhận biết.

Đức Jesus và sự tan biến của Thượng đế tách biệt

Theo đoạn trích của Chân sư DK, tiếng kêu trên thập giá đánh dấu việc Đức Jesus vượt qua ảo tưởng về một Thượng đế mang tính cá nhân và tồn tại khách quan bên ngoài mình. Ở lần điểm đạo thứ tư, trực giác liên hệ với cung bốn và cõi Bồ đề đem đến chứng nghiệm rằng Ngài chính là Thượng đế, chứ không chỉ chấp nhận điều ấy bằng lý luận. Cảm giác mất mát thoáng qua vẫn có thể xuất hiện trong phàm ngã đang chết, ngay giữa sự chứng nghiệm hợp nhất ấy. Một cách lý giải được đề xuất là tiếng kêu có thể biểu lộ sự kinh ngạc trước việc quan niệm cũ về Thượng đế tan biến, đồng thời có liên hệ với sự ra đi của Thái dương Thiên Thần; mối liên hệ sau là nhận định riêng của Thầy MDR.

Đức Christ, Đức Jesus và các cấp độ hợp tác

Những “sợi chỉ vàng” trong câu chuyện Kinh Thánh được liên hệ với cuộc đời Đức Christ, còn những “sợi chỉ bạc” liên hệ với cuộc đời Đức Jesus; hai tuyến này đôi khi hòa lẫn trong cách trình bày. Theo cách phân biệt được đề xuất, lời khẳng định hợp nhất trong chương XVII Phúc Âm Thánh John chủ yếu thuộc về Đức Christ, khi Ngài tiến gần lần điểm đạo thứ sáu, còn Đức Jesus tiến đến lần điểm đạo thứ tư. Sự hợp tác ấy được mô tả bằng tương quan 6–4, so với tương quan 5–3 giữa Chân sư Jesus và Apollonius of Tyana về sau. Điều kiện tối thiểu được nêu cho hình thức hợp tác trung gian thiêng liêng này là lần điểm đạo thứ hai và sáu cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã đã khai mở hoàn toàn, dù sự hợp tác lúc ấy còn ở cấp độ thấp hơn.

Ảo tưởng tổng hợp cuối cùng và Bản Thể duy nhất

Ảo tưởng tổng hợp cuối cùng được diễn giải là màn che ngăn con người nhận ra sự tổng hợp, tính duy nhất và sự đồng nhất của mình với Thượng đế. Sự chứng nghiệm này vượt qua cả những đồng nhất giới hạn với linh hồn, Tam Nguyên Tinh Thần hay Chân Thần trong hiện thể chân thần, để nhận ra Bản Thể. Điều đó không có nghĩa cá nhân trở thành toàn bộ ngôi vị của Hành Tinh Thượng Đế, mà là con người và Hành Tinh Thượng Đế cùng có nền tảng Bản Thể duy nhất. Chân sư DK giới hạn sự chấm dứt ảo tưởng này trong phạm vi nhân loại; những ảo tưởng cao hơn vẫn thuộc kinh nghiệm của các cấp tiến hóa vượt xa phạm vi ấy.

Sự giải thoát ở lần điểm đạo thứ tư

Lần điểm đạo thứ tư đánh dấu một sự giải thoát lớn: thể nguyên nhân bị hủy diệt và Thái dương Thiên Thần trở về tâm Mặt Trời. Sự chuyển tiếp được mô tả như bước ra khỏi thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế để đi vào thể dĩ thái vũ trụ, thoát khỏi sự ràng buộc với vật chất của hệ mặt trời trước. Khi ấy, thể trí trở thành công cụ trong sạch phản chiếu ánh sáng và chân lý, còn ảo cảm không tiếp tục chế ngự con người. Một nhận xét riêng đề xuất rằng trải nghiệm lần điểm đạo này có thể mang nhiều hình thức, từ chịu khổ hình đến cô lập và tham thiền, chứ không nhất thiết lặp lại sự đóng đinh.

Thể cảm dục phai mờ và chất liệu cảm dục vẫn tồn tại

Chân sư DK gọi thể cảm dục là một ảo tưởng và mô tả nó như sự xác định của thể trí còn ảo tưởng về tổng thể dục vọng của con người đang lâm phàm. Khi ảo tưởng và ảo cảm được khắc phục, thể cảm dục phai mờ trong tâm thức vì không còn dục vọng dành cho cái ngã riêng rẽ, còn sự pha trộn trí–dục vọng cũng biến mất. Theo cách lý giải của Thầy MDR, điều này không có nghĩa chất liệu cảm dục bị xóa bỏ, mà là những hình thái hỗn loạn do dục vọng sai lạc tạo thành không còn chi phối. Chất liệu ấy vẫn có thể làm công cụ cho tình thương, ánh sáng và sự phản chiếu trực giác, như trong công việc của một số Nhóm hạt giống.

Linh hồn, thể trí và bộ não sau sự thanh lọc

Sau khi yếu tố trí–dục vọng biến mất, con người được mô tả chủ yếu qua mối liên hệ linh hồn–thể trí–bộ não trong bản chất thân thể. Một cách lý giải được đề xuất là thể trí phản chiếu linh hồn trên Cõi thượng trí, còn thể cảm dục đã thanh lọc phản chiếu trực giác trên cõi Bồ đề. Tuy nhiên, Chân sư DK gọi đây là một huyền nhiệm chỉ có thể thấu hiểu sau khi con người làm chủ phàm ngã và loại bỏ các phương diện ảo cảm, ảo tưởng. Lý thuyết, dù đúng, chưa thay thế được chứng nghiệm do thực hành và làm chủ mang lại.

Loại bỏ dục vọng riêng rẽ bằng thực hành

Việc loại bỏ dục vọng ở đây nhắm đến dục vọng của cái ngã riêng rẽ đối với đời sống hiện tượng, vốn dẫn đến đau khổ khi con người ham muốn điều không chân thật. Dục vọng xét như một nguyên khí vũ trụ vẫn tồn tại, ngay cả nơi những Đấng Thượng đế cao cả; vấn đề nằm ở đối tượng và hướng vận động của nó. Lời thúc giục bắt tay vào công việc hàm ý rằng chỉ khi tâm thức thay đổi, huyền nhiệm mới dần sáng tỏ. Thể trí và cảm xúc cần trở nên trong suốt, tiếp nhận được năng lượng từ các cõi dĩ thái cao hơn, thay vì tiếp tục bóp méo chúng.

Sự tĩnh lặng mở đường cho trực giác

Trực giác là cực đối lập của ảo tưởng: lý trí thuần khiết, tri thức trực tiếp và sự nhận biết các mối liên hệ nguyên mẫu đúng như chúng hiện hữu. Khi ảo cảm và ảo tưởng giảm đi, trực giác có thể biểu lộ; ngược lại, một tia trực giác đi vào tâm thức cũng giúp làm suy yếu hai chướng ngại ấy. Theo Raja Yoga và Yoga Sutra, việc làm lắng dịu những biến động của hạ trí cùng thể cảm dục cho phép chân lý của linh hồn phản chiếu rõ ràng. Đặc biệt, cần làm yên khuynh hướng liên tục tạo Hình tư tưởng để ánh sáng từ các thế giới tinh thần cao hơn truyền xuống mà không bị lệch hướng.

Các cung, hành tinh và công việc loại bỏ chướng ngại

Sự tĩnh lặng của cung hai được đối chiếu với hoạt động không ngừng của cung ba, nhất là nơi những người có khuynh hướng trí tuệ hoạt động mạnh. Theo cách phân loại tổng quát được nêu, phàm ngã thuộc cung ba, linh hồn thuộc cung hai và Chân Thần thuộc cung một, bất kể cung riêng thực tế của từng trường hợp. Trong phần liên hệ chiêm tinh, Sao Thổ xác định và buộc con người đối diện chướng ngại, còn Sao Diêm Vương loại bỏ chúng. Những thoáng tự do đột ngột được liên hệ với Sao Thiên Vương, trong khi cuộc đấu tranh của người chí nguyện được đặt trong tương quan giữa nhân loại và dấu hiệu Hổ Cáp.

Những chớp trực giác và sự mở rộng chân lý

Những người chí nguyện chân chính đôi lúc trải qua chớp trực giác làm sáng tỏ bản chất chân lý và đường nét tương lai, khiến đời sống không còn hoàn toàn như trước. Những kinh nghiệm ấy thường trở thành ký ức quyết định, được nhắc lại vì chúng xác nhận giá trị của cuộc đấu tranh tinh thần. Tuy nhiên, sự thấu hiểu chân lý tiếp tục được tinh luyện qua nhiều cấp độ: điều hôm nay có vẻ bao quát có thể chỉ là một phần nhỏ của chân lý rộng lớn hơn. Việc tiếp nhận ấn tượng Bồ đề đánh dấu bước vượt khỏi những bóp méo của các hiện thể đậm đặc để tiếp cận phạm vi các hiện thể có nguyên khí.

Mười Nhóm hạt giống và tiến trình dài hạn

Kế hoạch của Chân sư DK dự kiến mười Nhóm hạt giống, mỗi nhóm có chín người, riêng nhóm thứ mười mang tính tổng hợp và huyền thuật được nhớ lại là có 27 người. Công việc mới tiến đến nhóm thứ năm với ba thành viên thì Chiến tranh Thế giới thứ hai làm gián đoạn; năm 1939, các nhóm được tái tổ chức theo hình thức tập trung hơn. Dự án được mô tả kéo dài 275 năm, bắt đầu khoảng năm 1925 và hướng đến năm 2200. Mười nhóm này được xem là mô hình phụng sự nhân loại trong những lĩnh vực khác nhau, với triển vọng tiếp tục ngoại hiện trong tương lai.

Tìm hiểu Đường Đạo và trách nhiệm học hỏi

Bốn định hướng thực hành được nhắc lại là tìm hiểu Đường Đạo, tuân theo những thôi thúc bên trong của linh hồn, không lệ thuộc sự khôn ngoan thế tục và nêu gương. Việc đặt câu hỏi có thể hướng đến cả nhóm học hỏi lẫn minh triết sâu hơn trong chính mình. Sự hiểu biết hiện tại vẫn chỉ ở mức sơ khởi trước huyền bí học rộng lớn, nên tinh thần tìm hiểu cần đi cùng việc kiểm chứng bằng kinh nghiệm.

Phá thai, trách nhiệm sinh sản và giới hạn của nguồn giáo lý

Theo phần trả lời của Thầy MDR, chưa tìm thấy phát biểu trực tiếp của Chân sư DK về phá thai; giáo lý được biết đến chủ yếu nhấn mạnh tính phức tạp và trách nhiệm nghiêm túc trong vấn đề tính dục của nhân loại. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, phá thai vì sự thuận tiện có lẽ không phù hợp với các định luật tự nhiên và các thế giới cao hơn, xét đến trách nhiệm đối với những linh hồn đang chờ nhập thể. Đồng thời, các hoàn cảnh giảm nhẹ có thể vô cùng phức tạp, và sự bình đẳng giữa nam và nữ phải được bảo đảm, không thể chấp nhận việc hạ phụ nữ xuống địa vị thứ yếu. Quan điểm của Mother Teresa và Helena Roerich được nhắc đến như những lập trường phản đối phá thai, nhưng không được xem là phát biểu thay cho Chân sư DK.

Trách nhiệm đối với các linh hồn sắp nhập thể

Việc đưa linh hồn vào môi trường thích hợp đặt ra trách nhiệm đối với những người làm cha mẹ; qua nhiều kiếp sống, mỗi người đều đã trải nghiệm cả vai trò nam và nữ. Vấn đề đang bàn không có dẫn chiếu cụ thể nào từ Chân sư DK mà Thầy MDR biết đến, nên những sở thích và quan điểm cá nhân không được trình bày như giáo lý đã xác lập. Theo lời Chân sư DK được dẫn lại, tình trạng hiện nay rất hỗn độn và ngay cả Thánh đoàn cũng chưa biết kết cuộc sẽ ra sao.

