Tóm lược chương
Cõi cảm dục giam giữ một phần lớn nhân loại trong những phản ứng cảm xúc và sự nhầm lẫn; ước lượng được nêu là khoảng 80–85%. Việc hợp tác với ashram của Chân sư DK để làm tiêu tan ảo cảm thế giới đòi hỏi đồng thời xử lý những khuynh hướng ấy trong đời sống cá nhân. Sau lần điểm đạo thứ hai, những ảo cảm lớn có thể đã suy giảm nhưng chưa hoàn toàn biến mất; khoảng lần điểm đạo thứ ba mới có sự loại trừ điều thường gọi là ảo cảm, trong khi các sai lầm trí tuệ tạo nên ảo tưởng vẫn cần được giải quyết. Ảo cảm tình cảm trói buộc những người thiện chí đã có phần thấu hiểu và phần nào thoát khỏi lòng ham mê của cải, nhưng vẫn chuyển dục vọng sang…
Commentary GAW 100
Tóm Tắt
Ảo cảm và tiến trình giải thoát
Cõi cảm dục giam giữ một phần lớn nhân loại trong những phản ứng cảm xúc và sự nhầm lẫn; ước lượng được nêu là khoảng 80–85%. Việc hợp tác với ashram của Chân sư DK để làm tiêu tan ảo cảm thế giới đòi hỏi đồng thời xử lý những khuynh hướng ấy trong đời sống cá nhân. Sau lần điểm đạo thứ hai, những ảo cảm lớn có thể đã suy giảm nhưng chưa hoàn toàn biến mất; khoảng lần điểm đạo thứ ba mới có sự loại trừ điều thường gọi là ảo cảm, trong khi các sai lầm trí tuệ tạo nên ảo tưởng vẫn cần được giải quyết.
Từ ảo cảm vật chất đến ảo cảm tình cảm
Ảo cảm tình cảm trói buộc những người thiện chí đã có phần thấu hiểu và phần nào thoát khỏi lòng ham mê của cải, nhưng vẫn chuyển dục vọng sang bổn phận, trách nhiệm, ảnh hưởng đối với người khác và quan niệm cảm tính về tình thương. Đời sống giản dị của Ramakrishna minh họa khả năng giảm nhu cầu vật chất để tập trung vào điều thiết yếu. Tuy nhiên, sự giản dị ấy không loại trừ trách nhiệm quản lý nguồn lực thế giới, như công việc gắn với Chân sư R.; trách nhiệm này được dự kiến sẽ tăng lên trong kỷ nguyên Bảo Bình.
Ham muốn yêu thương và được yêu thương
Theo Chân sư DK, điều đa số con người gọi là tình thương thực ra là hỗn hợp giữa ham muốn yêu, ham muốn được yêu và sự sẵn lòng làm mọi cách để khơi dậy tình cảm đáp lại, nhờ đó cảm thấy dễ chịu hơn trong nội tâm. Ảo cảm của sự yêu thích được yêu và Ảo cảm của sự nổi tiếng đặc biệt liên quan đến cung hai, đồng thời cũng xuất hiện ở cung sáu; ngay cả ảnh hưởng cao từ linh hồn hoặc Chân Thần cũng có thể bị phàm ngã chiếm dụng để biểu lộ theo mục đích cá nhân. Nhận xét rằng tính ích kỷ của những người mong muốn trở nên vô ngã vẫn có thể rất lớn đặt ra yêu cầu xem xét động cơ, thay vì chỉ đánh giá vẻ ngoài tử tế của hành vi.
Tình thương chân thật và nhu cầu được đáp lại
Ảo cảm tình cảm khiến sự chú ý hướng vào phản ứng của người nhận: họ có đáp lại bằng sự trìu mến, hòa thuận và tán thành hay không. Tình thương chân thật tập trung vào lợi ích của người khác, nên đôi khi phải chấp nhận sự chống đối hoặc khó chịu khi chỉ ra một yếu tố đang làm tổn hại họ. Ví dụ về một căn bệnh hay khuynh hướng suy nhược cho thấy việc giữ hòa khí bằng mọi giá có thể kém hữu ích hơn việc giúp người ấy nhận ra vấn đề để sửa chữa. Tương tự, tính vô tổn hại không bảo đảm mọi phản ứng tức thời đều dễ chịu, mà hướng đến sự cải thiện thực sự trong đời sống của người nhận.
Tình thương linh hồn và sự tự do
Tình thương linh hồn vốn tự do và cũng để người khác được tự do, trong khi tình thương nhuốm ảo cảm có thể kéo cả những người mình muốn phụng sự vào sự lệ thuộc tình cảm. Sự trìu mến là một hoạt động của thể cảm dục có pha dục vọng; nó có thể phát sinh từ tình thương nhưng không đồng nghĩa với tình thương. Đặc tính của linh hồn là sự vô dục tự phát, không đòi hỏi gì cho bản ngã chia rẽ, khác với nhu cầu thường xuyên được trấn an rằng mình vẫn được yêu. Trong quan hệ vợ chồng hoặc cha mẹ và con cái, sự nhầm lẫn này có thể tạo ra những nghĩa vụ không thực sự tồn tại và duy trì hòa thuận bề ngoài mà không đem lại giải thoát.
Tình thương, sự thật và thái độ phê phán
Những phát biểu trực tiếp của Đức Christ, gắn với thể trí cung một được đề cập trong sách Vận Mệnh Các Quốc Gia, không phải lúc nào cũng dễ nghe nhưng hướng đến giải phóng người tiếp nhận. Các thư của Chân sư DK cũng giúp đệ tử tiến đến tự do tinh thần hơn là liên tục trấn an họ bằng những lời trìu mến. Tuy nhiên, việc chỉ ra khuyết điểm chỉ có giá trị khi xuất phát từ tình thương đủ sâu, không phải tinh thần phê phán được khoác danh nghĩa giúp đỡ. Sự thấu hiểu tình thương còn tiếp tục phát triển lâu dài; ngay cả Thái dương Thượng đế cũng đang học hỏi và chưa phải một Thượng đế thiêng liêng.
Loại bỏ tình cảm trong điểm đạo nhóm
Quy luật 11 dành cho đệ tử và điểm đạo đồ chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư, kể cả trong ý nghĩa nhóm, và đòi hỏi xem xét điểm đạo nhóm trên cơ sở thực tế thay vì cảm tính hay khát vọng. Chân sư DK định nghĩa tình cảm ở đây là phản ứng cảm xúc liên kết thành viên bằng sự thích hoặc không thích: thích quá mức tạo quan hệ phàm ngã quá mạnh và làm mất quân bình, còn không thích duy trì sự đẩy xa và gây chia rẽ. Khi quan hệ còn chịu sự chi phối của tán thành và phản đối, những bước đầu của sự dung hợp nhóm vẫn chưa hiện diện. Ánh sáng trong trẻo, lạnh được diễn giải là sự sáng rõ qua Bồ đề và manas, đồng thời không đáp ứng những sức lôi kéo thông thường của phàm ngã.
Trách nhiệm và sự im lặng huyền môn trong nhóm
Công việc nhóm đòi hỏi nhận ra bản chất linh hồn phía sau cách biểu lộ và thói quen phàm ngã, thay vì đánh giá thành viên theo mức độ giống mình. Những điều kiện được nêu gồm cắt bỏ ràng buộc phàm ngã, vượt qua đố kỵ và thái độ hơn kém, đồng thời tránh sự san bằng giả tạo khiến mọi người bị coi là có cùng chức năng. Khái niệm “phạm vi trách nhiệm” của Mary Bailey giúp phân công theo điều mỗi người có thể đảm nhiệm thích hợp. Sự im lặng huyền môn còn đòi hỏi tổ chức tư tưởng và lời nói đúng mức, không bàn chuyện ashram với người chưa có khả năng tiếp nhận và không đưa những bận tâm cá nhân tầm thường vào điểm tập trung nhất tâm ấy.
Tự quan sát bằng thái độ khoa học
Phản ứng phủ nhận mạnh như “điều đó không thể là tôi” có thể là dấu hiệu cho thấy một ảo cảm cần được khảo sát, chứ chưa đủ để chứng minh sự vắng mặt của nó. Sự phóng chiếu và khả năng tự lừa dối trong thể cảm dục khiến việc quan sát khách quan trở nên thiết yếu. Kỹ Thuật Ánh sáng, với sự tham gia của trung tâm ajna và năng lượng cung năm, hỗ trợ đánh giá thực tế mà không thiên vị kết quả mong muốn. Lời khuyên của Assagioli là quan sát bản thân như một nhà khoa học khảo sát đối tượng, không lựa chọn chỉ nhìn điều mình thích hoặc né tránh điều mình không muốn thấy.
Shakespeare và chiều sâu của tình thương
Các tác phẩm Shakespeare được đưa ra như nguồn khảo sát sự khác biệt giữa tình thương chân thật và tình thương cảm tính, với khả năng biểu đạt nhiều tầng thấu hiểu bản chất con người. Hiện tượng Shakespeare được liên hệ với cung bốn, cung bao quát cả những đỉnh cao lẫn chiều sâu của nhân loại; các giả thuyết về tác giả thực sự vẫn để ngỏ. Một khuynh hướng yêu thích sâu sắc đối với âm nhạc, thơ hoặc kịch từ sớm có thể gợi ý những liên hệ trong các kiếp trước, nhưng chỉ là một phương hướng tìm hiểu. Hình ảnh tình thương bất biến trước đổi thay và giông bão trong bài sonnet được liên hệ với sự kiên định của chân lý; cách ví von chiêm tinh cuối buổi là tình thương thuộc về Mặt Trời, không phải Mặt Trăng.
Vượt phàm ngã và tính vô ngã
Tính vô ngã không đồng nghĩa với việc khước từ sự nhạy cảm đối với con người cụ thể, mà liên quan đến việc đồng hóa với một cấp độ cao hơn trong hệ thống năng lượng. Theo cách phân biệt riêng của Thầy MDR, trạng thái vượt phàm ngã liên quan đến ba cõi phụ cao của cõi trí, đặc biệt là cõi phụ thứ hai và thứ ba. Tính vô ngã được đặt ở góc nhìn hành tinh rộng lớn của Tam Nguyên Tinh Thần, nơi trọng tâm là bác ái, trí tuệ và ý chí của Hành Tinh Thượng Đế. Đây là cách diễn giải cá nhân được đề xuất để phân biệt hai khái niệm.
Chánh ngữ và sự nhầm lẫn giữa tình thương với hấp dẫn tính dục
Phần trao đổi liên hệ sự quên mình, tính vô tổn hại và chánh ngữ với cách xử lý những khủng hoảng trong quan hệ, vì lời nói có thể chứa sẵn mầm mống của xung đột tương lai. Tuija lưu ý rằng việc đồng nhất tình thương với hấp dẫn tính dục dễ dẫn đến kết luận hết hấp dẫn nghĩa là hết yêu. Alexandra bổ sung mối lo về ảnh hưởng của truyền thông đối với người trẻ và về hậu quả xã hội của những quan hệ đổ vỡ do thiếu thấu hiểu tình thương. Nhận xét rằng các bận tâm quan hệ có thể chiếm khoảng 70% thời gian hoặc năng lượng được Tuija dẫn lại không chắc chắn từ một phim tài liệu, không phải một số liệu đã xác minh.
