← Commentary_S1_1_133 Song ngữ

50. When you go ‘above’ consciousness you go beyond the consciousness of the mind.

Trích nội dung chương

52. Watch for conceptual infinitudes. Many conceptual infinitudes are possible in any closed system, but they can never be actualizable. 52. Hãy lưu ý các vô hạn tính khái niệm. Nhiều vô hạn tính khái niệm là có thể trong bất kỳ hệ thống khép kín nào, nhưng chúng không bao giờ có thể được hiện thực hóa.


50. When you go ‘above’ consciousness you go beyond the consciousness of the mind.

50. Khi các bạn đi “lên trên” tâm thức, các bạn đi vượt quá tâm thức của trí tuệ.

51. DK asks us to drop the consciousness as the concrete mental interprets it.

51. Chân sư DK yêu cầu chúng ta buông bỏ tâm thức như trí cụ thể diễn giải nó.

52. Watch for conceptual infinitudes. Many conceptual infinitudes are possible in any closed system, but they can never be actualizable.

52. Hãy lưu ý các vô hạn tính khái niệm. Nhiều vô hạn tính khái niệm là có thể trong bất kỳ hệ thống khép kín nào, nhưng chúng không bao giờ có thể được hiện thực hóa.

53. Connect 5 with first solar system/Mind; connect 7 with the present solar system which is Love; connect 9 with next solar system which is Will;

53. Hãy nối 5 với hệ mặt trời thứ nhất/Trí Tuệ; nối 7 với hệ mặt trời hiện tại là Bác ái; nối 9 với hệ mặt trời kế tiếp là Ý Chí;

We have elsewhere, in an earlier book, touched somewhat upon this matter, but we desire to recapitulate and in so doing to enlarge, thus laying down a broad foundation upon which the subject matter can be built up, and providing a general outline which will serve to show the limits of our discussion.

Ở nơi khác, trong một quyển sách trước đây, chúng tôi đã phần nào đề cập đến vấn đề này, nhưng chúng tôi muốn tóm lược lại và khi làm như vậy thì mở rộng thêm, nhờ đó đặt một nền tảng rộng lớn để trên đó chủ đề có thể được xây dựng, và cung cấp một đại cương tổng quát nhằm cho thấy các giới hạn của cuộc thảo luận của chúng ta.

54. The Tibetan offers an important teaching technique: recapitulation plus enlargement upon the themes recapitulated.

54. Chân sư Tây Tạng đưa ra một kỹ thuật giảng dạy quan trọng: tóm lược cộng với mở rộng trên những chủ đề được tóm lược.

Let us, therefore, look at the subject macrocosmically and then trace the correspondence in the microcosm, or human being.

Vì vậy, chúng ta hãy xem xét chủ đề theo phương diện đại thiên địa rồi truy tìm sự tương ứng trong tiểu thiên địa, hay con người.

I. FIRE IN THE MACROCOSM

I. LỬA TRONG ĐẠI THIÊN ĐỊA

In its essential nature Fire is threefold, but when in manifestation it can be seen as a fivefold demonstration, and be defined as follows:

Trong bản chất cốt yếu của nó, Lửa là tam phân, nhưng khi biểu hiện thì có thể được thấy như một sự biểu lộ ngũ phân, và được định nghĩa như sau:

55. The first two fires (fire by friction and solar fire) are dual. This will account for the fivefold demonstration here discussed.

55. Hai loại lửa đầu tiên (lửa ma sát và lửa thái dương) là kép. Điều này sẽ giải thích cho sự biểu lộ ngũ phân được bàn đến ở đây.

56. We note that the five-pointed star is composed of two dualities and one unity. The upper point of the star represents electric fire, the two middle points, solar fire; the two points which serve as ‘legs’ to the star—fire by friction.

56. Chúng ta lưu ý rằng ngôi sao năm cánh được cấu thành bởi hai nhị nguyên tính và một hợp nhất. Đỉnh trên của ngôi sao tượng trưng cho lửa điện, hai đỉnh giữa tượng trưng cho lửa thái dương; hai đỉnh làm thành “hai chân” của ngôi sao—lửa ma sát.

[Page 38]

[Page 38]

1. Fire by friction, or internal vitalising fire. These fires animate and vitalise the objective solar system. They are the sumtotal of logoic kundalini, when in full systemic activity.

1. Lửa ma sát, hay lửa tiếp sinh lực nội tại. Những lửa này làm sinh động và tiếp sinh lực cho hệ mặt trời khách quan. Chúng là tổng thể của kundalini logoic, khi ở trong hoạt động hệ thống trọn vẹn.

57. The objective solar system is composed of matter of the three lowest subplanes of the systemic physical plane.

57. Hệ mặt trời khách quan được cấu thành bởi vật chất của ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống.

58. Because of the point of evolution of our Solar Logos, logoic kundalini is not yet in “full systemic activity”.

58. Do điểm tiến hoá của Thái dương Thượng đế của chúng ta, kundalini logoic chưa ở trong “hoạt động hệ thống trọn vẹn”.

59. We are alerted to the very physical properties of some aspects of the kundalini fire. But some aspects of kundalini (we will discover) are etheric.

59. Chúng ta được cảnh báo về những đặc tính rất hồng trần của một số phương diện của lửa kundalini. Nhưng một số phương diện của kundalini (chúng ta sẽ khám phá) là dĩ thái.

60. We depend upon fire by friction to produce what we normally call “physical vitality”. The vitalization of matter emanates from the etheric planes. Thus, we can be sure that fire by friction includes the fires of the etheric plane.

60. Chúng ta phụ thuộc vào lửa ma sát để tạo ra điều mà bình thường chúng ta gọi là “sinh lực thể chất”. Sự tiếp sinh lực cho vật chất phát ra từ các cõi dĩ thái. Vì vậy, chúng ta có thể chắc chắn rằng lửa ma sát bao gồm các lửa của cõi dĩ thái.

61. This fire is naturally connected with the third aspect of divinity.

61. Loại lửa này tự nhiên liên kết với phương diện thứ ba của thiên tính.

62. IF immediately below we learn that solar fire is to be considered fire from the cosmic mental plane, perhaps we can judge that, essentially, fire-by-friction emanates from the cosmic physical plane.

62. NẾU ngay bên dưới chúng ta biết rằng lửa thái dương được xem là lửa từ cõi trí vũ trụ, thì có lẽ chúng ta có thể phán đoán rằng, về bản chất, lửa ma sát phát ra từ cõi hồng trần vũ trụ.

2. Solar Fire, or cosmic mental fire. This is that portion of the cosmic mental plane which goes to the animation of the mental body of the Logos. This fire may be regarded as the sumtotal of the sparks of mind, the fires of the mental bodies and the animating principle of the evolving units of the human race in the three worlds.

2. Lửa Thái dương, hay lửa trí tuệ vũ trụ. Đây là phần của cõi trí vũ trụ góp phần vào sự làm sinh động của thể trí của Thượng đế. Loại lửa này có thể được xem là tổng thể của các tia lửa trí tuệ, các lửa của các thể trí và nguyên lý làm sinh động của các đơn vị đang tiến hoá của nhân loại trong ba cõi thấp.

63. Split cosmic mental fire into two—one of which is Solar Fire in the larger mental fire.

63. Hãy tách lửa trí tuệ vũ trụ thành hai phần—một trong đó là Lửa Thái dương trong lửa trí tuệ lớn hơn.

64. Solar Angels are just part of the “matter” of the Solar Logos’ causal vehicle.

64. Các Thái dương Thiên Thần chỉ là một phần của “vật chất” trong vận cụ nguyên nhân của Thái dương Thượng đế.

65. Solar Angel is “Christ in you the hope of glory”.

65. Thái dương Thiên Thần là “Đức Christ trong bạn, niềm hy vọng của vinh quang”.

66. The Tibetan is telling us that solar fire (though effectively felt on the cosmic astral plane and the seven systemic planes we call the cosmic physical plane) is, in its origin, “cosmic mental fire”. When we think about how often we attempt to align with and appropriate solar fire in our daily meditation, this is an amazing thought.

66. Chân sư Tây Tạng đang nói với chúng ta rằng lửa thái dương (dù được cảm nhận hữu hiệu trên cõi cảm dục vũ trụ và bảy cõi hệ thống mà chúng ta gọi là cõi hồng trần vũ trụ) trong nguồn gốc của nó là “lửa trí tuệ vũ trụ”. Khi chúng ta nghĩ đến việc mình thường cố gắng chỉnh hợp với và tiếp nhận lửa thái dương trong tham thiền hằng ngày như thế nào, đây là một ý tưởng đáng kinh ngạc.

67. The “sparks of mind” are brought by the Solar Angels. The fire within the “sparks of mind” derives, essentially, from the cosmic mental plane.”

67. Các “tia lửa trí tuệ” được mang đến bởi các Thái dương Thiên Thần. Lửa bên trong các “tia lửa trí tuệ” về bản chất phát sinh từ cõi trí vũ trụ.”

68. The Solar Angels are no strangers to the cosmic mental plane; many of them are breathed out from the “Heart of the Sun” and that “Heart” is found upon the highest levels of the cosmic mental plane.

68. Các Thái dương Thiên Thần không xa lạ gì với cõi trí vũ trụ; nhiều vị trong số họ được thở ra từ “Trái Tim Mặt Trời” và “Trái Tim” ấy được tìm thấy trên những cấp độ cao nhất của cõi trí vũ trụ.

69. The fire which animates the Solar Angels can be considered cosmic mental fire and in sharing a fragment of themselves with unselfconscious man, they are sharing with him fire which derives from the cosmic mental plane.

69. Lửa làm sinh động các Thái dương Thiên Thần có thể được xem là lửa trí tuệ vũ trụ và khi chia sẻ một mảnh của chính mình với con người vô ngã thức, các vị ấy đang chia sẻ với y lửa phát sinh từ cõi trí vũ trụ.

70. If this fire from the cosmic mental plane is to be considered the “animating principle” we must consider it as the fire which gives to animal man that which we normally call “soul”, which, at the very least is self-consciousness.

70. Nếu lửa từ cõi trí vũ trụ này được xem là “nguyên lý làm sinh động”, chúng ta phải xem nó là lửa ban cho người thú điều mà bình thường chúng ta gọi là “linh hồn”, mà ít nhất là ngã thức.

71. That which animates, the “anima” and soul must be considered, in some respects, equivalent.

71. Điều làm sinh động, “anima” và linh hồn phải được xem là tương đương nhau trong một số phương diện.

Again, the solar Angels complete their initial sacrifice by a final one, and offer themselves upon the fiery altar. The causal body is completely destroyed. The four lower groups of solar Pitris return to the heart of the subjective sun, or to that inmost centre of the system from whence they came, whilst the three higher groups are carried (by the force and energy generated in the fiery furnace and blaze, and through the stimulation produced by the blazing forth of the central jewel) straight to the central spiritual sun, there to abide until another kalpa calls them forth to sacrifice Themselves, this time as planetary Logoi. (TCF 878)

Một lần nữa, các Thái dương Thiên Thần hoàn tất sự hy sinh ban đầu của mình bằng một sự hy sinh cuối cùng, và hiến dâng chính mình trên bàn thờ rực lửa. Thể nguyên nhân bị hủy diệt hoàn toàn. Bốn nhóm thấp của các thái dương tổ phụ quay về trái tim của mặt trời chủ quan, hay về trung tâm nội tại nhất của hệ thống mà từ đó các vị ấy đã đến, trong khi ba nhóm cao hơn được mang (bởi mãnh lực và năng lượng được tạo ra trong lò lửa và ngọn lửa rực cháy, và nhờ sự kích thích do viên ngọc trung tâm bừng sáng tạo ra) thẳng đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, ở đó lưu lại cho đến khi một kalpa khác gọi các vị ấy ra để hy sinh chính mình, lần này như các Hành Tinh Thượng Đế. (TCF 878)

72. In the section excerpted immediately above, we see that the “subjective sun” is equivalent to the “Heart of the Sun”.

