Trích nội dung chương
10. We may expect that the other groups must be well into the expression of their duties and qualities before the full task of the Creative Workers can be expressed. 10. Chúng ta có thể dự liệu rằng các nhóm khác phải tiến khá xa trong việc thể hiện các nhiệm vụ và phẩm tính của mình trước khi toàn bộ nhiệm vụ của Những Người Hoạt Động Sáng Tạo có thể được thể hiện.
10. We may expect that the other groups must be well into the expression of their duties and qualities before the full task of the Creative Workers can be expressed.
10. Chúng ta có thể dự liệu rằng các nhóm khác phải tiến khá xa trong việc thể hiện các nhiệm vụ và phẩm tính của mình trước khi toàn bộ nhiệm vụ của Những Người Hoạt Động Sáng Tạo có thể được thể hiện.
11. It should be especially important for the Laws of White Magic to be in the possession of the Creative Workers, for their task is a coordinated, creative precipitation of that which all Ashrams and their representative groups intend in concert.
11. Việc Những Người Hoạt Động Sáng Tạo nắm vững các Định luật Chánh Thuật hẳn phải đặc biệt quan trọng, vì nhiệm vụ của họ là thực hiện sự ngưng tụ có phối hợp và sáng tạo đối với những gì mà tất cả các ashram cùng các nhóm đại diện của mình đồng lòng dự định.
12. In relation to this group, “The Highest and the Lowest Meet”. The Creative Workers must not only be cognizant of Divine Purpose (broadly considered as it manifests through all Ashrams), but sufficiently practical to bring the intended patterns into manifestation despite the resistance of the “ancient fires”. This will require considerable magical skill in action.
12. Trong mối liên hệ với nhóm này, “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”. Những Người Hoạt Động Sáng Tạo không chỉ phải nhận biết Thiên Ý (xét theo nghĩa rộng qua sự biểu hiện của Thiên Ý xuyên qua tất cả các ashram), mà còn phải đủ thực tế để đưa những mô hình đã dự định vào biểu hiện bất chấp sự kháng cự của “những ngọn lửa cổ xưa”. Điều này đòi hỏi kỹ năng huyền thuật đáng kể trong hành động.
III. These groups are also an externalisation of an inner existing condition. They are an effect and not a cause. That they themselves may have an initiatory effect (as they work out into manifestation upon the physical plane) is no doubt true; but they are themselves the product of an inner activity and of a subjective aggregation of forces which must perforce become objective. The work of the disciples who find their place in these various groups is to keep in close rapport with ten inner groups which form, nevertheless, one large active group.
III. Các nhóm này cũng là sự ngoại hiện của một tình trạng hiện hữu bên trong. Chúng là một kết quả chứ không phải một nguyên nhân. Chính chúng có thể tạo ra tác động khởi phát (khi dần biểu hiện trên cõi hồng trần), điều đó hẳn là đúng; nhưng bản thân chúng là sản phẩm của một hoạt động bên trong và của một sự tập hợp các mãnh lực mang tính chủ quan vốn tất yếu phải trở thành khách quan. Công việc của các đệ tử tìm được vị trí của mình trong những nhóm khác nhau này là duy trì sự giao cảm mật thiết với mười nhóm bên trong, vốn vẫn hợp thành một nhóm hoạt động lớn duy nhất.
1. The Seed Groups are considered in relation to cause and effect.
1. Các Nhóm hạt giống được xem xét trong mối liên hệ với nguyên nhân và kết quả.
2. That they are causative is doubtlessly true, for their appearance will bring about great changes in humanity’s approach to the spiritual realities of life.
2. Các nhóm này có vai trò tạo nguyên nhân là điều chắc chắn đúng, vì sự xuất hiện của chúng sẽ mang lại những thay đổi lớn trong cách nhân loại tiếp cận các thực tại tinh thần của sự sống.
3. However, the groups are a precipitation of ‘inner groups’ already existent. Within the various Ashrams, inner groups which are the prototypes of the outer Seed Groups are already organized and potent.
3. Tuy nhiên, các nhóm là sự ngưng tụ của ‘những nhóm bên trong’ vốn đã hiện hữu. Trong các ashram khác nhau, những nhóm bên trong vốn là nguyên mẫu của các Nhóm hạt giống bên ngoài đã được tổ chức và có quyền năng mạnh mẽ.
4. Therefore, the Seed Groups do not have to be invented or creatively designed; their prototypes exist. What is required of Seed Group members is alignment with those inner Ashramic groups, and faithful precipitation of the patterns which already inwardly exist.
4. Do đó, không cần phải phát minh hay thiết kế một cách sáng tạo các Nhóm hạt giống; các nguyên mẫu của chúng đã hiện hữu. Điều đòi hỏi ở các thành viên Nhóm hạt giống là chỉnh hợp với những nhóm ashram bên trong ấy, và ngưng tụ một cách trung thực những mô hình vốn đã hiện hữu bên trong.
5. The inner personnel far outnumber the disciples on the outer plane who are trying to assist in the emergence of the Seed Groups. The outer disciples’ task of precipitation requires a close meditative alignment with the inner groups so that that which is precipitated may be faithful to the inner pattern.
5. Số nhân sự bên trong vượt xa số đệ tử trên cõi bên ngoài đang cố gắng hỗ trợ sự xuất hiện của các Nhóm hạt giống. Các đệ tử bên ngoài có nhiệm vụ ngưng tụ, và nhiệm vụ này đòi hỏi sự chỉnh hợp mật thiết qua tham thiền với các nhóm bên trong, để những gì ngưng tụ có thể trung thực với mô hình bên trong.
6. It is interesting to realize that, just as the first nine Seed Groups are synthesized by the tenth, so all the inner groups are really but “one large active group”, subjectively existent. This large inner group is a kind of subjective replica of the entirety of the Spiritual Hierarchy. The many lines of service emanating from Hierarchy can find rather full expression in this large inner group which expresses through ten inner groups which, in turn, express through ten outer groups — the Seed Groups upon the physical plane. (The Seed Groups, considered as complete units, are composed of both inner and outer workers. )
6. Thật thú vị khi nhận ra rằng, cũng như chín Nhóm hạt giống đầu tiên được nhóm thứ mười tổng hợp, tất cả các nhóm bên trong thực ra cũng chỉ là “một nhóm hoạt động lớn duy nhất”, hiện hữu một cách chủ quan. Nhóm lớn bên trong này là một dạng bản sao chủ quan của toàn thể Thánh đoàn. Nhiều đường hướng phụng sự phát xuất từ Thánh đoàn có thể tìm được sự biểu hiện khá đầy đủ trong nhóm lớn bên trong này; nhóm này biểu hiện qua mười nhóm bên trong, rồi đến lượt mình, các nhóm ấy biểu hiện qua mười nhóm bên ngoài — các Nhóm hạt giống trên cõi hồng trần. (Xét như những đơn vị hoàn chỉnh, các Nhóm hạt giống bao gồm cả những người hoạt động bên trong lẫn bên ngoài. )
7. The important thing to realize is that the model exists and the outlines of the model are clear. The entire Seed Group Project is a hierarchical project, and the human beings involved in it are simply taking their place within a pre-conceived design which is part of the Divine Plan.
7. Điều quan trọng cần nhận ra là mô hình đã hiện hữu và những đường nét của mô hình đã rõ ràng. Toàn bộ Dự Án Nhóm hạt giống là một dự án của Thánh đoàn, và những người tham gia chỉ đơn giản đảm nhận vị trí của mình trong một thiết kế đã được hình thành từ trước, vốn là một phần của Thiên Cơ.
This group force will then pour through all the various groups just in so far as the disciples in the groups do the following things as a group:
Khi ấy, mãnh lực nhóm này sẽ tuôn qua tất cả các nhóm khác nhau, tùy theo mức độ các đệ tử trong các nhóm cùng thực hiện những điều sau đây với tư cách một nhóm:
1. Keep en rapport with the inner source of power.
1. Duy trì sự giao cảm với nguồn quyền năng bên trong.
1. We are here speaking of the methods of empowerment of the outer groups. Inner groups exist, but their effect upon the outer groups has certain requirements.
1. Ở đây, chúng ta đang nói về những phương pháp tiếp truyền quyền năng cho các nhóm bên ngoài. Các nhóm bên trong hiện hữu, nhưng để tạo tác động lên các nhóm bên ngoài thì cần đáp ứng một số yêu cầu nhất định.
2. We must not forget from whence originates the power which animates the outer Seed Groups. No Seed Group lives unto itself, nor is any human being, per se, directing the formation and development of a Seed Group. These groups are hierarchically sponsored and the power to sustain them comes from Hierarchy.
2. Chúng ta không được quên nguồn gốc của quyền năng làm sinh động các Nhóm hạt giống bên ngoài. Không Nhóm hạt giống nào sống chỉ cho riêng mình, cũng không phải chính một người nào chỉ đạo sự hình thành và phát triển của một Nhóm hạt giống. Thánh đoàn bảo trợ các nhóm này, và quyền năng duy trì chúng đến từ Thánh đoàn.
3. The methods of rapport necessarily involve visualization, meditation and the use of the antahkarana. The attempt to faithfully carry out the objectives of the outer Seed Group (as conceived within the inner groups) will also strengthen the rapport.
3. Các phương pháp giao cảm tất yếu bao gồm sự hình dung, tham thiền và việc sử dụng antahkarana. Nỗ lực thực hiện một cách trung thực các mục tiêu của Nhóm hạt giống bên ngoài (như đã được hình thành trong các nhóm bên trong) cũng sẽ củng cố sự giao cảm.
2. Never lose sight of the group objective. [41]
2. Không bao giờ quên mục tiêu của nhóm. [41]
1. In all group work, many distractions are possible. The members must avoid all tendencies to descend into individualism.
1. Trong mọi công việc nhóm, có thể xảy ra nhiều sự xao lãng. Các thành viên phải tránh mọi khuynh hướng sa vào chủ nghĩa cá nhân.
2. There is a hierarchically intended purpose at the core of each of the ten Seed Groups. This purpose must become, for each group member, the overweening super-objective. When the ‘eye’ is taken off the project, the project falls apart. The integrity of the entire process requires the focussed eye — the individual eye and the ‘group eye’.
2. Cốt lõi của mỗi Nhóm trong mười Nhóm hạt giống đều có một mục đích do Thánh đoàn định ra. Đối với mỗi thành viên nhóm, mục đích này phải trở thành mục tiêu tối cao, bao trùm tất cả. Khi ‘con mắt’ rời khỏi dự án, dự án sẽ tan rã. Tính toàn vẹn của toàn bộ tiến trình đòi hỏi con mắt tập trung — con mắt cá nhân và ‘con mắt nhóm’.