Chiêm tinh, các cung và trách nhiệm cộng đồng
Việc nghiên cứu chiêm tinh cùng các cung được đề xuất như một phương tiện tạo khoảng cách quan sát, giúp thảo luận những vấn đề quan hệ nhạy cảm thông qua biểu tượng và năng lượng thay vì công kích trực tiếp. Nhiều quan hệ khởi đầu từ phản ứng nghiệp quả và các động lực thấp hơn, trong khi khả năng giữ thể trí ổn định trong ánh sáng linh hồn vẫn hiếm. Một viễn cảnh được dẫn từ Chân sư DK là trong tương lai, đôi bên sẽ cần chứng minh giá trị của cuộc hôn nhân đối với cộng đồng để nhận sự công nhận của cộng đồng. Dấu hiệu Thiên Bình được liên hệ với việc giải quyết quan hệ và lợi ích cộng đồng, còn dấu hiệu Hổ Cáp gắn với thử thách của đệ tử nhằm đưa linh hồn lên vị trí chủ đạo; sự phát triển tâm thức nhóm trong kỷ nguyên Bảo Bình sẽ làm nổi bật những trách nhiệm này.
Mặt Trăng và Mặt Trời trong biểu tượng tình yêu
Mặt Trăng tượng trưng cho sự luân phiên, biến đổi và ảnh hưởng từ bên ngoài, tương ứng với tình yêu phàm ngã dựa trên sức hấp dẫn thể chất và những thuộc tính bên ngoài. Mặt Trời tượng trưng cho tình yêu linh hồn bền vững, chiếu sáng đồng đều bất kể đối tượng; đây là cách đối chiếu biểu tượng, không phải mô tả hoạt động vật lý của Mặt Trời. Những đôi vợ chồng sống bên nhau 50 năm có thể tìm thấy con người bên trong và sự ổn định của mối quan hệ, dù hình dáng cùng sức hấp dẫn thể chất đã thay đổi. Khi nguyên lý cung hai dần chi phối, tình yêu trở thành sự trao tặng đều đặn, không đòi hỏi lợi ích cho phàm ngã.
Tình yêu vượt khỏi những thuộc tính biến đổi
Lời Juliet khuyên Romeo đừng thề bằng Mặt Trăng bất định diễn tả mong muốn tình yêu không đổi thay theo đối tượng làm lời thề. Một ý tương tự xuất hiện trong thơ Elizabeth Barrett Browning: hãy yêu chính con người bà, thay vì yêu những phẩm chất hay thuộc tính có thể mất đi. Cuộc hôn nhân với Robert Browning được nhắc đến như sự giải thoát khỏi quan hệ không lành mạnh với người cha; nhận định Robert Browning là điểm đạo đồ, thậm chí Chân sư, được trình bày như quan điểm của một số người. Alexandra còn đề xuất đọc những bài thơ và tình ca như lời hướng đến Thượng đế, qua đó mở rộng ý nghĩa của tình yêu đôi lứa.
Tình yêu và sự thanh luyện trên vùng đất cháy
Tuija đề xuất rằng Mặt Trời vừa tỏa sáng vừa tiêu hao có thể tượng trưng cho tình yêu tăng trưởng trong khi đốt cháy những cặn bã che khuất bản chất bên trong. Khi con người trở thành những mặt trời nhỏ, tình yêu và sự hiện diện bền vững sưởi ấm môi trường, đồng thời thanh luyện chính người trao tặng. Cách hiểu này được liên hệ với những hiểm nguy và thử thách của vùng đất cháy: sau trải nghiệm ấy trên Con Đường Điểm Đạo, tình yêu chân thật cần tăng trưởng. Tình yêu thiêng liêng có thể gây sửng sốt vì khác hẳn dục vọng, sức hấp dẫn, cảm giác dễ chịu và những trao đổi tình cảm quen thuộc.
Tình yêu như phương tiện biểu hiện Ý Chí
Trong phần trao đổi, Tuija dẫn giáo lý của Chân sư DK về Đức Christ như Đấng đầu tiên đưa Ý Chí của Thượng Đế xuống biểu hiện, đồng thời xem tình yêu là phương tiện thiết yếu để Ý Chí ấy biểu lộ. Trí tuệ cũng cần thiết, nhưng nhân loại vẫn đang học cách phát triển tình yêu đủ để đảm nhiệm chức năng này. Sự tiếp xúc với tình yêu hoặc sự hiện diện của Đức Christ được mô tả như trải nghiệm vượt khỏi khả năng diễn đạt hiện có, có thể khiến toàn bộ bộ máy nhất thời ngừng phản ứng. Tình yêu ấy làm tan khuynh hướng tranh hơn, tự tôn và muốn đứng trên người khác của phàm ngã.
Thái dương Thiên Thần, Sao Kim và những cấp độ tình yêu
Một cách lý giải được đề xuất là sự tiếp xúc ngày càng sâu với Thái dương Thiên Thần, cùng sự tiếp xúc của Hành Tinh Thượng Đế với nguyên mẫu Sao Kim, sẽ giúp bản chất tình yêu chân thật dần hiển lộ. Những giai đoạn tình cảm sơ khởi, dù còn pha ảo cảm, vẫn có giá trị đối với người đang mắc trong phản ứng thù ghét và xung đột gắn với Sao Hỏa. Tuy nhiên, chúng phải nhường chỗ cho một nguyên lý thiêng liêng, đòi hỏi vượt khỏi sự chi phối của tâm thức phàm ngã và đạt điểm tập trung nhất tâm trong linh hồn, rồi trong Tam Nguyên Tinh Thần và cao hơn nữa. Tình yêu, tình yêu tinh thần và tình yêu thiêng liêng được trình bày như những cấp độ tiến triển; lời khuyên phát triển trí tuệ như trong Đức Christ được liên hệ với trí tuệ yêu thương của Sao Kim.
Cánh hoa thứ năm và giới hạn của phàm ngã
Ảo cảm phàm ngã được liên hệ với giai đoạn đầu khai mở cánh hoa thứ năm của Hoa Sen Chân Ngã, khi ngã chấp và tính tự cao khiến con người đồng nhất mình với vẻ ngoài. Theo trình tự được trình bày, những giới hạn ấy dẫn đến vỡ mộng và sa ngã; giai đoạn sau mở ra Con Đường Khát Vọng, và nếu tiến triển thuận lợi, sự khai mở hoàn toàn cánh hoa thứ năm tương ứng với lần điểm đạo thứ nhất. Người đệ tử học phân biệt hiện tượng với thực tại phía sau, chuyển từ ham muốn những gì có vẻ hiện hữu sang khát vọng những gì thực sự hiện hữu. Một số lãnh đạo nổi bật hơn quần chúng nhưng vẫn rất tập trung vào bản thân được xem là biểu hiện của giai đoạn đầu này.
Quyền lực cá nhân và tâm thức độc tài
Ảo cảm phàm ngã trong chính trị biểu hiện qua việc áp đặt quan điểm, đặc biệt ở những người thuộc cung một bị cuốn vào quyền lực cá nhân, từ tính cá nhân và sự vĩ đại của bản thân. Khi phát triển cực đoan, khuynh hướng ấy trở thành chứng cuồng đại, ngăn ý chí của người khác biểu lộ. Lập luận được đưa ra là mỗi người mang một phần Ý Chí thiêng liêng, nên sự áp chế ý chí cá nhân cũng cản trở sự biểu hiện toàn vẹn của Ý Chí của Thượng Đế. Tiếp xúc linh hồn và đau khổ có thể phá vỡ sự thống trị này; hình ảnh tòa tháp sụp đổ trong Tarot và cái chết biểu tượng của vua hoặc hoàng hậu diễn tả sự thất bại của trung tâm phàm ngã trước khi đời sống tinh thần có thể bắt đầu.
Hợp nhất nhóm và bảo vệ bằng ánh sáng linh hồn
Bài tham thiền quy tụ những người ở các địa điểm khác nhau vào một không gian tâm thức chung, như một nhóm phụng sự sử dụng phương pháp làm tiêu tan ảo cảm do Thánh đoàn chấp thuận. Sự bảo vệ sử dụng thập giá thiên tính với trục dài và hai mắt, mang ý nghĩa về tâm thức khác với dấu thánh giá qua hai vai trong truyền thống Công giáo. Việc xác lập vị trí trong ánh sáng linh hồn đi kèm cam kết làm việc vững vàng từ vị trí ấy, không để bóng tối chạm tới. Ánh sáng linh hồn được ví như nguồn dưỡng khí cần thiết khi làm việc dưới nước, giúp nhóm hoạt động trong môi trường ảo cảm vốn có thể gây ngạt cho tâm thức.
Hợp nhất ba ánh sáng và kiến tạo tia sáng nhóm
Tiến trình chuẩn bị kết hợp ánh sáng sinh lực của vật chất với ánh sáng cõi trí, rồi đưa ánh sáng linh hồn xuống hòa nhập với cả hai. Ba ánh sáng trở thành một nguồn sáng thống nhất, nâng đỡ khả năng suy nghĩ, lý luận, thấu hiểu và chuyển bóng tối thành ban ngày. Từ nguồn sáng ấy, nhóm hình dung một đèn pha chung do những tia sáng cá nhân hợp thành, vừa phát hiện vừa làm tiêu tan và phá hủy ảo cảm trên cõi cảm dục. Tia sáng được ví với chiếc sừng kỳ lân và được tăng cường bằng ý chí tinh thần từ linh hồn cùng những cấp độ cao hơn.
Kỹ Thuật Ánh sáng đối với ảo cảm phàm ngã
Đối tượng tập trung là sự giam giữ tâm thức trong trường năng lượng phàm ngã, khiến tầm nhìn cá nhân chật hẹp và làm nhân loại mất khả năng tiếp nhận viễn cảnh rộng lớn của linh hồn. Quyền năng từ tam phân hướng ánh sáng hợp nhất vào việc ngăn ảo cảm phàm ngã xuất hiện, vô hiệu hóa ảnh hưởng phẩm tính của nó đối với nhân loại và phá hủy sự sống nuôi dưỡng nó. Nhóm làm việc trong năm phút im lặng với mục đích mãnh liệt, dùng tia sáng xuyên vào ảo cảm để làm suy yếu và tiến tới làm tiêu tan nó. Bài thực hành kết thúc bằng ba lần xướng linh từ OM, ghi nhận đóng góp của nhóm vào việc phát hiện và loại bỏ những yếu tố che khuất chân lý.
Tầm nhìn linh hồn giữa xung đột tập thể
Những cuộc tranh chấp giữa các cá nhân được liên hệ với việc không thấy bức tranh rộng lớn mà linh hồn nhận biết. Khả năng nhìn qua thể trí được linh hồn thấm nhuần và tiếp cận cõi linh hồn giúp thấu hiểu sâu hơn những biến cố, đồng thời tránh mắc vào giới hạn của ảo cảm phàm ngã. Hình ảnh Mặt Trời buổi sớm đốt tan sương mù minh họa ánh sáng chân lý làm sáng tỏ cõi cảm dục. Riêng tình hình Brexit được đặt trong nhu cầu hỗ trợ huyền bí để một giải pháp có tính hợp nhất xuất hiện cho Vương quốc Anh; theo nhận định của Thầy MDR, quốc gia này cùng Hoa Kỳ và Nga là ba trung tâm dân cư lớn có ảnh hưởng đến vận mệnh nhân loại.
Text GAW 100 – Văn bản GAW 100
Glamour: A World Problem pages 76–77 – Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới trang 76–77
[1] The glamour of sentiment holds the good people of the world in thrall, and in a dense fog of emotional reactions. [2] The race has reached a point wherein the men of good intention, of some real understanding and owning a measure of freedom from the love of gold (symbolic way of speaking of the glamour of materiality) [3] are turning their desire to their duty, their responsibilities, their effects upon others, [4] and to their sentimental understanding of the nature of love. [5] Love, for many people, for the majority indeed, is not really love [6] but a mixture of the desire to love and the desire to be loved, [7] plus a willingness to do anything to show and evoke this sentiment, [8] and consequently to be more comfortable in one’s own interior life. [9] The selfishness of the people who are desirous of being unselfish is great. [10] So many contributing sentiments gather around the sentiment or desire to show those amiable and pleasant characteristics which will evoke a corresponding reciprocation towards the would-be lover [Page 77] or server who is still completely surrounded by the glamour of sentiment.
