Trích nội dung chương
195. In this entire discussion, it is important to determine whether cosmic mulaprakriti and systemic mulaprakriti are identical. The question can also be put this way: “Is the pregenetic matter found on the first subplane of the solar system completely homogeneous or only relatively so? It is assumed that Universal Mulaprakriti is completely homogeneous and therefore completely undifferentiated. 195. Trong toàn bộ cuộc thảo luận này, điều quan trọng là phải xác định liệu mulaprakriti vũ trụ và mulaprakriti của hệ có đồng nhất hay không. Câu hỏi cũng có thể được đặt ra theo cách này: “Vật chất tiền sinh được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất…
195. In this entire discussion, it is important to determine whether cosmic mulaprakriti and systemic mulaprakriti are identical. The question can also be put this way: “Is the pregenetic matter found on the first subplane of the solar system completely homogeneous or only relatively so? It is assumed that Universal Mulaprakriti is completely homogeneous and therefore completely undifferentiated.
195. Trong toàn bộ cuộc thảo luận này, điều quan trọng là phải xác định liệu mulaprakriti vũ trụ và mulaprakriti của hệ có đồng nhất hay không. Câu hỏi cũng có thể được đặt ra theo cách này: “Vật chất tiền sinh được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất của hệ mặt trời có hoàn toàn đồng nhất hay chỉ tương đối như vậy?” Người ta giả định rằng Universal Mulaprakriti là hoàn toàn đồng nhất và do đó hoàn toàn không biến phân.
196. We note the importance (with respect to active heat) of “the driving forward of material evolution”. This “driving” suggests that active heat has a generic first ray association, for all driving actions belong intrinsically to the first ray (though the sixth ray participates in the process in a special way).
196. Chúng ta lưu ý tầm quan trọng (đối với nhiệt hoạt động) của “sự thúc đẩy tiến lên của tiến hóa vật chất”. Sự “thúc đẩy” này gợi ra rằng nhiệt hoạt động có một liên hệ tổng quát với cung một, vì mọi hành động thúc đẩy tự bản chất đều thuộc về cung một (dù cung sáu tham gia vào tiến trình này theo một cách đặc biệt).
197. We note that there is a distinction between the “sea of fire” arising through the union of active heat, latent heat and primordial substance, and primordial substance itself. Primordial substance (systemic mulaprakriti) cannot alone be called the “sea of fire”.
197. Chúng ta lưu ý rằng có một sự phân biệt giữa “biển lửa” phát sinh qua sự hợp nhất của nhiệt hoạt động, nhiệt tiềm ẩn và chất liệu nguyên sơ, với chính chất liệu nguyên sơ. Chất liệu nguyên sơ (mulaprakriti của hệ) không thể một mình được gọi là “biển lửa”.
198. When He speaks of “primordial substance” is there a relation to “akasha”, called “akasha” in the discussion of the three internal fires of the Sun, and “productive substance” when discussing the three internal fires, of the Earth, and “bodily warmth” in relation to the human being? (This question relates to sections of the book yet to be covered, so we will have to return to this question.)
198. Khi Ngài nói về “chất liệu nguyên sơ”, có phải có một liên hệ với “akasha”, được gọi là “akasha” trong cuộc bàn luận về ba lửa nội tại của Mặt Trời, và là “chất liệu sản sinh” khi bàn về ba lửa nội tại của Trái Đất, và là “nhiệt thân thể” trong liên hệ với con người không? (Câu hỏi này liên hệ đến những phần của sách chưa được đề cập, nên chúng ta sẽ phải quay lại câu hỏi này.)