Cung bảy và phương thức sinh thành tương lai

Thời đại cung bảy, dưới ảnh hưởng Sao Thiên Vương và mối liên hệ với trung tâm xương cùng, được kỳ vọng sẽ giúp giải quyết vấn đề sinh sản và khẩn cầu những linh hồn phù hợp với cha mẹ. Một giáo huấn được dẫn lại nói rằng trong tương lai, trẻ em sẽ không sinh ra bằng phương thức thông thường mà thông qua sự tương tác của trung tâm cổ họng. Cách diễn giải được đề xuất là các hiện thể dành cho trẻ em có thể được “hát” vào hiện tồn, nhờ khả năng ngưng tụ hình tướng bằng huyền thuật của trung tâm này. Đây là một triển vọng còn rất xa đối với nhân loại hiện nay.

Từ ý tưởng đến lý tưởng và ngẫu tượng

Một hệ tư tưởng chính trị hoặc kinh tế không nhất thiết là ảo tưởng; vấn đề xuất hiện khi cách tiếp cận sai lệch biến nó thành ngẫu tượng. Chuỗi ý tưởng, lý tưởng và ngẫu tượng cho thấy quá trình một ý tưởng trở thành lý tưởng có cả yếu tố trí tuệ lẫn cảm xúc, rồi có thể bị cố định thành một công thức độc tôn. Trí trừu tượng có thể phản ánh tương đối trung thành ý tưởng thuần khiết, trong khi trí cụ thể dễ thu hẹp ý tưởng khi định hình nó. Khi một công thức loại trừ mọi phương diện khác, sự định hình trở thành giáo điều và tư duy cứng nhắc.

Biểu tượng tôn giáo và giới hạn của trí cụ thể

Những tranh chấp về việc phép rửa phải nhấn chìm toàn bộ đầu hay chỉ cần dùng nước minh họa cách hình thức cụ thể che khuất ý tưởng lớn về sự thanh tẩy. Con số hơn 400 giáo phái Kitô giáo được nêu để cho thấy mức độ phân chia quanh các cách định hình khác nhau của giáo lý. Tương tự, việc một số người phương Tây xem nghi lễ tại India hoặc China chỉ là thờ tượng đồng, tượng đá bộc lộ sự thiếu thấu hiểu về chức năng của biểu tượng. Ngẫu tượng hóa không chỉ nằm ở vật được thờ mà còn ở sự cố chấp của chính thể trí đối với cách hiểu riêng.

Mở rộng trí tuệ và tháo gỡ sợ hãi

Trí cụ thể vẫn cần thiết, nhưng giống dân phụ thứ sáu của Giống dân gốc thứ năm sẽ đưa con người đến gần trí trừu tượng hơn. Các trường huyền bí học mới có nhiệm vụ mở rộng tầm nhìn vượt khỏi trí cụ thể, gắn với việc xây dựng antahkarana. Theo kinh nghiệm riêng của Thầy MDR, nỗ lực giáo dục theo hướng này đôi khi thành công nhưng thường gặp sức kháng cự lớn, vì người ta sợ rời bỏ những niềm tin đem lại cảm giác an toàn, chẳng hạn khẳng định rằng không tin Đức Jesus thì phải xuống địa ngục. Sợ hãi, tính cố định và Sao Thổ được liên hệ với nhau; sự rút lui của cung sáu cùng sự nhập thể ngày càng nhiều của linh hồn cung bảy được kỳ vọng sẽ giúp tư duy linh hoạt hơn trong thế kỷ tới.

Ba kỹ thuật ứng với ba loại chướng ngại

Kỹ Thuật của Hiện Diện dùng để xua tan ảo tưởng, Kỹ Thuật Ánh sáng dùng để làm tiêu tan ảo cảm, còn Kỹ Thuật Điềm Nhiên dùng để phân tán ảo lực. Sách Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới tập trung chủ yếu vào thể cảm dục vì đây là nơi phần lớn vấn đề của nhân loại tập trung. Đối với đệ tử đang tìm hiểu ảo tưởng, Kỹ Thuật của Hiện Diện trở nên đặc biệt thích hợp. Bài thiền sử dụng tại Morya Federation là sự điều chỉnh nhẹ của Thầy MDR từ những gợi ý tham thiền về kỹ thuật này của Chân sư DK.

Nhận diện ảo tưởng và hợp nhất các cấp độ trí tuệ

Việc xử lý ảo tưởng đòi hỏi phải đối diện, cô lập, vượt qua và xua tan nó; trong nhiều sai lầm đan xen, xác định đúng ảo tưởng nổi trội là một khó khăn riêng. Trí trừu tượng, rồi đến trực giác, cung cấp bức tranh rộng hơn để vượt khỏi giới hạn của cách tiếp cận hiện tại. Ngoài công thức “ba trí hợp nhất”, một khả năng hợp nhất năm phương diện được nêu ra: trí cụ thể, Con của Trí Tuệ, trí trừu tượng, Trí Tuệ Siêu Việt và trí tuệ Niết Bàn trên cõi atma. Đức Phật được xem là hình mẫu có thể tiếp cận toàn bộ những phương diện ấy; bước thực tiễn hiện nay là xây dựng antahkarana một cách nghiêm túc khi tiến gần lần điểm đạo thứ hai và bắt đầu đưa trực giác vào hoạt động.

Hơi thở và trật tự trong trường dĩ thái

Ảo lực được mô tả là tình trạng các năng lượng hoạt động hỗn loạn, thiếu kiềm chế và không phản ánh mô hình cao hơn. Hơi thở là một nguyên lý tạo trật tự, giúp thiết lập nhịp điệu trong trường dĩ thái. Khi ý tưởng cao hơn đi xuống bộ não dĩ thái rồi bộ não hồng trần, trật tự này cho phép hình ảnh tương ứng với nguyên mẫu biểu hiện mà không bị các năng lượng hỗn loạn xé tan. Nhờ đó, thể dĩ thái có thể trở thành phương tiện tiếp nhận và thể hiện chính xác hơn.

Sao Thủy và các phương thức nhận biết

Sự kết hợp Sao Thổ với Sao Thủy thường đem lại tư duy hợp lý và suy luận tuần tự; lá số Einstein với hai hành tinh đồng vị được nêu làm ví dụ, đồng thời vẫn ghi nhận những ý tưởng mới mẻ của ông. Sao Thiên Vương được xem là quãng tám cao hơn của Sao Thủy, và sự kết hợp của hai hành tinh gắn với tia chớp trực giác cùng sự mặc khải của lý trí thuần khiết. Sao Hải Vương kết hợp Sao Thủy được liên hệ với khả năng vượt vòng-giới-hạn, đồng hóa với người hoặc đối tượng khác và nhận ra tính đồng nhất. Ba kỹ thuật hướng đến việc làm cho thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí cùng đạt khả năng tiếp nhận đúng đắn ý tưởng mang chân lý.

Khủng hoảng chính trị và sự phân biện

Theo nhận định riêng của Thầy MDR, kết quả bầu cử tại Hoa Kỳ nằm trong một cuộc khủng hoảng toàn cầu, nơi dục vọng phàm ngã có thể khiến con người bóp méo chân lý để đạt mục tiêu. Hình ảnh thanh gươm của Đức Christ được liên hệ với sự phân biện giữa thiện và ác, chân thật và giả dối, chánh đạo và tả đạo. Chân sư DK từng cảnh báo khả năng trì hoãn 300 năm nếu nhân loại không đáp ứng đúng hướng tiến hóa, kéo theo nhiều đau khổ. Cuộc đấu tranh giữa nguyên tắc và nỗi sợ mất chức được nhận thấy trong giới cầm quyền; dự đoán riêng cho hai năm tiếp theo là xung đột mạnh giữa hai huynh đệ của dấu hiệu Song Tử tại Hoa Kỳ, cùng những biến động trong quan hệ đồng minh trên thế giới.

Linh hồn Hoa Kỳ và ánh sáng chàm

Linh hồn cung hai của Hoa Kỳ được liên hệ với Sao Mộc, màu chàm đậm và khả năng mở rộng tầm nhìn để soi sáng con đường cho các quốc gia khác. Trong buổi canh thức kéo dài 17 giờ cùng Tuija, trọng tâm là tăng cường ảnh hưởng ấy thay cho sắc đỏ của Sao Hỏa và động lực phàm ngã. Abraham Lincoln được nêu như hình mẫu hướng đến tổng hợp, với Chân Thần cung hai, phàm ngã cung hai và linh hồn cung một. Việc bảo vệ những người đang biểu hiện phẩm tính linh hồn được đặt trong công việc nội tâm qua ánh sáng, các Thái dương Thiên Thần và mãnh lực của Đức Christ.

Ảo cảm cai trị và lý tưởng dân chủ

Bài tham thiền tập trung vào “Ảo cảm của sự cai trị, của sự độc tài hoặc của sự kiểm soát rộng rãi”, bên cạnh những ảo cảm cung một về sức mạnh cá nhân và vận mệnh ích kỷ. Mục tiêu là làm tiêu tan khuynh hướng áp đặt quyền lực và củng cố lý tưởng dân chủ, nơi mỗi cá nhân có giá trị và có quyền biểu đạt ý chí qua lời nói, văn bản hoặc lá phiếu. Theo cách diễn giải được trình bày, dân chủ xuất phát từ Thánh đoàn, còn nguyên lý quân chủ xuất phát từ Shamballa chỉ có thể được thấu hiểu đúng khi nhân loại hiểu sâu hơn về ý chí. Việc thiết lập chế độ quân chủ cá nhân trong thời đại hiện nay được xem là đi ngược Thiên Cơ.

Bảo vệ nhóm và dung hợp ba ánh sáng

Bài thiền bắt đầu bằng sự hợp nhất nhóm trong im lặng và công thức bảo vệ Thập Giá Thiên Tính, xác lập vị thế linh hồn làm việc trong ánh sáng mà bóng tối không thể chạm tới. Ánh sáng của vật chất được nâng lên cõi trí để tiếp sinh lực cho ánh sáng trí tuệ, rồi ánh sáng linh hồn được hình dung đi xuống dung hợp với cả hai. Điểm hội tụ được đề xuất nằm trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, nơi ba ánh sáng trở thành một công cụ nhận biết và làm tiêu tan ảo cảm. Một mantram khẳng định tính duy nhất của ánh sáng, tiếp theo là ba lần xướng linh từ OM, củng cố sự dung hợp này.

Chùm sáng nhóm và việc làm tiêu tan ảo cảm

Từ ba ánh sáng hợp nhất, một chùm đèn pha được hình dung phóng chiếu qua trung tâm ajna cá nhân và ajna nhóm vào cõi cảm dục để phát hiện những màn che, biến dạng và chướng ngại đối với chân lý. Ý chí tinh thần từ Chân Thần, Tam Nguyên Tinh Thần, viên ngọc trong Hoa Sen Chân Ngã và trung tâm đầu tăng cường sức mạnh cho chùm sáng. Các Quyền năng từ lần lượt hướng đến việc ngăn biểu hiện, vô hiệu hóa phẩm tính tác động lên nhân loại và phá hủy sự sống duy trì ảo cảm cai trị, độc tài và kiểm soát rộng rãi. Năm phút im lặng dành cho việc hình dung chùm sáng xuyên thấu, làm suy yếu và làm tiêu tan ảo cảm ấy.

Định luật Tự Do và giới hạn của việc áp đặt ý chí

Theo Định luật Tự Do từ Sirius được dẫn lại, Thánh đoàn được phép thuyết phục nhưng không được cưỡng ép nhân loại; ngay cả Đức Sanat Kumara cũng thường không áp đặt ý chí dù có quyền năng thực hiện điều đó. Một ngoại lệ khả dĩ được nêu cho những thời điểm hành tinh trọng đại, như chuyển đổi Giống dân gốc, hình tướng hoặc các giới. Trong tiến trình thông thường, những ý chí cá nhân cần có không gian phát triển và kết hợp thành ý chí chung của nhân loại. Việc thu hẹp ý chí của số đông vào ý chí của một người hoặc một nhóm nhỏ bị xem là làm suy giảm nghiêm trọng chủ đích của các quyền năng cao hơn, vì vậy bảo vệ dân chủ trở thành trách nhiệm của những người thực hành Minh Triết Ngàn Đời.