72. Trong đoạn được trích ngay bên trên, chúng ta thấy rằng “mặt trời chủ quan” tương đương với “Trái Tim Mặt Trời”.

73. The Buddha received a touch of the cosmic mental plane at his enlightenment—a staggering thought. This enlightenment occurred long after His fourth initiation, and so the Solar Angel could no longer have been involved.

73. Đức Phật đã nhận được một sự chạm đến từ cõi trí vũ trụ vào lúc giác ngộ của Ngài—một ý tưởng gây choáng ngợp. Sự giác ngộ này xảy ra rất lâu sau lần điểm đạo thứ tư của Ngài, và vì thế Thái dương Thiên Thần không thể còn liên quan nữa.

74. A “spark of mind” is the link to the energy of Karma from Sirius; through that spark the karmic influence is imposed. Solar Angels wield the Law of Karma for the human being they have under supervision.

74. Một “tia lửa trí tuệ” là mối liên kết với năng lượng của nghiệp quả từ Sirius; qua tia lửa ấy, ảnh hưởng nghiệp quả được áp đặt. Các Thái dương Thiên Thần vận dụng Định luật Nghiệp Quả cho con người mà các vị ấy giám sát.

75. “Solar Fire” is the fire of love, but as we here see, it is also the fire of mind. Perhaps we can think of it as the ‘fire of loving mind’.

75. “Lửa Thái dương” là lửa của bác ái, nhưng như chúng ta thấy ở đây, nó cũng là lửa của trí tuệ. Có lẽ chúng ta có thể nghĩ về nó như “lửa của trí tuệ bác ái”.

76. Solar fire has an origin in the “Heart of the Sun” on the higher cosmic mental plane.

76. Lửa thái dương có nguồn gốc trong “Trái Tim Mặt Trời” trên cõi trí vũ trụ cao hơn.

“10. The causal body of the Heavenly Men is upon the third subplane of the cosmic mental plane, while that of the solar Logos and those of the three Persons of the logoic Trinity are upon the first subplane.” (TCF 532)

“10. Thể nguyên nhân của các Đấng Thiên Nhân ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, trong khi thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế và của ba Ngôi Vị trong Tam Vị logoic ở trên cõi phụ thứ nhất.” (TCF 532)

77. Although solar fire is active upon the higher levels of the systemic mental plane, we see that its origin must be considered as the cosmic mental plane.

77. Mặc dù lửa thái dương hoạt động trên các cấp độ cao hơn của cõi trí hệ thống, chúng ta thấy rằng nguồn gốc của nó phải được xem là cõi trí vũ trụ.

78. The word “animation” is important for it is connected to the principle of soul (anima); we might consider “animation” as ‘vitalization due to soul influence’.

78. Từ “animation” rất quan trọng vì nó liên hệ với nguyên lý của linh hồn (anima); chúng ta có thể xem “animation” là “sự tiếp sinh lực do ảnh hưởng của linh hồn”.

79. The “Logos” of which we are speaking is the “Solar Logos”.

79. “Thượng đế” mà chúng ta đang nói đến là “Thái dương Thượng đế”.

80. When we consider solar fire in relation to the cosmic mental plane, it is the higher three subplanes of that cosmic plane which are, for practical purposes, to be seen as the source of this fire.

80. Khi chúng ta xem xét lửa thái dương trong liên hệ với cõi trí vũ trụ, thì ba cõi phụ cao hơn của cõi vũ trụ ấy, trên thực tế, phải được xem là nguồn của loại lửa này.

81. Just as the part of the human constitution focussing on the higher mental plane animates the concrete mental body of the human being, so it is with the Solar Logos. The energy from the higher aspects of His mental body animates the more concrete aspects of that mental body.

81. Cũng như phần trong cấu tạo con người tập trung trên Cõi thượng trí làm sinh động thể trí cụ thể của con người, thì với Thái dương Thượng đế cũng vậy. Năng lượng từ những phương diện cao hơn của thể trí của Ngài làm sinh động những phương diện cụ thể hơn của thể trí ấy.

82. With respect to humanity, the “sparks of mind” originate with the Solar Angel, as that Angel is focussed in the causal body on the higher mental plane. The spark animates the lower mental body; in fact, the spark represents the ensouling of the concrete mental body (simply a vehicle expressive of instinct before ensouling) and, further, the ensouling of the entire human being in the three worlds.

82. Đối với nhân loại, các “tia lửa trí tuệ” phát sinh từ Thái dương Thiên Thần, vì Thiên Thần ấy tập trung trong thể nguyên nhân trên cõi trí cao hơn. Tia lửa làm sinh động thể trí thấp; thật ra, tia lửa tượng trưng cho sự phú linh của thể trí cụ thể (trước khi được phú linh, nó chỉ đơn giản là một vận cụ biểu lộ bản năng) và hơn nữa, là sự phú linh của toàn bộ con người trong ba cõi thấp.

83. What must be grasped is that the “sparks of mind” are essentially solar fire, even though they animate and operate in the realm of fire by friction. This is an important point.

83. Điều phải được nắm bắt là các “tia lửa trí tuệ” về bản chất là lửa thái dương, dù chúng làm sinh động và hoạt động trong lĩnh vực của lửa ma sát. Đây là một điểm quan trọng.

3. Electric Fire, or the logoic Flame Divine. This flame is the distinguishing mark of our Logos, and it is that which differentiates Him from all other Logoi; it is His dominant characteristic, and the sign of His place in cosmic evolution.

3. Lửa Điện, hay Ngọn Lửa Thiêng logoic. Ngọn lửa này là dấu hiệu phân biệt của Thượng đế của chúng ta, và chính nó là điều làm cho Ngài khác biệt với mọi Thượng đế khác; đó là đặc tính trội vượt của Ngài, và là dấu hiệu về vị trí của Ngài trong tiến hoá vũ trụ.

84. Here we are dealing with a “fire” which is “flame”. We have been considering fire to be a derivative of flame.

84. Ở đây chúng ta đang bàn đến một “lửa” mà là “ngọn lửa”. Chúng ta đã xem lửa là một cái phái sinh từ ngọn lửa.

85. Is the ‘Ultimate Cosmic Flame’ different from electric fire? We have been saying it is

85. “Ngọn Lửa Vũ Trụ Tối Hậu” có khác với lửa điện không? Chúng ta đã nói là có

Fire is the most perfect and unadulterated reflection, in Heaven as on earth, of the One Flame. (SD I 146)

Lửa là sự phản chiếu hoàn hảo và thuần khiết nhất, trên Trời cũng như dưới đất, của Một Ngọn Lửa. (SD I 146)

In this selection (point #3 above), it is suggested that we equate electric fire with “the logoic Flame Divine”. In the quotation from the SD, Flame is considered fundamental and superior to any kind of fire.

Trong đoạn trích này (điểm #3 ở trên), người ta gợi ý rằng chúng ta đồng nhất lửa điện với “Ngọn Lửa Thiêng logoic”. Trong câu trích từ Giáo Lý Bí Nhiệm, Ngọn Lửa được xem là căn bản và cao hơn bất kỳ loại lửa nào.

86. Words, however, are not always used with exactitude. In this case, Flame is related to the monadic nature of our Logos. We probably cannot succeed in separating these words entirely. Just as the terms “sign” and “constellation” always seem to overlap in the Tibetan’s presentation of esoteric astrology, so we may expect something of the same for “fire” and “flame”.

86. Tuy nhiên, từ ngữ không phải lúc nào cũng được dùng một cách chính xác tuyệt đối. Trong trường hợp này, Ngọn Lửa liên hệ với bản chất chân thần của Thượng đế của chúng ta. Có lẽ chúng ta không thể hoàn toàn tách biệt các từ này. Cũng như các thuật ngữ “dấu hiệu” và “chòm sao” dường như luôn chồng lấn trong cách trình bày của Chân sư Tây Tạng về chiêm tinh học nội môn, thì chúng ta có thể chờ đợi điều gì đó tương tự đối với “lửa” và “ngọn lửa”.

87. Master DK seems to be saying that the seat of true identity (for any being) is in the monad.

87. Chân sư DK dường như đang nói rằng chỗ ngự của bản sắc đích thực (đối với bất kỳ hữu thể nào) nằm trong chân thần.

88. At our stage of evolution we do not usually consider the monad as the major differentiator of identity, but in a way, the soul pattern is simply a reflection of the monadic pattern which contains that unique part of the great “Fixed Design” which the monad embodies.

88. Ở giai đoạn tiến hoá của chúng ta, chúng ta thường không xem chân thần là yếu tố phân biệt chính của bản sắc, nhưng theo một nghĩa nào đó, mô hình linh hồn chỉ đơn giản là một phản chiếu của mô hình chân thần, vốn chứa phần độc đáo ấy của “Thiết Kế Cố Định” vĩ đại mà chân thần thể hiện.

89. It would seem that each Logos has a distinguishing “flame”—of a certain color, hue, intensity, and ‘song’ (for flames sing)—according to the nature of which “His place in cosmic evolution” can be determined. It would seem that this must also be true of a human being.

89. Có vẻ như mỗi Thượng đế có một “ngọn lửa” phân biệt—với một màu sắc, sắc độ, cường độ và “bài ca” nhất định (vì ngọn lửa biết hát)—theo bản chất của nó mà “vị trí của Ngài trong tiến hoá vũ trụ” có thể được xác định. Có vẻ như điều này cũng phải đúng đối với một con người.

90. We are, perhaps, somewhat hampered by not knowing the monadic ray of our Solar Logos, whereas we are told that His soul and personality ray are both the second.

90. Có lẽ chúng ta phần nào bị hạn chế vì không biết cung chân thần của Thái dương Thượng đế của chúng ta, trong khi chúng ta được cho biết rằng cả cung linh hồn lẫn cung phàm ngã của Ngài đều là cung hai.

It must be remembered that the dominating ray, the outstanding influence in our solar system, is the great cosmic second Ray of Love-Wisdom, a dual ray,—that is, a ray combining two great cosmic principles and energies. It is the ray which governs the "personality" of our solar Logos, if such an expression may be used, and (because it is dual) it indicates both His personality and soul rays, which in Him are now so balanced and blended that, from the angle of humanity, they constitute the major ray, the one ray. This major ray determines both His quality and His purpose. (EP I 334)

Phải nhớ rằng cung chi phối, ảnh hưởng nổi bật trong hệ mặt trời của chúng ta, là cung hai vũ trụ vĩ đại của Bác Ái – Minh Triết, một cung kép,—nghĩa là, một cung kết hợp hai nguyên khí và năng lượng vũ trụ lớn lao. Đó là cung cai quản “phàm ngã” của Thái dương Thượng đế của chúng ta, nếu có thể dùng cách diễn đạt như vậy, và (bởi vì nó là kép) nó biểu thị cả cung phàm ngã lẫn cung linh hồn của Ngài, vốn hiện nay nơi Ngài được quân bình và dung hợp đến mức, xét từ góc độ nhân loại, chúng cấu thành cung chính yếu, cung duy nhất. Cung chính yếu này quyết định cả phẩm tính lẫn mục đích của Ngài. (EP I 334)

91. There is speculation that that monadic ray may be the fourth since our Logos is a Logos of the “fourth order”, but it is not necessarily a foregone conclusion that the “order” number corresponds exactly to the ray number.

91. Có suy đoán rằng cung chân thần ấy có thể là cung bốn vì Thượng đế của chúng ta là một Thượng đế thuộc “trật tự thứ tư”, nhưng không nhất thiết có thể kết luận sẵn rằng con số “trật tự” tương ứng chính xác với con số cung.

92. Our Logos is, however, a heart center within one of the “One(s) About Whom Naught May Be Said”, and the heart chakra is the fourth. The number four is, therefore, significant in His energy system.