3. Cultivate the dual capacity to apply the laws of the soul to the individual life and the laws of the group to group life.
3. Trau dồi năng lực kép: áp dụng các định luật của linh hồn vào đời sống cá nhân và các định luật của nhóm vào đời sống nhóm.
1. Two sets of laws guide the group member, just as there are two sets of Rules for approach to initiation.
1. Hai hệ thống định luật hướng dẫn thành viên nhóm, cũng như có hai bộ Quy Luật để tiếp cận điểm đạo.
2. Members of the Seed Groups are not absolved of their responsibilities as individuals simply because their understanding and application of group laws becomes increasingly important. Both are required.
2. Các thành viên của các Nhóm hạt giống không được miễn những trách nhiệm cá nhân chỉ vì việc thấu hiểu và áp dụng các định luật nhóm ngày càng trở nên quan trọng. Cả hai đều cần thiết.
3. In a way, the members of the Seed Groups must become proficient in the understanding and application of all 28 Rules. As well, the seven Laws of the Soul are to be mastered and applied.
3. Theo một nghĩa nào đó, các thành viên của các Nhóm hạt giống phải trở nên thành thạo trong việc thấu hiểu và áp dụng tất cả 28 Quy Luật. Đồng thời, họ cũng phải nắm vững và áp dụng bảy Định luật của Linh Hồn.
4. There are two levels of responsibility: one pertains to the third aspect and is individual; the other pertains to the second aspect and relates to group life and group progress.
4. Có hai cấp độ trách nhiệm: một thuộc phương diện thứ ba và mang tính cá nhân; cấp độ kia thuộc phương diện thứ hai và liên quan đến đời sống nhóm cùng sự tiến bộ của nhóm.
5. Just as on our planet the third and second aspect are slowly merging, so in the life of the disciple, the responsibility to understand the requirements of both aspects of divinity (the third and the second) continues to exist and demand attention.
5. Cũng như trên hành tinh chúng ta, phương diện thứ ba và thứ hai đang dần hòa nhập, trong đời sống của đệ tử, trách nhiệm thấu hiểu các yêu cầu của cả hai phương diện thiên tính (thứ ba và thứ hai) vẫn tiếp tục tồn tại và đòi hỏi sự chú tâm.
4. Use all the forces which may flow into the group in service; they must learn, therefore, to register those forces and use them correctly. The hints given below as to the centres which these ten groups will use must be studied. The right use of these centres will take place only when there is a greater group unity established among the members of the individual groups and among the groups as a whole. You ask why is this so, my brothers? Because the force flowing in might prove too strong for the individual disciple to handle alone, but the force is shared by the group if there is complete group at-one-ment.
4. Sử dụng mọi mãnh lực có thể tuôn vào nhóm để phụng sự; do đó, họ phải học cách ghi nhận những mãnh lực ấy và sử dụng chúng đúng đắn. Cần nghiên cứu những gợi ý dưới đây về các trung tâm mà mười nhóm này sẽ sử dụng. Chỉ khi các thành viên trong từng nhóm và toàn thể các nhóm thiết lập được sự hợp nhất nhóm lớn hơn thì mới có thể sử dụng các trung tâm này một cách đúng đắn. Các huynh đệ của Tôi, các bạn hỏi vì sao lại như vậy? Vì mãnh lực tuôn vào có thể quá mạnh, khiến một đệ tử riêng lẻ không thể tự mình xử lý, nhưng nếu nhóm đạt sự nhất thể hoàn toàn thì cả nhóm sẽ cùng chia sẻ mãnh lực ấy.
1. Forces will flow into the group and they must be correctly handled. The first step (after detecting the inflowing forces) is to ensure that they are used in service.
1. Các mãnh lực sẽ tuôn vào nhóm và cần được xử lý đúng đắn. Bước đầu tiên (sau khi phát hiện các mãnh lực đang tuôn vào) là bảo đảm sử dụng chúng để phụng sự.
2. DK offers some “hints” concerning what kinds of forces flow into the various groups through the chakras of the individuals in the group. Why are DK’s statements concerning the chakras involved considered “hints”? Probably because they subtly imply so much about the functioning of each of the groups.
2. Chân sư DK đưa ra một số “gợi ý” về những loại mãnh lực tuôn vào các nhóm khác nhau qua các luân xa của những cá nhân trong nhóm. Vì sao những phát biểu của Chân sư DK về các luân xa liên quan lại được xem là “gợi ý”? Có lẽ vì chúng hàm ý một cách tinh tế rất nhiều điều về hoạt động của từng nhóm.
3. The right flow of energy between the indicated chakras will not simply occur as a matter of course. Group unity and harmony are prerequisites, and each group member has his/her responsibility in the production of that group unity and harmony.
3. Dòng năng lượng đúng đắn giữa các luân xa được chỉ ra sẽ không đơn giản tự nhiên diễn ra. Sự hợp nhất và hài hòa của nhóm là những điều kiện tiên quyết, và mỗi thành viên nhóm đều có trách nhiệm tạo nên sự hợp nhất và hài hòa ấy.
4. Not only must the members of the various groups be unified and harmonized with each other, but the groups themselves must be unified and harmonized with the other groups among the ten. Only then will right adjustment be possible and will energy and force flow correctly and safely.
4. Không chỉ các thành viên của những nhóm khác nhau phải hợp nhất và hài hòa với nhau, mà chính các nhóm cũng phải hợp nhất và hài hòa với những nhóm khác trong mười nhóm. Chỉ khi ấy mới có thể có sự điều chỉnh đúng đắn, và năng lượng cùng mãnh lực mới tuôn chảy đúng đắn và an toàn.
5. There is a factor of safety to be considered. Inflowing forces might overwhelm the individual group member if the Law of Group Sharing were not in effect. But it is not enough simply for the group members to desire to share the incoming forces. They must do the necessary work upon themselves — both microcosmically and in relation to the entire group. A condition of “complete group at-one-ment” must supervene if the resultant sharing is to be both correct and safe. This, obviously, will take time and must proceed through several stages, beginning with the microcosmic stages. The Tibetan took plenty of time with the education of the personnel He gathered into the initial groups. When the experiment was disbanded, the groups had not yet reached a point of group usefulness, although the individual members of the various groups may have made some individual progress and increased their individual usefulness.
5. Có một yếu tố an toàn cần xem xét. Các mãnh lực tuôn vào có thể lấn át từng thành viên nhóm nếu Định luật Chia Sẻ Nhóm không có hiệu lực. Nhưng việc các thành viên nhóm chỉ đơn thuần mong muốn chia sẻ những mãnh lực đang tuôn vào là chưa đủ. Họ phải thực hiện công việc cần thiết đối với bản thân — cả ở cấp tiểu thiên địa lẫn trong mối liên hệ với toàn thể nhóm. Một trạng thái “nhất thể hoàn toàn của nhóm” phải hình thành để sự chia sẻ từ đó trở nên vừa đúng đắn vừa an toàn. Hiển nhiên, điều này sẽ cần thời gian và phải tiến qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ các giai đoạn tiểu thiên địa. Chân sư Tây Tạng đã dành rất nhiều thời gian để giáo dục những nhân sự mà Ngài tập hợp vào các nhóm ban đầu. Khi cuộc thử nghiệm chấm dứt, các nhóm vẫn chưa đạt đến mức hữu dụng với tư cách nhóm, dù từng thành viên trong các nhóm khác nhau có thể đã tiến bộ phần nào về mặt cá nhân và gia tăng tính hữu dụng cá nhân của mình.
6. We can see what patience and wise supervision are needed if Seed Groups, as here detailed, are to become a serviceable reality in the life of humanity.
6. Chúng ta có thể thấy cần đến sự kiên nhẫn và giám sát minh triết đến mức nào để các Nhóm hạt giống, như được trình bày chi tiết ở đây, trở thành một thực tại có khả năng phụng sự trong đời sống nhân loại.
7. There is little that we can do to reform the Seed Groups. In fact, the Tibetan asked that we not do so. But we can study their nature and understand their value, and learn to build thoughts in relation to their objectives. These thoughts may one day contribute to the reactivation of the Seed Groups under the correct hierarchical supervision.
7. Chúng ta có thể làm rất ít để tái lập các Nhóm hạt giống. Thực ra, Chân sư Tây Tạng đã yêu cầu chúng ta đừng làm như vậy. Nhưng chúng ta có thể nghiên cứu bản chất của chúng, thấu hiểu giá trị của chúng và học cách xây dựng những tư tưởng liên quan đến các mục tiêu của chúng. Một ngày nào đó, những tư tưởng này có thể góp phần tái kích hoạt các Nhóm hạt giống dưới sự giám sát đúng đắn của Thánh đoàn.
In this way, each disciple can serve the group and his objective eventually becomes:
Bằng cách này, mỗi đệ tử có thể phụng sự nhóm, và cuối cùng mục tiêu của y trở thành:
a. At-one-ment with his group brothers.
a. Nhất thể với các huynh đệ trong nhóm.
b. Alignment with his soul and with the inner group which is the subjective cause of the outer groups.
b. Chỉnh hợp với linh hồn của mình và với nhóm bên trong vốn là nguyên nhân chủ quan của các nhóm bên ngoài.
c. The expression of the particular technique which his group should eventually embody.
c. Biểu hiện kỹ thuật đặc thù mà nhóm của y cuối cùng phải thể hiện.
1. The requirements are simple though exacting: at-one-ment, alignment and expression.
1. Các yêu cầu tuy đơn giản nhưng khắt khe: nhất thể, chỉnh hợp và biểu hiện.
2. Love and wisdom are required for at-one-ment. Alignment with one’s own soul is required before there can be right alignment with the inner groups.
2. Sự nhất thể đòi hỏi tình thương và minh triết. Sự chỉnh hợp với chính linh hồn mình là điều cần thiết trước khi có thể chỉnh hợp đúng đắn với các nhóm bên trong.
3. As for the techniques, the Tibetan was in process of teaching some of them when He saw fit to terminate the experiment. A number of them were exceedingly occult, and we would not “happen upon them” simply by using our normal powers of thought. We can imagine what such techniques might be, but the true techniques must be hierarchically imparted, for they reflect the inner ashramically-related groups from which the outer groups derive. The creative imagination may be useful when Seed Group members try to understand what they may do, but in relation to the assimilation and utilization of occult techniques, direct hierarchical instruction is the safest and most reliable procedure.
