Trích nội dung chương
4. All within an Ashram are disciples. The very newest accepted disciple is a disciple, and so are the Master and even the Christ. 4. Tất cả những người trong một ashram đều là đệ tử. Người mới được chấp nhận nhất là một đệ tử, và Chân sư cùng ngay cả Đức Christ cũng vậy.
4. All within an Ashram are disciples. The very newest accepted disciple is a disciple, and so are the Master and even the Christ.
4. Tất cả những người trong một ashram đều là đệ tử. Người mới được chấp nhận nhất là một đệ tử, và Chân sư cùng ngay cả Đức Christ cũng vậy.
5. We are asked to meditate upon “hierarchical progression”—presumably without becoming proudly fixated upon our self-assessed status, or morbidly depressed about the same.
5. Chúng ta được yêu cầu tham thiền về “sự tiến lên theo thứ bậc”—có lẽ là không kiêu hãnh bám chặt vào địa vị do mình tự đánh giá, cũng không suy sụp u uất vì địa vị ấy.
6. Realizing that all disciples wish to advance, Master DK gives us the formula for advancement: “we grow through the medium of our recognitions”. We do not force ourselves forward or subtly try to force others out of the way. We simply persist in expanding our consciousness, knowing that elevation of vibration (and status) occur in this way. It is all a matter of assessing vibration. To be truthful in this assessment, impersonality is required. We want to see things just as they are, without the slightest self-blinding, self-defeating distortion.
6. Nhận biết rằng tất cả các đệ tử đều mong muốn tiến bộ, Chân sư DK trao cho chúng ta công thức để tiến bộ: “chúng ta phát triển thông qua những sự nhận biết của mình”. Chúng ta không ép mình tiến lên hay tìm cách tinh vi buộc người khác tránh đường. Chúng ta chỉ kiên trì mở rộng tâm thức, biết rằng rung động và địa vị được nâng cao theo cách ấy. Tất cả đều là vấn đề đánh giá rung động. Muốn trung thực trong sự đánh giá này, cần có tính phi cá nhân. Chúng ta muốn thấy mọi sự đúng như chúng vốn có, không có chút sai lệch nào khiến mình tự che mắt và tự cản trở.
7. An occult statement of the greatest importance is given re the recognitions through which we grow: A recognition, when it is seen as an aspect or fractional part of a greater whole, is the seed of a major expansion of consciousness. A stabilised expansion of consciousness connotes initiation.
7. Một phát biểu huyền bí có tầm quan trọng bậc nhất được đưa ra về những sự nhận biết mà qua đó chúng ta phát triển: Một sự nhận biết, khi được xem là một phương diện hay một phần nhỏ của một tổng thể lớn hơn, là hạt giống của một sự mở rộng tâm thức lớn lao. Một sự mở rộng tâm thức đã ổn định hàm ý điểm đạo.
8. A formula is given.
8. Một công thức được đưa ra.
1. A recognition, if and when related to the whole within which it occurs, is a seed—the seed of a major expansion of consciousness.
1. Một sự nhận biết, nếu và khi được liên hệ với tổng thể mà trong đó nó xuất hiện, là một hạt giống—hạt giống của một sự mở rộng tâm thức lớn lao.
2. A stabilized expansion of consciousness connotes or suggests initiation.
2. Một sự mở rộng tâm thức đã ổn định hàm ý hay gợi đến điểm đạo.
3. We move, thus, from recognition, to expansion of consciousness, to initiation.
3. Như vậy, chúng ta đi từ sự nhận biết đến sự mở rộng tâm thức, rồi đến điểm đạo.
9. It is this progression which the Master is attempting to promote in our lives, giving little time to the lesser things which our personalities might still crave.
9. Chính tiến trình này là điều Chân sư đang cố gắng thúc đẩy trong đời sống chúng ta, dành ít thời gian cho những điều thứ yếu mà các phàm ngã của chúng ta có thể vẫn khao khát.
It is essential that disciples cultivate the attitude of spiritual recognition and they will find their lives greatly enriched when they do so. Contact with disciples, initiates and Masters is ever evocative in the result. The power they normally and unconsciously wield has a dual effect. It draws out the best and evokes the worst whilst presenting situations with which the disciple must deal. Every disciple is a focal point of power to some degree. The more advanced the disciple, the greater the force or energy which will radiate from him; this necessarily presents situations which the lesser disciple has to handle. The true disciple never does this with intention. The theory (so prevalent among occult groups) that the leader or some senior working disciple must stage situations in order to develop the pupil is contrary to occult law. The moment, however, you step into the range of the radiation of a Master or of any disciple senior to you, then things are bound to happen in your life. The radiation is effective when rightly received, registered and consciously used to bring about the sensed and needed changes. Eventually when the disciple’s vibration is constant and responsive to the higher one, the two can then be synchronised. [741] It is this synchronisation which characterises all grades of initiates and which indicates to an initiate of a higher degree that an initiate or disciple of a lower grade can be admitted into the higher ranks. Synchronisation is the key to initiation.
Điều thiết yếu là các đệ tử phải vun bồi thái độ nhận biết tinh thần, và khi làm như thế, họ sẽ thấy đời sống của mình phong phú hơn rất nhiều. Sự tiếp xúc với các đệ tử, điểm đạo đồ và Chân sư luôn có tác dụng khơi dậy. Quyền năng mà Các Ngài và họ thường vận dụng một cách vô thức có tác dụng kép. Nó khơi dậy điều tốt đẹp nhất và gợi lên điều tồi tệ nhất, đồng thời tạo ra những tình huống mà đệ tử phải xử lý. Mỗi đệ tử đều là một tiêu điểm quyền năng ở một mức độ nào đó. Đệ tử càng tiến xa thì mãnh lực hay năng lượng tỏa ra từ y càng lớn; điều này tất yếu tạo ra những tình huống mà đệ tử ít tiến bộ hơn phải xử lý. Đệ tử chân chính không bao giờ cố ý làm điều này. Quan niệm rất phổ biến trong các nhóm huyền bí rằng người lãnh đạo hay một đệ tử thâm niên đang hoạt động phải dàn dựng các tình huống để phát triển môn sinh là trái với định luật huyền bí. Tuy nhiên, ngay khi các bạn bước vào phạm vi bức xạ của một Chân sư hay bất kỳ đệ tử nào tiến xa hơn mình, những biến cố tất yếu sẽ xảy ra trong đời sống các bạn. Bức xạ ấy phát huy hiệu quả khi được tiếp nhận đúng đắn, ghi nhận và sử dụng một cách có ý thức để tạo ra những thay đổi mà đệ tử cảm nhận là cần thiết. Cuối cùng, khi rung động của đệ tử trở nên ổn định và đáp ứng với rung động cao hơn, hai rung động ấy có thể đồng bộ hoá. [741] Chính sự đồng bộ hoá này đặc trưng cho mọi cấp bậc điểm đạo đồ và cho một điểm đạo đồ cấp cao hơn biết rằng có thể thu nhận một điểm đạo đồ hay đệ tử cấp thấp hơn vào những hàng ngũ cao hơn. Đồng bộ hoá là chìa khóa của điểm đạo.
1. Our task, in light of this discussion, is to “cultivate the attitude of spiritual recognition”. In short, this means that we will be viewing all things in terms of their meaning and eventually of their significance.
1. Qua cuộc thảo luận này, nhiệm vụ của chúng ta là “vun bồi thái độ nhận biết tinh thần”. Nói ngắn gọn, điều này có nghĩa là chúng ta sẽ nhìn mọi sự theo ý nghĩa và cuối cùng là thâm nghĩa của chúng.
2. An accepted disciple is in increasing contact with higher disciples, initiates and the Master. This will bring about significant changes in his life. With such impacts (evoking from him his best and worst) he has to learn to deal—again impersonally.
2. Một đệ tử được chấp nhận ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với các đệ tử bậc cao, các điểm đạo đồ và Chân sư. Điều này sẽ đem lại những thay đổi đáng kể trong cuộc sống của y. Y phải học cách xử lý những tác động ấy (khơi dậy nơi y cả những gì tốt đẹp nhất lẫn tệ hại nhất)—một lần nữa, theo cách phi cá nhân.
3. Masters and initiates wield this power unconsciously. It is the result of Their radiation. They do not seek (against occult law) the means to stage disruptive circumstances in the lives of their disciples. The disruption will occur as a matter of course. In fact, a Master may even seek to offset an inevitable disruption. The Masters do not walk amongst men, largely for the protection of men!
3. Các Chân sư và điểm đạo đồ vận dụng quyền năng này một cách vô thức. Đó là kết quả từ sự bức xạ của Các Ngài. Các Ngài không tìm cách (trái với định luật huyền bí) dàn dựng những hoàn cảnh gây xáo trộn trong cuộc sống của các đệ tử mình. Sự xáo trộn sẽ tự nhiên xảy ra. Thật vậy, một Chân sư thậm chí có thể tìm cách hóa giải một sự xáo trộn không thể tránh khỏi. Các Chân sư không đi lại giữa nhân loại, phần lớn là để bảo vệ con người!
4. To “stage” disruptive situations with the motive of producing growth in a lesser disciple is manipulative and, DK tells us, “against occult law”, which ever respects the freedom of will.
4. Việc “dàn dựng” những tình huống gây xáo trộn với động cơ thúc đẩy sự phát triển nơi một đệ tử bậc thấp là hành vi thao túng và, như Chân sư DK cho chúng ta biết, “trái với định luật huyền bí”, vốn luôn tôn trọng tự do ý chí.
5. So, when the less developed step into the range of radiation of the more developed, big (and often personally upsetting) changes will occur. This we must expect, and not blame the agency through which the personal upset comes. This kind of disruption is inevitable and, ultimately, disturbing in a helpful way.
5. Vì vậy, khi những người kém phát triển hơn bước vào phạm vi bức xạ của những người phát triển hơn, những thay đổi lớn (và thường gây xáo trộn cho cá nhân) sẽ xảy ra. Chúng ta phải dự liệu điều này, và không trách cứ tác nhân qua đó sự xáo trộn cá nhân xảy đến. Loại xáo trộn này là điều không thể tránh khỏi và, xét cho cùng, gây bất ổn theo một cách hữu ích.
6. We learnt that the disruption arising due to contact between the greater and lesser does not last forever. Eventually, largely because of the disruption and the questioning arising through it, the lower learns to synchronize with the higher and a major unification takes place. This unification lead to initiation—the successful approximation by the lower of the vibratory state of the higher.
6. Chúng ta đã học rằng sự xáo trộn phát sinh do tiếp xúc giữa cái cao hơn và cái thấp hơn không kéo dài mãi mãi. Cuối cùng, phần lớn nhờ sự xáo trộn và những câu hỏi nảy sinh từ đó, cái thấp hơn học cách đồng bộ với cái cao hơn, và một sự hợp nhất lớn lao diễn ra. Sự hợp nhất này dẫn đến điểm đạo—cái thấp hơn thành công trong việc tiến gần đến trạng thái rung động của cái cao hơn.
7. If “synchronization is initiation”, we understand that when an initiate of lower degree synchronizes his vibration with an initiation of higher degree, the moment of initiation is indicated and recommendation for advancement can be submitted.
7. Nếu “sự đồng bộ chính là điểm đạo”, chúng ta thấu hiểu rằng khi một điểm đạo đồ ở cấp độ thấp hơn đồng bộ rung động của mình với một cuộc điểm đạo ở cấp độ cao hơn, đó là dấu hiệu cho thấy thời điểm điểm đạo đã đến và có thể đệ trình đề nghị thăng tiến.
