← Commentary on DINA I song ngữ

SECTION THREE [673]THE SIX STAGES OF DISCIPLESHIP – PHẦN BA [673]SÁU GIAI ĐOẠN CỦA ĐỊA VỊ ĐỆ TỬ

Trích nội dung chương

2. True humility must be demonstrated before each initiation. Otherwise it is not safe for the Hierophant to approach: He would only stimulate a distortion causing a warping in the nature. 2. Trước mỗi cuộc điểm đạo, phải thể hiện sự khiêm nhường chân chính. Nếu không, việc Đấng Chủ Lễ đến gần sẽ không an toàn: Ngài sẽ chỉ kích thích một sự sai lệch, khiến bản chất trở nên méo mó.


2. True humility must be demonstrated before each initiation. Otherwise it is not safe for the Hierophant to approach: He would only stimulate a distortion causing a warping in the nature.

2. Trước mỗi cuộc điểm đạo, phải thể hiện sự khiêm nhường chân chính. Nếu không, việc Đấng Chủ Lễ đến gần sẽ không an toàn: Ngài sẽ chỉ kích thích một sự sai lệch, khiến bản chất trở nên méo mó.

3. Why these particular “three foundations” as a necessary personality attitude preceding the possibility of initiation?

3. Vì sao chính “ba nền tảng” này lại tạo nên thái độ cần thiết của phàm ngã trước khi có thể điểm đạo?

4. The truly humble person faces facts and loves truth. He sees through the disadvantages of any form of egoistic self-delusion. This is the first ray aspect of the three foundations.

4. Người thực sự khiêm nhường đối diện với sự thật và yêu chân lý. Y nhìn thấu những bất lợi của mọi hình thức tự huyễn hoặc do vị kỷ. Đây là phương diện cung một của ba nền tảng.

5. The second ray aspect is “vision”. When there is true vision, the disciple sees with accuracy an aspect of the Plan and the part which he/she may play. With true vision (the vision of things as they are and as they are ‘becoming’) it is impossible to inflate or minimize one’s role. There is a beauty in what is seen that militates against the tendency to exaggerate or minimize one’s role within the visioned Plan and thus introduce distortion (in all its ugliness).

5. Phương diện cung hai là “tầm nhìn”. Khi có tầm nhìn chân thực, người đệ tử thấy chính xác một phương diện của Thiên Cơ và vai trò mình có thể đảm nhận. Với tầm nhìn chân thực (tầm nhìn về sự vật đúng như chúng đang là và như chúng đang ‘trở thành’), không thể phóng đại hay hạ thấp vai trò của bản thân. Vẻ đẹp trong những gì được nhìn thấy chống lại khuynh hướng phóng đại hay hạ thấp vai trò của bản thân trong Thiên Cơ đã được nhìn thấy, rồi qua đó đưa vào sự sai lệch (với tất cả vẻ xấu xí của nó).

6. As for “time pressures”, they represent the third aspect. DK has already told us how time pressures relate to humility. One becomes too busy in service to waste time with fruitless comparisons to others. The earnest worker demonstrates humility through real work. He puts the work before his own self-image and thereby grows. One recognizes one’s nature, one’s attainment, and one’s place and then “gets to work”. This is the only way to grow and improve.

6. Còn về “áp lực thời gian”, chúng đại diện cho phương diện thứ ba. Chân sư DK đã cho chúng ta biết áp lực thời gian liên hệ với sự khiêm nhường như thế nào. Người ta trở nên quá bận rộn phụng sự nên không còn thời gian lãng phí vào những so sánh vô ích với người khác. Người hoạt động tận tâm thể hiện sự khiêm nhường qua công việc thực sự. Y đặt công việc lên trước hình ảnh về bản thân và nhờ đó trưởng thành. Người ta nhận biết bản chất của mình, thành tựu của mình và vị trí của mình, rồi “bắt tay vào việc”. Đây là cách duy nhất để trưởng thành và tiến bộ.

7. If humility is “an adjusted sense of right proportion”, then a true vision will reveal oneself in a proper and proportionate relation to all things. If the vision is untrue, pride or self-depreciation may enter. Let us, therefore, see to the validity of our vision.

7. Nếu sự khiêm nhường là “một ý thức về tỉ lệ đúng đắn đã được điều chỉnh”, thì một tầm nhìn chân thực sẽ cho thấy bản thân mình trong mối tương quan thích đáng và cân xứng với vạn vật. Nếu tầm nhìn không chân thực, lòng kiêu hãnh hoặc sự tự hạ thấp có thể len vào. Vì vậy, chúng ta hãy chú tâm bảo đảm tính xác thực của tầm nhìn mình.

This experiment which I am undertaking has its dangers. The disciples in a Master’s Ashram upon the inner planes know somewhat the status of their co-disciples, but they do not always carry this knowledge through into the brain consciousness. This is very largely a protective factor because they could not be trusted to handle the knowledge correctly upon the physical plane. They might be super-critical of a fellow disciple who was, temporarily, not living up to his initiation objective; they might be subtly jealous or unduly self-depreciative; they might treat the disciple who is ahead of them upon the Path of Initiation as someone superior and set apart and thereby complicate his problem and his effort; they might lose a sense of proportion as to initiation itself, as to its processes and its states, and this through too close an approach to, or a misunderstanding of, another struggling initiate-disciple. The pitfalls are many and I tell you to beware. Attend to your own life and your own business. Speculate not as to the status of the other disciples in my group who are your close cooperators and co-sharers in my experiment. Cultivate the humility which is based on understanding and vision and so serve the world, your fellow disciples and serve me also—as the major point of your contact with the Hierarchy.

Cuộc thử nghiệm mà Tôi đang tiến hành này có những nguy hiểm của nó. Các đệ tử trong ashram của một Chân sư trên các cõi bên trong biết phần nào về vị thế của những đệ tử đồng môn, nhưng không phải lúc nào họ cũng đưa sự hiểu biết này vào tâm thức bộ não. Điều này phần lớn là một yếu tố bảo vệ, vì chưa thể tin cậy rằng họ sẽ xử lý đúng đắn sự hiểu biết ấy trên cõi hồng trần. Họ có thể phê phán quá mức một đệ tử đồng môn đang tạm thời chưa sống đúng với mục tiêu điểm đạo của mình; họ có thể đố kỵ một cách tinh vi hoặc tự hạ thấp quá mức; họ có thể đối xử với người đệ tử đi trước mình trên Con Đường Điểm Đạo như một người cao hơn và tách biệt, qua đó làm phức tạp thêm vấn đề và nỗ lực của người ấy; họ có thể mất ý thức về tỉ lệ đối với chính sự điểm đạo, các tiến trình và trạng thái của nó, do tiếp cận quá gần hoặc hiểu sai một đệ tử-điểm đạo đồ khác cũng đang phấn đấu. Có nhiều cạm bẫy, và Tôi bảo các bạn hãy cảnh giác. Hãy chăm lo đời sống và công việc của chính mình. Đừng suy đoán về vị thế của những đệ tử khác trong nhóm Tôi, những người đang cộng tác mật thiết với các bạn và cùng chia sẻ cuộc thử nghiệm của Tôi. Hãy vun bồi sự khiêm nhường dựa trên sự thấu hiểu và tầm nhìn, và nhờ đó phụng sự thế gian, các đệ tử đồng môn, đồng thời phụng sự cả Tôi—điểm tiếp xúc chính của các bạn với Thánh đoàn.

1. The Master speaks of the subtle dangers associated with His experiment.

1. Chân sư nói về những nguy hiểm tinh vi gắn liền với cuộc thử nghiệm của Ngài.

2. We learn that disciples (in the Ashram upon the inner planes) know somewhat their spiritual status but do not necessarily carry this knowledge into their brain consciousness. This ‘forgetfulness’ is protective, as they could not necessarily be trusted to handle the information properly on the physical plane. We can understand that disciples (not yet free from ego-concern) might exaggerate (or minimize) their importance and thus produce separation and cleavage (which would hamper the growth of right group relations).

2. Chúng ta biết rằng các đệ tử (trong ashram trên các cõi bên trong) biết phần nào về vị thế tinh thần của mình, nhưng không nhất thiết đưa sự hiểu biết này vào tâm thức bộ não. Sự ‘quên lãng’ này có tác dụng bảo vệ, vì chưa chắc có thể tin cậy rằng họ sẽ xử lý thông tin ấy đúng cách trên cõi hồng trần. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng các đệ tử (chưa thoát khỏi mối bận tâm về phàm ngã) có thể phóng đại (hoặc hạ thấp) tầm quan trọng của mình, qua đó tạo ra sự chia cách và rạn nứt (cản trở sự phát triển của những mối quan hệ đúng đắn trong nhóm).

3. DK goes into the dangers: super-criticism, subtle jealousy, undue self-depreciation, devotion, separativeness, loss of proportion. The possible problems concerning an incorrect approach to one’s initiatory status and the status of others are many, and DK warns His disciples to beware. There are many disciples who correctly infer their own status and that of others, and so must guard against the kinds of dangers here enumerated.

3. Chân sư DK đi sâu vào những nguy hiểm ấy: phê phán quá mức, đố kỵ tinh vi, tự hạ thấp quá mức, sùng tín, tính chia rẽ, mất ý thức về tỉ lệ. Có nhiều vấn đề có thể nảy sinh từ cách tiếp cận sai lầm đối với cấp độ điểm đạo của bản thân và vị thế của người khác, và Chân sư DK cảnh báo các đệ tử của Ngài phải cảnh giác. Có nhiều đệ tử suy ra đúng vị thế của chính mình và của người khác, nên phải đề phòng những loại nguy hiểm liệt kê ở đây.

4. The whole problem is based upon ‘ego-concern’ (which is another way of saying that their eyes are focussed on the little self). An attitude of true love and an illumined understanding of the greater whole will be corrective of these tendencies. We are not only ourselves, but everyone else too. This is a mystery until experienced.

4. Toàn bộ vấn đề bắt nguồn từ ‘mối bận tâm về phàm ngã’ (đó là một cách khác để nói rằng mắt họ đang tập trung vào cái ngã nhỏ bé). Một thái độ yêu thương chân chính và sự thấu hiểu được soi sáng về tổng thể lớn hơn sẽ điều chỉnh những khuynh hướng này. Chúng ta không chỉ là chính mình mà còn là tất cả mọi người khác. Điều này vẫn là một huyền nhiệm cho đến khi được trải nghiệm.

5. DK offers straight and even rather stern advice: we are to mind our own business and refrain from speculating about the spiritual status of others. I have not seen this warning much obeyed.

5. Chân sư DK đưa ra lời khuyên thẳng thắn, thậm chí khá nghiêm khắc: chúng ta phải lo công việc của chính mình và tránh suy đoán về vị thế tinh thần của người khác. Tôi chưa thấy lời cảnh báo này được tuân theo nhiều.

6. If we remember our fellow disciples as “close cooperators and co-sharers” we will be less inclined to filter our understanding of them through our own ‘ego-concern’.

6. Nếu chúng ta nhớ rằng các đệ tử đồng môn là những “người cộng tác mật thiết và cùng chia sẻ”, chúng ta sẽ ít có khuynh hướng nhìn nhận họ qua lăng kính ‘bận tâm về phàm ngã’.

7. We are to cultivate a humility which is based upon understanding and vision. One cannot force humility upon oneself and others with the unthinking injunction “be humble”! Humility grows as the perspective widens. The best way to promote humility is to help others (and oneself) broaden and deepen consciousness.

7. Chúng ta phải vun bồi sự khiêm nhường dựa trên sự thấu hiểu và tầm nhìn. Không thể ép bản thân và người khác phải khiêm nhường bằng mệnh lệnh thiếu suy nghĩ “hãy khiêm nhường”! Sự khiêm nhường tăng trưởng khi góc nhìn mở rộng. Cách tốt nhất để nuôi dưỡng sự khiêm nhường là giúp người khác (và chính mình) mở rộng và đào sâu tâm thức.

8. An order of service seems to be suggested, and to it we should attend; we are to serve the world, then our fellow disciples, and then the Master who may be our major point of contact with Hierarchy.

8. Dường như ở đây có gợi ý về một thứ tự phụng sự mà chúng ta nên chú ý: chúng ta phải phụng sự thế gian, rồi đến các đệ tử đồng môn, sau đó là Chân sư, Đấng có thể là điểm tiếp xúc chính của chúng ta với Thánh đoàn.

9. When an attitude of love-in-service is established, there seems to be little room for the problems which arise through a wrong approach to the issue of spiritual status.