92. Tuy nhiên, Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tim bên trong một trong những “Đấng Bất Khả Tư Nghị”, và luân xa tim là thứ tư. Vì vậy, con số bốn có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống năng lượng của Ngài.

93. Let us be alert to the thought that Love-Wisdom is a dual ray, and one or the other factor may apply to the personality and soul of the Solar Logos. In other words, the personality of the Solar Logos may have a love emphasis, and His soul a wisdom emphasis, or the other way round.

93. Chúng ta hãy cảnh giác với ý tưởng rằng Bác Ái – Minh Triết là một cung kép, và một hay yếu tố kia có thể áp dụng cho phàm ngã và linh hồn của Thái dương Thượng đế. Nói cách khác, phàm ngã của Thái dương Thượng đế có thể có trọng tâm là bác ái, còn linh hồn của Ngài có trọng tâm là minh triết, hoặc ngược lại.

This threefold fire may be expressed in ray terms as follows:

Ba loại lửa này có thể được diễn tả theo thuật ngữ cung như sau:

First, we have the animating fires of the solar system, which are the fires of the primordial ray of active intelligent matter; these constitute the energy of Brahma, the third aspect of the Logos. Next are to be found the fires of the divine Ray of Love-Wisdom, the ray of intelligent love, which constitutes the energy of the Vishnu aspect, the second aspect logoic.

Thứ nhất, chúng ta có các ngọn lửa sinh động của hệ mặt trời, là các ngọn lửa của cung nguyên sơ của vật chất thông tuệ hoạt động; chúng cấu thành năng lượng của Brahma, phương diện thứ ba của Thượng đế. Kế đến là các ngọn lửa của Cung thiêng liêng của Bác Ái – Minh Triết, cung của tình thương thông tuệ, cấu thành năng lượng của phương diện Vishnu, phương diện thứ hai của Thượng đế.

94. The term “primordial” is important; it suggests the age and foundational nature of this ray.

94. Thuật ngữ “nguyên sơ” rất quan trọng; nó gợi ý tuổi đời và bản chất nền tảng của cung này.

95. The third ray is often called the Ray of Active Intelligence. Here another and important name is given: the “ray of active intelligent matter”. The relation of the third ray to matter must always be remembered. It is also closely related to mind.

95. Cung ba thường được gọi là Cung Hoạt Động Thông Tuệ. Ở đây một tên gọi khác và quan trọng được nêu ra: “cung của vật chất thông tuệ hoạt động”. Mối liên hệ của cung ba với vật chất phải luôn được ghi nhớ. Nó cũng liên hệ chặt chẽ với trí tuệ.

96. The term “divine” applies to the Ray of Love-Wisdom. It is the “divine ray of Love-Wisdom”.

96. Thuật ngữ “thiêng liêng” được áp dụng cho Cung Bác Ái – Minh Triết. Đó là “Cung thiêng liêng của Bác Ái – Minh Triết”.

97. These are the two words to remember: “primordial” and “divine”.

97. Đây là hai từ cần ghi nhớ: “nguyên sơ” và “thiêng liêng”.

(4: "That whereinto all enter, vishanti, is Vishnu; he who covers up, envelopes, surrounds, undertakes all, is Brahma; he who sleeps, shete, in everything, is Shiva. Shiva sleeps, lies hidden, in all and everything as the nexus, the bond, and this is the nature of desire. Vrinite signifies the envelopment, the covering with an envelope, the demarcation of the limiting bounds or the periphery, and so the formation or creation (of all forms); and this is action presided over by Brahma. Vishanti sarvani indicates that all things enter into It and It into all, and such is the Self, connected with cognition and Vishnu. The summation or totality of these is Maha-Vishnu.)

(4: “Cái mà mọi sự đi vào, vishanti, là Vishnu; đấng che phủ, bao bọc, vây quanh, đảm nhận mọi sự, là Brahma; đấng ngủ, shete, trong mọi sự, là Shiva. Shiva ngủ, ẩn kín, trong mọi sự và mọi vật như mối nối, mối liên kết, và đó là bản chất của dục vọng. Vrinite biểu thị sự bao bọc, sự che phủ bằng một lớp vỏ, sự phân định các giới hạn hay chu vi, và như thế là sự hình thành hay sáng tạo (của mọi hình tướng); và đây là hoạt động do Brahma chủ trì. Vishanti sarvani chỉ rằng mọi sự đi vào Nó và Nó đi vào mọi sự, và đó là Bản Ngã, liên kết với nhận thức và Vishnu. Tổng thể của tất cả những điều này là Maha-Vishnu.”)

98. In picturesque language, the qualities of the three “Persons” are vividly clear.

98. Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, các phẩm tính của ba “Ngôi Vị” được làm sáng tỏ một cách sinh động.

"Maha-Vishnu, 'the overlord of all this world-system, is described as the Ishvara, white-coloured, four-armed, adorned with the conch, the discus, the mace, the lotus, the forest-wreath, and the kanstubha-gem, shining, vestured in blue and yellow, endless and imperishable in form, attributeless, yet ensouling and underlying all attributes.

“Maha-Vishnu, ‘vị chúa tể tối cao của toàn bộ hệ thống thế giới này, được mô tả là Ishvara, màu trắng, bốn tay, trang sức bằng vỏ ốc, đĩa, chùy, hoa sen, vòng hoa rừng, và ngọc kanstubha, rực sáng, khoác y phục xanh và vàng, vô tận và bất hoại trong hình tướng, vô thuộc tính, nhưng vẫn phú linh và làm nền cho mọi thuộc tính.

99. An entire unit of work lies in deciphering these symbols, which fortunately is presented clearly below.

99. Cả một đơn vị công việc nằm ở việc giải mã các biểu tượng này, điều may mắn là được trình bày rõ ràng bên dưới.

Here, the epithet Ishvara indicates the rule; the four arms, the four activities of cognition, etc.; the white resplendence is the illumination of all things; the shankha, conch or shell, indicates all sound, and the chakra, wheel or discus, all time, there being a connexion between the two; gada, the (whirling) mace, is the spiral method of the procession of the world and the lotus-flower is the whole of that procession; the vana-mala, the wreath of forest flowers, indicates the stringing together of all things into unity and necessity; the nila-pit-ambara, blue and yellow vestures, are darkness and light; the kaustubha jewel indicates inseparable connexion with all; Nirguna, attributeless, shows the presence of the nature of Negation; while saguna, attributeful, implies possession of name and form. The World-process (as embodied in our world-system) is the result of the ideation of Maha-Vishnu."—Pranava-Vada, pp. 72-74, 94-95)

Ở đây, danh hiệu Ishvara chỉ quy luật; bốn cánh tay, bốn hoạt động của nhận thức, v.v.; sự rực sáng trắng là sự soi sáng của mọi sự; shankha, vỏ ốc hay vỏ sò, chỉ mọi âm thanh, và chakra, bánh xe hay đĩa, chỉ mọi thời gian, vì có một mối liên hệ giữa hai điều này; gada, cây chùy (xoáy tròn), là phương pháp xoắn ốc của tiến trình thế giới và hoa sen là toàn bộ tiến trình ấy; vana-mala, vòng hoa rừng, chỉ sự xâu kết mọi sự thành hợp nhất và tất yếu; nila-pit-ambara, y phục xanh và vàng, là bóng tối và ánh sáng; ngọc kaustubha chỉ sự liên kết bất khả phân với mọi sự; Nirguna, vô thuộc tính, cho thấy sự hiện diện của bản chất Phủ định; còn saguna, hữu thuộc tính, hàm ý sự sở hữu danh và sắc. Tiến trình Thế giới (như được thể hiện trong hệ thống thế giới của chúng ta) là kết quả của ý niệm hóa của Maha-Vishnu.”—Pranava-Vada, tr. 72-74, 94-95)

100. One has to profoundly respect the Tradition which produced such thought.

100. Người ta phải hết sức kính trọng Truyền thống đã sản sinh ra loại tư tưởng như thế.

101. Probably in the Pranava-Vada (now available on the Makara Website due to the labors of Dr. Guy Pettitt) a similar description of Brahma and Vishnu is available.

101. Có lẽ trong Pranava-Vada (nay có trên trang Makara nhờ công lao của Tiến sĩ Guy Pettitt) cũng có sẵn một mô tả tương tự về Brahma và Vishnu.

Finally are to be found [Page 39] the fires of the cosmic mental plane, which are the fires of the cosmic ray of will. They might be described as the rays of intelligent will and are the manifestation of the first aspect logoic, the Mahadeva aspect.5

Sau cùng là [Page 39] các ngọn lửa của cõi trí vũ trụ, là các ngọn lửa của cung ý chí vũ trụ. Chúng có thể được mô tả như các cung của ý chí thông tuệ và là biểu hiện của phương diện thứ nhất của Thượng đế, phương diện Mahadeva.5

(5: Mahadeva is literally "great Deva." The term is frequently applied to the first Person of the manifested Trinity, to Shiva, the Destroyer aspect, the Creator.)

(5: Mahadeva theo nghĩa đen là “đại thiên thần”. Thuật ngữ này thường được áp dụng cho Ngôi Vị thứ nhất của Tam Vị biểu hiện, cho Shiva, phương diện Hủy Diệt, Đấng Sáng Tạo.)

102. The highest fires come from the cosmic mental plane. This is an unusual thought.

102. Những ngọn lửa cao nhất đến từ cõi trí vũ trụ. Đây là một ý tưởng khác thường.

103. This suggests that the “Divine Ray”, the Ray of Love-Wisdom, may be associated with the cosmic astral plane and that the Primordial Ray is associated with the cosmic physical plane.

103. Điều này gợi ý rằng “Cung thiêng liêng”, Cung Bác Ái – Minh Triết, có thể liên kết với cõi cảm dục vũ trụ và Cung Nguyên sơ liên kết với cõi hồng trần vũ trụ.

104. Thus, the “three cosmic rays” are associated with the three lowest cosmic planes.

104. Như vậy, “ba cung vũ trụ” liên kết với ba cõi vũ trụ thấp nhất.

105. These are, for practical purposes, the Rays of the Holy Spirit (cosmically considered).

105. Xét theo mục đích thực tiễn, đây là các Cung của Chúa Thánh Thần (xét theo vũ trụ).

106. However, as mental planes have three divisions, the dual mental ray and the ray of will may all find their expression on the systemic mental plane and their origin on the cosmic mental plane.

106. Tuy nhiên, vì các cõi trí có ba phân khu, cung trí tuệ kép và cung ý chí có thể đều tìm thấy sự biểu hiện của chúng trên cõi trí của hệ thống và nguồn gốc của chúng trên cõi trí vũ trụ.

107. The mode of division would be

107. Cách phân chia sẽ là

a. 4 subplanes (the fire of lower mind)

a. 4 cõi phụ (lửa của hạ trí)

b. 2 subplanes (the fire of higher mind)

b. 2 cõi phụ (lửa của thượng trí)

c. 1 subplane (the fires of the “cosmic ray of will”)

c. 1 cõi phụ (các ngọn lửa của “cung ý chí vũ trụ”)

Therefore we have three cosmic rays manifesting:

Vì vậy chúng ta có ba cung vũ trụ biểu hiện:

108. These rays are to be considered “cosmic” because they are elevated above our physical solar system (even though they pertain to a being who manifests through a solar system (a Solar Logos)

108. Các cung này được xem là “vũ trụ” vì chúng được nâng cao vượt trên hệ mặt trời hồng trần của chúng ta (dù chúng thuộc về một hữu thể biểu hiện qua một hệ mặt trời (một Thái dương Thượng đế)

The Ray of intelligent activity. This is a ray of a very demonstrable glory, and of a higher point of development than the other two, being the product of an earlier mahakalpa, or a previous solar system.6

Cung của hoạt động thông tuệ. Đây là một cung có vinh quang hiển nhiên, và ở một điểm phát triển cao hơn hai cung kia, vì là sản phẩm của một mahakalpa sớm hơn, hay một hệ mặt trời trước đó.6

109. A Mahakalpa is equivalent to both a Mahamanvantara and an Occult Century, or100 Years of Brahma

109. Một Mahakalpa tương đương với cả một Mahamanvantara và một Thế Kỷ Huyền Bí, hay 100 Năm của Brahma

110. A question arose in discussion: Are all solar systems of equal duration for the same Solar Logos? If one system is a personality solar system followed by a soul solar system, and then a spirit system—then each succeeding solar system may be of lessening duration than the one before. Thus, does an occult century mean the same number of years? The duration of a solar system may be called an “occult century”, but does its actual duration differ from the duration of the incarnations of the same Solar Logos? These is no way we can answer this question at the present time.