3. Về các kỹ thuật, Chân sư Tây Tạng đang giảng dạy một số kỹ thuật ấy thì Ngài thấy cần chấm dứt cuộc thử nghiệm. Một số kỹ thuật mang tính huyền bí rất sâu sắc, và chúng ta sẽ không “tình cờ tìm ra chúng” chỉ bằng cách sử dụng những năng lực tư duy thông thường của mình. Chúng ta có thể hình dung những kỹ thuật ấy có thể là gì, nhưng Thánh đoàn phải truyền dạy các kỹ thuật chân thực, vì chúng phản ánh những nhóm bên trong có liên hệ với ashram mà từ đó các nhóm bên ngoài phát sinh. Sự tưởng tượng sáng tạo có thể hữu ích khi các thành viên Nhóm hạt giống cố gắng thấu hiểu những gì họ có thể làm, nhưng đối với việc tiếp thu và sử dụng các kỹ thuật huyền bí, sự huấn thị trực tiếp của Thánh đoàn là phương thức an toàn và đáng tin cậy nhất.
The groups will use the following centres in their work:
Các nhóm sẽ sử dụng những trung tâm sau đây trong công việc:
1. It will be obvious that the individual members of each of the following groups work with all the chakras.
1. Hiển nhiên, từng thành viên của mỗi nhóm sau đây đều làm việc với tất cả các luân xa.
2. The chakras listed for each group, however, have a distinct connection with the most characteristic tasks of that particular group.
2. Tuy nhiên, những luân xa được liệt kê cho mỗi nhóm có mối liên hệ rõ rệt với các nhiệm vụ đặc trưng nhất của nhóm cụ thể ấy.
3. In some cases the choice of the chakras involved is obvious. In other cases, the choice may seem more subtle, and we may wonder why other chakras were not chosen.
3. Trong một số trường hợp, việc lựa chọn các luân xa liên quan là hiển nhiên. Trong những trường hợp khác, sự lựa chọn có thể dường như tinh tế hơn, và chúng ta có thể tự hỏi vì sao những luân xa khác không được chọn.
Group 1. — The head, heart and throat centres.
Nhóm 1. — Các trung tâm đầu, tim và cổ họng.
1. We note that the head center is always involved, no matter what may be the group under discussion.
1. Chúng ta lưu ý rằng trung tâm đầu luôn tham gia, bất kể đang bàn đến nhóm nào.
2. When the head center is indicated, it must be assumed that the twelve-petalled “heart within in the head” is also involved.
2. Khi trung tâm đầu được chỉ ra, phải hiểu rằng trung tâm mười hai cánh “tim trong đầu” cũng tham gia.
3. The type of meditation undertaken in the Seed Group work is always occult meditation which requires the use of the crown chakra.
3. Loại tham thiền được thực hành trong công việc Nhóm hạt giống luôn là tham thiền huyền bí và đòi hỏi sử dụng luân xa đỉnh đầu.
4. The Telepathic Communicators require the use of the first three rays — willing, unifying and communicating. The centers most associated with these three rays are head, heart and throat, respectively.
4. Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm cần sử dụng ba cung đầu tiên — vận dụng ý chí, hợp nhất và giao tiếp. Các trung tâm gắn bó mật thiết nhất với ba cung này lần lượt là đầu, tim và cổ họng.
5. The throat center will relate to mental telepathy; the heart center to soul telepathy; the head center to soul and triadal telepathy (through which the Divine Plan may be impressed). (Of what monadic telepathy might be, it would be difficult to speak. Perhaps there is no need for it as all monads are essentially one.)
5. Trung tâm cổ họng sẽ liên quan đến viễn cảm trí tuệ; trung tâm tim liên quan đến viễn cảm linh hồn; trung tâm đầu liên quan đến viễn cảm linh hồn và Tam nguyên tinh thần (qua đó Thiên Cơ có thể được truyền ấn tượng). (Khó có thể nói viễn cảm chân thần có thể là gì. Có lẽ không cần đến nó, vì về bản chất mọi chân thần đều là một.)
6. Head, heart and throat are the archetypal centers and thus it is not surprising to see them represented in this first and most archetypal of the ten groups.
6. Đầu, tim và cổ họng là các trung tâm nguyên mẫu, vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy chúng hiện diện trong nhóm đầu tiên và mang tính nguyên mẫu nhất trong mười nhóm này.
7. We may wonder why the ajna center is not involved, for clearly, it is indicated in the telepathic process — both in the reception and transmission of thought. We do know it cannot be eliminated.
7. Chúng ta có thể tự hỏi vì sao trung tâm ajna không tham gia, vì rõ ràng trung tâm này có vai trò trong tiến trình viễn cảm — cả trong việc tiếp nhận lẫn truyền tư tưởng. Chúng ta biết chắc rằng không thể loại bỏ nó.
8. A definitive answer to this question will, therefore, have to be deferred.
8. Do đó, câu trả lời dứt khoát cho câu hỏi này sẽ phải chờ lại sau.
Group 2. — The head, heart and solar plexus centres.
Nhóm 2. — Các trung tâm đầu, tim và tùng thái dương.
1. The second group is that of the Trained Observers.
1. Nhóm thứ hai là nhóm Các Nhà Quan Sát Lão Luyện.
2. Their task is to overcome glamor and illusion, and to link the plane of pure reason, the buddhic plane, with the astral plane.
2. Nhiệm vụ của họ là khắc phục ảo cảm và ảo tưởng, đồng thời liên kết cõi lý trí thuần khiết, tức cõi Bồ đề, với cõi cảm dục.
3. Apart from the obligatory head center, the heart center (and especially the heart within the head) is the chakra linked with buddhi and the plane of intuition. The solar plexus center (normally associated with the sixth ray) is, of course, related to the astral plane which is the major plane of glamor.
3. Ngoài trung tâm đầu vốn bắt buộc phải tham gia, trung tâm tim (và đặc biệt là tim trong đầu) là luân xa liên kết với Bồ đề và cõi trực giác. Dĩ nhiên, trung tâm tùng thái dương (thường gắn với cung sáu) liên quan đến cõi cảm dục, vốn là cõi chủ yếu của ảo cảm.
4. We can understand that the interplay between heart and solar plexus (representing the interplay between the buddhic and astral planes) is required in this group.
4. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng nhóm này cần đến sự tương tác giữa tim và tùng thái dương (đại diện cho sự tương tác giữa cõi Bồ đề và cõi cảm dục).
Group 3. — The head, heart and ajna centres.
Nhóm 3. — Các trung tâm đầu, tim và ajna.
1. The Magnetic Healers constitute the third group.
1. Các Nhà Trị Liệu Từ Tính hợp thành nhóm thứ ba.
2. The heart center is necessarily involved because healing is the great second ray art, despite the fact that those upon each ray have particular healing techniques suitable for their use.
2. Trung tâm tim tất yếu phải tham gia vì trị liệu là nghệ thuật vĩ đại của cung hai, dù những người thuộc mỗi cung đều có những kỹ thuật trị liệu đặc thù thích hợp để sử dụng.
3. A number of healing techniques given by the Tibetan involve the ajna center, but it is listed, in general, because is that particular chakra through which energy is directed to particular areas within the energy system. The healer’s art consists of knowing which centers are to be vitalized and towards and from which centers energy is to be directed. The art of visualization related to the ajna center is obviously involved.
3. Một số kỹ thuật trị liệu do Chân sư Tây Tạng truyền dạy có sử dụng trung tâm ajna, nhưng nhìn chung, trung tâm này được liệt kê vì đó chính là luân xa qua đó năng lượng được định hướng đến những khu vực cụ thể trong hệ thống năng lượng. Người trị liệu thực hành nghệ thuật của mình bằng cách biết những trung tâm nào cần được tiếp sinh lực, và năng lượng cần được định hướng đến và từ những trung tâm nào. Hiển nhiên, nghệ thuật hình dung liên quan đến trung tâm ajna cũng tham gia.
Group 4. — The head, ajna and throat centres.
Nhóm 4. — Các trung tâm đầu, ajna và cổ họng.
1. The fourth group is composed of the Educators of the New Age.
1. Nhóm thứ tư gồm Các Nhà Giáo Dục của Kỷ Nguyên Mới.
2. This is one of two groups in which the ajna center is involved, and also one of two groups in which the heart center is not. (The group of Scientific Servers is the other.) It cannot be said, however, that an activated heart center is not useful to the new type of educator.
2. Đây là một trong hai nhóm có trung tâm ajna tham gia, đồng thời cũng là một trong hai nhóm mà trung tâm tim không tham gia. (Nhóm Những Người Phụng Sự Khoa Học là nhóm còn lại.) Tuy nhiên, không thể nói rằng một trung tâm tim đã được kích hoạt lại không hữu ích đối với kiểu nhà giáo dục mới.
3. The main occult procedure for this group involves the building and utilization of the antahkarana from the fourth subplane of the lower mental plane (whereon is located the “mental unit”) to the manasic permanent atom on the first subplane of the higher mental plane.
3. Phương thức huyền bí chủ yếu của nhóm này bao gồm việc xây dựng và sử dụng antahkarana từ cõi phụ thứ tư của cõi hạ trí (nơi có “đơn vị hạ trí”) đến nguyên tử trường tồn manas trên cõi phụ thứ nhất của Cõi thượng trí.
4. Both Mercury and Venus are involved in this process. In various ways and at various times, both Mercury and Venus can be understood as either ruling or significantly related to the throat and ajna centers.
4. Cả Sao Thủy lẫn Sao Kim đều tham gia vào tiến trình này. Theo những cách khác nhau và vào những thời điểm khác nhau, có thể hiểu rằng cả Sao Thủy lẫn Sao Kim hoặc cai quản, hoặc có mối liên hệ đáng kể với các trung tâm cổ họng và ajna.
5. In this particular case the head center will represent the first ray, the ajna center the second and the throat center the third.
5. Trong trường hợp cụ thể này, trung tâm đầu sẽ đại diện cho cung một, trung tâm ajna cho cung hai và trung tâm cổ họng cho cung ba.
6. In the newer type of educational procedure the creative imagination has an important role to play as a linking and transmitting agent. Whereas the throat center is related definitely to the mental plane, the ajna center links to the Spiritual Triad and is important in creating the bridge from the lower mind to the Triad.
6. Trong phương thức giáo dục mới hơn, sự tưởng tượng sáng tạo đóng vai trò quan trọng như một tác nhân liên kết và truyền dẫn. Trong khi trung tâm cổ họng có mối liên hệ rõ rệt với cõi trí, trung tâm ajna liên kết với Tam Nguyên Tinh Thần và có vai trò quan trọng trong việc tạo nên cây cầu từ Hạ trí đến Tam nguyên tinh thần.
7. That which is accessed through the bridging process (the flow of intuitions and ideas) must be rendered into word in the processes of education. The throat center provides the form-building aspect, and is used to ‘clothe’ in thought and speech the energies of the formless worlds accessed by the antahkarana. A little thought will reveal how completely the normal processes of education rely upon the throat center.