9. Khi thái độ yêu thương trong phụng sự được thiết lập, dường như còn rất ít chỗ cho những vấn đề nảy sinh từ cách tiếp cận sai lầm đối với vấn đề vị thế tinh thần.

I have often pointed out that a disciple is known by his influence upon his environment, and an initiate by the wide scope of his world service. How does it happen then that a few of you (not all) are not distinguished by such service and are of relatively small importance in world affairs? Several things could explain this. First of all, a disciple may be called to work off certain karmic relationships, to fulfil certain obligations [97] of very ancient origin and thus “clear the decks” for more complete and uninterrupted service to humanity at a later date. This occurs quite frequently between the first and second initiations. Sometimes a disciple may be doing effective service upon the inner planes and on a large scale and yet there may be no evidence of this upon the physical plane, except in the beauty of a life lived. Others may be learning certain techniques of psychological relationships and of energy distribution and may have dedicated some particular life to the acquiring of these esoteric sciences. One life is but a short moment in the long cycle of the soul. The true disciple will never fall back on the reasons given above as alibis for lack of effort. I would remind you that world influence alone does not always imply discipleship. There are many groups—well known and magnetic—which have at their centre some dominant personality who is not necessarily a disciple.

Tôi thường chỉ ra rằng người ta nhận biết một đệ tử qua ảnh hưởng của y đối với môi trường xung quanh, và một điểm đạo đồ qua phạm vi phụng sự thế gian rộng lớn của y. Vậy tại sao một số ít các bạn (không phải tất cả) lại chưa nổi bật nhờ sự phụng sự như thế và có tầm quan trọng tương đối nhỏ trong các công việc thế gian? Có thể giải thích điều này bằng một số nguyên nhân. Trước hết, một đệ tử có thể được kêu gọi giải quyết dứt điểm một số mối quan hệ nghiệp quả, hoàn thành một số nghĩa vụ [97] có nguồn gốc rất xa xưa, qua đó “dọn đường” cho việc phụng sự nhân loại trọn vẹn và liên tục hơn vào một thời điểm sau này. Điều này xảy ra khá thường xuyên giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai. Đôi khi một đệ tử có thể đang phụng sự hữu hiệu trên các cõi bên trong với quy mô lớn, nhưng trên cõi hồng trần lại không có bằng chứng nào về điều này, ngoại trừ vẻ đẹp của đời sống mà y sống. Những người khác có thể đang học một số kỹ thuật về các mối quan hệ tâm lý và việc phân phối năng lượng, và có thể đã dành riêng một kiếp sống nào đó để lĩnh hội những khoa học huyền bí này. Một kiếp sống chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi trong chu kỳ dài lâu của linh hồn. Người đệ tử chân chính sẽ không bao giờ viện những lý do nêu trên để biện hộ cho sự thiếu nỗ lực. Tôi muốn nhắc các bạn rằng chỉ riêng ảnh hưởng trên thế gian không phải lúc nào cũng hàm ý địa vị đệ tử. Có nhiều nhóm—nổi tiếng và có sức thu hút từ tính—mà ở trung tâm là một phàm ngã chi phối, người ấy không nhất thiết là một đệ tử.

1. The Tibetan distinguishes between the spheres of influence of disciples and initiates. The disciple has an impact upon his environment and an initiate a much wider impact which can be described as “world service”.

1. Chân sư Tây Tạng phân biệt các phạm vi ảnh hưởng của đệ tử và điểm đạo đồ. Người đệ tử tác động lên môi trường xung quanh mình, còn một điểm đạo đồ có ảnh hưởng rộng lớn hơn nhiều, có thể gọi là “phụng sự thế gian”.

2. DK seeks to help His chelas evaluate themselves according to these standards.

2. Chân sư DK tìm cách giúp các đệ tử của Ngài tự đánh giá theo những tiêu chuẩn này.

3. Obviously, all DK’s chelas are disciples and so He seeks to help explain why some of them may be so little involved in service and have but small importance in world affairs.

3. Hiển nhiên, tất cả những người theo học với Chân sư DK đều là đệ tử, vì vậy Ngài tìm cách giúp giải thích vì sao một số người trong họ có thể tham gia phụng sự ít đến thế và chỉ có tầm quan trọng nhỏ trong các công việc thế gian.

4. Some disciples (especially between the first and second degrees) may be “clearing the decks”, working off old karma, so that future service to humanity may be “more complete and uninterrupted”.

4. Một số đệ tử (đặc biệt trong khoảng giữa cấp điểm đạo thứ nhất và thứ hai) có thể đang “dọn đường”, giải quyết dứt điểm nghiệp quả cũ để việc phụng sự nhân loại trong tương lai có thể “trọn vẹn và liên tục hơn”.

5. Others may be serving widely and effectively on the inner planes, but their life upon the outer plane shows no signs of this service—except (and this is an arresting thought) “in the beauty of a life lived”.

5. Những người khác có thể đang phụng sự rộng rãi và hữu hiệu trên các cõi bên trong, nhưng đời sống của họ trên cõi bên ngoài không cho thấy dấu hiệu nào của sự phụng sự ấy—ngoại trừ (và đây là một ý tưởng đáng chú ý) “trong vẻ đẹp của đời sống mà họ sống”.

6. Still others may be mastering certain esoteric techniques relating to the building of psychological relationships and the development of the capacity for energy distribution.

6. Lại có những người khác có thể đang làm chủ một số kỹ thuật huyền bí liên quan đến việc xây dựng các mối quan hệ tâm lý và phát triển khả năng phân phối năng lượng.

7. DK is probably surveying His disciples and seeking to shed light upon their particular situations.

7. Có lẽ Chân sư DK đang xem xét các đệ tử của Ngài và tìm cách làm sáng tỏ hoàn cảnh riêng của họ.

8. The Master enjoins upon us a sense of proportion: one life is but a short moment in the soul’s history.

8. Chân sư khuyên chúng ta phải có ý thức về tỉ lệ: một kiếp sống chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi trong lịch sử của linh hồn.

9. In offering this information about how one may be a disciple and yet of little apparent moment in world affairs or even in the local environment, DK is offering important explanations but no incentives for falling back, for excuses or alibis. He seems to be suggesting that the disciple should, at least, gradually widen and deepen his/her area of service even if subject to one or more of the three conditions described.

9. Khi cung cấp thông tin giải thích vì sao một người có thể là đệ tử mà bề ngoài vẫn ít có tầm quan trọng trong các công việc thế gian, thậm chí ngay trong môi trường địa phương, Chân sư DK đưa ra những lời giải thích quan trọng nhưng không khuyến khích sự thoái lui, viện cớ hay biện hộ. Dường như Ngài đang gợi ý rằng ít nhất người đệ tử nên dần mở rộng và đào sâu phạm vi phụng sự của mình, ngay cả khi chịu một hay nhiều hoàn cảnh trong số ba hoàn cảnh đã mô tả.

10. DK reminds his disciples that prominence does not always imply discipleship. Through the advanced stage reached by our telecommunications network, we notice many prominent people and groups who are not characterized by the quality of discipleship. In present times, our standard for detecting disciples must become increasingly sophisticated. Fame, popularity and prominence can hardly service as all-sufficient indicators. One must always use the touchstone of quality. What is the quality of the work done? Whether the work is especially noticeable or unnoticeable, let us always ask, what is the quality of that work and of the individual or groups performing it? The quality may be high, low or indifferent, but it determinant of the value of the work performed. We have learned that quality is essentially service, for quality cannot help but radiate into the environment and there do good.

10. Chân sư DK nhắc các đệ tử của Ngài rằng sự nổi bật không phải lúc nào cũng hàm ý địa vị đệ tử. Nhờ mạng lưới viễn thông đã đạt đến giai đoạn phát triển cao, chúng ta biết đến nhiều cá nhân và nhóm nổi bật nhưng không có phẩm tính của địa vị đệ tử. Trong thời đại hiện nay, tiêu chuẩn nhận diện đệ tử của chúng ta phải ngày càng tinh tế. Danh tiếng, sự nổi tiếng và sự nổi bật khó có thể đóng vai trò những dấu hiệu tự chúng đã đầy đủ. Luôn phải dùng thước đo phẩm tính. Công việc đã thực hiện có phẩm tính như thế nào? Dù công việc đặc biệt dễ thấy hay không dễ thấy, chúng ta hãy luôn hỏi: phẩm tính của công việc ấy và của cá nhân hay những nhóm thực hiện nó là gì? Phẩm tính có thể cao, thấp hoặc bình thường, nhưng chính nó quyết định giá trị của công việc đã thực hiện. Chúng ta đã học rằng về bản chất, phẩm tính chính là phụng sự, vì phẩm tính tất yếu phải tỏa vào môi trường xung quanh và làm điều tốt lành ở đó.

In connection with this group of my disciples and with this experiment which I am undertaking, you need to arrive at a point in group experience wherein you are not so intensely preoccupied with your own development, status and service; you all need to learn to decentralise yourselves so that the work to be done becomes the factor of main importance. When this is the case, then the intense self-interest with some aspect of the personality expression, some weakness of character, some dear objective, or some physical condition will cease. You will find the cultivation of a “divine indifference” (as I have told you several times) of great assistance in forgetting the little self; this frequently looms so large (from habit) that it shuts out the higher self; it comes between the disciple and the Master and prevents contact with his co-disciples, thus negating effective service.

Liên quan đến nhóm đệ tử này của Tôi và cuộc thử nghiệm mà Tôi đang tiến hành, các bạn cần đạt tới một điểm trong trải nghiệm nhóm mà tại đó các bạn không còn quá mải bận tâm về sự phát triển, vị thế và việc phụng sự của riêng mình; tất cả các bạn cần học cách phi tập trung vào bản thân để công việc cần làm trở thành yếu tố quan trọng nhất. Khi đó, sự quan tâm quá mức đến bản thân qua một phương diện biểu hiện nào đó của phàm ngã, một nhược điểm nào đó trong tính cách, một mục tiêu yêu quý nào đó, hay một tình trạng thể chất nào đó sẽ chấm dứt. Các bạn sẽ thấy việc vun bồi “điềm nhiên thiêng liêng” (như Tôi đã nói với các bạn nhiều lần) giúp ích rất nhiều cho việc quên đi cái ngã nhỏ bé; do thói quen, cái ngã này thường trở nên lớn đến mức che khuất chân ngã; nó chen vào giữa đệ tử và Chân sư, ngăn cản sự tiếp xúc với các đệ tử đồng môn, qua đó làm mất hiệu quả phụng sự.

1. DK offers immediate advice to His chelas. They need to deepen their sense of the group. If they do so, they will no longer find themselves so preoccupied with their own individual development, their status and their service. These preoccupations signal a consciousness still self-focussed and subject to ‘ego-concern’.

1. Chân sư DK đưa ra lời khuyên trực tiếp cho các đệ tử của Ngài. Họ cần đào sâu ý thức về nhóm. Nếu làm vậy, họ sẽ không còn thấy mình quá bận tâm về sự phát triển cá nhân, vị thế và việc phụng sự của riêng mình. Những mối bận tâm này cho thấy một tâm thức vẫn tập trung vào bản thân và chịu sự chi phối của ‘mối bận tâm về phàm ngã’.

2. A disciple works. This differentiates him from an aspirant, who does not necessarily work. Always, the work comes first. When one is preoccupied with work and service on behalf of the Plan and humanity, there is little time for succumbing to the various hazards related to ‘ego-concern’. Decentralization is required; it is an Aquarian attitude which reduces the power of the lower phases of Leonian influence. One takes one’s eyes off the little self.

2. Một đệ tử làm việc. Điều này phân biệt y với một người chí nguyện, người không nhất thiết làm việc. Công việc luôn đứng hàng đầu. Khi chuyên tâm làm việc và phụng sự vì Thiên Cơ và nhân loại, người ta có rất ít thời gian để sa vào những nguy cơ khác nhau liên quan đến ‘mối bận tâm về phàm ngã’. Cần phi tập trung vào bản thân; đó là một thái độ Bảo Bình làm giảm sức mạnh của các giai đoạn thấp trong ảnh hưởng Sư Tử. Người ta chuyển ánh nhìn của mình khỏi cái ngã nhỏ bé.