110. Một câu hỏi được nêu ra trong thảo luận: Có phải mọi hệ mặt trời đều có thời lượng bằng nhau đối với cùng một Thái dương Thượng đế không? Nếu một hệ là một hệ mặt trời phàm ngã tiếp theo là một hệ mặt trời linh hồn, rồi đến một hệ tinh thần—thì mỗi hệ mặt trời kế tiếp có thể có thời lượng ngắn dần so với hệ trước. Vậy thì, một thế kỷ huyền bí có nghĩa là cùng một số năm chăng? Thời lượng của một hệ mặt trời có thể được gọi là một “thế kỷ huyền bí”, nhưng thời lượng thực tế của nó có khác với thời lượng các lần lâm phàm của cùng một Thái dương Thượng đế không? Hiện nay chúng ta không có cách nào trả lời câu hỏi này.

111. This Ray is of a “demonstrable glory” because it has been so active—for at least one previous occult century.

111. Cung này có một “vinh quang hiển nhiên” vì nó đã hoạt động mạnh mẽ như vậy—ít nhất trong một thế kỷ huyền bí trước đó.

112. It is the ‘Ray of Manifestation’ and the word “demonstrable” correlates with the word “manifested”.

112. Đây là ‘Cung Biểu Hiện’ và từ “hiển nhiên” tương ứng với từ “biểu hiện”.

113. Here DK speaks of the matter of time, which is related to history of our planetary and solar system.

113. Ở đây Chân sư DK nói về vấn đề thời gian, vốn liên hệ với lịch sử của hệ hành tinh và hệ mặt trời của chúng ta.

114. We note that this Ray of Activity is called the “Ray of Intelligent Activity”. We remember that we are confining our consideration to the personality nature of a Solar Logos. Personality is ruled by the principle of intelligence.

114. Chúng ta lưu ý rằng Cung Hoạt Động này được gọi là “Cung của Hoạt Động Thông Tuệ”. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đang giới hạn sự xem xét của mình vào bản chất phàm ngã của một Thái dương Thượng đế. Phàm ngã được cai quản bởi nguyên khí của trí tuệ.

115. On the following footnote and entire book could be written. In fact there are authors who have undertaken to do so.

115. Về cước chú sau đây, có thể viết cả một cuốn sách. Thực ra đã có những tác giả đảm nhận việc đó.

Extensive Footnote: (6 "One day out of this long life of Brahma is called Kalpa; and a Kalpa is that portion of time which intervenes between one conjunction of all the planets on the horizon of Lanka, at the first point of Aries, and a subsequent similar conjunction.

Cước chú mở rộng: (6 “Một ngày trong cuộc đời dài lâu này của Brahma được gọi là Kalpa; và một Kalpa là khoảng thời gian xen giữa một lần đồng vị của tất cả các hành tinh trên chân trời Lanka, tại điểm đầu tiên của Bạch Dương, và một lần đồng vị tương tự tiếp theo.

116. As the Hindus use the Vedic system of astrology, it can be questioned whether any planets beyond Saturn are used in this calculation of a Kalpa. Present day Vedic astrologers do not take trans-Saturnian planets into consideration.

116. Vì người Hindu sử dụng hệ thống chiêm tinh Vệ Đà, có thể đặt câu hỏi liệu có hành tinh nào vượt ngoài Thổ Tinh được dùng trong phép tính một Kalpa này hay không. Các nhà chiêm tinh Vệ Đà ngày nay không xét đến các hành tinh ngoài Thổ Tinh.

117. The note is saying, probably, that Saturn and all intra-Saturnian planets are found conjunct at the first degree of Aries (probably sidereal Aries) once every 4,320,000,000 years.

117. Ghi chú này có lẽ đang nói rằng Thổ Tinh và tất cả các hành tinh phía trong quỹ đạo Thổ Tinh được thấy đồng vị tại độ đầu tiên của Bạch Dương (có lẽ là Bạch Dương bản mệnh) cứ mỗi 4.320.000.000 năm một lần.

A Kalpa embraces the reign of fourteen Manus, and their sandhies (intervals); each Manu lying between two sandhies. Every Manu's rule contains seventy-one Maha Yugas,—each Maha Yuga consists of four Yugas, viz., Krita, Treta, Dwapara, and Kali; and the length of each of these four Yugas is respectively as the numbers, 4, 3, 2 and 1.

Một Kalpa bao gồm triều đại của mười bốn Đức Manu, và các sandhi của các Ngài (các khoảng chuyển tiếp); mỗi Đức Manu nằm giữa hai sandhi. Mỗi triều đại của một Đức Manu bao gồm bảy mươi mốt Maha Yuga,—mỗi Maha Yuga gồm bốn Yuga, tức là, Krita, Treta, Dwapara, và Kali; và độ dài của mỗi Yuga trong bốn Yuga này lần lượt theo các con số 4, 3, 2 và 1.

118. The 4, 3, 2, 1 suggest the Pythagorean Tetraktys, with its key to cosmic timing, to universal music as a constructive power and to cosmic geometry.

118. Các số 4, 3, 2, 1 gợi đến Tetraktys của Pythagoras, với chìa khóa của nó đối với nhịp thời gian vũ trụ, đối với âm nhạc phổ quát như một quyền năng kiến tạo và đối với hình học vũ trụ.

119. But why then, is the 1 not found in the series 4, 3, 2, 0?

119. Nhưng vậy thì tại sao số 1 lại không được thấy trong chuỗi 4, 3, 2, 0?

120. Can it be that the 4, 3, 2 continue to cycle and re-cycle on ever higher turns of the spiral before resolving into the 1?

120. Có thể nào 4, 3, 2 tiếp tục tuần hoàn và tái tuần hoàn trên những vòng xoắn ngày càng cao hơn trước khi phân giải vào số 1?

121. Of what type of “Manu” are we speaking? The reigns of the types of Manus of rootraces, for instance, come nowhere near 306,720,000 years. The following bears much investigation, but we may be speaking of Manus who preside over an entire round.

121. Chúng ta đang nói đến loại “Đức Manu” nào? Chẳng hạn, các triều đại của các loại Đức Manu của các giống dân gốc không hề gần với 306.720.000 năm. Điều sau đây cần được khảo cứu nhiều, nhưng có thể chúng ta đang nói đến các Đức Manu chủ trì toàn bộ một cuộc tuần hoàn.

122. 360 x 1000 (Maha Yugas) = 360,000 x 2 = 720,000 Maha Yugas in one year of Brahma.

122. 360 x 1000 (Maha Yugas) = 360.000 x 2 = 720.000 Maha Yugas trong một năm của Brahma.

123. 100 X 720,000, = 72, 000,000 Maha Yugas in an Occult Century.

123. 100 X 720.000 = 72.000.000 Maha Yugas trong một Thế Kỷ Huyền Bí.

124. A Maha Kalpa and a Mahamanvantara are equivalent terms = Occult Century

124. Một Maha Kalpa và một Mahamanvantara là những thuật ngữ tương đương = Thế Kỷ Huyền Bí

125. 31,104,000 is the number of seconds in an Earth year. x100 = 3,110, 400,000 seconds in century.

125. 31.104.000 là số giây trong một năm Trái Đất. x100 = 3.110.400.000 giây trong một thế kỷ.

126. 5 zeros are missing from the foregoing figure when comparing it to the number of years in a occult century. Therefore, 3,110, 400,000 x 100,000 = 311, 040,000,000,000

126. Thiếu 5 số không trong con số trên khi so sánh nó với số năm trong một thế kỷ huyền bí. Vì vậy, 3.110.400.000 x 100.000 = 311.040.000.000.000

127. In 100,000 centuries (or 10,000,000 years), there are the same number of seconds as there are years in an occult century.

127. Trong 100.000 thế kỷ (hay 10.000.000 năm), có cùng số giây như số năm trong một thế kỷ huyền bí.

That these figures are not fanciful, but are founded upon astronomical facts, has been demonstrated by Mr. Davis, in an essay in the Asiatic Researches; and this receives further corroboration from the geological investigations and calculations made by Dr. Hunt, formerly President of the Anthropological Society, and also in some respects from the researches made by Professor Huxley.

Rằng các con số này không phải là tưởng tượng mà dựa trên các sự kiện thiên văn, đã được ông Davis chứng minh trong một tiểu luận đăng trong Asiatic Researches; và điều này còn được xác nhận thêm bởi các khảo cứu và tính toán địa chất của Tiến sĩ Hunt, nguyên Chủ tịch Hội Nhân Chủng học, và cũng phần nào bởi các nghiên cứu của Giáo sư Huxley.

Great as the period of the Maha Kalpa seems to be, we are assured that thousands and thousands of millions of such Maha Kalpas have passed, and as many more are yet to come. (Vide Brahma-Vaivarta and Bhavishyre Puranas; and Linga Purana, ch. 171, verse 107, &c.) and this in plain language means that the Time past is infinite and the Time to come is equally infinite.

Dù thời kỳ của Maha Kalpa có vẻ lớn lao đến đâu, chúng ta vẫn được bảo đảm rằng hàng ngàn và hàng ngàn triệu Maha Kalpa như thế đã trôi qua, và cũng từng ấy còn ở phía trước. (Xem Brahma-Vaivarta và Bhavishyre Puranas; và Linga Purana, ch. 171, câu 107, v.v.) và điều này, nói một cách đơn giản, có nghĩa là Thời gian đã qua là vô hạn và Thời gian sắp đến cũng vô hạn như vậy.

128. A sequential treatment of time is here given.

128. Ở đây có một cách trình bày tuần tự về thời gian.

129. 1,000 X 1,000, x 1,000,000 = 1,000,000,000,000 (a trillion). Simply, one thousand times one thousand times one million gives us a trillion, and the footnote suggests many, many more. Thus, when considering the number of years which have elapsed thus far in our total cosmos, we are dealing with at the very, very least a trillion occult centuries or 311,040,000,000,000,000,000,000,000 (311 octillion, 40 septillion years). The number of Earth years which yet remain in the duration of our present universe is at least equal to this fire. The figure, of course, is much too small, because one trillion is ridiculously less that “thousands and thousands of millions”.

129. 1.000 X 1.000 x 1.000.000 = 1.000.000.000.000 (một nghìn tỷ). Đơn giản là, một nghìn nhân một nghìn nhân một triệu cho chúng ta một nghìn tỷ, và cước chú gợi ý còn nhiều, nhiều hơn thế nữa. Vì vậy, khi xét số năm đã trôi qua cho đến nay trong toàn thể vũ trụ của chúng ta, chúng ta đang xử lý, ít nhất là, một nghìn tỷ thế kỷ huyền bí hay 311.040.000.000.000.000.000.000.000 (311 octillion, 40 septillion năm). Số năm Trái Đất còn lại trong thời lượng của vũ trụ hiện tại của chúng ta ít nhất cũng bằng con số này. Dĩ nhiên, con số ấy quá nhỏ, vì một nghìn tỷ thì nhỏ đến nực cười so với “hàng ngàn và hàng ngàn triệu”.