8. We can see that a disciple develops according to a scientific process and that an entire science is dedicated to the process of initiation. This is a science we have to learn if we are not to remain only mystics, but add the capacities of an occultist to our mystical foundation.
8. Chúng ta có thể thấy rằng một đệ tử phát triển theo một tiến trình khoa học, và có cả một ngành khoa học dành riêng cho tiến trình điểm đạo. Đây là một ngành khoa học mà chúng ta phải học nếu muốn vượt khỏi chỗ chỉ là những nhà thần bí, để bổ sung các năng lực của một nhà huyền bí học vào nền tảng thần bí của mình.
9. To sense the vibratory frequency and quality of a higher initiate or Master is an act of ‘directed sensitivity’. It can only be performed at the right point of tension. There is no initiation for the one who is not rightly tense.
9. Cảm nhận tần số rung động và phẩm tính của một điểm đạo đồ bậc cao hay một Chân sư là một hành vi ‘nhạy cảm có định hướng’. Chỉ tại điểm tập trung nhất tâm đúng đắn mới có thể thực hiện được điều này. Không có điểm đạo cho người không tập trung nhất tâm đúng cách.
10. Without the attentiveness produced by right tension, there is no synchronization. Without synchronization, there is no initiation.
10. Không có sự chú tâm do sự tập trung nhất tâm đúng đắn tạo ra thì không có sự đồng bộ. Không có sự đồng bộ thì không có điểm đạo.
11. All the necessary qualities for the accepted disciple relate to each other and reinforce each other. Right questioning, the will-to-love, love, generosity, service, tension, proportion, impersonality, divine indifference, hierarchical progression, recognition, expansion, synchronization, initiation—take a little time to see the connections. These are some of the main subjects covered by the Tibetan in this discussion of accepted discipleship.
11. Tất cả những phẩm tính cần thiết cho đệ tử được chấp nhận đều liên hệ và củng cố lẫn nhau. Đặt câu hỏi đúng đắn, Ý Chí-Yêu Thương, tình thương, lòng quảng đại, phụng sự, sự tập trung nhất tâm, tỉ lệ, tính phi cá nhân, Điềm nhiên thiêng liêng, sự tiến triển trong Thánh đoàn, sự nhận biết, sự mở rộng, sự đồng bộ, điểm đạo—hãy dành một chút thời gian để thấy những mối liên hệ ấy. Đó là một số chủ đề chính mà Chân sư Tây Tạng đã đề cập trong phần thảo luận này về địa vị đệ tử được chấp nhận.
12. Do we feel we could come closer to this stage of development? Do we feel we know what to do? What we may have done? What we should continue to do?
12. Chúng ta có cảm thấy mình có thể tiến gần hơn đến giai đoạn phát triển này không? Chúng ta có cảm thấy mình biết phải làm gì không? Mình có thể đã làm được gì? Mình nên tiếp tục làm gì?
13. The accepting disciple becomes the pledged disciple, who becomes, at length, the accepted disciple. Are we on our way? Have we arrived? How are we enriched by knowing the Tibetan’s perspective on this most necessary stage of disciplic development?
13. Đệ tử biết chấp nhận trở thành đệ tử đã phát nguyện, rồi cuối cùng trở thành đệ tử được chấp nhận. Chúng ta đang trên đường tiến đến đó chăng? Chúng ta đã đến nơi chưa? Chúng ta được phong phú thêm như thế nào khi biết quan điểm của Chân sư Tây Tạng về giai đoạn hết sức cần thiết này trong sự phát triển của đệ tử?
14. The accepted disciple is truly a member of the Ashram, though on its periphery. The Masters wish to gather many into Their Ashrams. Hence, we are dealing with what, for many, is the next disciplic achievement.
14. Đệ tử được chấp nhận thực sự là một thành viên của ashram, dù còn ở ngoại vi. Các Chân sư mong muốn quy tụ nhiều người vào các ashram của Các Ngài. Do đó, chúng ta đang bàn đến điều mà đối với nhiều người là thành tựu kế tiếp trên đường đệ tử.
19. PART VIIStage IV. The Chela on the Thread. – 19. PHẦN VIIGiai đoạn IV. Đệ tử trên đường dây.
With these preliminary remarks, let us pass on to another of the Stages on the Path of Discipleship. The fourth stage is described as follows:
Sau những nhận xét mở đầu này, chúng ta hãy chuyển sang một giai đoạn khác trên Con Đường Đệ Tử. Giai đoạn thứ tư được mô tả như sau:
“The stage wherein the disciple is taught how (in emergencies) to attract the Master’s attention. This has the peculiar name of the Chela on the Thread. ”
“Giai đoạn trong đó đệ tử được dạy cách thu hút sự chú ý của Chân sư (trong những trường hợp khẩn cấp). Giai đoạn này mang tên gọi đặc biệt là Đệ tử trên đường dây. ”
1. It is interesting that this stage (involving a more conscious link between the accepted disciple and the Master) is the fourth stage—the number four relating to the planet Mercury, the antahkarana and to all links.
1. Điều thú vị là giai đoạn này (bao hàm một mối liên kết hữu thức hơn giữa đệ tử được chấp nhận và Chân sư) lại là giai đoạn thứ tư—số bốn liên hệ với hành tinh Sao Thủy, với antahkarana và với mọi mối liên kết.
2. We note again that there is a technique for contacting that Master; that the technique is “taught” to the disciple (inwardly); and that the technique can only be used in emergencies.
2. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng có một kỹ thuật để tiếp xúc với Chân sư ấy; rằng kỹ thuật đó được “truyền dạy” cho đệ tử (ở bên trong); và rằng chỉ có thể sử dụng kỹ thuật này trong những trường hợp khẩn cấp.
3. The “emergencies”, we remember, are not personal emergencies, but only those which relate to the execution of the work in relation to the Divine Plan.
3. Chúng ta hãy nhớ rằng những “trường hợp khẩn cấp” ấy không phải là những trường hợp khẩn cấp cá nhân, mà chỉ là những trường hợp liên quan đến việc thực hiện công việc gắn với Thiên Cơ.
The whole question of psychic sensitivity of the higher kind is involved at this stage. I have taught in my writings most clearly and definitely the undesirability of the lower psychic experiences. This has been done as the need to warn aspirants anent this matter is great. The difficulty is enhanced by the fact that lower psychics are not easily reached and warned as they are ever determined that their clairvoyant and clairaudient powers are indicative of the advanced type of high spiritual unfoldment. Their minds are closed to all warnings and they function often behind a barrier of smug self-satisfaction. They forget that the aboriginal races and animals are all psychic and register that which the more mental types fail to record. The rank and file of the people are inherently astral in their activities, their interpretations of phenomena and their attitudes and focus. It is necessary, then, to enforce the warnings and awaken the average psychic to the undesirability of his astral life.
Toàn bộ vấn đề về tính nhạy cảm thông linh bậc cao đều có liên quan đến giai đoạn này. Trong các tác phẩm của mình, Tôi đã giảng dạy hết sức rõ ràng và dứt khoát rằng những trải nghiệm thông linh bậc thấp là điều không đáng mong muốn. Tôi làm như vậy vì nhu cầu cảnh báo những người chí nguyện về vấn đề này là rất lớn. Sự khó khăn càng tăng thêm vì không dễ tiếp cận và cảnh báo những người có năng lực thông linh bậc thấp, bởi họ luôn khăng khăng rằng các quyền năng thông nhãn và thông nhĩ của mình là dấu hiệu của sự khai mở tinh thần cao độ ở trình độ tiến bộ. Thể trí của họ khép kín trước mọi lời cảnh báo, và họ thường hoạt động sau một hàng rào tự mãn. Họ quên rằng các giống người thổ dân và loài vật đều có năng lực thông linh, và ghi nhận những gì mà những người thiên về trí tuệ hơn không ghi nhận được. Đại đa số dân chúng vốn mang tính cảm dục trong các hoạt động, cách diễn giải hiện tượng, thái độ và điểm tập trung của mình. Vì vậy, cần nhấn mạnh những lời cảnh báo và thức tỉnh người có năng lực thông linh thông thường để họ nhận ra rằng đời sống cảm dục của mình là điều không đáng mong muốn.
1. In dealing with the State for Chela on the Thread, DK tells us we are entering a consideration of psychic sensitivity of a higher kind.
1. Khi bàn về trạng thái Đệ tử trên đường dây, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng chúng ta đang bắt đầu xem xét tính nhạy cảm thông linh bậc cao hơn.
2. When we hear this, we understand that the ajna center must necessarily be involved and not the solar plexus—the center used by the average psychic.
2. Khi nghe điều này, chúng ta thấu hiểu rằng nhất thiết phải có sự tham gia của trung tâm ajna, chứ không phải tùng thái dương—trung tâm mà người có năng lực thông linh thông thường sử dụng.
3. The Master re-emphasizes the undesirability of the “lower psychic experience”. He considers the involvement in lower psychism to be a dangerous practice and issues, again, a warning.
3. Chân sư nhấn mạnh một lần nữa rằng “trải nghiệm thông linh bậc thấp” là điều không đáng mong muốn. Ngài xem việc dấn thân vào hoạt động thông linh bậc thấp là một thực hành nguy hiểm, và một lần nữa đưa ra lời cảnh báo.
4. In these days of increasing openness to subtle levels (caused by many factors including the recent world wars), the astral plane is increasingly open to human penetration (and increasingly intrusive in human consciousness). Many people think that any kind of sensitivity to phenomena indicates spiritual development. They do not discriminate between lower and higher sensitivities.
4. Trong thời đại ngày càng cởi mở với các cấp độ vi tế (do nhiều yếu tố gây ra, trong đó có các cuộc thế chiến gần đây), con người ngày càng dễ thâm nhập cõi cảm dục hơn (và cõi này cũng ngày càng xâm nhập nhiều hơn vào tâm thức con người). Nhiều người cho rằng bất kỳ loại nhạy cảm nào đối với các hiện tượng cũng biểu thị sự phát triển tinh thần. Họ không phân biện giữa các tính nhạy cảm bậc thấp và bậc cao.
5. DK places His finger squarely on the problem when He points to the “smug self-satisfaction” which characterizes the average psychic whose mind is closed to the undesirability of his pursuits. To take clairvoyance and clairaudience as indications of high spiritual unfoldment is the prevailing attitude amongst a majority of so-called spiritual people.
5. Chân sư DK chỉ đúng trọng tâm vấn đề khi Ngài nêu ra “sự tự mãn” đặc trưng của người có năng lực thông linh thông thường, người khép kín thể trí trước tính không đáng mong muốn của những gì mình theo đuổi. Xem năng lực thông nhãn và thông nhĩ là dấu hiệu của sự khai mở tinh thần cao độ là thái độ phổ biến nơi đa số những người được gọi là có đời sống tinh thần.
6. Master Morya tells us that when we want to encourage human beings to desist from certain forms of undesirable behavior, we should compare their behavior to that of animals. A justifiable pride in one’s humanity may then rise to the surface and help the person turn away from undesirable (and lower) practices.
6. Chân sư Morya cho chúng ta biết rằng khi muốn khuyến khích con người từ bỏ một số kiểu hành vi không đáng mong muốn, chúng ta nên so sánh hành vi của họ với hành vi của loài vật. Niềm tự hào chính đáng về nhân tính của mình khi đó có thể trỗi dậy và giúp người ấy quay lưng với những thực hành không đáng mong muốn (và thấp kém hơn).