3. DK lists certain personality preoccupations which can be offset through decentralization:

3. Chân sư DK liệt kê một số mối bận tâm của phàm ngã có thể hóa giải bằng việc phi tập trung vào bản thân:

a. intense self-interest with some aspect of personality expression

a. sự quan tâm quá mức đến bản thân qua một phương diện biểu hiện nào đó của phàm ngã

b. concern about some weakness of character

b. bận tâm về một nhược điểm nào đó trong tính cách

c. concern about some “dear objective”

c. bận tâm về một “mục tiêu yêu quý”

d. concern about some physical condition

d. bận tâm về một tình trạng thể chất nào đó

4. We can see that discipleship very much involves the setting aside of the non-essential in favor of the essential. We can apply this ‘touchstone of essentiality’ to the many thoughts, words and acts of our life. To do so will bring us rapidly into state of disciplic effectiveness.

4. Chúng ta có thể thấy rằng địa vị đệ tử đòi hỏi rất nhiều ở việc gạt sang một bên những gì không thiết yếu để ưu tiên điều thiết yếu. Chúng ta có thể áp dụng ‘thước đo tính thiết yếu’ này cho nhiều tư tưởng, lời nói và hành động trong đời sống mình. Làm như vậy sẽ nhanh chóng đưa chúng ta đến trạng thái hoạt động hữu hiệu của người đệ tử.

5. The basic disadvantage of concern with the “little self” is discussed. That little self looms so large that it comes between the disciple and all advantageous spiritual contacts—with the higher self, with the Master and with one’s co-disciples.

5. Ở đây bàn đến bất lợi căn bản của việc bận tâm về “cái ngã nhỏ bé” ấy. Cái ngã nhỏ bé ấy trở nên lớn đến mức chen vào giữa đệ tử và mọi sự tiếp xúc tinh thần hữu ích—với chân ngã, với Chân sư và với các đệ tử đồng môn của mình.

6. Interestingly, it is said that this “little self” looms large because of habit. For millions of years we have been preoccupied with that which, only apparently, is the self. It is a case of mistaken identity, as is all egoistic preoccupation.

6. Điều thú vị là người ta nói “cái ngã nhỏ bé” này trở nên lớn lao vì thói quen. Suốt hàng triệu năm, chúng ta đã mải bận tâm về điều chỉ có vẻ là bản ngã. Đây là một trường hợp nhận lầm bản ngã, cũng như mọi sự bận tâm mang tính vị kỷ.

7. The antidote to this preoccupation with the non-essential little self, is divine indifference, based upon the emphasis of spiritual essentials. At a sufficient point of tension, divine indifference is established.

7. Phương thuốc hóa giải sự bận tâm về cái ngã nhỏ bé không thiết yếu này là điềm nhiên thiêng liêng, dựa trên việc đặt trọng tâm vào những điều thiết yếu về tinh thần. Khi đạt đến một điểm tập trung nhất tâm đủ mức, điềm nhiên thiêng liêng được thiết lập.

There is one more point which I would like to take up with you so that there may be complete understanding. There come periods in the life of the disciple when there appears to be no contact with the Master and as if all relationship had been, at least, temporarily severed. Where accepted disciples are concerned, I would like to emphasise that any such severance is not possible. Occultly, it cannot happen and the Master’s love for the disciple makes it again impossible. There is only one condition [98] which can result in severance and that is deliberate and conscious effort by the disciple, carried over a very long period of time, to bring it about. A Master does not lightly admit a disciple to His group and once having done so, the situation is irrevocable from the standpoint of the Master. Any delay in progress and any final severance comes entirely from the pupil. There may be a temporary suspension of communication and this may last throughout one life; that, however, is not long from the angle of the soul; it is but a flash of small moment and significance in the long career of the soul. It looms as large and important in the personality life but may signify only the grasping of opportunity in the eternal now of the soul.

Còn một điểm nữa Tôi muốn bàn với các bạn để có sự thấu hiểu trọn vẹn. Trong đời sống đệ tử có những giai đoạn dường như không có sự tiếp xúc với Chân sư, như thể mọi mối quan hệ đều đã đứt đoạn, ít nhất là tạm thời. Đối với các đệ tử được chấp nhận, Tôi muốn nhấn mạnh rằng không thể có bất kỳ sự đứt đoạn nào như vậy. Về mặt huyền bí, điều đó không thể xảy ra, và tình thương của Chân sư dành cho đệ tử lại càng khiến điều đó không thể xảy ra. Chỉ có một điều kiện [98] có thể dẫn đến sự đứt đoạn: người đệ tử cố ý và có ý thức nỗ lực gây ra điều ấy trong một thời gian rất dài. Một Chân sư không dễ dàng thu nhận một đệ tử vào nhóm của Ngài, và một khi đã làm vậy thì, từ quan điểm của Chân sư, tình thế ấy không thể đảo ngược. Mọi sự chậm trễ trong tiến bộ và mọi sự đứt đoạn cuối cùng đều hoàn toàn xuất phát từ người học trò. Có thể có sự tạm ngưng giao tiếp kéo dài suốt một kiếp sống; tuy nhiên, từ góc nhìn của linh hồn, đó không phải là một thời gian dài; nó chỉ là một thoáng chớp ít quan trọng và ít thâm nghĩa trong hành trình dài lâu của linh hồn. Trong đời sống phàm ngã, nó hiện ra như một điều lớn lao và quan trọng, nhưng có thể chỉ hàm ý việc nắm bắt cơ hội trong hiện tại vĩnh cửu của linh hồn.

1. DK taking up a number of important points with His disciples. In doing so He is answering questions which may have arisen in their minds.

1. Chân sư DK đang bàn với các đệ tử của Ngài về một số điểm quan trọng. Qua đó, Ngài trả lời những câu hỏi có thể đã nảy sinh trong thể trí của họ.

2. Some of His disciples may have been distressed by the apparent lack of direct contact with the Master. To them this may have seemed a kind of “severance”. DK assures His disciples of the impossibility of such a state. The Master’s great love for His disciple would militate against this. It must be difficult for us to fathom the Master’s love for those He has admitted to His group or Ashram. Perhaps if we think of the love we bear a beloved child and multiply it many-fold, we can gain some small idea of the Master’s love for His disciples.

2. Một số đệ tử của Ngài có thể đã đau khổ vì dường như thiếu sự tiếp xúc trực tiếp với Chân sư. Đối với họ, điều này có thể giống như một sự “đứt đoạn”. Chân sư DK bảo đảm với các đệ tử của Ngài rằng trạng thái như vậy không thể xảy ra. Chân sư dành cho đệ tử của Ngài tình thương lớn lao đến mức tình thương ấy sẽ chống lại điều này. Hẳn chúng ta khó lòng thấu tỏ tình thương của Chân sư dành cho những người Ngài đã thu nhận vào nhóm hay ashram của Ngài. Có lẽ nếu nghĩ đến tình thương chúng ta dành cho một đứa con yêu quý rồi nhân lên nhiều lần, chúng ta có thể phần nào hình dung tình thương của Chân sư dành cho các đệ tử của Ngài.

3. We are soberly reminded that the Master is not the one to sever connection with a disciple; the severance is the result of a disciple’s prolonged and deliberate effort to bring it about. We see that the love extended from ‘above’ is far greater than that upreaching from ‘below’.

3. Chúng ta nhận được lời nhắc nhở nghiêm túc rằng Chân sư không phải là người cắt đứt mối liên hệ với một đệ tử; sự đứt đoạn là kết quả của những nỗ lực mà người đệ tử cố ý thực hiện trong thời gian dài để gây ra điều ấy. Chúng ta thấy rằng tình thương vươn xuống từ ‘trên’ lớn lao hơn rất nhiều so với tình thương vươn lên từ ‘dưới’.

4. We are also reminded that admittance into a Master’s group is no casual affair. The master considers His relation to His admitted disciple irrevocable once admittance has occurred. It is an indissoluble bond the loyalty upon which we should ponder.

4. Chúng ta cũng được nhắc nhở rằng việc gia nhập nhóm của một Chân sư không phải là chuyện tùy tiện. Một khi đã thu nhận đệ tử, Chân sư xem mối quan hệ của Ngài với người đệ tử ấy là không thể đảo ngược. Đó là một mối ràng buộc không thể tan rã; chúng ta nên suy ngẫm về lòng trung thành trong mối ràng buộc ấy.

5. Responsibility is laid squarely on our shoulders for any delay in development we may experience. We do not have to wait for the Master; He is always ready to respond if rightly invoked. Delays are of our own making.

5. Chúng ta phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi sự chậm trễ trong phát triển mà mình có thể trải qua. Chúng ta không phải chờ đợi Chân sư; Ngài luôn sẵn sàng đáp ứng nếu được khẩn cầu đúng cách. Chính chúng ta tạo ra những sự chậm trễ.

6. Temporary suspensions of communication from a Master to His chela may arise, and these may last for even a lifetime. DK counsels us to think of such a period as short when compared to the long history of the soul’s evolution. From the angle of the soul, such a period is but “a flash of small moment and significance”.

6. Sự giao tiếp từ một Chân sư đến đệ tử của Ngài có thể tạm thời gián đoạn, thậm chí kéo dài suốt một kiếp sống. Chân sư DK khuyên chúng ta xem một thời kỳ như thế là ngắn ngủi khi so với lịch sử lâu dài tiến hoá của linh hồn. Từ góc nhìn của linh hồn, một thời kỳ như thế chỉ là “một thoáng chớp có tầm quan trọng và thâm nghĩa nhỏ bé”.

7. Then follows a rather enigmatical statement: “It looms as large and important in the personality life but may signify only the grasping of opportunity in the eternal now of the soul”. We may ask, who is it that is grasping opportunity—the soul on its own plane or the temporarily ‘ex-communicated’ disciple? Perhaps the temporary lack of communication from the Master to disciple may be an opportunity in disguise, an opportunity for the disciple to utilize His own resources and to acquire, apparently unaided, even greater resources. We must never forget that the soul/Solar Angel is the “first Master”, and that disciples must learn to be soul-reliant before they can safely be placed en rapport with a human Master.

7. Tiếp theo là một phát biểu khá bí ẩn: “Điều ấy hiện ra lớn lao và quan trọng trong đời sống phàm ngã, nhưng có thể chỉ hàm ý việc nắm bắt cơ hội trong hiện tại vĩnh cửu của linh hồn”. Chúng ta có thể hỏi, ai đang nắm bắt cơ hội—linh hồn trên cõi riêng của nó hay người đệ tử tạm thời ‘bị ngắt liên lạc’? Có lẽ sự thiếu vắng giao tiếp tạm thời từ Chân sư đến đệ tử là một cơ hội dưới hình thức khác, một cơ hội để người đệ tử sử dụng những nguồn lực của chính mình và đạt được những nguồn lực lớn lao hơn nữa, dường như không có sự trợ giúp. Chúng ta không bao giờ được quên rằng linh hồn/Thái dương Thiên Thần là “Chân sư đầu tiên”, và các đệ tử phải học cách nương tựa vào linh hồn trước khi có thể an toàn thiết lập sự giao cảm với một Chân sư thuộc nhân loại.

I have, therefore, been near you and watched at intervals the tide of life roll over you; I have noted your progress and your delay. I have watched you succeed and I have seen you fail. This I do through noting the pulsation of your light—not in watching the detail of your daily living. That is not warranted in this time of crisis, and owing to the evolutionary development of disciples will never again be warranted. You are still within my group aura, within my Ashram. Your position there is determined by yourself and not by me. There exists at times something which resembles a pulsation in the relation between teacher and pupil—a withdrawing and a coming forward where the probationary disciple is concerned and a standing with steadfastness and expectancy on the part of the teacher. When the fluctuations of contact are ended and the pupil is stabilised and becomes a “steadily approaching point of energy,” then he becomes an accepted disciple. Some in my group of disciples are stabilising; some are retreating; some few are approaching and I watch with interest the waxing and the waning of their light.

Vì vậy, Tôi đã ở gần các bạn và từng lúc quan sát làn sóng cuộc đời tràn qua các bạn; Tôi đã ghi nhận sự tiến bộ và sự chậm trễ của các bạn. Tôi đã quan sát các bạn thành công và đã thấy các bạn thất bại. Tôi làm điều này bằng cách ghi nhận nhịp đập ánh sáng của các bạn—không phải bằng cách theo dõi những chi tiết trong đời sống hằng ngày của các bạn. Điều đó không thích đáng trong thời kỳ khủng hoảng này, và do sự phát triển tiến hoá của các đệ tử, sẽ không bao giờ còn thích đáng nữa. Các bạn vẫn ở trong hào quang nhóm của Tôi, trong ashram của Tôi. Vị trí của các bạn ở đó do chính các bạn quyết định chứ không phải do Tôi. Đôi khi có một điều gì đó giống như nhịp đập trong mối quan hệ giữa huấn sư và môn sinh—về phía đệ tử dự bị là sự rút lui và tiến tới, còn về phía huấn sư là sự đứng vững với lòng kiên định và chờ đợi. Khi những dao động trong sự tiếp xúc chấm dứt và môn sinh trở nên ổn định, thành một “điểm năng lượng đều đặn tiến gần”, thì y trở thành đệ tử được chấp nhận. Một số người trong nhóm đệ tử của Tôi đang trở nên ổn định; một số đang rút lui; một số ít đang tiến gần, và Tôi quan tâm theo dõi ánh sáng của họ tăng lên hay suy giảm.

