Trích nội dung chương
4. DK is both earnest and humorous. He goes through the possible ranks He might hold — all the way from a humble third degree initiate to an exalted Shamballic Life known as a “Buddha of Activity”. In this way He negated the frequently expressed attitude of curiosity (an attitude often based on ambition) about Himself and His rank; He simply states that His Teaching must stand on its own merits. This, again, is the right and constructive attitude. Otherwise devotionalism could easily take the place of the cultivation of discrimination and mental illumination. 4. Chân sư DK vừa nghiêm túc vừa hài hước. Ngài lần lượt nêu những cấp bậc mà Ngài…
4. DK is both earnest and humorous. He goes through the possible ranks He might hold — all the way from a humble third degree initiate to an exalted Shamballic Life known as a “Buddha of Activity”. In this way He negated the frequently expressed attitude of curiosity (an attitude often based on ambition) about Himself and His rank; He simply states that His Teaching must stand on its own merits. This, again, is the right and constructive attitude. Otherwise devotionalism could easily take the place of the cultivation of discrimination and mental illumination.
4. Chân sư DK vừa nghiêm túc vừa hài hước. Ngài lần lượt nêu những cấp bậc mà Ngài có thể nắm giữ — từ một điểm đạo đồ bậc ba khiêm nhường cho đến một Sự Sống Shamballa cao cả được biết đến như một “Đức Phật Hoạt Động”. Bằng cách này, Ngài phủ định thái độ tò mò thường xuyên được bộc lộ (một thái độ thường dựa trên tham vọng) về bản thân Ngài và cấp bậc của Ngài; Ngài chỉ đơn giản khẳng định rằng Giáo Huấn của Ngài phải đứng vững bằng chính giá trị của nó. Một lần nữa, đây là thái độ đúng đắn và có tính xây dựng. Nếu không, khuynh hướng sùng tín có thể dễ dàng thay thế việc trau dồi sự phân biện và sự soi sáng trí tuệ.
5. DK speaks of His close relationship with the Master KH. Those who would later read His writings on the Six Stages of Discipleship, would come to realize that He must be, at least, a “Chela within the Aura” of a Master — a relatively high rank.
5. Chân sư DK nói về mối quan hệ gần gũi của Ngài với Chân sư KH. Những người về sau đọc các bài viết của Ngài về Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử sẽ nhận ra rằng ít nhất Ngài phải là một “Đệ tử trong hào quang” của một Chân sư — một cấp bậc tương đối cao.
6. The motivation of these two initiates, DK and KH is revealed. They seek to aid humanity by bringing forward new types of spiritual work in a way that present day advanced aspirants and disciples would be able to understand and respond to constructively. Their deep concern for humanity is clear.
6. Động cơ của hai điểm đạo đồ này, Chân sư DK và Chân sư KH, được hé lộ. Các Ngài tìm cách trợ giúp nhân loại bằng việc đưa ra những loại công việc tinh thần mới theo cách mà những người chí nguyện tiến bộ và các đệ tử ngày nay có thể thấu hiểu và đáp ứng một cách xây dựng. Mối quan tâm sâu sắc của Các Ngài đối với nhân loại thật rõ ràng.
7. We notice the “target population” for the initiatives They undertook. The work is for “advanced aspirants” and disciples, thus, obviously, not really for complete beginners on the spiritual Path. Too much mental focussing and commitment are required.
7. Chúng ta lưu ý đến “đối tượng hướng đến” của những sáng kiến mà Các Ngài đã thực hiện. Công việc dành cho “những người chí nguyện tiến bộ” và các đệ tử, vì vậy hiển nhiên không thực sự dành cho những người hoàn toàn mới bước vào Đường Đạo tinh thần. Công việc đòi hỏi mức độ tập trung trí tuệ và sự cam kết quá lớn.
8. Every initiate initiates, and these two initiates spoke often of what They might inaugurate. We are now in the midst of studying certain aspects of that which They inaugurated. They sought not only to evoke our interest but our cooperation. The advanced aspirants and disciples of the world were to become, in effect, co-workers in the inaugurated projects.
8. Mỗi điểm đạo đồ đều khởi xướng, và hai điểm đạo đồ này thường nói về những gì Các Ngài có thể khởi lập. Hiện nay, chúng ta đang nghiên cứu một số phương diện của những gì Các Ngài đã khởi lập. Các Ngài không chỉ tìm cách khơi dậy sự quan tâm mà còn cả sự hợp tác. Thực tế, những người chí nguyện tiến bộ và các đệ tử trên thế giới sẽ trở thành cộng sự trong những dự án đã được khởi lập.
9. There would be rather strict requirements; discrimination had to be exercised as not all who might be willing would be suitable for the project.
9. Sẽ có những yêu cầu khá nghiêm ngặt; cần vận dụng sự phân biện vì không phải ai sẵn lòng cũng đều phù hợp với dự án.
10. Four essential requirements were determined: Sensitivity, Impersonality, Psychic Gifts and Mental Polarization. These will be discussed in the succeeding paragraphs. Considered simultaneously the requirements look demanding, and (unless deep thought is given to these qualities) somewhat mutually contradictory.
10. Bốn yêu cầu thiết yếu đã được xác định: Tính Nhạy Cảm, Tính Phi Cá Nhân, Năng Khiếu Thông Linh và Sự Phân Cực Trí Tuệ. Những điều này sẽ được bàn đến trong các đoạn tiếp theo. Khi xét đồng thời, những yêu cầu này có vẻ khắt khe và (trừ khi suy ngẫm sâu sắc về những phẩm tính ấy) phần nào mâu thuẫn với nhau.
11. As for the more normal requirements — aspiration, selflessness and the desire to serve — they were considered fundamental and necessary for each and all. The whole work depended on a sincere orientation toward the soul and a deep urge to be helpful. Where selfishness exists in any great measure, there is no use offering occult training, as it could easily be misused, and would do more harm than good.
11. Còn những yêu cầu thông thường hơn — khát vọng, lòng vị tha và mong muốn phụng sự — được xem là nền tảng và cần thiết cho từng người cũng như tất cả mọi người. Toàn bộ công việc tùy thuộc vào sự chân thành hướng về linh hồn và một thôi thúc sâu xa muốn giúp ích. Nơi nào tính ích kỷ còn hiện diện ở mức độ đáng kể thì việc trao sự huấn luyện huyền bí cũng vô ích, vì sự huấn luyện ấy có thể dễ dàng bị lạm dụng và sẽ gây hại nhiều hơn mang lại lợi ích.
You will note that, as you look back over the spiritual history of the race of men during the past two thousand years (which is far enough for our purpose), that the following methods have been consecutively used to reach men’s minds spiritually:
Khi nhìn lại lịch sử tinh thần của nhân loại trong hai nghìn năm qua (khoảng thời gian đủ xa cho mục đích của chúng ta), các bạn sẽ lưu ý rằng những phương pháp sau đây đã lần lượt được sử dụng để tiếp cận thể trí con người về mặt tinh thần:
1. The method of raising the consciousness of an individual so that he became a Knower. Individual salvation and the emergence of outstanding individuals with spiritual sense, vision and achievement to their credit has characterised the mystical history of the past. Some of these people emerged along the way of the heart, the mystical way; such were Shri Krishna, St. Francis of Assisi, and all those Knowers whose way was the Way of Love. To these can be added Milarepa of Tibet and Lao Tze of China. Such also have been many of the saints of the church in the West. The Bhagavad Gita has been the book which has embodied this way superlatively.
1. Phương pháp nâng cao tâm thức của một cá nhân để y trở thành một thức giả. Sự cứu rỗi cá nhân và sự xuất hiện của những cá nhân xuất chúng, với cảm thức, tầm nhìn và thành tựu tinh thần, đã tạo nên nét đặc trưng cho lịch sử thần bí trong quá khứ. Một số người trong số này xuất hiện theo con đường của trái tim, con đường thần bí; đó là Shri Krishna, Thánh Francis thành Assisi và tất cả những thức giả có con đường là Con Đường Tình Thương. Có thể kể thêm Milarepa của Tây Tạng và Lão Tử của Trung Hoa. Nhiều vị thánh của giáo hội phương Tây cũng thuộc số này. Bhagavad Gita là cuốn sách đã thể hiện con đường ấy một cách tuyệt vời nhất.
1. Humanity is millions of years old, but something new is now in process (for which the Hierarchy has been waiting since its inception). The appearance of Christ in Palestine (at the end of a 250,000 year cycle probably of a Pleiadian/Solar nature) started a fundamentally new approach to spiritual training — one based very much upon the principle of love rather than as heretofore, upon the principle of light (though, naturally, no divine aspect can be excluded from training upon the Path).
1. Nhân loại đã có hàng triệu năm tuổi, nhưng hiện nay một điều mới mẻ đang diễn ra (điều mà Thánh đoàn đã chờ đợi từ khi thành lập). Sự xuất hiện của Đức Christ tại Palestine (vào cuối một chu kỳ 250.000 năm, có lẽ mang bản chất của cụm sao Thất Nữ và Thái dương) đã khởi đầu một cách tiếp cận căn bản mới đối với việc huấn luyện tinh thần — chủ yếu dựa trên nguyên khí bác ái thay vì dựa trên nguyên khí ánh sáng như trước đây (dĩ nhiên, không một phương diện thiêng liêng nào có thể bị loại khỏi việc huấn luyện trên Đường Đạo).
2. In academic circles, planetary history is taught from an amazingly limited perspective — or so occultists would think. Intellectual history is also taught — the history of ideas. One day the true spiritual history of humanity will be written in a compelling manner. The Tibetan has given us glimpses of this history through HPB in The Secret Doctrine, but continuity still lacks. Major religious and philosophical movements are noted, but the chronology is not entirely clear and the developmental interrelationships insufficiently detailed.
2. Trong giới học thuật, lịch sử hành tinh được giảng dạy từ một góc nhìn hạn hẹp đến kinh ngạc — ít nhất các nhà huyền bí học hẳn sẽ nghĩ như vậy. Lịch sử trí tuệ cũng được giảng dạy — lịch sử của các ý tưởng. Một ngày kia, lịch sử tinh thần đích thực của nhân loại sẽ được viết lại một cách đầy sức thuyết phục. Thông qua Bà HPB, Chân sư Tây Tạng đã cho chúng ta những cái nhìn thoáng qua về lịch sử này trong Giáo Lý Bí Nhiệm, nhưng vẫn thiếu tính liên tục. Các phong trào tôn giáo và triết học lớn đã được ghi nhận, nhưng trình tự thời gian chưa hoàn toàn rõ ràng và các mối tương quan trong quá trình phát triển chưa đủ chi tiết.
3. Methods of raising consciousness are discussed. The objective of such consciousness -raising is to produce the true “Knower” — really a “Thinker”, a conscious soul able to work from the higher mental subplanes planes and sensitive to planes above.
3. Các phương pháp nâng cao tâm thức đang được bàn đến. Mục tiêu của việc nâng cao tâm thức như thế là tạo nên một “thức giả” đích thực — thực sự là một “Chủ Thể Tư Duy”, một linh hồn hữu thức có khả năng hoạt động từ các cõi phụ thượng trí và nhạy cảm với những cõi cao hơn.
4. During the Age of Aquarius, the true Knower will increasingly be produced. Such an individual will have mastered certain inner processes of registration and impression, and will be identified with vibrational domains ‘outside’ and ‘above’ the personality altogether.
4. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, ngày càng có nhiều thức giả đích thực xuất hiện. Một cá nhân như thế sẽ làm chủ một số tiến trình ghi nhận và tiếp nhận ấn tượng bên trong, đồng thời sẽ đồng hóa với những miền rung động hoàn toàn ‘bên ngoài’ và ‘bên trên’ phàm ngã.
5. DK speaks of the “mystical history of the past” with its focus on “individual salvation”. He is speaking largely of the Piscean Age and perhaps of the last few hundred years of the Age of Aries.
5. Chân sư DK nói đến “lịch sử thần bí trong quá khứ” với trọng tâm là “sự cứu rỗi cá nhân”. Ngài chủ yếu nói đến Kỷ Nguyên Song Ngư và có lẽ cả vài trăm năm cuối của Kỷ Nguyên Bạch Dương.