130. So, indeed, from the human perspective, time past is virtually infinite as is time to come. And all this in relation to a still finite Universe.

130. Vì vậy, quả thật, từ góc nhìn con người, thời gian đã qua hầu như vô hạn cũng như thời gian sắp đến. Và tất cả điều này liên hệ với một Vũ trụ vẫn còn hữu hạn.

131. Note the implications of the following selection from TCF 1084:

131. Hãy lưu ý những hàm ý của đoạn trích sau từ TCF 1084:

“The one wheel turns. One turn alone is made, and every sphere, and suns of all degrees, follow its course. The night of time is lost in it, and kalpas measure less than seconds in the little day of man.

“Bánh xe duy nhất quay. Chỉ một vòng quay được thực hiện, và mọi khối cầu, cùng các mặt trời ở mọi cấp độ, đều theo tiến trình của nó. Đêm của thời gian tan biến trong đó, và các kalpa đo lường ít hơn những giây trong ngày nhỏ bé của con người.

Ten million million kalpas pass, and twice ten million million Brahmic cycles and yet one hour of cosmic time is not completed.

Mười triệu triệu kalpa trôi qua, và hai lần mười triệu triệu chu kỳ Brahma nữa, vậy mà một giờ của thời gian vũ trụ vẫn chưa hoàn tất.

Within the wheel, forming that wheel, are all the lesser wheels from the first to the tenth dimension. These in their cyclic turn hold in their spheres of force other and lesser wheels. Yet many suns compose the cosmic One.

Bên trong bánh xe, tạo thành bánh xe ấy, là tất cả những bánh xe nhỏ hơn từ chiều thứ nhất đến chiều thứ mười. Những bánh xe này trong vòng quay chu kỳ của chúng giữ trong các khối cầu mãnh lực của chúng những bánh xe khác và nhỏ hơn. Tuy nhiên nhiều mặt trời hợp thành Đấng Duy Nhất vũ trụ.

Wheels within wheels, spheres within spheres. Each pursues his course and attracts or rejects his brother, and yet cannot escape from the encircling arms of the mother.

Những bánh xe trong những bánh xe, những khối cầu trong những khối cầu. Mỗi cái theo đuổi tiến trình của mình và hút vào hay đẩy ra huynh đệ của mình, nhưng vẫn không thể thoát khỏi vòng tay bao quanh của người mẹ.

When the wheels of the fourth dimension, of which our sun is one and all that is of lesser force and higher number, such as the eighth and ninth degrees, turn upon themselves, devour each other, and turn and rend their mother, then will the cosmic wheel be ready for a faster revolution.” (TCF 1084)

Khi những bánh xe của chiều thứ tư, mà mặt trời của chúng ta là một trong số đó, và tất cả những gì có mãnh lực nhỏ hơn và số lượng lớn hơn, như các cấp thứ tám và thứ chín, quay trên chính mình, nuốt chửng lẫn nhau, rồi quay và xé rách mẹ của chúng, khi ấy bánh xe vũ trụ sẽ sẵn sàng cho một cuộc quay nhanh hơn.” (TCF 1084)

132. Return to previous footnote:

132. Trở lại cước chú trước:

The Universe is formed, dissolved, and reproduced, in an indeterminate succession (Bhagavata-gita, VIII, 19)."—The Theosophist, Vol. VII, p. 115.)

Vũ trụ được hình thành, tan rã, và tái tạo, trong một chuỗi tiếp nối bất định (Bhagavata-gita, VIII, 19).”—The Theosophist, Tập VII, tr. 115.)

133. The concept of an “indeterminate” succession of universes means (really, an infinite, beginningless/endless succession) is here promoted—each universe being of ‘virtually infinite’ duration. May we say that ‘we’ have “plenty of time”?!

133. Khái niệm về một chuỗi tiếp nối “bất định” của các vũ trụ có nghĩa là (thực ra là một chuỗi vô hạn, không khởi đầu/không kết thúc) được nêu cao ở đây—mỗi vũ trụ đều có thời lượng ‘hầu như vô hạn’. Chúng ta có thể nói rằng ‘chúng ta’ có “rất nhiều thời gian” chăng?!

134. There is much discussion as to whether these huge figures are literal or symbolical, and arguments can be made on either side. If they are literal, how is it that the various periods are tied to the method of keeping time as practiced on earth? If they are symbolical, how can the ancient literature speak of a kalpa as astronomically determined (i.e., the time elapsing between successive conjunctions of all planets (presumably major planets within the orbit of Saturn) in the first degree of Aries.

134. Có nhiều bàn luận về việc những con số khổng lồ này là nghĩa đen hay biểu tượng, và có thể lập luận theo cả hai phía. Nếu chúng là nghĩa đen, thì tại sao các thời kỳ khác nhau lại gắn với phương pháp tính thời gian như được thực hành trên Trái Đất? Nếu chúng là biểu tượng, thì làm sao văn liệu cổ lại có thể nói về một kalpa như được xác định bằng thiên văn học (tức là, khoảng thời gian trôi qua giữa những lần đồng vị liên tiếp của tất cả các hành tinh (có lẽ là các hành tinh chính trong quỹ đạo của Thổ Tinh) tại độ đầu tiên của Bạch Dương.

135. It is questionable whether there exists computer software which can calculate whether or not such conjunctions even happen.

135. Đáng nghi ngờ là có tồn tại phần mềm máy tính nào có thể tính được liệu những lần đồng vị như thế có thực sự xảy ra hay không.

[Returning to the Ray of Intelligent Activity].

[Trở lại Cung Hoạt Động Thông Tuệ].

It embodies [Page 40] the basic vibration of this solar system, and is its great internal fire, animating and vitalising the whole, and penetrating from the centre to the periphery. It is the cause of rotary motion, and therefore of the spheroidal form of all that exists.

Nó thể hiện [Page 40] rung động căn bản của hệ mặt trời này, và là ngọn lửa nội tại vĩ đại của nó, làm sinh động và tiếp sinh lực cho toàn thể, đồng thời thâm nhập từ trung tâm đến chu vi. Nó là nguyên nhân của chuyển động quay, và do đó của hình thể cầu của mọi cái đang hiện hữu.

136. The third ray is basic. The “basic vibration” is called in music, the “fundamental”. The fundamental for our solar system is FA or the note F (whatever its minutely specific frequency).

136. Cung ba là căn bản. “Rung động căn bản” trong âm nhạc được gọi là “âm cơ bản”. Âm cơ bản của hệ mặt trời chúng ta là FA hay nốt F (dù tần số đặc thù vi tế của nó là gì đi nữa).

137. It is the “great internal fire” of the solar system.

137. Nó là “ngọn lửa nội tại vĩ đại” của hệ mặt trời.

138. It is the cause of “rotary motion” which is basically repetitious

138. Nó là nguyên nhân của “chuyển động quay”, vốn về cơ bản là lặp đi lặp lại

139. All forms of life are spheroidal, and the third ray is the cause of this sphericity. It is easy to understand how vorticular motion causes sphericity.

139. Mọi hình tướng của sự sống đều có dạng cầu, và cung ba là nguyên nhân của tính cầu này. Thật dễ hiểu cách chuyển động xoáy lốc gây ra tính cầu.

140. If Fohat is Brahma and the Third Ray and Fohat is also the “Fiery Whirlwind”, we can see that rotary motion is built into this whirling.

140. Nếu Fohat là Brahma và là cung ba, và Fohat cũng là “Cơn Lốc Lửa”, chúng ta có thể thấy rằng chuyển động quay được xây dựng sẵn trong sự xoáy này.

141. When the idea of the “periphery” is raised, it always relates to the third ray, just as the note from the Pranava-Vada (above) informed us. “He who covers up, envelopes, surrounds, undertakes all, is Brahma…”

141. Khi ý niệm về “chu vi” được nêu lên, nó luôn liên hệ với cung ba, đúng như ghi chú từ Pranava-Vada (ở trên) đã cho chúng ta biết. “Đấng che phủ, bao bọc, vây quanh, đảm nhận mọi sự, là Brahma…”

142. Points Emerging in Group Discussion—in relation to the first and second Fundamentals of the Secret Doctrine.

142. Những điểm nổi lên trong thảo luận nhóm—liên hệ với điều Căn Bản thứ nhất và thứ hai của Giáo Lý Bí Nhiệm.

a. There is a theory that there no karma from one universe to the next. Each universe offers a ‘fresh start’ uncomplicated by ‘residues’.

a. Có một lý thuyết cho rằng không có nghiệp quả từ vũ trụ này sang vũ trụ kế tiếp. Mỗi vũ trụ đem lại một ‘khởi đầu mới’ không bị phức tạp hóa bởi các ‘tàn dư’.

b. If this theory is correct, then there is at the close of every universe, universal redemption, and the complete fulfillment of the Grand Design/Purpose for that universe.

b. Nếu lý thuyết này đúng, thì vào lúc kết thúc mỗi vũ trụ sẽ có sự cứu chuộc phổ quát, và sự hoàn thành trọn vẹn của Thiết Kế Vĩ Đại/Mục Đích đối với vũ trụ ấy.

c. While we consider that there are no residues from one universe to the next, there are residues from one lesser intra-universal system to another.

c. Dù chúng ta cho rằng không có tàn dư từ vũ trụ này sang vũ trụ kế tiếp, vẫn có những tàn dư từ hệ nội-vũ-trụ nhỏ hơn này sang hệ khác.

The Ray of intelligent love.

Cung của tình thương thông tuệ.

143. Note again that the word intelligent is used when naming this ray, just as was the case with the “Ray of Intelligent Activity”. We are still within the personality nature of the Solar Logos, and this is His intelligence nature. It comprises the first 18 subplanes of the lowest three cosmic planes.

143. Hãy lưu ý lần nữa rằng từ thông tuệ được dùng khi gọi tên cung này, cũng như trường hợp của “Cung Hoạt Động Thông Tuệ”. Chúng ta vẫn còn ở trong bản chất phàm ngã của Thái dương Thượng đế, và đây là bản chất trí tuệ của Ngài. Nó bao gồm 18 cõi phụ đầu tiên của ba cõi vũ trụ thấp nhất.

This is the ray which embodies the highest vibration of which our solar Logos or Deity is capable in this present solar system. It is not yet vibrating adequately nor has it yet attained the peak of its activity.

Đây là cung thể hiện rung động cao nhất mà Thái dương Thượng đế hay Thượng đế của chúng ta có khả năng đạt được trong hệ mặt trời hiện tại này. Nó vẫn chưa rung động đầy đủ và cũng chưa đạt đến đỉnh cao hoạt động của nó.

144. Should the “peak” (mountain) represent the fourth or fifth degree? Inference may lead to the fifth initiation, and, indeed, there are references which suggest that the Solar Logos is to take the fifth cosmic initiation in this system. If the word “activity” is emphasized, it will be the fourth initiation, because the causal body is the third or activity aspect and the causal body exists until the fourth initiation.

144. “Đỉnh cao” (ngọn núi) có nên tượng trưng cho cấp thứ tư hay thứ năm không? Suy luận có thể dẫn đến lần điểm đạo thứ năm, và quả thật có những dẫn chiếu gợi ý rằng Thái dương Thượng đế sẽ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ năm trong hệ này. Nếu từ “hoạt động” được nhấn mạnh, thì đó sẽ là lần điểm đạo thứ tư, bởi vì thể nguyên nhân là phương diện thứ ba hay phương diện hoạt động và thể nguyên nhân tồn tại cho đến lần điểm đạo thứ tư.