[1] Ảo cảm của tình cảm giam giữ những người tốt trên thế giới trong vòng kiềm tỏa và trong làn sương mù đậm đặc của những phản ứng cảm xúc. [2] Nhân loại đã đạt đến một điểm mà những người có thiện ý, có đôi phần thấu hiểu thực sự và phần nào thoát khỏi lòng ham mê vàng bạc (cách nói mang tính biểu tượng về ảo cảm của tính vật chất) [3] đang hướng dục vọng của mình vào bổn phận, trách nhiệm, những ảnh hưởng của mình đối với người khác, [4] và vào sự thấu hiểu nhuốm màu tình cảm của họ về bản chất của tình thương. [5] Đối với nhiều người, thực ra là đối với đa số, tình thương không thực sự là tình thương [6] mà là sự pha trộn giữa dục vọng muốn yêu thương và dục vọng muốn được yêu thương, [7] cộng với sự sẵn lòng làm bất cứ điều gì để biểu lộ và khơi dậy tình cảm này, [8] và do đó cảm thấy dễ chịu hơn trong đời sống nội tâm của chính mình. [9] Tính ích kỷ của những người mong muốn trở nên vị tha thật lớn lao. [10] Biết bao tình cảm phụ trợ quy tụ quanh tình cảm hay dục vọng muốn biểu lộ những đặc tính dễ mến và dễ chịu nhằm khơi dậy sự đáp lại tương ứng đối với người muốn yêu thương [Page 77] hoặc phụng sự nhưng vẫn còn hoàn toàn bị ảo cảm của tình cảm bao quanh.
[11] It is this pseudo-love, based primarily on a theory of love and service, [12] which characterizes so many human relationships such as those existing, [13] for instance, between husband and wife, parents and their children. [14] Glamored by their sentiment for them [15] and knowing little of the love of the soul which is free itself and leaves others free also, [16] they wander in a dense fog, often dragging with them the ones they desire to serve in order to draw forth a responsive affection. [17] Study the word “affection,” my brother, and see its true meaning. [18] Affection is not love. It is that desire which we express through an exertion of the astral body and this activity affects our contacts; [19] it is not [20] the spontaneous desirelessness of the soul which asks nothing for the separated self. [21] This glamour of sentiment imprisons and bewilders all the nice people in the world, [22] imposing upon them obligations which do not exist, and producing a glamour which must eventually be dissipated by the pouring in of true and selfless love.
[11] Chính thứ tình thương giả tạo này, vốn chủ yếu dựa trên một lý thuyết về tình thương và phụng sự, [12] là nét đặc trưng của rất nhiều mối quan hệ giữa con người, [13] chẳng hạn như giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. [14] Bị tình cảm dành cho những người ấy làm mê hoặc [15] và ít biết đến tình thương của linh hồn, vốn tự do và cũng để người khác được tự do, [16] họ lang thang trong làn sương mù đậm đặc, thường kéo theo những người mà họ mong muốn phụng sự để khơi dậy sự trìu mến đáp lại. [17] Huynh đệ của tôi, hãy nghiên cứu từ “trìu mến” và nhận ra ý nghĩa đích thực của nó. [18] Sự trìu mến không phải là tình thương. Đó là dục vọng mà chúng ta biểu lộ qua sự vận dụng thể cảm dục, và hoạt động này tác động đến những người chúng ta tiếp xúc; [19] đó không phải là [20] trạng thái tự nhiên không còn dục vọng của linh hồn, vốn không đòi hỏi điều gì cho cái ngã riêng rẽ. [21] Ảo cảm của tình cảm này giam hãm và làm hoang mang tất cả những người tốt trên thế giới, [22] áp đặt lên họ những nghĩa vụ vốn không tồn tại, đồng thời tạo ra một ảo cảm mà cuối cùng dòng tình thương chân thật và vị tha tuôn vào phải làm tiêu tan.
[23] It might be of value to consider briefly what group initiation involves, and to do this factually and not sentimentally and aspirationally.
[23] Có lẽ sẽ hữu ích nếu xem xét ngắn gọn những gì việc điểm đạo nhóm bao hàm, và xem xét điều này một cách thực tế, không theo tình cảm và khát vọng.
[24] One of the problems confronting the Hierarchy in this connection is the elimination of sentiment—[25] that curious, emotional reaction and relationship which links all the members of a group together in the bonds of liking or disliking. [26] Where there is liking, then too strong a personality relation is established, as far as the good of the group is concerned. [27] The group equilibrium is disturbed. [28] Where there is disliking, the inner faculty of rebuff works constantly, and cleavages then occur. [29] Is it not true, my brothers, that your relation to each other is frequently subjected to the impact of approval or of disapproval? [30] When that attitude exists, the first steps towards group fusion are absent. [31] This is what we mean by sentiment, and this emotional reaction must disappear as a preliminary stage. (RI, 209)
[24] Một trong những vấn đề mà Thánh đoàn phải đối mặt trong mối liên hệ này là loại bỏ tình cảm—[25] thứ phản ứng và mối quan hệ cảm xúc kỳ lạ liên kết mọi thành viên trong nhóm bằng những ràng buộc của sự ưa thích hoặc không ưa thích. [26] Khi có sự ưa thích, một mối quan hệ phàm ngã quá mạnh sẽ hình thành, xét theo lợi ích của nhóm. [27] Trạng thái quân bình của nhóm bị xáo trộn. [28] Khi có sự không ưa thích, năng lực khước từ bên trong hoạt động liên tục, và rồi những rạn nứt xuất hiện. [29] Các huynh đệ của Tôi, chẳng phải mối quan hệ giữa các bạn thường xuyên chịu tác động của sự tán thành hoặc không tán thành hay sao? [30] Khi thái độ ấy tồn tại, những bước đầu hướng tới sự dung hợp nhóm vẫn còn thiếu vắng. [31] Đó là điều chúng ta muốn nói khi dùng từ tình cảm, và việc làm cho phản ứng cảm xúc này biến mất phải là một giai đoạn sơ khởi. (RI, 209)
[32] I am but touching with brevity upon these glamours for each of you can elaborate them for yourselves, and in so doing will discover where you stand in the world of fog and glamour. [33] Thus, with knowledge, [34] you can begin to free yourselves from the glamour of the world.
[32] Tôi chỉ đề cập ngắn gọn đến những ảo cảm này vì mỗi người trong các bạn đều có thể tự khai triển chúng, và khi làm như vậy sẽ khám phá ra mình đang đứng ở đâu trong thế giới của sương mù và ảo cảm. [33] Như vậy, với tri thức, [34] các bạn có thể bắt đầu tự giải thoát khỏi ảo cảm của thế giới.
Glamour Webinar 100 – Webinar về Ảo cảm 100
Michael D. Robbins • Book pages 76–77
Michael D. Robbins • Các trang 76–77 của sách
Hi, everybody, and good morning. Good morning here from Finland, and in the United States it's the wee hours and even more so in South America but we should be doing at this time in Australia, New Zealand and so forth. Today is one of those double days and there are two webinars being given today.
Xin chào tất cả các bạn, chào buổi sáng. Tại Phần Lan lúc này là buổi sáng, còn ở Hoa Kỳ đang là những giờ đầu ngày, và ở Nam Mỹ thì còn sớm hơn nữa, nhưng vào giờ này tại Úc, New Zealand và những nơi khác, hẳn chúng ta đang tiến hành thuận lợi. Hôm nay là một trong những ngày có hai buổi, và sẽ có hai webinar diễn ra hôm nay.
This is an experiment because we know that the Science of Triangles, the more technical study of the energies, has been difficult for the people in the U.S. and maybe Australia and New Zealand to receive. So we're going to do that at six o'clock p.m. and that will open the door to the Americas a little bit more and hopefully we, we've been working on that amazing triangle of the Great Bear, Sirius, and the Pleiades and DK looks at it from all different angles. Basically in this Science of Triangles work we are studying more of the triangles which have to do with the planet, the solar system and the local cosmos than we are studying the triangles within our etheric body. But we always do a little meditation at the end which brings it right back to the interaction between the people that maybe you are participating with in the triangles work. Well this is, the authorities tell me that this is our 100th program. So it's all been going for quite a while and it's our 40th reading in the book Glamour A World Problem.
Đây là một thử nghiệm, vì chúng ta biết rằng người ở Hoa Kỳ, và có lẽ cả Úc và New Zealand, khó có thể theo dõi buổi học về Khoa Học Tam Giác, vốn là một môn nghiên cứu năng lượng thiên về kỹ thuật hơn. Vì vậy, chúng ta sẽ tổ chức buổi ấy vào lúc sáu giờ chiều, qua đó tạo thêm đôi chút cơ hội cho những người ở châu Mỹ tham dự, và hy vọng chúng ta... Chúng ta đã nghiên cứu tam giác kỳ diệu gồm Đại Hùng Tinh, Sirius và Thất Nữ, và Chân sư DK xem xét tam giác ấy từ mọi góc độ khác nhau. Về cơ bản, trong công việc nghiên cứu Khoa Học Tam Giác này, chúng ta nghiên cứu các tam giác liên quan đến hành tinh, hệ mặt trời và vùng vũ trụ lân cận nhiều hơn là các tam giác bên trong thể dĩ thái của chúng ta. Nhưng cuối buổi, chúng ta luôn có một bài tham thiền ngắn để đưa mọi điều trở lại với sự tương tác giữa những người mà có lẽ các bạn đang cùng tham gia công việc tam giác. Những người phụ trách cho tôi biết đây là chương trình thứ 100 của chúng ta. Như vậy, chương trình đã diễn ra khá lâu, và đây là buổi đọc thứ 40 của chúng ta trong cuốn Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới.
That is a milestone, I guess you might say, and it'll be certainly a while before we are completed with this book. We’ll, I think, easily pass the 200th program if all goes well and who knows how much farther. We have approximately six years and a little more before 2025. Then we'll look at what kinds of revisions may be possible and what has happened in the world. So right now, we dealt last time with the glamour of materiality. It's the one of the major glamours that assails the human being at this time and here's the list of them. Later in the book, around page 120 he goes into the glamour of the rays and he gets a bit more specific about the whole thing. But now we have coming up the next four glamours of sentiment, devotion, of the pairs of opposites and we won't reach it today, the glamours of the path, although they should be very interesting to us.
Đó là một cột mốc, tôi nghĩ có thể nói như vậy, và chắc chắn còn khá lâu nữa chúng ta mới hoàn tất cuốn sách này. Tôi nghĩ chúng ta sẽ dễ dàng vượt qua chương trình thứ 200 nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp, và ai biết còn đi xa đến đâu nữa. Chúng ta còn khoảng hơn sáu năm nữa trước năm 2025. Khi đó, chúng ta sẽ xem có thể có những sự sửa đổi nào và điều gì đã xảy ra trên thế giới. Lần trước, chúng ta đã bàn đến ảo cảm về vật chất. Đó là một trong những ảo cảm chính đang tấn công con người vào lúc này, và đây là danh sách những ảo cảm ấy. Về sau trong cuốn sách, khoảng trang 120, Ngài đi vào ảo cảm của các cung và trình bày toàn bộ vấn đề cụ thể hơn đôi chút. Nhưng giờ đây, chúng ta sắp đến bốn ảo cảm tiếp theo: tình cảm, sùng tín, các cặp đối đãi và—hôm nay chúng ta sẽ chưa đến phần này—các ảo cảm của Đường Đạo, dù hẳn chúng rất đáng quan tâm đối với chúng ta.