7. Master DK does the same thing when He reminds us that the aboriginal races and animals are psychic, and register psychic phenomena which modern mental man fails to record. This should give us pause to reflect. Not all sensitivities are desirable, and we are, in fact, gaining much by having the door to such sensitivities at least temporarily closed. Higher initiates and Masters are able to employ the full range of sensitivity without compromising the ‘altitude’ of Their consciousness.
7. Chân sư DK cũng làm điều tương tự khi Ngài nhắc chúng ta rằng các giống người thổ dân và loài vật đều có năng lực thông linh, và ghi nhận những hiện tượng thông linh mà con người trí tuệ hiện đại không ghi nhận được. Điều này hẳn phải khiến chúng ta dừng lại suy ngẫm. Không phải mọi tính nhạy cảm đều đáng mong muốn, và thật vậy, chúng ta được lợi rất nhiều khi cánh cửa dẫn đến những tính nhạy cảm ấy đóng lại, ít nhất là tạm thời. Các điểm đạo đồ bậc cao và các Chân sư có thể vận dụng toàn bộ phạm vi nhạy cảm mà không làm suy giảm ‘độ cao’ tâm thức của Các Ngài.
8. The astralism of average people opens them to the psychic realm. Their attitudes, focus and interpretation of phenomena are very largely astral.
8. Tính cảm dục của những người bình thường khiến họ mở ra với lĩnh vực thông linh. Thái độ, điểm tập trung và cách diễn giải hiện tượng của họ phần lớn đều mang tính cảm dục.
9. The Master seeks to elevate the consciousness of His chelas. He cannot sanction their reversion to ancient habits of astrality. The disciple BSW was dropped from the Tibetan’s groups particularly because of such a reversion.
9. Chân sư tìm cách nâng cao tâm thức của các đệ tử Ngài. Ngài không thể tán thành việc họ quay lại những thói quen cảm dục từ xa xưa. Đệ tử BSW đã phải rời khỏi các nhóm của Chân sư Tây Tạng, đặc biệt vì một sự quay lại như thế.
10. Such is the glamor of the times, however, that that which is valueless is seen as valuable; the reverse is also true.
10. Tuy nhiên, ảo cảm của thời đại mạnh đến mức điều vô giá trị lại được xem là có giá trị; điều ngược lại cũng đúng.
Disciples, however, put no aspect of the divine manifestation outside their range of experience. They know that psychism in its lowest phases is a part of the divine expression and is of an essentially higher nature than the purely physical processes of living in the body. A disciple cannot say that now because he is a disciple, he will not be subject to this, that or the other experience. He has to be prepared for all experiences [742] and to face the fact that eventually all disciples have to become psychics, both higher and lower, as was the Christ. The only safeguard for which he works is to prevent the lower powers demonstrating until the higher psychic faculties are functioning; then the lower are controlled and operated (if I might so express it) from the level of the higher consciousness. There is, to the mind of the disciple, only life and form and he is learning to handle the life processes through the medium of the form so as to produce a divine manifestation.
Tuy nhiên, các đệ tử không đặt bất kỳ phương diện nào của sự biểu hiện thiêng liêng ra ngoài phạm vi trải nghiệm của mình. Họ biết rằng năng lực thông linh ở những giai đoạn thấp nhất vẫn là một phần của sự biểu lộ thiêng liêng, và về bản chất cao hơn những tiến trình thuần túy hồng trần của sự sống trong thân thể. Một đệ tử không thể nói rằng giờ đây, vì mình là đệ tử, mình sẽ không phải trải qua trải nghiệm này, trải nghiệm kia hay trải nghiệm khác. Y phải sẵn sàng đón nhận mọi trải nghiệm [742] và đối diện với sự thật rằng cuối cùng, mọi đệ tử đều phải trở thành người có năng lực thông linh, cả bậc cao lẫn bậc thấp, như Đức Christ đã từng như vậy. Biện pháp bảo vệ duy nhất mà y nỗ lực thực hiện là ngăn các quyền năng thấp biểu lộ cho đến khi các năng lực thông linh cao hoạt động; khi đó, các quyền năng thấp sẽ chịu sự kiểm soát và điều hành (nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy) từ cấp độ tâm thức cao hơn. Đối với thể trí của đệ tử, chỉ có sự sống và hình tướng, và y đang học cách xử lý các tiến trình sự sống thông qua hình tướng để tạo ra một sự biểu hiện thiêng liêng.
1. Now DK offers counterbalancing remarks. He seeks to avoid the emergence of a separative, judgmental attitude in the consciousness of His chelas, for there are many who are immediately inclined to dismiss as useless anything that comes from the astral plane.
1. Giờ đây, Chân sư DK đưa ra những nhận xét để tạo thế quân bình. Ngài tìm cách ngăn một thái độ chia rẽ, phán xét nảy sinh trong tâm thức các đệ tử Ngài, vì có nhiều người lập tức có khuynh hướng gạt bỏ mọi thứ đến từ cõi cảm dục như những điều vô dụng.
2. So, the picture is put into proportion. Even lower psychism, we are told, is inherently higher than merely physical bodily processes.
2. Vì vậy, bức tranh được đặt vào một tương quan cân xứng. Chúng ta được cho biết rằng ngay cả năng lực thông linh bậc thấp cũng vốn cao hơn những tiến trình thuần túy hồng trần của thân thể.
3. If disciples are seeking to achieve a unified consciousness (without barriers) they cannot afford to put any aspect of the divine manifestation outsider the range of their experience. They must learn to contact any level at will, while not becoming beguiled by lower phenomena.
3. Nếu các đệ tử đang tìm cách đạt đến một tâm thức hợp nhất (không có rào cản), họ không thể đặt bất kỳ phương diện nào của sự biểu hiện thiêng liêng ra ngoài phạm vi trải nghiệm của mình. Họ phải học cách tiếp xúc với bất kỳ cấp độ nào theo ý muốn, đồng thời không để các hiện tượng thấp mê hoặc.
4. DK states that the greatest of all human psychics, the Christ, was both a higher and lower psychic. However, He knew how to interpret all phenomena, and to understand the real nature of all impressions coming from the astral (and other) planes.
4. Chân sư DK khẳng định rằng Đức Christ, Đấng vĩ đại nhất trong tất cả những người có năng lực thông linh của nhân loại, có năng lực thông linh cả bậc cao lẫn bậc thấp. Tuy nhiên, Ngài biết cách diễn giải mọi hiện tượng và thấu hiểu bản chất thực sự của mọi ấn tượng đến từ cõi cảm dục (và các cõi khác).
5. The day will come when all sensitive people can safely register all astral phenomena, however the higher psychic powers (soul and triadal powers) will have been established in them, and the lower powers will be controlled and interpreted from a higher point of view. Such higher psychics will not allow the focus of their consciousness to ‘descend’ entirely to the lower planes and there become ensnared. They can register the impacts of lower planes and deal with those impacts, but they preserve a ‘high altitude’ in consciousness while so doing.
5. Sẽ đến ngày mọi người nhạy cảm đều có thể ghi nhận một cách an toàn tất cả các hiện tượng cảm dục; tuy nhiên, khi đó các quyền năng thông linh cao hơn (các quyền năng của linh hồn và Tam nguyên tinh thần) đã được thiết lập nơi họ, và các quyền năng thấp hơn sẽ chịu sự kiểm soát và diễn giải từ một quan điểm cao hơn. Những người có năng lực thông linh bậc cao như thế sẽ không để điểm tập trung tâm thức của mình ‘hạ xuống’ hoàn toàn vào các cõi thấp rồi mắc kẹt ở đó. Họ có thể ghi nhận và xử lý những tác động của các cõi thấp, nhưng trong khi làm vậy, họ vẫn duy trì một ‘độ cao lớn’ trong tâm thức.
6. During the period of preparation for the third initiation and following that initiation (when the ajna center has become activated in a new way and higher psychic powers are being rapidly developed) some of the lower psychic powers can be reclaimed as needed for purposes of service. Such an initiate will certainly not mistake that which the lower psychic powers may reveal as reality.
6. Trong thời kỳ chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba và sau lần điểm đạo ấy (khi trung tâm ajna đã được kích hoạt theo một cách mới và các quyền năng thông linh cao hơn đang phát triển nhanh chóng), có thể khôi phục một số quyền năng thông linh thấp hơn khi cần cho mục đích phụng sự. Một điểm đạo đồ như vậy chắc chắn sẽ không nhầm những gì các quyền năng thông linh thấp hơn có thể tiết lộ với thực tại.
7. DK offers a final synthetic perspective. The advanced disciple/initiate sees the divine process as the interplay between life and form. The whole is seen as one even though the various phenomena within that whole may be wisely graded according to truth value.
7. Chân sư DK đưa ra một quan điểm tổng hợp sau cùng. Đệ tử tiến bộ/điểm đạo đồ nhìn tiến trình thiêng liêng như sự tương tác giữa sự sống và hình tướng. Toàn thể được nhìn nhận là một, dù các hiện tượng khác nhau trong toàn thể ấy có thể được phân cấp một cách minh triết theo giá trị chân lý.
8. The later stages of spiritual development are synthetic in nature, and much that was wisely left behind as obstructive may be reclaimed and used in a new way—without the danger of succumbing.
8. Các giai đoạn phát triển tinh thần về sau mang bản chất tổng hợp, và nhiều điều trước kia đã được gác lại một cách minh triết vì gây trở ngại nay có thể được khôi phục và sử dụng theo cách mới—không còn nguy cơ khuất phục trước chúng.
The world today is entering a phase of extreme sensitivity. Disciples must train themselves to help. The shift of the consciousness of ordinary and mediocre individuals will be on to levels of conscious astralism and the veil between the seen and the unseen will rapidly disappear. How can disciples be of service in that difficult period if they have no experience in the distinction and interpretation which must exist between aspects of phenomena? How can they rescue and safeguard others if they fear to enter into realms of life where the lower psychism rules? I am not asking you to cultivate psychic powers, but I do ask you to hold yourselves in guarded readiness to see and hear on all levels of service, and to know what you see and hear, interpreting it correctly, unblinded by prejudice and fear. The Path of Discipleship is not an easy one but its compensations are adequate. Psychic sensitivity is involved in the understanding of this phase of discipleship.
Thế giới ngày nay đang bước vào một giai đoạn cực kỳ nhạy cảm. Các đệ tử phải tự rèn luyện để giúp đỡ. Tâm thức của những cá nhân bình thường và tầm thường sẽ chuyển sang các cấp độ hoạt động cảm dục hữu thức, và bức màn ngăn cách cái hữu hình với cái vô hình sẽ nhanh chóng biến mất. Làm sao các đệ tử có thể phụng sự trong thời kỳ khó khăn ấy nếu họ không có kinh nghiệm phân biệt và diễn giải những khác biệt cần nhận biết giữa các phương diện của hiện tượng? Làm sao họ có thể cứu giúp và bảo vệ người khác nếu họ sợ bước vào những lĩnh vực sự sống nơi năng lực thông linh bậc thấp ngự trị? Tôi không yêu cầu các bạn vun bồi các quyền năng thông linh, nhưng Tôi yêu cầu các bạn giữ mình trong trạng thái sẵn sàng có phòng bị để thấy và nghe trên mọi cấp độ phụng sự, đồng thời biết rõ những gì mình thấy và nghe, diễn giải chúng một cách đúng đắn, không để thành kiến và sợ hãi làm mù quáng. Con Đường Đệ Tử không dễ dàng, nhưng những gì nó đền đáp là xứng đáng. Việc thấu hiểu giai đoạn này của địa vị đệ tử có liên quan đến tính nhạy cảm thông linh.