199. Points Emerging in Group Discussion:
199. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:
a. Another name for “pregenetic matter” is “mulaprakriti”. Mulaprakriti may be considered the ‘Universal Logos as Object.’ The Universal Spirit is the ‘Universal Logos as Subject’.
a. Một tên khác của “vật chất tiền sinh” là “mulaprakriti”. Mulaprakriti có thể được xem là ‘Thượng đế Vũ Trụ như là Khách thể.’ Tinh thần Vũ Trụ là ‘Thượng đế Vũ Trụ như là Chủ thể’.
b. Is there such a thing as ‘relative mulaprakriti’—different gradation of it, or is any compromising of the absolute density of Mulaprakriti a negation of the mulaprakritic state?
b. Có tồn tại điều như ‘mulaprakriti tương đối’—những cấp độ khác nhau của nó, hay bất kỳ sự thỏa hiệp nào đối với mật độ tuyệt đối của Mulaprakriti đều là sự phủ nhận trạng thái mulaprakritic?
c. That which we call Space and Mulaprakriti are the same. That is to say, Space and Mulaprakriti are equivalent to the one and only ‘Homogeneous Object’ demonstrating no possible division.
c. Điều mà chúng ta gọi là Không Gian và Mulaprakriti là một. Nói cách khác, Không Gian và Mulaprakriti tương đương với một và chỉ một ‘Khách thể Đồng Nhất’ không biểu lộ bất kỳ khả năng phân chia nào.
d. If a monad has a vehicle it will know its limited self (will know limitation). If the monad has no vehicle, it will only be itself.
d. Nếu một chân thần có một vận cụ, nó sẽ biết cái ngã giới hạn của nó (sẽ biết sự giới hạn). Nếu chân thần không có vận cụ, nó sẽ chỉ là chính nó.
200. The following charts contain references which we must refer in the ensuing discussion.
200. Các biểu đồ sau đây chứa những dẫn chiếu mà chúng ta phải tham chiếu trong cuộc thảo luận tiếp theo.
201. Aether (not ether) is the ‘pyramidal summation’ of the lower four elements.
201. Aether (không phải ether) là ‘tổng kết hình chóp’ của bốn nguyên tố thấp.
202. Akasha, Alaya are Universal Soul. The creative element in the akasha is sound.
202. Akasha, Alaya là Hồn Vũ Trụ. Nguyên tố sáng tạo trong akasha là âm thanh.
203. Who is the Divine Singer? Vishnu (the Second Logos, transmitting the second ray) may be associated with the akasha on the monadic plane. Then, in a sense, the monad can be considered the singer. The monad (though symbolically Shiva in one respect) is also Vishnu, and creates through sound.
203. Ai là Đấng Ca Sĩ Thiêng Liêng? Vishnu (Logos thứ hai, truyền dẫn cung hai) có thể được liên kết với akasha trên cõi chân thần. Khi ấy, theo một nghĩa nào đó, chân thần có thể được xem là ca sĩ. Chân thần (dù theo biểu tượng là Shiva ở một phương diện) cũng là Vishnu, và sáng tạo qua âm thanh.
204. When speaking of the “sea of fire” we are referencing the cosmic physical plane and its first subplane, the first systemic plane—i.e., the logoic plane.
204. Khi nói về “biển lửa”, chúng ta đang quy chiếu đến cõi hồng trần vũ trụ và cõi phụ thứ nhất của nó, cõi thứ nhất của hệ—tức là cõi logoic.
205. The “sea of fire” is produced from pregenetic matter—consisting of:
205. “Biển lửa” được tạo ra từ vật chất tiền sinh—bao gồm:
a. active heat,
a. nhiệt hoạt động,
b. latent heat and
b. nhiệt tiềm ẩn và
c. primordial substance which they animate
c. chất liệu nguyên sơ mà chúng làm sinh động
206. Note the triple constitution of the “sea of fire”. (cf. EA 35)
206. Hãy lưu ý cấu tạo tam phân của “biển lửa”. (x. EA 35)
207. We must differentiate between the “sea of fire” and “primordial substance”. Primordial substance is differentiated by Fohat into substance/matter of all types.
207. Chúng ta phải phân biệt giữa “biển lửa” và “chất liệu nguyên sơ”. Chất liệu nguyên sơ được Fohat biến phân thành chất liệu/vật chất thuộc mọi loại.