I always try, if I can or remember, to welcome you at first and then if you join later, well, then here you are and we're glad that you're present. So, Alexandra and Anne-Marie, Annette, Antoinette, Catherine, Deborah, Jean-Pierre, Karen, Margot, Mariana, Marissa, let's see here, Martha, Nathalie, Olivia, Rebecca, Risto, Sumti, Suzanne, Tuija, Winnie, Zenaidi, and Veronica, and over here on staff, we have Michael Stacey in the wee hours of the morning, riding herd on all of us from the technical point of view. So, I think we're ready for just a little bit of an alignment before we get into the glamour of sentiment, and I'll also quote an important part of the glamour of sentiment that comes from The Rays and the Initiations as it's one of the major eliminations through which all of us must pass if we want to do true group work.
Nếu có thể hoặc nếu nhớ, tôi luôn cố gắng chào đón các bạn ngay từ đầu; còn nếu các bạn tham gia muộn hơn thì các bạn đã có mặt ở đây, và chúng tôi rất vui vì sự hiện diện của các bạn. Alexandra và Anne-Marie, Annette, Antoinette, Catherine, Deborah, Jean-Pierre, Karen, Margot, Mariana, Marissa, hãy xem nào, Martha, Nathalie, Olivia, Rebecca, Risto, Sumti, Suzanne, Tuija, Winnie, Zenaidi và Veronica; còn bên đội ngũ hỗ trợ, chúng ta có Michael Stacey, đang thức vào lúc tinh mơ để quán xuyến tất cả chúng ta về mặt kỹ thuật. Tôi nghĩ chúng ta đã sẵn sàng chỉnh hợp một chút trước khi đi vào ảo cảm tình cảm, và tôi cũng sẽ trích một đoạn quan trọng về ảo cảm tình cảm từ Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, vì đó là một trong những điều chính yếu mà tất cả chúng ta phải loại bỏ nếu muốn thực hiện công việc nhóm chân chính.
So, on we go, and we come together in the silence and on the threshold of the ashram, we visualize ourselves working in cooperation with Master DK's ashram, and the method has been given for us to challenge the fogs and miasmas, the confusions, of the astral plane, which keeps so many human beings in prison, as it were, maybe 80%, maybe 85%, and we offer our cooperation in the dissipation, the thinning out, the attenuation, the dispersion of the glamorous tendencies, and we can do that because we're working on glamour in our own lives, even the people that have taken, let's say, the second initiation, maybe some of the major glamours are now dissipated, and maybe illusion begins to be the object of their attention, but the glamours are not entirely gone. Not until maybe the third degree where we have the eradication of what's usually called glamour, and then the person may be in the thick of having to deal with the misinterpretations of illusion. We went through the seven types of illusion based upon mental mistakes. So we're ready to go and read our selection for the day, and make notes if you want to deal with any particular area, or anything that may come to your mind about occultism due to the reading that we're focusing upon. We're not yet through half the book, you realize that, and I realize that.
Chúng ta tiếp tục, cùng nhau hội tụ trong im lặng; và trên ngưỡng cửa ashram, chúng ta hình dung mình đang hợp tác với ashram của Chân sư DK. Chúng ta đã được trao phương pháp để đương đầu với những màn sương, chướng khí và sự hỗn loạn của cõi cảm dục, vốn giam cầm rất nhiều người, có thể nói như vậy, có lẽ 80%, có lẽ 85%. Chúng ta góp sức làm tiêu tan, làm mỏng đi, làm suy giảm và phân tán các khuynh hướng ảo cảm. Chúng ta có thể làm điều đó vì đang khắc phục ảo cảm trong chính cuộc sống của mình. Ngay cả với những người đã trải qua lần điểm đạo thứ hai, có lẽ một số ảo cảm chính giờ đây đã tiêu tan, và có lẽ ảo tưởng bắt đầu trở thành đối tượng chú ý của họ, nhưng các ảo cảm vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Có lẽ phải đến cấp độ thứ ba, điều thường được gọi là ảo cảm mới bị nhổ tận gốc; khi đó, người ấy có thể đang phải dốc sức xử lý những diễn giải sai lạc của ảo tưởng. Chúng ta đã đi qua bảy loại ảo tưởng dựa trên những sai lầm trí tuệ. Vậy chúng ta đã sẵn sàng đọc phần tuyển chọn hôm nay; các bạn hãy ghi chú nếu muốn bàn đến một khía cạnh cụ thể nào đó, hoặc bất cứ điều gì về huyền bí học nảy ra trong trí khi đọc phần mà chúng ta đang tập trung vào. Chúng ta vẫn chưa đi được nửa cuốn sách; các bạn biết điều đó, và tôi cũng biết.
Now, we spent quite a bit of time on the glamour of materiality last time, and how DK would be looking ahead to the wilderness experience, which maybe many have participated in already, and they will learn in that experience how little, in material terms, is really necessary for the happy, productive, and spiritual life. So, now let's think together about this glamour of sentiment, which is often a question, as he says, in The Rays and the Initiations of liking and disliking, and it's based in the astral body, of course.
Lần trước, chúng ta đã dành khá nhiều thời gian cho ảo cảm về vật chất, và cách Chân sư DK nhìn về trải nghiệm nơi hoang mạc mà có lẽ nhiều người đã trải qua. Qua trải nghiệm ấy, họ sẽ học được rằng, xét về vật chất, một cuộc sống hạnh phúc, hữu ích và tinh thần thực sự cần rất ít. Giờ đây, chúng ta hãy cùng suy nghĩ về ảo cảm tình cảm này; như Ngài nói trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, nó thường là vấn đề thích và không thích, và dĩ nhiên, nó bắt nguồn từ thể cảm dục.
[1] The glamour of sentiment holds the good people of the world in thrall, and in a dense fog of emotional reactions.
[1] Ảo cảm của tình cảm giam giữ những người tốt trên thế giới trong vòng kiềm tỏa và trong làn sương mù đậm đặc của những phản ứng cảm xúc.
I think you just have to look at how some of the popular types are treated in the news feeds, and, what feud is going on, and what rapprochement is going on, how people are together or apart based upon some kind of astral magnetism or rebuff.
Tôi nghĩ các bạn chỉ cần nhìn cách một số người nổi tiếng được đối xử trên các luồng tin tức, những mối bất hòa nào đang diễn ra, những sự hòa giải nào đang diễn ra, cách người ta đến với nhau hoặc xa rời nhau dựa trên một dạng từ điện cảm dục hay sự cự tuyệt nào đó.
[2] The race has reached a point wherein the men of good intention, of some real understanding and owning a measure of freedom from the love of gold (symbolic way of speaking of the glamour of materiality)
[2] Nhân loại đã đạt đến một điểm mà những người có thiện ý, có đôi phần thấu hiểu thực sự và phần nào thoát khỏi lòng ham mê vàng bạc (cách nói mang tính biểu tượng về ảo cảm của tính vật chất)
We're rising up a bit, aren't we? The first glamour was very materially focused, and the next is a little less so, because those who are subject to it have achieved at least maybe some freedom from this glamour of thinking that so many material things are necessary for the happy life. I'm reminded of Ramakrishna in India. Of course, he was a very high initiate, but he just basically had his bed, a little chest of drawers, I mean, utter simplicity, so that he could concentrate really on what needed to be done.
Chúng ta đang vươn lên một chút, phải không? Ảo cảm đầu tiên tập trung rất nhiều vào vật chất, còn ảo cảm tiếp theo thì ít hơn đôi chút, vì những người chịu ảnh hưởng của nó ít nhất có lẽ đã phần nào thoát khỏi ảo cảm cho rằng rất nhiều thứ vật chất là cần thiết cho một cuộc sống hạnh phúc. Tôi nhớ đến Ramakrishna ở Ấn Độ. Dĩ nhiên, Ngài là một điểm đạo đồ rất cao cấp, nhưng về cơ bản, Ngài chỉ có một chiếc giường, một chiếc tủ ngăn kéo nhỏ—sự giản dị tuyệt đối—để Ngài thực sự có thể tập trung vào những gì cần làm.
But of course, when you look at it, there are responsibilities to wield the material resources of the world, and such great initiates as Master R, let us say, has been involved in that. So, that utter simplicity is one way to go, and then there's the responsibility regarding the materiality of the world, and that's going to be coming in more and more in the Aquarian age.
Nhưng dĩ nhiên, khi xem xét điều đó, có những trách nhiệm trong việc sử dụng các nguồn lực vật chất của thế giới, và những điểm đạo đồ vĩ đại như Chân sư R., chẳng hạn, đã tham gia vào công việc ấy. Vì vậy, sự giản dị tuyệt đối là một hướng đi, và còn có trách nhiệm đối với phương diện vật chất của thế giới; trách nhiệm ấy sẽ ngày càng nổi bật trong kỷ nguyên Bảo Bình.
So anyway, people of good intention, and of some real understanding, and because they are to some measure free of the love of gold,
Dù sao, những người có thiện ý, có chút thấu hiểu thực sự, và vì họ phần nào thoát khỏi lòng ham mê vàng bạc,
[3] are turning their desire to their duty, their responsibilities, their effects upon others,
[3] đang hướng dục vọng của mình vào bổn phận, trách nhiệm, những ảnh hưởng của mình đối với người khác,
That's an important one, right? Judging by how people react to us,
Đó là một điểm quan trọng, phải không? Đánh giá qua cách người ta phản ứng với chúng ta,
[4] and to their sentimental understanding of the nature of love.
[4] và vào sự thấu hiểu nhuốm màu tình cảm của họ về bản chất của tình thương.
This is the important one right now in our consideration, and who's to say how much we really know about what love purely and truly is, rather than our own rather distorted, sentimental appraisal of what love means. Now, let's think clearly here about love in our own lives.
Đây là điểm quan trọng trong sự xem xét của chúng ta lúc này, và ai có thể nói chúng ta thực sự biết được bao nhiêu về tình thương thuần khiết và chân thật, thay vì cách đánh giá mang tính tình cảm và khá méo mó của chính mình về ý nghĩa của tình thương. Giờ đây, chúng ta hãy suy nghĩ rõ ràng về tình thương trong cuộc sống của chính mình.
[5] Love, for many people, for the majority indeed, is not really love
[5] Đối với nhiều người, thực ra là đối với đa số, tình thương không thực sự là tình thương
That's a direct statement, isn't it?
Đó là một lời khẳng định thẳng thắn, phải không?
[6] but a mixture of the desire to love and the desire to be loved,
[6] mà là sự pha trộn giữa dục vọng muốn yêu thương và dục vọng muốn được yêu thương,
The love of being loved is a big second-ray glamour, and we have to remember that so many gathered around Master DK's work are either in their soul or Monadically on the second ray, and high influences can be grabbed by the personality and expressed in a personal way, even though they emanated from high sources. So, it's
Sự yêu thích được yêu là một ảo cảm lớn của cung hai, và chúng ta phải nhớ rằng rất nhiều người quy tụ quanh công việc của Chân sư DK thuộc cung hai về linh hồn hoặc chân thần. Những ảnh hưởng cao siêu có thể bị phàm ngã nắm lấy và biểu lộ theo cách cá nhân, dù chúng phát xạ từ những nguồn cao siêu. Vì vậy, đó là
a mixture of the desire to love and the desire to be loved,
sự pha trộn giữa ham muốn yêu thương và ham muốn được yêu thương,
[7] plus a willingness to do anything to show and evoke this sentiment,
[7] cộng với sự sẵn lòng làm bất cứ điều gì để biểu lộ và khơi dậy tình cảm này,
This desire,
Ham muốn này,
[8] and consequently to be more comfortable in one’s own interior life.
[8] và do đó cảm thấy dễ chịu hơn trong đời sống nội tâm của chính mình.