1. We must accept the implications regarding the extreme sensitivity to be found in today’s world. It has only increased since the time of this writing some seventy years ago (2005).
1. Chúng ta phải chấp nhận những hệ quả liên quan đến tính nhạy cảm cực độ hiện diện trong thế giới ngày nay. Tính nhạy cảm ấy chỉ ngày càng gia tăng kể từ khi những dòng này được viết khoảng bảy mươi năm trước (2005).
2. A disciple is one who helps and serves, and service is needed in relation to astral phenomena and their intrusion into human consciousness.
2. Đệ tử là người giúp đỡ và phụng sự, và cần có sự phụng sự liên quan đến các hiện tượng cảm dục cùng sự xâm nhập của chúng vào tâm thức con người.
3. DK is promising us an astrally sensitive world, in which even “mediocre individuals” (average human beings who have not cultivated themselves spiritually) will enter the world of conscious astralism. This will present a great challenge, for the need for intelligent, understanding, compassionate interpreters will be great.
3. Chân sư DK báo trước cho chúng ta về một thế giới nhạy cảm về mặt cảm dục, trong đó ngay cả “những cá nhân tầm thường” (những người bình thường chưa tu dưỡng tinh thần) cũng sẽ bước vào thế giới hoạt động cảm dục hữu thức. Điều này sẽ đặt ra một thách thức lớn, vì nhu cầu về những người diễn giải thông minh, thấu hiểu và giàu lòng từ bi sẽ rất lớn.
4. Disciples will become those interpreters; therefore they cannot fear astralism, or remain inept (through lack of exposure) at distinguishing the nature and source of various kinds of astral phenomena.
4. Các đệ tử sẽ trở thành những người diễn giải ấy; vì vậy, họ không thể sợ hoạt động cảm dục, hay tiếp tục thiếu khả năng (do thiếu tiếp xúc) phân biệt bản chất và nguồn gốc của các loại hiện tượng cảm dục khác nhau.
5. We see that DK warns the disciple of extensive involvement with the astral plane, but, at the same time, warns against separating oneself from the astral plane. There is a middle path for the disciple to follow; he is to know the dangerous delusions of the astral plane, and yet be familiar enough with them, to offer wise interpretive guidance to those who are ensnared in such delusions.
5. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK cảnh báo đệ tử về việc dấn thân quá sâu vào cõi cảm dục, nhưng đồng thời cũng cảnh báo việc tự tách mình khỏi cõi cảm dục. Có một con đường trung dung để đệ tử đi theo; y phải biết những mê lầm nguy hiểm của cõi cảm dục, nhưng cũng phải đủ quen thuộc với chúng để đưa ra sự hướng dẫn diễn giải minh triết cho những ai đang mắc kẹt trong những mê lầm ấy.
6. The accepted disciple is naturally becoming increasingly sensitive on all the levels of his personality. This sensitivity only increases as years and lives of work in relation to the Master elapse.
6. Đệ tử được chấp nhận tự nhiên ngày càng trở nên nhạy cảm hơn trên mọi cấp độ của phàm ngã mình. Tính nhạy cảm này chỉ ngày càng gia tăng qua những năm tháng và những kiếp sống làm việc trong mối liên hệ với Chân sư.
7. The advice given to all of us who may be more mature disciples, is to hold ourselves in “guarded readiness to see and hear on all levels of service…” Note how the astral plane is referenced not as an area of experience but as an area of service. The true disciple is not interested in astral phenomena as experiences. He views that entire world as an area wherein to assist those who are captivated by their interest in such experiences. The attitude of the mature disciple is detached in this regard.
7. Lời khuyên dành cho tất cả chúng ta, những người có thể là các đệ tử trưởng thành hơn, là giữ mình trong “trạng thái sẵn sàng có phòng bị để thấy và nghe trên mọi cấp độ phụng sự…” Hãy lưu ý cách cõi cảm dục được nhắc đến như một lĩnh vực trải nghiệm đã nhường chỗ cho cách nhìn nó như một lĩnh vực phụng sự. Đệ tử chân chính không quan tâm đến các hiện tượng cảm dục như những trải nghiệm. Y xem toàn bộ thế giới ấy là một lĩnh vực để trợ giúp những người đang bị cuốn hút bởi sự quan tâm của họ đối với những trải nghiệm như vậy. Về phương diện này, thái độ của đệ tử trưởng thành là tách rời.
8. When a disciple is presented with astral phenomena, his response may be conditioned by prejudice and fear. Either attitude will inhibit or distort real vision and understanding. One must fearlessly observe without succumbing to premature and dismissive judgment, otherwise one will never know what is really happening. A delicate balance is required of the disciple who would serve in relation to this powerfully delusive sphere of planetary life.
8. Khi một đệ tử đối diện với các hiện tượng cảm dục, đáp ứng của y có thể chịu ảnh hưởng của thành kiến và sợ hãi. Cả hai thái độ ấy đều sẽ cản trở hoặc bóp méo linh thị và sự thấu hiểu chân thực. Cần quan sát không sợ hãi, không sa vào sự phán xét vội vàng và bác bỏ; nếu không, người ta sẽ không bao giờ biết điều gì thực sự đang diễn ra. Đệ tử muốn phụng sự trong lĩnh vực sự sống hành tinh có sức gây mê lầm mạnh mẽ này cần giữ một thế quân bình tinh tế.
9. DK inserts one of those short memorable statements which should be part of every disciple’s memory bank: “The Path of Discipleship is not an easy one, but its compensations are adequate”. This is, I think, a somewhat dry understatement—deliberately dry. The dryness arrests our attention.
9. Chân sư DK đưa vào một trong những lời phát biểu ngắn gọn, đáng nhớ mà mỗi đệ tử nên lưu giữ trong trí nhớ của mình: “Con Đường Đệ Tử không dễ dàng, nhưng những gì nó đền đáp là xứng đáng”. Tôi nghĩ đây là một cách nói giảm có phần khô khan—khô khan một cách có chủ ý. Chính sự khô khan ấy thu hút sự chú ý của chúng ta.
10. One of the areas of difficulty for the increasingly sensitive disciple is precisely his relationship to the astral plane and to the phenomena of that plane.
10. Một trong những lĩnh vực khó khăn đối với đệ tử ngày càng nhạy cảm chính là mối quan hệ của y với cõi cảm dục và các hiện tượng của cõi ấy.
11. We might ask why DK launches into such a discussion at this point in His description of the Six Stages. It is precisely because “psychic sensitivity is involved in the understanding of this particular phase of discipleship”.
11. Chúng ta có thể hỏi tại sao Chân sư DK lại bắt đầu một cuộc thảo luận như vậy ở điểm này trong phần Ngài mô tả Sáu Giai Đoạn. Chính là vì “việc thấu hiểu giai đoạn đặc biệt này của địa vị đệ tử có liên quan đến tính nhạy cảm thông linh”.
In your thoughts as you endeavour very briefly to study this stage, there must exist a correlation between the chela, the Ashram in which he is working and the Master. This correlation and the growth of this triangular relationship is always brought about through a realisation of tension. There has been much given to students upon the theme of the thread, the sutratma and the antahkarana. This thread leads from the Hierarchy and a point of tension in that Hierarchy (such as the Master at the centre of any Ashram) to distant places, to many planes and into many hearts. This thread enables the disciple (if he has been permitted to learn how to use it) to return instantaneously to his centre of work and to reach at any desired moment the “Master of his life. ” This triangular relation might be depicted thus:
Trong tư tưởng của các bạn, khi các bạn cố gắng nghiên cứu thật ngắn gọn giai đoạn này, phải có một mối tương quan giữa đệ tử, ashram nơi y đang làm việc và Chân sư. Mối tương quan này và sự phát triển của mối quan hệ tam giác ấy luôn hình thành thông qua sự chứng nghiệm trạng thái tập trung nhất tâm. Các đạo sinh đã được truyền dạy nhiều điều về chủ đề sợi dây, sinh mệnh tuyến và antahkarana. Sợi dây này dẫn từ Thánh đoàn và từ một điểm tập trung nhất tâm trong Thánh đoàn ấy (chẳng hạn như Chân sư ở trung tâm của bất kỳ ashram nào) đến những nơi xa xôi, đến nhiều cõi và vào nhiều trái tim. Sợi dây này cho phép đệ tử (nếu y đã được phép học cách sử dụng nó) tức khắc trở về trung tâm làm việc của mình và, vào bất kỳ lúc nào mong muốn, tiếp xúc với “Chân sư của đời mình. ” Có thể mô tả mối quan hệ tam giác này như sau:
1. DK enters into an explanation which may contain important technical hints about the stage of “Chela on the Thread”. A triangular relationship between chela, the Ashram and the Master is emphasized. Actually, in the diagram below, examination will reveal that there are four possible triangles.
1. Chân sư DK bắt đầu một phần giải thích có thể chứa đựng những gợi ý kỹ thuật quan trọng về giai đoạn “Đệ tử trên đường dây”. Mối quan hệ tam giác giữa đệ tử, ashram và Chân sư được nhấn mạnh. Thật ra, khi xem xét sơ đồ bên dưới, chúng ta sẽ thấy có bốn tam giác khả dĩ.
2. The “thread”, as here explained, seems to be a combination of the sutratma and the antahkarana. In another way, it has its own distinct life and being.
2. Như được giải thích ở đây, “sợi dây” dường như là sự kết hợp giữa sinh mệnh tuyến và antahkarana. Theo một cách nhìn khác, nó có sự sống và sự hiện hữu riêng biệt.
3. The thread has a hierarchical origin. A Master is a “point of tension” within the Hierarchy. From that point of tension the thread goes forth “to distant places, to many planes and into many hearts”.
3. Sợi dây có nguồn gốc từ Thánh đoàn. Một Chân sư là một “điểm tập trung nhất tâm” trong Thánh đoàn. Từ điểm tập trung nhất tâm ấy, sợi dây vươn ra “đến những nơi xa xôi, đến nhiều cõi và vào nhiều trái tim”.
4. The implications suggest that from the Master, many threads (which are, in a way, but one thread) go forth all over the world, and lead to any of the three planes in the lower worlds, and, as well, anchor in many hearts. This may well be an anatomical hint, for disciples have long speculated where the thread from the Master may be anchored. At the top of the head, in the ajna, in the heart, or in all three? Presumably, ashramic workers who do not presently have a physical body may also be “on the thread”, since the thread may terminate on the astral plane or on the mental. Whether it extends to ‘places’ on the higher mental plane must be researched.
4. Những hàm ý ở đây gợi rằng từ Chân sư, nhiều sợi dây (theo một nghĩa nào đó, chỉ là một sợi dây) vươn ra khắp thế giới, dẫn đến bất kỳ cõi nào trong ba cõi thấp, đồng thời neo vào nhiều trái tim. Đây rất có thể là một gợi ý về mặt giải phẫu, vì từ lâu các đệ tử đã suy đoán sợi dây từ Chân sư có thể neo ở đâu. Ở đỉnh đầu, trong trung tâm ajna, trong tim, hay ở cả ba nơi? Có lẽ những người hoạt động trong ashram hiện không có thể xác cũng có thể “ở trên đường dây”, vì sợi dây có thể kết thúc trên cõi cảm dục hoặc cõi trí. Cần nghiên cứu xem liệu nó có vươn đến những ‘nơi’ trên cõi thượng trí hay không.