6. The mystical way is the “way of the heart”. The Age of Pisces was ruled by the second and sixth rays — both on the soft or “heart-line”. Moreover, this method of development began in Atlantis and carried the vibration of that fourth-ray/sixth-ray civilization. The Christ is the great Product of that method of spiritual development.
6. Con đường thần bí là “con đường của trái tim”. Kỷ Nguyên Song Ngư do cung hai và cung sáu cai quản — cả hai đều thuộc tuyến mềm hay “tuyến trái tim”. Hơn nữa, phương pháp phát triển này bắt đầu ở Atlantis và mang rung động của nền văn minh cung bốn/cung sáu ấy. Đức Christ là Thành Quả vĩ đại của phương pháp phát triển tinh thần ấy.
7. Knowers such as Sri Krishna and St. Francis were not really products of the Aryan method of spiritual development.
7. Những thức giả như Sri Krishna và Thánh Francis không thực sự là thành quả của phương pháp phát triển tinh thần Arya.
8. It is surprising so see Lao Tze and Milarepa numbered among those who followed the Way of the Heart, for there was much that was occult or philosophical in their approach. But DK’s perspective upon them is certainly more schooled than our own, and so these great individuals should be studied from the view-point suggested.
8. Thật ngạc nhiên khi thấy Lão Tử và Milarepa được xếp vào số những vị đi theo Con Đường Trái Tim, vì cách tiếp cận của Các Ngài chứa đựng nhiều yếu tố huyền bí hoặc triết học. Nhưng góc nhìn của Chân sư DK về Các Ngài chắc chắn uyên thâm hơn góc nhìn của chúng ta, vì vậy nên nghiên cứu những nhân vật vĩ đại này từ quan điểm đã được gợi ý.
9. The Western Saint typifies this heart approach. DK suggests elsewhere that they are a special group of monads having some affiliation with the planet Neptune.
9. Vị Thánh phương Tây là hình mẫu tiêu biểu cho cách tiếp cận bằng trái tim này. Ở một nơi khác, Chân sư DK gợi ý rằng các vị ấy là một nhóm chân thần đặc biệt, có mối liên hệ nào đó với Sao Hải Vương.
“The mystics of the Occident who have come into incarnation during the past one thousand years are a peculiar group of Egos whose impulse is towards this type of cosmic energy. In this system they have developed certain basic recognitions and the “ecstasy” of the occidental mystic is the germ, latent within him, which will some day flower forth into that cosmic rapture for which we have as yet no name. ” (CF 1259)
“Các nhà thần bí phương Tây đã lâm phàm trong một nghìn năm qua là một nhóm Chân ngã đặc biệt có xung lực hướng đến loại năng lượng vũ trụ này. Trong hệ này, họ đã phát triển một số nhận biết căn bản, và trạng thái “ngây ngất” của nhà thần bí phương Tây là mầm mống tiềm ẩn trong y, một ngày kia sẽ nở rộ thành niềm hân hoan xuất thần vũ trụ mà hiện nay chúng ta chưa có tên gọi. ” (CF 1259)
10. The Bhagavad Gita is considered one of the fundamental texts to be in the possession of all true students of spirituality. In that great “Song Celestial” one learns many things about spirit and form — especially about detachment from form and identification as spirit.
10. Bhagavad Gita được xem là một trong những văn bản nền tảng mà mọi đạo sinh chân chính nghiên cứu về tinh thần đều phải có. Trong “Thiên Ca” vĩ đại ấy, người ta học được nhiều điều về tinh thần và hình tướng — đặc biệt là việc tách rời khỏi hình tướng và đồng hóa mình là tinh thần.
11. We remember that Krishna was the Teacher of Arjuna (the warrior). The Krishna of that great Epic is probably not the Sri Krishna of 5000 years ago, because the great Battle of Kurukshetra is said to have taken place in mid-Atlantean times, some millions of years ago. Though such names as Krishna are used generically by many, there must nevertheless be a connection between Sri Krishna, Who was one of the great exemplars of the “Way of the Heart”, and the Lord Krishna Who instructed Arjuna in the Bhagavad Gita.
11. Chúng ta nhớ rằng Krishna là Huấn sư của Arjuna (người chiến binh). Krishna trong bản sử thi vĩ đại ấy có lẽ không phải là Sri Krishna cách đây 5.000 năm, vì Trận Chiến Kurukshetra vĩ đại được cho là đã diễn ra vào giữa thời Atlantis, cách đây vài triệu năm. Mặc dù nhiều người dùng những tên như Krishna như một danh xưng chung, vẫn phải có mối liên hệ giữa Sri Krishna, một trong những tấm gương vĩ đại của “Con Đường Trái Tim”, và Đức Krishna, Đấng đã giáo huấn Arjuna trong Bhagavad Gita.
Others emerged along the way of the mind and were the intellectual Knowers. Theirs is the more strictly occult way and it has become increasingly the way of our present day aspirants. The reason for this is that the polarisation of the race is shifting ever more steadily on to the mental plane. Some of the individuals on this way of the mind were Sankaracharya, the Apostle Paul, and Meister Eckhart. Today, many are coming out along this way under the name of science. There were also those outstanding individuals, such as the Christ and the Buddha, Who combined both ways in their perfection and Who towered above Their fellowmen from the heights of Their achievement. They swayed hemispheres and centuries, whereas the lesser sons of God swayed countries, specific types of mind and lesser periods of time.
Những vị khác xuất hiện theo con đường trí tuệ và là những thức giả thiên về trí tuệ. Con đường của họ mang tính huyền bí rõ rệt hơn và ngày càng trở thành con đường của những người chí nguyện thời nay. Lý do là sự phân cực của nhân loại đang ngày càng chuyển dịch vững chắc hơn lên cõi trí. Một số cá nhân đi trên con đường trí tuệ này là Sankaracharya, Tông đồ Paul và Meister Eckhart. Ngày nay, nhiều người đang xuất hiện trên con đường này dưới danh nghĩa khoa học. Cũng có những cá nhân xuất chúng, như Đức Christ và Đức Phật, đã kết hợp cả hai con đường trong sự hoàn thiện và, từ đỉnh cao thành tựu của mình, Các Ngài vượt xa những người đồng loại. Các Ngài tạo ảnh hưởng đến những bán cầu và nhiều thế kỷ, trong khi những người con của Thượng đế ở tầm vóc nhỏ hơn chỉ tạo ảnh hưởng đến các quốc gia, những loại hình trí tuệ cụ thể và những khoảng thời gian ngắn hơn.
1. DK is discussing the creation of “Knowers” through processes of individual spiritual training. He now discusses the “intellectual Knowers” rather that ‘Knowers of the Heart’.
1. Chân sư DK đang bàn về việc tạo nên những “thức giả” thông qua các tiến trình huấn luyện tinh thần cá nhân. Giờ đây, Ngài bàn đến những “thức giả thiên về trí tuệ” thay vì ‘những thức giả của Trái Tim’.
2. Because of the type of civilization in which we live and the prominence of the fifth ray during the fifth subrace of the fifth root-race, the way of the intellectual Knower (the occultist) is increasingly the way of the modern aspirant or disciple.
2. Do loại hình văn minh mà chúng ta đang sống và sự nổi trội của cung năm trong giống dân phụ thứ năm của giống dân gốc thứ năm, con đường của thức giả thiên về trí tuệ (nhà huyền bí học) ngày càng trở thành con đường của người chí nguyện hoặc đệ tử hiện đại.
3. Every root-race and subrace will have its preferred way of achieving consciousness of the divine. For the Aryan Age, and the Teutonic subrace of that Age, the way is largely through the mind. The sixth subrace of the Aryan Race (now slowly forming) will augment that approach, by including more of the abstract mind and the intuition.
3. Mỗi giống dân gốc và giống dân phụ sẽ có con đường ưu tiên riêng để đạt đến tâm thức về điều thiêng liêng. Đối với Thời Đại Arya và giống dân phụ Teuton của thời đại ấy, con đường chủ yếu đi qua trí tuệ. Giống dân phụ thứ sáu của Giống dân Arya (hiện đang dần hình thành) sẽ mở rộng cách tiếp cận ấy bằng việc đưa thêm nhiều yếu tố của trí trừu tượng và trực giác vào.
4. It is interesting to see who the Tibetan regards as intellectual Knowers. The great Sankaracharya was considered the counterpart of the Buddha. He was the foremost exponent of Adwaita Vedanta (the Vedantic Philosophy of Non-Dualism). For all his passion and apparent fanaticism, the initiate Paul is considered an intellectual Knower. Fittingly, He is presently the Chohan who heads the Fifth Ray Ashram. Meister Eckhart is commonly regarded as a great German mystic (but DK calls him an occultist).
4. Thật thú vị khi xem Chân sư Tây Tạng coi những ai là các thức giả thiên về trí tuệ. Sankaracharya vĩ đại được xem là đối phần của Đức Phật. Ngài là người diễn giải lỗi lạc nhất về Adwaita Vedanta (Triết Học Vedanta về Bất Nhị). Dù đầy nhiệt huyết và có vẻ cuồng tín, điểm đạo đồ Paul vẫn được xem là một thức giả thiên về trí tuệ. Phù hợp với điều đó, hiện nay Ngài là vị Chohan đứng đầu ashram Cung Năm. Meister Eckhart thường được xem là một nhà thần bí vĩ đại người Đức (nhưng Chân sư DK gọi ông là một nhà huyền bí học).
5. St. Paul was upon the fifth and first rays, and Sankaracharya (according to the Tibetan) a representative of the second ray.
5. Thánh Paul thuộc cung năm và cung một, còn Sankaracharya (theo Chân sư Tây Tạng) là một đại diện của cung hai.
“Such Avatars were Plato, the first Patanjali and Sankaracharya; they emerge upon the second ray line of energy, in the department of the Christ and are expressions of hierarchical force”. (EXH 298)
“Những Đấng Hoá Thân như thế là Plato, Patanjali thứ nhất và Sankaracharya; Các Ngài xuất hiện trên tuyến năng lượng cung hai, trong ban của Đức Christ, và là những biểu hiện của mãnh lực Thánh đoàn”. (EXH 298)
The rays of Meister Eckhart are not given.
Các cung của Meister Eckhart không được nêu ra.
6. It is interesting to find an “intellectual Knower” largely characterized by the second ray. One might expect to find such second ray types only in relation to the “Way of the Heart”. The rays have to be studied closely so that false generalizations are not indulged.
6. Thật thú vị khi thấy một “thức giả thiên về trí tuệ” lại chủ yếu mang đặc trưng của cung hai như vậy. Người ta có thể nghĩ rằng chỉ tìm thấy những người cung hai như thế trong mối liên hệ với “Con Đường Trái Tim”. Cần nghiên cứu kỹ các cung để không sa vào những khái quát hóa sai lầm.
7. The present Christ — the Lord Maitreya — (a later incarnation of Sri Krishna) and the Buddha are considered to tower above the other great Teachers. The power of a Teacher is measured by the scope of His influence. Christ and Buddha swayed hemispheres. The other Teachers influenced countries, specific types of mind and lesser periods of time.
7. Đức Christ hiện tại — Đức Maitreya — (một kiếp nhập thể về sau của Sri Krishna) và Đức Phật được xem là vượt xa các Huấn sư vĩ đại khác. Quyền năng của một Huấn sư được đo bằng phạm vi ảnh hưởng của Ngài. Đức Christ và Đức Phật đã tác động sâu rộng đến các bán cầu. Các Huấn sư khác ảnh hưởng đến những quốc gia, những kiểu thể trí cụ thể và những khoảng thời gian ngắn hơn.
8. Probably few of us who are not Masters of the Wisdom can appreciate the real contribution of the Christ and the Buddha — Beings Who rank above Masters and above even the Chohans of the sixth initiation. But so universal were these two Teachers (with respect to humanity, at least) that They gave something comprehensible by all — even by many of the humblest.
8. Có lẽ ít ai trong chúng ta, những người chưa phải là Chân sư Minh Triết, có thể nhận thức đúng sự đóng góp thực sự của Đức Christ và Đức Phật — những Đấng có cấp bậc cao hơn các Chân sư và thậm chí cao hơn cả các Đế Quân ở lần điểm đạo thứ sáu. Nhưng hai Huấn sư này có tính phổ quát đến mức (ít nhất là đối với nhân loại), Các Ngài đã trao truyền điều mà tất cả mọi người đều có thể thấu hiểu — ngay cả nhiều người thuộc hàng thấp kém nhất.