Thu hồi chùm sáng và tiếp tục phụng sự nội tâm

Cuối bài thiền, chùm sáng được thu hồi từ hoạt động nhận biết và phá hủy trên cõi cảm dục về ba ánh sáng hợp nhất trên cõi trí. Ba lần xướng linh từ OM được chỉ định cho ba phạm vi cần giảm thiểu ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực. Công việc tiếp tục bằng cách ngày càng đồng hóa với linh hồn phía sau hậu trường, tác động lên 18 hoặc 21 cõi phụ thấp để chuyển đổi các mối liên hệ cho đến khi những quan hệ đúng đắn được thiết lập.

Text GAW 94 – Văn bản GAW 94

Glamour: A World Problem pages 65–67 – Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới trang 65–67

[1] I have here outlined for you the causes and the various types of illusion to which the disciple is prone. In its pure form, this illusion has to be met and some day surmounted; it has to be isolated and dispelled by the initiate. [2] It was the final successful effort to do this that led Jesus upon the Cross to cry out in words of apparent distress. [3] He then finally dissipated the illusion of the personal, objective [Page 66] Deity. [4] At that moment, He entered fully into the consciousness that He was Himself God, and naught else; that [5] the theory of unity outlined by Him in the Gospel of [6] St. John, chapter XVII, [7] was indeed and in truth a fact in His Own consciousness, established unalterably. [8] Yet, nevertheless, in this infinite and supreme realization, there entered for a moment a sense of loss and of negation, [9] forcing from His dying Personality that tremendous utterance which has bewildered, and at the same time comforted, so many. [10] This signified the surmounting of the final synthetic illusion. [11] When that has been dispelled, [12] illusion, as it can be understood in the human family, disappears. [13] The man stands free. [14] The illusion of the mental plane can no longer deceive him. His mind is a pure instrument for the reflection of light and of truth. [15] The glamours of the astral plane have no further hold over him, [16] and the astral body itself [17] fades out.

[1] Ở đây, Tôi đã phác họa cho các bạn những nguyên nhân và các loại ảo tưởng khác nhau mà người đệ tử dễ mắc phải. Trong hình thức thuần túy của nó, người đệ tử phải đối diện với ảo tưởng này và một ngày nào đó phải vượt qua nó; điểm đạo đồ phải cô lập và xua tan nó. [2] Chính nỗ lực cuối cùng thành công trong việc này đã khiến Đức Jesus trên Thập Giá thốt lên những lời dường như đầy đau khổ. [3] Khi ấy, cuối cùng Ngài đã làm tiêu tan ảo tưởng về một [Page 66] Thượng đế mang tính cá nhân, khách quan. [4] Vào khoảnh khắc ấy, Ngài hoàn toàn bước vào tâm thức rằng chính Ngài là Thượng đế, chứ không là gì khác; rằng [5] lý thuyết về sự hợp nhất mà Ngài đã phác họa trong Phúc Âm [6] Thánh Gioan, chương XVII, [7] quả thực là một sự thật trong chính tâm thức Ngài, đã được xác lập một cách bất biến. [8] Tuy nhiên, trong sự chứng nghiệm vô hạn và tối thượng này, một cảm giác mất mát và phủ định đã thoáng xuất hiện, [9] buộc phàm ngã đang hấp hối của Ngài phải thốt ra lời mãnh liệt ấy, lời đã khiến biết bao người hoang mang, đồng thời cũng an ủi họ. [10] Điều này biểu thị việc vượt qua ảo tưởng tổng hợp cuối cùng. [11] Khi ảo tưởng ấy đã được xua tan, [12] ảo tưởng, theo cách gia đình nhân loại có thể thấu hiểu, sẽ biến mất. [13] Con người được tự do. [14] Ảo tưởng của cõi trí không còn có thể lừa dối y. Thể trí của y là một công cụ thuần khiết để phản chiếu ánh sáng và chân lý. [15] Những ảo cảm của cõi cảm dục không còn chi phối y, [16] và chính thể cảm dục [17] dần tan biến.

[18] You will remember that I hinted to you in A Treatise on White Magic that the astral body itself was an illusion. [19] It is the definition of the illusory mind upon the mental plane of that which we call the sum total of the desires of the man in incarnation. [20] When illusion and glamour have both been overcome, the astral body fades out in the human consciousness. [21] There is no desire left for the separated self. [22] Kama-manas [23] disappears, and man is then regarded as consisting essentially of soul-mind-brain, within the body nature. [24] This is a great mystery, [25] and its significance can only be understood when a man has controlled his personality and eliminated all aspects of glamour and of illusion. [26] This is accomplished by accomplishing. This mastery is achieved by mastering. [27] This elimination of desire [28] is brought about by conscious eliminating. [29] Get therefore to work, my brothers, and clarification of the problem must inevitably ensue.

[18] Các bạn hẳn còn nhớ rằng trong Luận về Chánh Thuật, Tôi đã gợi ý với các bạn rằng chính thể cảm dục là một ảo tưởng. [19] Đó là cách thể trí chịu ảo tưởng định nghĩa, trên cõi trí, điều mà chúng ta gọi là tổng thể những dục vọng của con người đang lâm phàm. [20] Khi cả ảo tưởng lẫn ảo cảm đều đã được khắc phục, thể cảm dục dần tan biến trong tâm thức con người. [21] Không còn dục vọng nào dành cho cái ngã chia rẽ. [22] Trí-cảm [23] biến mất, và khi ấy con người được xem là về căn bản gồm linh hồn–thể trí–bộ não, trong bản chất thân thể. [24] Đây là một huyền nhiệm lớn lao, [25] và chỉ khi con người đã kiểm soát phàm ngã của mình và loại bỏ mọi phương diện của ảo cảm cùng ảo tưởng, y mới có thể thấu hiểu thâm nghĩa của huyền nhiệm này. [26] Điều này được hoàn thành bằng chính việc hoàn thành. Sự làm chủ này đạt được bằng chính việc làm chủ. [27] Việc loại bỏ dục vọng này [28] được thực hiện qua hành động loại bỏ có ý thức. [29] Các huynh đệ của Tôi, vì vậy hãy bắt tay vào việc, và vấn đề tất yếu sẽ trở nên sáng tỏ.

[30] [Page 67] That which is the opposite pole of illusion is, as you well know, the intuition. [31] The intuition is that recognition of reality which becomes possible as glamour and illusion disappear. [32] An intuitive reaction to truth will take place when—along a particular line of approach to truth—the disciple has succeeded in quieting the thoughtform-making propensities of the mind, so that light can flow directly, and without any deviation, from the higher spiritual worlds. [33] The intuition can begin to make its presence felt when [34] glamour no longer grips the lower man, and a man’s low or high desires, interpreted emotionally or self- centredly, can no longer come between his brain consciousness and the soul. [35] Fleeting moments of this high freedom [36] come to all true aspirants at times, during their life struggle. [37] They have then an intuitive flash of understanding. The outline of the future and the nature of truth sweeps momentarily through their consciousness, and life is never again exactly the same thing. They have had their guarantee that all struggle is warranted and will evoke its adequate reward.

[30] [Page 67] Như các bạn biết rõ, trực giác là cực đối lập của ảo tưởng. [31] Trực giác là sự nhận biết thực tại chỉ trở nên khả hữu khi ảo cảm và ảo tưởng biến mất. [32] Một đáp ứng trực giác với chân lý sẽ diễn ra khi—trên một con đường tiếp cận chân lý cụ thể—người đệ tử đã thành công trong việc làm lắng dịu những khuynh hướng tạo hình tư tưởng của thể trí, để ánh sáng có thể tuôn chảy trực tiếp, không chút lệch hướng, từ các thế giới tinh thần cao siêu. [33] Trực giác có thể bắt đầu biểu lộ sự hiện diện của nó khi [34] ảo cảm không còn kìm giữ phàm nhân, và những dục vọng thấp hay cao của con người, được diễn giải theo cảm xúc hoặc theo lối tập trung vào bản thân, không còn có thể xen vào giữa tâm thức bộ não của y và linh hồn. [35] Những khoảnh khắc thoáng qua của sự tự do cao cả này [36] đôi khi đến với mọi người chí nguyện chân chính trong cuộc đấu tranh của đời họ. [37] Khi ấy, họ có một tia chớp trực giác của sự thấu hiểu. Đường nét của tương lai và bản chất của chân lý thoáng lướt qua tâm thức họ, và cuộc sống từ đó không bao giờ còn hoàn toàn như trước. Họ đã có được sự bảo đảm rằng mọi cuộc đấu tranh đều có cơ sở chính đáng và sẽ gợi lên phần thưởng tương xứng.

Glamour Webinar 94 – Webinar về Ảo cảm 94

Michael D. Robbins • Book pages 65–67

Michael D. Robbins • Trang sách 65–67

Hi, everybody, and good evening here from the Temple of Silence, 8 o'clock here in Finland and different times for you, I know. We have, Tuija and I switched to the 6 o'clock GMT time, both morning and evening. It seems to be what we can best handle. But I know that no time is perfectly convenient for everybody. This morning, we continued the science of triangles work as we do every two weeks, and I see that some of you were there and thank you for attending.

Xin chào tất cả các bạn, và xin chúc các bạn buổi tối tốt lành từ Đền Im Lặng. Ở Phần Lan lúc này là 8 giờ tối, còn nơi các bạn thì tôi biết là những giờ khác nhau. Tuija và tôi đã chuyển sang khung giờ 6 giờ GMT, cả sáng lẫn tối. Có vẻ đó là khung giờ phù hợp nhất với chúng tôi. Nhưng tôi biết không có giờ nào hoàn toàn thuận tiện cho tất cả mọi người. Sáng nay, chúng ta đã tiếp tục công việc về khoa học các tam giác như vẫn làm hai tuần một lần, và tôi thấy một số các bạn đã có mặt ở đó. Cảm ơn các bạn đã tham dự.

We worked on the idea of sensitivity, sensitivity to what is within oneself, sensitivity to the past and sensitivity to the distant future, and the different triangular relationships on all levels that had to do with that type of sensitivity. I guess one might say that everything we're doing now to increase our consciousness is all about increasing our sensitivity and being more aware to the revelation, which is always present if we could, but, realize it. Realization, revelation, it's always here, and it's only our dullness which prevents us from picking things up the way they are, and of course, glamour is blocking a lot. Our own intense emotions and desires aimed at that which is unworthy or not of value or untrue, really stops the reality from dawning on our consciousness.

Chúng ta đã tìm hiểu ý tưởng về tính nhạy cảm: nhạy cảm với những gì ở bên trong bản thân mình, nhạy cảm với quá khứ và nhạy cảm với tương lai xa, cùng những mối quan hệ tam giác khác nhau trên mọi cấp độ có liên quan đến loại nhạy cảm ấy. Tôi nghĩ có thể nói rằng tất cả những gì chúng ta đang làm lúc này để mở rộng tâm thức đều nhằm gia tăng tính nhạy cảm và nhận biết rõ hơn sự mặc khải vốn luôn hiện diện, giá như chúng ta có thể nhận ra. Sự nhận biết, sự mặc khải luôn ở đây, và chỉ có sự trì độn của chúng ta mới ngăn chúng ta nắm bắt mọi sự đúng như chúng vốn là; tất nhiên, ảo cảm cũng đang che chắn rất nhiều. Những cảm xúc và dục vọng mãnh liệt của chính chúng ta, hướng vào những gì không xứng đáng, không có giá trị hoặc không chân thật, thực sự ngăn thực tại bừng sáng trong tâm thức chúng ta.

So, before we begin, I'd just, like to have a little alignment, if we can do that, and then we have some interesting material about synthetic illusion. The section on illusion, I think, is not easy and the mind is, in a way, more complex than the emotions, and I think, finally, it will be more demanding to rid ourselves of illusion even than glamour. I think the time is right for students of our type to be as rid of glamour as may be possible. But illusion is another matter and is even sustained in a very refined way, as I've mentioned before, up to the ninth initiation. When we finally leave the cosmic physical plane on the Way of Higher Evolution, even if we may return later for service purposes, the illusions with which we are familiar are certainly banished, and many illusions too high for us even to conceive. As a matter of fact, mostly those high illusions are what we call our spiritual state. Well, it's an interesting word, illusion, and as we can tell from our readings during the last weeks, DK is very specific about them. So, we'll review them a little bit.