7. Những gì được tiếp cận qua tiến trình bắc cầu (dòng trực giác và ý tưởng) phải được diễn đạt thành lời trong các tiến trình giáo dục. Trung tâm cổ họng cung cấp phương diện xây dựng hình tướng, và được sử dụng để ‘khoác áo’ tư tưởng và lời nói cho các năng lượng của những thế giới vô hình tướng mà antahkarana tiếp cận. Chỉ cần suy nghĩ đôi chút sẽ thấy các tiến trình giáo dục thông thường hoàn toàn dựa vào trung tâm cổ họng đến mức nào.
Group 5. — The head and heart centres and the centre at the base of the spine.
Nhóm 5. — Các trung tâm đầu và tim cùng trung tâm ở đáy cột sống.
1. The fifth group of Political Organizers must, of course, access the will as it is transmitted through the head center. For them, the head center as a center of occult power, purpose and will is very important.
1. Dĩ nhiên, nhóm thứ năm gồm các Nhà Tổ Chức Chính Trị phải tiếp cận ý chí khi ý chí được truyền qua trung tâm đầu. Đối với họ, trung tâm đầu rất quan trọng vì đó là một trung tâm của quyền năng huyền bí, mục đích và ý chí.
2. The heart, however, must not be neglected, as Divine Will is to be applied in love and with full knowledge of its group implications.
2. Tuy nhiên, không được bỏ quên trung tâm tim, vì Ý Chí thiêng liêng phải được vận dụng trong tình thương và với sự hiểu biết đầy đủ về những hàm ý của nó đối với nhóm.
3. The center at the base of the spine is an interesting designation and occurs in only one other group — that of the Creative Workers. Through this center flow the forces of Pluto (on the first ray). It, like the head center, is a center of will and endurance. Further it provides anchorage in form for the willed purposes of divinity.
3. Việc chỉ định trung tâm ở đáy cột sống là điều thú vị, và chỉ xuất hiện ở một nhóm khác nữa — nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo. Các mãnh lực của Sao Diêm Vương (thuộc cung một) tuôn chảy qua trung tâm này. Cũng như trung tâm đầu, đây là một trung tâm của ý chí và sức bền bỉ. Hơn nữa, trung tâm này tạo nơi neo giữ trong hình tướng cho những mục đích của thiên tính được ý chí xác lập.
4. The Manu and His Department (although working upon the abstract and abstracting first Ray of Will and Power), also work with the creation and sustainment of the racial forms to be used by incarnating human beings. There is something very concrete about their functioning, and the members of this Department also raise and lower continents — a type of act which can easily be related to the Plutonic/Uranian function of the base center.
4. Đức Manu và Ban của Ngài (mặc dù hoạt động trên cung một của Ý Chí và Quyền Năng, vốn có tính trừu tượng và trừu xuất) cũng làm việc với sự sáng tạo và duy trì các hình tướng giống dân dành cho những con người đang lâm phàm. Hoạt động của Các Ngài có một khía cạnh rất cụ thể, và các thành viên của Ban này còn nâng lên và hạ xuống các lục địa — một loại hành động có thể dễ dàng liên hệ với chức năng của Sao Diêm Vương/Sao Thiên Vương nơi trung tâm đáy cột sống.
5. Those in the political sphere are, above all, the survivors and they endure in their expression of the will while others of lesser intensity fade from sight.
5. Trên hết, những người trong lĩnh vực chính trị là những người trụ vững, và họ bền bỉ biểu lộ ý chí trong khi những người có cường độ thấp hơn dần khuất khỏi tầm mắt.
6. God’s Will is Law and that Law must find full expression in material form. This expression is guaranteed by the potency of the base center in the group of Political Organisers.
6. Ý Chí của Thượng đế là Định luật, và Định luật ấy phải được biểu lộ trọn vẹn trong hình tướng vật chất. Uy lực của trung tâm đáy cột sống trong nhóm các Nhà Tổ Chức Chính Trị bảo đảm sự biểu lộ này.
7. The alignment of the base and crown in this group relate it more directly to Shamballa than the other groups — perhaps with the exception of the group of Creative Workers, which also has the base center (and crown) activated.
7. Sự chỉnh hợp giữa trung tâm đáy cột sống và trung tâm đỉnh đầu trong nhóm này liên hệ nhóm trực tiếp với Shamballa hơn các nhóm khác — có lẽ ngoại trừ nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo, vốn cũng có trung tâm đáy cột sống (và trung tâm đỉnh đầu) được kích hoạt.
Group 6. — The head, heart and solar plexus centres. This is necessarily the same as in Group 2.
Nhóm 6. — Các trung tâm đầu, tim và tùng thái dương. Điều này tất yếu giống như ở Nhóm 2.
1. The sixth group relates to the workers in the Field of Religion. Interestingly, the Religious Workers are related to the Trained Observers. This suggests that there is much glamor in the religious field and that it must be seen and dissipated.
1. Nhóm thứ sáu liên quan đến những người hoạt động trong Lĩnh Vực Tôn Giáo. Điều thú vị là những Người Hoạt Động Tôn Giáo có liên hệ với Các Nhà Quan Sát Lão Luyện. Điều này gợi ý rằng trong lĩnh vực tôn giáo có nhiều ảo cảm, và cần nhận diện rồi làm tiêu tan chúng.
2. The key to successful work in the Field of Religion is the production of a loving synthesis and a field of unity in which all the major religions can find their rightful place.
2. Chìa khóa để làm việc thành công trong Lĩnh Vực Tôn Giáo là tạo ra một sự tổng hợp đầy tình thương và một trường hợp nhất, trong đó mọi tôn giáo lớn đều có thể tìm được vị trí chính đáng của mình.
3. This will require the lifting of solar plexus energies into the heart center. The solar plexus center is, we are told, dual. The lower solar plexus is the seat of divisive desires and emotions. The higher solar plexus is the focus of uplifting aspirations. All solar plexus activity is destined for resolution within the heart center. If divisive and separative religious approaches are to be transformed into a loving and unified approach to one New World Religion, solar plexus activity must give way to a heart-centered focus.
3. Điều này sẽ đòi hỏi nâng các năng lượng tùng thái dương lên trung tâm tim. Chúng ta được cho biết rằng trung tâm tùng thái dương có tính kép. Phần thấp của tùng thái dương là nơi trú ngụ của những dục vọng và cảm xúc gây chia rẽ. Phần cao của tùng thái dương là tiêu điểm của những khát vọng hướng thượng. Mọi hoạt động của tùng thái dương đều hướng đến sự hóa giải trong trung tâm tim. Để những cách tiếp cận tôn giáo gây chia rẽ và chia cách chuyển đổi thành một cách tiếp cận đầy tình thương và hợp nhất hướng đến một Tân Tôn Giáo Thế Giới duy nhất, hoạt động của tùng thái dương phải nhường chỗ cho sự tập trung vào trung tâm tim.
4. Further, the glamors of the astral plane must be dissipated by the clear perceptions impulsed from the plane of intuition (to which the heart center connects). The work of the Trained Observers would be most fruitful if applied to the Field of Religious Work, and, no doubt, one day it will be.
4. Hơn nữa, những tri giác sáng rõ do cõi trực giác (mà trung tâm tim kết nối với) thúc đẩy phải làm tiêu tan các ảo cảm của cõi cảm dục. Công việc của Các Nhà Quan Sát Lão Luyện sẽ mang lại kết quả tốt đẹp nhất nếu được áp dụng vào Lĩnh Vực Hoạt Động Tôn Giáo, và chắc chắn một ngày nào đó điều này sẽ xảy ra.
Group 7. — The head, throat and sacral centres.
Nhóm 7. — Các trung tâm đầu, cổ họng và xương cùng.
1. A keen mind is need by the Scientific Servers. Their work is largely within the realm of matter and matter is the product of the third aspect of divinity and the third ray. The third ray expresses principally through the throat center, which, as well, is a chakra much associated with thought reception, transmission and thoughtform building.
1. Những Người Phụng Sự Khoa Học cần có trí tuệ sắc bén. Công việc của họ phần lớn nằm trong lĩnh vực vật chất, và vật chất là sản phẩm của phương diện thứ ba của thiên tính và của cung ba. Cung ba biểu lộ chủ yếu qua trung tâm cổ họng, vốn cũng là một luân xa gắn liền với việc tiếp nhận, truyền đạt tư tưởng và xây dựng hình tư tưởng.
2. The mental elemental has its seat within the sacral center.
2. Hành khí trí tuệ có nơi trú ngụ trong trung tâm xương cùng.
“1. The sacral centre the mental elemental life
“1. Trung tâm xương cùng — sự sống hành khí trí tuệ
Transferred later to the throat centre.” (EP II 304)
Về sau chuyển dịch lên trung tâm cổ họng.” (EP II 304)
3. As well, the sacral center, ruled by Uranus and the seventh ray (and in some respects by Mars and also by the third ray) connects directly with the substantiality of matter. In short, the activation of this center gives a direct rapport with the material element which is the principal sphere of investigation for the Scientific Servers.
3. Ngoài ra, trung tâm xương cùng, do Sao Thiên Vương và cung bảy cai quản (và ở một vài phương diện còn do Sao Hỏa cũng như cung ba cai quản), kết nối trực tiếp với tính chất liệu của vật chất. Nói ngắn gọn, sự kích hoạt trung tâm này tạo mối tương thông trực tiếp với nguyên tố vật chất, vốn là lĩnh vực khảo cứu chủ yếu của những Người Phụng Sự Khoa Học.
4. We realize that the processes of incarnation will be one of the major fields of investigation for such workers. The sacral center, of course, is directly involved in the processes of incarnation, for by its means material vehicles are provided for reincarnating human souls.
4. Chúng ta nhận ra rằng các tiến trình lâm phàm sẽ là một trong những lĩnh vực khảo cứu chính của những người hoạt động như thế. Dĩ nhiên, trung tâm xương cùng tham gia trực tiếp vào các tiến trình lâm phàm, vì nhờ trung tâm này mà các linh hồn nhân loại tái lâm phàm có được những vận cụ vật chất.
Group 8. [Psychologists] — The head, heart, solar plexus and throat centres. This group of disciples will be the first to use four centres in their work as they are in a curious sense, the mediators of thought between the other groups. They are peculiarly a linking group. [42]
Nhóm 8. [Các Nhà Tâm Lý Học] — Các trung tâm đầu, tim, tùng thái dương và cổ họng. Nhóm đệ tử này sẽ là nhóm đầu tiên sử dụng bốn trung tâm trong công việc, vì theo một ý nghĩa đặc biệt nào đó, họ là những người trung gian về tư tưởng giữa các nhóm khác. Họ là một nhóm liên kết mang tính đặc thù. [42]
1. The eighth, ninth and tenth groups each have four centers active. Numerologically, four is a number of grounding and establishment.