9. We understand that the Masters of the Wisdom “bend the knee” to the Christ. Do we have a real appreciation of why They do this? Perhaps it has something to do with the primacy of the Love in our solar system, and the fact that the Christ is the greatest demonstration of systemic (and, even, cosmic) Love which humanity has, thus far, produced.
9. Chúng ta hiểu rằng các Chân sư Minh Triết “quỳ gối” trước Đức Christ. Chúng ta có thực sự hiểu vì sao Các Ngài làm như vậy không? Có lẽ điều này có liên quan đến vị trí tối thượng của Bác ái trong hệ mặt trời của chúng ta, và việc Đức Christ là sự biểu hiện vĩ đại nhất của Bác ái thuộc hệ mặt trời (và thậm chí thuộc vũ trụ) mà nhân loại đã sản sinh cho đến nay.
10. A little contemplation on the real nature of the Christ may yield astounding results.
10. Một chút chiêm ngưỡng về bản chất thực sự của Đức Christ có thể mang lại những kết quả đáng kinh ngạc.
11. Through these two, the Christ and the Buddha, the cosmic astral plane and cosmic mental plane touch humanity. No wonder They are so extraordinary.
11. Thông qua hai Đấng này, Đức Christ và Đức Phật, cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ tiếp xúc với nhân loại. Chẳng lạ gì khi Các Ngài phi thường đến vậy.
2. The second method employed for raising the consciousness of the race was through groups, gathered around a [45] teacher who (to a greater or less degree) was a focal point of energy either
2. Phương pháp thứ hai dùng để nâng cao tâm thức nhân loại là thông qua các nhóm, quy tụ quanh một [45] huấn sư, người (ở mức độ nhiều hay ít) là một tiêu điểm năng lượng, hoặc
1. The first method of raising consciousness was individual. Effective though it was, its day has run its course. Not only is a New Age virtually upon us, but a new Platonic Year (a 25,000 year cycle ruled by Aquarius) is about to dawn. The Era of the Group is emerging, and methods of spiritual training must reflect the prevailing energies.
1. Phương pháp đầu tiên để nâng cao tâm thức là phương pháp cá nhân. Dù hữu hiệu, thời kỳ của phương pháp này đã đi hết chặng đường của nó. Không chỉ một Kỷ Nguyên Mới hầu như đã đến với chúng ta, mà một Năm Plato mới (một chu kỳ 25.000 năm do Bảo Bình cai quản) cũng sắp khởi đầu. Kỷ Nguyên của Nhóm đang xuất hiện, và các phương pháp huấn luyện tinh thần phải phản ánh những năng lượng đang chiếm ưu thế.
2. Even in the past the group method was employed. We recognize that the groups gathered around the Buddha (the Arhats), and those around the Christ (the Twelve Disciples), were amazingly influential. More recently, there was a group gathered around Sri Ramakrishna (including Swami Vivekananda) and this group was very influential in bringing Vedanta to the Western world. Probably there have been a number such groups which have impacted humanity in a positive spiritual manner.
2. Ngay cả trong quá khứ, người ta cũng đã sử dụng phương pháp nhóm. Chúng ta nhận ra rằng những nhóm quy tụ quanh Đức Phật (các vị La Hán), và quanh Đức Christ (Mười Hai Đệ Tử), đã có ảnh hưởng lớn lao đáng kinh ngạc. Gần đây hơn, có một nhóm quy tụ quanh Sri Ramakrishna (bao gồm Swami Vivekananda), và nhóm này đã có ảnh hưởng rất lớn trong việc đưa Vedanta đến thế giới phương Tây. Có lẽ đã có một số nhóm như vậy tác động tích cực đến nhân loại về mặt tinh thần.
a. By the power of his soul contact or
a. Nhờ quyền năng từ sự tiếp xúc với linh hồn của người ấy, hoặc
b. By that contact and being also a channel through which some member of the Hierarchy could work.
b. Nhờ sự tiếp xúc ấy và đồng thời là một kênh dẫn để một thành viên nào đó của Thánh đoàn có thể hoạt động thông qua.
1. Every group has to have a focal point. That is the way Hierarchy works. Every Hierarchy is, in fact, a Hierarchy with a leader at its head.
1. Mỗi nhóm đều phải có một tiêu điểm. Đó là cách Thánh đoàn hoạt động. Thực ra, mọi hệ thống thứ bậc đều là một hệ thống thứ bậc có một người lãnh đạo đứng đầu.
2. Those who have gathered groups have either been powerful expressions of the soul in their own right, or have been “overshadowed” or ‘over-lighted’ by members of the Hierarchy. There have been a number of experiments — probably more than we know. We are told that Jeddu Krishnamurti was overshadowed for a time by the Christ. Those who heard him speak during a certain period when the experiment was in effect remarked on the tremendous energy he evidenced.
2. Những người đã quy tụ các nhóm hoặc vốn là những biểu hiện mạnh mẽ của linh hồn, hoặc đã được “phủ bóng” hay ‘soi sáng từ trên’ nhờ các thành viên của Thánh đoàn. Đã có một số cuộc thử nghiệm — có lẽ nhiều hơn chúng ta biết. Chúng ta được cho biết rằng Đức Christ đã phủ bóng Jeddu Krishnamurti trong một thời gian. Những người từng nghe ông diễn thuyết trong một giai đoạn nhất định khi cuộc thử nghiệm đang diễn ra đã nhận xét về năng lượng vô cùng mạnh mẽ mà ông biểu lộ.
Through the example of these teachers, through their teaching, through their successes and their failures, those whom they gathered to them could be taught, their vibration could be increased, their consciousness expanded and the group could become a magnetised centre of force, of purpose and of spiritual light — the degree of this being dependent upon the purity of the note sounded and the selflessness of the lives shown. The mental calibre of the group also had its effect, for the average vibration and polarisation established the note for the group as a whole.
Thông qua tấm gương của những huấn sư này, thông qua giáo huấn, những thành công và thất bại của họ, những người quy tụ quanh họ có thể được dạy dỗ, rung động của họ có thể được nâng cao, tâm thức của họ có thể mở rộng, và nhóm có thể trở thành một trung tâm được từ hóa của mãnh lực, của mục đích và của ánh sáng tinh thần — mức độ này tùy thuộc vào sự tinh khiết của âm điệu được xướng lên và tính vô ngã thể hiện trong những cuộc đời ấy. Trình độ trí tuệ của nhóm cũng có tác động, vì rung động và sự phân cực trung bình xác lập âm điệu cho toàn nhóm.
1. The individuals first discussed, Sri Krishna, St. Francis, Milarepa, Lao Tze, St. Paul, Meister Eckhart, Sankaracharya — were not products of group instruction. Some had no outward teachers of whom we know. If an outward teacher was involved, that teacher seemed to work with them on a one-to-one basis.
1. Những cá nhân được bàn đến đầu tiên, Sri Krishna, Thánh Francis, Milarepa, Lão Tử, Thánh Paul, Meister Eckhart, Sankaracharya — không phải là sản phẩm của việc giảng dạy theo nhóm . Một số vị không có huấn sư bên ngoài nào mà chúng ta biết đến. Nếu có một huấn sư bên ngoài tham gia, huấn sư ấy dường như làm việc riêng với từng vị.
2. Other, perhaps less notable individuals, have been taught over the centuries in group form. The teachers have taught not only through their teaching, but through example, success and failure.
2. Qua nhiều thế kỷ, những cá nhân khác, có lẽ ít nổi bật hơn, đã được giảng dạy theo hình thức nhóm. Các huấn sư không chỉ dạy bằng giáo huấn, mà còn bằng tấm gương, thành công và thất bại.
3. Different types of groups were produced, of varying light, love and potency.
3. Những loại nhóm khác nhau đã hình thành, với ánh sáng, tình thương và sức mạnh ở những mức độ khác nhau.
4. It is interesting to see that the strength of the group depends upon “purity” and “selflessness”. Purity and selflessness create a channel for power.
4. Thật thú vị khi thấy rằng sức mạnh của nhóm tùy thuộc vào “sự tinh khiết” và “tính vô ngã”. Sự tinh khiết và tính vô ngã tạo nên một kênh dẫn cho quyền năng.
5. These are two points on which we can question ourselves as we assess the potency of our present group formations. Always, I suspect, there will be room for improvement.
5. Đây là hai điểm mà chúng ta có thể tự chất vấn khi đánh giá sức mạnh của những nhóm hiện tại của mình. Tôi cho rằng lúc nào cũng sẽ còn chỗ để cải thiện.
6. Mental calibre is not without its significance. DK speaks of how the “note for the group as a whole” is established. The average vibration and polarization establishes the note.
6. Trình độ trí tuệ cũng có thâm nghĩa của nó. Chân sư DK nói về cách xác lập “âm điệu cho toàn nhóm” . Chính rung động và sự phân cực trung bình xác lập âm điệu ấy.
7. The Masters can perceive these subtle energy dynamics and know the quality of groups. Our task is to attempt to enhance the quality of any worthy group with which we may be associated — bearing these three factors in mind: purity, selflessness and mental calibre.
7. Các Chân sư có thể nhận biết những động thái năng lượng tinh tế này và biết phẩm tính của các nhóm. Nhiệm vụ của chúng ta là cố gắng nâng cao phẩm tính của bất kỳ nhóm xứng đáng nào mà mình có thể tham gia — ghi nhớ ba yếu tố này: sự tinh khiết, tính vô ngã và trình độ trí tuệ.
An experiment is now being made to shift the focus of the groups inwards and yet, at the same time, to increase their potency by permitting no individual leader to be found at the group centre upon the outer plane. All in the group are to be gathered together as free souls. Together, they will learn; together, they will stand with impersonality; together, they will render service to the world. You must remember, however, that any person who takes the position that the work to be done is only upon the inner planes and that he is working solely from mental or spiritual levels of consciousness is not right in his conception of the process. Inner work which does not work out into objective activity upon the physical plane is wrongly oriented and inspired.
Hiện nay, một cuộc thử nghiệm đang được tiến hành nhằm chuyển trọng tâm của các nhóm vào bên trong, đồng thời gia tăng sức mạnh của họ bằng cách không để một cá nhân lãnh đạo nào hiện diện tại trung tâm nhóm trên cõi bên ngoài. Tất cả thành viên trong nhóm phải quy tụ như những linh hồn tự do. Họ sẽ cùng nhau học hỏi; cùng nhau đứng vững trong tính vô ngã; cùng nhau phụng sự thế gian. Tuy nhiên, các bạn phải nhớ rằng bất kỳ ai cho rằng công việc cần làm chỉ ở trên các cõi bên trong và rằng mình chỉ hoạt động từ những cấp độ tâm thức trí tuệ hoặc tinh thần, thì người ấy đang quan niệm sai về tiến trình này. Công việc bên trong không dẫn đến hoạt động khách quan trên cõi hồng trần là công việc có định hướng và cảm hứng sai lệch.
1. The nature of the present group experiment is given. The groups in training are to have a more intensely inward focus, but no individual leader will be found at the group center upon the outer plane.
1. Bản chất của cuộc thử nghiệm nhóm hiện tại đã được trình bày. Các nhóm đang được huấn luyện phải tập trung mãnh liệt hơn vào bên trong, nhưng sẽ không có một cá nhân lãnh đạo nào tại trung tâm nhóm trên cõi bên ngoài.
2. This, interestingly, is for the purpose of increasing the potency of the groups. We can understand that outer leaders are capable of mobilizing group energies, but, may also confine such energies or short-circuit them.
2. Điều thú vị là việc này nhằm gia tăng sức mạnh của các nhóm. Chúng ta có thể hiểu rằng những người lãnh đạo bên ngoài có khả năng huy động năng lượng của nhóm, nhưng cũng có thể hạn chế những năng lượng ấy hoặc làm chúng bị đoản mạch.