Trước khi bắt đầu, tôi muốn chúng ta chỉnh hợp đôi chút, nếu có thể, rồi chúng ta sẽ tìm hiểu một số tài liệu thú vị về ảo tưởng tổng hợp. Tôi nghĩ phần nói về ảo tưởng không dễ, và theo một nghĩa nào đó, thể trí phức tạp hơn cảm xúc; tôi nghĩ cuối cùng, việc thoát khỏi ảo tưởng thậm chí sẽ đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn việc thoát khỏi ảo cảm. Tôi nghĩ đã đến lúc những đạo sinh như chúng ta cần thoát khỏi ảo cảm đến mức tối đa có thể. Nhưng ảo tưởng lại là chuyện khác và, như tôi đã đề cập trước đây, nó vẫn tồn tại dưới một hình thức hết sức tinh vi cho đến tận lần điểm đạo thứ chín. Khi cuối cùng chúng ta rời cõi hồng trần vũ trụ trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, dù sau đó có thể trở lại để phụng sự, những ảo tưởng quen thuộc với chúng ta chắc chắn đều đã bị xua tan, cùng với nhiều ảo tưởng quá cao siêu đến nỗi chúng ta thậm chí không thể quan niệm nổi. Thực ra, phần lớn những ảo tưởng cao siêu ấy chính là điều chúng ta gọi là trạng thái tinh thần của mình. Ảo tưởng là một từ thú vị, và như chúng ta có thể thấy qua những phần đọc trong các tuần vừa qua, Chân sư DK trình bày rất cụ thể về chúng. Vì vậy, chúng ta sẽ ôn lại đôi chút.

I just want to, before we really get into it, I want to welcome Anne Veronica, Annette, Ariel, Carl, Deborah, François, Helen, Jan, Jean-Pierre, Barbara, Gretchen, Joan, Karen, Catherine, Leila, Marianne, Martha, Natnie, or Natniea, Nienke, Sam, good to see you Sam, Yvonne, and Zenaidi, and here on staff, make sure I don't wander into the forest or start talking without having any sound on that kind of thing. BL is there and Michael Stacey is doing his best to be there. He's having a little bit of internet problem at the moment. But anyway, well backed up on the staff side. So, let's just have a little alignment.

Trước khi thực sự đi vào nội dung, tôi muốn chào đón Anne Veronica, Annette, Ariel, Carl, Deborah, François, Helen, Jan, Jean-Pierre, Barbara, Gretchen, Joan, Karen, Catherine, Leila, Marianne, Martha, Natnie, hay Natniea, Nienke, Sam—rất vui được gặp bạn, Sam—Yvonne và Zenaidi; cùng đội ngũ hỗ trợ ở đây, những người bảo đảm tôi không đi lạc vào rừng hay bắt đầu nói khi chưa bật tiếng, những chuyện như thế. BL có mặt, và Michael Stacey đang cố hết sức để tham gia. Hiện giờ ông đang gặp đôi chút trục trặc với mạng internet. Dù sao, phía đội ngũ hỗ trợ cũng đã sẵn sàng hỗ trợ đầy đủ. Vậy chúng ta hãy chỉnh hợp đôi chút.

We're reminding ourselves of the purpose of our gathering. It is said by some who are cynical that we live in a post-truth era, an era in which we are beyond the truth and it just doesn't count and we make things up as we go along. But it has to be remembered that that kind of a cautionary statement that's been around a long time, that the devil is the father of lies. So, when we misrepresent what we do know and pass that on to others, we make the whole foundation of human progress very shaky and people don't know what to believe and they lose their trust and it becomes very difficult to make reasonable progress. So, we want the truth without distortions, modifications and without glamours and without illusions. We want the truth without the chaos of Maya, which prevents us from manifesting the truth properly.

Chúng ta đang nhắc mình nhớ đến mục đích của cuộc hội tụ này. Một số người có thái độ hoài nghi cay nghiệt nói rằng chúng ta đang sống trong một thời đại hậu sự thật, một thời đại mà chúng ta đã vượt ra ngoài sự thật, sự thật chẳng còn quan trọng nữa và chúng ta cứ tùy tiện bịa đặt trong mọi việc. Nhưng cần nhớ lời cảnh tỉnh đã có từ lâu: ma quỷ là cha của sự dối trá. Vì vậy, khi chúng ta trình bày sai lệch điều mình biết rồi truyền điều ấy cho người khác, chúng ta làm cho toàn bộ nền tảng tiến bộ của nhân loại trở nên rất bấp bênh; người ta không biết phải tin điều gì, đánh mất lòng tin, và việc đạt được những tiến bộ hợp lý trở nên hết sức khó khăn. Vì thế, chúng ta muốn có chân lý không bị bóp méo, sửa đổi, không có ảo cảm và không có ảo tưởng. Chúng ta muốn có chân lý không bị sự hỗn loạn của ảo lực ngăn cản chúng ta biểu hiện chân lý một cách đúng đắn.

So, little groups like this, we offer ourselves to use the Hierarchy’s methods to help to dissipate, first, the glamours of the astral plane, wrongly oriented desire for the wrong things, we might say, and then eventually, although fewer are affected, we try to tackle the question of illusion and that will mean a lot of mental training, and we're not there yet, I think. We have to. We have a lot more work to do on that. But anyway, we have come together to offer our mind, our understanding, our soul contact as much as possible for the dissipation of glamour and we are largely using the Technique of Light, the Technique of Light.

Vì vậy, trong những nhóm nhỏ như thế này, chúng ta tự nguyện vận dụng các phương pháp của Thánh đoàn để trước hết góp phần làm tiêu tan những ảo cảm của cõi cảm dục—có thể nói là dục vọng định hướng sai, hướng đến những điều sai trái—rồi cuối cùng, dù số người chịu ảnh hưởng ít hơn, chúng ta cố gắng giải quyết vấn đề ảo tưởng. Điều đó sẽ đòi hỏi rất nhiều sự rèn luyện trí tuệ, và tôi nghĩ chúng ta vẫn chưa đạt đến đó. Chúng ta còn phải làm nhiều việc hơn nữa về phương diện này. Dù sao, chúng ta đã cùng nhau hội tụ để cống hiến thể trí, sự thấu hiểu và sự tiếp xúc linh hồn của mình đến mức tối đa có thể, nhằm làm tiêu tan ảo cảm; và phần lớn chúng ta đang sử dụng Kỹ Thuật Ánh sáng.

There are several techniques and we will be getting into them, Technique of the Presence and the Technique of Divine Indifference. But right now, the Technique of Light is what we're working with, and surely, we all agree that if more light were shed on that which people consider when making decisions, the decisions might be other than they are, but people are blinded by their own passions, their own desires and they shut out a lot of the light. So, we just offer ourselves for this kind of work, basically, is what I'm saying.

Có một số kỹ thuật, và chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu chúng: Kỹ Thuật của Hiện Diện và Kỹ Thuật Điềm Nhiên Thiêng Liêng. Nhưng hiện giờ, chúng ta đang thực hành Kỹ Thuật Ánh sáng, và chắc hẳn tất cả chúng ta đều đồng ý rằng nếu có thêm ánh sáng soi rọi những điều người ta cân nhắc khi ra quyết định, thì các quyết định ấy có thể sẽ khác. Nhưng con người bị chính những đam mê, những dục vọng của mình làm cho mù quáng, và họ ngăn chặn rất nhiều ánh sáng. Vì vậy, điều tôi muốn nói về cơ bản là chúng ta tự nguyện cống hiến cho loại công việc này.

OM

OM

OM

OM

We have, looks like about 24 of us here. I mean, maybe some people are down more than once, possibly, but 24 is quite a number, the number of Shambhala and interestingly, if any of us are interested in the advanced schools of the future, it looks like every one of them will have 24 students and three so-called teachers or facilitators.

Có vẻ ở đây chúng ta có khoảng 24 người. Có lẽ một số người được ghi tên hơn một lần, nhưng 24 là một con số đáng chú ý, con số của Shambhala. Điều thú vị là, nếu trong chúng ta có ai quan tâm đến các trường cao cấp trong tương lai, thì dường như mỗi trường sẽ có 24 đạo sinh và ba người được gọi là huấn sư hoặc người hướng dẫn.

I know it's a long way in the future and we have to do our work for the preparatory schools. They are on the way and they are, I think, reasonably attainable, and they will be esoteric inlets for the light and the love and the power, and with the help of the energies that they let in, we can come a long way to clarifying the atmosphere in which human consciousness has to function. So, let's make our way then, let's make our way through the readings. We're here, this is actually our 94th Glamour Program, Dissipation of Glamour Initiative and our 34th attempt to decipher the academic meanings or at least to approach academically the material that DK gave his Glamour Group, so to speak, over a period of years.

Tôi biết điều ấy còn ở rất xa trong tương lai, và chúng ta phải thực hiện phần việc của mình cho các trường dự bị. Các trường ấy đang dần hình thành và, theo tôi, nằm trong khả năng hiện thực hóa tương đối gần của chúng ta. Chúng sẽ là những cửa ngõ huyền bí để ánh sáng, tình thương và quyền năng đi vào; với sự trợ giúp của những năng lượng mà chúng tiếp nhận, chúng ta có thể tiến được một chặng đường dài trong việc làm trong sáng bầu khí quyển mà tâm thức nhân loại phải hoạt động trong đó. Vậy chúng ta hãy tiếp tục với các phần đọc. Đây thực sự là Chương trình Ảo Cảm lần thứ 94 của chúng ta, thuộc Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm, và là lần thứ 34 chúng ta cố gắng giải mã các ý nghĩa mang tính học thuật, hoặc ít nhất tiếp cận theo phương diện học thuật tài liệu mà Chân sư DK đã trao cho nhóm có thể gọi là Nhóm Ảo Cảm của Ngài trong suốt nhiều năm.

Just to repeat these ways of illusion,

Xin nhắc lại những con đường dẫn đến ảo tưởng này,

1. The way of wrong perception.

1. Con đường nhận thức sai lầm.

2. The way of wrong interpretation.

2. Con đường diễn giải sai lầm.

3. The way of wrong appropriation.

3. Con đường tiếp nhận sai lầm.

4. The way of wrong direction.

4. Con đường định hướng sai lầm.

5. The way of wrong integration.

5. Con đường tích hợp sai lầm.

6. The way of wrong embodiment.

6. Con đường hiện thân sai lầm.

7. The way of wrong application.

7. Con đường áp dụng sai lầm.

Sounds a lot like Master Morya's Castle of Errors. He said it was built at the wrong time and the wrong place by the wrong people with the wrong materials for the wrong purpose.

Nghe rất giống Lâu Đài Sai Lầm của Chân sư Morya. Ngài nói lâu đài ấy được xây dựng sai thời điểm, sai địa điểm, do những người không phù hợp xây bằng những vật liệu không phù hợp, nhằm một mục đích sai lầm.

He was piling up all of these errors in this Castle of Errors and he wondered whenever the errors would finally cease. He also said, as I recall, that when errors are found in books, they are like sores, They are like inflamed areas, areas of irritation, and we all know what it's like to have a sore that is resisting healing. So it's going to contaminate the person who reads the errors in a book. So this is a call for fifth-ray accuracy, and we tend, sometimes to look at the fifth ray and say, oh, do I really have to do that? And the answer is yes. I don't think there's a way to pass the, let's say, from the second to the third initiation without really employing the fifth ray.