Our Logos Himself, the heart of His system, is on the cosmic astral plane; he is polarised there. Just as the units of the fourth Creative Hierarchy, the human, are evolving through the use of physical bodies, but are polarised at this time in their astral vehicles, so we have seen that the objective solar system forms the physical body of the Logos, though His polarity is in His astral body. It is significant that in this greater manvantara, the Logos is to take the fourth cosmic Initiation. (TCF 571)

Chính Thượng đế của chúng ta, trái tim của hệ của Ngài, ở trên cõi cảm dục vũ trụ; Ngài phân cực ở đó. Cũng như các đơn vị của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại, đang tiến hoá qua việc sử dụng các thể xác, nhưng hiện nay đang phân cực trong các vận cụ cảm dục của họ, thì chúng ta đã thấy rằng hệ mặt trời khách quan tạo thành thể xác của Thượng đế, dù sự phân cực của Ngài ở trong thể cảm dục của Ngài. Điều có ý nghĩa là trong giai kỳ sinh hóa lớn lao hơn này, Thượng đế sẽ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư. (TCF 571)

145. See TCF 384 for the evolutionary status of a Solar Logos. He is to achieve the third and fourth cosmic initiations in this solar system. This tells us that, in a way, the fourth initiation of self-conscious entities is still partially under the ray of the soul, because for our Solar Logos, this solar system is a system for soul development.

145. Xem TCF 384 về tình trạng tiến hoá của một Thái dương Thượng đế. Ngài sẽ đạt lần điểm đạo vũ trụ thứ ba và thứ tư trong hệ mặt trời này. Điều này cho chúng ta biết rằng, theo một cách nào đó, lần điểm đạo thứ tư của các thực thể có ngã thức vẫn còn phần nào nằm dưới cung của linh hồn, bởi vì đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, hệ mặt trời này là một hệ dành cho sự phát triển linh hồn.

146. The parallels can be found in the development of the Logos of the Earth which seems to parallel in its development the Solar Logos.

146. Những điểm song song có thể được tìm thấy trong sự phát triển của Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất, dường như song hành trong sự phát triển của mình với Thái dương Thượng đế.

147. The comparison below is vital. The analogy between the Solar Logos’ progress and that of the Planetary Logos is to be developed

147. Sự so sánh dưới đây là tối quan trọng. Phép loại suy giữa sự tiến bộ của Thái dương Thượng đế và của Hành Tinh Thượng Đế cần được phát triển

a. He is in physical incarnation.

a. Ngài đang lâm phàm trong thể xác.

b. He is midway through His career upon the cosmic Path of Initiation, and consequently is to take the fourth Initiation in this chain. Well may this globe, therefore, be considered the globe of sorrow and of pain, for through it our planetary Logos is undergoing that which the mystic calls "the Crucifixion."

b. Ngài đang ở giữa chặng đường sự nghiệp của Ngài trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ, và do đó sẽ nhận lần điểm đạo thứ tư trong dãy này. Vì vậy, bầu hành tinh này hoàn toàn có thể được xem là bầu hành tinh của sầu khổ và đau đớn, vì qua nó Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang trải qua điều mà nhà thần bí gọi là “Sự Đóng Đinh”.

c. The cells in His body—those cells through which He feels, and senses, and experiences,—are, in this world period, rent by pain and suffering, for His is the consciousness at the centre of the Body, and theirs is the capacity to suffer, so that by means of them He may learn the meaning of systemic dispassion, be dissociated from all forms and material substance, and upon the cross of matter eventually find liberation and the freedom of the Spirit.

c. Các tế bào trong thân thể của Ngài—những tế bào mà qua đó Ngài cảm nhận, tri giác và kinh nghiệm,—trong chu kỳ thế giới này, chịu sự giày vò của đau đớn và khổ đau, vì của Ngài là tâm thức ở trung tâm của Thân Thể, còn của chúng là khả năng chịu đau khổ, để nhờ chúng Ngài có thể học được ý nghĩa của sự vô chấp của hệ thống, được tách rời khỏi mọi hình tướng và chất liệu vật chất, và trên thập giá của vật chất cuối cùng tìm thấy sự giải thoát và tự do của Tinh thần.

The same equally can be predicated of a solar Logos with the following interesting sequence carefully borne in mind:

Điều tương tự cũng có thể được khẳng định về một Thái dương Thượng đế với chuỗi tương quan thú vị sau đây cần được ghi nhớ cẩn thận:

The solar Logos has for objective nine initiations, the third cosmic Initiation being His goal.

Thái dương Thượng đế có chín lần điểm đạo làm mục tiêu, trong đó lần điểm đạo vũ trụ thứ ba là mục tiêu của Ngài.

Our planetary Logos has for objective seven initiations, the second cosmic Initiation being His goal.

Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta có bảy lần điểm đạo làm mục tiêu, trong đó lần điểm đạo vũ trụ thứ hai là mục tiêu của Ngài.

Man has for objective five initiations, the first cosmic Initiation being his goal.

Con người có năm lần điểm đạo làm mục tiêu, trong đó lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất là mục tiêu của y.

It is the basis of the cyclic spiral movement of the body logoic, and just as the Law of Economy is the law governing the internal fires of the system so the cosmic Law of Attraction and Repulsion is the basic law of this divine Ray. (TCF 384)

Đó là nền tảng của chuyển động xoắn ốc chu kỳ của thể thượng đế, và cũng như Định luật Tiết Kiệm là định luật cai quản các ngọn lửa nội tại của hệ thống, thì Định luật Hút và Đẩy vũ trụ là định luật căn bản của Cung thiêng liêng này. (TCF 384)

148. Just as the PL is taking the fourth of seven initiations through our chain and globe, so the SL is taking the fourth of nine initiations through our scheme and chain.

148. Cũng như PL đang nhận lần điểm đạo thứ tư trong bảy lần qua dãy và bầu hành tinh của chúng ta, thì SL đang nhận lần điểm đạo thứ tư trong chín lần qua hệ hành tinh và dãy của chúng ta.

149. The SL has the cosmic third initiation as His goal, and the PL has the second cosmic initiation as His goal.

149. SL có lần điểm đạo vũ trụ thứ ba là mục tiêu của Ngài, và PL có lần điểm đạo vũ trụ thứ hai là mục tiêu của Ngài.

150. The type of motion is here called “cyclic spiral” instead of “spiral cyclic”. Such movement is characterized by the fact that it both rotates and drives forward. Without this driving forward there is no spiral. If driving forward is equated to ascent, then the vertical dimension is included in spiral-cyclic motion..

150. Loại chuyển động ở đây được gọi là “xoắn ốc chu kỳ” thay vì “chu kỳ xoắn ốc”. Chuyển động như vậy được đặc trưng bởi sự kiện là nó vừa quay vừa thúc đẩy tiến lên. Không có sự thúc đẩy tiến lên này thì không có xoắn ốc. Nếu sự thúc đẩy tiến lên được đồng nhất với sự đi lên, thì chiều kích thẳng đứng được bao hàm trong chuyển động chu kỳ-xoắn ốc.

151. If the “logoic body” is experiencing “cyclic spiral movement” it must, necessarily, be driving through space.

151. Nếu “thể thượng đế” đang trải nghiệm “chuyển động xoắn ốc chu kỳ” thì tất yếu nó phải đang lao đi trong không gian.

152. The Law of Economy governs both types of fire by friction.

152. Định luật Tiết Kiệm cai quản cả hai loại lửa ma sát.

The Ray of intelligent will.

Cung của ý chí thông tuệ.

153. We note that the word “intelligent” is again used, this time in relation to the Ray of Will, and for the same reasons as given above.

153. Chúng ta lưu ý rằng từ “thông tuệ” lại được dùng, lần này liên hệ với Cung Ý Chí, và vì cùng những lý do như đã nêu ở trên.

Little as yet can be said about this ray. It is the ray of cosmic mind and in its evolution parallels that of cosmic love, but as yet its vibration is slower and its development more retarded.

Hiện giờ còn rất ít điều có thể nói về cung này. Đó là cung của trí tuệ vũ trụ và trong sự tiến hoá của nó, nó song hành với sự tiến hoá của tình thương vũ trụ, nhưng hiện nay rung động của nó còn chậm hơn và sự phát triển của nó còn trì hoãn.

154. We note that this Ray is not a Ray of pure will. The mind nature (of all self-conscious entities) is a reflection of the will nature.

154. Chúng ta lưu ý rằng Cung này không phải là một Cung của ý chí thuần khiết. Bản chất trí tuệ (của mọi thực thể tự ý thức) là một phản ánh của bản chất ý chí.

155. Perhaps in the next solar system that which we call will, will be more directly connected to the will aspect of divinity.

155. Có lẽ trong hệ mặt trời kế tiếp, điều mà chúng ta gọi là ý chí sẽ trực tiếp liên kết hơn với phương diện ý chí của thiên tính.

156. Thus, what we (in this solar system) consider to be the Ray of Will is really the Ray of Cosmic Mind. Does it perhaps come from the mental permanent atom of the Solar Logos (whatever its more ultimate source may be)? As mind is divided into three parts, the lowest planes of the cosmic mental plane plus the second and third subplanes may be considered relate to the Fires of Mind, and the highest plane as the conduit for the Fire of Will. This is an attempt to explain how the Ray of Intelligent Will may be “the ray of cosmic mind”.

156. Vì vậy, điều mà chúng ta (trong hệ mặt trời này) xem là Cung Ý Chí thì thực ra là Cung của Trí Tuệ Vũ Trụ. Phải chăng nó đến từ nguyên tử trường tồn trí tuệ của Thái dương Thượng đế (dù nguồn gốc tối hậu hơn của nó có thể là gì đi nữa)? Vì trí tuệ được chia thành ba phần, nên các cõi thấp nhất của cõi trí vũ trụ cộng với cõi phụ thứ hai và thứ ba có thể được xem là liên hệ với các Lửa của Trí Tuệ, còn cõi cao nhất là ống dẫn cho Lửa của Ý Chí. Đây là một nỗ lực nhằm giải thích cách mà Cung Ý Chí Thông Tuệ có thể là “cung của trí tuệ vũ trụ”.

157. And note the use of the word “Intelligent” linking to the mental plane (whether systemic or cosmic).

157. Và hãy lưu ý việc dùng từ “Thông Tuệ” liên kết với cõi trí (dù là của hệ hay của vũ trụ).

158. Is something holding back the development of this Ray of Intelligent Will development in relation to our solar system?

158. Có điều gì đang kìm hãm sự phát triển của Cung Ý Chí Thông Tuệ này trong liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta chăng?

159. Is this retardation occurring only with respect to our Solar Logos?

159. Sự trì hoãn này có chỉ xảy ra đối với riêng Thái dương Thượng đế của chúng ta không?

160. Certainly in this solar system, the development of this Ray is retarded, because it is a second ray solar system. There is a reference for this, which presently cannot be found.

160. Chắc chắn trong hệ mặt trời này, sự phát triển của Cung này bị trì hoãn, bởi vì đây là một hệ mặt trời cung hai. Có một dẫn chiếu cho điều này, nhưng hiện giờ chưa tìm ra được.

This is definitely and deliberately so, and is due to the underlying purpose and choice of the solar Logos, Who seeks on His high level (just as do His reflections, the sons of men) to achieve a more rounded out development, [Page 41] and He therefore concentrates on the development of cosmic love in this greater cycle.

Điều này rõ ràng và có chủ ý là như vậy, và là do mục đích nền tảng cùng sự lựa chọn của Thái dương Thượng đế, Đấng đang tìm cách trên cấp độ cao của Ngài (cũng như các phản ánh của Ngài, những người con của nhân loại, vẫn làm) đạt được một sự phát triển toàn diện hơn, [Page 41] và vì thế Ngài tập trung vào sự phát triển của bác ái vũ trụ trong chu kỳ lớn lao hơn này.