3. This approach must be carefully studied because it is not being said that the group has no leader. It is simply that the leader is not to be found on the outer plane. It is a Master or some initiate who is the true inner leader of such groups. Such was the case for the groups-of-nine which the Tibetan was organizing. Alice Bailey was simply the transcribing secretary for the groups, relaying to them that which the Tibetan wanted to convey. She had no authority over the groups or their personnel. While it may have seemed that the instruction was coming from her, in fact is was coming through her. She was not personally involved (though she was always ready to help).
3. Cần nghiên cứu kỹ cách tiếp cận này, vì điều đang được nói đến không phải là nhóm không có người lãnh đạo. Chỉ đơn giản là người lãnh đạo không hiện diện trên cõi bên ngoài. Một Chân sư hoặc một điểm đạo đồ nào đó mới là người lãnh đạo thực sự ở bên trong của những nhóm như vậy. Đó là trường hợp của những nhóm chín người mà Chân sư Tây Tạng đang tổ chức. Bà Alice Bailey chỉ là thư ký ghi chép cho các nhóm, chuyển đến họ những điều Chân sư Tây Tạng muốn truyền đạt. Bà không có quyền hành đối với các nhóm hay các thành viên của họ. Dù có vẻ như giáo huấn đến từ Bà, nhưng thực ra giáo huấn được truyền qua Bà. Bà không can dự với tư cách cá nhân (dù Bà luôn sẵn sàng giúp đỡ).
4. The factor of freedom is very important in the new kinds of Aquarian groups. Aquarius is, after all, a sign ruled by Uranus, the planet of freedom, and, increasingly, personnel in such groups must assemble as “free souls” — self-determining, yet acknowledging the same purpose and fully cooperative.
4. Yếu tố tự do rất quan trọng trong những loại nhóm Bảo Bình mới. Xét cho cùng, Bảo Bình là một dấu hiệu do Sao Thiên Vương, hành tinh của tự do, cai quản, và các thành viên trong những nhóm như vậy ngày càng phải quy tụ như những “linh hồn tự do” — tự quyết, nhưng cùng thừa nhận một mục đích và hợp tác trọn vẹn.
5. The Tibetan is always careful to strike a balancing note, lest someone, in this case, take the idea of subjectivity too far. In the process we call the Externalization of the Hierarchy there is always a simultaneous inwardly-tending and outwardly-tending movement. Hierarchy is not only approaching Shamballa (a deeply subjective matter), it is emerging into increasingly physical presence. Likewise, the responsibility of modern disciples is twofold and involves deepening subjective activity accompanied by the precipitation of subjective activities upon the physical plane.
5. Chân sư Tây Tạng luôn thận trọng đưa ra một âm điệu cân bằng, để trong trường hợp này không ai đẩy ý tưởng về tính chủ quan đi quá xa. Trong tiến trình mà chúng ta gọi là Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, luôn có sự vận động đồng thời hướng vào trong và hướng ra ngoài. Thánh đoàn không chỉ đang tiến gần đến Shamballa (một vấn đề mang tính chủ quan sâu xa), mà còn đang xuất hiện với sự hiện diện ngày càng rõ trên cõi hồng trần. Tương tự, trách nhiệm của các đệ tử hiện đại mang tính nhị phân, bao gồm việc đào sâu hoạt động chủ quan, đồng thời làm cho những hoạt động chủ quan ấy ngưng tụ trên cõi hồng trần.
6. There is no way we can avoid our responsibility to every dimension of the three worlds. We are physical, emotional and mental beings and have to serve on all three levels (though our particular focus may be more towards one than the others).
6. Chúng ta không thể nào tránh né trách nhiệm của mình đối với mọi chiều kích của ba cõi giới. Chúng ta là những sinh linh hồng trần, cảm xúc và trí tuệ, nên phải phụng sự trên cả ba cấp độ (dù trọng tâm riêng của chúng ta có thể nghiêng về một cấp độ hơn những cấp độ khác).
These new types of groups will work together under the conscious guidance and suggestion of a member of the Great White Lodge. Note the word “suggestion,” my brothers. If these groups were subjected to the authority of such a member, then the objective of all the work undertaken would fail to materialize. An occult law would have been broken. Free, intelligent assistance is what we are asking from all our disciples today, and we leave them free to render it or not as they like and in the manner which may seem best to them. I am your teacher. I make suggestion. I offer instruction. I indicate [46] the way to the goal and to the field of service. I point out to you what we, the Teachers upon the inner side, seek to see accomplished. Temporarily and of your own free will, you have indicated your willingness to serve and to cooperate in my plans. Beyond thus indicating the way and the service, I will not go. It is for all of you, my disciples, to work out in joint collaboration and in the closest understanding the way that my suggestions and my hints should be utilised. I do not interfere.
Những loại nhóm mới này sẽ cùng làm việc dưới sự hướng dẫn hữu thức và gợi ý của một thành viên Thánh đoàn. Các huynh đệ của Tôi, hãy lưu ý từ “gợi ý”. Nếu những nhóm này chịu sự áp đặt quyền hành của một thành viên như vậy, thì mục tiêu của toàn bộ công việc đang thực hiện sẽ không thành hiện thực. Một định luật huyền bí hẳn đã bị vi phạm. Ngày nay, điều chúng tôi yêu cầu ở tất cả các đệ tử là sự trợ giúp tự do và sáng suốt, và chúng tôi để họ tự do trợ giúp hay không, tùy ý họ, theo cách mà họ thấy là tốt nhất. Tôi là huấn sư của các bạn. Tôi đưa ra gợi ý. Tôi trao giáo huấn. Tôi chỉ [46] con đường đến mục tiêu và đến lĩnh vực phụng sự. Tôi chỉ cho các bạn thấy điều mà chúng tôi, những Huấn sư ở phía bên trong, mong thấy được hoàn thành. Trong một thời gian và hoàn toàn do ý chí tự do của mình, các bạn đã bày tỏ sự sẵn lòng phụng sự và hợp tác trong những kế hoạch của Tôi. Tôi sẽ không đi xa hơn việc chỉ ra con đường và công việc phụng sự như vậy. Chính tất cả các bạn, những đệ tử của Tôi, phải cùng hợp tác và thấu hiểu nhau sâu sắc nhất để tìm ra cách vận dụng những gợi ý và những lời hé lộ của Tôi. Tôi không can thiệp.
1. The Tibetan clarifies the matter of leadership and the way in which the new groups will work.
1. Chân sư Tây Tạng làm sáng tỏ vấn đề lãnh đạo và cách thức các nhóm mới sẽ hoạt động.
2. “Conscious guidance” and “suggestion” will come from a member of the Great While Lodge.
2. “Sự hướng dẫn hữu thức” và “gợi ý” sẽ đến từ một thành viên của Thánh đoàn.
3. We remember earlier that the Tibetan was speaking of His possible rank as a disciple or initiate. A little reasoning would have revealed to those intent on discerning His spiritual status, that He was attempting to work with groups in the manner here described and, therefore, must have been “a member of the Great White Lodge”.
3. Chúng ta nhớ rằng trước đó Chân sư Tây Tạng đã nói đến cấp bậc có thể có của Ngài là một đệ tử hoặc điểm đạo đồ. Chỉ cần suy luận đôi chút, những người muốn phân biện địa vị tinh thần của Ngài hẳn đã nhận ra rằng Ngài đang cố gắng làm việc với các nhóm theo cách được mô tả ở đây, và do đó, Ngài hẳn phải là “một thành viên của Thánh đoàn”.
4. DK reemphasizes the word “suggestion”. He does not say that only second ray Masters work with conscious guidance and suggestion; He seems to imply that all Masters or initiates in a guiding position will work with suggestion.
4. Chân sư DK nhấn mạnh lại từ “gợi ý”. Ngài không nói rằng chỉ các Chân sư cung hai mới làm việc bằng sự hướng dẫn hữu thức và gợi ý; dường như Ngài hàm ý rằng tất cả các Chân sư hoặc điểm đạo đồ ở cương vị hướng dẫn đều sẽ làm việc bằng gợi ý.
5. If a group were subjected to authority, why would it fail? DK tells us that “an occult law would have been broken”. The implication is that breaking occult law guarantees failure. This we must ponder in relation to many of our own processes.
5. Nếu một nhóm chịu sự áp đặt quyền hành, vì sao nhóm ấy sẽ thất bại? Chân sư DK cho chúng ta biết rằng “một định luật huyền bí hẳn đã bị vi phạm”. Điều này hàm ý rằng vi phạm định luật huyền bí thì chắc chắn sẽ thất bại. Chúng ta phải suy ngẫm điều này trong mối liên hệ với nhiều tiến trình của chính mình.
6. When we ponder the use of suggestion rather than command, we recognize the Hierarchy’s intent to respect the principle of freewill. That freewill is the seed of growth for any self-conscious entity. If he/she is deprived of its exercise, the building of capacity falters and fails; the learning process stops; the organism is weakened. Something is stolen from another every time that other is denied the use of his/her freewill.
6. Khi suy ngẫm về việc dùng gợi ý thay cho mệnh lệnh, chúng ta nhận ra Thánh đoàn có ý định tôn trọng nguyên lý ý chí tự do. Ý chí tự do ấy là hạt giống tăng trưởng của bất kỳ thực thể có ngã thức nào. Nếu người ấy bị tước quyền sử dụng ý chí tự do, việc xây dựng năng lực sẽ chao đảo và thất bại; tiến trình học hỏi sẽ dừng lại; cơ thể sẽ suy yếu. Mỗi khi một người bị khước từ quyền sử dụng ý chí tự do của mình, người ấy lại bị lấy mất một điều gì đó.
7. The Spiritual Hierarchy knows this and respects it utterly. The black lodge does not respect the principle of freewill at all. Freewill is the one thing they seek to crush. They care not for the growth of the soul and the expression of the spirit.
7. Thánh đoàn biết điều này và tôn trọng nó một cách tuyệt đối. Hắc đoàn hoàn toàn không tôn trọng nguyên lý ý chí tự do. Ý chí tự do chính là điều họ tìm cách nghiền nát. Họ không quan tâm đến sự tăng trưởng của linh hồn và sự biểu hiện của tinh thần.
8. Mentally polarized disciples are increasingly self-determining. Mind and will are related, and the egoic lotus, is, after all, found upon the higher mental plane. It may dawn upon us how much more we disciples of the present era are responsible for our own evolution than in the past. The Teacher will no longer take responsibility for us as has often been the case in previous modes of spiritual/occult training. Our occult obedience is now of a different order — principally to the soul and to the Plan. Of course, if we are real members of an Ashram, we will recognize that the Master’s Will reflects the Plan, and we will do all we can to fulfill it.
8. Các đệ tử phân cực trí tuệ ngày càng có khả năng tự quyết. Thể trí và ý chí có liên hệ với nhau, và xét cho cùng, Hoa Sen Chân Ngã nằm trên cõi thượng trí . Chúng ta có thể dần nhận ra rằng những đệ tử trong thời đại hiện nay như chúng ta phải chịu trách nhiệm về sự tiến hoá của chính mình nhiều hơn trước kia đến mức nào. Huấn sư sẽ không còn chịu trách nhiệm thay cho chúng ta như thường thấy trong những phương thức huấn luyện tinh thần/huyền bí trước đây. Giờ đây, sự tuân phục huyền bí của chúng ta thuộc một dạng khác — chủ yếu là tuân phục linh hồn và Thiên Cơ. Dĩ nhiên, nếu thực sự là thành viên của một ashram, chúng ta sẽ nhận ra rằng Ý Chí của Chân sư phản ánh Thiên Cơ, và chúng ta sẽ làm tất cả những gì có thể để thực hiện Ý Chí ấy.
9. DK lays out what He will do and how he will do it. He writes, it would seem, for mature, self-determining individuals who must decide, of their own free will and accord, whether or not they will cooperate. We see the Master setting limits upon His own probable responses. He will only go so far. The rest is up to us.
9. Chân sư DK trình bày những điều Ngài sẽ làm và cách Ngài sẽ thực hiện. Dường như Ngài viết cho những cá nhân trưởng thành, tự quyết, những người phải quyết định bằng ý chí tự do và sự tự nguyện của mình rằng họ có hợp tác hay không. Chúng ta thấy Chân sư đặt ra giới hạn cho những đáp ứng có thể có của chính Ngài. Ngài sẽ chỉ đi đến một mức độ nhất định. Phần còn lại tùy thuộc vào chúng ta.