1. Master DK seems to be preparing certain of these disciples for the suspension of communication between Him and them which occurred in late 1939. Perhaps the plan to suspend communication (and reorganize the manner of His future communication with certain selected disciples) was already in His mind.

1. Chân sư DK dường như đang chuẩn bị cho một số đệ tử này trước sự tạm ngừng giao tiếp giữa Ngài và họ, diễn ra vào cuối năm 1939. Có lẽ Ngài đã nghĩ đến kế hoạch tạm ngừng giao tiếp (và tổ chức lại cách thức giao tiếp trong tương lai của Ngài với một số đệ tử được tuyển chọn).

2. The image of the supervising Master is put forward; the Master has supervised (albeit at a distance) the lives of His chelas-to-be perhaps for a number of lives.

2. Hình ảnh Chân sư giám sát được đưa ra; Chân sư đã giám sát cuộc đời của những người sẽ trở thành đệ tử của Ngài (dù từ xa), có lẽ suốt một số kiếp sống.

3. The mode of detecting a disciple’s success or failure is given; it is through the “pulsation of [his/her] light”. It is decentralizing to realize that the Master has not time to observe the detail of His chela’s life. Moreover, the level of development of today’s disciples will mean that such close observation will never again be warranted. Although this lack of close personal observation is now generally the case, and will be in the future, Master DK has demonstrated, by things He has said, that He has been aware of some details in His chela’s lives; the intimacy of His care for them was, however, unusual.

3. Phương thức nhận biết sự thành công hay thất bại của một đệ tử được nêu rõ; đó là qua “nhịp đập ánh sáng [của người ấy]”. Việc nhận ra rằng Chân sư không có thời gian quan sát những chi tiết trong cuộc đời đệ tử của Ngài giúp chúng ta phi tập trung vào bản thân. Hơn nữa, trình độ phát triển của các đệ tử ngày nay hàm ý rằng sự quan sát sát sao như thế sẽ không bao giờ còn thích đáng nữa. Mặc dù hiện nay nhìn chung không có sự quan sát cá nhân sát sao như thế, và trong tương lai cũng vậy, nhưng qua những điều Ngài đã nói, Chân sư DK cho thấy Ngài biết một số chi tiết trong cuộc đời các đệ tử của Ngài; tuy nhiên, sự quan tâm gần gũi mà Ngài dành cho họ là điều khác thường.

4. Disciples in a Master’s group (and therefore within his “group aura”) determine their own position within the Master’s Ashram. The Master does not ‘promote’ them in the usual sense. They move into greater ashramic intimacy through the elevation of their own vibration.

4. Các đệ tử trong nhóm của một Chân sư (và do đó ở trong “hào quang nhóm” của Ngài) tự quyết định vị trí của mình trong ashram của Chân sư. Chân sư không ‘thăng cấp’ cho họ theo nghĩa thông thường. Họ tiến vào sự gần gũi sâu sắc hơn trong ashram bằng cách nâng cao rung động của chính mình.

5. Master DK describes the approach to and withdrawal from the Master which is typical of the probationary disciple. The Master stands steadfast. It is not He that approaches and withdraws. The fluctuations within the probationary disciple’s form and consciousness account for the evident inconsistency.

5. Chân sư DK mô tả sự tiến gần đến và rút lui khỏi Chân sư, vốn là nét điển hình của đệ tử dự bị. Chân sư đứng vững kiên định. Không phải Ngài tiến gần rồi rút lui. Những dao động trong hình tướng và tâm thức của đệ tử dự bị giải thích sự thiếu nhất quán rõ rệt ấy.

6. A truly accepting and thus accepted disciple becomes, however, a “steadily approaching point of energy”. Perhaps deliberately, DK did not say ‘point of force’. We can see how astral polarization functioning under the Law of Attraction and Repulsion will generate inconsistency of approach. Increasing mental polarization steadies the approach, for the steadying will works through the mind.

6. Tuy nhiên, một đệ tử thực sự chấp nhận và nhờ đó được chấp nhận sẽ trở thành một “điểm năng lượng đều đặn tiến gần”. Có lẽ Chân sư DK đã chủ ý không nói ‘điểm mãnh lực’. Chúng ta có thể thấy sự phân cực cảm dục vận hành theo Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi sẽ tạo ra sự thiếu nhất quán trong việc tiến gần như thế nào. Sự phân cực trí tuệ ngày càng tăng làm cho việc tiến gần trở nên vững vàng, vì ý chí có tác dụng ổn định hoạt động thông qua thể trí.

7. DK describes an interesting Geminian experience (and indeed, He must have much of Gemini in His horoscope). Some disciples are stabilizing after fluctuation; some are retreating and a few are approaching (note, only a few). There is little the Master can do about this ‘dance’ but look on with support and encouragement.

7. Chân sư DK mô tả một trải nghiệm thú vị mang tính Song Tử (và quả thực, hẳn lá số chiêm tinh của Ngài có nhiều yếu tố Song Tử). Một số đệ tử đang trở nên ổn định sau những dao động; một số đang rút lui và một số ít đang tiến gần (hãy lưu ý, chỉ một số ít). Chân sư chẳng thể làm gì nhiều đối với ‘điệu múa’ này ngoài việc quan sát với sự hỗ trợ và khích lệ.

8. If you measure yourself, in which phase do you find yourself and why? Is your light waxing or waning? How do you know?

8. Nếu tự đánh giá, các bạn thấy mình đang ở giai đoạn nào và vì sao? Ánh sáng của các bạn đang tăng lên hay suy giảm? Làm sao các bạn biết?

The mobilisation of every disciple is demanded at this time and when I say “this time” I refer to the present time and the next fifty years. This mobilisation involves the focussing of the disciple’s energies, his time and his resources on behalf of humanity; it requires a new dedication to service, a consecration of the thought-life (do you realise what that would mean, my brothers?) and a forgetfulness of self which would rule out all moods and feelings, all personality desires, resentments, grievances [99] and all pettiness in your relations with your fellowmen. On the physical plane, it would mean the conditioning of all active, outer living so that the whole of life becomes one focussed active service. I would ask you to study the above phrasing, using it as a light of revelation so that you may know wherein you are lacking and what you have to do.

Vào lúc này, mọi đệ tử đều phải huy động toàn bộ sức mình, và khi Tôi nói “lúc này”, Tôi muốn nói đến thời điểm hiện tại và năm mươi năm tới. Sự huy động này bao hàm việc tập trung các năng lượng, thời gian và nguồn lực của người đệ tử vì nhân loại; nó đòi hỏi một sự tận hiến mới cho việc phụng sự, sự thánh hiến đời sống tư tưởng (các huynh đệ của Tôi, các bạn có nhận ra điều đó hàm ý gì không?) và sự quên mình vốn sẽ loại trừ mọi tâm trạng và cảm xúc, mọi dục vọng phàm ngã, oán giận, bất bình [99] và mọi điều nhỏ nhen trong các mối quan hệ của các bạn với đồng loại. Trên cõi hồng trần, điều đó có nghĩa là định hình toàn bộ đời sống hoạt động bên ngoài sao cho cả cuộc đời trở thành một sự phụng sự tích cực, tập trung. Tôi muốn các bạn nghiên cứu cách diễn đạt trên, dùng nó như một ánh sáng mặc khải để các bạn biết mình còn thiếu sót ở đâu và phải làm gì.

1. Some rather demanding requirements are now set forth. During the “next fifty years” (this would mean, until the 1980’s) the mobilization of every disciple is required. I would say that because of the aftermath of the Second World War and the obvious danger to man of proliferating nuclear weapons in a badly divided world, the mobilization of every disciple is still demanded, and perhaps moreso.

1. Giờ đây, một số yêu cầu khá khắt khe được nêu ra. Trong “năm mươi năm tới” (nghĩa là cho đến những năm 1980), mọi đệ tử đều phải huy động toàn bộ sức mình. Tôi cho rằng do hậu quả của Chiến tranh Thế giới thứ Hai và mối nguy hiểm hiển nhiên đối với con người từ việc phổ biến vũ khí hạt nhân trong một thế giới chia rẽ sâu sắc, mọi đệ tử vẫn phải huy động toàn bộ sức mình, và có lẽ còn cần hơn nữa.

2. What will mobilization mean?

2. Sự huy động sẽ có nghĩa là gì?

a. the focussing of a disciple’s energies, time and resources on behalf of humanity. This means, essentially, the right expenditure of energy.

a. việc tập trung các năng lượng, thời gian và nguồn lực của một đệ tử vì nhân loại. Về cơ bản, điều này có nghĩa là sử dụng năng lượng đúng đắn.

b. a new dedication to service

b. một sự tận hiến mới cho việc phụng sự

c. a consecration of the thought-life. This requirement is drastic when one thinks about how one usually thinks! Vague, ill-directed, pointless thoughts would be no more. Vigilance and dedicated thoughtform building would take the place of the usual misuse of thought.

c. sự thánh hiến đời sống tư tưởng. Yêu cầu này thật quyết liệt khi chúng ta nghĩ đến cách mình thường suy nghĩ! Những tư tưởng mơ hồ, sai hướng, vô mục đích sẽ không còn nữa. Sự tỉnh thức và việc tận tâm xây dựng hình tư tưởng sẽ thay thế cách sử dụng tư tưởng sai lầm thường thấy.

d. a forgetfulness of self ruling out

d. sự quên mình loại trừ

 all moods,

 mọi tâm trạng,

 feelings

 cảm xúc

 personality desires

 dục vọng phàm ngã

 resentments

 oán giận

 grievances

 bất bình

e. the whole outer physical plane life becomes “one focussed active service”

e. toàn bộ đời sống bên ngoài trên cõi hồng trần trở thành “một sự phụng sự tích cực, tập trung”

3. DK is asking us to review the requirements for mobilization so that we can see whether we are completely mobilized. It is obvious that for the mobilized disciple, very little if anything is left for the strictly ‘personal’ life. All energies are consecrated to soul-living.

3. Chân sư DK yêu cầu chúng ta xem xét lại các yêu cầu của sự huy động để có thể thấy mình đã hoàn toàn huy động toàn bộ sức mình hay chưa. Hiển nhiên, đối với người đệ tử đã huy động toàn bộ sức mình, còn lại rất ít, nếu có, cho đời sống thuần tuý ‘cá nhân’. Mọi năng lượng đều được thánh hiến cho việc sống theo linh hồn.

4. The demands for mobilization are exacting, are they not?

4. Những yêu cầu của sự huy động thật khắt khe, phải không?

I have given you in the past a very great deal of instruction, help and encouragement. That you still have and it would profit you much if you spent some time in recalling it. But today make a new beginning—not for your own sake, but for the helping of a needy world. Forget yourselves.

Trước đây, Tôi đã dành cho các bạn rất nhiều sự chỉ dạy, trợ giúp và khích lệ. Các bạn vẫn còn giữ những điều ấy, và sẽ được lợi ích rất nhiều nếu dành thời gian nhớ lại. Nhưng hôm nay, hãy bắt đầu lại—không phải vì lợi ích của chính các bạn, mà để giúp đỡ một thế giới đang cần được trợ giúp. Hãy quên mình.

1. DK reflects on all that He has given.

1. Chân sư DK nhìn lại tất cả những gì Ngài đã trao ban.

2. Sometimes so much is given that one even forgets the extent of the gifts conferred. The attempt to recall these gifts is of value. This attempt gathers them all into the ‘space of consciousness’ where they can be appreciated, and from whence further extraction of value may occur.

2. Đôi khi chúng ta được trao ban nhiều đến nỗi quên cả mức độ lớn lao của những món quà đã nhận. Nỗ lực nhớ lại những món quà này có giá trị. Nỗ lực ấy quy tụ tất cả vào ‘không gian tâm thức’, nơi chúng ta có thể trân trọng chúng, và từ đó tiếp tục rút ra giá trị của chúng.