Well, here we have DK really analyzing, step-by-step, how so many people approach the factor of love, which really is so fundamental, of course, but a mistake is being made, and the glamour of the desire for popularity is related to this love of being loved, and it's part of what goes on in the second ray in general, and the astral plane is attuned, being the sixth and the second from below. It is attuned to the second ray, and the sixth ray suffers from this too. Maybe the hard line rays don't suffer from it quite so much. Maybe not the fifth ray and the first ray, and then he says something really interesting,
Ở đây, Chân sư DK thực sự phân tích từng bước cách rất nhiều người tiếp cận yếu tố tình thương, vốn dĩ nhiên hết sức căn bản, nhưng họ đang mắc một sai lầm. Ảo cảm về ham muốn được nổi tiếng có liên hệ với sự yêu thích được yêu này, và nó là một phần trong những gì diễn ra ở cung hai nói chung. Cõi cảm dục hòa nhịp với cung hai, vì là cõi thứ sáu và là cõi thứ hai tính từ dưới lên. Nó hòa nhịp với cung hai, và cung sáu cũng chịu ảnh hưởng này. Có lẽ các cung thuộc tuyến cứng không chịu ảnh hưởng ấy nhiều đến vậy. Có lẽ cung năm và cung một thì không, rồi Ngài nói một điều thực sự thú vị,
[9] The selfishness of the people who are desirous of being unselfish is great.
[9] Tính ích kỷ của những người mong muốn trở nên vị tha thật lớn lao.
So, let's just pause on that just for a moment. Consider it as kind of a little seed thought right there in the midst of everything. The selfishness of the people who are desirous — they're longing to be unselfish, but really they are selfish, they're thinking of themselves and their astral reactions to other people. They're not seeing from the perspective of the soul. We talk all the time about seeing from the perspective of the soul. It's not an easy thing. First to be influenced by the inflow of soul energy in our normal personality life, and then going even further to focus within the higher mind itself and that perspective of the higher mind, and that's much more rare and consists of true meditation. So, I guess one has to look at how one expresses love in the world unto one's, as Master Morya would call it, one's near ones.
Chúng ta hãy dừng lại ở điều đó một lát. Hãy xem đó như một tư tưởng hạt giống nhỏ ngay giữa tất cả những điều này. Tính ích kỷ của những người mong muốn —họ khao khát trở nên vô kỷ, nhưng thực ra họ ích kỷ; họ đang nghĩ về bản thân và những phản ứng cảm dục của mình đối với người khác. Họ không nhìn từ góc nhìn của linh hồn. Chúng ta luôn nói về việc nhìn từ góc nhìn của linh hồn. Đó không phải là điều dễ dàng. Trước hết là chịu ảnh hưởng của dòng năng lượng linh hồn tuôn vào đời sống phàm ngã thông thường của chúng ta, rồi tiến xa hơn nữa để tập trung ngay trong thượng trí và góc nhìn của thượng trí; điều đó hiếm hơn nhiều và chính là tham thiền chân chính. Vì vậy, tôi nghĩ mỗi người phải xem mình biểu lộ tình thương trên thế giới như thế nào đối với những người mà Chân sư Morya gọi là những người thân cận của mình.
Of what does this love really consist? Do we, wish to evoke a favorable, comfortable, harmonious, non-challenging reaction from the others? Why do we love or say we love? How intense is our desire to love? And why does that desire exist? Well, real love is a different thing, and obviously we're going to grow into that the more soul-infused we become and the more capable we become of abstracting ourselves from personality biases and centering upon the plane of higher mind, or even as the Hierarchy does, higher still at a greater point of tension.
Tình thương này thực sự gồm những gì? Chúng ta có muốn khơi dậy nơi người khác một phản ứng thuận tình, dễ chịu, hài hòa, không thách thức mình hay không? Vì sao chúng ta yêu thương hoặc nói rằng mình yêu thương? Ham muốn yêu thương của chúng ta mãnh liệt đến mức nào? Và vì sao ham muốn ấy tồn tại? Tình thương chân thật là một điều khác, và rõ ràng chúng ta sẽ dần phát triển vào đó khi ngày càng được linh hồn thấm nhuần, ngày càng có khả năng rút mình khỏi những thiên kiến của phàm ngã và tập trung trên cõi thượng trí, hoặc thậm chí, như Thánh đoàn, còn cao hơn nữa, tại một điểm tập trung nhất tâm lớn hơn.
[10] So many contributing sentiments gather around the sentiment or desire to show those amiable and pleasant characteristics which will evoke a corresponding reciprocation towards the would-be lover or server who is still completely surrounded by the glamour of sentiment.
[10] Biết bao tình cảm phụ trợ quy tụ quanh tình cảm hay dục vọng muốn biểu lộ những đặc tính dễ mến và dễ chịu nhằm khơi dậy sự đáp lại tương ứng đối với người muốn yêu thương [Page 77] hoặc phụng sự nhưng vẫn còn hoàn toàn bị ảo cảm của tình cảm bao quanh.
The senses, the astrality all get into the act, and it's not true mentality, it's not true kama, it's some kind of mixture, it's related to kama-manas, and it still has a big personal expectation in it.
Các giác quan, phương diện cảm dục đều tham gia, và đó không phải là trí tuệ chân chính, cũng không phải kama chân chính; đó là một dạng pha trộn, có liên hệ với kama-manas, và vẫn chứa đựng một sự mong đợi cá nhân rất lớn.
How will this other person that I love respond to me? And will it be pleasant or unpleasant? And I seek to evoke those pleasant reactions which makes me feel more harmonious within myself, whereas true love, sometimes they even may call it tough love, may evoke something that is not at all pleasant, and you may have to pass through something where the one you would love is antagonistic toward the true love that you show, and it's not an immediately harmonious situation, but in the long run they are better off and you have expressed love as it should be expressed. So it's not an easy subject really, because it's surrounded by our glamorous notions of love. So the motives are not correct. We want to be loved and to have a return of pleasant amiability and harmony towards us by the gestures we offer. All the time our mind is not on the welfare of the person we love, but on their reaction to us. It's so common, and is it common in our lives? That is a question. I pause every once in a while just for a little reflection.
Người mà tôi yêu thương sẽ đáp ứng với tôi ra sao? Điều đó sẽ dễ chịu hay khó chịu? Tôi tìm cách khơi dậy những phản ứng dễ chịu khiến tôi cảm thấy hài hòa hơn trong chính mình, trong khi tình thương chân thật—đôi khi người ta còn gọi là tình thương nghiêm khắc—có thể khơi dậy điều gì đó hoàn toàn không dễ chịu. Các bạn có thể phải trải qua một tình huống mà người mình muốn yêu thương lại chống đối tình thương chân thật mình biểu lộ, và đó không phải là một tình huống hài hòa ngay tức khắc. Nhưng về lâu dài, người ấy sẽ tốt hơn, và các bạn đã biểu lộ tình thương đúng như cách nó cần được biểu lộ. Vì vậy, đây thực sự không phải là một chủ đề dễ dàng, vì nó bị bao quanh bởi những quan niệm đầy ảo cảm của chúng ta về tình thương. Như vậy, các động cơ không đúng đắn. Chúng ta muốn được yêu thương và muốn những cử chỉ mình trao đi mang lại sự đáp lại hòa nhã, dễ chịu và hài hòa đối với mình. Suốt thời gian ấy, thể trí của chúng ta không hướng đến phúc lợi của người mình yêu thương, mà hướng đến phản ứng của họ đối với mình. Điều đó rất phổ biến; và trong cuộc sống của chúng ta, nó có phổ biến không? Đó là một câu hỏi. Thỉnh thoảng tôi dừng lại một chút để suy ngẫm.
I mean, you can say, who loves more when a disease is seen or some truly debilitating factor in another, let us say? Is it the one who simply preserves harmonious feeling regardless of the progress of this debilitating factor, or is it one who calls the debilitating factor to the attention of the one who is possessed by it, so that some kind of correction or elimination can occur? Who is the greater lover in this case? Even though unpleasantness may arrive, it's just the same as harmlessness, in a certain way. The harmless person may evoke reactions which do not seem to be harmless, but they do improve the life of the one towards whom harmlessness is directed.
Ý tôi là, các bạn có thể hỏi ai yêu thương nhiều hơn khi nhận thấy một căn bệnh hoặc một yếu tố thực sự gây suy nhược nào đó nơi người khác? Là người chỉ duy trì cảm giác hài hòa bất kể yếu tố gây suy nhược ấy đang tiến triển, hay là người khiến người đang chịu ảnh hưởng của nó chú ý đến nó, để có thể có sự điều chỉnh hoặc loại bỏ nào đó? Trong trường hợp này, ai là người yêu thương nhiều hơn? Dù sự khó chịu có thể xuất hiện, theo một cách nào đó, điều này cũng giống như tính vô tổn hại. Người vô tổn hại có thể khơi dậy những phản ứng dường như không vô tổn hại, nhưng chúng thực sự cải thiện cuộc sống của người mà tính vô tổn hại hướng đến.
[11] It is this pseudo-love, based primarily on a theory of love and service,
[11] Chính thứ tình thương giả tạo này, vốn chủ yếu dựa trên một lý thuyết về tình thương và phụng sự,
Not the real thing. I've often said, or have come to the conclusion in my life, that so many of us don't really know what Christ's love is all about at all. We have some kind of theory about it, and when the real thing may come over us, it's a shock as to what it really may be. So, this pseudo-love is based on a theory of love and service be nice to me, I'll be nice to you, therefore we love each other.
Không phải tình thương chân thật. Tôi thường nói, hoặc đã đi đến kết luận trong cuộc đời mình, rằng rất nhiều người trong chúng ta thực sự hoàn toàn không biết tình thương của Đức Christ là gì. Chúng ta có một lý thuyết nào đó về tình thương ấy, và khi tình thương chân thật có thể tràn ngập chúng ta, bản chất thực sự của nó có thể khiến chúng ta sửng sốt. Vậy tình thương giả tạo này dựa trên một lý thuyết về tình thương và phụng sự hãy tử tế với tôi, tôi sẽ tử tế với bạn, vậy là chúng ta yêu thương nhau.
“Be nice”—this theory
“Hãy tử tế”—lý thuyết này
[12] which characterizes so many human relationships such as those existing,
[12] là nét đặc trưng của rất nhiều mối quan hệ giữa con người,
Now let us test ourselves,
Giờ đây, chúng ta hãy tự kiểm nghiệm mình,
such as those existing,
chẳng hạn những mối quan hệ hiện hữu,
[13] for instance, between husband and wife, parents and their children.
[13] chẳng hạn như giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái.
Those are, these family relationships, and they're under the moon in a sense, and under the sign Cancer. The real freedom is not there.
Đó là những mối quan hệ gia đình, và theo một nghĩa nào đó, chúng chịu ảnh hưởng của Mặt Trăng và dấu hiệu Cự Giải. Sự tự do thực sự không có ở đó.
[14] Glamored by their sentiment for them
[14] Bị tình cảm dành cho những người ấy làm mê hoặc
So we have a sentiment for other people rather than the true love.
Vậy chúng ta có tình cảm với người khác thay vì tình thương chân thật.
Glamored by their sentiment for them
Bị mê hoặc bởi tình cảm dành cho những người ấy
[15] and knowing little of the love of the soul which is free itself and leaves others free also,
[15] và ít biết đến tình thương của linh hồn, vốn tự do và cũng để người khác được tự do,
So, there is a great definition, the love of the soul which is free itself and leaves others free also but the sentimental lover doesn't know much about that. The glamoured ones—
Đó là một định nghĩa tuyệt vời, tình thương của linh hồn, vốn tự do và cũng để người khác được tự do nhưng người yêu thương theo tình cảm không biết nhiều về điều đó. Những người bị ảo cảm mê hoặc—
[16] they wander in a dense fog, often dragging with them the ones they desire to serve in order to draw forth a responsive affection.
[16] họ lang thang trong làn sương mù đậm đặc, thường kéo theo những người mà họ mong muốn phụng sự để khơi dậy sự trìu mến đáp lại.
I'm pretty much going to emphasize here that affection is an astral reaction and is not love.
Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh rằng sự trìu mến là một phản ứng cảm dục và không phải là tình thương.