1. Các nhóm thứ tám, thứ chín và thứ mười, mỗi nhóm đều có bốn trung tâm hoạt động. Theo số học, bốn là con số của sự bám rễ và xác lập.
2. Interestingly, the eighth group will have its personnel selected from the other groups. The Tibetan says the following:
2. Điều thú vị là nhân sự của nhóm thứ tám sẽ được tuyển chọn từ các nhóm khác. Chân sư Tây Tạng nói như sau:
“Owing to the difficulty of this task, the members of this eighth group will be chosen from the personnel of the other groups, for they will have had a fair measure of training in their preliminary work. Two groups will then be interlocking groups — that which is formed of the key people in all the groups, and this one.” (EXH 59)
“Do nhiệm vụ này khó khăn, các thành viên của nhóm thứ tám này sẽ được chọn từ nhân sự của các nhóm khác, vì họ sẽ có được một mức độ huấn luyện khá đầy đủ trong công việc sơ bộ của mình. Khi ấy sẽ có hai nhóm đan kết — nhóm gồm những người chủ chốt trong tất cả các nhóm, và nhóm này.” (EXH 59)
3. The other group consisting of “key people” will be that of the Creative Workers, Group Ten.
3. Nhóm kia, gồm những “người chủ chốt”, sẽ là nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo, Nhóm Mười.
4. We note that the Psychologists have the same centers active as do the Telepathic Communicators, plus the addition of the solar plexus, allowing them to come en rapport with the present mass consciousness of humanity.
4. Chúng ta lưu ý rằng các Nhà Tâm Lý Học có cùng những trung tâm hoạt động như Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm, cộng thêm tùng thái dương, cho phép họ thiết lập mối tương thông với tâm thức quần chúng hiện nay của nhân loại.
5. The Psychologists also work in the realm of ideas and with thought-centers, just as do the Telepathic Communicators. Their task, however, involves working that which is received from the buddhic plane into the substance of humanity (to which the solar plexus center gives access).
5. Các Nhà Tâm Lý Học cũng làm việc trong lĩnh vực ý tưởng và với các trung tâm tư tưởng, giống như Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm. Tuy nhiên, nhiệm vụ của họ bao gồm việc đưa những gì tiếp nhận từ cõi Bồ đề vào chất liệu của nhân loại (mà trung tâm tùng thái dương mở lối tiếp cận).
6. The group of Psychologists is peculiarly a “linking group” and consequently the linking, bridging fourth ray will be of importance. It is also not surprising, therefore, to find the Psychologists as the first group in which four centers are utilized.
6. Nhóm các Nhà Tâm Lý Học là một “nhóm liên kết” mang tính đặc thù, và do đó cung bốn có chức năng liên kết, bắc cầu sẽ giữ vai trò quan trọng. Vì vậy, cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy các Nhà Tâm Lý Học là nhóm đầu tiên sử dụng bốn trung tâm.
7. The heart center is, of course, important to them in order to facilitate soul-rapport with many types of human beings. The solar plexus puts them in touch with the personality condition of these human beings. The throat center allows them to interpret, formulate and intelligently communicate that which they discover through heart center and solar plexus rapport.
7. Dĩ nhiên, trung tâm tim quan trọng đối với họ để tạo thuận lợi cho mối tương thông linh hồn với nhiều loại người. Tùng thái dương giúp họ tiếp xúc với trạng thái phàm ngã của những người này. Trung tâm cổ họng cho phép họ diễn giải, trình bày thành hệ thống và truyền đạt một cách thông minh những gì họ khám phá qua mối tương thông của trung tâm tim và tùng thái dương.
Group 9. [Financiers and Economists] — The head, heart, throat and sacral centres.
Nhóm 9. [Các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học] — Các trung tâm đầu, tim, cổ họng và xương cùng.
1. The ninth group of Financiers and Economists utilizes very much the same centers as the Scientific Servers, with the addition of the heart center.
1. Nhóm thứ chín gồm các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học sử dụng hầu như cùng những trung tâm như những Người Phụng Sự Khoa Học, cộng thêm trung tâm tim.
2. Like the Scientists, this group is also closely connected to the third aspect of divinity and to matter, hence the use of the throat and sacral centers. The throat center distributes the third ray in the triangle of chakras above the diaphragm (excluding the ajna center) and the sacral center serves as the third ray center for the triangle of centers below the diaphragm.
2. Giống như các Nhà Khoa Học, nhóm này cũng liên hệ mật thiết với phương diện thứ ba của thiên tính và với vật chất, do đó sử dụng các trung tâm cổ họng và xương cùng. Trung tâm cổ họng phân phối cung ba trong tam giác các luân xa phía trên cơ hoành (không kể trung tâm ajna), và trung tâm xương cùng đóng vai trò trung tâm cung ba trong tam giác các trung tâm phía dưới cơ hoành.
3. Whereas the Scientific Servers are deeply engrossed in understanding the ways of matter as it must serve the soul, the Financiers and Economists must be sensitive to soul in all forms, thus allowing them to arrange for right distribution according to soul need. Hence the heart center is added, placing them en rapport with the larger whole, for the heart is a “group conscious” organ.
3. Trong khi những Người Phụng Sự Khoa Học chuyên tâm sâu sắc vào việc thấu hiểu các phương thức hoạt động của vật chất khi vật chất phải phụng sự linh hồn, các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học phải nhạy cảm với linh hồn trong mọi hình tướng, nhờ đó có thể sắp xếp việc phân phối đúng đắn theo nhu cầu của linh hồn. Do đó, trung tâm tim được bổ sung, đưa họ vào mối tương thông với toàn thể rộng lớn hơn, vì tim là một cơ quan “có tâm thức nhóm”.
4. When contrasting the centers active for the Psychologists with those active for the Financiers and Economists, we find three centers the same (head, heart and throat) and two which contrast — the solar plexus in the case of the Psychologists and the sacral center for the Economists and Financiers. The work of the Psychologists, of course, is related more to the second aspect of divinity (of which the solar plexus is a representative) and the sacral center to the third aspect (of so great importance to the Financiers and Economists).
4. Khi đối chiếu các trung tâm hoạt động ở các Nhà Tâm Lý Học với những trung tâm hoạt động ở các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học, chúng ta thấy có ba trung tâm giống nhau (đầu, tim và cổ họng) cùng hai trung tâm khác nhau — tùng thái dương ở các Nhà Tâm Lý Học và trung tâm xương cùng ở các Nhà Kinh Tế Học và Tài Chính. Dĩ nhiên, công việc của các Nhà Tâm Lý Học liên quan nhiều hơn đến phương diện thứ hai của thiên tính (mà tùng thái dương là một đại diện), còn trung tâm xương cùng liên quan đến phương diện thứ ba (vốn có tầm quan trọng rất lớn đối với các Nhà Tài Chính và Kinh Tế Học).
5. The sacral center is not usually involved in the sharing process because of its grasping nature. Thus, in this group, it is important to involve it in relation to the heart center through which unselfish impulses usually flow.
5. Trung tâm xương cùng thường không tham gia vào tiến trình chia sẻ vì bản chất nắm giữ của nó. Do đó, trong nhóm này, điều quan trọng là đưa trung tâm ấy vào hoạt động trong mối liên hệ với trung tâm tim, nơi các xung lực vô kỷ thường tuôn chảy qua.
Group 10. — The head, heart, sacral centres and the centre at the base of the spine.
Nhóm 10. — Các trung tâm đầu, tim, xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống.
1. The tenth group consists of the Creative Workers. We find that its centers are closely related to group five, that of the Political Organisers. The numerology is interesting, as ten is twice five.
1. Nhóm thứ mười gồm những Người Hoạt Động Sáng Tạo. Chúng ta thấy rằng các trung tâm của nhóm này liên hệ mật thiết với nhóm thứ năm, nhóm các Nhà Tổ Chức Chính Trị. Khía cạnh số học ở đây thật thú vị, vì mười là hai lần năm.
2. In both of these groups, the head, heart and base of the spine are active, but the Creative Workers work with the sacral center as well.
2. Ở cả hai nhóm này, các trung tâm đầu, tim và đáy cột sống đều hoạt động, nhưng những Người Hoạt Động Sáng Tạo còn làm việc với trung tâm xương cùng.
3. Because of the use of the sacral center, the group of Creative Workers is related to the groups of Scientific Servers and to the Economists and Financiers. Three groups, therefore, utilize the sacral center, whereas two groups utilize the ajna center and two groups the base of the spine.
3. Do sử dụng trung tâm xương cùng, nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo có liên hệ với nhóm những Người Phụng Sự Khoa Học và nhóm các Nhà Kinh Tế Học và Tài Chính. Vì vậy, có ba nhóm sử dụng trung tâm xương cùng, trong khi hai nhóm sử dụng trung tâm ajna và hai nhóm sử dụng trung tâm đáy cột sống.
4. We might wonder why the Creative Workers do not utilize the throat center (of course, really, they do). The Ray of Creative Intelligence, the third ray, works principally through the throat center and only secondarily through the sacral center.
4. Chúng ta có thể tự hỏi vì sao những Người Hoạt Động Sáng Tạo không sử dụng trung tâm cổ họng (dĩ nhiên, trên thực tế họ có sử dụng). Cung Trí Tuệ Sáng Tạo, cung ba, hoạt động chủ yếu qua trung tâm cổ họng và chỉ thứ yếu qua trung tâm xương cùng.
5. Perhaps it is because this tenth group is so much involved in the materialization and precipitation of the Divine Plan. In this group, more than any other, the “Highest and the Lowest Meet”. We have therefore the two lowest centers, sacral and base of spine brought into relations with the two highest centers (head and heart — considered from a ray perspective). The first two aspects of divinity are found active above the diaphragm, and centers which represent the third aspect (and, as well, perhaps the first aspect in the case of the base center) active below the diaphragm.
5. Có lẽ đó là vì nhóm thứ mười này tham gia rất sâu vào sự hiện hình và ngưng tụ của Thiên Cơ. Trong nhóm này, hơn bất cứ nhóm nào khác, “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”. Vì vậy, chúng ta có hai trung tâm thấp nhất, xương cùng và đáy cột sống, được đưa vào mối liên hệ với hai trung tâm cao nhất (đầu và tim — xét từ góc độ cung). Hai phương diện đầu tiên của thiên tính hoạt động phía trên cơ hoành, còn các trung tâm đại diện cho phương diện thứ ba (và có lẽ cả phương diện thứ nhất trong trường hợp trung tâm đáy cột sống) hoạt động phía dưới cơ hoành.
6. The involvement of the sacral center, ruled by Uranus, confers a definitely magical impulse to this tenth group.
6. Sự tham gia của trung tâm xương cùng, do Sao Thiên Vương cai quản, mang đến cho nhóm thứ mười này một xung lực mang tính huyền thuật rõ rệt.