Ngài dồn tất cả những sai lầm ấy vào Lâu Đài Sai Lầm này và tự hỏi đến bao giờ những sai lầm ấy mới chấm dứt. Theo tôi nhớ, Ngài còn nói rằng những sai lầm trong sách giống như những vết loét, những vùng sưng viêm, những vùng bị kích ứng; và tất cả chúng ta đều biết một vết loét dai dẳng không chịu lành thì như thế nào. Vì vậy, nó sẽ gây nhiễm độc cho người đọc những sai lầm trong sách. Đây là lời kêu gọi sự chính xác của cung năm, và đôi khi chúng ta có xu hướng nhìn vào cung năm rồi nói: Ồ, tôi có thực sự phải làm điều đó không? Câu trả lời là có. Tôi không nghĩ có cách nào đi từ lần điểm đạo thứ hai đến lần điểm đạo thứ ba mà không thực sự vận dụng cung năm.

Remember that it's the ajna center and the planet Venus, the fifth-ray soul planet Venus particularly, that are involved in that illumination of the third initiation, and remember, too, that the fifth ray of all the ray lords is the most luminous of all the ray lords. So, yes, we do have to go through the fifth-ray process, and our Technique of Light has, making that beam of light from out the forehead, it's a pretty fifth-ray technique. So brace yourself because that's what we have to go through to get the factual material under our belt. So now we have looked at the seven ways of illusion. It's kind of interesting that he uses the way, the word way.

Hãy nhớ rằng chính trung tâm ajna và Sao Kim, đặc biệt là Sao Kim với linh hồn cung năm, có liên quan đến sự soi sáng của lần điểm đạo thứ ba; và cũng hãy nhớ rằng trong tất cả các Đấng Chúa Tể Cung, Đấng Chúa Tể Cung năm là Đấng rực sáng nhất. Vì vậy, đúng là chúng ta phải trải qua tiến trình cung năm, và Kỹ Thuật Ánh sáng của chúng ta, với việc tạo ra chùm ánh sáng từ trán, là một kỹ thuật mang đậm tính chất cung năm. Vậy hãy chuẩn bị tinh thần, vì đó là điều chúng ta phải trải qua để nắm vững tài liệu về các sự kiện thực tế. Giờ chúng ta đã xem xét bảy con đường dẫn đến ảo tưởng. Khá thú vị là Ngài dùng từ “con đường”.

He also speaks, in the use of the word way, about the Way of Higher Evolution. That's altogether a different thing, but it's going to lead you into trouble. It's a path that you tread, and as a result, you commit errors and distort the ideas that are trying to come through those pure parts of the plan, and as a result, the plan simply does not manifest as it should, and everywhere you look, it's hard enough for us who study these things to be rid of glamour and illusion, and people are simply the victim of these things and don't know it.

Khi dùng từ “con đường”, Ngài cũng nói đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Đó là một điều hoàn toàn khác; còn con đường này sẽ đưa các bạn vào rắc rối. Đó là một con đường các bạn bước đi, và kết quả là các bạn phạm sai lầm, bóp méo những ý tưởng đang cố gắng đi vào biểu hiện, những phần thuần khiết ấy của Thiên Cơ; do đó, Thiên Cơ đơn giản là không biểu hiện đúng như lẽ ra phải thế. Nhìn đâu cũng thấy điều này. Ngay cả đối với chúng ta, những người nghiên cứu các vấn đề này, việc thoát khỏi ảo cảm và ảo tưởng cũng đã đủ khó; còn người ta cứ là nạn nhân của chúng mà không hay biết.

[1] I have here outlined for you the causes and the various types of illusion to which the disciple is prone. In its pure form, this illusion has to be met and some day surmounted; it has to be isolated and dispelled by the initiate.

[1] Ở đây, Tôi đã phác họa cho các bạn những nguyên nhân và các loại ảo tưởng khác nhau mà người đệ tử dễ mắc phải. Trong hình thức thuần túy của nó, người đệ tử phải đối diện với ảo tưởng này và một ngày nào đó phải vượt qua nó; điểm đạo đồ phải cô lập và xua tan nó.

It is basically, the intuition which dispels illusion.

Về cơ bản, chính trực giác xua tan ảo tưởng.

It's the illumined mind which dissipates glamour, and the right use of the breath occurs in the devitalization of maya, or we might call the dispersion of maya. So the intuition is increasingly necessary in the dispelling of illusion, and that's why the antahkarana, which will give us some access to the intuition, should be built by the time that we are ready to begin dispelling illusion, and look at that word isolated. It's a fifth-ray word. You think about a beam, a laser beam, which has an intense and narrow focus, and it isolates something that you really see clearly, and then you can be rid of it. But the mind alone, the normal concrete mind, is not enough to dispel illusion.

Chính thể trí được soi sáng làm tiêu tan ảo cảm, còn việc sử dụng hơi thở đúng cách làm suy giảm sinh lực của ảo lực, hay có thể gọi là phân tán ảo lực. Vì vậy, trực giác ngày càng cần thiết trong việc xua tan ảo tưởng; đó là lý do antahkarana, vốn cho chúng ta phần nào tiếp cận trực giác, cần được xây dựng trước khi chúng ta sẵn sàng bắt đầu xua tan ảo tưởng. Hãy chú ý từ “cô lập”. Đó là một từ thuộc cung năm. Các bạn hãy nghĩ đến một chùm tia, một chùm tia laser có độ tập trung mạnh và hẹp; nó cô lập một điều gì đó để các bạn thực sự thấy rõ, rồi có thể loại bỏ điều ấy. Nhưng chỉ riêng thể trí, tức trí cụ thể thông thường, thì không đủ để xua tan ảo tưởng.

So, kind of take notes as you go along about things you might want to discuss when we have our opportunity to do that. I don't know if in your life you've had the experience of dispelling illusion. We might say, that we have misunderstood something, and for a long time we thought it was this way, and then later, years later, we say, aha, no, and it's in the word aha, the intuition acting, no, it's not that way at all. It's this way, and we see things in a new light, and so our formulation of what is truth is broken because it was inadequate. There was wrong interpretation of the idea and its part in the plan, and we see in a clearer light.

Vì vậy, trong khi theo dõi, các bạn hãy ghi chú những điều mình có thể muốn thảo luận khi chúng ta có dịp. Tôi không biết trong đời mình các bạn đã từng có trải nghiệm xua tan ảo tưởng hay chưa. Có thể nói chúng ta đã hiểu lầm một điều gì đó, và trong một thời gian dài chúng ta nghĩ nó là thế này; rồi về sau, nhiều năm sau, chúng ta nói: À, không phải—và ngay trong tiếng “à” ấy là trực giác đang hoạt động—không, hoàn toàn không phải như vậy. Nó là thế này; chúng ta thấy sự việc dưới một ánh sáng mới, nên cách chúng ta xác lập điều gì là chân lý bị phá vỡ vì nó chưa đầy đủ. Trước đó đã có sự diễn giải sai lầm về ý tưởng và vai trò của nó trong Thiên Cơ, và giờ chúng ta thấy dưới một ánh sáng rõ ràng hơn.

Eventually, we see in the light of the transcendental mind. That's what it's called transcendental mind. It's the same as the intuition. It's governed by the higher part of Mercury. There are a number of the intuitive planets that are useful, Jupiter, Neptune, they're all lending their intuition. But Mercury particularly, the god of pure reason, we might say, enters into our consideration, and we really then develop straight knowledge, not reasoning knowledge where we go from point to point to point in some kind of sequential logical manner as we would under Saturn, Mercury. But instead, more under Neptune, Mercury, Uranus, Mercury, we see things just as they are, and suddenly in a flash of light, oh, we can get a new understanding of something we had really misinterpreted for a long time. I imagine that when people change from a dualistic perception of their environment and suddenly see, wait a second, subject and object, hold on, they're the same. Subject is the same as object. That's an intuition, and the mind alone would, no matter how much it repeats that subject and object are identical, cannot give you that flash of intuition which reveals it to be so, and then only is the illusion of the difference between subject and object revealed. Now let's see how some of the great ones use this.

Cuối cùng, chúng ta thấy trong ánh sáng của Trí Tuệ Siêu Việt. Nó được gọi như vậy: Trí Tuệ Siêu Việt. Nó cũng chính là trực giác. Nó chịu sự cai quản của phương diện cao hơn của Sao Thủy. Có một số hành tinh trực giác hữu ích như Sao Mộc, Sao Hải Vương; tất cả đều góp phần mang lại trực giác. Nhưng đặc biệt là Sao Thủy, có thể nói là vị thần của lý trí thuần khiết, trở thành điều chúng ta cần xem xét; và khi ấy chúng ta thực sự phát triển tri thức trực tiếp, chứ không phải tri thức suy luận, trong đó chúng ta đi từ điểm này sang điểm khác theo một trình tự lôgic nào đó như dưới ảnh hưởng của Sao Thổ, Sao Thủy. Thay vào đó, dưới ảnh hưởng nhiều hơn của Sao Hải Vương, Sao Thủy, Sao Thiên Vương, Sao Thủy, chúng ta thấy sự vật đúng như chúng là; rồi đột nhiên, trong một tia chớp ánh sáng, chúng ta có thể đạt được sự thấu hiểu mới về điều mà mình đã thực sự diễn giải sai trong một thời gian dài. Tôi hình dung rằng khi người ta chuyển khỏi nhận thức nhị nguyên về môi trường của mình và đột nhiên thấy: Khoan đã, chủ thể và khách thể—chúng là một. Chủ thể cũng chính là khách thể. Đó là một trực giác, và chỉ riêng thể trí, dù có lặp lại bao nhiêu lần rằng chủ thể và khách thể đồng nhất, cũng không thể đem lại cho các bạn tia chớp trực giác mặc khải rằng quả thật là như vậy; chỉ khi ấy, ảo tưởng về sự khác biệt giữa chủ thể và khách thể mới lộ rõ. Giờ hãy xem một số Các Đấng Cao Cả vận dụng điều này như thế nào.

it has to be isolated and dispelled by the initiate.

điểm đạo đồ phải cô lập và xua tan nó.

[2] It was the final successful effort to do this that led Jesus upon the Cross to cry out in words of apparent distress.

[2] Chính nỗ lực cuối cùng thành công trong việc này đã khiến Đức Jesus trên Thập Giá thốt lên những lời dường như đầy đau khổ.

Well, my God, my God, why hast thou forsaken me? Well, most people would say, oh, my goodness, God has abandoned me. This is a terrible thing.

“Lạy Thượng đế của con, lạy Thượng đế của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Phần lớn mọi người sẽ nói: Ôi trời, Thượng đế đã bỏ rơi tôi. Đây là một điều khủng khiếp.

But his limited conception of God was dispelled at the fourth initiation on the cross, and it says here, and think of it in terms of your own life, we have the theory, all right, but do we have the realization?

Nhưng quan niệm hạn hẹp của Ngài về Thượng đế đã bị xua tan trong lần điểm đạo thứ tư trên thập giá. Ở đây có nói—và hãy suy ngẫm điều này trong mối liên hệ với chính cuộc đời các bạn—chúng ta có lý thuyết, nhưng chúng ta đã có sự chứng nghiệm chưa?

[3] He then finally dissipated the illusion of the personal, objective Deity.

[3] Khi ấy, cuối cùng Ngài đã làm tiêu tan ảo tưởng về một [Page 66] Thượng đế mang tính cá nhân, khách quan.

Then this is quite a statement.

Đây quả là một phát biểu đáng chú ý.

A lot of people will say, well, this is a blasphemous statement. In the old days, that's what they'd say.

Nhiều người sẽ nói đây là một phát biểu báng bổ. Ngày xưa, họ sẽ nói như vậy.

[4] At that moment, He entered fully into the consciousness that He was Himself God, and naught else;

[4] Vào khoảnh khắc ấy, Ngài hoàn toàn bước vào tâm thức rằng chính Ngài là Thượng đế, chứ không là gì khác; rằng

Well, the average believer, if you kind of, the average believer is still very much laboring under glamour and a lot of illusion. If you present an idea like this to the average believer, it will be immediately rejected. What do you mean I am God? God is God and I am I. That's that well-fortified dualistic perception. But then something happens. The initiate Jesus was in the process of taking the fourth initiation, which is ruled by the fourth ray, which is connected with the buddhic plane and the intuition, and so this intuition, which dispelled the illusion of duality, descended upon him and he could really, he could see it. It wasn't just reasoning. It was beyond reasoning. It was pure reason.