3. The Master’s words turn direct: “But today make a new beginning—not for your own sake, but for the helping of a needy world. Forget yourselves. ”

3. Lời của Chân sư trở nên trực tiếp: “Nhưng hôm nay, hãy bắt đầu lại—không phải vì lợi ích của chính các bạn, mà để giúp đỡ một thế giới đang cần được trợ giúp. Hãy quên mình. ”

4. These words are being addressed to relatively experienced disciples, for the most part, and so, they are being addressed to us. On every occasion we may take these words to heart, no matter how many beginnings have been made. Master Morya has said that, “for Us there are only beginnings”.

4. Phần lớn những lời này hướng đến các đệ tử tương đối giàu kinh nghiệm, và do đó cũng hướng đến chúng ta. Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta đều có thể ghi lòng những lời này, bất kể đã có bao nhiêu lần khởi đầu. Chân sư Morya đã nói rằng, “đối với Chúng Tôi, chỉ có những khởi đầu”.

5. Always one must become inspired anew; always new fervor must be rekindled. We must never allow ourselves to simmer down to the point where our fire is in danger of extinction. Fire is life.

5. Chúng ta phải luôn đón nhận cảm hứng mới; phải luôn khơi lại nhiệt tâm mới. Chúng ta không bao giờ được để mình nguội dần đến mức ngọn lửa bên trong có nguy cơ tắt lịm. Lửa là sự sống.

The pressure of the work upon me has been very heavy lately. Much work has rested upon my shoulders, incident to the world situation. This has involved much effort on the part of the Hierarchy to prevent a complete collapse of the structure of human civilisation, as it exists at this time. The sound foundations of part of the structure must be saved; all else may have to go.

Gần đây, áp lực công việc đè lên Tôi rất nặng nề. Tình hình thế giới đã đặt lên vai Tôi nhiều công việc. Điều này đòi hỏi Thánh đoàn phải nỗ lực rất nhiều để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của cấu trúc nền văn minh nhân loại như hiện nay. Phải cứu lấy những nền móng vững chắc của một phần cấu trúc ấy; tất cả những gì khác có thể phải mất đi.

1. DK speaks of His own work. The Second World War has begun—certainly on the inner planes. We can only imagine a Master’s vast responsibilities, and our imagining would be a very poor approximation to the reality.

1. Chân sư DK nói về công việc của chính Ngài. Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã bắt đầu—chắc chắn là trên các cõi bên trong. Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng những trách nhiệm bao la của một Chân sư, và điều chúng ta tưởng tượng sẽ chỉ gần với thực tế một cách rất hạn chế.

2. Such work, at that time, must have been onerous in the extreme. DK speaks of the possibility of the “complete collapse of the structure of human civilisation, as it exists at this time”. He is saying this probably in the fateful year, 1939.

2. Vào thời điểm ấy, công việc như thế hẳn phải vô cùng nặng nề. Chân sư DK nói đến khả năng “sụp đổ hoàn toàn của cấu trúc nền văn minh nhân loại như hiện nay”. Có lẽ Ngài đang nói điều này vào năm 1939, một năm mang tính định mệnh.

3. The Spiritual Hierarchy realized that conditions were far more desperate than humanity could suspect. The threat of destruction was everywhere, and Hierarchy sought to salvage at least a part of the foundation so that human civilization could be rebuilt.

3. Thánh đoàn nhận ra rằng tình thế tuyệt vọng hơn nhiều so với những gì nhân loại có thể hình dung. Mối đe doạ huỷ diệt hiện diện khắp nơi, và Thánh đoàn tìm cách cứu vãn ít nhất một phần nền móng để có thể tái thiết nền văn minh nhân loại.

4. We do not know what Their perspective revealed, but the revelation must have been dire.

4. Chúng ta không biết góc nhìn của Các Ngài đã cho thấy điều gì, nhưng sự mặc khải ấy hẳn phải rất đáng sợ.

Many things contribute to the inertia that today seems to afflict many of the disciples of the world who should be active in service and helpfulness. This applies also to you. The pressure of war conditions and concern over your own personal affairs, attitudes and reactions have crowded much that I might say and have said out of your minds. One of the first lessons which those in training for initiation have to master is that difficult dual attitude which permits right personality activity and real interest in personality affairs and yet at the same time permits nothing personal to interfere with the subjective spiritual life, with service and with the training, given in preparation for initiation. As time goes on, I shall try to bridge between the old techniques and the newer modes of training by using a part of the ancient techniques—now becoming somewhat obsolete—and the giving of those hints which will lead you to understand the nature, purpose and methods of educating accepted disciples in the processes of initiation.

Nhiều điều góp phần tạo nên tính trì trệ dường như đang đè nặng lên nhiều đệ tử trên thế giới ngày nay, những người lẽ ra phải tích cực phụng sự và giúp đỡ. Điều này cũng áp dụng cho các bạn. Áp lực của hoàn cảnh chiến tranh cùng sự lo lắng về những công việc, thái độ và phản ứng cá nhân đã đẩy khỏi thể trí các bạn nhiều điều Tôi có thể nói và đã nói. Một trong những bài học đầu tiên mà những người đang được huấn luyện để điểm đạo phải nắm vững là thái độ kép khó đạt được ấy: vừa cho phép hoạt động phàm ngã đúng đắn và sự quan tâm thực sự đến các công việc phàm ngã, vừa không cho phép bất cứ điều gì thuộc cá nhân can thiệp vào đời sống tinh thần chủ quan, vào việc phụng sự và sự huấn luyện để chuẩn bị cho điểm đạo. Theo thời gian, Tôi sẽ cố gắng bắc cầu giữa các kỹ thuật cũ và những phương thức huấn luyện mới hơn, bằng cách sử dụng một phần các kỹ thuật cổ xưa—nay đang trở nên phần nào lỗi thời—và đưa ra những gợi ý sẽ dẫn các bạn đến chỗ thấu hiểu bản chất, mục đích và phương pháp giáo dục các đệ tử được chấp nhận trong những tiến trình điểm đạo.

1. We have noticed in the year immediately prior to the disbanding of the groups-of-nine a number of the disciples were afflicted with inertia and seemed to be losing ground.

1. Chúng ta đã nhận thấy rằng trong năm ngay trước khi các nhóm chín người giải thể, một số đệ tử chịu ảnh hưởng của tính trì trệ và dường như đang thụt lùi.

2. It is clear that the fear factor was looming large in the minds of most disciples (as it was for humanity in general). The astral body has a way of ‘preempting the stage’, thus crowding out the testimony of the higher nature—including the Master as part of that higher nature.

2. Rõ ràng, yếu tố sợ hãi đang chiếm vị trí lớn trong thể trí của hầu hết các đệ tử (cũng như đối với nhân loại nói chung). Thể cảm dục có cách ‘chiếm lĩnh sân khấu’, qua đó lấn át tiếng nói của bản chất cao hơn—kể cả Chân sư như một phần của bản chất cao hơn ấy.

3. The necessity for the dual life of the disciple is again asserted. Personality affairs must be rightly attended to and yet nothing of a personal nature must be allowed to “interfere with the subjective spiritual life, with service and with the training, given in preparation for initiation”. This would require the attitude of dispassion, for without it, fear will unduly magnetize the attention.

3. Sự cần thiết của đời sống kép nơi người đệ tử lại được khẳng định. Phải chăm lo đúng đắn các công việc phàm ngã, nhưng không được để bất cứ điều gì mang tính cá nhân “can thiệp vào đời sống tinh thần chủ quan, vào việc phụng sự và sự huấn luyện để chuẩn bị cho điểm đạo”. Điều này đòi hỏi thái độ không đam luyến, vì nếu thiếu nó, nỗi sợ hãi sẽ thu hút sự chú ý quá mức.

4. The Tibetan continues His emphasis upon training for initiation, promising an approach which will bridge the older and newer techniques.

4. Chân sư Tây Tạng tiếp tục nhấn mạnh việc huấn luyện để điểm đạo, hứa hẹn một cách tiếp cận sẽ bắc cầu giữa các kỹ thuật cũ hơn và mới hơn.

5. He is hinting at the future reorganization of the group into a group of (eventually) twenty-four accepted disciples who were to be educated for initiation. Not all of those in the groups-of-nine were invited into the new, reorganized Seed Group, nor did they (initially) even know of its existence. In this New Seed Group definite training for group initiation was undertaken, even though the training was relatively rudimentary. The material given to that group and pertaining to initiation and group initiation was of an advanced nature as the study of the Fourteen Rules for Disciples and Initiates and the many lessons gathered in DINA II will reveal.

5. Ngài đang gợi ý về việc tái tổ chức nhóm trong tương lai thành một nhóm gồm (cuối cùng là) hai mươi bốn đệ tử được chấp nhận, những người sẽ được giáo dục để điểm đạo. Không phải tất cả những người trong các nhóm chín người đều được mời vào Nhóm hạt giống mới đã tái tổ chức, và (ban đầu) họ thậm chí còn không biết đến sự tồn tại của nhóm ấy. Trong Nhóm hạt giống Mới này, việc huấn luyện cụ thể để điểm đạo nhóm đã được tiến hành, dù sự huấn luyện còn tương đối sơ khởi. Tài liệu trao cho nhóm ấy, liên quan đến điểm đạo và điểm đạo nhóm, mang tính chất cao cấp, như việc nghiên cứu Mười Bốn Quy Luật dành cho các Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ cùng nhiều bài học tập hợp trong DINA II sẽ cho thấy.

Above all, I would say: Seek to recover the fervour of your earlier, spiritual aspiration and self-discipline. If you have never lost it (though many disciples have) seek to force that energy of inspiration to work out in an effective display of [100] definite action upon the physical plane. How, you ask, my brothers? By increasing the radiance of your light in the world through love and meditation, so that others may turn to you as to a beacon light in the dark night of life which seems in this century to have descended upon humanity; seek to love more than you have ever believed was possible, so that others—frozen and chilled by life circumstance and the present horror of human existence—may turn to you for warmth and comforting. What I and all who are affiliated with the Hierarchy seek to do at this time of desperate crisis is to find those who are dependable points of living energy and through them pour out the love, the strength and the light which the world needs and must have if this storm is to be weathered. I ask you to render this service to me and to humanity. I ask nothing spectacular; it will, however, require a strenuous effort of your souls if you are to respond adequately; I ask nothing impossible; I would remind you that the apathy of the physical body and brain, the inertia of the feeling nature and the sense of futility of the mind when confronted with large issues will seem to hinder you.

Trên hết, Tôi muốn nói: Hãy tìm cách khôi phục nhiệt tâm của khát vọng tinh thần và sự tự kỷ luật trước đây của các bạn. Nếu các bạn chưa bao giờ đánh mất điều đó (dù nhiều đệ tử đã đánh mất), hãy tìm cách buộc năng lượng cảm hứng ấy biểu lộ hữu hiệu thành [100] hành động cụ thể trên cõi hồng trần. Các huynh đệ của Tôi, các bạn hỏi: Bằng cách nào? Bằng cách gia tăng sức toả rạng của ánh sáng nơi các bạn trong thế gian thông qua tình thương và tham thiền, để người khác có thể hướng về các bạn như hướng về một ngọn hải đăng trong đêm tối của cuộc đời, dường như đã buông xuống nhân loại trong thế kỷ này; hãy tìm cách yêu thương nhiều hơn mức các bạn từng tin là có thể, để những người khác—đang tê cóng và lạnh lẽo vì hoàn cảnh sống và nỗi kinh hoàng hiện tại của kiếp người—có thể tìm đến các bạn để được sưởi ấm và an ủi. Điều mà Tôi và tất cả những ai liên kết với Thánh đoàn đang tìm cách thực hiện trong thời kỳ khủng hoảng tuyệt vọng này là tìm ra những người có thể làm các điểm năng lượng sống động đáng tin cậy, và qua họ tuôn đổ tình thương, sức mạnh cùng ánh sáng mà thế giới cần và phải có để vượt qua cơn bão này. Tôi yêu cầu các bạn thực hiện việc phụng sự này cho Tôi và cho nhân loại. Tôi không yêu cầu điều gì ngoạn mục; tuy nhiên, để đáp ứng đầy đủ, linh hồn các bạn sẽ phải nỗ lực mạnh mẽ; Tôi không yêu cầu điều gì bất khả thi; Tôi muốn nhắc các bạn rằng sự thờ ơ của thể xác và bộ não, tính trì trệ của bản chất cảm xúc và cảm giác bất lực của thể trí khi đối diện với những vấn đề lớn sẽ có vẻ cản trở các bạn.