5. There is a suggestion that the thread exists whether or not the disciple knows how to use it. Perhaps this thread is put forth as a channel of magnetic rapport at the moment when the pledged disciple (who is a chela in the Light) becomes an “accepted disciple”, technically understood. It would make sense that this would be the case.
5. Có gợi ý rằng sợi dây vẫn tồn tại dù đệ tử có biết cách sử dụng nó hay không. Có lẽ sợi dây này được đưa ra làm một kênh giao cảm từ tính vào thời điểm đệ tử đã lập nguyện (vốn là một đệ tử trong Ánh sáng) trở thành một “đệ tử được chấp nhận”, hiểu theo nghĩa chuyên môn. Điều đó có vẻ hợp lý.
6. At a certain stage in his development, the disciple is permitted to learn how to use the thread. This is interesting as it appears to be a phased process. The disciple at first is not simply permitted to use the thread at will; instead he permitted to begin learning how to use the thread, and it may take a while.
6. Ở một giai đoạn nhất định trong sự phát triển của mình, đệ tử được phép học cách sử dụng sợi dây. Điều này đáng chú ý vì dường như đây là một tiến trình diễn ra theo từng giai đoạn. Thoạt đầu, đệ tử không đơn giản là được phép tùy ý sử dụng sợi dây; thay vào đó, y được phép bắt đầu học cách sử dụng nó, và việc này có thể cần một thời gian.
7. If, as hinted, the thread terminates (at least partially) in the disciple’s heart, it is impossible to avoid the conclusion that the meditative practice of building the image of the “Master in the Heart” is an early preparation to the ability to recognize and use the thread.
7. Nếu, như đã gợi ý, sợi dây kết thúc (ít nhất là một phần) trong tim của đệ tử, thì không thể tránh khỏi kết luận rằng việc thực hành tham thiền để xây dựng hình ảnh “Chân sư trong Tim” là một sự chuẩn bị ban đầu cho khả năng nhận biết và sử dụng sợi dây.
8. The practice of such building begins, of course, long before the disciple has reached the stage of Chela on the Thread, and long before he could possibly be permitted to utilize the thread in emergencies, but, still, a foundation, it would seem, is prepared.
8. Dĩ nhiên, việc thực hành xây dựng hình ảnh như vậy bắt đầu từ lâu trước khi đệ tử đạt đến giai đoạn Đệ tử trên đường dây, và từ lâu trước khi y có thể được phép sử dụng sợi dây trong những trường hợp khẩn cấp; tuy nhiên, dường như một nền tảng vẫn được chuẩn bị.
9. Along the thread, the disciple returns, instantaneously, “to his centre of work” and reaches, “at any desired moment the Master of his life”.
9. Dọc theo sợi dây, đệ tử tức khắc trở về “trung tâm làm việc của mình” và đến với “Chân sư của đời mình vào bất cứ lúc nào mong muốn”.
10. From his own heart, it takes him to the heart of the Ashram (the Master).
10. Từ chính trái tim của y, sợi dây đưa y đến trái tim của ashram (Chân sư).
11. It would seem that the “heart” must decide whether any situation in which the thread could potentially be used is a real spiritual “emergency”. The decision is probably not reasoned and rational, in the normal sense, but arrived at intuitively.
11. Dường như “trái tim” phải quyết định liệu một tình huống có khả năng cần sử dụng sợi dây có thực sự là một “trường hợp khẩn cấp” về tinh thần hay không. Có lẽ quyết định này không dựa trên suy luận và lý trí theo nghĩa thông thường, mà đến qua trực giác.
12. Another possibility is suggested to the accepted disciple in process of becoming a chela on the thread: the Ashram is to be held within the heart and not only with the head.
12. Một khả năng khác được gợi ra cho đệ tử được chấp nhận đang trong tiến trình trở thành đệ tử trên đường dây: cần gìn giữ ashram trong tim chứ không chỉ trong đầu.
13. There are technicalities regarding contact with the Master and His Ashram and these must be arrived at by each individual without instruction that is too explicit.
13. Có những chi tiết chuyên môn liên quan đến việc tiếp xúc với Chân sư và ashram của Ngài, và mỗi cá nhân phải tự tìm ra những điều này mà không có sự chỉ dẫn quá tường minh.
14. We are later told that the anchorage of the thread occurs in the head, but the heart, it would seem, is necessarily important in the process.
14. Về sau, chúng ta được cho biết rằng sợi dây được neo trong đầu, nhưng dường như trái tim nhất thiết giữ vai trò quan trọng trong tiến trình này.
[743]
[743]
The Master
Chân sư
*
*
The Soul * * The Ashram
Linh hồn * * Ashram
*
*
The Disciple
Đệ tử
1. The diagram given here is very interesting and may tell us more than DK has, thus far, discussed. On a level with the Ashram is “the Soul”, which is not so much the Solar Angel, as much as it is man as a higher Ego—uniting in his higher consciousness the partial presence of the Solar Angel. The Solar Angel “puts down” what might be called a ‘thread of presence’ into the causal body, and this presence unites itself to the consciousness of the disciple (which is really a highly attenuated thread of consciousness or awareness from the monad).
1. Sơ đồ trình bày ở đây rất đáng chú ý và có thể cho chúng ta biết nhiều hơn những gì Chân sư DK đã bàn đến cho tới lúc này. Ngang hàng với ashram là “Linh hồn”, ở đây chủ yếu là con người với tư cách một chân ngã cao siêu hơn là Thái dương Thiên Thần—con người hợp nhất trong tâm thức cao siêu của mình sự hiện diện một phần của Thái dương Thiên Thần. Thái dương Thiên Thần “đưa xuống” thể nguyên nhân một thứ có thể gọi là ‘sợi dây hiện diện’, và sự hiện diện này hợp nhất với tâm thức của đệ tử (thực ra là một sợi dây tâm thức hay nhận biết từ chân thần, đã trở nên hết sức mảnh mai).
2. Man as a soul is, in a sense, already in the Ashram. Man the disciple is hovering on the periphery of the Ashram. Eventually, when the disciple merges completely with the soul aspect, only a triangle remains and not a diamond.
2. Theo một nghĩa nào đó, con người với tư cách linh hồn đã ở trong ashram. Con người với tư cách đệ tử đang chập chờn ở ngoại vi ashram. Cuối cùng, khi đệ tử hòa nhập hoàn toàn với phương diện linh hồn, chỉ còn lại một tam giác thay vì một hình thoi.
3. It is interesting to consider the direct link between the Master and the Disciple and to realize that the Soul and the Ashram are somewhat to the side of this vertical line, though the disciple’s connection to these two centers is also direct in its own way, though more angular.
3. Thật đáng chú ý khi xem xét mối liên kết trực tiếp giữa Chân sư và Đệ tử, và nhận ra rằng Linh hồn và ashram nằm hơi lệch sang hai bên đường thẳng đứng này, mặc dù mối liên kết của đệ tử với hai trung tâm ấy cũng trực tiếp theo cách riêng, dù có nhiều góc cạnh hơn.
An extension of this idea lies behind much that I have taught anent the Wesak Festival and should be in your minds when you prepare to participate in it.
Sự mở rộng của ý tưởng này là cơ sở cho phần lớn những điều Tôi đã dạy về Lễ hội Wesak, và các bạn nên ghi nhớ điều đó khi chuẩn bị tham dự lễ hội này.
Shamballa
Shamballa
*
*
The Buddha* * The Christ
Đức Phật* * Đức Christ
*
*
The Hierarchy
Thánh đoàn
*
*
Humanity
Nhân loại
1. Interesting correspondences arise between these two diagrams.
1. Giữa hai sơ đồ này xuất hiện những sự tương ứng đáng chú ý.
1. Shamballa is the correspondence to the Master
1. Shamballa tương ứng với Chân sư
2. The Buddha finds His place where the Soul is placed in the lesser diagram. The Buddha is, in a sense, a facilitative Agent Who is not part and parcel of the Hierarchy as is the Christ. Likewise, the Solar Angel (represented, in part, by the Soul in the lesser diagram) is facilitative of the Ashram, but not part and parcel of it.
2. Đức Phật ở vị trí của Linh hồn trong sơ đồ nhỏ hơn. Theo một nghĩa nào đó, Đức Phật là một Đấng hỗ trợ, không phải là một bộ phận hợp thành của Thánh đoàn như Đức Christ. Tương tự, Thái dương Thiên Thần (mà Linh hồn trong sơ đồ nhỏ hơn phần nào đại diện) hỗ trợ ashram, nhưng không phải là một bộ phận hợp thành của ashram.
3. The Christ finds His place where the Ashram is positioned
3. Đức Christ ở vị trí của ashram
4. The Hierarchy takes the place of the Disciple
4. Thánh đoàn ở vị trí của Đệ tử
5. This diagram is more complex than the earlier one, and includes five terms instead of four.
5. Sơ đồ này phức tạp hơn sơ đồ trước và bao gồm năm thành phần thay vì bốn.
2. The greater diagram should be considered as an extension of the lesser.
2. Nên xem sơ đồ lớn hơn là sự mở rộng của sơ đồ nhỏ hơn.
3. Both of these diagrams reveal how various “threads” may connect one center of spirituality to another.
3. Cả hai sơ đồ này đều cho thấy các “sợi dây” khác nhau có thể nối kết một trung tâm tinh thần với một trung tâm khác như thế nào.
4. The Disciple, in the lesser diagram, can be related, really, to a combination of Hierarchy and Humanity. It would be technically correct to say that the disciple actually stands midway between the two.
4. Thực ra, Đệ tử trong sơ đồ nhỏ hơn có thể tương ứng với sự kết hợp giữa Thánh đoàn và Nhân loại. Về mặt chuyên môn, có thể nói chính xác rằng đệ tử thực sự đứng ở giữa hai bên.
5. The greater diagram pictures a somewhat second ray alignment, as neither the Manu or the Master R. (Mahachohan) is included.
5. Sơ đồ lớn hơn mô tả một sự chỉnh hợp phần nào thuộc cung hai, vì không có cả Đức Manu lẫn Chân sư R. (Đức Mahachohan) trong đó.
6. The diagram above is recommended to the minds of disciples as they prepare for the Wesak Festival. We see that, in the diagram, the Buddha and the Christ are considered equal, for they are “on the level” with each other.
6. Các đệ tử được khuyến nghị suy ngẫm về sơ đồ trên khi chuẩn bị cho Lễ hội Wesak. Chúng ta thấy rằng trong sơ đồ, Đức Phật và Đức Christ được xem là ngang hàng, vì Các Ngài “ở cùng cấp độ” với nhau.
The entire subject of the chela on the thread and the techniques involved in this state of consciousness are all related to the capacity of the human being, under soul control, to be magnetic and to “emit the vibratory call which can penetrate to the ear of the One Who holds the thread. ” This is quoted from a very ancient manuscript in the Archives of the Hierarchy, dealing with this stage of discipleship. I am for the first time making this information available in a brief and necessarily veiled and inadequate form to the disciples, assembling this cycle at the call of the Hierarchy. Only those who are at this stage of discipleship will really comprehend what I say and profit by the hints.
Toàn bộ chủ đề về đệ tử trên đường dây và các kỹ thuật liên quan đến trạng thái tâm thức này đều gắn với khả năng của con người, dưới sự kiểm soát của linh hồn, có từ tính và “phát ra tiếng gọi rung động có thể thấu đến tai của Đấng nắm giữ sợi dây. ” Câu này được trích từ một bản thảo rất cổ trong Văn khố của Thánh đoàn, bàn về giai đoạn này của địa vị đệ tử. Lần đầu tiên, Tôi cung cấp thông tin này dưới một hình thức ngắn gọn, tất nhiên còn che giấu và chưa đầy đủ, cho các đệ tử đang tập hợp trong chu kỳ này theo tiếng gọi của Thánh đoàn. Chỉ những ai đang ở giai đoạn này của địa vị đệ tử mới thực sự thấu hiểu điều Tôi nói và hưởng lợi từ những gợi ý ấy.