208. If the “sea of fire “cannot exist unless two fires (internal and radiatory) act upon “primordial substance”, can we say that “akasha” cannot exist unless the same two fires act upon the substance resident upon the second plane? This is a subtle point and is basically an attempt to differentiate between fire, per se, and matter.
208. Nếu “biển lửa” không thể tồn tại trừ phi hai loại lửa (nội tại và bức xạ) tác động lên “chất liệu nguyên sơ”, thì chúng ta có thể nói rằng “akasha” cũng không thể tồn tại trừ phi cùng hai loại lửa ấy tác động lên chất liệu cư ngụ trên cõi thứ hai chăng? Đây là một điểm tinh tế và về cơ bản là một nỗ lực nhằm phân biệt giữa lửa, chính nó, và vật chất.
209. The second systemic plane is characterized by the first differentiation of “primordial substance” or “pregenetic matter”. It is, not, per se, the first differentiation of the “sea of fire”. This first differentiation is called “akasha”.
209. Cõi thứ hai của hệ được đặc trưng bởi sự biến phân đầu tiên của “chất liệu nguyên sơ” hay “vật chất tiền sinh”. Nó, không phải, chính nó, là sự biến phân đầu tiên của “biển lửa”. Sự biến phân đầu tiên này được gọi là “akasha”.
210. If “active heat” is involved in the “driving forward of material evolution”, the first ray is involved.
210. Nếu “nhiệt hoạt động” có liên quan đến “sự thúc đẩy tiến lên của tiến hóa vật chất”, thì cung một có liên quan.
211. Active heat is etheric fire (radiatory fire) and, in the physical system of any atom (microscopic or macrocosmic), is the dynamic factor—rajasic. Latent heat is more passive and must be acted upon by active heat. Then its response can be powerful.
211. Nhiệt hoạt động là lửa dĩ thái (lửa bức xạ) và, trong hệ thống hồng trần của bất kỳ nguyên tử nào (vi mô hay đại vũ trụ), là yếu tố động lực—rajas. Nhiệt tiềm ẩn thụ động hơn và phải được nhiệt hoạt động tác động lên. Khi ấy đáp ứng của nó có thể rất mạnh mẽ.
Akasha, in manifestation, expresses itself as Fohat, or divine Energy, and Fohat on the different planes is known as aether, air, fire, water, electricity, ether, prana and similar terms.9,10,11
Akasha, trong biểu hiện, tự biểu lộ như Fohat, hay Năng Lượng thiêng liêng, và Fohat trên các cõi khác nhau được biết đến như aether, không khí, lửa, nước, điện, ether, prana và những thuật ngữ tương tự.9,10,11
212. Akasha “in manifestation” is a fire.
212. Akasha “trong biểu hiện” là một loại lửa.
213. Fohat is a third aspect Entity, associated with Brahma and Holy Spirit.
213. Fohat là một Thực Thể phương diện thứ ba, liên kết với Brahma và Chúa Thánh Thần.
214. Fohat is “cosmic electricity plus intelligence”. Servant of Cosmic Ideation.
214. Fohat là “điện vũ trụ cộng với trí tuệ”. Kẻ phụng sự của Ý niệm Vũ trụ.
215. Fohat is called “divine Energy”. It is the energy which produces manifestation.
215. Fohat được gọi là “Năng Lượng thiêng liêng”. Đó là năng lượng tạo ra biểu hiện.
216. Fohat is connected with five, because its action begins on the Brahmic plane immediately ‘below’ the plane of Akasha.
216. Fohat liên hệ với số năm, vì hoạt động của nó bắt đầu trên cõi Brahma ngay ‘bên dưới’ cõi Akasha.
217. Fohat is related especially to expression.
217. Fohat đặc biệt liên hệ với sự biểu lộ.
218. Akasha precedes Fohat.
218. Akasha có trước Fohat.
219. All this seems to be saying that should the monad (on the ‘plane of akasha’) wish to express, it must do so through Fohat.