[17] Study the word “affection,” my brother, and see its true meaning.
[17] Huynh đệ của tôi, hãy nghiên cứu từ “trìu mến” và nhận ra ý nghĩa đích thực của nó.
So, when we are affectionate with others, it may be the result of love. It may be, or it may not be. The motive may be different.
Vậy khi chúng ta trìu mến với người khác, điều đó có thể là kết quả của tình thương. Có thể đúng, cũng có thể không. Động cơ có thể khác.
[18] Affection is not love. It is that desire which we express through an exertion of the astral body and this activity affects our contacts;
[18] Sự trìu mến không phải là tình thương. Đó là dục vọng mà chúng ta biểu lộ qua sự vận dụng thể cảm dục, và hoạt động này tác động đến những người chúng ta tiếp xúc;
So, affection is tinged with desire, and love essentially is not, much less so. It is, and now here we go about real love.
Vậy sự trìu mến nhuốm dục vọng, còn tình thương về bản chất thì không, hoặc ít hơn rất nhiều. Nó là—và giờ đây chúng ta đi vào tình thương chân thật.
[19] it is not
[19] đó không phải là
That is, affection is not
Nghĩa là, sự trìu mến không phải là
[20] the spontaneous desirelessness of the soul which asks nothing for the separated self.
[20] trạng thái tự nhiên không còn dục vọng của linh hồn, vốn không đòi hỏi điều gì cho cái ngã riêng rẽ.
That's more what love is, and with affection some hidden request is always there for a congenial and reassuring response. How often those who love seek to be reassured that the one they love loves them in return, and that is still, I guess, as the Christ expressed his love. He wasn't always asking, do you love me? He was giving a great gift, and of course the response of this gift would be love, if the gift is given properly, but not always seeking that return affection in the direction of the one who gives it.
Điều đó gần với bản chất của tình thương hơn; còn trong sự trìu mến, luôn có một đòi hỏi ngầm về một sự đáp ứng tương hợp và trấn an. Những người yêu thương thường tìm kiếm sự bảo đảm rằng người mình yêu thương cũng yêu thương mình biết bao; và điều đó vẫn còn, tôi nghĩ, như cách Đức Christ biểu lộ tình thương của Ngài. Ngài không luôn hỏi: các bạn có yêu thương Tôi không? Ngài đang trao một món quà lớn lao, và dĩ nhiên, sự đáp ứng với món quà ấy sẽ là tình thương, nếu món quà được trao đúng cách; nhưng không phải lúc nào cũng tìm kiếm sự trìu mến đáp lại hướng về người trao tặng.
[21] This glamour of sentiment imprisons and bewilders all the nice people in the world,
[21] Ảo cảm của tình cảm này giam hãm và làm hoang mang tất cả những người tốt trên thế giới,
It is not quite truthful, is it? It just seeks to preserve always this external harmony which is not a deeply rooted harmony. It's a bit like peace at any price.
Điều đó không hoàn toàn chân thật, phải không? Nó chỉ tìm cách luôn duy trì sự hài hòa bên ngoài này, một sự hài hòa không có gốc rễ sâu xa. Nó hơi giống sự bình yên bằng mọi giá.
This glamour of sentiment imprisons and bewilders all the nice people in the world,
Ảo cảm tình cảm này giam cầm và làm hoang mang tất cả những người dễ mến trên thế giới,
[22] imposing upon them obligations which do not exist, and producing a glamour which must eventually be dissipated by the pouring in of true and selfless love.
[22] áp đặt lên họ những nghĩa vụ vốn không tồn tại, đồng thời tạo ra một ảo cảm mà cuối cùng dòng tình thương chân thật và vị tha tuôn vào phải làm tiêu tan.
So, just pause for a moment as you examine your own life and how you express love. There's some people that shield their interactions so completely by this sentiment of harmony and affection that they never get to the root of what love really is, and they never really help the other person, or are helped. They simply preserve the affectionate harmony.
Hãy dừng lại một lát để xem xét cuộc sống của chính mình và cách mình biểu lộ tình thương. Có những người bao bọc hoàn toàn những tương tác của mình bằng tình cảm hài hòa và trìu mến này, đến nỗi họ không bao giờ chạm đến cội rễ của tình thương thực sự, và không bao giờ thực sự giúp được người khác hoặc nhận được sự giúp đỡ. Họ chỉ duy trì sự hài hòa trìu mến.
So, think about the people you love and how you express the love. Think of the Christ.
Hãy nghĩ đến những người các bạn yêu thương và cách các bạn biểu lộ tình thương ấy. Hãy nghĩ đến Đức Christ.
He offered to those to whom he spoke many direct first-ray statements coming from his first-ray mind, as we are told, in The Destiny of the Nations, and the things that he said may not always have been pleasant or agreeable to the people who heard them, but they came out of a profound love to see liberated the people that he was teaching.
Ngài đã trao cho những người Ngài nói chuyện cùng nhiều lời khẳng định thẳng thắn thuộc cung một, phát xuất từ thể trí cung một của Ngài, như chúng ta được cho biết trong Vận Mệnh của các Quốc Gia. Những điều Ngài nói có thể không phải lúc nào cũng dễ chịu hay vừa ý người nghe, nhưng chúng phát xuất từ một tình thương sâu sắc, mong thấy những người Ngài đang giảng dạy được giải thoát.
Think about how Master DK has written his letters. Are they effusive with some kind of rosy reassurance that the Master, after all, does love you, or do they help to direct you towards liberation, greater freedom, spiritual freedom in your life? So, I think the true lover, the one who really can express true and selfless love, has to be very alert to what the need of the other may be, and sometimes, it's not a pretty picture, and one will run the risk of having a reaction directed against him or her if the real need is addressed. So, this simple, apparently simple issue of expressing love is not simple at all, at least in the initial phases when you are abstracting yourself from some kind of false expression based upon personal expectation and your own desire. Later, I guess the simplicity will return. Now, what I'd like to do is read from the—there are four eliminations which must occur in Rule 11. They are advanced rules for the group.
Hãy nghĩ về cách Chân sư DK viết những bức thư của Ngài. Chúng có tràn ngập những lời trấn an màu hồng rằng rốt cuộc Chân sư quả có yêu thương các bạn, hay chúng giúp hướng các bạn đến sự giải thoát, sự tự do lớn hơn, sự tự do tinh thần trong cuộc sống? Vì vậy, tôi nghĩ người yêu thương chân thật, người thực sự có thể biểu lộ tình thương chân thật và vô kỷ, phải hết sức nhạy bén trước nhu cầu của người khác. Đôi khi, tình hình không mấy đẹp đẽ, và người ấy sẽ có nguy cơ nhận một phản ứng chống lại mình nếu đề cập đến nhu cầu thực sự. Vì vậy, vấn đề giản dị, có vẻ giản dị này về việc biểu lộ tình thương hoàn toàn không giản dị, ít nhất trong những giai đoạn đầu, khi các bạn đang rút mình khỏi một dạng biểu lộ sai lạc dựa trên sự mong đợi cá nhân và ham muốn của chính mình. Tôi nghĩ về sau sự giản dị sẽ trở lại. Giờ đây, điều tôi muốn làm là đọc từ—có bốn điều phải loại bỏ trong Quy luật 11. Đó là những quy luật cao cấp dành cho nhóm.
They are rules for disciples and initiates, and Rule 11 really prepares the way for the fourth initiation, even taken in a group sense. It's a very high rule, but the eliminations which are proposed are not easy. So, one of the very first eliminations is this non-sentimental, or the cutting out of sentimental group interrelation and interaction. So, let's look at that.
Đó là những quy luật dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ, và Quy luật 11 thực sự chuẩn bị con đường cho lần điểm đạo thứ tư, ngay cả xét theo ý nghĩa nhóm. Đó là một quy luật rất cao, nhưng những sự loại bỏ mà nó đề xuất không dễ dàng. Vì vậy, một trong những điều đầu tiên phải loại bỏ là tính tình cảm, hay sự cắt bỏ những mối liên hệ và tương tác nhóm mang tính tình cảm. Chúng ta hãy xem điều đó.
[23] It might be of value to consider briefly what group initiation involves, and to do this factually and not sentimentally and aspirationally.
[23] Có lẽ sẽ hữu ích nếu xem xét ngắn gọn những gì việc điểm đạo nhóm bao hàm, và xem xét điều này một cách thực tế, không theo tình cảm và khát vọng.
So, it's a cool, clear mind, in a way, and you're dealing with the clear, cold light. There's many definitions of the clear, cold light. It does involve the buddhic energy, and in terms of the responsiveness of the personality, it is cold to the usual inducements, and clear in its mind through buddhi and Manas, and I find the word factually very important here, because sentiment and even aspiration, these are not fact. These are not the condition, conditions as they actually exist, and I guess above all, on the path, even though it's often quite unpleasant, we have to be factual about ourselves. So, we go on here.
Theo một nghĩa nào đó, đó là một thể trí điềm tĩnh, sáng suốt, và các bạn đang làm việc với ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo. Có nhiều định nghĩa về ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo. Nó thực sự liên quan đến năng lượng Bồ đề; xét về sự đáp ứng của phàm ngã, nó lạnh lùng trước những sức lôi cuốn thông thường, và sáng suốt trong thể trí nhờ Bồ đề và Manas. Tôi thấy cụm từ “dựa trên thực tế” rất quan trọng ở đây, vì tình cảm và ngay cả khát vọng cũng không phải là thực tế. Chúng không phải là những điều kiện đúng như đang thực sự tồn tại. Và tôi nghĩ trên Đường Đạo, trên hết, dù điều đó thường khá khó chịu, chúng ta phải nhìn nhận bản thân theo thực tế. Chúng ta tiếp tục ở đây.
[24] One of the problems confronting the Hierarchy in this connection is the elimination of sentiment
[24] Một trong những vấn đề mà Thánh đoàn phải đối mặt trong mối liên hệ này là loại bỏ tình cảm—
Now, here's how he defines it.
Đây là cách Ngài định nghĩa điều đó.
[25] that curious, emotional reaction and relationship which links all the members of a group together in the bonds of liking or disliking.
[25] thứ phản ứng và mối quan hệ cảm xúc kỳ lạ liên kết mọi thành viên trong nhóm bằng những ràng buộc của sự ưa thích hoặc không ưa thích.
Think about this definition of sentiment. It's still operative, even in a group of a relatively high nature, and has to be eliminated. It is emotional.
Hãy suy nghĩ về định nghĩa này của tình cảm. Nó vẫn hoạt động, ngay cả trong một nhóm có bản chất tương đối cao, và phải được loại bỏ. Nó mang tính cảm xúc.
Think about how we are in our groups. Do we like overmuch the personalities of those with whom we are linked, or is the factor of rebuff operative within our group process?
Hãy nghĩ về cách chúng ta hiện diện trong các nhóm của mình. Chúng ta có quá ưa thích phàm ngã của những người gắn bó với mình, hay yếu tố cự tuyệt đang hoạt động trong tiến trình nhóm?
[26] Where there is liking, then too strong a personality relation is established, as far as the good of the group is concerned.
[26] Khi có sự ưa thích, một mối quan hệ phàm ngã quá mạnh sẽ hình thành, xét theo lợi ích của nhóm.
Really, the consciousness has to be on other things other than, I like you, I dislike you.
Thực sự, tâm thức phải hướng đến những điều khác ngoài chuyện tôi thích bạn, tôi không thích bạn.
[27] The group equilibrium is disturbed.
[27] Trạng thái quân bình của nhóm bị xáo trộn.
Now, think about that for a minute, and you're within your group process and see if you can see that it is so or has been so.
Hãy nghĩ về điều đó trong một phút, đặt mình trong tiến trình nhóm và xem các bạn có nhận thấy điều ấy đang hoặc đã từng xảy ra hay không.