1. The paragraphs which follow are in the nature of an exhortation. DK wishes to see a return to former fervor and discipline, for many of His disciples have experienced a deintensification of the fires of aspiration. Aspiration is indispensable, whether for the disciple or the initiate.

1. Các đoạn tiếp theo mang tính chất khuyến giục. Chân sư DK mong thấy nhiệt tâm và kỷ luật trước đây được khôi phục, vì ngọn lửa khát vọng của nhiều đệ tử Ngài đã suy giảm cường độ. Khát vọng là điều không thể thiếu, dù đối với đệ tử hay điểm đạo đồ.

2. Some have not lost their fire, and if not, DK enjoins them to apply their continuing inspiration in definite acts upon the physical plane. Fire may be ‘upward tending’ but disciples must prove it to be ‘downwardly effective’.

2. Một số người chưa đánh mất ngọn lửa của mình, và nếu vậy, Chân sư DK yêu cầu họ vận dụng nguồn cảm hứng vẫn tiếp tục ấy vào những hành động cụ thể trên cõi hồng trần. Lửa có thể ‘có xu hướng vươn lên’, nhưng các đệ tử phải chứng tỏ rằng nó ‘có hiệu quả khi hướng xuống’.

3. Love and meditation are the means of increasing a disciple’s light in the world so that he may become a beacon to a humanity upon which darkness has descended.

3. Tình thương và tham thiền là phương tiện gia tăng ánh sáng của người đệ tử trong thế gian, để y có thể trở thành ngọn hải đăng cho nhân loại đang chìm trong bóng tối.

4. The Master turns almost ‘passionate’ is asking His disciples to show more love. He is calling for the assertion of the “will-to-love”. In fact, He is simply demanding that they love—more than they ever believed possible.

4. Chân sư trở nên gần như ‘tha thiết mãnh liệt’ khi yêu cầu các đệ tử của Ngài biểu lộ nhiều tình thương hơn. Ngài đang kêu gọi sự khẳng định “Ý Chí-Yêu Thương”. Thực ra, Ngài chỉ đơn giản đòi hỏi họ yêu thương—nhiều hơn mức họ từng tin là có thể.

5. Warmth and comforting are sorely needed by those in distress. They can only be produced by the radiation of solar fire—at a time when fire-by-friction had set the lower three worlds ablaze.

5. Những người đang đau khổ rất cần hơi ấm và sự an ủi. Chỉ sự toả chiếu của Lửa Thái dương mới có thể tạo ra những điều ấy—vào thời điểm Lửa ma sát đã khiến ba cõi thấp bùng cháy.

6. DK says something remarkable; He is asking His disciples to become “dependable points of living energy” through which the Masters may pour light, love and power to a needy world. He is asking them to become, in effect, channels for hierarchical energy and force. He is saying that humanity will not weather this great storm if such channels for hierarchical energy/force cannot be found. One sees here a tremendous call to responsible action—both objective and subjective.

6. Chân sư DK nói một điều đáng chú ý; Ngài yêu cầu các đệ tử của Ngài trở thành “những điểm năng lượng sống động đáng tin cậy”, qua đó các Chân sư có thể tuôn đổ ánh sáng, tình thương và quyền năng vào một thế giới đang cần được trợ giúp. Thực chất, Ngài yêu cầu họ trở thành những kênh dẫn năng lượng và mãnh lực của Thánh đoàn. Ngài đang nói rằng nhân loại sẽ không vượt qua được cơn bão lớn này nếu không thể tìm ra những kênh dẫn năng lượng/mãnh lực như thế của Thánh đoàn. Ở đây, chúng ta thấy một lời kêu gọi mạnh mẽ hướng đến hành động có trách nhiệm—cả khách quan lẫn chủ quan.

7. It is clear that that Master, having spoken of what mobilization requires, is seeking to mobilize His disciples during an hour of great and dire need.

7. Rõ ràng, sau khi nói về những yêu cầu của sự huy động, Chân sư đang tìm cách huy động các đệ tử của Ngài trong một thời điểm nhu cầu hết sức lớn lao và cấp bách.

8. The Master calls not just for personality effort but for the strenuous exertion of the soul. His disciples must act as souls. The three aspects of the personality, he warns, will seem to interfere. The apathy of the physical body and brain, the inertia of the feeling nature and the sense of futility generated by the lower mind will all stand opposed the attempt to mobilize all resources under the soul and on behalf of humanity. It is good to know one’s enemy, even if that enemy is oneself!

8. Chân sư không chỉ kêu gọi nỗ lực của phàm ngã mà còn kêu gọi sự gắng sức mạnh mẽ của linh hồn. Các đệ tử của Ngài phải hành động như những linh hồn. Ngài cảnh báo rằng ba phương diện của phàm ngã sẽ có vẻ cản trở. Sự thờ ơ của thể xác và bộ não, tính trì trệ của bản chất cảm xúc và cảm giác bất lực do hạ trí tạo ra, tất cả đều sẽ chống lại nỗ lực huy động mọi nguồn lực dưới sự dẫn dắt của linh hồn và vì nhân loại. Biết kẻ thù của mình là điều tốt, ngay cả khi kẻ thù ấy là chính mình!

9. Although the Master asks for nothing “spectacular” or “impossible”, what He does call for will be spiritually strenuous.

9. Mặc dù Chân sư không yêu cầu điều gì “ngoạn mục” hay “bất khả thi”, điều Ngài thực sự kêu gọi sẽ đòi hỏi sự gắng sức mạnh mẽ về tinh thần.

10. It is my impression that we should respond to these words as if they applied to us in our present world situation. There are analogies between present times and the 1930’s. We are building towards a subjective ‘war’ which is already being fought out within the subtle bodies. There is a kind of fanaticism sweeping through various populations in the world which must be contained, transmuted and transformed. This dangerous fanatical streak, affecting a number of nations and religions will be contained, transmuted and transformed if disciples will seize their opportunity and mobilize themselves just as Master DK has advised.

10. Tôi có cảm tưởng rằng chúng ta nên đáp ứng những lời này như thể chúng áp dụng cho chúng ta trong tình hình thế giới hiện nay. Có những điểm tương đồng giữa thời đại hiện nay và những năm 1930. Chúng ta đang tiến dần đến một ‘cuộc chiến’ chủ quan vốn đã diễn ra trong các thể vi tế. Một dạng cuồng tín đang lan tràn qua nhiều cộng đồng dân cư trên thế giới cần phải được kiềm chế, chuyển hoá và chuyển đổi. Khuynh hướng cuồng tín nguy hiểm này, đang ảnh hưởng đến một số quốc gia và tôn giáo, sẽ được kiềm chế, chuyển hoá và chuyển đổi nếu các đệ tử nắm bắt cơ hội và huy động toàn bộ sức mình đúng như Chân sư DK đã khuyên.

11. During the 1930’s most people in Western nations did not realize the full scope of the dire calamity which loomed ahead. The same may be the case presently, and the calamity could be far, far worse. Thus, this call for mobilization is not a thing of the past and of merely historical interest; it is call which we, disciples in the early twenty-first century, cannot fail to heed.

11. Trong những năm 1930, phần lớn người dân ở các quốc gia phương Tây chưa nhận ra toàn bộ quy mô của tai hoạ khủng khiếp đang chực chờ phía trước. Hiện nay có thể cũng như vậy, và tai hoạ có thể tồi tệ hơn rất, rất nhiều. Vì vậy, lời kêu gọi huy động toàn bộ sức mình này không phải là chuyện của quá khứ và chỉ đáng quan tâm về mặt lịch sử; đó là lời kêu gọi mà chúng ta, những đệ tử vào đầu thế kỷ hai mươi mốt, không thể không lưu tâm.

Again I point the Way to you and again I wait. Will you intensify your inner life and achieve the power which will enable you to live simultaneously as an efficient human being and a living, loving soul? It is the establishing of the continuity of this dual process which is your main need at this time; it will lead to fusion, personality coordination and a greatly increased efficiency. Many disciples are not young and the settled habit of thought and of the feeling life is not easy to disrupt. They must, however, be disrupted and you must feel no resentment. The rhythms of the personality are stabilised and constitute your line of least resistance. You must cut athwart these, thus forming the cross of life and existence will then take on added difficulty. The results will be new rhythms of beauty.

Một lần nữa, Tôi chỉ Đường Đạo cho các bạn và một lần nữa Tôi chờ đợi. Các bạn có tăng cường đời sống bên trong và đạt được quyền năng cho phép mình đồng thời sống như một con người làm việc hiệu quả và một linh hồn sống động, đầy yêu thương không? Nhu cầu chính của các bạn lúc này là thiết lập tính liên tục của tiến trình kép ấy; điều đó sẽ dẫn đến sự dung hợp, sự phối hợp phàm ngã và hiệu quả gia tăng rất nhiều. Nhiều đệ tử không còn trẻ, và những thói quen đã ăn sâu trong tư tưởng và đời sống cảm xúc không dễ phá vỡ. Tuy nhiên, phải phá vỡ chúng, và các bạn không được cảm thấy oán giận. Các nhịp điệu của phàm ngã đã ổn định và tạo thành con đường ít trở ngại nhất của các bạn. Các bạn phải cắt ngang những nhịp điệu ấy, qua đó tạo thành thập giá của sự sống, và khi ấy cuộc sống sẽ thêm khó khăn. Kết quả sẽ là những nhịp điệu mới đầy vẻ đẹp.

1. The Master cannot do for us. He can surround us with love and inspiration and provide us with illumination, but He cannot do for us what we must do for ourselves.

1. Chân sư không thể làm thay chúng ta. Ngài có thể bao bọc chúng ta bằng tình thương và cảm hứng, ban cho chúng ta sự soi sáng, nhưng Ngài không thể làm thay những điều chúng ta phải tự làm cho mình.

2. The Master has already done much for us (and for all His disciples). Now, He waits.

2. Chân sư đã làm rất nhiều cho chúng ta (và cho tất cả các đệ tử của Ngài). Giờ đây, Ngài chờ đợi.

3. The intensification of the inner life is the main requirement, and if rightly done will make the dual life of the soul possible. The “efficient human being” is the intelligent personality and it represents the third aspect of divinity. The “living loving soul” is the spirit-inspired soul, representing the second aspect as it is inspired by the first.

3. Tăng cường đời sống bên trong là yêu cầu chính, và nếu thực hiện đúng cách, điều này sẽ khiến đời sống kép của linh hồn trở nên khả thi. Một “con người hoạt động hiệu quả” là phàm ngã thông tuệ và đại diện cho phương diện thứ ba của thiên tính. Một “linh hồn sống động, đầy tình thương” là linh hồn được tinh thần truyền cảm hứng, đại diện cho phương diện thứ hai khi phương diện này nhận cảm hứng từ phương diện thứ nhất.

4. Disciples may be able to live the dual life successfully from time to time, but not with “continuity”. This they must do. If we are to be dependable, the continuity factor must be mastered.

4. Các đệ tử có thể thỉnh thoảng sống đời sống kép một cách thành công, nhưng chưa có tính “liên tục”. Họ phải làm được điều này. Nếu muốn trở thành những người đáng tin cậy, chúng ta phải làm chủ yếu tố liên tục.

5. Rightly done, both the radiation of love and personality coordination will increase. We shall see a desirable fusion of the two and the three.

5. Nếu thực hiện đúng cách, cả sự tỏa chiếu tình thương lẫn sự phối hợp của phàm ngã đều sẽ gia tăng. Chúng ta sẽ thấy sự dung hợp đáng mong muốn giữa hai và ba.

6. It becomes clear that DK is not pampering His chela’s sense of comfort. We know that the “love of comfort” is one of the physical heads of the ninefold Hydra.

6. Rõ ràng Chân sư DK không nuông chiều nhu cầu hưởng sự an nhàn của đệ tử của Ngài. Chúng ta biết rằng “sự yêu thích an nhàn” là một trong những cái đầu thuộc phương diện hồng trần của con quái vật Hydra cửu phân.

7. DK is really calling for the beneficent disruption of the personality life—and this without the customary resentment which can be expected from most people when their personality life is disturbed (let alone, disrupted!).

7. Chân sư DK thực sự đang kêu gọi sự phá vỡ mang lại lợi ích đối với đời sống phàm ngã—và điều này phải diễn ra mà không có sự oán giận thường thấy ở hầu hết mọi người khi đời sống phàm ngã của họ bị xáo trộn (huống chi là bị phá vỡ!).