10. It is clear that we are not studying these instructions as if they relate only to other disciples who were involved in a spiritual experiment some seventy years ago. These instructions, for all intents and purposes, are written to us and for us, and indicate ways with which we may cooperate with the hierarchical enterprise.
10. Rõ ràng chúng ta không nghiên cứu những huấn thị này như thể chúng chỉ liên quan đến những đệ tử khác từng tham gia một cuộc thử nghiệm tinh thần khoảng bảy mươi năm trước. Xét về mọi phương diện thực tế, những huấn thị này được viết gửi đến chúng ta và dành cho chúng ta, và chỉ ra những cách chúng ta có thể hợp tác với công cuộc của Thánh đoàn.
11. Notice that DK uses the word “temporarily”. He does not expect that the disciples who have volunteered to cooperate will cooperate in this manner forever. He also knows that there is a term to his objective work with AAB. He tells us elsewhere that thirty years’ work was planned. That work would be coming to an end some fifteen or sixteen years after the writing of this instruction. The time equation is not being left to chance.
11. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK dùng từ “trong một thời gian”. Ngài không trông đợi những đệ tử đã tự nguyện hợp tác sẽ mãi mãi hợp tác theo cách này. Ngài cũng biết rằng công việc khách quan của Ngài với Bà AAB có một thời hạn. Ở nơi khác, Ngài cho chúng ta biết rằng ba mươi năm làm việc đã được dự tính. Công việc ấy sẽ kết thúc khoảng mười lăm hoặc mười sáu năm sau khi huấn thị này được viết ra. Yếu tố thời gian không được phó mặc cho ngẫu nhiên.
12. The Master is placing heavy responsibility directly upon the shoulders of His disciples. He will make suggestions, but in “joint understanding” and in “closest collaboration” they are to work out the manner in which the Teacher’s hints and suggestions should be utilized.
12. Chân sư đang đặt trách nhiệm nặng nề trực tiếp lên vai các đệ tử của Ngài. Ngài sẽ đưa ra gợi ý, nhưng trong “sự thấu hiểu chung” và trong “sự hợp tác chặt chẽ nhất”, họ phải tìm ra cách vận dụng những lời hé lộ và gợi ý của Huấn sư ấy.
13. As time would show, they somewhat failed in that regard.
13. Như thời gian sau này cho thấy, họ đã phần nào thất bại về phương diện ấy.
14. We can see that DK was attempting something really new, a clean break with past methods, and an attempt to institute quite a new method of discipleship training. That type of training naturally still applies to our times, and when the Masters again reappear in more physically tangible form, the methods suggested will probably be instituted on rather a larger scale. Perhaps, we, who now study these instructions and attempt to apply them, are in training for those times and opportunities.
14. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK đang thử nghiệm một điều thực sự mới, dứt khoát rời bỏ những phương pháp quá khứ và cố gắng thiết lập một phương pháp hoàn toàn mới để huấn luyện đệ tử. Dĩ nhiên, kiểu huấn luyện ấy vẫn áp dụng cho thời đại của chúng ta, và khi các Chân sư tái xuất hiện trong hình tướng hữu hình hơn trên cõi hồng trần, những phương pháp được gợi ý có lẽ sẽ được triển khai trên quy mô lớn hơn khá nhiều. Có lẽ chúng ta, những người hiện đang nghiên cứu các huấn thị này và cố gắng áp dụng chúng, đang được huấn luyện để chuẩn bị cho những thời điểm và cơ hội ấy.
15. Freedom and responsibility complement each other. Freedom is Uranian and responsibility, Saturnian. These planets are often considered to function in ways diametrically opposed. Yet their relationship can easily be seen. Both Uranian and Saturnian attitudes we expected of the DINA disciples (and of us). This had to be challenging, and still is.
15. Tự do và trách nhiệm bổ sung cho nhau. Tự do thuộc về Sao Thiên Vương, còn trách nhiệm thuộc về Sao Thổ. Hai hành tinh này thường được xem là hoạt động theo những cách hoàn toàn đối lập. Tuy nhiên, có thể dễ dàng thấy mối liên hệ giữa chúng. Các đệ tử DINA (và chúng ta) đều được kỳ vọng có cả thái độ của Sao Thiên Vương lẫn Sao Thổ. Điều này hẳn đã đầy thách thức, và đến nay vẫn vậy.
First of all, I call for a deeper love and comprehension between the members of the group. This is necessary in order that the internal structure of the group may be more firmly and closely integrated.
Trước hết, Tôi kêu gọi một tình thương và sự thấu hiểu sâu sắc hơn giữa các thành viên trong nhóm. Điều này cần thiết để cấu trúc bên trong của nhóm có thể được tích hợp vững chắc và chặt chẽ hơn.
1. DK begins listing requirements. Always and ever “deeper love and comprehension” will be useful. The integration and unification of the larger group (as a whole), and of the various groups within that larger group are to proceed apace in a more loving, understanding atmosphere.
1. Chân sư DK bắt đầu liệt kê các yêu cầu. Luôn luôn và mãi mãi, “tình thương và sự thấu hiểu sâu sắc hơn” đều sẽ hữu ích. Sự tích hợp và hợp nhất của nhóm lớn hơn (xét như một toàn thể), cũng như của các nhóm khác nhau bên trong nhóm lớn ấy, phải tiến triển nhanh chóng trong một bầu không khí giàu tình thương và sự thấu hiểu hơn.
2. As a Master occultist, DK sees “from the inside out”. He judges according to the nature of the “internal structure” — something we are only learning how to do (and just a little).
2. Là một Chân sư huyền bí học, Chân sư DK nhìn “từ trong ra ngoài”. Ngài phán đoán theo bản chất của “cấu trúc bên trong” — điều mà chúng ta chỉ mới đang học cách thực hiện (và mới được đôi chút).
3. If a firm and close integration exists, there will be power and efficiency. Energy will not be wasted or blocked, and the group can serve as a true instrument for world service.
3. Nếu có sự tích hợp vững chắc và chặt chẽ, sẽ có quyền năng và hiệu quả. Năng lượng sẽ không bị lãng phí hoặc ngăn trở, và nhóm có thể trở thành một công cụ thực sự để phụng sự thế gian.
4. In all our labors, loving-understanding will clear the way to success. Let us remember this, no matter what may be our rays or the rays of the group with which we seek to function.
4. Trong mọi nỗ lực của chúng ta, sự thấu hiểu đầy tình thương sẽ mở đường đến thành công. Chúng ta hãy ghi nhớ điều này, bất kể các cung của mình hay các cung của nhóm mà chúng ta muốn cùng hoạt động là gì.
Next, you must learn to work on the levels of meditation with greater clarity and power. So much of your meditation work is selfish. Do you realise that? Is not your attitude very often to be expressed in the following terms: When I am meditating, what will the Tibetan give me at this time? Will he give me something which will make me a better disciple? Will the meditation which he may give me interest me more than the one I am now doing? Will a change in meditation bring me better results (probably of a phenomenal kind!) or a new revelation or fresh enlightenment and enable me to achieve my goal? Few of you in this particular group in my Ashram as yet really work in meditation upon those levels where creative work is done. May I point out that until you can begin to do this, the work which I seek to do through all of you is largely at a standstill. The object of any meditation which I may assign to you is to enable you to have power in meditation so that you will no longer be pre-occupied with yourselves and your own problems but you will become unified with your group for group work and eventually for still wider group purposes — my purposes, as your teacher and a world worker and server.
Tiếp theo, các bạn phải học cách làm việc trên các cấp độ tham thiền với sự rõ ràng và quyền năng lớn hơn. Phần lớn công việc tham thiền của các bạn mang tính ích kỷ. Các bạn có nhận ra điều đó không? Chẳng phải thái độ của các bạn rất thường được diễn đạt như sau hay sao: Khi tôi tham thiền, lần này Chân sư Tây Tạng sẽ ban cho tôi điều gì? Ngài có ban cho tôi điều gì giúp tôi trở thành một đệ tử tốt hơn không? Bài thiền mà Ngài có thể giao cho tôi liệu có khiến tôi hứng thú hơn bài tôi đang thực hành không? Việc thay đổi bài thiền có mang lại cho tôi những kết quả tốt hơn (có lẽ thuộc loại hiện tượng!), hay một sự mặc khải mới hoặc sự giác ngộ mới mẻ, và giúp tôi đạt mục tiêu của mình không? Cho đến nay, trong nhóm đặc biệt này thuộc ashram của Tôi, rất ít người trong các bạn thực sự làm việc trong tham thiền trên những cấp độ diễn ra công việc sáng tạo. Tôi xin chỉ rõ rằng chừng nào các bạn chưa bắt đầu làm được điều này, công việc mà Tôi tìm cách thực hiện thông qua tất cả các bạn phần lớn vẫn còn đình trệ. Mục tiêu của bất kỳ bài thiền nào Tôi có thể giao cho các bạn là giúp các bạn có quyền năng trong tham thiền, để các bạn không còn bận tâm đến bản thân và những vấn đề riêng của mình, mà sẽ hợp nhất với nhóm để thực hiện công việc nhóm, rồi cuối cùng hướng đến những mục đích nhóm còn rộng lớn hơn — những mục đích của Tôi, với tư cách là huấn sư của các bạn và một người hoạt động, phụng sự thế gian.
1. It may be expected that the disciples would have to learn to meditate with “greater clarity and power”, but perhaps the assessment of much of their mediation as “selfish” may have come as something of a shock. Probably, they did not realize that. Yet, from the Tibetan’s perspective, so it appeared.
1. Có thể dự liệu rằng các đệ tử sẽ phải học tham thiền với “sự rõ ràng và quyền năng lớn hơn”, nhưng có lẽ việc phần lớn công việc tham thiền của họ bị đánh giá là “ích kỷ” đã khiến họ phần nào sửng sốt. Có lẽ họ đã không nhận ra điều đó. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Chân sư Tây Tạng thì quả là như vậy.
2. As the Tibetan describes the attitude of some of His disciples, it is one of acquisition rather than of contribution. Moreover, it is superficial rather than deep and creative.
2. Theo cách Chân sư Tây Tạng mô tả thái độ của một số đệ tử của Ngài, đó là thái độ thu nhận hơn là đóng góp. Hơn nữa, thái độ ấy hời hợt thay vì sâu sắc và sáng tạo.
3. What are the “levels where creative work is done”? Would this involve the building and utilization of the antahkarana? Probably so. Impression would be gained with respect to the Plan, and creative thoughtform building would be employed to clothe the impressions worthily.
3. Những “cấp độ diễn ra công việc sáng tạo” là gì? Điều này có liên quan đến việc xây dựng và sử dụng antahkarana không? Có lẽ là vậy. Người ta sẽ tiếp nhận những ấn tượng liên quan đến Thiên Cơ, rồi vận dụng việc xây dựng hình tư tưởng một cách sáng tạo để khoác cho những ấn tượng ấy hình tướng xứng đáng.
4. The Tibetan is stating a major obstacle — one that, apparently, slowed His intended project He is intending to a “stand still”.
4. Chân sư Tây Tạng đang nêu ra một trở ngại lớn — một trở ngại dường như đã làm chậm dự án Ngài dự định thực hiện đến mức “đình trệ”.
5. The disciples apparently lack an impersonal attitude and are not ready to work creatively — as those who can access something of the Divine Plan and bring that which is accessed through into expression. All this confirms that a group of the kind that DK is envisioning is not a collection of “persons” but of conscious souls who approach their cooperation with the Plan in an impersonal manner.
5. Dường như các đệ tử thiếu thái độ vô ngã và chưa sẵn sàng làm việc một cách sáng tạo — như những người có thể tiếp cận phần nào Thiên Cơ và đưa những gì mình tiếp cận được vào biểu hiện. Tất cả những điều này xác nhận rằng một nhóm thuộc loại mà Chân sư DK đang hình dung không phải là một tập hợp các “cá nhân” mà là những linh hồn hữu thức hợp tác với Thiên Cơ theo cách vô ngã.