7. In relation to the functioning of the tenth group, the Tibetan has the following interesting thoughts:
7. Về hoạt động của nhóm thứ mười, Chân sư Tây Tạng có những suy nghĩ thú vị sau đây:
“We will not take time to consider the tenth, which will be composed of the key people in the other groups, beyond stating that when its twenty-seven members (three from each group) are chosen and put in rapport with each other, there should come to all the groups such a quickening of their life that they will become one living vibrant organism.” (EXH 47)
“Chúng ta sẽ không dành thời gian xem xét nhóm thứ mười, vốn sẽ gồm những người chủ chốt trong các nhóm khác, ngoài việc nói rằng khi hai mươi bảy thành viên của nhóm (ba người từ mỗi nhóm) được chọn và thiết lập mối tương thông với nhau, sức sống của tất cả các nhóm sẽ được khơi dậy đến mức họ trở thành một cơ thể sống duy nhất, tràn đầy rung động.” (EXH 47)
8. The functioning of the tenth group is occult in its nature and involves the synthesis and vitalization of all the other groups. The number twenty-seven is also not without significance, for it is a number of completion with respect to the third aspect. It derives from the cubing of the number three.
8. Hoạt động của nhóm thứ mười mang bản chất huyền bí và bao gồm việc tổng hợp cũng như tiếp sinh lực cho tất cả các nhóm khác. Con số hai mươi bảy cũng không phải không có thâm nghĩa, vì đó là con số của sự hoàn tất xét theo phương diện thứ ba. Nó được tạo ra bằng cách lập phương số ba.
9. In the advanced esoteric schools of the future, the number of personnel will be twenty-seven — twenty-four of whom will be students with an additional three guides or instructors.
9. Trong các trường nội môn cao cấp của tương lai, số nhân sự sẽ là hai mươi bảy — trong đó hai mươi bốn người là đạo sinh, cùng với ba người hướng dẫn hoặc giảng huấn.
I wonder, my brothers, if the following sequence of statements will convey anything to your minds? It is a statement of fact and is not the least symbolic in its terminology — except in so far as all words are inadequate symbols of inner truths.
Các huynh đệ của Tôi, Tôi tự hỏi liệu chuỗi phát biểu sau đây có truyền đạt được điều gì đến thể trí của các bạn chăng? Đây là một sự trình bày thực tế, và thuật ngữ được dùng hoàn toàn không mang tính biểu tượng — ngoại trừ ở chỗ mọi ngôn từ đều là những biểu tượng bất toàn của các chân lý bên trong.
1. This is the straight summary of all that has gone before.
1. Đây là phần tóm lược trực tiếp tất cả những gì đã trình bày trước đó.
2. The Tibetan is attempting to speak in terms of facts rather than symbolically. He seeks to impress us with the essence of His thought with respect to the new Seed Groups.
2. Chân sư Tây Tạng đang cố gắng trình bày bằng những sự kiện thực tế thay vì bằng biểu tượng. Ngài tìm cách khắc sâu vào chúng ta tinh túy tư tưởng của Ngài về các Nhóm hạt giống mới.
1. Each group has its inner counterpart.
1. Mỗi nhóm đều có đối phần bên trong của mình.
1. We must think with an “esoteric sense”.
1. Chúng ta phải tư duy với một “giác quan nội môn”.
2. The members of the Seed Groups are intended to be occultists, and for them the inner worlds must be appreciated as more real than the outer worlds.
2. Các thành viên của những Nhóm hạt giống được kỳ vọng sẽ là những nhà huyền bí học, và đối với họ, các thế giới bên trong phải được nhìn nhận là thực hơn các thế giới bên ngoài.
2. This inner counterpart is a completed whole. The outer results are still only partial.
2. Đối phần bên trong này là một toàn thể đã hoàn tất. Các kết quả bên ngoài vẫn chỉ là từng phần.
1. It is startling to realize that the inner groups are already complete.
1. Thật đáng kinh ngạc khi nhận ra rằng các nhóm bên trong đã hoàn tất.
2. What we can achieve on the outer plane is, as yet, but an incomplete precipitation of the prototype. This is a cause for humility and patience.
2. Cho đến nay, những gì chúng ta có thể đạt được trên cõi bên ngoài chỉ là sự ngưng tụ chưa trọn vẹn của nguyên mẫu. Điều này là lý do để khiêm nhường và kiên nhẫn.
3. These ten inner groups, forming one group, are related to the Ashrams of the Masters and are each of them expressive of or governed by ten laws, embodying the controlling factors in group work. A law is an expression or manifestation of force applied, under the power of thought, by a thinker or group of thinkers.
3. Mười nhóm bên trong này, hợp thành một nhóm, có liên hệ với các ashram của các Chân sư; mỗi nhóm đều biểu lộ hoặc chịu sự chi phối của mười định luật, hiện thân cho những yếu tố điều khiển công việc nhóm. Một định luật là sự biểu lộ hay biểu hiện của mãnh lực mà một người tư duy hoặc một nhóm người tư duy vận dụng dưới quyền năng của tư tưởng.
1. We are not told how the ten inner groups are related to the seven Ashrams (and their various subdivisions), but with a little focussed thought we could find direct relations between at least some of the groups and some of the Ashrams. There may be others of the groups, however, which could relate to more than one Ashram, to several or even to all.
1. Chúng ta không được cho biết bằng cách nào mười nhóm bên trong liên hệ với bảy ashram (và các phân bộ khác nhau của các ashram ấy), nhưng chỉ cần tập trung suy nghĩ đôi chút, chúng ta có thể tìm ra những mối liên hệ trực tiếp giữa ít nhất một vài nhóm và một vài ashram. Tuy nhiên, có thể có những nhóm khác liên hệ với hơn một ashram, với nhiều ashram hoặc thậm chí với tất cả.
2. This is the first we hear that each of the ten inner groups (and, presumably their outer extensions) is related to one of ten different laws. What these laws may be is not given. There are Laws of Healing, Laws of Magic, Laws of the Soul, Laws of the Solar System and Cosmic Laws, and others as well. Probably, the Tibetan is speaking of yet another collection of laws. Only by studying the essential purpose of each group, might it be possible to intuit a law which could be related to it. A speculative formulation of such laws might be educationally instructive, though confirmation of the accuracy of the speculation would not be immediately forthcoming.
2. Đây là lần đầu tiên chúng ta nghe nói rằng mỗi nhóm trong mười nhóm bên trong (và có lẽ cả những phần mở rộng bên ngoài của chúng) đều liên hệ với một trong mười định luật khác nhau. Những định luật này là gì thì chưa được cho biết. Có các Định luật Trị Liệu, các Định luật Huyền Thuật, các Định luật của Linh Hồn, các Định luật của Hệ Mặt Trời và các Định luật Vũ Trụ, cùng những định luật khác nữa. Có lẽ Chân sư Tây Tạng đang nói đến một tập hợp định luật khác nữa. Chỉ bằng cách nghiên cứu mục đích cốt yếu của mỗi nhóm, chúng ta mới có thể dùng trực giác nhận ra một định luật có thể liên hệ với nhóm ấy. Việc thử trình bày những định luật như thế dựa trên suy đoán có thể mang lại giá trị học hỏi, dù chưa thể xác nhận ngay tính chính xác của sự suy đoán ấy.
3. While we cannot immediately determine the ten laws, we can understand how, for instance, the Laws of Healing would relate to the Group of Magnetic Healers, or how the Laws of White Magic could relate to the Group Ten, the Group of Creative Workers. It is also obvious that the Laws of the Soul would be important for the Group of Psychologists and the Law of Economy for the Financiers, Economists and the Creative Workers as well.
3. Dù chưa thể xác định ngay mười định luật, chúng ta có thể thấu hiểu, chẳng hạn, các Định luật Trị Liệu sẽ liên hệ thế nào với Nhóm các Nhà Trị Liệu Từ Tính, hoặc các Định luật Chánh Thuật có thể liên hệ thế nào với Nhóm Mười, Nhóm những Người Hoạt Động Sáng Tạo. Cũng hiển nhiên rằng các Định luật của Linh Hồn sẽ quan trọng đối với Nhóm các Nhà Tâm Lý Học, và Định luật Tiết Kiệm cũng sẽ quan trọng đối với các Nhà Tài Chính, Kinh Tế Học và những Người Hoạt Động Sáng Tạo.
4. The Tibetan defines a law as “an expression or manifestation of force applied, under the power of thought, by a thinker or group of thinkers”. Law, then, is willfully focussed thought. It is the sustained, intelligent will of a thinker or group of thinkers.
4. Chân sư Tây Tạng định nghĩa một định luật là “sự biểu lộ hay biểu hiện của mãnh lực mà một người tư duy hoặc một nhóm người tư duy vận dụng dưới quyền năng của tư tưởng”. Vậy, định luật là tư tưởng được tập trung bằng ý chí. Đó là ý chí thông minh, được duy trì liên tục của một người tư duy hoặc một nhóm người tư duy.
5. It is likely that at the heart of each of these inner groups a high initiate or Master is to be found. The law governing a particular inner group will very likely be the will of that initiate or Master as supported by the intelligent thought and will power of the initiates and disciples assembled within the inner group.
5. Có khả năng ở trung tâm của mỗi nhóm bên trong này là một điểm đạo đồ cao cấp hoặc một Chân sư. Định luật chi phối một nhóm bên trong cụ thể rất có thể là ý chí của điểm đạo đồ hoặc Chân sư ấy, với sự hỗ trợ từ tư tưởng thông minh và quyền năng ý chí của các điểm đạo đồ và đệ tử tập hợp trong nhóm bên trong đó.
4. These ten inner groups, embodying ten types of force and working synthetically to express ten laws, are an effort to bring in new and different conditions, and hence produce a new and better civilisation. The Aquarian Age will see consummation.
4. Mười nhóm bên trong này, hiện thân cho mười loại mãnh lực và làm việc một cách tổng hợp để biểu lộ mười định luật, là một nỗ lực nhằm đưa vào những điều kiện mới và khác biệt, từ đó tạo nên một nền văn minh mới và tốt đẹp hơn. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng kiến sự thành tựu viên mãn.
1. Each group works, probably, with a number of energies and forces, but the Tibetan speaks of “ten types of force” and the expression of ten laws.
1. Có lẽ mỗi nhóm làm việc với một số năng lượng và mãnh lực, nhưng Chân sư Tây Tạng nói đến “mười loại mãnh lực” và sự biểu lộ của mười định luật.
2. Probably as the groups develop and individuals participate in them successfully, there will be clarification regarding the nature of the ten forces and ten laws.