1. The stage of “Chela on the Thread” is related to the magnetism of the human being. The magnetic disciple passing through this stage of discipleship can “emit the vibratory call which can penetrate to the ear of the One Who holds the thread. ”
1. Giai đoạn “Đệ tử trên đường dây” có liên quan đến từ điện của con người. Đệ tử có từ tính đang trải qua giai đoạn này của địa vị đệ tử có thể “phát ra tiếng gọi rung động có thể thấu đến tai của Đấng nắm giữ sợi dây. ”
2. There are hints veiled in this ancient form of words.
2. Có những gợi ý ẩn giấu trong cách diễn đạt cổ xưa này.
3. The call is vibratory rather than vocal.
3. Tiếng gọi mang tính rung động hơn là phát ra thành tiếng.
4. If the call is to be sent forth, it can only be done by a human being in whom the soul is in control. Soul control and domination reach a preliminary consummation at the third degree.
4. Chỉ con người mà linh hồn đang nắm quyền kiểm soát mới có thể phát ra tiếng gọi ấy. Sự kiểm soát và chi phối của linh hồn đạt đến mức hoàn tất sơ bộ ở bậc điểm đạo thứ ba.
5. The thread is obviously not held in the ‘hand’ of the Master, but the thread is capable of being manipulated by the Master.
5. Hiển nhiên, sợi dây không nằm trong ‘tay’ của Chân sư, nhưng Ngài có thể điều khiển sợi dây ấy.
6. Where is the “ear” of the Master? Is it in the Master’s head? Is it in the Master’s heart? For the word “ear” is found in “heart”, and the heart can surely hear. Or is there a connection to the Master’s heart in the head?
6. “Tai” của Chân sư ở đâu? Có phải ở trong đầu của Chân sư không? Có phải ở trong tim của Chân sư không? Vì từ “tai” nằm trong “trái tim”, và trái tim chắc chắn có thể nghe. Hay có một mối liên hệ với trung tâm tim trong đầu của Chân sư?
7. Then, too, it is necessary to realize that the Master can hold many “on the thread” without the benefit of a physical body, and so the termination (origin) of the thread (on the Master’s side) may be an ‘abstract location’.
7. Cũng cần nhận ra rằng Chân sư có thể giữ nhiều người “trên đường dây” mà không cần đến thể xác, vì vậy điểm kết thúc (khởi nguồn) của sợi dây (về phía của Chân sư) có thể là một ‘vị trí trừu tượng’.
8. The hint is given that the ability to assemble at the call of the Hierarchy is related to the thread. The thread (once activated with respect to the disciple) is not a “one way street”, and the call of the Master and of the Hierarchy can ‘descend’ via that thread. Assembly is a state of vigilance, of alert responsiveness. An inner group assembles by assuming the necessary point of tension.
8. Có gợi ý rằng khả năng tập hợp theo tiếng gọi của Thánh đoàn có liên quan đến sợi dây. Sợi dây (một khi đã được kích hoạt đối với đệ tử) không phải là một “con đường một chiều”, và tiếng gọi của Chân sư cùng Thánh đoàn có thể ‘đi xuống’ qua sợi dây ấy. Sự tập hợp là một trạng thái tỉnh thức, đáp ứng một cách nhạy bén. Một nhóm bên trong tập hợp bằng cách đạt đến điểm tập trung nhất tâm cần thiết.
This fourth stage is only possible to a disciple who has been an accepted disciple for more than one life and who has demonstrated his ability to work with selflessness and pertinacity. The requirements can be stated as follows:
Giai đoạn thứ tư này chỉ có thể đạt được đối với một đệ tử đã là đệ tử được chấp nhận trong hơn một kiếp sống và đã chứng tỏ khả năng làm việc vô vị kỷ và kiên trì bền bỉ. Các yêu cầu có thể được trình bày như sau:
1. When does the stage of Chela on the Thread become possible? The disciple must have been an accepted disciple for more than one life; two then, at a minimum? The present life of accepted discipleship may, perhaps, be one of the two.
1. Khi nào giai đoạn Đệ tử trên đường dây trở nên khả thi? Đệ tử phải là một đệ tử được chấp nhận trong hơn một kiếp sống; vậy tối thiểu là hai kiếp chăng? Có lẽ kiếp sống hiện tại trong địa vị đệ tử được chấp nhận có thể là một trong hai kiếp ấy.
2. We remember that—
2. Chúng ta nhớ rằng—
1. Several lives are necessary for the stage of Little Chelaship
1. Cần vài kiếp sống cho giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử
2. A minimum of two lives for the stage of Chela in the Light
2. Tối thiểu hai kiếp sống cho giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng
3. That accepted disciples can be so for a number of lives.
3. Các đệ tử được chấp nhận có thể duy trì địa vị ấy trong một số kiếp sống.
“I seek today to emphasise to you the need to recognise and re-interpret your inner life pattern, or, in other words, the inner programme which your soul undertook to follow when you first set your foot upon the Path of Accepted Discipleship. This you did two or three lives ago” (DINA I 307, in instructions to DLR—Ray Formula: 15—567. DLR was a trusted disciple. )
“Hôm nay, Tôi muốn nhấn mạnh với em sự cần thiết phải nhận biết và diễn giải lại mô hình đời sống bên trong của em, hay nói cách khác, chương trình bên trong mà linh hồn em đã đảm nhận thực hiện khi em lần đầu đặt chân lên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Em đã làm điều này cách đây hai hoặc ba kiếp sống” (DINA I 307, trong huấn thị gửi DLR—Công thức Cung: 15—567. DLR là một đệ tử được tín nhiệm. )
“Some have been on this Path of Accepted Discipleship (technically understood) for many lives. Some are venturing for the first time—consciously and with deliberate effort—to tread the Way to God. All are mystics, learning to be occultists. ” (DINA I Introduction, AAB)
“Một số người đã ở trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận này (hiểu theo nghĩa chuyên môn) trong nhiều kiếp sống. Một số người lần đầu tiên đang mạo hiểm—một cách có ý thức và với nỗ lực có chủ đích—bước đi trên Con Đường đến với Thượng đế. Tất cả đều là những nhà thần bí, đang học để trở thành những nhà huyền bí học. ” (DINA I, Lời giới thiệu, AAB)
4. The period somewhat after the first initiation and including the second initiation is the stage of Accepted Discipleship.
4. Thời kỳ bắt đầu một thời gian sau lần điểm đạo thứ nhất và bao gồm lần điểm đạo thứ hai là giai đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận.
5. The inference is that the stage of Chela on the Thread occurs closer to the third initiation and beyond it.
5. Có thể suy ra rằng giai đoạn Đệ tử trên đường dây diễn ra gần lần điểm đạo thứ ba hơn và tiếp tục sau đó.
3. We now enter a section in which the requirements for those who would be chelas on the thread are clearly set forth.
3. Giờ đây, chúng ta bước vào một phần trình bày rõ các yêu cầu đối với những ai muốn trở thành đệ tử trên đường dây.
1. The disciple has succeeded in decentralising himself and is no longer the point of dramatic interest on his own little stage. He is no longer preoccupied with his feeling [744] nature and the excessive self-interest, evidenced by so many, no longer controls his thoughts and aspiration.
1. Đệ tử đã thành công trong việc phi tập trung vào bản thân và không còn là tâm điểm của mọi kịch tính trên sân khấu nhỏ bé của riêng mình. Y không còn bận tâm đến bản chất cảm xúc [744] của mình, và sự quan tâm quá mức đến bản thân, điều mà rất nhiều người biểu lộ, không còn kiểm soát tư tưởng và khát vọng của y.
1. Through the phase of accepted discipleship, the disciple has worked at the necessary task of decentralization. He reached the point of success. Revelation has come, in the stages of Alignment, Crisis, Light, Revelation, and Integration. The Divine Plan is somewhat revealed, and the lesser revelation of the liabilities of his personal nature has subsided into the background. He is no longer so interested in himself personally, but treats his personal nature as an instrument for soul service.
1. Suốt giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, đệ tử đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ cần thiết là phi tập trung vào bản thân. Y đã đạt đến chỗ thành công. Sự mặc khải đã đến trong chuỗi giai đoạn Chỉnh hợp, Khủng hoảng, Ánh sáng, Mặc khải và Tích hợp. Thiên Cơ đã phần nào hiển lộ, còn sự mặc khải nhỏ hơn về những nhược điểm của bản chất cá nhân nơi y đã lùi xuống hàng thứ yếu. Y không còn quá quan tâm đến bản thân về mặt cá nhân, mà xem bản chất cá nhân của mình như một công cụ để linh hồn phụng sự.
2. The suggestion here is that he has become mentally polarized, which occurs midway between the second and third initiations. Thus, preoccupation with the feeling nature has subsided. This is another way of saying that the second initiation has been passed.
2. Ở đây có gợi ý rằng y đã trở nên phân cực trí tuệ, điều diễn ra ở khoảng giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba. Do đó, sự bận tâm đến bản chất cảm xúc đã lắng xuống. Đây là một cách nói khác rằng y đã vượt qua lần điểm đạo thứ hai.
3. It is not reasonable to consider that a disciple could be chela on the thread before the second initiation. More than one life has to have been spent in the stage of accepted discipleship (which, we remember) occur most often somewhere between the first and second initiation. At the very least, the first initiation must be passed. There is only one extremely rare instance in which accepted discipleship was reached before the first initiation was taken (and the circumstances surrounding this acceptance were highly unusual).
3. Sẽ không hợp lý nếu cho rằng một đệ tử có thể là đệ tử trên đường dây trước lần điểm đạo thứ hai. Y phải trải qua hơn một kiếp sống trong giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, giai đoạn mà chúng ta nhớ rằng thường diễn ra vào một thời điểm nào đó giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai. Ít nhất, y phải vượt qua lần điểm đạo thứ nhất. Chỉ có một trường hợp cực kỳ hiếm hoi đạt đến địa vị đệ tử được chấp nhận trước khi trải qua lần điểm đạo thứ nhất (và những hoàn cảnh liên quan đến sự chấp nhận này hết sức khác thường).
4. The second initiation is that initiation before which and during which bridge-building is occurring (i. e. , the building of the antahkarana). Mercury is active in the antahkarana process; before there is some success in this process, the thread by which the accepted disciple is connected to the Master will not be activated in the new way required in the stage of Chela on the Thread.
4. Lần điểm đạo thứ hai là cuộc điểm đạo mà trước và trong đó việc bắc cầu đang diễn ra (nghĩa là, việc xây dựng antahkarana). Sao Thủy hoạt động tích cực trong tiến trình antahkarana; trước khi tiến trình này đạt được một mức thành công nào đó, sợi dây nối kết đệ tử được chấp nhận với Chân sư sẽ chưa được kích hoạt theo cách mới mà giai đoạn Đệ tử trên đường dây đòi hỏi.
5. The thoughts and aspirations of a chela on the thread are directed towards the execution of the Divine Plan, and not towards his own advancement. This is possible because of what has been called the “death of the emotional nature”, meaning that desire is rapidly being transmuted into love.