I mean, when you get together with your group brothers and sisters, is this factor of liking prominent, or is the consciousness focused otherwise?
Ý tôi là, khi các bạn gặp gỡ các huynh đệ và tỉ muội trong nhóm, yếu tố ưa thích này có nổi bật không, hay tâm thức tập trung vào điều khác?
[28] Where there is disliking, the inner faculty of rebuff works constantly, and cleavages then occur.
[28] Khi có sự không ưa thích, năng lực khước từ bên trong hoạt động liên tục, và rồi những rạn nứt xuất hiện.
Think about liking. I'm like you, you're like me, therefore we like each other. You are unlike me, I am unlike you, therefore we dislike each other. It's not a factual appraisal of who the other person is and what their value to the group may be. It's not based on fact at all. It's simply based upon this attraction and repulsion as it is experienced within the astral body.
Hãy nghĩ về sự ưa thích. Tôi giống bạn, bạn giống tôi, vì vậy chúng ta thích nhau. Bạn khác tôi, tôi khác bạn, vì vậy chúng ta không thích nhau. Đó không phải là sự đánh giá dựa trên thực tế về người kia là ai và giá trị của họ đối với nhóm có thể là gì. Nó hoàn toàn không dựa trên thực tế. Nó chỉ dựa trên sự thu hút và đẩy lùi như được trải nghiệm trong thể cảm dục.
[29] Is it not true, my brothers, that your relation to each other is frequently subjected to the impact of approval or of disapproval?
[29] Các huynh đệ của Tôi, chẳng phải mối quan hệ giữa các bạn thường xuyên chịu tác động của sự tán thành hoặc không tán thành hay sao?
Oh, yes, that person is doing things just the way I would do them. I approve, I like.
Đúng rồi, người ấy đang làm mọi việc đúng theo cách tôi sẽ làm. Tôi tán thành, tôi thích.
Oh, that person is not doing things as I would do them. I disapprove, I dislike. It's a kind of one of the exercise of the pairs of opposites, attraction and repulsion.
Người ấy không làm mọi việc theo cách tôi sẽ làm. Tôi không tán thành, tôi không thích. Đó là một dạng hoạt động của các cặp đối đãi, thu hút và đẩy lùi.
[30] When that attitude exists, the first steps towards group fusion are absent.
[30] Khi thái độ ấy tồn tại, những bước đầu hướng tới sự dung hợp nhóm vẫn còn thiếu vắng.
See, we have to be capable somehow of not being put off or not being overly attracted by the expressions and mannerisms of the group members. We have to see them in a different way, like the real being who's behind the more obvious personality characteristics, and that requires a degree of spiritual discernment to discern the true spirituality, the true soul nature of the persons involved. So where that attitude exists, approval, disapproval, liking, disliking,
Các bạn thấy đấy, bằng cách nào đó, chúng ta phải có khả năng không bị đẩy xa hoặc bị thu hút quá mức bởi những biểu hiện và cung cách của các thành viên trong nhóm. Chúng ta phải nhìn họ theo một cách khác, như con người thực sự đằng sau những đặc điểm phàm ngã dễ thấy hơn. Điều đó đòi hỏi một mức độ phân biện tinh thần để nhận ra phẩm chất tinh thần chân thật, bản chất linh hồn chân thật của những người liên quan. Vậy ở đâu có thái độ tán thành, không tán thành, thích, không thích,
the first steps towards group fusion are absent.
những bước đầu tiên hướng đến sự dung hợp nhóm còn vắng bóng.
[31] This is what we mean by sentiment, and this emotional reaction must disappear as a preliminary stage.
[31] Đó là điều chúng ta muốn nói khi dùng từ tình cảm, và việc làm cho phản ứng cảm xúc này biến mất phải là một giai đoạn sơ khởi. (RI, 209)
Let's try to hold that in mind, because we're all of us, and increasingly in the forthcoming Aquarian age, going to be interested in group work, of course, and there are certain prerequisites, eliminating the glamorous sentiment, cutting the personality ties between the group members, learning how to work as a miniature hierarchy without a false leveling effect or somehow, envy and jealousy and condescension and all those things. I'm higher, I'm lower, you're higher, you're lower, all that kind of stuff. As Mary Bailey used to describe it, one has to recognize what's called spheres of responsibility, spheres of responsibility, and then the people are justly apportioned in terms of what is best for them to handle within the group process, and finally, occult silence. We have to eliminate the violations of occult silence before we're ready for real group work, and that means keeping our mental nature effectively organized. So we speak appropriately and proportionally, and think appropriately and proportionally in the presence of various types of individuals. So we're not, blabbing on about the ashram to people for whom it makes absolutely no difference and can have a negative effect for them, and we're not corrupting the thought of the ashram by all kinds of mundane and personal things.
Chúng ta hãy cố ghi nhớ điều đó, vì tất cả chúng ta, và ngày càng nhiều hơn trong kỷ nguyên Bảo Bình sắp tới, dĩ nhiên sẽ quan tâm đến công việc nhóm. Có những điều kiện tiên quyết: loại bỏ tình cảm mang tính ảo cảm, cắt đứt những ràng buộc phàm ngã giữa các thành viên trong nhóm, học cách làm việc như một Thánh đoàn thu nhỏ, không có sự san bằng giả tạo hay đố kỵ, ghen tuông, thái độ kẻ cả và tất cả những điều ấy. Tôi cao hơn, tôi thấp hơn, bạn cao hơn, bạn thấp hơn, tất cả những chuyện như vậy. Như Mary Bailey từng mô tả, mỗi người phải nhận ra điều được gọi là các phạm vi trách nhiệm; rồi mọi người được phân công công bằng theo những gì phù hợp nhất để họ đảm nhận trong tiến trình nhóm. Và cuối cùng là sự im lặng huyền bí. Chúng ta phải loại bỏ những vi phạm sự im lặng huyền bí trước khi sẵn sàng cho công việc nhóm thực sự, và điều đó có nghĩa là giữ cho bản chất trí tuệ của mình được tổ chức hữu hiệu. Như vậy, chúng ta nói năng thích hợp, có chừng mực, và suy nghĩ thích hợp, có chừng mực trước nhiều loại người khác nhau. Chúng ta không huyên thuyên về ashram với những người mà điều đó hoàn toàn không có ý nghĩa gì và có thể gây ảnh hưởng tiêu cực cho họ; chúng ta cũng không làm ô nhiễm tư tưởng của ashram bằng đủ loại chuyện thế tục và cá nhân.
We can't really drag our personality into that higher point of tension we call the ashram. So DK says here,
Chúng ta thực sự không thể kéo phàm ngã của mình vào điểm tập trung nhất tâm cao hơn mà chúng ta gọi là ashram. Vì vậy, ở đây Chân sư DK nói,
[32] I am but touching with brevity upon these glamours for each of you can elaborate them for yourselves, and in so doing will discover where you stand in the world of fog and glamour.
[32] Tôi chỉ đề cập ngắn gọn đến những ảo cảm này vì mỗi người trong các bạn đều có thể tự khai triển chúng, và khi làm như vậy sẽ khám phá ra mình đang đứng ở đâu trong thế giới của sương mù và ảo cảm.
There's some sections from the Old Commentary which are very good at painting this picture.
Có một số đoạn trong Cổ Luận phác họa bức tranh này rất hay.
[33] Thus, with knowledge,
[33] Như vậy, với tri thức,
Because you see, right,
Vì các bạn thấy đấy,
[34] you can begin to free yourselves from the glamour of the world.
[34] các bạn có thể bắt đầu tự giải thoát khỏi ảo cảm của thế giới.
So that's a little section on the glamour of sentiment, and trying to understand whether it's love or not love.
Đó là một đoạn ngắn về ảo cảm tình cảm, và về việc cố gắng thấu hiểu liệu đó có phải là tình thương hay không.
I'm going to just note where we are, because I think it's better for us to concentrate on that little bit, rather than to race ahead. We do have the glamour of devotion coming up, and it's an important one when dealing with the remnants of the sixth ray that many of us may have, and the otherwise expression of the sixth ray, and here is 18 of, I see I did an incorrect thing there, and this brings us to, we started it on the 18th, and we went to whatever page we went to here. Not too far into it, but far enough, just a page or two. But it's a deep matter, and since love is of the utmost importance, we want to know what it really is, and not be fooled by some kind of sentimentalizing of it, and we'll start next week with this, I believe, and we'll be starting from page 77, and we'll be dealing with this glamour of devotion, and maybe another one. These five glamours are fundamental within humanity, and later we may discover certain Ray glamours that we have a problem with, and that will be indicated, and that our various groups may have a problem with. That's good, and that will be coming up in another 40 or 50 pages. We did review those at one point, and we'll review them again, because certainly we have not eliminated completely those tendencies that are expressed in the Ray glamours.
Tôi sẽ ghi lại chúng ta đang ở đâu, vì tôi nghĩ tốt hơn là tập trung vào phần ngắn ấy thay vì vội vàng đi tiếp. Chúng ta sắp đến Ảo cảm Sùng tín, một ảo cảm quan trọng khi bàn đến những tàn dư cung sáu mà nhiều người trong chúng ta có thể còn mang, và những cách biểu lộ khác của cung sáu. Đây là ngày 18 của—tôi thấy mình đã làm sai ở đó—và điều này đưa chúng ta đến; chúng ta bắt đầu vào ngày 18, rồi đã đi đến trang nào đó ở đây. Chưa đi quá xa, nhưng cũng đủ, chỉ một hoặc hai trang. Tuy nhiên, đây là một vấn đề sâu sắc, và vì tình thương có tầm quan trọng tối cao, chúng ta muốn biết nó thực sự là gì, và không để mình bị đánh lừa bởi một dạng tình cảm hóa tình thương nào đó. Tôi tin rằng tuần tới chúng ta sẽ bắt đầu với phần này, từ trang 77, và sẽ bàn đến Ảo cảm Sùng tín này, có lẽ thêm một ảo cảm khác nữa. Năm ảo cảm này là những ảo cảm căn bản trong nhân loại; về sau, chúng ta có thể khám phá một số ảo cảm của các cung mà mình gặp khó khăn, và những ảo cảm ấy sẽ được chỉ ra, cũng như những ảo cảm mà các nhóm khác nhau của chúng ta có thể gặp khó khăn. Điều đó tốt, và phần ấy sẽ xuất hiện sau khoảng 40 hoặc 50 trang nữa. Chúng ta đã có lần ôn lại chúng, và sẽ ôn lại lần nữa, vì chắc chắn chúng ta chưa hoàn toàn loại bỏ những khuynh hướng biểu lộ qua các ảo cảm của các cung.
So this is going to be, I suppose, the 25th, and it'll be in the evening rather than the morning. Friends, so that's the glamour of sentiment, and surely it's the energy of love, which is the most important, but it's very different in a way, isn't it, than the glamour of liking and disliking, and expecting something in return, and having the eyes upon the personal self, and caring so much how someone reacts to you when you do certain things. It's quite different, isn't it? A certain impersonality has to be expressed by the one who really loves, and the willingness to bear some unpleasant responses as love is expressed for the welfare of another. That doesn't mean we should go around, cultivating a critical spirit and say, oh, this is what you need, and this is what you need, but he said, at one point he said, you can be truthful with X, Y, or Z because you love enough. I thought I paused at that one, that if you're going to express an analysis, or you're going to call something to someone's attention, it cannot be done from the perspective of a critical spirit. Has to be done within a true context of love. So I don't think we're going to learn everything there is about love in one lifetime. The Solar Logos is just learning, and is not yet a sacred Logos. This is an ongoing thing in our development within the universe. Our particular universe. But we have to get started on the right track. So that's where we can stop on that, and I'll just say I'll open the floor, as it were, to your thoughts along these lines, or what may have been triggered in you by this reading.