161. Points Emerging in Group Discussion:

161. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:

a. A group member calculated the probability that so many fours would align (as is said to be the case in relation to our fourth planetary scheme which is said to be focussed on its fourth chain, which is experiencing its fourth round. Additionally, humanity, the fourth kingdom of nature finds itself on the fourth globe of the fourth chain (which is also receiving unusual attention). We should consider, as that humanity had not quite emerged from its fourth root race of which many vestiges can be detected.

a. Một thành viên trong nhóm đã tính xác suất để có nhiều số bốn cùng chỉnh hợp như thế (như được nói là xảy ra trong liên hệ với hệ hành tinh thứ tư của chúng ta, vốn được cho là tập trung vào dãy thứ tư của nó, hiện đang trải qua cuộc tuần hoàn thứ tư. Ngoài ra, nhân loại, giới thứ tư của thiên nhiên, đang ở trên bầu hành tinh thứ tư của dãy thứ tư (vốn cũng đang nhận được sự chú ý khác thường). Chúng ta nên xét rằng nhân loại ấy vẫn chưa hoàn toàn thoát ra khỏi giống dân gốc thứ tư của mình, mà nhiều dấu vết của nó vẫn có thể được nhận ra.

b. The probability for the alignment of all these fours, is suggested to be 1/ 4,320,000,000.

b. Xác suất để tất cả những số bốn này cùng chỉnh hợp được gợi ý là 1/ 4,320,000,000.

c. The number four is, in many respects, the number of pain. The question was asked, “How do you develop the heart?” An answer was suggested: “Through pain!”

c. Con số bốn, trên nhiều phương diện, là con số của đau khổ. Câu hỏi được nêu ra là: “Làm thế nào các bạn phát triển trái tim?” Một câu trả lời được gợi ý là: “Qua đau khổ!”

d. Inasmuch as the heart is the fourth center, it would seem that the alignment of so many fours is providing the pain through which the heart can be developed.

d. Vì tim là trung tâm thứ tư, nên dường như sự chỉnh hợp của quá nhiều số bốn đang cung cấp nỗi đau mà qua đó tim có thể được phát triển.

162. Our Solar Logos has made a deliberate choice to retard the incoming of will.

162. Thái dương Thượng đế của chúng ta đã có một lựa chọn có chủ ý là trì hoãn sự đi vào của ý chí.

163. It is clear that the Solar Logos is concentrating on the development of His soul nature, just as human beings to before racing ahead into the development of spirit/will.

163. Rõ ràng Thái dương Thượng đế đang tập trung vào sự phát triển bản chất linh hồn của Ngài, cũng như con người làm trước khi lao nhanh vào sự phát triển của tinh thần/ý chí.

164. The “greater cycle” here referenced is one occult century, 100 years of Brahma.

164. “Chu kỳ lớn lao hơn” được dẫn ở đây là một thế kỷ huyền bí, 100 năm của Brahma.

165. There is a parallel in the lives of human beings who also seek a more rounded out development before

165. Có một sự tương đồng trong đời sống của con người, những kẻ cũng tìm kiếm một sự phát triển toàn diện hơn trước khi

This ray is governed by the Law of Synthesis, and is the basis of the systemic movement which may be best described as that of driving forward through space, or forward progression. Little can be predicated anent this ray and its expression. It controls the movements of the entire ring-pass-not in connection with its cosmic centre.7

Cung này được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và là nền tảng của chuyển động có tính hệ thống, được mô tả đúng nhất như là sự lao tới xuyên qua không gian, hay sự tiến triển về phía trước. Rất ít điều có thể được khẳng định liên quan đến cung này và biểu hiện của nó. Nó kiểm soát các chuyển động của toàn bộ vòng-giới-hạn trong liên hệ với trung tâm vũ trụ của nó.7

166. The motion of the first ray confers the least repetition of relationship. It is constant repositioning in space. Even in human terms, the first ray is willing to change relationship most often without remaining attached.

166. Chuyển động của cung một tạo ra mức lặp lại ít nhất của các mối liên hệ. Đó là sự tái định vị liên tục trong không gian. Ngay cả theo nghĩa nhân loại, cung một cũng sẵn lòng thay đổi mối liên hệ thường xuyên nhất mà không còn bám chấp.

167. The type of movement suggested here equates to a rapid change of relationship with respect to other factors in space.

167. Loại chuyển động được gợi ra ở đây tương đương với một sự thay đổi nhanh chóng về mối liên hệ đối với các yếu tố khác trong không gian.

168. What is the “cosmic center” of our Solar Logos? May it be the star Sirius?

168. “Trung tâm vũ trụ” của Thái dương Thượng đế chúng ta là gì? Có thể đó là sao Sirius chăng?

169. The cosmic center could also relate to the star Vega in the constellation Lyra, towards which our solar system is said to be moving.

169. Trung tâm vũ trụ cũng có thể liên hệ với sao Vega trong chòm sao Lyra, nơi mà hệ mặt trời của chúng ta được nói là đang chuyển động về phía đó.

170. Or is our solar system driving toward Hercules?

170. Hay hệ mặt trời của chúng ta đang lao về phía Hercules?

171. Or are both destinations true?

171. Hay cả hai đích đến đều đúng?

172. The activities of this ray seem to affect the solar system as a whole. Does this mean that the motion of driving forward through space is retarded (by choice) with respect to our Solar Logos?

172. Các hoạt động của cung này dường như ảnh hưởng đến toàn bộ hệ mặt trời. Điều này có nghĩa là chuyển động lao tới xuyên qua không gian bị trì hoãn (do lựa chọn) đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta chăng?

173. Points Emerging in Group Discussion:

173. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:

a. Maximum amount of relational change occurs with this type of movement—forward progression or “progress onward”.

a. Mức thay đổi quan hệ tối đa xảy ra với loại chuyển động này—sự tiến triển về phía trước hay “tiến lên phía trước”.

b. The “cosmic center” here quoted is not the Alcyone or the Pleiades, around which our solar system (and probably certain contiguous solar systems) are said to revolve. The type of method/motion here discussed is direct onward movement, a direct approach to a certain cosmic center.

b. “Trung tâm vũ trụ” được trích ở đây không phải là Alcyone hay Pleiades, quanh đó hệ mặt trời của chúng ta (và có lẽ một số hệ mặt trời tiếp giáp) được nói là quay quanh. Loại phương pháp/chuyển động được bàn ở đây là sự chuyển động trực tiếp tiến lên, một sự tiếp cận trực tiếp đến một trung tâm vũ trụ nhất định.

c. The cosmic center of our Solar Logos is unknown.

c. Trung tâm vũ trụ của Thái dương Thượng đế chúng ta vẫn chưa được biết.

d. Our Sun, however, is said to be moving in the direction of the star Vega in the constellation Lyra. Interestingly, Vega has an axis similar to that of our Sun. The constellation Lyra suggests an association with the fourth ray because it is much associated with music, art and beauty. Our Solar Logos is a logos of the fourth order and represents the fourth (or heart) chakra. So there are associations which reasonably connect our Sun with Vega in Lyra.

d. Tuy nhiên, Mặt Trời của chúng ta được nói là đang chuyển động theo hướng sao Vega trong chòm sao Lyra. Điều thú vị là Vega có một trục tương tự như trục của Mặt Trời chúng ta. Chòm sao Lyra gợi ra một liên hệ với cung bốn vì nó gắn nhiều với âm nhạc, nghệ thuật và cái đẹp. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một thượng đế thuộc bậc thứ tư và tượng trưng cho luân xa thứ tư (hay tim). Vì vậy có những liên hệ nối kết hợp lý Mặt Trời của chúng ta với Vega trong Lyra.

e. If we look for analogies in the chakra system of man, we can think of the energy of a chakra is moving directly towards another chakra. This would be forward motion, progress onward and a “driving forward through space”. Such energy transfers in chakra dynamics are different from rotary motion which chakras are said to possess.

e. Nếu chúng ta tìm các tương đồng trong hệ thống luân xa của con người, chúng ta có thể nghĩ đến năng lượng của một luân xa đang chuyển động trực tiếp về phía một luân xa khác. Đây sẽ là chuyển động tiến tới, tiến lên phía trước và một sự “lao tới xuyên qua không gian”. Những sự chuyển dịch năng lượng như thế trong động lực học luân xa khác với chuyển động quay mà các luân xa được nói là sở hữu.

(Note 7: The term "ring-pass-not" is used in occult literature to denote the periphery of the sphere of influence of any central life force, and is applied equally to all atoms, from the atom of matter as dealt with by the physicist or chemist through the human and planetary atoms up to the great atom of a solar system. The ring-pass-not of the average human being is the spheroidal form of his mental body which extends considerably beyond the physical and enables him to function on the lower levels of the mental plane.”)

(Ghi chú 7: Thuật ngữ "vòng-giới-hạn" được dùng trong văn liệu huyền linh để chỉ chu vi của phạm vi ảnh hưởng của bất kỳ mãnh lực sự sống trung tâm nào, và được áp dụng đồng đều cho mọi nguyên tử, từ nguyên tử vật chất như được nhà vật lý hay nhà hoá học nghiên cứu, xuyên qua các nguyên tử nhân loại và hành tinh cho đến nguyên tử vĩ đại của một hệ mặt trời. Vòng-giới-hạn của một con người trung bình là hình cầu của thể trí của y, vốn mở rộng đáng kể vượt ra ngoài thể xác và cho phép y hoạt động trên các cấp độ thấp của cõi trí.”)

174. When considering the concept of the “ring-pass-not”, it must be admitted that the influence of the “central life force” for a relatively advanced being extends far beyond what is usually considered a ring-pass-not.

174. Khi xét đến khái niệm “vòng-giới-hạn”, phải thừa nhận rằng ảnh hưởng của “mãnh lực sự sống trung tâm” đối với một hữu thể tương đối tiến hóa vượt xa điều thường được xem là một vòng-giới-hạn.

175. As stated elsewhere, the ring-pass-not presents a barrier only for the unevolved.

175. Như đã nói ở nơi khác, vòng-giới-hạn chỉ tạo thành một rào cản đối với kẻ chưa tiến hóa.

176. A Master’s tangible aura does not extend around the world, but certainly His consciousness can be transferred thousands of miles away from His physical location.

176. Hào quang hữu hình của một Chân sư không trải quanh thế giới, nhưng chắc chắn tâm thức của Ngài có thể được chuyển dịch ra xa hàng ngàn dặm khỏi vị trí hồng trần của Ngài.

177. The ring-pass-not seems to relate to the matter gathered to comprise the immediate instrument or vehicle of any entity. The positive nucleus would then impress or extend its influence into such gathered matter is a more immediate way.

177. Vòng-giới-hạn dường như liên hệ với vật chất được tập hợp để cấu thành công cụ hay vận cụ trực tiếp của bất kỳ thực thể nào. Khi ấy hạt nhân dương sẽ gây ấn tượng hoặc mở rộng ảnh hưởng của nó vào vật chất được tập hợp như thế theo một cách trực tiếp hơn.

The tabulation on page 42 may make the above ideas somewhat clearer.

Bảng biểu ở trang 42 có thể làm cho các ý tưởng trên rõ hơn đôi chút.

[Page 42]

[Page 42]

TABULATION I.

BẢNG I.

178. Here the type of motion of the second Ray is called “Spiral Cyclic”.

178. Ở đây loại chuyển động của cung hai được gọi là “Xoắn Ốc Chu Kỳ”.