5. Tư tưởng và khát vọng của một đệ tử trên đường dây hướng đến việc thực hiện Thiên Cơ, chứ không hướng đến sự thăng tiến của riêng mình. Điều này có thể xảy ra nhờ điều được gọi là “cái chết của bản chất cảm xúc”, nghĩa là dục vọng đang nhanh chóng được chuyển hoá thành tình thương.
6. Decentralization and an increasingly mental focus are thus some initial watchwords for this stage.
6. Như vậy, phi tập trung vào bản thân và ngày càng tập trung trí tuệ là một số phương châm ban đầu cho giai đoạn này.
2. The disciple can now work with impersonality, no matter how his own personal nature may be reacting. This means that his own feelings, thoughts, likes, dislikes and desires are no longer the controlling factors; he is conditioned in his daily activities and relationships only by those intentions and activities which are for the good of the group. He will not sacrifice any individual to the group good until after due effort to help that individual understand and demonstrate right relationship; but he will not hesitate to take firm action as need and opportunity arise.
2. Giờ đây, đệ tử có thể làm việc một cách vô ngã, bất kể bản chất cá nhân của mình có thể đang phản ứng ra sao. Điều này có nghĩa là những cảm xúc, tư tưởng, điều ưa thích, điều không ưa và dục vọng của riêng y không còn là các yếu tố kiểm soát; chỉ những ý định và hoạt động vì lợi ích của nhóm mới định hướng các hoạt động và mối quan hệ hằng ngày của y. Y sẽ không hy sinh bất kỳ cá nhân nào cho lợi ích của nhóm trước khi đã nỗ lực thích đáng để giúp người ấy thấu hiểu và thể hiện mối quan hệ đúng đắn; nhưng y sẽ không ngần ngại hành động kiên quyết khi nhu cầu và cơ hội xuất hiện.
1. The quest for impersonality is now achieved to a significant extent.
1. Giờ đây, nỗ lực đạt đến tính vô ngã đã thành công ở một mức độ đáng kể.
2. Reactions within the personal nature, so preoccupying for some, no long preoccupy the attention.
2. Những phản ứng trong bản chất cá nhân, vốn khiến một số người quá bận tâm, không còn chiếm lấy sự chú ý.
3. There may be feelings, thoughts, likes, dislikes and desires (astrally based, for the most part) but the chela on the thread is so controlled by soul purpose and ashramic purpose that these earlier distractions are no longer allowed to distract.
3. Có thể vẫn có những cảm xúc, tư tưởng, điều ưa thích, điều không ưa và dục vọng (phần lớn bắt nguồn từ cảm dục), nhưng mục đích của linh hồn và mục đích của ashram chi phối đệ tử trên đường dây mạnh mẽ đến mức y không còn để những điều từng gây xao lãng ấy làm mình phân tâm.
4. Will (and action resulting from such will) will condition his daily activities; intention is directed towards the good of the group. Saturn has done its work as has Mercury; the life can be lived far more impersonally than heretofore.
4. Ý chí (và hành động phát sinh từ ý chí ấy) sẽ định hướng các hoạt động hằng ngày của y; ý định hướng đến lợi ích của nhóm. Sao Thổ đã hoàn thành công việc của mình, cũng như Sao Thủy; y có thể sống một cuộc đời vô ngã hơn trước rất nhiều.
5. We see DK describing the strengthening of will which occurs at this fourth stage. The chela on the thread is impersonal with respect to himself, and also with regard for others. When others deviate from the proper standard, he will do all he can to help them understand and to demonstrate right relationship, but if firm action is required (in line with purpose) then no strictly personal consideration will prevent him from taking that action.
5. Chúng ta thấy Chân sư DK mô tả sự củng cố ý chí diễn ra ở giai đoạn thứ tư này. Đệ tử trên đường dây giữ thái độ vô ngã đối với bản thân cũng như đối với người khác. Khi người khác đi chệch khỏi chuẩn mực đúng đắn, y sẽ làm mọi điều có thể để giúp họ thấu hiểu và thể hiện mối quan hệ đúng đắn, nhưng nếu cần hành động kiên quyết (phù hợp với mục đích), thì không một cân nhắc thuần túy cá nhân nào có thể ngăn y thực hiện hành động ấy.
6. Thus far, we see that decentralization and impersonality are established facts in the life of the chela on the thread. They were not established facts in the life of the little chela or the chela in the light, and were only being strenuously learned in the life of the disciple admitted to the stage of Accepted Discipleship.
6. Đến đây, chúng ta thấy rằng sự phi tập trung vào bản thân và tính vô ngã đã trở thành những thực tế vững chắc trong đời sống của đệ tử trên đường dây. Chúng chưa phải là những thực tế vững chắc trong đời sống của tiểu đệ tử hay đệ tử trong ánh sáng, và đệ tử được nhận vào giai đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận mới chỉ đang ra sức học hỏi những điều ấy.
3. The disciple has developed a sense of proportion as to the work and the relative value of his contribution to the Master’s work and the Ashram life. He is engrossed in the task and the opportunity and not with the Master and with his individual position in the Master’s thoughts. Most disciples in the early stages of their novitiate never forget that they are disciples. This is what the Master Morya has called the “smug recollection of the self-engrossed mind. ” It is a form of veiled pride which beginners find it difficult to avoid. Never for a minute do they forget the fact of their discipleship and the fact of the Master, no matter how active their service; yet—if they were truly working from a point of tension—they would forget His very existence in the work to be done for their fellowmen.
3. Đệ tử đã phát triển một ý thức về tỉ lệ đối với công việc và giá trị tương đối của sự đóng góp của mình vào công việc của Chân sư và đời sống ashram. Y chuyên tâm vào nhiệm vụ và cơ hội, chứ không bận tâm đến Chân sư và vị trí riêng của mình trong tư tưởng của Chân sư. Hầu hết các đệ tử trong những giai đoạn đầu của thời kỳ tập sự không bao giờ quên rằng họ là đệ tử. Đây là điều Chân sư Morya đã gọi là “sự tự nhắc nhở đầy tự mãn của thể trí mải mê với chính mình. ” Đó là một dạng kiêu hãnh che giấu mà những người mới bắt đầu thấy khó tránh khỏi. Dù phụng sự tích cực đến đâu, họ không một phút nào quên địa vị đệ tử của mình và sự hiện hữu của Chân sư; tuy nhiên—nếu thực sự làm việc từ một điểm tập trung nhất tâm—họ sẽ quên cả sự hiện hữu của Ngài trong công việc cần làm cho đồng loại.
1. To decentralization and impersonality are added a “sense of proportion as to the work and the relative value of his contribution to the Master’s work and the Ashram’s life”. The chela on the thread is not the victim of glamorous distortion. Saturn and Mercury have taught him to see with a realistic eye. He does not wish to flatter himself or others with vain imaginings.
1. Bổ sung vào sự phi tập trung vào bản thân và tính vô ngã là một “ý thức về tỉ lệ đối với công việc và giá trị tương đối của sự đóng góp của mình vào công việc của Chân sư và đời sống của ashram”. Đệ tử trên đường dây không phải là nạn nhân của sự bóp méo do ảo cảm. Sao Thổ và Sao Thủy đã dạy y nhìn bằng con mắt thực tế. Y không muốn tâng bốc bản thân hay người khác bằng những tưởng tượng viển vông.
2. The work comes first, even before thought of the Master (as an individual), and certainly before his consideration of his own rank and status within the Ashram or in the Master’s thoughts. What is required, is that the disciple learn to take his eyes off his personal self.
2. Công việc được đặt lên hàng đầu, thậm chí trước cả ý nghĩ về Chân sư (với tư cách một cá nhân), và chắc chắn trước cả việc y cân nhắc về cấp bậc và địa vị của mình trong ashram hay trong tư tưởng của Chân sư. Điều cần thiết là đệ tử học cách thôi chăm chú vào bản ngã cá nhân của mình.
3. What is the early stage of a novitiate? Can we say that the stages of Little Chelaship (a quite unconscious stage) and that of Chela in the Light are the early stages? An accepted disciple is learning to be decentralized and spontaneously self-forgetful. A true chela on the thread will drop from the forefront of his mind the constant recollection that he is a disciple.
3. Giai đoạn đầu của thời kỳ tập sự là gì? Chúng ta có thể nói rằng giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử (một giai đoạn khá vô thức) và giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng là những giai đoạn đầu ấy chăng? Một đệ tử được chấp nhận đang học cách phi tập trung vào bản thân và tự nhiên quên mình. Một đệ tử trên đường dây đích thực sẽ không còn đặt ở vị trí hàng đầu trong thể trí việc liên tục nhớ rằng mình là một đệ tử.
4. Master Morya’s summation captures the attitude so frequently found: the “smug recollection of the self-engrossed mind”!
4. Lời đúc kết của Chân sư Morya nắm bắt đúng thái độ rất thường gặp: “sự tự nhắc nhở đầy tự mãn của thể trí mải mê với chính mình”!
5. Such disciples (beginners for the most part) cannot lose themselves in service. Their interest in themselves is still far too strong, and follows them throughout all acts of service. Thus, the service is still somewhat self-centered and incompletely given.
5. Những đệ tử như vậy (phần lớn là những người mới bắt đầu) không thể quên mình trong phụng sự. Sự quan tâm đến bản thân của họ vẫn còn quá mạnh và theo họ trong mọi hành động phụng sự. Do đó, việc phụng sự vẫn còn phần nào tập trung vào bản thân và chưa được hiến dâng trọn vẹn.
6. DK closes this section with a powerful statement suggesting that if such disciples were truly working from a sufficient point of tension they would forget the very existence of the Master in the work done for their fellowmen.
6. Chân sư DK khép lại phần này bằng một phát biểu mạnh mẽ, gợi ý rằng nếu những đệ tử ấy thực sự làm việc từ một điểm tập trung nhất tâm đủ mạnh, họ sẽ quên cả sự hiện hữu của Chân sư trong công việc làm cho đồng loại.
7. As we look out upon the world stage, we can see disciples of this kind (disciples who may not even know they are disciples and who do not care—so absorbed are they in the necessity of the work to be done for their fellow human beings).
7. Khi nhìn ra vũ đài thế giới, chúng ta có thể thấy những đệ tử thuộc loại này (những đệ tử có thể thậm chí không biết mình là đệ tử và cũng không bận tâm—vì họ quá chuyên chú vào sự cần thiết phải thực hiện công việc vì đồng loại).
8. To enter this stage of rightly tense absorption in service is a great step towards real participation in the Ashram. Before that time, the disciple is still hampered by selfishness, however subtle. Perhaps selfishness is not fully overcome until the Great Renunciation of the fourth initiation, but by the time a disciple is a chela on the thread (assuring contact with the Master at will) egoistic preoccupation and the usual forms of spiritual selfishness have been largely defeated.
8. Đạt đến giai đoạn say sưa phụng sự với sự tập trung nhất tâm đúng đắn là một bước tiến lớn hướng tới việc thực sự tham gia vào ashram. Trước thời điểm ấy, đệ tử vẫn còn chịu sự cản trở của tính ích kỷ, dù tinh vi đến đâu. Có lẽ tính ích kỷ chưa được khắc phục hoàn toàn cho đến cuộc Từ Bỏ Vĩ Đại ở lần điểm đạo thứ tư, nhưng khi một đệ tử trở thành đệ tử trên đường dây (bảo đảm có thể tiếp xúc với Chân sư theo ý muốn), sự bận tâm về bản thân và những hình thức ích kỷ tinh thần thông thường phần lớn đã được khắc phục.