2. Có lẽ khi các nhóm phát triển và các cá nhân tham gia thành công vào các nhóm ấy, bản chất của mười mãnh lực và mười định luật sẽ trở nên rõ ràng hơn.
3. For the time being, it is enough to realize that the groups are intended as change agents, and are to aid in the elevation of human culture and civilization.
3. Hiện tại, chỉ cần nhận ra rằng các nhóm được dự định làm những tác nhân thay đổi, và sẽ góp phần nâng cao văn hóa và văn minh nhân loại.
4. We might consider this tenfold effort as the structural heart and soul of the New Group of World Servers. Many members of the NGWS have no training in occultism and cannot be aware of occult structures which underlie their humanitarian efforts, but service to humanity proceeds especially along these ten lines, and the occult underpinnings of the various modes of humanitarian service will one day be revealed.
4. Chúng ta có thể xem nỗ lực thập phân này là trái tim và linh hồn về mặt cấu trúc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhiều thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chưa được huấn luyện về huyền bí học và không thể nhận biết những cấu trúc huyền bí làm nền tảng cho các nỗ lực nhân đạo của họ, nhưng việc phụng sự nhân loại diễn ra đặc biệt theo mười đường hướng này, và một ngày nào đó những nền tảng huyền bí của các phương thức phụng sự nhân đạo khác nhau sẽ được tiết lộ.
5. As the energy of Aquarius is relatively universal in its nature, the Aquarian Age will naturally see consummation along many lines.
5. Vì năng lượng của Bảo Bình mang bản chất tương đối phổ quát, Kỷ Nguyên Bảo Bình đương nhiên sẽ chứng kiến sự thành tựu viên mãn theo nhiều đường hướng.
5. The outer groups are a tentative and experimental effort to see how far humanity is ready for such an endeavour.
5. Các nhóm bên ngoài là một nỗ lực thăm dò và thử nghiệm để xem nhân loại đã sẵn sàng đến đâu cho một công cuộc như thế.
1. Hierarchy is at once realistic and hopeful. Even They do not know how humanity will respond to proffered opportunity.
1. Thánh đoàn vừa thực tế vừa đầy hy vọng. Ngay cả Các Ngài cũng không biết nhân loại sẽ đáp ứng thế nào trước cơ hội được trao.
2. Hierarchy’s Uranian approach will consistently offer experiments to test and try humanity as to its fitness.
2. Cách tiếp cận của Thánh đoàn theo tính chất Sao Thiên Vương sẽ liên tục đưa ra những thử nghiệm để kiểm tra và thử thách mức độ thích hợp của nhân loại.
3. While this experiment apparently failed with respect to its original intentions, it may have laid the ground-work for a new experiment after the year 2025, when, it can be reasonably presumed, the Tibetan will again be working with a reliable and adequate amanuensis.
3. Mặc dù thử nghiệm này dường như đã thất bại xét theo những ý định ban đầu, nó có thể đã đặt nền móng cho một thử nghiệm mới sau năm 2025, khi có thể giả định một cách hợp lý rằng Chân sư Tây Tạng sẽ lại làm việc với một người thư ký ghi chép đáng tin cậy và có đủ năng lực.
4. It is our task as disciples of the Great White Lodge to contribute to humanity’s readiness and to our own.
4. Là những đệ tử của Thánh đoàn, nhiệm vụ của chúng ta là góp phần vào sự sẵn sàng của nhân loại và của chính chúng ta.
IV. These groups are also an experiment which has for its objective the manifestation of certain types of energy which will, when effectively functioning, produce cohesion or at-one-ment upon earth. The present distraught condition in the world, the international cataclysm and apparent impasse, the religious dissatisfaction, the economic and social upheaval and the appalling effects of war are all the results of energies that are so potent — owing to their immense momentum — that they can only be brought into rhythmic activity by the imposition of stronger and more definitely directed energies.
IV. Các nhóm này cũng là một thử nghiệm nhằm biểu hiện một số loại năng lượng nhất định, những năng lượng khi hoạt động hiệu quả sẽ tạo ra sự cố kết hay sự hợp nhất trên Trái Đất. Tình trạng rối loạn hiện nay trên thế giới, cơn đại biến động quốc tế và thế bế tắc rõ rệt, sự bất mãn về tôn giáo, những biến động kinh tế và xã hội cùng các hậu quả kinh hoàng của chiến tranh, tất cả đều là kết quả của những năng lượng mạnh mẽ đến mức — do đà vận động vô cùng lớn của chúng — chỉ có thể đưa chúng vào hoạt động nhịp nhàng bằng cách áp đặt những năng lượng mạnh hơn và được định hướng rõ ràng hơn.
1. The soul ray of Earth is the second Ray of Love-Wisdom. It is the “Ray of Attractive Coherency” (EA 411).
1. Cung linh hồn của Trái Đất là cung hai Bác Ái – Minh Triết. Đó là “Cung của Sự Cố Kết Hấp Dẫn” (EA 411).
2. Cohesion and at-one-ment are very much the product of the interplay between the second and fourth rays, emitted by Jupiter and Mercury, the two rulers of the Mutable Cross in the heavens. Through the use of these two rays, humanity is being prepared for its transfer to the Fixed Cross, and the assumption of the duties of discipleship. Humanity is to become the World Disciple, and an increasing number will take the first initiation.
2. Sự cố kết và sự nhất thể hóa phần lớn là kết quả của sự tương tác giữa cung hai và cung bốn, do Sao Mộc và Sao Thủy phát ra, hai chủ tinh của Thập Giá Biến đổi trên bầu trời. Thông qua việc sử dụng hai cung này, nhân loại đang được chuẩn bị để chuyển dịch sang Thập Giá Cố Định và đảm nhận các bổn phận của địa vị đệ tử. Nhân loại sẽ trở thành Đệ Tử Thế Gian, và ngày càng nhiều người sẽ tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất.
3. DK takes a look at the present distraught condition of the world. He understands the distress in terms of the maladjustment of energies and forces. It seems that only now can some rhythmic order be brought into the field by the “imposition of stronger and more definitely directed energies”. The New Seed Groups are intended to be a process which will make such ordinating energies increasingly available to a field in which chaos presently prevails.
3. Chân sư DK xem xét tình trạng rối ren hiện nay của thế giới. Ngài thấu hiểu nỗi khốn khổ này dưới góc độ sự thiếu điều hòa giữa các năng lượng và mãnh lực. Dường như chỉ đến lúc này mới có thể đưa một trật tự nhịp nhàng nào đó vào lĩnh vực ấy bằng cách “áp đặt những năng lượng mạnh hơn và được định hướng rõ ràng hơn”. Các Nhóm Hạt giống Mới được dự định sẽ tạo nên một tiến trình khiến những năng lượng lập lại trật tự như thế ngày càng sẵn có cho một lĩnh vực hiện đang chìm trong hỗn loạn.
4. All the Ashrams are at work attempting to bring some peace and order to the situation. The ten inner groups are directly connected to the Ashrams and the ten outer groups to the ten inner. Each of us, serving in connection with one or other of the ten outer groups, can play our part in restoring the Earth and its humanity to better conditions.
4. Tất cả các ashram đều đang hoạt động, cố gắng mang lại phần nào sự bình an và trật tự cho tình hình này. Mười nhóm bên trong trực tiếp liên kết với các ashram, còn mười nhóm bên ngoài liên kết với mười nhóm bên trong. Mỗi người chúng ta, khi phụng sự trong mối liên hệ với một trong mười nhóm bên ngoài, đều có thể góp phần đưa Trái Đất và nhân loại trên đó trở lại những điều kiện tốt đẹp hơn.
5. A precise knowledge of occult energies and forces (as taught in occultism, rayology and astrology) will help us be of greater use in bringing relief.
5. Tri thức chính xác về các năng lượng và mãnh lực huyền bí (như được giảng dạy trong huyền bí học, cung học và chiêm tinh học) sẽ giúp chúng ta hữu ích hơn trong việc mang lại sự xoa dịu.
The groups are intended to work together eventually just as the various departments of a great organisation work effectively together as a unit. They must function smoothly and intelligently within themselves and also in their inter-relation with [43] each other. This will become possible when the individual members in the groups and the individual groups of disciples lose sight of their own identities in an effort to make this hierarchical work possible. In this type of group work, the feelings, reactions, wishes and successes of the individual most emphatically do not count. Only that is regarded as of importance which will further group effort and enrich the group consciousness.
Các nhóm được dự định cuối cùng sẽ cùng nhau hoạt động, cũng như các ban khác nhau của một tổ chức lớn phối hợp hiệu quả thành một đơn vị thống nhất. Các nhóm phải hoạt động trôi chảy và thông minh trong nội bộ cũng như trong mối tương quan [43] với nhau. Điều này sẽ trở nên khả thi khi từng thành viên trong các nhóm và từng nhóm đệ tử không còn chú trọng đến bản sắc riêng của mình, trong nỗ lực tạo điều kiện cho công việc này của Thánh đoàn. Trong loại công việc nhóm này, những cảm xúc, phản ứng, mong muốn và thành công của cá nhân hoàn toàn không đáng kể đến. Chỉ những gì thúc đẩy nỗ lực nhóm và làm phong phú tâm thức nhóm mới được xem là quan trọng.
1. The Tibetan offers us a vision of the possibilities, and states the requirements.
1. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta một tầm nhìn về những khả năng và nêu rõ các yêu cầu.
2. If we want these groups to appear and fulfill their intended mission, we are to lose sight of ourselves — personally — and consider only the welfare of the groups as a whole.
2. Nếu muốn các nhóm này xuất hiện và hoàn thành sứ mệnh đã định, chúng ta phải quên đi bản thân mình — về mặt cá nhân — và chỉ quan tâm đến lợi ích của toàn thể các nhóm.
3. To become a true hierarchical worker requires sacrifice of the personal life. There seems to be no way around this fact. A greater Will is at work in all hierarchically inspired projects, and that Will calls for the obedience and even negation of the lower personal will.
3. Để trở thành một người hoạt động đích thực của Thánh đoàn, cần phải hi sinh đời sống cá nhân. Dường như không có cách nào tránh được sự thật này. Một Ý Chí lớn lao hơn đang hoạt động trong mọi dự án do Thánh đoàn khơi nguồn cảm hứng, và Ý Chí ấy đòi hỏi ý chí cá nhân thấp kém phải tuân phục, thậm chí phải tự phủ định.
4. If disciples are inspired by a vision of what their group or groups may become, they will have a sufficiently elevated level of identification to negate the normal, obstructive personality reactions. The first step is to acquire a broad and deep understanding of what Hierarchy intends to accomplish through the formation of such Seed Groups. This will require study, meditation and much reflection.