Người tín đồ bình thường vẫn còn chịu ảnh hưởng rất nặng của ảo cảm và nhiều ảo tưởng. Nếu các bạn trình bày một ý tưởng như thế này với một tín đồ bình thường, họ sẽ lập tức bác bỏ. Anh nói tôi là Thượng đế nghĩa là sao? Thượng đế là Thượng đế, còn tôi là tôi. Đó là nhận thức nhị nguyên đã được củng cố vững chắc. Nhưng rồi có điều gì đó xảy ra. Điểm đạo đồ Jesus đang trải qua lần điểm đạo thứ tư, do cung bốn cai quản, có liên hệ với cõi Bồ đề và trực giác; và thế là trực giác xua tan ảo tưởng về nhị nguyên này giáng xuống Ngài, và Ngài thực sự thấy được điều ấy. Đó không chỉ là suy luận. Nó vượt trên suy luận. Đó là lý trí thuần khiết.

It was pure realization.

Đó là sự chứng nghiệm thuần khiết.

He entered fully into the consciousness that He was Himself God, and naught else;

Ngài hoàn toàn bước vào tâm thức rằng chính Ngài là Thượng đế, và không là gì khác;

Now just think about that for a moment.

Giờ hãy suy ngẫm điều đó trong giây lát.

See, we have to, well a moment is not enough, right? We have to do this on a daily basis in our own way. But if we strip away all those false identities, even the identity of being the soul, being the Triad, even the identity of being the monad in the Monadic vehicle, nothing else will do, really, finally, than being, being, being, being. Nothing else will do when we want to discover, what we really are. So that's

Chúng ta phải—mà một giây lát thì không đủ, phải không? Chúng ta phải làm điều này hằng ngày theo cách riêng của mình. Nhưng nếu chúng ta gạt bỏ tất cả những sự đồng nhất sai lầm ấy, ngay cả sự đồng nhất mình là linh hồn, là Tam nguyên tinh thần, ngay cả sự đồng nhất mình là chân thần trong hiện thể chân thần, thì cuối cùng, thực sự chẳng có gì khác đáp ứng được ngoài hiện tồn, hiện tồn, hiện tồn, hiện tồn. Không gì khác đáp ứng được khi chúng ta muốn khám phá mình thực sự là gì. Vì vậy, đó là

[5] that the theory of unity outlined by Him in the Gospel of

[5] lý thuyết về sự hợp nhất mà Ngài đã phác họa trong Phúc Âm

Now look, watch out for when there's a mixture going on. DK said that one day the gold and silver threads of the Bible story would be disentangled.

Giờ hãy chú ý khi có sự pha trộn. Chân sư DK nói rằng một ngày kia, những sợi chỉ vàng và bạc trong câu chuyện Kinh Thánh sẽ được gỡ tách ra.

The gold threads are the threads of Christ's life and our great events, and the silver threads are episodes in the life of Jesus. So now when we look at who outlined the gospel of St. John, we're much more likely talking about the Christ. But he doesn't always, he sometimes blends the two, so you should just be aware of who or what is the major influence.

Những sợi chỉ vàng là những sợi chỉ về cuộc đời Đức Christ và những biến cố lớn của chúng ta, còn những sợi chỉ bạc là những tình tiết trong cuộc đời Đức Jesus. Vì vậy, khi xem ai đã phác thảo Phúc Âm Thánh Gioan, nhiều khả năng chúng ta đang nói đến Đức Christ. Nhưng Ngài không phải lúc nào cũng phân biệt; đôi khi Ngài hòa lẫn hai vị, nên các bạn cần nhận biết ai hay điều gì là ảnh hưởng chủ yếu.

that the theory of unity outlined by Him in the Gospel of

rằng lý thuyết về sự hợp nhất mà Ngài phác thảo trong Phúc Âm

[6] St. John, chapter XVII,

[6] Thánh Gioan, chương XVII,

That's the Christ,

Đó là Đức Christ,

[7] was indeed and in truth a fact in His Own consciousness, established unalterably.

[7] quả thực là một sự thật trong chính tâm thức Ngài, đã được xác lập một cách bất biến.

Now maybe Jesus standing by heard very well what the Christ was saying about I in them and they in me and we in God and all that, we are in the Father. It was a supreme statement of an initiate who was on the verge of taking the sixth initiation of identification.

Có lẽ Đức Jesus đứng bên cạnh đã nghe rất rõ điều Đức Christ nói về “Ta ở trong họ, họ ở trong Ta, và chúng ta ở trong Thượng đế”, cùng tất cả những điều như thế: chúng ta ở trong Đức Chúa Cha. Đó là một phát biểu tối thượng của một điểm đạo đồ đang đứng trước ngưỡng cửa lần điểm đạo thứ sáu, lần điểm đạo đồng nhất hóa.

I call it that too, I mean, it's many things. It's the ascension, it's the choice, it's many things. But the Christ was like a sixth degree initiate hovering over the becoming fourth degree initiate of the Master Jesus. So Jesus obviously, was part of that whole exchange and listened carefully to everything that was being spoken as if through his own body, and then later he said, this is it, I'm understanding this. I would say the Christ then was responsible for uttering the words. We don't know yet about this divine mediumship. We only know this, that you have to be minimally an initiate of the second degree and have six petals open in your Egoic Lotus. I mean, fully unfolded before it is possible to have this kind of cooperation such as Jesus and the Christ established, and even then it would be on a lower level. I mean, there was a kind of establishment of a rapport between Apollonius of Tyana at the third degree and the becoming Master Jesus at the fifth degree. This is later after Jesus was crucified on the cross. So there's a 5-3 connection there. Whereas in the case of Christ and Jesus, there was a 6-4 connection.

Tôi cũng gọi như vậy; nó mang nhiều ý nghĩa. Đó là sự thăng thiên, là sự lựa chọn, là nhiều điều. Nhưng Đức Christ như một điểm đạo đồ bậc sáu đang phủ phía trên Đức Jesus, vị đang tiến đến bậc điểm đạo thứ tư và sẽ trở thành Chân sư. Vì vậy, rõ ràng Đức Jesus là một phần của toàn bộ cuộc trao đổi ấy và chăm chú lắng nghe mọi lời được nói ra như thể qua chính thân thể Ngài; rồi về sau Ngài nói: Chính là điều này, Ta đang thấu hiểu điều này. Tôi cho rằng khi ấy Đức Christ là Đấng chịu trách nhiệm thốt ra những lời ấy. Chúng ta chưa biết về sự đồng tử thiêng liêng này. Chúng ta chỉ biết rằng ít nhất phải là một điểm đạo đồ bậc hai và có sáu cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã mở ra—tức khai mở hoàn toàn—thì mới có thể có sự hợp tác như Đức Jesus và Đức Christ đã thiết lập; và ngay cả khi ấy, sự hợp tác cũng chỉ ở một cấp độ thấp hơn. Đã có một sự thiết lập mối giao cảm giữa Apollonius xứ Tyana ở bậc ba và Đức Jesus, vị đang tiến đến bậc năm để trở thành Chân sư. Điều này xảy ra về sau, sau khi Đức Jesus chịu đóng đinh trên thập giá. Như vậy, ở đó có mối liên hệ 5–3. Còn trong trường hợp Đức Christ và Đức Jesus, có mối liên hệ 6–4.

It became a truth in His Own consciousness, established unalterably. Now, we know in our own life the difference between a theory, well-reasoned and say, yeah, that's true as far as my logic goes, and that amazing impression of the truth of an intuitive fact when it really hits, and this is what we're talking about now, that unchangeable, a straight knowledge of the truth as the intuition reveals it.

Điều ấy trở thành một chân lý trong chính tâm thức Ngài, được xác lập bất di bất dịch. Trong đời sống của mình, chúng ta biết sự khác biệt giữa một lý thuyết được lập luận chặt chẽ, khiến ta nói: Đúng, theo lôgic của tôi thì điều ấy là thật, với ấn tượng kỳ diệu về chân lý của một sự kiện trực giác khi nó thực sự chạm đến ta. Đó là điều chúng ta đang nói đến: tri thức trực tiếp, bất biến về chân lý mà trực giác mặc khải.

Excuse me.

Xin thứ lỗi.

[8] Yet, nevertheless, in this infinite and supreme realization, there entered for a moment a sense of loss and of negation,

[8] Tuy nhiên, trong sự chứng nghiệm vô hạn và tối thượng này, một cảm giác mất mát và phủ định đã thoáng xuất hiện,

Well, you're not going to have a causal body anymore, and the angel who has supervised you and been a source of great solace is returning to the heart of the sun and the causal body is being destroyed. There could be this sense of loss.

Các bạn sẽ không còn thể nguyên nhân nữa, và vị thiên thần từng giám sát các bạn, từng là nguồn an ủi lớn lao, đang trở về tâm mặt trời, còn thể nguyên nhân đang bị hủy diệt. Cảm giác mất mát này có thể xuất hiện.

there entered for a moment a sense of loss and of negation,

thoáng có một cảm giác mất mát và phủ định xuất hiện,

[9] forcing from His dying Personality that tremendous utterance which has bewildered, and at the same time comforted, so many.

[9] buộc phàm ngã đang hấp hối của Ngài phải thốt ra lời mãnh liệt ấy, lời đã khiến biết bao người hoang mang, đồng thời cũng an ủi họ.

See, is it said in grief and the sense of loss or is it said in wonder? My God, my God, why has thou forsaken me? In other words, the realization of exactly why this God known as the Solar Angel has forsaken him and his own conception of what God is has crumbled and a much better realization now has come in, which is non-illusory. Now, these are very subtle matters and maybe until we really go through them, we're not going to know what we're really talking about. But we get the hints about what some of these higher initiates are passing through and what we will be passing through increasingly. So it's comforted many because they understood it and others have been bewildered and haven't known what in the world he's talking about, and it's like Jesus thought, oh, the God of the planet or the God of the universe has left me all alone and I'm suffering and I feel terrible. It's not about that at all.

Lời ấy được thốt ra trong đau buồn và cảm giác mất mát, hay trong sự kinh ngạc? “Lạy Thượng đế của con, lạy Thượng đế của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nói cách khác, đó là sự chứng nghiệm chính xác vì sao Thượng đế mà Ngài biết như Thái dương Thiên Thần đã rời bỏ Ngài; quan niệm của chính Ngài về Thượng đế đã sụp đổ, và giờ đây một sự chứng nghiệm tốt đẹp hơn nhiều đã đến, không còn mang tính ảo tưởng. Đây là những vấn đề rất tinh tế, và có lẽ cho đến khi thực sự trải qua chúng, chúng ta sẽ chưa biết mình thực sự đang nói về điều gì. Nhưng chúng ta nhận được những gợi ý về điều một số điểm đạo đồ cao cấp này đang trải qua và điều chúng ta sẽ ngày càng trải qua nhiều hơn. Lời ấy đã an ủi nhiều người vì họ thấu hiểu nó, còn những người khác thì hoang mang, hoàn toàn không biết Ngài đang nói gì; họ hình dung Đức Jesus nghĩ: Ôi, Thượng đế của hành tinh hay Thượng đế của vũ trụ đã bỏ tôi lại một mình, tôi đang chịu đau đớn và cảm thấy khủng khiếp. Hoàn toàn không phải như vậy.

So what is it really about this moment of disillusionment? What's it really about? And

Vậy khoảnh khắc thoát khỏi ảo tưởng này thực sự là gì? Nó thực sự nói đến điều gì? Và

[10] This signified the surmounting of the final synthetic illusion.

[10] Điều này biểu thị việc vượt qua ảo tưởng tổng hợp cuối cùng.

That's an amazing statement.

Đó là một phát biểu đáng kinh ngạc.

Well, the final synthetic illusion with regard to the illusions that are normally human. There are higher illusions and DK talks about them, but about them we don't need to say very much, and we can't either. But the interesting thing here is that one sees the synthesis. I guess that's one of the ways of interpreting this. There is an illusion which covers everything and prevents you from seeing the synthesis, the oneness and your own identification as God. There is that kind of a great mistake about, what is God, what is man and all that, and at this point, God and man through the process of identification become identical. That doesn't mean there's not a Sanat Kumara or a planetary God and all that, but it's all one being. That's the thing. It's all one being, and until we can establish in our consciousness the being of being, then, we're not close to what is being realized here.