6. We can see that in this paragraph DK is really setting things straight. Self-preoccupation has frustrated the intended group efforts. The meditation work has not achieved its intended results. The disciples must release their concern about themselves and their problems. Such issues are not to be taken into group meditation. There are personal meditations which can, as necessary, focus on some of those matters. The group meditation is to be focussed upon “group work” and “wider group purposes”.
6. Chúng ta có thể thấy rằng trong đoạn này, Chân sư DK thực sự đang chấn chỉnh mọi việc. Sự bận tâm về bản thân đã cản trở những nỗ lực nhóm theo dự định. Công việc tham thiền chưa đạt được những kết quả dự định. Các đệ tử phải buông bỏ sự lo nghĩ về bản thân và những vấn đề của mình. Những vấn đề như thế không được đưa vào tham thiền nhóm. Có những bài thiền cá nhân có thể tập trung vào một số vấn đề ấy khi cần thiết. Tham thiền nhóm phải tập trung vào “công việc nhóm” và “những mục đích nhóm rộng lớn hơn”.
7. “Whose purposes?” the Tibetan seems to ask. “My purposes”, He says. His wording seems to hold an implied rebuke and the suggestion that the Master’s purposes have not been foremost in the mind of these disciples on the periphery off His Ashram.
7. “Những mục đích của ai?” dường như Chân sư Tây Tạng đang hỏi. “Những mục đích của Tôi”, Ngài nói. Cách diễn đạt của Ngài dường như hàm chứa một lời khiển trách và gợi ý rằng những mục đích của Chân sư chưa chiếm vị trí hàng đầu trong thể trí của các đệ tử này ở ngoại vi ashram của Ngài.
8. DK reminds them that He is, after all, their teacher, a “world worker and server”. He is trying to put things into perspective so that they may place first things first.
8. Chân sư DK nhắc họ rằng, xét cho cùng, Ngài là huấn sư của họ, một “người hoạt động và phụng sự thế gian”. Ngài đang cố gắng đặt mọi việc vào đúng tầm nhìn để họ có thể dành ưu tiên cho những điều quan trọng nhất.
9. Those who are preoccupied with their personal natures cannot hope to see world problems in their true perspective. DK’s remarks are meant, it would seem, to de-personalize the approach of His disciples and release them for more real service.
9. Những người mải bận tâm về bản chất cá nhân của mình không thể hy vọng nhìn nhận những vấn đề thế giới theo đúng tầm nhìn. Những nhận xét của Chân sư DK dường như nhằm loại bỏ tính cá nhân trong cách tiếp cận của các đệ tử Ngài và giải phóng họ để phụng sự thực chất hơn.
10. This paragraph holds in it something rather stern, and applies to us as well.
10. Đoạn này hàm chứa một điều khá nghiêm khắc và cũng áp dụng cho chúng ta.
With what kind of instrument, therefore, can I now work? Every true teacher asks himself this question as he studies the grouping of souls with which he has associated himself and which he seeks to serve and aid. As integration of the group takes place, the pre-dispositions and the basic tendencies of the massed group qualities emerge and can be studied; weaknesses can then be offset and right indications fostered. . . . [47]
Vậy giờ đây Tôi có thể làm việc với loại khí cụ nào? Mỗi huấn sư chân chính đều tự hỏi câu này khi nghiên cứu tập hợp những linh hồn mà mình đã gắn kết, những linh hồn mà mình tìm cách phụng sự và trợ giúp. Khi sự tích hợp của nhóm diễn ra, những thiên hướng sẵn có và các khuynh hướng căn bản của những phẩm tính tập hợp trong nhóm bộc lộ và có thể được nghiên cứu; khi ấy có thể hóa giải những nhược điểm và vun bồi những dấu hiệu đúng đắn. . . . [47]
1. It is a moment of searching assessment. DK is studying the nature of the group instrument He has been trying to cultivate and it seems that He is not entirely pleased by what He sees. Certainly, He is being realistic.
1. Đây là lúc đánh giá một cách sâu sát. Chân sư DK đang nghiên cứu bản chất của khí cụ nhóm mà Ngài đã cố gắng vun bồi, và dường như Ngài chưa hoàn toàn hài lòng với những gì mình thấy. Chắc chắn Ngài đang nhìn nhận một cách thực tế.
2. There has been sufficient time for group patterns to emerge rather clearly. Weaknesses have emerged and He is trying to see how they may be offset.
2. Đã có đủ thời gian để các mô hình của nhóm bộc lộ khá rõ ràng. Những nhược điểm đã bộc lộ và Ngài đang cố gắng xem có thể hóa giải chúng như thế nào.
3. Probably, there is a deleted section following the word “fostered…” in which He goes on to analyze individual weaknesses.
3. Có lẽ có một phần đã bị lược bỏ sau từ “vun bồi…”, trong đó Ngài tiếp tục phân tích những nhược điểm của từng cá nhân.
4. DK has suggested elsewhere that the success of one’s projects rise or fall with the quality of the co-workers chosen. There is also the familiar idea (promoted by AAB herself) that instead of being able to work with “first best” or “second best”, the Masters are often forced (for various reasons) to work with “third best”. AAB was suggesting that she, herself, was “third best”, and surely this same idea can be applied to those whom DK saw fit to associate with Himself in this enterprise.
4. Ở một nơi khác, Chân sư DK đã gợi ý rằng mức độ thành công trong các dự án của một người tăng hay giảm tùy theo phẩm chất của những cộng sự được lựa chọn. Cũng có một ý tưởng quen thuộc (do chính Bà AAB đề xướng) rằng thay vì có thể làm việc với “lựa chọn tốt nhất” hay “lựa chọn tốt thứ nhì”, các Chân sư thường buộc phải (vì nhiều lý do) làm việc với “lựa chọn tốt thứ ba”. Bà AAB đã gợi ý rằng chính Bà là “lựa chọn tốt thứ ba”, và chắc chắn cũng có thể áp dụng ý tưởng này cho những người mà Chân sư DK thấy thích hợp để cùng Ngài tham gia công cuộc này.
5. Moments of evaluation always have something Saturnian in their nature: realism, objectivity, dispassionate assessment — all these are involved.
5. Những lúc đánh giá luôn mang đôi nét bản chất của Sao Thổ: tính thực tế, tính khách quan, sự thẩm định không thiên lệch — tất cả đều hiện diện.
I have earlier pointed out to you that the basic qualities for which we look are sensitivity, impersonality, psychic capacity and mental polarisation. Upon these I would like very briefly to enlarge and then I will lay before you (for your understanding interest and possible collaboration) the plans for future group activity. These plans can materialise if you can make the necessary adjustments and submit yourselves to the discipline and the training which will make greatly increased usefulness possible.
Trước đây, Tôi đã chỉ ra cho các bạn rằng những phẩm tính căn bản mà chúng tôi tìm kiếm là sự nhạy cảm, tính vô ngã, năng lực thông linh và sự phân cực trí tuệ. Tôi muốn bàn rộng thêm thật ngắn gọn về những phẩm tính này, rồi sẽ trình bày trước các bạn những kế hoạch hoạt động nhóm trong tương lai (để các bạn quan tâm với sự thấu hiểu và có thể cộng tác). Những kế hoạch này có thể thành hiện thực nếu các bạn có thể thực hiện những điều chỉnh cần thiết và tự đặt mình dưới kỷ luật cùng sự huấn luyện sẽ giúp gia tăng đáng kể tính hữu ích.
1. DK now launches into a brief description of the four qualities which He and Master KH decided were requirements for those who would be members in the newer types of groups They were trying to form.
1. Giờ đây, Chân sư DK bắt đầu mô tả ngắn gọn bốn phẩm tính mà Ngài và Chân sư KH đã xác định là những yêu cầu đối với những người sẽ trở thành thành viên của các loại nhóm mới hơn mà Các Ngài đang cố gắng hình thành.
2. He presents these qualities to His disciples for “understanding interest and possible collaboration”. He seeks not only interest but understanding interest. He is asking them to penetrate the real meaning of what He says. Depending upon whether they are able to do this, their collaboration (co-working) may become possible — but probably not otherwise.
2. Ngài trình bày những phẩm tính này với các đệ tử để họ “quan tâm với sự thấu hiểu và có thể cộng tác”. Ngài không chỉ tìm kiếm sự quan tâm mà là sự quan tâm có thấu hiểu. Ngài đang yêu cầu họ thâm nhập ý nghĩa thực sự của những điều Ngài nói. Tùy theo việc họ có thể làm được điều này hay không, sự cộng tác (cùng làm việc) của họ có thể trở nên khả thi — còn nếu không thì có lẽ là không.
3. Adjustments and discipline are required. People, in general, do not much like to change. Many of these chelas found they could not or would not change even when the Master requested it and showed them the way. But a number tried sincerely to do so, and it is effort (not results) for which the Master looks.
3. Cần có những điều chỉnh và kỷ luật. Nhìn chung, con người không thích thay đổi cho lắm. Nhiều đệ tử trong số này nhận thấy mình không thể hoặc không muốn thay đổi, ngay cả khi Chân sư yêu cầu và chỉ đường cho họ. Nhưng một số người đã chân thành cố gắng làm như vậy, và điều Chân sư tìm kiếm là nỗ lực (chứ không phải kết quả).
4. Always, DK is practical. He has a group-instrument at His disposal. He can do only so much with it right now — really, not much, in terms of His original intentions. He wants it to be more useful.
4. Chân sư DK luôn thực tế. Ngài có một khí cụ nhóm để sử dụng. Ngay lúc này, Ngài chỉ có thể làm được đến một mức nhất định với khí cụ ấy — thực ra là không nhiều, xét theo những ý định ban đầu của Ngài. Ngài muốn khí cụ ấy hữu ích hơn.
I have stated that the first requirement is sensitivity. What exactly is this? It does not mean primarily that you are a “sensitive soul” — the connotation of which usually means that you are thin-skinned, self-centred and always on the defensive! Rather do I refer to the capacity whereby you are enabled to expand your consciousness so that you become aware of ever- widening ranges of contact. I refer to the ability to be alive, alert, keen to recognise relationships, quick to react to need, mentally, emotionally and physically attentive to life and rapidly developing the power to observe upon all three planes in the three worlds simultaneously. I am not interested in your personal relations where they concern your wrong personality sensitivity to depression, to self-pity, your defenses, your so-called sensitivity to slights, to misunderstandings, your dislike of your environing conditions, your hurt pride and qualities of this kind. These all cause you bewilderment and let loose in you the floodgates of compassion for yourself. But you do not need me to deal with them; of them you are well aware and can handle them if you choose. These faults are interesting only in so far as they affect the life of your group; they must be handled by you with care and with the open eye that senses danger from afar and seeks to avoid it. The sensitivity which I want to see developed is alertness to soul contact, impressionability to the “voice of the Teacher,” an aliveness to the impact of new ideas and to the delicacy of intuitional responsiveness. These are ever the hallmark of the true disciple. It is spiritual sensitivity which must be cultivated; this is only truly possible when you learn to work through the centres above the diaphragm and to transmute solar plexus activity (which is so [48] dominant in the average person), turning it into heart activity and the service of your fellowmen.