4. Nếu các đệ tử được khơi nguồn cảm hứng từ tầm nhìn về những gì nhóm hoặc các nhóm của mình có thể trở thành, họ sẽ đạt đến một cấp độ đồng hóa đủ cao để phủ định những phản ứng thông thường, gây cản trở của phàm ngã. Bước đầu tiên là đạt được sự thấu hiểu sâu rộng về những gì Thánh đoàn dự định hoàn thành thông qua việc hình thành các Nhóm Hạt giống như thế. Điều này đòi hỏi việc học hỏi, tham thiền và suy ngẫm nhiều.
5. We cannot, at this time, reformulate the Ten Seed Groups according to the Tibetan’s original intended, nor should be try. If, as one of the externalizing Masters, He chooses to do so, He will have the expertise to reanimate and reorganize the effort. We are not equipped for the task.
5. Hiện nay, chúng ta không thể tái lập Mười Nhóm Hạt giống theo ý định ban đầu của Chân sư Tây Tạng, và chúng ta cũng không nên thử làm vậy. Nếu, với tư cách một trong các Chân sư đang ngoại hiện, Ngài chọn làm điều đó, Ngài sẽ có chuyên môn cần thiết để tiếp sinh khí và tổ chức lại nỗ lực ấy. Chúng ta chưa có đủ khả năng cho nhiệm vụ này.
6. We can, however, deeper our understanding of His original intentions, remembering that the prototypes of the Seed Groups already exist as inner groups on the inner planes. The ten inner groups exist now, and, inevitably, their purpose and quality must be expressed in service on the more tangible planes. It is only a matter of time. When that time comes, perhaps we will have made ourselves ready to cooperate intelligently, lovingly and with power.
6. Tuy nhiên, chúng ta có thể đào sâu sự thấu hiểu về những ý định ban đầu của Ngài, đồng thời nhớ rằng các nguyên mẫu của những Nhóm Hạt giống đã tồn tại dưới dạng các nhóm bên trong trên các cõi bên trong. Mười nhóm bên trong hiện hữu ngay lúc này, và tất yếu, mục đích cùng phẩm tính của các nhóm ấy phải biểu lộ qua việc phụng sự trên những cõi hữu hình hơn. Đó chỉ là vấn đề thời gian. Khi thời điểm ấy đến, có lẽ chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng để hợp tác một cách thông minh, đầy tình thương và quyền năng.
To the next commentary
Sang phần bình giảng tiếp theo
6. PART V – 6. PHẦN V
commentary by Michael D. Robbins
bình giảng của Michael D. Robbins
The Hierarchy sanctioned the starting of these groups in the year 1931. The members of these groups have been slowly chosen since then and are endeavouring, since their inclusion in this ashramic work, to work together in complete unity of purpose and of relationship. It may be of interest to you to know a little of how we approached the subject.
Thánh đoàn đã chấp thuận việc khởi lập các nhóm này vào năm 1931. Kể từ đó, các thành viên của những nhóm này đã được lựa chọn dần dần, và từ khi tham gia công việc ashram này, họ đang nỗ lực cùng nhau hoạt động trong sự hợp nhất hoàn toàn về mục đích và mối quan hệ. Có lẽ các bạn sẽ quan tâm muốn biết đôi chút về cách chúng tôi đã tiếp cận vấn đề này.
1. We note that it was the Hierarchy that sanctioned the starting of the groups in 1931. Even though this initiative concerned the Ashram of Master DK, the commencement was no arbitrary initiative on His part. There is a kind of “occult obedience” established in Hierarchy before which the kind of occult obedience we attempt to practice would pale.
1. Chúng ta lưu ý rằng chính Thánh đoàn đã chấp thuận việc khởi lập các nhóm vào năm 1931. Mặc dù sáng kiến này liên quan đến ashram của Chân sư DK, việc khởi xướng không phải là một sáng kiến tùy ý của Ngài. Trong Thánh đoàn đã hình thành một loại “sự tuân phục huyền bí” mà trước nó, loại tuân phục huyền bí chúng ta cố gắng thực hành sẽ trở nên mờ nhạt.
2. The choosing of the members of the groups was not rapid or sudden. DK has told us that the success of any initiate’s projects will depend upon the choice of co-workers. As the groups were meant to abide, for perhaps 300 years, the laying of the foundation had to be carefully undertaken.
2. Việc lựa chọn thành viên cho các nhóm không diễn ra nhanh chóng hay đột ngột. Chân sư DK đã cho chúng ta biết rằng sự thành công trong các dự án của bất kỳ điểm đạo đồ nào cũng sẽ tùy thuộc vào việc lựa chọn các cộng sự. Vì các nhóm được dự định sẽ tồn tại lâu dài, có lẽ suốt 300 năm, nên việc đặt nền móng phải được tiến hành cẩn trọng.
3. The individuals who were chosen were definitely joining “ashramic work”; the choice brought them, in most cases, into closer rapport with the Ashram.
3. Những cá nhân được lựa chọn rõ ràng là đang tham gia “công việc ashram”; trong hầu hết các trường hợp, sự lựa chọn ấy đưa họ vào mối giao hòa gần gũi hơn với ashram.
4. We hear the words, “complete unity of purpose and of relationship”. Perhaps we can somewhat imagine the meaning of complete unity of purpose. The Master’s purposes must be paramount and all members must acquiesce to these purposes.
4. Chúng ta nghe những lời “sự hợp nhất hoàn toàn về mục đích và mối quan hệ”. Có lẽ chúng ta có thể phần nào hình dung ý nghĩa của sự hợp nhất hoàn toàn về mục đích. Các mục đích của Chân sư phải là tối thượng, và mọi thành viên phải thuận theo những mục đích ấy.
5. As for “complete unity of relationship”, an attitude of loving-unity will be required. The normal personality attitudes (often based on criticism and desire) will be suspended, and the group members will succeed in working harmoniously and as one.
5. Về “sự hợp nhất hoàn toàn trong mối quan hệ”, cần có một thái độ hợp nhất đầy tình thương. Những thái độ thông thường của phàm ngã (thường dựa trên sự chỉ trích và dục vọng) sẽ tạm ngừng, và các thành viên nhóm sẽ thành công trong việc hoạt động hài hòa như một thể thống nhất.
6. We can see that from the normal human perspective, these are no small requirements.
6. Chúng ta có thể thấy rằng, từ góc nhìn thông thường của con người, đây là những yêu cầu không hề nhỏ.
As you all know, I am a second ray disciple, an initiate of a certain standing — the grade of which in no way concerns you, though many of you have personally and interiorly ascertained who I am. If the teaching which I have given you and the books which I have given to the world do not suffice to win your confidence and your attention, then knowing that I am an initiate of the third degree, or a Master, or a Boddhisattva or one of the Buddhas close to the Throne of God will in no way aid your comprehension and will only hinder your development. For many lives I have been close to the Master K. H. ; in discussion with Him, we have often wondered how we should aid in the inauguration upon earth of those newer types of work which will be distinctive of the New Age and yet would be close enough to the comprehension of the advanced aspirants and the world disciples so that their cooperation would be evoked and their intelligent help forthcoming. What were the requirements for which we should look and what should be the technique to be applied in the New Age for the raising of the consciousness of men? We decided that four things must, first of all, distinguish the group work which should be done and should characterise the disciples to be chosen for training. These were: Sensitivity, Impersonality, Psychic Gifts, Mental Polarisation. I do not make mention of aspiration, of selflessness [44] or of the desire to serve. They are fundamentals and basic essentials and, where they do not exist, there is no use in proffering the type of assistance which we are seeking to give.
Như tất cả các bạn đều biết, Tôi là một đệ tử cung hai, một điểm đạo đồ ở một trình độ nhất định — cấp bậc ấy hoàn toàn không liên quan đến các bạn, dù nhiều người trong các bạn đã đích thân xác định trong nội tâm Tôi là ai. Nếu giáo huấn Tôi đã trao cho các bạn và những cuốn sách Tôi đã trao cho thế giới không đủ để giành được sự tin cậy và chú tâm của các bạn, thì việc biết Tôi là một điểm đạo đồ bậc ba, hay một Chân sư, một vị Bồ Tát hoặc một trong các vị Phật gần Thánh Ngai của Thượng đế cũng chẳng giúp các bạn thấu hiểu thêm chút nào, mà chỉ cản trở sự phát triển của các bạn. Qua nhiều kiếp sống, Tôi đã gần gũi với Chân sư KH; khi thảo luận với Ngài, chúng tôi thường tự hỏi nên giúp khởi xướng trên Trái Đất những loại công việc mới như thế nào, để chúng vừa mang nét đặc trưng của Kỷ Nguyên Mới, vừa đủ gần với tầm thấu hiểu của những người chí nguyện tiến bộ và các đệ tử thế gian, nhờ đó khơi dậy sự hợp tác và nhận được sự trợ giúp thông minh của họ. Chúng tôi nên tìm kiếm những yêu cầu nào, và nên áp dụng kỹ thuật nào trong Kỷ Nguyên Mới để nâng cao tâm thức con người? Chúng tôi quyết định rằng, trước hết, bốn điều phải tạo nên nét đặc trưng cho công việc nhóm cần thực hiện và cho những đệ tử sẽ được chọn để huấn luyện. Đó là: Tính Nhạy Cảm, Tính Phi Cá Nhân, Năng Khiếu Thông Linh, Sự Phân Cực Trí Tuệ. Tôi không đề cập đến khát vọng, lòng vị tha [44] hay mong muốn phụng sự. Đó là những điều nền tảng và thiết yếu căn bản; nơi nào không có những điều ấy thì việc đề nghị loại trợ giúp mà chúng tôi đang tìm cách trao cũng chẳng có ích gì.
1. Setting the right tone, the Master (long before the general group personnel knew He was a Master) calls Himself a “disciple”. This is the proper word to use, and among the disciples of the world today, there should be no temptation to call oneself “an initiate”.
1. Để xác lập tinh thần đúng đắn, Chân sư (từ rất lâu trước khi các thành viên trong nhóm nói chung biết Ngài là một Chân sư) tự gọi mình là một “đệ tử”. Đây là từ thích hợp để sử dụng, và trong số các đệ tử trên thế giới ngày nay, không ai nên bị cám dỗ tự gọi mình là “một điểm đạo đồ”.
2. DK does call Himself an initiate simply because it is obvious that anyone who could write such books would have to be initiate.
2. Chân sư DK quả có tự gọi mình là một điểm đạo đồ, đơn giản vì hiển nhiên bất kỳ ai có thể viết những cuốn sách như thế đều phải là một điểm đạo đồ.
3. In the first sentence, He adequately demonstrates that every initiate is, in fact, a disciple.
3. Trong câu đầu tiên, Ngài cho thấy đầy đủ rằng mọi điểm đạo đồ thực ra đều là một đệ tử.