Ảo tưởng tổng hợp cuối cùng ở đây là xét trong phạm vi những ảo tưởng thông thường của con người. Có những ảo tưởng cao hơn và Chân sư DK có nói đến chúng, nhưng chúng ta không cần nói nhiều về chúng, mà cũng không thể. Điều thú vị ở đây là người ta thấy được sự tổng hợp. Tôi đoán đó là một trong những cách diễn giải điều này. Có một ảo tưởng bao trùm mọi sự và ngăn cản các bạn thấy sự tổng hợp, tính nhất thể và sự đồng nhất hóa chính mình là Thượng đế. Có một sai lầm lớn như thế về Thượng đế là gì, con người là gì và tất cả những điều ấy; tại thời điểm này, qua tiến trình đồng nhất hóa, Thượng đế và con người trở nên đồng nhất. Điều đó không có nghĩa là không có Sanat Kumara hay một Thượng đế hành tinh và những điều như thế, nhưng tất cả đều là một bản thể duy nhất. Chính là điều ấy. Tất cả đều là một bản thể duy nhất; và cho đến khi chúng ta có thể xác lập trong tâm thức mình bản thể của sự hiện tồn, chúng ta vẫn chưa đến gần điều đang được chứng nghiệm ở đây.

[11] When that has been dispelled,

[11] Khi ảo tưởng ấy đã được xua tan,

This final synthetic illusion,

Ảo tưởng tổng hợp cuối cùng này,

[12] illusion, as it can be understood in the human family, disappears.

[12] ảo tưởng, theo cách gia đình nhân loại có thể thấu hiểu, sẽ biến mất.

Now, DK is being very careful, isn't he? And I just, basically said in a lesser way the same kind of thing, that basically there are higher illusions, okay? But as far as a human being is concerned, you are still a human being when you're a master, but when you're a Chohan, you're not considered anymore a human being. You are a member of the kingdom of souls, but what about a planetary life? You become a planetary life and you're not a human being in the ordinary sense. You're not man in the ordinary sense. So, we understand illusion in a certain way, and the higher initiates understand it in a much deeper and more expansive way.

Chân sư DK rất thận trọng, phải không? Về cơ bản, tôi vừa nói cùng một điều theo cách kém sâu sắc hơn: có những ảo tưởng cao hơn. Nhưng xét về con người, khi là một chân sư thì các bạn vẫn còn là một con người; còn khi là một Chohan, các bạn không còn được xem là một con người nữa. Các bạn là một thành viên của giới linh hồn, nhưng còn một sự sống hành tinh thì sao? Các bạn trở thành một sự sống hành tinh và không còn là một con người theo nghĩa thông thường. Các bạn không còn là người theo nghĩa thông thường. Vì vậy, chúng ta thấu hiểu ảo tưởng theo một cách nhất định, còn các điểm đạo đồ cao cấp thấu hiểu nó theo một cách sâu sắc và rộng lớn hơn nhiều.

[13] The man stands free.

[13] Con người được tự do.

Now, we know there's a great liberation at the fourth initiation, and, we're basically moving out of the dense physical body of the Planetary Logos and the Solar Logos into the cosmic etheric body, and that's the liberation, okay? We've got to free ourselves from this matter of the previous solar system which represents the third ray and represents our bondage, and at this point we do. There's a great achievement at this fourth initiation, and when DK says those, how does he say it, those certain types will achieve during this round or this root race, some will achieve in the next root race and some in the later root race, according to their fundamental ray, he's talking about the fourth initiation being the moment of achievement.

Chúng ta biết có một sự giải thoát lớn lao ở lần điểm đạo thứ tư, và về cơ bản, chúng ta đang rời khỏi thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế để đi vào thể dĩ thái vũ trụ; đó chính là sự giải thoát. Chúng ta phải tự giải thoát khỏi vật chất của hệ mặt trời trước, vốn đại diện cho cung ba và cho sự trói buộc của chúng ta; và tại thời điểm này, chúng ta làm được điều đó. Có một thành tựu lớn lao ở lần điểm đạo thứ tư này; khi Chân sư DK nói rằng một số loại người nhất định sẽ đạt được trong cuộc tuần hoàn này hoặc giống dân gốc này, một số sẽ đạt được trong giống dân gốc kế tiếp, và một số trong giống dân gốc về sau, tùy theo cung căn bản của họ, thì Ngài đang nói đến lần điểm đạo thứ tư như thời điểm thành tựu.

[14] The illusion of the mental plane can no longer deceive him. His mind is a pure instrument for the reflection of light and of truth.

[14] Ảo tưởng của cõi trí không còn có thể lừa dối y. Thể trí của y là một công cụ thuần khiết để phản chiếu ánh sáng và chân lý.

I guess we're, think about that. We're still a long way from that, but if we keep reading with understanding, Master DK, we come closer and closer.

Hãy suy ngẫm điều đó. Chúng ta vẫn còn cách rất xa điều ấy, nhưng nếu tiếp tục đọc Chân sư DK với sự thấu hiểu, chúng ta sẽ ngày càng đến gần hơn.

[15] The glamours of the astral plane have no further hold over him,

[15] Những ảo cảm của cõi cảm dục không còn chi phối y,

He just doesn't want the unreal things. He, if anything, aspires to true reality and knows what it is,

Y đơn giản không muốn những điều không thực. Nếu có khát vọng nào, thì y khát vọng thực tại chân thật và biết thực tại ấy là gì,

[16] and the astral body itself

[16] và chính thể cảm dục

As normally conceived anyway,

Dù sao thì cũng theo quan niệm thông thường,

[17] fades out.

[17] dần tan biến.

It's not that that level of matter disappears, otherwise you would have a gap, and in that gap you could die. That happens in A Treatise on White Magic. He says the Agnisuryans drain away all of your astral energy and there's nothing for the overshadowing soul to do except to just snap the cord and take a different incarnation because it's too late. The magician has died. So it's not a question of being rid of that level of matter that vibrates to a certain frequency in which we call astral matter. It's a question of being rid of all the phantasmagoria on that level which tends to form when we desire illusory things and when we desire that which is not true, and that whole confusing mess of wrong desire, that's what disappears. That's what fades out. So I guess you could say, wow, this is a really big moment of realization and it's only intuition that is going to dispel the final synthetic illusion that we are not God, that we are not pure being. We realize ourselves as God as pure being. That doesn't mean we are the personhood of the Planetary Logos. It means that that logos too is pure being.

Không phải cấp độ vật chất ấy biến mất; nếu không, sẽ có một khoảng trống, và trong khoảng trống ấy các bạn có thể chết. Điều đó xảy ra trong Luận về Chánh Thuật. Ngài nói các Agnisuryan rút cạn toàn bộ năng lượng cảm dục của các bạn, và linh hồn đang phủ bóng không còn gì để làm ngoài việc cắt đứt sợi dây và nhận một kiếp lâm phàm khác, vì đã quá muộn. Nhà huyền thuật đã chết. Vì vậy, vấn đề không phải là loại bỏ cấp độ vật chất rung động ở một tần số nhất định mà chúng ta gọi là vật chất cảm dục. Vấn đề là loại bỏ tất cả những cảnh tượng huyễn hoặc ở cấp độ ấy, vốn có xu hướng hình thành khi chúng ta ham muốn những điều ảo tưởng, khi chúng ta ham muốn điều không chân thật; và toàn bộ mớ dục vọng sai lầm hỗn loạn gây hoang mang ấy chính là điều biến mất. Đó là điều dần tan biến. Vì vậy, tôi nghĩ có thể nói đây quả là một khoảnh khắc chứng nghiệm lớn lao, và chỉ trực giác mới xua tan được ảo tưởng tổng hợp cuối cùng rằng chúng ta không phải là Thượng đế, không phải là bản thể thuần khiết. Chúng ta chứng nghiệm mình là Thượng đế, là bản thể thuần khiết. Điều đó không có nghĩa chúng ta là ngôi vị của Hành Tinh Thượng đế. Nó có nghĩa rằng Thượng đế ấy cũng là bản thể thuần khiết.

[18] You will remember that I hinted to you in A Treatise on White Magic that the astral body itself was an illusion.

[18] Các bạn hẳn còn nhớ rằng trong Luận về Chánh Thuật, Tôi đã gợi ý với các bạn rằng chính thể cảm dục là một ảo tưởng.

Not the astral plane necessarily. This is a subtle distinction, but what kind of forms appear in astral matter, that's where the mistake is made. When it's a vehicle for pure love and pure light and helps to establish the unity of things and reflects the intuition, then it is a reality.

Không nhất thiết là cõi cảm dục. Đây là một sự phân biệt tinh tế, nhưng sai lầm nằm ở loại hình tướng nào xuất hiện trong vật chất cảm dục. Khi thể cảm dục là một hiện thể của tình thương thuần khiết và ánh sáng thuần khiết, góp phần xác lập sự hợp nhất của vạn vật và phản chiếu trực giác, thì nó là một thực tại.

[19] It is the definition of the illusory mind upon the mental plane of that which we call the sum total of the desires of the man in incarnation.

[19] Đó là cách thể trí chịu ảo tưởng định nghĩa, trên cõi trí, điều mà chúng ta gọi là tổng thể những dục vọng của con người đang lâm phàm.

Now, this is the way of thinking of the illusion of the astral body. We’ll repeat it because it’s a difficult concept.

Đây là cách suy nghĩ về ảo tưởng của thể cảm dục. Chúng ta sẽ nhắc lại vì đó là một khái niệm khó.

I've always found it a difficult concept, but I've worked out something for myself where I think I understand just a little. You will remember that I hinted the astral body was an illusion.

Tôi luôn thấy đây là một khái niệm khó, nhưng tôi đã tự tìm ra một cách hiểu mà theo tôi, nhờ đó mình thấu hiểu được đôi chút. Các bạn sẽ nhớ rằng Tôi đã gợi ý thể cảm dục là một ảo tưởng.

It is the definition of the illusory mind upon the mental plane of that which we call the sum total of the desires of the man in incarnation.

Nó là sự xác định của thể trí mang ảo tưởng trên cõi trí về điều chúng ta gọi là tổng thể những dục vọng của con người đang lâm phàm.

It's all these desires which are blocking the intuitive truth, which are the astral illusion.

Chính tất cả những dục vọng ngăn chặn chân lý trực giác này tạo thành ảo tưởng cảm dục.

[20] When illusion and glamour have both been overcome, the astral body fades out in the human consciousness.

[20] Khi cả ảo tưởng lẫn ảo cảm đều đã được khắc phục, thể cảm dục dần tan biến trong tâm thức con người.

Now notice what he's going to say here.

Giờ hãy chú ý điều Ngài sắp nói ở đây.

[21] There is no desire left for the separated self.

[21] Không còn dục vọng nào dành cho cái ngã chia rẽ.

What kind of desire is there? There's something. There is no desire left for the separated self.

Vậy còn loại dục vọng nào? Vẫn có một điều gì đó. Không còn dục vọng nào dành cho bản ngã chia rẽ.

[22] Kama-manas

[22] Trí-cảm

Which is that mixture of desire and mind together,

Tức là sự pha trộn giữa dục vọng và thể trí,

[23] disappears, and man is then regarded as consisting essentially of soul-mind-brain, within the body nature.

[23] biến mất, và khi ấy con người được xem là về căn bản gồm linh hồn–thể trí–bộ não, trong bản chất thân thể.

But still the astral body is an instrument of love, and it is used, When you look at some of these people who are in the 10 seed groups, you see that the astral body is one of their instruments, but it has been so purified that it reflects love and intuition and is a way of contacting and uplifting other people who are still very much caught in the astral illusion that we call glamour.