179. Again we note the use of the term “Flame” in relation to Electric Fire.

179. Một lần nữa chúng ta lưu ý việc dùng thuật ngữ “Ngọn Lửa” trong liên hệ với Lửa Điện.

180. Points Emerging in Group Discussion:

180. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:

a. A human being can (psychologically) ‘rotate on his own axis’ and ‘be in his own whirl’—thus emphasizing individuality

a. Một con người có thể (về mặt tâm lý) ‘xoay trên trục riêng của mình’ và ‘ở trong cơn xoáy riêng của mình’—như thế nhấn mạnh tính cá thể

b. Revolution emphasizes relationship

b. Sự quay quanh nhấn mạnh mối liên hệ

c. There is also the setting off on a pilgrimage; The monad is the Pilgrim—going towards the attractive point. This is progress onwards

c. Cũng có việc lên đường hành hương; chân thần là Người Hành Hương—đi về phía điểm hấp dẫn. Đây là sự tiến lên phía trước

d. If you want to change centers—the center around which you revolve—you need to go forth using forward progressive motion, thus driving forwards. This type of change requires a combination of the first and second types of motion. The first type of motion changes the center of orientation; the second type establishes a repetitive and perhaps spirally progressive type of relationship with the new center.

d. Nếu các bạn muốn thay đổi các trung tâm—trung tâm mà quanh đó các bạn quay—các bạn cần phải đi ra bằng cách dùng chuyển động tiến triển về phía trước, nhờ đó lao về phía trước. Loại thay đổi này đòi hỏi một sự kết hợp của loại chuyển động thứ nhất và thứ hai. Loại chuyển động thứ nhất thay đổi trung tâm định hướng; loại thứ hai thiết lập một kiểu liên hệ lặp lại và có lẽ tiến triển theo xoắn ốc với trung tâm mới.

e. When a relationship continues exactly as it has been, it indicates that rotary motion is prevailing. Often, for instance, people say “I’m stuck in this relationship. I want to change relationship, make a break”. From a condition or rotary motion there is a demand for new configuration. The motion of “driving forward through space” changes the relationship relatively quickly; spiral cyclic motion can change the relationship slowly, progressively and cyclically over time.

e. Khi một mối liên hệ tiếp tục y nguyên như nó đã từng, điều đó cho thấy chuyển động quay đang chiếm ưu thế. Chẳng hạn, người ta thường nói “Tôi bị mắc kẹt trong mối quan hệ này. Tôi muốn thay đổi mối quan hệ, tạo một sự đoạn tuyệt”. Từ một tình trạng hay chuyển động quay, nảy sinh một đòi hỏi về một cấu hình mới. Chuyển động “lao tới xuyên qua không gian” thay đổi mối liên hệ tương đối nhanh; chuyển động xoắn ốc chu kỳ có thể thay đổi mối liên hệ chậm rãi, tiến bộ và theo chu kỳ theo thời gian.

f. Progressive rotary motion is spiral cyclic motion. A combination of the motions of the first and third rays, yields the motion of the second ray.

f. Chuyển động quay tiến triển là chuyển động xoắn ốc chu kỳ. Một sự kết hợp giữa các chuyển động của cung một và cung ba tạo ra chuyển động của cung hai.

These three expressions of the divine Life may be regarded as expressing the triple mode of manifestation. First, the objective or tangible universe; second, the subjective worlds or form; and thirdly, the spiritual aspect which is to be found at the heart of all.8

Ba biểu hiện này của Sự sống thiêng liêng có thể được xem là biểu lộ phương thức tam phân của sự biểu hiện. Thứ nhất, vũ trụ khách quan hay hữu hình; thứ hai, các thế giới chủ quan hay hình tướng; và thứ ba, phương diện tinh thần được tìm thấy nơi cốt lõi của mọi sự.8

181. The three Rays are the “three expressions of divine Life”.

181. Ba Cung là “ba biểu hiện của Sự sống thiêng liêng”.

182. “Form” is essentially subjective.

182. “Hình tướng” về bản chất là chủ quan.

(8

(8

1. The Primordial is the Ray and the direct emanation of the Sacred Four. (S. D., I, 115, 116)

1. Cái Nguyên Sơ là Cung và là sự phát xạ trực tiếp của Bộ Bốn Thiêng Liêng. (S. D., I, 115, 116)

2. The Sacred Four are:

2. Bộ Bốn Thiêng Liêng là:

a. Unity (Father—Mahadeva—1st Logos—Will—Spirit).

a. Hợp nhất (Cha—Mahadeva—Logos thứ nhất—Ý chí—Tinh thần).

b. Duality (Son—Vishnu—2nd Logos—Love-Wisdom).

b. Nhị nguyên tính (Con—Vishnu—Logos thứ hai—Bác Ái – Minh Triết).

c. Trinity (Mother—Brahma—3rd Logos—Intelligent activity).

c. Tam vị (Mẹ—Brahma—Logos thứ ba—Hoạt động thông tuệ).

d. Sacred Four (The united manifestation of the tree—Macrocosm).

d. Bộ Bốn Thiêng Liêng (Biểu hiện hợp nhất của bộ ba—Đại thiên địa).

3. The manifested Quaternary and the seven Builders proceed from the Mother (S.D., I, 402)

3. Bộ Tứ được biểu hiện và bảy đấng kiến tạo xuất phát từ Mẹ (S.D., I, 402)

a. The seven Builders are the Manasaputras, the Mind-born sons of Brahma, the third aspect. (S. D., III, 540)

a. Bảy đấng kiến tạo là các Manasaputras, những người con do trí tuệ sinh ra của Brahma, phương diện thứ ba. (S. D., III, 540)

b. They come into manifestation to develop the second aspect. (S. D., I., 108)

b. Các Ngài đi vào biểu hiện để phát triển phương diện thứ hai. (S. D., I., 108)

c. Their method is objectivity

c. Phương pháp của Các Ngài là tính khách quan

4. The reawakened Energies sprang into space.

4. Các Năng Lượng được đánh thức trở lại đã phóng vào không gian.

a. They are the veiled synthesis (S. D., I, 362)

a. Chúng là tổng hợp được che giấu (S. D., I, 362)

b. They are the totality of manifestation (S. D., I, 470)

b. Chúng là toàn thể của biểu hiện (S. D., I, 470)

183. Some systems of understanding differentiate “Mother” from “Holy Spirit”. Sometimes Brahma is considered as related to the Holy Spirit and sometimes to the Mother.

183. Một số hệ thống thấu hiểu phân biệt “Mẹ” với “Chúa Thánh Thần”. Đôi khi Brahma được xem là liên hệ với Chúa Thánh Thần và đôi khi với Mẹ.

184. It probably makes sense of differentiate Holy Spirit from Mother, just as active fire is differentiated from latent fire

184. Có lẽ hợp lý khi phân biệt Chúa Thánh Thần với Mẹ, cũng như lửa hoạt động được phân biệt với lửa tiềm ẩn

2. The manifested Quaternary and the seven Builders proceed from the Mother.—S. D., I, 402.

2. Bộ Tứ được biểu hiện và bảy đấng kiến tạo xuất phát từ Mẹ.—S. D., I, 402.

a. The seven Builders are the Manasaputras, the Mind-born sons of Brahma, the third aspect. S. D., III, 540.

a. Bảy đấng kiến tạo là các Manasaputras, những người con do trí tuệ sinh ra của Brahma, phương diện thứ ba. S. D., III, 540.

185. It is significant that the “sons” are “Mind-born”. This suggests the method of generation relevant to higher beings.

185. Điều đáng chú ý là những “người con” lại là “do trí tuệ sinh ra”. Điều này gợi ra phương pháp phát sinh thích hợp với các hữu thể cao hơn.

186. Being “Mind-born” suggest the process of emanation, or ‘Self-reflection’ or ‘Self-reduplication’.

186. Việc là “do trí tuệ sinh ra” gợi ra tiến trình phát xạ, hay ‘Tự phản chiếu’ hoặc ‘Tự tái bản’.

187. Is it because they manifest through planets, that they are considered related to the third aspect? The Path of training for Planetary Logoi is definitely related to the third ray.

187. Có phải vì các Ngài biểu hiện qua các hành tinh mà các Ngài được xem là liên hệ với phương diện thứ ba? Con Đường huấn luyện dành cho các Hành Tinh Thượng Đế chắc chắn liên hệ với cung ba.

b. They come into manifestation to develop the second aspect. S. D.,, 108.

b. Các Ngài đi vào biểu hiện để phát triển phương diện thứ hai. S. D.,, 108.

188. These “Manasaputras” are the related to the, “Seven Planetary Logoi”, the “Seven Spirits before the Throne”, the “Seven Heavenly Men”, and the “Seven Rays”.

188. Những “Manasaputras” này có liên hệ với “Bảy Hành Tinh Thượng Đế”, “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai”, “Bảy Đấng Thiên Nhân”, và “Bảy Cung”.

189. They are also “Dragons of Wisdom”. They are developing love. They have group consciousness and have developed manas—thus, They are “Manasaputras”.

189. Các Ngài cũng là “Những Con Rồng Minh Triết”. Các Ngài đang phát triển bác ái. Các Ngài có tâm thức nhóm và đã phát triển manas—do đó, Các Ngài là “Manasaputras”.

c. Their method is objectivity.

c. Phương pháp của Các Ngài là tính khách quan.

190. Creating a planet is an act of objectification.

190. Việc tạo ra một hành tinh là một hành vi khách thể hóa.

3. The re-awakened Energies sprang into space.

3. Các Năng Lượng được đánh thức trở lại đã phóng vào không gian.

a. They are the veiled synthesis S. D., I, 362

a. Chúng là tổng hợp được che giấu S. D., I, 362

b. They are the totality of manifestation S. D., I, 470

b. Chúng là toàn thể của biểu hiện S. D., I, 470

c. They are pre-cosmic S. D., I, 152, 470)

c. Chúng là tiền vũ trụ S. D., I, 152, 470)

191. Is DK still discussing the planets? If so, this footnote offers enigmatic statements.

191. Phải chăng Chân sư DK vẫn đang bàn về các hành tinh? Nếu vậy, cước chú này đưa ra những phát biểu bí ẩn.

The internal fires that animate and vitalise shew themselves in a twofold manner:

Các lửa nội tại làm sinh động và tiếp sinh lực biểu lộ theo hai cách:

192. The following is a description only of “Internal Fires” related only to the Primordial Ray. It is not related to the Divine Ray (the second) or Ray of Intelligent Will (the first).

192. Phần sau đây chỉ là một mô tả về “Các Lửa Nội Tại” chỉ liên hệ với Cung Nguyên Sơ. Nó không liên hệ với Cung Thiêng Liêng (cung hai) hay Cung Ý Chí Thông Tuệ (cung một).

[Page 43]

[Page 43]

1) First as latent heat. This is the basis of rotary motion and the cause of the spheroidal coherent manifestation of all existence, from the logoic atom, the solar ring-pass-not, down to the minutest atom of the chemist or physicist.

1) Thứ nhất là như nhiệt tiềm ẩn. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu hiện hình cầu cố kết của mọi tồn tại, từ nguyên tử logoic, vòng-giới-hạn mặt trời, cho đến nguyên tử nhỏ nhất của nhà hóa học hay nhà vật lý.

193. “Latent heat” is particularly the basis of “rotary motion”

193. “Nhiệt tiềm ẩn” đặc biệt là nền tảng của “chuyển động quay”

194. Fire-by-friction as a whole is related to rotary motion, but in this description is the lower part of fire-by-friction which is particularly causative of rotary motion.

194. Lửa ma sát như một toàn thể liên hệ với chuyển động quay, nhưng trong mô tả này, đó là phần thấp hơn của lửa ma sát, phần đặc biệt gây ra chuyển động quay.

2) Second, as active heat. This results in the activity and the driving forward of material evolution. On the highest plane the combination of these three factors (active heat, latent heat and the primordial substance which they animate) is known as the 'sea of fire,' of which akasha is the first differentiation of pregenetic matter (the matter upon which the sea of fire is based).

2) Thứ hai, như nhiệt hoạt động. Điều này dẫn đến hoạt động và sự thúc đẩy tiến lên của tiến hóa vật chất. Trên cõi cao nhất, sự kết hợp của ba yếu tố này (nhiệt hoạt động, nhiệt tiềm ẩn và chất liệu nguyên sơ mà chúng làm sinh động) được biết đến như là “biển lửa”, mà akasha là sự biến phân đầu tiên của vật chất tiền sinh (vật chất mà trên đó biển lửa được đặt nền).