219. Tất cả điều này dường như muốn nói rằng nếu chân thần (trên ‘cõi akasha’) muốn biểu lộ, nó phải làm như vậy qua Fohat.
220. Fohat is related to the first solar system.
220. Fohat liên hệ với hệ mặt trời thứ nhất.
221. The following are numbers associated with the three solar systems:
221. Sau đây là các con số gắn với ba hệ mặt trời:
a. The number associated with Solar System 1 is 5;
a. Con số gắn với Hệ Mặt Trời 1 là 5;
b. The number associated with Solar System 2 is 7;
b. Con số gắn với Hệ Mặt Trời 2 là 7;
c. The number associated with Solar System 3 is 9
c. Con số gắn với Hệ Mặt Trời 3 là 9
d. 5 + 7 + 9 = 21 plus the wholeness = 22.
d. 5 + 7 + 9 = 21 cộng với tính toàn thể = 22.
e. The cosmologist Stephen Pugh has said, with respect to our solar system, 2 + 2 = 4 (the number he theorizes for the monadic ray of the Solar Logos).
e. Nhà vũ trụ học Stephen Pugh đã nói, đối với hệ mặt trời của chúng ta, 2 + 2 = 4 (con số mà ông giả thuyết là cung chân thần của Thái dương Thượng đế).
f. 2 + 2 also = 22, a master number of completion.
f. 2 + 2 cũng = 22, một con số chủ đạo của sự hoàn tất.
222. Points Emerging in Group Discussion:
222. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:
a. Just as the Solar Logos’ causal body is located on the first subplane of the cosmic mental plane and the causal body of the PL is on the third, so it can be expected that their relative focus on the systemic monadic plane will be differentiated.
a. Cũng như thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế nằm trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí vũ trụ và thể nguyên nhân của PL nằm trên cõi phụ thứ ba, thì có thể dự đoán rằng trọng tâm tương đối của các Ngài trên cõi chân thần của hệ sẽ được biến phân.
b. Fohat is the Great “Actor”
b. Fohat là “Tác Nhân” vĩ đại
c. The “Army of the Voice” is closely related to Fohat. In a way, Fohat ‘follows orders’ given by the “Voice” (which is the “Word” or ‘Vishnu the Singer’. There are associations in this thought to the “Army of Maitreya”
c. “Đạo Quân của Tiếng Nói” liên hệ chặt chẽ với Fohat. Theo một nghĩa nào đó, Fohat ‘tuân lệnh’ do “Tiếng Nói” ban ra (vốn là “Linh từ” hay ‘Vishnu Đấng Ca Sĩ’. Trong ý tưởng này có những liên hệ với “Đạo Quân của Maitreya”
d. When you speak a word, the little elementals aggregate—follow the pattern of your word.
d. Khi các bạn nói ra một lời, các hành khí nhỏ tụ tập lại—đi theo mô hình của lời các bạn.
e. Fohat brings things into being through action.
e. Fohat đưa sự vật vào hiện hữu qua hành động.
f. Systemic Fohat begins with the action of Aether (the substance/energy of the third systemic plane).
f. Fohat hệ thống bắt đầu với hoạt động của Aether (chất liệu/năng lượng của cõi hệ thống thứ ba).
g. A question arose re the nature of the “Sea of Fire” and Akasha. For the Solar Logos, the first form (on the cosmic physical) occurs on the monadic plane (the plane of Akasha)
g. Một câu hỏi được nêu ra liên quan đến bản chất của “Biển Lửa” và Akasha. Đối với Thái dương Thượng đế, hình tướng đầu tiên (trên cõi hồng trần vũ trụ) xuất hiện trên cõi chân thần (cõi của Akasha)
h. Particles in the Sea of Fire are not as bound, not bound to each other; Vulcan (one of the planetary rulers of the Sea of Fire) has broken the chains binding fundamental particles to each other. Vulcan both makes chains and shatters them.