Tôi đã nói rằng yêu cầu đầu tiên là sự nhạy cảm. Chính xác thì đó là gì? Trước hết, điều này không hàm ý rằng các bạn là một “linh hồn nhạy cảm” — một cách nói thường hàm ý rằng các bạn dễ tự ái, tập trung vào bản thân và luôn ở thế phòng thủ! Đúng hơn, Tôi muốn nói đến năng lực giúp các bạn mở rộng tâm thức để nhận biết những phạm vi tiếp xúc ngày càng rộng lớn hơn. Tôi muốn nói đến khả năng sống động, tỉnh táo, nhạy bén nhận ra các mối quan hệ, nhanh chóng phản ứng trước nhu cầu, chú tâm đến sự sống về mặt trí tuệ, cảm xúc và hồng trần, đồng thời nhanh chóng phát triển năng lực quan sát cùng lúc trên cả ba cõi trong ba cõi giới. Tôi không quan tâm đến những mối quan hệ cá nhân của các bạn khi chúng liên quan đến sự nhạy cảm sai lầm của phàm ngã trước nỗi chán nản, sự tự thương hại, những phản ứng phòng vệ, cái gọi là sự nhạy cảm của các bạn trước những điều coi thường, những sự hiểu lầm, sự bất mãn với hoàn cảnh xung quanh, lòng kiêu hãnh bị tổn thương và những phẩm tính thuộc loại này. Tất cả những điều ấy khiến các bạn hoang mang và mở toang trong các bạn những cửa đập của lòng thương cảm dành cho bản thân. Nhưng các bạn không cần Tôi xử lý chúng; các bạn biết rõ chúng và có thể giải quyết nếu muốn. Những khuyết điểm này chỉ đáng quan tâm trong chừng mực chúng ảnh hưởng đến đời sống nhóm của các bạn; các bạn phải xử lý chúng một cách cẩn trọng và với con mắt rộng mở, nhận biết nguy hiểm từ xa và tìm cách tránh nó. Sự nhạy cảm mà Tôi muốn thấy được phát triển là sự tỉnh táo trước tiếp xúc linh hồn, khả năng tiếp nhận ấn tượng từ “tiếng nói của Huấn sư”, sự nhạy bén trước tác động của những ý tưởng mới và sự tinh tế trong đáp ứng trực giác. Đây luôn là dấu hiệu đặc trưng của người đệ tử chân chính. Sự nhạy cảm tinh thần là điều cần được vun bồi; điều này chỉ thực sự khả thi khi các bạn học cách làm việc qua những trung tâm phía trên cơ hoành và chuyển hoá hoạt động của tùng thái dương (vốn chiếm ưu thế rất [48] mạnh ở người bình thường), biến nó thành hoạt động của tim và việc phụng sự đồng loại.
1. The Master is often handicapped by words. He must offset the usual interpretations given to certain words in order to make His meaning clear.
1. Ngôn từ thường gây trở ngại cho Chân sư. Ngài phải hóa giải những cách diễn giải thông thường dành cho một số từ để làm rõ điều Ngài muốn nói.
2. Again, we find some humor. Sensitivity is not to mean that one is “thin-skinned, self-centered and always on the defensive”. One can imagine that He was describing just the qualities which characterized too many of His chelas.
2. Một lần nữa, chúng ta thấy đôi chút hài hước. Sự nhạy cảm không hàm ý rằng một người “dễ tự ái, tập trung vào bản thân và luôn ở thế phòng thủ”. Có thể hình dung rằng Ngài đang mô tả chính những phẩm tính đặc trưng cho quá nhiều đệ tử của Ngài.
3. Here we can see Him almost frustrated by the personality qualities which continue to obtrude themselves into the proposed work.
3. Ở đây, chúng ta có thể thấy Ngài gần như nản lòng vì những phẩm tính phàm ngã cứ tiếp tục chen vào công việc dự kiến.
4. The desirable “Sensitivity” of which He speaks relates to acuity and vividness of perception, making the expansion of consciousness possible. A real alertness to need is indicated, and a capacity for simultaneous response on (and to) all three planes of the three lower worlds. He wants His chelas to notice more and respond correctly to what they notice.
4. “Sự nhạy cảm” đáng mong muốn mà Ngài nói đến liên quan đến tính nhạy bén và sống động của tri giác, giúp tâm thức có thể mở rộng. Điều được nêu ra là sự tỉnh táo thực sự trước nhu cầu và khả năng đáp ứng đồng thời trên (và với) cả ba cõi của ba cõi thấp. Ngài muốn các đệ tử của mình nhận thấy nhiều hơn và đáp ứng đúng đắn với những gì họ nhận thấy.
5. Again He points to the results of the wrong kind of sensitivity — personality sensitivity. Basically, this failing results in an attitude of self-pity opening the floodgates of compassion not for others but for oneself! This is certainly a vivid image, and was no doubt designed to arrest the attention of those habitually indulging in such attitudes.
5. Một lần nữa, Ngài chỉ ra những kết quả của loại nhạy cảm sai lầm — sự nhạy cảm phàm ngã. Về căn bản, khuyết điểm này dẫn đến thái độ tự thương hại, mở toang những cửa đập của lòng thương cảm không phải dành cho người khác mà cho chính mình! Đây chắc chắn là một hình ảnh sống động, và hẳn nhằm thu hút sự chú ý của những người có thói quen đắm mình trong các thái độ như thế.
6. Such failings are for the disciple to deal with, using the power of the soul. DK suggests that they can be dealt with provided the chela wishes to do so. Implied is the idea that the some of the chelas man not wish to do so.
6. Người đệ tử phải dùng quyền năng của linh hồn để xử lý những khuyết điểm như thế. Chân sư DK gợi ý rằng có thể xử lý chúng, miễn là người đệ tử <i§>muốn làm như vậy. Điều này hàm ý rằng một số đệ tử có thể không muốn làm như vậy.
7. If such undesirable conditions do exist, DK is interested in them only to the extent that that they affect the group life. He is asking his disciples to see these attitudes “coming”, and to avert them.
7. Nếu những tình trạng không mong muốn ấy thực sự tồn tại, Chân sư DK chỉ quan tâm đến chúng trong chừng mực chúng ảnh hưởng đến đời sống nhóm. Ngài đang yêu cầu các đệ tử nhận thấy những thái độ ấy “sắp xuất hiện” và ngăn ngừa chúng.
8. It is a different kind of sensitivity which DK seeks and expects. It is a soul sensitivity. Alertness to soul contact, impressionability to the “voice of the Teacher”, aliveness to the impact of new ideas, delicacy of intuitional response — all these are entirely impersonal, high and light compared with the litany of rather ‘moist’ (i. e. , astrally-based) personality states (all of them undesirable) detailed above.
8. Chân sư DK tìm kiếm và mong đợi một loại nhạy cảm khác. Đó là sự nhạy cảm linh hồn. Sự tỉnh táo trước tiếp xúc linh hồn, khả năng tiếp nhận ấn tượng từ “tiếng nói của Huấn sư”, sự nhạy bén trước tác động của những ý tưởng mới, sự tinh tế của đáp ứng trực giác — tất cả đều hoàn toàn vô ngã, cao cả và nhẹ nhàng so với một loạt dài những trạng thái phàm ngã khá ‘ướt át’ (tức là dựa trên cảm dục), tất cả đều không đáng mong muốn, đã được trình bày chi tiết ở trên.
9. We can see that a reasonable degree of soul infusion and a reasonable development of the antahkarana are both necessary in order to acquire the type of sensitivity of which DK speaks. Neither of these desirable developments can be accomplished when an individual is too alive to his personality concerns.
9. Chúng ta có thể thấy rằng cả mức độ thấm nhuần linh hồn thích đáng lẫn sự phát triển antahkarana thích đáng đều cần thiết để đạt được loại nhạy cảm mà Chân sư DK nói đến. Không sự phát triển đáng mong muốn nào trong hai điều này có thể thành tựu khi một cá nhân quá nhạy với những mối bận tâm phàm ngã của mình.
10. As DK suggests, solar plexus activity must be transmuted into heart-sensitivity. Too many of His disciples were focussed in the solar plexus, rendering the higher sensitivities impossible.
10. Như Chân sư DK gợi ý, hoạt động của tùng thái dương phải chuyển hoá thành sự nhạy cảm của tim. Quá nhiều đệ tử của Ngài tập trung ở tùng thái dương, khiến những khả năng nhạy cảm cao hơn không thể phát triển.
11. His chelas were, perhaps, too much like ordinary people (whom, it is expected, would be focussed in the solar plexus). “Heart activity” and the “service of your fellowmen” is an entirely different matter. It would require the relative defeat of selfishness (something accomplished, in a degree, at the second initiation). Of course, so many of these chelas had not taken the second initiation. Still, they should have been learning the lessons pertaining to that initiation.
11. Có lẽ các đệ tử của Ngài quá giống những người bình thường (những người mà ta có thể cho là tập trung ở tùng thái dương). “Hoạt động của tim” và việc “phụng sự đồng loại” là một chuyện hoàn toàn khác. Điều đó đòi hỏi phải khắc phục tương đối tính ích kỷ (một điều thành tựu ở mức độ nào đó tại lần điểm đạo thứ hai). Dĩ nhiên, rất nhiều đệ tử trong số này chưa trải qua lần điểm đạo thứ hai. Dù vậy, lẽ ra họ phải đang học những bài học liên quan đến lần điểm đạo ấy.
12. There is the sense here that the Master is calling His group “to order”.
12. Ở đây có cảm giác rằng Chân sư đang yêu cầu nhóm của Ngài “trở lại kỷ cương”.
Impersonality, particularly for high grade integrated people, is peculiarly difficult to achieve. There is a close relation between impersonality and detachment. Study this. Many cherished ideas, many hard won qualities, many carefully nurtured righteousnesses and many powerfully formulated beliefs militate against impersonality. It is hard for the disciple — during the process of his early training — to hold earnestly to his own ideals and to pursue forcefully his own spiritual integration, and yet remain impersonally oriented towards other people. He seeks recognition of his struggle and achievement; he longs to have the light which he has kindled draw forth a reaction from others; he wants to be known as a disciple; he aches to show his power and his highly developed love nature so that he may evoke admiration or, at least, challenge. But nothing happens. He is looked upon as no better than all the rest of his brothers. Life, therefore, proves dissatisfying.
Tính vô ngã đặc biệt khó đạt được, nhất là đối với những người tích hợp ở trình độ cao. Có mối liên hệ mật thiết giữa tính vô ngã và sự tách rời. Hãy nghiên cứu điều này. Nhiều ý tưởng được trân quý, nhiều phẩm tính phải khó nhọc mới đạt được, nhiều điều được cho là chính đáng mà người ta cẩn thận vun bồi và nhiều niềm tin được xác lập mạnh mẽ đều chống lại tính vô ngã. Trong quá trình huấn luyện ban đầu, người đệ tử khó vừa tha thiết giữ vững những lý tưởng của riêng mình và mạnh mẽ theo đuổi sự tích hợp tinh thần của bản thân, vừa duy trì định hướng vô ngã đối với người khác. Y tìm kiếm sự công nhận đối với cuộc đấu tranh và thành tựu của mình; y mong mỏi ánh sáng mà mình đã khơi lên sẽ gợi ra phản ứng từ người khác; y muốn được biết đến như một đệ tử; y khao khát phô bày quyền năng và bản chất bác ái đã phát triển cao của mình để gợi lên sự ngưỡng mộ hoặc ít nhất là sự thách thức. Nhưng chẳng có gì xảy ra. Người ta xem y chẳng hơn gì tất cả những huynh đệ còn lại. Vì vậy, cuộc sống hóa ra không làm y thỏa mãn.
1. When attention is focussed in the solar plexus, there is no real impersonality. The heart, however, is, as strange as it may seem, an impersonal organ.
1. Khi sự chú ý tập trung ở tùng thái dương, không có tính vô ngã thực sự. Tuy nhiên, dù nghe có vẻ lạ lùng, tim là một cơ quan vô ngã.
2. DK is dealing with “high grade integrated people” and impersonality is difficult for them.
2. Chân sư DK đang làm việc với “những người tích hợp ở trình độ cao” và tính vô ngã là điều khó đạt đối với họ.
3. He asks them to ponder the relation between impersonality and detachment, and we might ponder it too. It makes little sense to attempt to be impersonal unless one’s attitude is sufficiently detached. This means that one is reasonably disidentified from the personality, and centers one’s sense of identity ‘outside’ the personality vehicles altogether.
3. Ngài yêu cầu họ suy ngẫm về mối liên hệ giữa tính vô ngã và sự tách rời, và chúng ta cũng có thể suy ngẫm về điều ấy. Cố gắng sống vô ngã chẳng có mấy ý nghĩa nếu thái độ của một người chưa đủ tách rời. Điều này có nghĩa là người ấy đã thôi đồng hoá với phàm ngã ở mức độ thích đáng và đặt cảm thức về bản sắc của mình hoàn toàn ‘bên ngoài’ các hiện thể phàm ngã.
4. DK discusses the rather good qualities which militate against impersonality. Not only the faulty structures within one’s personality, but the sound structures may make impersonality difficult of achievement. If one hugs one’s virtues close and fears to relinquish them, the larger good is lost to sight. Thus, the achievement of impersonality demands not only that we release the bad in our nature, but hold not too tightly to the achieved good, lest, in holding, our hands are not free to serve where service is needed.