8. The term “line of least resistance” is especially connected to the third aspect of divinity which (when associated with the personality) often seeks expediency rather than principle.

8. Thuật ngữ “con đường ít trở ngại nhất” đặc biệt liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính, vốn thường tìm kiếm sự tiện lợi hơn là nguyên tắc khi gắn với phàm ngã.

9. DK tells us how we may form the “cross of life”—by cutting athwart our personality rhythms with new rhythms of beauty. Pain will increase but the gain will be immense.

9. Chân sư DK cho chúng ta biết cách tạo nên “thập giá của sự sống”—bằng cách dùng những nhịp điệu mới của cái đẹp cắt ngang các nhịp điệu phàm ngã của chúng ta. Đau khổ sẽ gia tăng, nhưng thành quả sẽ vô cùng lớn lao.

10. How many will rise to such a challenge, and cut across the habits of a lifetime?

10. Có bao nhiêu người sẽ vươn lên đáp ứng một thử thách như thế và phá bỏ những thói quen của cả một đời?

To those who are standing in the blaze of pain (and their numbers are Legion), of agony, anxiety and distress—seeing it on every hand and attempting to stand steady in the midst of it all—I say: That which appears is not always that which truly is; that which rends and disrupts the personality life is frequently the agent of release, if rightly apprehended; that which will emerge when the Forces of Light have penetrated the world darkness will demonstrate the nature of the undying human [101] spirit. To all of you I say: My love surrounds you and the aura of the Ashram of which I am the centre stands like a great defending wall around you and around all who are battling for the right. See that you battle. You can then, if you will, sense this loving protection. Each day, if you will, you can put yourself en rapport with your Master. We are not blind or uncaring. We know, however, that there are worse evils than death and pain. We know that this is the hour of humanity’s greatest opportunity and that if men can pass triumphantly through this and (by the strength of their own souls) surmount this very present evil, then the evolution of humanity will be hastened beyond all that was believed possible. It will constitute a release, self-achieved and self-initiated. This means as much in the life of mankind as it means in the life of the individual disciple. That chance and that opportunity must not be taken from man; the gained spiritual and eternal values are of far greater importance than his temporary agony.

Với những ai đang đứng giữa ngọn lửa đau khổ (và họ đông vô kể), giữa nỗi thống khổ, lo âu và khốn khó—chứng kiến những điều ấy ở khắp mọi nơi và cố gắng đứng vững giữa tất cả những điều ấy—Tôi nói: Những gì hiện ra không phải lúc nào cũng là thực tại; những gì xé toạc và phá vỡ đời sống phàm ngã thường là tác nhân giải thoát, nếu được nhận thức đúng đắn; những gì sẽ xuất hiện khi các Mãnh Lực Ánh Sáng xuyên qua bóng tối của thế gian sẽ biểu lộ bản chất của tinh thần [101] bất diệt nơi con người. Với tất cả các bạn, Tôi nói: Tình thương của Tôi bao quanh các bạn, và hào quang của ashram mà Tôi là trung tâm đứng như một bức tường phòng vệ lớn bao quanh các bạn cùng tất cả những ai đang chiến đấu vì lẽ phải. Hãy chắc chắn rằng các bạn đang chiến đấu. Khi ấy, nếu muốn, các bạn có thể cảm nhận sự bảo vệ đầy tình thương này. Mỗi ngày, nếu muốn, các bạn có thể tự hòa điệu với Chân sư của mình. Chúng Tôi không mù quáng hay thờ ơ. Tuy nhiên, Chúng Tôi biết rằng có những điều xấu xa còn tệ hơn cái chết và đau khổ. Chúng Tôi biết đây là thời điểm cơ hội lớn nhất của nhân loại, và nếu con người có thể vượt qua thời điểm này một cách vẻ vang, đồng thời vượt lên trên cái ác đang hiện hữu này bằng sức mạnh của chính linh hồn mình, thì tiến hoá của nhân loại sẽ được đẩy nhanh vượt xa mọi điều từng được cho là khả thi. Điều đó sẽ tạo nên một sự giải thoát do chính con người đạt được và tự khởi xướng. Điều này có ý nghĩa trong đời sống nhân loại cũng lớn lao như trong đời sống của người đệ tử cá nhân. Không được tước đi vận hội và cơ hội ấy của con người; những giá trị tinh thần và vĩnh cửu đạt được có tầm quan trọng lớn hơn rất nhiều so với nỗi thống khổ tạm thời của họ.

1. The Master is now writing to many who may not be His disciples. He seems to be speaking to all of distressed humanity, and especially to those who can stand.

1. Giờ đây, Chân sư đang viết cho nhiều người có thể không phải là đệ tử của Ngài. Dường như Ngài đang nói với toàn thể nhân loại đang khốn khổ, và đặc biệt với những ai có thể đứng vững.

2. DK is exhorting us to understand the difference between the distress, anxiety and agony which appear on the surface of life, and the deeper issues which are at stake as well as the wondrous possibilities which are emerging.

2. Chân sư DK đang khuyên chúng ta thấu hiểu sự khác biệt giữa nỗi khốn khó, lo âu và thống khổ hiện ra trên bề mặt đời sống với những vấn đề sâu xa hơn đang bị đặt vào tình thế nguy nan, cũng như những khả năng kỳ diệu đang xuất hiện.

3. Death, He says, may be release from limitation and will reveal the “nature of the undying human spirit”.

3. Ngài nói rằng cái chết có thể là sự giải thoát khỏi giới hạn và sẽ bộc lộ “bản chất của tinh thần bất diệt nơi con người”.

4. The Master assures His disciples of the love of the Ashram; that love protects them “like a great defending wall”.

4. Chân sư bảo đảm với các đệ tử của Ngài về tình thương của ashram; tình thương ấy bảo vệ họ “như một bức tường phòng vệ lớn”.

5. The Master calls for His disciples to “battle”.

5. Chân sư kêu gọi các đệ tử của Ngài “chiến đấu”.

6. He also says they may put themselves in rapport with their Master. Here He means not only Himself, but Master M, KH, and R—Who are the actual Masters of a number of those He has under training.

6. Ngài cũng nói rằng họ có thể tự hòa điệu với Chân sư của mình. Ở đây, Ngài không chỉ muốn nói đến chính Ngài mà còn đến Chân sư M, Chân sư KH và Chân sư R—Các Ngài là những Chân sư thực sự của một số người đang được Ngài huấn luyện.

7. The Master shares the perspective of Hierarchy. He calls the dire conditions of the moment “humanity’s greatest opportunity”, and promises the hastening of human evolution to a degree beyond all believed possible, if humanity surmounts the evil. Indeed, humanity did surmount the evil and may be in the process of greatly accelerated evolution.

7. Chân sư chia sẻ quan điểm của Thánh đoàn. Ngài gọi những hoàn cảnh khốc liệt hiện thời là “cơ hội lớn nhất của nhân loại”, và hứa rằng tiến hoá của con người sẽ được đẩy nhanh đến một mức độ vượt xa mọi điều từng được cho là khả thi, nếu nhân loại vượt qua được cái ác. Quả thực, nhân loại đã vượt qua cái ác và có thể đang ở trong một tiến trình tiến hoá được đẩy nhanh rất nhiều.

8. The Second World War thus presented opportunity for release from many imprisoning chains of the “old world”. Humanity’s victory in that war would be “self achieved and self-initiated”. Every disciple, microcosmically, must achieve victory by himself/herself, and that victory must be self-initiated. We can see WWII as a tremendous moment of responsibility for the human race.

8. Như vậy, Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã mang lại cơ hội giải thoát khỏi nhiều xiềng xích giam hãm của “thế giới cũ”. Chiến thắng của nhân loại trong cuộc chiến ấy sẽ là chiến thắng “do chính mình đạt được và tự khởi xướng”. Ở quy mô tiểu thiên địa, mỗi đệ tử phải tự mình giành chiến thắng, và chiến thắng ấy phải do chính mình khởi xướng. Chúng ta có thể xem Chiến tranh Thế giới thứ Hai là một thời điểm nhân loại gánh vác trách nhiệm vô cùng lớn lao.

9. Then, the perspective of Hierarchy (so different from the human perspective) emerges in the following words: “That chance and that opportunity must not be taken from man; the gained spiritual and eternal values are of far greater importance than his temporary agony”.

9. Rồi quan điểm của Thánh đoàn (khác xa quan điểm của con người) hiện rõ trong những lời sau: “Không được tước đi vận hội và cơ hội ấy của con người; những giá trị tinh thần và vĩnh cửu đạt được có tầm quan trọng lớn hơn rất nhiều so với nỗi thống khổ tạm thời của họ”.

10. The war lasted, let us say, five or six years. From a greater perspective, the war began in 1914 and lasted until 1945. To Hierarchy the suffering of humanity during that period was a “temporary agony” leading to “gained spiritual and eternal values”—the values of soul and spirit.

10. Cuộc chiến kéo dài năm hoặc sáu năm. Từ một góc nhìn rộng hơn, cuộc chiến bắt đầu vào năm 1914 và kéo dài đến năm 1945. Đối với Thánh đoàn, sự đau khổ của nhân loại trong thời kỳ ấy là một “nỗi thống khổ tạm thời” dẫn đến “những giá trị tinh thần và vĩnh cửu đạt được”—những giá trị của linh hồn và tinh thần.

11. Saturn, in one way ‘Lord of Pain’ is also the ‘One Who presents opportunity’. Opportunity is not the pleasant thing which most people imagine. For a disciple, opportunity may be, indeed, a ‘dire and drastic presentation’ calling for the mobilization of all his/her latent personal, individual and spiritual resources. Thus the unmistakable opportunity for great growth.

11. Theo một phương diện, Sao Thổ là ‘Chúa Tể của Đau Khổ’, đồng thời cũng là ‘Đấng mang đến cơ hội’. Cơ hội không phải là điều dễ chịu như phần đông mọi người tưởng tượng. Quả thực, đối với một đệ tử, cơ hội có thể là ‘một tình thế khốc liệt và quyết liệt được đặt ra’, đòi hỏi huy động mọi nguồn lực cá nhân, cá thể và tinh thần còn tiềm ẩn của mình. Do đó, đây rõ ràng là cơ hội để tăng trưởng lớn lao.

12. How do we look at opportunity? Is it, for us, purely a Jupiterian matter, or have we understood how Saturn and Pluto in Their first ray aspects can present immense opportunities?

12. Chúng ta nhìn nhận cơ hội như thế nào? Đối với chúng ta, đó có hoàn toàn là vấn đề thuộc Sao Mộc, hay chúng ta đã thấu hiểu cách Sao Thổ và Sao Diêm Vương, trong các phương diện cung một của Các Ngài, có thể mang đến những cơ hội vô cùng lớn lao?

Little as you may realise it as you think of Us in Our so-called safe retreats, the capacity of identification with all that is involved in world pain today and the sensitivity of Those connected with the Hierarchy to the unhappy condition of humanity makes Their task of standing-by one of supreme spiritual agony. They understand the depths of the reaction of humanity; they comprehend and understand, for They are one with all men. This involves a far greater comprehension than you can grasp and one which can only be adequately expressed in the word “identification. ” They need the staunch support of all Their disciples, the steadfast love, the loyal attitude, the unquestioning response to human need which will enable Them to carry more easily the heavy burden which human karma has laid upon Them and which They carry voluntarily.

Có lẽ các bạn ít nhận ra điều này khi nghĩ đến Chúng Tôi trong những nơi ẩn cư được gọi là an toàn của Chúng Tôi: khả năng đồng hoá với tất cả những gì liên quan đến nỗi đau khổ của thế giới ngày nay, cùng sự nhạy cảm của các Đấng liên hệ với Thánh đoàn trước tình cảnh bất hạnh của nhân loại, khiến nhiệm vụ túc trực bên cạnh của Các Ngài trở thành một nỗi thống khổ tinh thần tột cùng. Các Ngài thấu hiểu những tầng sâu trong phản ứng của nhân loại; Các Ngài lĩnh hội và thấu hiểu, vì Các Ngài hợp nhất với mọi người. Điều này bao hàm một sự lĩnh hội sâu xa hơn rất nhiều so với khả năng nắm bắt của các bạn, và chỉ có thể diễn đạt đầy đủ bằng từ “đồng hoá”. Các Ngài cần sự hỗ trợ kiên định của tất cả các đệ tử, tình thương bền vững, thái độ trung thành và sự đáp ứng không chút do dự trước nhu cầu của con người; những điều ấy sẽ giúp Các Ngài gánh vác nhẹ nhàng hơn gánh nặng mà nghiệp quả nhân loại đã đặt lên Các Ngài và Các Ngài tự nguyện mang lấy.