Nhưng thể cảm dục vẫn là một công cụ của tình thương và vẫn được sử dụng. Khi nhìn vào một số người trong 10 Nhóm hạt giống, các bạn thấy thể cảm dục là một trong những công cụ của họ, nhưng nó đã được thanh lọc đến mức phản chiếu tình thương và trực giác, trở thành một phương tiện tiếp xúc và nâng đỡ những người khác vẫn còn mắc kẹt sâu trong ảo tưởng cảm dục mà chúng ta gọi là ảo cảm.

Now I'm glad he says the following.

Tôi mừng vì Ngài nói điều sau đây.

[24] This is a great mystery

[24] Đây là một huyền nhiệm lớn lao,

It certainly is, and every time I try to solve the mystery, I realize it is difficult.

Quả thực là vậy, và mỗi lần cố gắng giải đáp huyền nhiệm ấy, tôi đều nhận ra điều đó khó khăn.

This is a great mystery

Đây là một huyền nhiệm lớn lao

[25] and its significance can only be understood when a man has controlled his personality and eliminated all aspects of glamour and of illusion.

[25] và chỉ khi con người đã kiểm soát phàm ngã của mình và loại bỏ mọi phương diện của ảo cảm cùng ảo tưởng, y mới có thể thấu hiểu thâm nghĩa của huyền nhiệm này.

Because then the mind really reflects the soul. The mind reflects the soul on the higher mental plane, and the astral body reflects the intuition on the buddhic plane, and this is, I don't know, is this correct?

Vì khi ấy thể trí thực sự phản chiếu linh hồn. Thể trí phản chiếu linh hồn trên Cõi thượng trí, và thể cảm dục phản chiếu trực giác trên cõi Bồ đề; còn điều này, tôi không biết, liệu có đúng không?

[26] This is accomplished by accomplishing. This mastery is achieved by mastering.

[26] Điều này được hoàn thành bằng chính việc hoàn thành. Sự làm chủ này đạt được bằng chính việc làm chủ.

It's almost repeating the obvious, but what he's basically saying, that until you do it, you may theorize about it. You may even have the right theory, but you don't know for certain what is the realization. You don't understand the revelation until you do it. You accomplish it, you master it, and then you understand.

Gần như là nhắc lại điều hiển nhiên, nhưng về cơ bản Ngài muốn nói rằng chừng nào chưa làm được, các bạn vẫn có thể đưa ra lý thuyết về nó. Thậm chí các bạn có thể có lý thuyết đúng, nhưng vẫn không biết chắc sự chứng nghiệm ấy là gì. Các bạn chưa thấu hiểu sự mặc khải cho đến khi thực hiện được. Các bạn hoàn thành, các bạn làm chủ, rồi các bạn thấu hiểu.

[27] This elimination of desire

[27] Việc loại bỏ dục vọng này

And, desire is never eliminated, but he's talking about a type of desire, which is desire for life within the phenomenal worlds that the Buddha spoke about, and how this leads to the pain and suffering of desiring unreality. Even a great Logos has desire.

Dục vọng không bao giờ bị loại bỏ hoàn toàn, nhưng Ngài đang nói về một loại dục vọng: dục vọng sống trong các cõi hiện tượng mà Đức Phật đã nói đến, và việc ham muốn cái không thực dẫn đến đau đớn, khổ sở như thế nào. Ngay cả một Thượng đế vĩ đại cũng có dục vọng.

Desire is a cosmic principle, but what is it aimed towards? That's the question.

Dục vọng là một nguyên khí vũ trụ, nhưng nó hướng đến điều gì? Đó mới là câu hỏi.

This elimination of desire

Sự loại bỏ dục vọng này

[28] is brought about by conscious eliminating.

[28] được thực hiện qua hành động loại bỏ có ý thức.

So it's so interesting. He's just defining the word by the word itself.

Thật thú vị. Ngài đang định nghĩa một từ bằng chính từ ấy.

[29] Get therefore to work, my brothers, and clarification of the problem must inevitably ensue.

[29] Các huynh đệ của Tôi, vì vậy hãy bắt tay vào việc, và vấn đề tất yếu sẽ trở nên sáng tỏ.

In other words, he's telling us we live in a state of consciousness where the mystery... We live in a state of consciousness wherein the mystery cannot be fully solved until our state of consciousness changes. So get to it, eliminate glamour, eliminate illusion, understand their basis, and make the mind and the emotions transparent and receptive to the energies of the higher ethers, and then we will understand.

Nói cách khác, Ngài đang bảo chúng ta rằng chúng ta sống trong một trạng thái tâm thức mà trong đó huyền nhiệm không thể được giải đáp trọn vẹn cho đến khi trạng thái tâm thức của chúng ta thay đổi. Vì vậy, hãy bắt tay vào việc, loại bỏ ảo cảm, loại bỏ ảo tưởng, thấu hiểu nền tảng của chúng, làm cho thể trí và cảm xúc trở nên trong suốt, có khả năng tiếp nhận những năng lượng của các cõi dĩ thái cao hơn; rồi chúng ta sẽ thấu hiểu.

So he's basically saying that our normal mental, emotional, or mental-emotional equipment is insufficient, really, to understand this type of liberation which is being offered. So we have to see to the quality of our instrument and keep on improving it, when I think that, that's very obvious to those of us who have studied these things a long time. A little bit more, maybe. A little bit more.

Về cơ bản, Ngài nói rằng bộ máy trí tuệ, cảm xúc hay trí tuệ–cảm xúc thông thường của chúng ta thực sự không đủ để thấu hiểu loại giải thoát đang được mở ra này. Vì vậy, chúng ta phải chăm lo phẩm tính của công cụ mình và không ngừng cải thiện nó; tôi nghĩ điều đó rất hiển nhiên đối với những ai trong chúng ta đã nghiên cứu các vấn đề này lâu năm. Có lẽ thêm một chút nữa. Thêm một chút nữa.

[30] That which is the opposite pole of illusion is, as you well know, the intuition.

[30] [Page 67] Như các bạn biết rõ, trực giác là cực đối lập của ảo tưởng.

Now think about that.

Giờ hãy suy ngẫm điều đó.

The intuition is pure reason. The intuition is things as they are. The intuition is straight knowledge. The intuition is the apprehension of archetypal relationship at a certain level, and it's not some confusion and misarrangement and misunderstanding. It is how things are.

Trực giác là lý trí thuần khiết. Trực giác là sự vật đúng như chúng là. Trực giác là tri thức trực tiếp. Trực giác là sự lĩnh hội mối quan hệ nguyên mẫu ở một cấp độ nhất định; nó không phải sự rối rắm, sắp xếp sai lệch hay hiểu lầm nào đó. Nó là cách sự vật thực sự hiện hữu.

That which is the opposite pole of illusion is, as you well know, the intuition.

Như các bạn biết rõ, đối cực của ảo tưởng là trực giác.

[31] The intuition is that recognition of reality which becomes possible as glamour and illusion disappear.

[31] Trực giác là sự nhận biết thực tại chỉ trở nên khả hữu khi ảo cảm và ảo tưởng biến mất.

Conversely, if somehow, something of the intuition should get through into our consciousness, it will help glamour and illusion disappear. Pause there for just a moment and think about that sentence.

Ngược lại, nếu bằng cách nào đó một chút trực giác đi vào được tâm thức chúng ta, nó sẽ giúp ảo cảm và ảo tưởng biến mất. Hãy dừng lại giây lát và suy ngẫm câu ấy.

The intuition is that recognition of reality which becomes possible as glamour and illusion disappear.

Trực giác là sự nhận biết thực tại trở nên khả hữu khi ảo cảm và ảo tưởng biến mất.

So, in the Yoga Sutras, we still the modifications of the versatile psychic nature, including the lower mind and the astral body. We bring them into a state of stillness, and then we understand that the truth of the soul will really reflect itself in our consciousness if we're not always busy moving about false notions, false desires, useless desires.

Vì vậy, trong Kinh Yoga, chúng ta làm lắng dịu những biến thái của bản chất thông linh đa biến, bao gồm hạ trí và thể cảm dục. Chúng ta đưa chúng vào trạng thái tĩnh lặng, rồi thấu hiểu rằng chân lý của linh hồn sẽ thực sự phản chiếu trong tâm thức mình nếu chúng ta không luôn bận rộn khuấy động những quan niệm sai lầm, những dục vọng sai lầm, những dục vọng vô ích.

A stillness has to be pervading these areas of our mechanism in order for the higher energies to really get through. Otherwise, we distort and never recognize the higher energies.

Sự tĩnh lặng phải thấm nhuần những phần này trong bộ máy của chúng ta để các năng lượng cao hơn thực sự đi vào được. Nếu không, chúng ta sẽ bóp méo và chẳng bao giờ nhận biết được các năng lượng cao hơn.

[32] An intuitive reaction to truth will take place when—along a particular line of approach to truth—the disciple has succeeded in quieting the thoughtform-making propensities of the mind, so that light can flow directly, and without any deviation, from the higher spiritual worlds.

[32] Một đáp ứng trực giác với chân lý sẽ diễn ra khi—trên một con đường tiếp cận chân lý cụ thể—người đệ tử đã thành công trong việc làm lắng dịu những khuynh hướng tạo hình tư tưởng của thể trí, để ánh sáng có thể tuôn chảy trực tiếp, không chút lệch hướng, từ các thế giới tinh thần cao siêu.

So that's exactly what I just said. He says it much better, of course, and be still, be still and know that I am God. If everything is always in circulation, one thought after another, there's no way for the sun of truth to reflect itself in wholeness without getting all split up and disjointed and deflected, never getting through. the disciple has succeeded in quieting along some line, some ray line, quieting the thoughtform-making propensities of the mind. This is straight Raja Yoga, isn't it? You've read The Light of the Soul, Alice Bailey's interpretation of the Sutras, Yoga Sutras, which DK translated for her to interpret in that way so that light can flow directly.

Đó chính là điều tôi vừa nói. Dĩ nhiên, Ngài nói hay hơn nhiều: hãy tĩnh lặng, hãy tĩnh lặng và biết rằng Ta là Thượng đế. Nếu mọi thứ luôn luân chuyển, tư tưởng này nối tiếp tư tưởng khác, thì mặt trời chân lý không thể phản chiếu trọn vẹn mà không bị chia cắt, rời rạc, lệch hướng, chẳng bao giờ xuyên thấu được. người đệ tử đã thành công trong việc làm lắng dịu theo một đường hướng nào đó, một đường hướng cung nào đó, làm lắng dịu những khuynh hướng tạo hình tư tưởng của thể trí. Đây chính là Raja Yoga, phải không? Các bạn đã đọc Ánh Sáng của Linh Hồn, phần diễn giải của Alice Bailey về các bộ kinh, Kinh Yoga, mà Chân sư DK đã dịch để Bà diễn giải theo cách ấy, để ánh sáng có thể tuôn chảy trực tiếp.

See, this is silence, isn't it? When you think about taking your day of silence, your days of silence, you're going on a retreat, thinking of a week of silence, this is it. So that the higher worlds can get through all of the normal kind of truth-breaking interactions between all the parts and pieces that are floating around and activating, activated in your mind and in your astral body. So, okay, so the quietness, and especially for the third-ray types, and every personality is generically on the third ray, as souls are generically on the second, as monads are generically on the first, whatever their actual ray might be. light can flow directly, and without any deviation, from the higher spiritual worlds.

Các bạn thấy đấy, đây chính là sự im lặng, phải không? Khi các bạn nghĩ đến việc dành một ngày, nhiều ngày để giữ im lặng, đi nhập thất, nghĩ đến một tuần im lặng, thì chính là điều này. Để các cõi cao có thể xuyên qua mọi tương tác thông thường vốn làm tan vỡ chân lý giữa tất cả những phần rời rạc đang trôi nổi và hoạt động trong thể trí và thể cảm dục của các bạn. Vì vậy, cần sự tĩnh lặng, đặc biệt đối với những người cung ba; và xét chung, mọi phàm ngã đều thuộc cung ba, cũng như các linh hồn xét chung đều thuộc cung hai, các chân thần xét chung đều thuộc cung một, bất kể cung thực sự của họ là gì. ánh sáng có thể tuôn chảy trực tiếp, không chút lệch hướng, từ các cõi tinh thần cao hơn.