Tôi nghĩ buổi này sẽ vào ngày 25, và sẽ diễn ra vào buổi tối thay vì buổi sáng. Các bạn thân mến, đó là ảo cảm tình cảm; và chắc chắn năng lượng tình thương là điều quan trọng nhất, nhưng theo một nghĩa nào đó, nó rất khác với ảo cảm thích và không thích, mong đợi điều gì đó đáp lại, chăm chú vào cái ngã cá nhân, và quá bận tâm đến cách người khác phản ứng với mình khi mình làm những việc nhất định, phải không? Nó rất khác, phải không? Người thực sự yêu thương phải biểu lộ một mức độ vô ngã nhất định, và sẵn lòng chịu đựng một số phản ứng khó chịu khi biểu lộ tình thương vì phúc lợi của người khác. Điều đó không có nghĩa là chúng ta nên đi khắp nơi, nuôi dưỡng tinh thần chỉ trích và nói: đây là điều bạn cần, kia là điều bạn cần. Nhưng có lần Ngài nói rằng các bạn có thể nói thật với X, Y hoặc Z vì các bạn yêu thương đủ nhiều. Tôi nghĩ mình đã dừng lại ở điều đó: nếu các bạn định đưa ra một sự phân tích, hoặc khiến ai đó chú ý đến một điều gì, thì không thể làm điều ấy từ góc nhìn của tinh thần chỉ trích. Điều đó phải diễn ra trong bối cảnh tình thương chân thật. Vì vậy, tôi không nghĩ chúng ta sẽ học được tất cả mọi điều về tình thương trong một kiếp sống. Thái dương Thượng đế chỉ mới đang học, và chưa phải là một Thượng đế thiêng liêng. Đây là điều tiếp diễn trong sự phát triển của chúng ta trong vũ trụ—vũ trụ riêng của chúng ta. Nhưng chúng ta phải khởi đầu đúng hướng. Vậy chúng ta có thể dừng phần ấy ở đây, và tôi xin mở lời mời các bạn chia sẻ những suy nghĩ theo hướng này, hoặc những gì phần đọc này có thể đã khơi dậy trong các bạn.
Questions and Answers – Hỏi và Đáp
Sometimes it's not only what's on the page, but what is the association that comes to you as you're reading certain words from Master DK. So I will look for your hands, or for question marks, or anything of that nature, if you wish to say anything, ask anything. I think it's a very deep subject, and it's so pivotal to all of us because we're on that threshold of the fifth kingdom of nature, all of us are, and that's the kingdom of souls, and that is the kingdom characterized not just by intelligence, but by the adding of this new factor of real love, and to clarify what that is in our lives, well, that is not an easy clarification because we're just used to certain things. There we go.
Đôi khi, vấn đề không chỉ là những gì có trên trang sách, mà còn là những liên tưởng đến với các bạn khi đọc một số lời của Chân sư DK. Vì vậy, tôi sẽ chờ các bạn giơ tay, hoặc đặt dấu hỏi, hay một dấu hiệu tương tự, nếu các bạn muốn nói hoặc hỏi điều gì. Tôi nghĩ đây là một chủ đề rất sâu sắc, và có tính then chốt đối với tất cả chúng ta, vì tất cả chúng ta đều đang ở trên ngưỡng cửa của giới thứ năm trong thiên nhiên, tức giới các linh hồn. Đó là giới không chỉ có đặc trưng là trí thông minh, mà còn có thêm yếu tố mới là tình thương chân thật. Làm rõ tình thương ấy là gì trong cuộc sống của chúng ta không phải là điều dễ dàng, vì chúng ta đã quen với những điều nhất định. Được rồi.
MDR: Rebecca, and there you are. Go ahead, Rebecca.
MDR: Rebecca, bạn đây rồi. Mời bạn nói, Rebecca.
Rebecca: It's Rebecca in Australia. Hello, everybody. I've been finding with the Glamour work that when I have a reaction like, that's not me, I know that I'm on to something.
Rebecca: Tôi là Rebecca ở Úc. Xin chào mọi người. Qua công việc về ảo cảm, tôi nhận thấy rằng khi mình có một phản ứng như “đó không phải là tôi”, thì tôi biết mình đang chạm đến điều gì đó.
MDR: I get it. So the first reaction is, that couldn't be me. I'm a loving person.
MDR: Tôi hiểu. Vậy phản ứng đầu tiên là: đó không thể là tôi. Tôi là một người giàu tình thương.
I'm a spiritual person. I couldn't possibly be loving from the solar plexus. I couldn't have conditions and requirements.
Tôi là một người sống đời sống tinh thần. Tôi không thể nào yêu thương từ tùng thái dương. Tôi không thể có những điều kiện và đòi hỏi.
Rebecca: So through the hard work of facing our own Glamours, I've learned some really important lessons, that that is a signpost and the alarm bells should go off when I deny.
Rebecca: Vì vậy, qua công việc khó khăn là đối diện với những ảo cảm của chính mình, tôi đã học được một số bài học thật sự quan trọng: đó là một dấu hiệu chỉ đường, và hồi chuông cảnh báo phải vang lên khi tôi phủ nhận.
MDR: Important point.
MDR: Một điểm quan trọng.
A very intense emotional reaction to something that is proposed is the indication that there may be something there that needs examining, even though, as you say, couldn't possibly be. But the more you get into it, the factors of projection are seen at work, and how we fool ourselves in our glamoured astral nature, even if the Glamours are not the most severe ones, we can fool ourselves unless we're really, really willing to take that fifth ray factual look at things, and in this work, when we use the Technique of Light, and the Ajna Center and so forth, the fifth ray really is involved, whether or not it's part of our system, we can use whatever ray, and it is a factual appraisal of what's really going on in a disinterested manner. Assagioli has told us, well, when you look at yourself, try to adopt the scientific attitude and not to care what you see, just as if you were an investigating scientist, not to have a bias, or I want to see this, I don't want to see that. No, just what do you see? And that is the disinterested fifth ray scientific mode, and it gets to truth a lot faster, even though the astral body may respond in a way, well, oh, how did that happen? anything? .
Một phản ứng cảm xúc hết sức mãnh liệt trước điều được nêu ra là dấu hiệu cho thấy có thể có điều gì đó cần xem xét, dù như bạn nói, điều ấy không thể nào có được. Nhưng càng đi sâu, chúng ta càng thấy các yếu tố phóng chiếu đang tác động, và thấy chúng ta tự lừa dối mình như thế nào trong bản chất cảm dục bị ảo cảm che phủ, ngay cả khi đó chưa phải những ảo cảm nghiêm trọng nhất. Chúng ta có thể tự lừa dối mình, trừ khi thật sự sẵn lòng nhìn sự việc theo cách dựa trên sự thật của cung năm. Trong công việc này, khi chúng ta sử dụng Kỹ Thuật Ánh sáng, trung tâm ajna, v.v., cung năm thật sự có tham gia, dù nó có thuộc hệ thống của chúng ta hay không. Chúng ta có thể sử dụng bất cứ cung nào, và đây là sự đánh giá khách quan, dựa trên sự thật, về những gì thực sự đang diễn ra. Assagioli đã nói với chúng ta rằng khi nhìn vào chính mình, hãy cố gắng giữ thái độ khoa học và đừng bận tâm mình nhìn thấy gì, hệt như một nhà khoa học đang điều tra, không thiên kiến, không nghĩ rằng tôi muốn thấy điều này, tôi không muốn thấy điều kia. Chỉ đơn giản là: các bạn thấy gì? Đó là cách tiếp cận khoa học khách quan của cung năm, và nó đi đến sự thật nhanh hơn nhiều, dù thể cảm dục có thể phản ứng kiểu như: “Ồ, sao chuyện đó lại xảy ra?”
MDR: Thank you, Rebecca. Anything else there?
MDR: Cảm ơn bạn, Rebecca. Bạn còn điều gì nữa không?
Rebecca: Just that the other thing that came up listening to the discourse and the reading today is how I've got a very strong relationship with Shakespeare, and he encapsulates a non sentimental love in all of his sonnets, and all of the plays that I've read, and I understand that he was actually a Rosicrucian. But that to look to Shakespeare for what is true love, and what is false love. It's, it's led me to that I'll be revisiting some of my favorite pieces of Shakespeare.
Rebecca: Chỉ còn một điều nữa nảy sinh khi nghe phần thảo luận và bài đọc hôm nay: tôi có một mối liên hệ rất sâu sắc với Shakespeare, và ông thể hiện cô đọng một tình thương không ủy mị trong tất cả những bài sonnet của mình, cũng như trong mọi vở kịch mà tôi đã đọc. Tôi được biết ông thực sự là một thành viên của Hội Hoa Hồng Thập Tự. Tìm đến Shakespeare để hiểu thế nào là tình thương chân thật và thế nào là tình thương giả tạo—điều đó đã khiến tôi muốn đọc lại một số tác phẩm yêu thích của ông.
MDR: When one brings in a very strong interest into an incarnation, that kind of is one of the methods of tracing one's history. If the, certain types of music that are beloved and certain poems and plays and other products of history can sometimes indicate who we've been associated with and where we have been. Whatever Shakespeare was, there's so much mystery around this character, really, and so many theories are proposed about, was he the real writer or was he the actor, whatever. It's the Shakespeare phenomenon. It's a huge knowledge of human nature, and yes, huge from all different levels, from the very highest and then when he's expressing and he's expressing what humanity may think and not only his own point of view, it seems that he's able to put himself into those who know practically nothing of human nature and those who know a great deal. Somehow you have that, the universality. So it's a great study.
MDR: Khi một người mang theo một mối quan tâm rất mạnh mẽ vào một kiếp lâm phàm, đó phần nào là một cách truy tìm lịch sử của mình. Những loại âm nhạc được yêu thích, những bài thơ, vở kịch và những sản phẩm khác của lịch sử đôi khi có thể cho biết chúng ta từng có liên hệ với ai và từng ở đâu. Dù Shakespeare thực sự là ai, nhân vật này vẫn có quá nhiều điều bí ẩn, và người ta đưa ra biết bao giả thuyết: ông là tác giả thực sự hay là diễn viên, v.v. Đó là hiện tượng Shakespeare. Trong đó có một sự hiểu biết vô cùng rộng lớn về bản chất con người, ở đủ mọi cấp độ, từ cao nhất trở xuống. Khi diễn đạt, ông thể hiện những gì nhân loại có thể nghĩ, chứ không chỉ quan điểm riêng của mình. Dường như ông có thể đặt mình vào những người gần như chẳng biết gì về bản chất con người, cũng như những người hiểu biết rất nhiều. Bằng cách nào đó, ông có được tính phổ quát ấy. Vì vậy, đây là một lĩnh vực nghiên cứu rất đáng giá.
My son-in-law is another one. He's a Shakespearean actor, and he loves it, and he's just totally in it somehow intimately, and I've learned a lot by watching his responses to the Shakespearean product. Well, more will emerge about the origin of that great outpouring, but along the fourth ray it came, which is the great ray of humanity and the ray which embraces the heights and the depths of what human nature is. So it's wonderful to be so attracted to it and to learn from it.
Con rể tôi cũng là một người như vậy. Anh ấy là diễn viên chuyên diễn kịch Shakespeare, yêu thích công việc ấy và bằng cách nào đó hòa mình vào đó hết sức sâu sắc. Tôi đã học được nhiều điều qua việc quan sát những đáp ứng của anh ấy với các tác phẩm Shakespeare. Rồi sẽ có thêm những điều được hé lộ về nguồn gốc của lần tuôn đổ vĩ đại ấy, nhưng nó đã đến theo cung bốn, cung vĩ đại của nhân loại, cung bao trùm những đỉnh cao và vực sâu của bản chất con người. Vì vậy, thật tuyệt vời khi có sức thu hút sâu sắc đến thế đối với những tác phẩm ấy và học hỏi từ đó.