4. Chân sư DK bàn về những phẩm tính khá tốt nhưng lại chống lại tính vô ngã. Không chỉ những cấu trúc khiếm khuyết trong phàm ngã của một người mà cả những cấu trúc lành mạnh cũng có thể khiến tính vô ngã trở nên khó đạt. Nếu một người ôm chặt những đức tính của mình và sợ buông bỏ chúng, người ấy sẽ không còn thấy điều thiện lớn lao hơn. Vì vậy, để đạt được tính vô ngã, chúng ta không chỉ phải buông bỏ điều xấu trong bản chất của mình mà còn không được nắm giữ quá chặt điều tốt đã đạt được, kẻo vì nắm giữ mà đôi tay chúng ta không còn tự do phụng sự nơi cần phụng sự.
5. DK is reminding His chelas that they are early in the process of their training. They are subject to these difficulties because they lack experience. He asks that chelas do what is right for them without expecting a self-gratifying response from others. The problem is a basically second ray glamor — “the love of being loved”. The disciple who has acquired various virtues and qualities longs to have them appreciated. He craves recognition of some kind. This craving is essentially a request for reinforcement from without, whereas every disciple must learn that his real strengthening comes from within. This does not mean that the disciple is constantly expecting that the Master will notice him and strengthen him. His alignment with soul and spirit are to be his strength. What of real worth can the disciple ever expect from the outer world?
5. Chân sư DK đang nhắc các đệ tử của Ngài rằng họ mới ở giai đoạn đầu của quá trình huấn luyện. Họ gặp những khó khăn này vì thiếu kinh nghiệm. Ngài yêu cầu các đệ tử làm điều đúng đắn đối với mình mà không mong đợi người khác đáp ứng theo cách làm thỏa mãn bản thân. Về căn bản, vấn đề này là một ảo cảm cung hai — “sự yêu thích được yêu”. Người đệ tử đã đạt được nhiều đức tính và phẩm tính mong mỏi người khác trân trọng chúng. Y khao khát một hình thức công nhận nào đó. Về thực chất, niềm khao khát này là sự cầu xin củng cố từ bên ngoài, trong khi mỗi đệ tử phải học rằng sức mạnh thực sự của mình đến từ bên trong. Điều này không hàm ý rằng người đệ tử luôn mong đợi Chân sư chú ý đến mình và tăng sức mạnh cho mình. Sự chỉnh hợp của y với linh hồn và tinh thần phải là sức mạnh của y. Người đệ tử có thể mong đợi điều gì thực sự có giá trị từ thế giới bên ngoài?
6. Humor again. DK is recounting something He knows very well — probably from His own experience. The kind of virtuous disciple here discussed is still rather petty. He secretly longs for the admiration of others, but “nothing happens”. Probably the other people are too selfish and too preoccupied to admire him — as they themselves are also seeking admiration. The self-revealing result — “Life…proves dissatisfying”.
6. Lại có sự hài hước. Chân sư DK đang kể lại một điều Ngài biết rất rõ — có lẽ từ chính kinh nghiệm của Ngài. Kiểu đệ tử có đức hạnh được bàn đến ở đây vẫn còn khá nhỏ nhen. Y thầm mong người khác ngưỡng mộ mình, nhưng “chẳng có gì xảy ra”. Có lẽ những người khác quá ích kỷ và quá bận tâm để ngưỡng mộ y — vì chính họ cũng đang tìm kiếm sự ngưỡng mộ. Kết quả bộc lộ rõ bản thân y — “Cuộc sống… hóa ra không làm y thỏa mãn”.
7. A teacher can only successfully teach what he/she has been through. DK is an experienced disciple — not “old”, but not “young” either. It is always refreshing to see Him share His experiences in direct or oblique ways. This sharing lends an air of experiential reality and proves convincing for disciples, who immediately recognize themselves and their foibles.
7. Một huấn sư chỉ có thể giảng dạy thành công những gì bản thân đã trải qua. Chân sư DK là một đệ tử giàu kinh nghiệm — không “già”, nhưng cũng không “trẻ”. Thật luôn mang lại cảm giác mới mẻ khi thấy Ngài chia sẻ kinh nghiệm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Sự chia sẻ này mang lại cảm giác chân thực từ trải nghiệm và có sức thuyết phục đối với các đệ tử, những người lập tức nhận ra chính mình cùng những nhược điểm của mình.
8. In Rule XI of the Rules for Disciples and Initiates, we learn that the disciple must learn to work without any desire for recognition. Outer fires cannot take the place of inner fires. One must ‘recognize oneself’; there is really no one else to do the job. Of course, there will come moments of “acceptance” from higher sources. These are a kind of recognition, but they only come to those (and to groups) who have learned not to seek it for ego-gratifying motives. The inner Self accords recognition and knows exactly the state of the one it recognizes.
8. Trong Quy luật XI thuộc Các Quy Luật Dành Cho Đệ Tử Và Điểm Đạo Đồ, chúng ta biết rằng người đệ tử phải học cách làm việc mà không có bất kỳ mong muốn được công nhận nào. Những ngọn lửa bên ngoài không thể thay thế những ngọn lửa bên trong. Mỗi người phải ‘công nhận chính mình’; thực sự không có ai khác làm thay việc ấy. Dĩ nhiên, sẽ đến những lúc có sự “chấp nhận” từ những nguồn cao hơn. Đây là một hình thức công nhận, nhưng chỉ đến với những người (và những nhóm) đã học cách không tìm kiếm nó vì những động cơ làm thỏa mãn phàm ngã. Chân ngã bên trong ban sự công nhận và biết chính xác trạng thái của người mà nó công nhận.
9. The usual personal desire is to shine in some way. This all relates to the third aspect of divinity and not to the second or soul aspect. Leo (as it emerges from the mass consciousness) seeks to stand out and be noticed. This kind of attitude can persist for many, many lives, and even subtly infect the attitudes of disciples and chelas (where it does not belong at all).
9. Mong muốn cá nhân thông thường là được tỏa sáng theo cách nào đó. Tất cả điều này liên quan đến phương diện thứ ba của thiên tính, chứ không phải phương diện thứ hai hay phương diện linh hồn. Sư Tử (khi vươn ra khỏi tâm thức quần chúng) tìm cách nổi bật và được chú ý. Loại thái độ này có thể kéo dài trong rất nhiều kiếp sống và thậm chí còn tinh vi len lỏi vào thái độ của các đệ tử (nơi nó hoàn toàn không nên hiện diện).
10. Our intended transition is into the second aspect of divinity from the third. When behaviors and attitudes characteristic of the regime of the personality ray assert themselves, we must be alert to the danger. This assertion is an especial danger for the group process. Those who have passed through and learned from the pain of disruptive personal assertion (however subtle) will be alert and take steps to avoid its onset.
10. Sự chuyển tiếp mà chúng ta hướng tới là từ phương diện thứ ba sang phương diện thứ hai của thiên tính. Khi những hành vi và thái độ đặc trưng cho sự chi phối của cung phàm ngã tự khẳng định, chúng ta phải cảnh giác trước nguy hiểm. Sự khẳng định này là một mối nguy đặc biệt đối với tiến trình nhóm. Những người đã trải qua và học hỏi từ nỗi đau do sự tự khẳng định cá nhân gây chia rẽ (dù tinh vi đến đâu) sẽ cảnh giác và có biện pháp ngăn ngừa sự khởi phát của nó.
These truths of self-analysis are seldom definitely faced or formulated by any of you and, therefore (because I seek to help you) I formulate them for you and face you with them. It is hard for intelligent men and women to see others closely associated with them dealing with life and problems from a totally different angle to their own — handling them in a weak or stupid way (from the angle of the disciple) and making apparently serious errors in judgment or technique. Yet, brother of old, why are you so sure that you are right and that your point of view is necessarily correct? It may be that your slant on life and your interpretation of a situation needs readjustment and that your motives and attitudes could be more elevated or purer. And even if they are — for you — the highest and the best that you can achieve at any given time, then pursue your way and leave your brother to pursue his. “Better a man’s own dharma, than the dharma of another. ” Thus does the Bhagavad Gita express this truth, telling the disciple to mind his own business.
Hiếm khi bất kỳ ai trong các bạn thực sự đối diện hay trình bày rõ những sự thật này trong việc tự phân tích; vì vậy (bởi Tôi tìm cách giúp các bạn), Tôi trình bày chúng cho các bạn và đưa các bạn đối diện với chúng. Những người nam và nữ thông minh khó chấp nhận việc những người gắn bó mật thiết với mình lại ứng xử với cuộc sống và các vấn đề từ một góc nhìn hoàn toàn khác với mình — xử lý chúng một cách yếu kém hay ngu ngốc (theo góc nhìn của người đệ tử) và mắc những sai lầm có vẻ nghiêm trọng trong phán đoán hoặc phương pháp. Tuy nhiên, hỡi Huynh Đệ của Ngày Xưa, vì sao bạn lại chắc chắn đến thế rằng mình đúng và quan điểm của mình nhất thiết là chính xác? Có thể cách bạn nhìn cuộc sống và diễn giải một tình huống cần được điều chỉnh lại, và những động cơ cùng thái độ của bạn có thể cao cả hơn hoặc thuần khiết hơn. Và ngay cả khi chúng — đối với bạn — là những gì cao nhất và tốt nhất mà bạn có thể đạt được tại một thời điểm nhất định, thì hãy đi theo con đường của mình và để huynh đệ của bạn đi theo con đường của người ấy. “Làm tròn bổn phận của mình tốt hơn làm bổn phận của người khác.” Chí Tôn Ca diễn đạt chân lý này như vậy, khuyên người đệ tử hãy lo việc của mình.
1. It does seem that DK is forcing the issue. This letter offers a kind of confrontation with reality. Because His chelas will not analyze themselves accurately and see clearly, He will help them do it.
1. Quả thật, dường như Chân sư DK đang buộc vấn đề phải được đối diện. Bức thư này đưa đến một hình thức đối diện với thực tế. Vì các đệ tử của Ngài không chịu tự phân tích chính xác và nhìn nhận rõ ràng, Ngài sẽ giúp họ làm điều đó.
2. One of the areas where it is difficult to maintain impersonality is in the face of apparently inadequate or “stupid” actions on the part of those close to us. Our detachment is severely challenged. Usually, we wish to intervene and “set them straight”.
2. Một trong những tình huống khó duy trì tính vô ngã là khi đối diện với những hành động có vẻ không thỏa đáng hoặc “ngu ngốc” của những người thân cận với chúng ta. Sự tách rời của chúng ta chịu thử thách nghiêm trọng. Thông thường, chúng ta muốn can thiệp và “chấn chỉnh họ”.
3. We are dealing here with the “mote and the beam”. We see the mote in our bother’s eye and not the beam in our own.
3. Ở đây, chúng ta đang bàn đến “cái rác và cái xà”. Chúng ta thấy cái rác trong mắt huynh đệ mình mà không thấy cái xà trong mắt chính mình.
4. DK is seeking to unsettle His chelas. They are too sure of the correctness of their own personality attitudes; and correspondingly unsure of themselves as souls.
4. Chân sư DK đang tìm cách lay chuyển các đệ tử của Ngài. Họ quá chắc chắn về tính đúng đắn của những thái độ phàm ngã của mình; và tương ứng lại thiếu tự tin về chính mình với tư cách linh hồn.
5. He asks them to have attitudes which are more elevated and more pure. He is helping them remove their projections.
5. Ngài yêu cầu họ có những thái độ cao cả hơn và thuần khiết hơn. Ngài đang giúp họ loại bỏ những sự phóng chiếu của mình.
6. There may have been an outbreak of criticism at this time. We are told that the third group-of-nine (the Group of Magnetic Healers) was particularly prone to criticism, even as Group Two could not easily rid itself of glamor. These attitudes were inhibiting progress.
6. Có thể vào lúc này đã bùng phát một đợt chỉ trích. Chúng ta được biết rằng nhóm chín người thứ ba (Nhóm Những Người Chữa Lành Bằng Từ Tính) đặc biệt dễ sa vào chỉ trích, cũng như Nhóm Hai không dễ thoát khỏi ảo cảm. Những thái độ này đang cản trở sự tiến bộ.