4. The chela on the thread has reached a point where the higher correspondence to the so-called “split personality” is to be found, or (to word it otherwise) where that state of consciousness, of which the split personality is the shadow and the distortion, makes its appearance. The disciple is conscious simultaneously of two states of awareness or two points of concentrated activity:
4. Đệ tử trên đường dây đã đạt đến một điểm nơi có thể tìm thấy sự tương ứng cao hơn của cái gọi là “phàm ngã phân tách”, hay (diễn đạt theo cách khác) nơi trạng thái tâm thức mà phàm ngã phân tách là cái bóng và sự biến dạng của nó bắt đầu xuất hiện. Đệ tử đồng thời có ý thức về hai trạng thái nhận biết hay hai điểm hoạt động tập trung:
1. All lower states have their higher correspondences. The “split-personality” is one such.
1. Mọi trạng thái thấp đều có những tương ứng cao hơn. Hiện tượng “phàm ngã phân tách” là một trường hợp như vậy.
2. From what is here said, not only the Techniques of Fusion have their applicability to the chela on the thread, but that form of approach which we call the Technique of Duality.
2. Từ những điều nói ở đây, không chỉ các Kỹ Thuật Dung Hợp có thể áp dụng cho đệ tử trên đường dây, mà cả hình thức tiếp cận mà chúng ta gọi là Kỹ Thuật Nhị Nguyên cũng vậy.
a. The point of spiritual tension wherein he is focussed and which he endeavours to preserve inviolate and constant.
a. Điểm tập trung nhất tâm tinh thần nơi y tập trung và cố gắng giữ cho nguyên vẹn, bền vững.
1. The higher part of the “split” is the “point of spiritual tension”. This necessarily occurs on the fourth subplane of the mental plane, but that point of tension which is focussed in and around the mental unit is in very close touch with both the soul and spiritual triad. The disciple is beginning to be ‘causally conscious’ and somewhat triadally aware. Increasingly, he is functioning as a soul.
1. Phần cao hơn của sự “phân tách” là “điểm tập trung nhất tâm tinh thần”. Điều này tất yếu diễn ra trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, nhưng điểm tập trung nhất tâm ấy, vốn tập trung trong và quanh đơn vị hạ trí, có sự tiếp xúc rất mật thiết với cả linh hồn lẫn Tam Nguyên Tinh Thần. Đệ tử đang bắt đầu ‘có tâm thức trên cấp độ nguyên nhân’ và phần nào có nhận biết trên cấp độ Tam Nguyên Tinh Thần. Càng ngày, y càng hoạt động như một linh hồn.
2. The focus in the very highest part of the concrete mind must remain constant and inviolate; the higher contacts (which are also sustained to the degree possible) are made possible through the intensity of the point of tension.
2. Sự tập trung ở phần cao nhất của trí cụ thể phải luôn bền vững và nguyên vẹn; những tiếp xúc cao hơn (cũng được duy trì trong mức độ có thể) trở nên khả hữu nhờ cường độ của điểm tập trung nhất tâm.
[745]
[745]
b. The focussed sphere of activity in the three worlds, through the medium of which he carries out his work and service as a disciple.
b. Phạm vi hoạt động tập trung trong ba cõi giới, qua đó y thực hiện công việc và phụng sự với tư cách một đệ tử.
1. The lower part of the focus is the sphere of activity in the three worlds where the chela on the thread focusses his service.
1. Phần thấp hơn của sự tập trung là phạm vi hoạt động trong ba cõi giới, nơi đệ tử trên đường dây tập trung việc phụng sự của mình.
2. The sense of two centers—one higher (one soul infused and triadally inspired—i. e. , the soul-infused mind), one lower—is distinct.
2. Cảm nhận về hai trung tâm—một trung tâm cao hơn (được linh hồn thấm nhuần và Tam Nguyên Tinh Thần truyền cảm hứng—tức là thể trí được linh hồn thấm nhuần), một trung tâm thấp hơn—rất rõ rệt.
These two related points are not in reality two separated activities, except as they emerge in the consciousness of the disciple upon the physical plane and express his objective and his subjective life. They are incident to his having to work in time and space and through the medium of a physical brain. The second point of focus should be in reality an externalisation of the inner point of tension. In these words, you have the key to the true science of discipleship, to the developing relation of the human centre and the hierarchical. It concerns also the work of the Buddha and the Christ, as They represent the point of tension at Shamballa and in the Hierarchy.
Hai điểm có liên hệ này thực ra không phải là hai hoạt động riêng biệt, ngoại trừ khi chúng xuất hiện trong tâm thức của đệ tử trên cõi hồng trần và biểu hiện đời sống khách quan cùng đời sống chủ quan của y. Chúng phát sinh do y phải hoạt động trong thời gian và không gian, và qua trung gian của một bộ não hồng trần. Điểm tập trung thứ hai thực ra phải là sự ngoại hiện của điểm tập trung nhất tâm bên trong. Trong những lời này, các bạn có chìa khóa dẫn đến khoa học chân chính về địa vị đệ tử, đến mối quan hệ đang phát triển giữa trung tâm nhân loại và trung tâm Thánh đoàn. Điều này cũng liên quan đến công việc của Đức Phật và Đức Christ, vì Các Ngài đại diện cho điểm tập trung nhất tâm tại Shamballa và trong Thánh đoàn.
1. In the brain consciousness the two points seem divided. The subjective and objective life are represented by the two, and if the brain were differently constructed, the representation would be less dualistic.
1. Trong tâm thức bộ não, hai điểm dường như tách biệt. Hai điểm này đại diện cho đời sống chủ quan và khách quan, và nếu bộ não có cấu tạo khác, sự biểu đạt ấy sẽ ít mang tính nhị nguyên hơn.
2. So the sense of division is really something of an illusion.
2. Vì vậy, cảm giác phân chia thực ra phần nào là một ảo tưởng.
3. DK informs us, however, that “the second point of focus (in the three lower worlds) should be in reality an externalization of the inner point of tension”. Thus, there is intended to be a continuity between the sustained point of inner tension (assuring soul presence and growing triadal awareness) and its outworking in the lower three worlds.
3. Tuy nhiên, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng “điểm tập trung thứ hai (trong ba cõi thấp) thực ra phải là sự ngoại hiện của điểm tập trung nhất tâm bên trong”. Do đó, cần có sự liên tục giữa điểm tập trung nhất tâm bên trong được duy trì (bảo đảm sự hiện diện của linh hồn và nhận biết ngày càng tăng về Tam Nguyên Tinh Thần) với sự thể hiện của nó trong ba cõi thấp.
4. These are apparently very important words because they give the key “to the true science of discipleship”, and to the developing relationship between the human centre and the hierarchical. On a more exalted level, the Buddha and the Christ (working as a unit) are the focus for the point of tension represented by Shamballa.
4. Đây có vẻ là những lời rất quan trọng vì chúng trao chìa khóa “dẫn đến khoa học chân chính về địa vị đệ tử”, và đến mối quan hệ đang phát triển giữa trung tâm nhân loại và trung tâm Thánh đoàn. Ở một cấp độ cao hơn, Đức Phật và Đức Christ (hoạt động như một đơn vị hợp nhất) là tiêu điểm cho điểm tập trung nhất tâm mà Shamballa đại diện.
5. We can see the necessity for proper alignment, and for the ability to transfer that which is gained at the point of tension directly and without distortion into the lower three worlds, so that the external focus becomes, in fact, an externalisation of the inner point of tension.
5. Chúng ta có thể thấy sự cần thiết của việc chỉnh hợp đúng đắn và của khả năng chuyển dịch những gì đạt được tại điểm tập trung nhất tâm vào thẳng ba cõi thấp mà không làm biến dạng, để tiêu điểm bên ngoài thực sự trở thành một sự ngoại hiện của điểm tập trung nhất tâm bên trong.
6. True discipleship is achieved through an integration between the inner and outer. When this integration is incomplete or distorted, one cannot hope to be a chela on the thread. Chelas on the thread bring through faithfully, that which is known and sensed at their inner point of tension.
6. Địa vị đệ tử chân chính đạt được nhờ sự tích hợp giữa bên trong và bên ngoài. Khi sự tích hợp này chưa trọn vẹn hoặc bị biến dạng, người ta không thể hy vọng trở thành đệ tử trên đường dây. Các đệ tử trên đường dây truyền đạt một cách trung thực những gì họ biết và cảm nhận tại điểm tập trung nhất tâm bên trong của mình.
Most disciples are not working from a point of spiritual tension, but from a point of personality focus—a step forward indeed from that of the average unthinking person but one to which they cling unduly long. As long as a man is focussed in his personality, the point of spiritual tension will evade him. He will be driven by personality aspiration and not by ashramic force and this focus in form will lead to trouble both to the individual aspirant and to his group. Spiritual tension, as a result of complete dedication of the personality to the service of humanity, stimulates and empowers but does not evoke the lower life of the personal self.
Phần lớn các đệ tử không hoạt động từ một điểm tập trung nhất tâm tinh thần mà từ một điểm tập trung phàm ngã—quả thực là một bước tiến so với người bình thường không suy nghĩ, nhưng họ lại bám giữ bước này quá lâu. Chừng nào một người còn tập trung trong phàm ngã, y vẫn chưa thể đạt đến điểm tập trung nhất tâm tinh thần. Khát vọng phàm ngã sẽ thúc đẩy y, thay vì mãnh lực ashram, và sự tập trung trong hình tướng này sẽ gây khó khăn cho cả cá nhân người chí nguyện lẫn nhóm của y. Sự tập trung nhất tâm tinh thần, là kết quả của việc phàm ngã hoàn toàn hiến mình cho việc phụng sự nhân loại, kích thích và tăng cường sức mạnh nhưng không khơi dậy đời sống thấp của bản ngã cá nhân.
1. Earlier DK spoke of tension and extension. The term “extension” is equivalent to what is here called “personality focus”. The ‘extense’ or extended disciple is focussed in the personality or in various parts of the personality.
1. Trước đây, Chân sư DK đã nói về sự tập trung nhất tâm và sự dàn trải. Thuật ngữ “sự dàn trải” tương đương với điều ở đây gọi là “sự tập trung phàm ngã”. Người đệ tử ‘dàn trải’ hay trải rộng ra ngoài thì tập trung trong phàm ngã hoặc trong những phần khác nhau của phàm ngã.
2. We are told that the stage of personality focus represents progress over mass consciousness, but there is a tendency to remain in it entirely too long—especially given the grave needs of humanity at present. The word used is “cling”, and it suggests the sign Cancer, the Moon and the presence, in general, fear as related to the mass consciousness.
2. Chúng ta được cho biết rằng giai đoạn tập trung phàm ngã biểu thị một bước tiến so với tâm thức quần chúng, nhưng có khuynh hướng lưu lại trong đó quá lâu—đặc biệt khi xét đến những nhu cầu cấp thiết của nhân loại hiện nay. Từ được dùng là “bám giữ”, và nó gợi đến dấu hiệu Cự Giải, Mặt Trăng và sự hiện diện nói chung của nỗi sợ liên quan đến tâm thức quần chúng.
3. A strong incentive for the abandonment of personality focus is given. No disciple focussed in the personality can achieve a “point of spiritual tension”—no matter how great his personality efforts.
3. Ở đây có một động lực mạnh mẽ để từ bỏ sự tập trung phàm ngã. Không đệ tử nào tập trung trong phàm ngã có thể đạt được một “điểm tập trung nhất tâm tinh thần”—dù những nỗ lực của phàm ngã nơi y lớn lao đến đâu.