1. DK speaks of the agony and suffering of the Masters—apparently “safe” in Their retreats, but identified with humanity to such an extent that Their “standing by” is an act of “supreme spiritual agony”. Let us ponder on this.

1. Chân sư DK nói về nỗi thống khổ và đau đớn của các Chân sư—bề ngoài có vẻ “an toàn” trong những nơi ẩn cư của Các Ngài, nhưng lại đồng hoá với nhân loại sâu sắc đến mức việc “túc trực bên cạnh” của Các Ngài là một hành động mang “nỗi thống khổ tinh thần tột cùng”. Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này.

2. The Masters are not removed and remote, but are deeply identified with humanity; in fact, They are “one with all men”. Let us ponder on this.

2. Các Chân sư không tách biệt và xa cách, mà đồng hoá sâu sắc với nhân loại; thực ra, Các Ngài “hợp nhất với mọi người”. Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này.

3. Again the Masters’ perspective is brought forward. The Masters need the staunch support of all Their disciples, the steadfast love, the loyal attitude, the unquestioning response to human need—so great is the burden which human karma has laid upon Them (though They carry this karma voluntarily). DK’s occasional revelation of the Master’s situation and His need of His disciples’ help must surely have been evocative of that help. What does it evoke in us?

3. Một lần nữa, quan điểm của các Chân sư được nêu ra. Các Chân sư cần sự hỗ trợ kiên định của tất cả các đệ tử, tình thương bền vững, thái độ trung thành và sự đáp ứng không chút do dự trước nhu cầu của con người—vì gánh nặng mà nghiệp quả nhân loại đặt lên Các Ngài quá lớn lao (dù Các Ngài tự nguyện gánh lấy nghiệp quả này). Việc Chân sư DK thỉnh thoảng mặc khải hoàn cảnh của Chân sư và nhu cầu của Ngài về sự trợ giúp từ các đệ tử hẳn đã khơi dậy sự trợ giúp ấy. Điều đó khơi dậy điều gì trong chúng ta?

4. So often we assume an attitude of ‘spiritual dependency’ upon the Master; we want to be carried, loved, supported, strengthened, inspired. We do not think of the burdens upon Them; DK has reminded us, has He not, of the tremendous burdens which the Christ will assume as He reappears. The word “horror” has been used in this connection, describing how the Christ must view the enormity of His impending task.

4. Chúng ta rất thường có thái độ ‘nương tựa về mặt tinh thần’ vào Chân sư; chúng ta muốn được nâng đỡ, yêu thương, hỗ trợ, củng cố sức mạnh và truyền cảm hứng. Chúng ta không nghĩ đến những gánh nặng trên vai Các Ngài; chẳng phải Chân sư DK đã nhắc chúng ta về những gánh nặng vô cùng lớn lao mà Đức Christ sẽ đảm nhận khi Ngài tái lâm hay sao. Từ “kinh hoàng” đã được dùng trong mối liên hệ này để mô tả cách Đức Christ hẳn phải nhìn nhận tầm vóc khủng khiếp của nhiệm vụ sắp tới của Ngài.

“Because of the smallness of our little planet, and because of the prevalence of the radio, of television and the rapidity of communication, His part will be watched by all and the prospect must surely, for Him, hold certain horror, must present its tests and major adjustments, plus painful and unavoidable experience. He does not come as the omnipotent God of man’s ignorant creation, but as the Christ, the Founder of the Kingdom of God on Earth, to complete the work He started, and again to demonstrate divinity in far more difficult circumstances” (ROC 55).

“Vì hành tinh nhỏ bé của chúng ta có kích thước hạn chế, và vì sự phổ biến của phát thanh, truyền hình cùng tốc độ truyền thông nhanh chóng, mọi người sẽ theo dõi vai trò của Ngài; và viễn cảnh ấy hẳn phải chứa đựng một nỗi kinh hoàng nhất định đối với Ngài, hẳn phải đặt ra những thử thách và điều chỉnh lớn lao, cùng những trải nghiệm đau đớn không thể tránh khỏi. Ngài không đến với tư cách Thượng đế toàn năng do sự vô minh của con người tạo ra, mà với tư cách Đức Christ, Đấng Sáng Lập Thiên Giới trên Trái Đất, để hoàn tất công việc Ngài đã khởi đầu và một lần nữa biểu lộ thiên tính trong những hoàn cảnh khó khăn hơn rất nhiều” (ROC 55).

5. To what degree do we care? To what degree are we ready to lighten the burden of our superiors? Much will depend upon our answer.

5. Chúng ta quan tâm đến mức nào? Chúng ta sẵn sàng làm nhẹ gánh nặng của những vị cao hơn mình đến mức nào? Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào câu trả lời của chúng ta.

Will you give this? Will you aid Our work in every possible way, both as personalities, dedicated to service, and as souls who walk the lighted Way? The need of humanity for love and light, the need of the Hierarchy for channels and for those who will work under direction upon the earth can call forth all that you have to give and can evoke your soul (the only true reward that the disciple seeks) in power and love. This will happen to you, if you will forget the little self. [102]

Các bạn có sẵn lòng trao tặng điều này không? Các bạn có trợ giúp công việc của Chúng Tôi bằng mọi cách có thể, vừa với tư cách những phàm ngã hiến mình cho phụng sự, vừa với tư cách những linh hồn bước đi trên Con Đường được Soi Sáng không? Nhu cầu của nhân loại về tình thương và ánh sáng, nhu cầu của Thánh đoàn về những kênh dẫn và những người sẽ làm việc dưới sự chỉ dẫn trên Trái Đất có thể khơi dậy tất cả những gì các bạn có thể trao tặng, đồng thời gợi lên linh hồn các bạn trong quyền năng và tình thương (phần thưởng chân thật duy nhất mà người đệ tử tìm kiếm). Điều này sẽ xảy đến với các bạn nếu các bạn quên đi cái ngã nhỏ bé. [102]

1. This is an irresistible invocation for our aid. We are empowered by the Master’s request. We are needed.

1. Đây là một lời khẩn cầu sự trợ giúp của chúng ta mà chúng ta không thể cưỡng lại. Lời thỉnh cầu của Chân sư tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta. Chúng ta là những người cần thiết.

2. He is asking us to give all we have, both as souls and personalities.

2. Ngài đang yêu cầu chúng ta trao tặng tất cả những gì mình có, cả với tư cách linh hồn lẫn phàm ngã.

3. Humanity’s need for light and love is immense. It is this need which must evoke from us all we have to give.

3. Nhu cầu của nhân loại về ánh sáng và tình thương vô cùng lớn lao. Chính nhu cầu này phải khơi dậy nơi chúng ta tất cả những gì chúng ta có thể trao tặng.

4. Hierarchy’s need for support is immense, and we can become channels for Their great saving force. If we respond rightly to that need and can follow hierarchical direction, our soul will be invoked. This evocation of the soul in power and love is all the true disciple seeks. They seek no other ‘reward’.

4. Nhu cầu của Thánh đoàn về sự hỗ trợ vô cùng lớn lao, và chúng ta có thể trở thành những kênh dẫn cho mãnh lực cứu rỗi vĩ đại của Các Ngài. Nếu chúng ta đáp ứng đúng đắn nhu cầu ấy và có thể tuân theo sự chỉ dẫn của Thánh đoàn, linh hồn chúng ta sẽ được khẩn cầu. Sự gợi lên linh hồn trong quyền năng và tình thương này là tất cả những gì người đệ tử chân chính tìm kiếm. Họ không tìm kiếm bất kỳ ‘phần thưởng’ nào khác.

5. The soul will shine through us if we can respond with all we are to the presented need. We do this by forgetting the “little self”. This forgetfulness is not a strained looking way from that which is our customary focus, but an absorption in service so intense that the “little self” with all its limitations is naturally forgotten.

5. Linh hồn sẽ tỏa sáng qua chúng ta nếu chúng ta có thể đáp ứng bằng toàn bộ con người mình trước nhu cầu đang đặt ra. Chúng ta làm điều này bằng cách quên đi “cái ngã nhỏ bé”. Sự quên mình này không phải là cố gắng căng thẳng để quay mắt khỏi những gì chúng ta thường tập trung vào, mà là sự chuyên tâm phụng sự mãnh liệt đến mức “cái ngã nhỏ bé” cùng mọi giới hạn của nó tự nhiên được quên đi.

6. The Master could not be more sincere or more imploring. What hardness of heart could prevent us from responding to His call? That call is still resounding today.

6. Chân sư không thể chân thành hay tha thiết hơn nữa. Sự chai cứng nào của trái tim có thể ngăn chúng ta đáp ứng lời kêu gọi của Ngài? Lời kêu gọi ấy vẫn còn vang vọng đến hôm nay.

That your knowledge may be transmuted into wisdom and the eye of vision control your living processes and all your undertakings is the desire (deep within my heart) for each and all of you.

Mong tri thức của các bạn được chuyển hoá thành minh triết, và con mắt linh thị điều khiển các tiến trình sống cùng mọi công việc các bạn đảm nhận—đó là nguyện vọng sâu thẳm trong tâm Tôi dành cho từng người và tất cả các bạn.

Your Master, Friend and Teacher,

Chân sư, Người Bạn và Huấn sư của các bạn,

THE TIBETAN

CHÂN SƯ TÂY TẠNG

1. A beautiful benediction closes this instruction and this series of instructions.

1. Một lời ban phúc đẹp đẽ khép lại huấn thị này và cả loạt huấn thị này.

2. The major goals of the training DK is offering are contained in this little prayer. He seeks to see our knowledge transmuted into wisdom and the “eye of vision” (the single eye of the soul) controlling all our “living processes”. We will then be completely under soul-direction.

2. Những mục tiêu chính của sự huấn luyện mà Chân sư DK đang mang đến đều nằm trong lời cầu nguyện ngắn này. Ngài mong thấy tri thức của chúng ta được chuyển hoá thành minh triết và “con mắt linh thị” (con mắt duy nhất của linh hồn) điều khiển mọi “tiến trình sống” của chúng ta. Khi ấy, chúng ta sẽ hoàn toàn ở dưới sự chỉ dẫn của linh hồn.

3. The prayerful desire is deep within the Master’s heart, and it applies to each and all of His disciples including those of us who study with Him and seek to do His bidding today.

3. Nguyện vọng tha thiết ấy nằm sâu trong tâm Chân sư và dành cho từng người cùng tất cả các đệ tử của Ngài, kể cả những người trong chúng ta ngày nay đang học với Ngài và tìm cách thực hiện ý Ngài.

4. Can there be a greater expression of the Master’s love—a love which remains loyal to us as individuals and as groups even through all our fluctuations and moments of ignorant ingratitude? Let us ponder on this.

4. Có thể có biểu hiện nào lớn lao hơn của tình thương nơi Chân sư—một tình thương vẫn trung thành với chúng ta, cả với tư cách cá nhân lẫn nhóm, ngay cả qua mọi dao động và những lúc vô ơn do vô minh của chúng ta? Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này.

Dear Brothers and Sisters,

Các huynh đệ và tỷ muội thân mến,

I am sure you can sense the profundity of what has been offered in this last of Master DK’s instructions in this particular series of instructions. Let us read carefully and ponder deeply. There is much here presented which could transform us from well-meaning probationary disciples into truly accepting and accepted disciples working for the Ashram on behalf of humanity.

Tôi tin chắc các bạn có thể cảm nhận được chiều sâu của những điều được trao truyền trong huấn thị cuối cùng này của Chân sư DK, thuộc loạt huấn thị cụ thể này. Chúng ta hãy đọc kỹ và suy ngẫm sâu sắc. Nhiều điều được trình bày ở đây có thể chuyển đổi chúng ta từ những đệ tử dự bị đầy thiện chí thành những đệ tử thực sự biết chấp nhận và được chấp nhận, làm việc cho ashram vì nhân loại.

Love and Many Blessings,

Thân ái và cầu chúc nhiều phúc lành,

Michael

Michael

Back to the DINA table of contents

Trở lại mục lục DINA

Back to the home page

Trở lại trang chủ

SECTION THREE [673]THE SIX STAGES OF DISCIPLESHIP – PHẦN BA [673]SÁU GIAI ĐOẠN CỦA ĐỊA VỊ ĐỆ TỬ

13. PART I – 13. PHẦN I

commentary by Michael D. Robbins

bình giảng của Michael D. Robbins