h. Các hạt trong Biển Lửa không bị ràng buộc chặt chẽ như vậy, không bị ràng buộc với nhau; Vulcan (một trong những chủ tinh hành tinh của Biển Lửa) đã phá vỡ những xiềng xích trói buộc các hạt căn bản với nhau. Vulcan vừa tạo ra xiềng xích vừa phá tan chúng.
i. The concept of Vishnu is related the Akasha, Jupiter, Sound, Pattern, Archetype, Ideation and Monad—all these ideas are to be together under the influence of pure reason.
i. Khái niệm Vishnu có liên hệ với Akasha, Sao Mộc, Âm thanh, mô hình, nguyên mẫu, sự tạo ý và chân thần—tất cả những ý niệm này phải được đặt chung với nhau dưới ảnh hưởng của lý trí thuần khiết.
j. The first systemic plane is ‘above’ form as we consider form in relation to the cosmic physical plane..
j. Cõi hệ thống thứ nhất ở ‘trên’ hình tướng khi chúng ta xét hình tướng trong liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ.
k. The combination of Vulcan plus Jupiter impresses the archetype.
k. Sự kết hợp của Vulcan cộng với Sao Mộc gây ấn tượng lên nguyên mẫu.
l. Jupiter represents the timbre of the voice (its identifying vibratory pattern); Vulcan is the power of the voice.
l. Sao Mộc biểu thị âm sắc của giọng nói (mô hình rung động nhận diện của nó); Vulcan là quyền năng của giọng nói.
m. May we say that the Sun is veiling Vulcan in relation to the Sea of Fire?
m. Chúng ta có thể nói rằng Mặt Trời đang che giấu Vulcan trong liên hệ với Biển Lửa chăng?
n. In the Akasha, divine geometrical patterns based on sound appear. Vishnu is the singer. There is a close relation between sound, song and the pattern of identity—but not the essence of identity.
n. Trong Akasha, các mô hình hình học thiêng liêng dựa trên âm thanh xuất hiện. Vishnu là người ca xướng. Có một mối liên hệ mật thiết giữa âm thanh, bài ca và mô hình của bản sắc—nhưng không phải tinh túy của bản sắc.
o. The patterns of the akashic plane (which are monadic patterns) are held in place by sound. Vishnu is singer and the seer and related to plane two. Sound and light occur together. Vishnu sustains the universe with His Song the universe. Vishnu utilizes the Akasha.
o. Các mô hình của cõi akasha (vốn là các mô hình chân thần) được giữ cố định nhờ âm thanh. Vishnu là người ca xướng và nhà thông nhãn, và có liên hệ với cõi thứ hai. Âm thanh và ánh sáng xuất hiện cùng nhau. Vishnu duy trì vũ trụ bằng Bài Ca của Ngài về vũ trụ. Vishnu sử dụng Akasha.
p. It can be asked: is the monad a ‘singer’?
p. Có thể đặt câu hỏi: chân thần có phải là một ‘ca giả’ không?
q. One who knows the physiology of the voice said that when one sings, the circulation of energy passes through the heart. In speech this does not happen.
q. Một người hiểu biết về sinh lý học của giọng nói đã nói rằng khi người ta hát, sự tuần hoàn năng lượng đi qua tim. Trong lời nói thì điều này không xảy ra.
r. Sounding and intoning can be considered equivalent. One can sing on one tone, and it is still singing. Melodic singing introduces the factor of variety which is needed for the making of distinct patterns.
r. Việc xướng và ngâm có thể được xem là tương đương. Người ta có thể hát trên một âm duy nhất, và đó vẫn là hát. Lối hát có giai điệu đưa vào yếu tố đa dạng, điều cần thiết để tạo nên các mô hình phân biệt.
s. Different ways of viewing Fohat were suggested:
s. Những cách nhìn khác nhau về Fohat đã được gợi ý:
i. Fohat as the Creator of Matter
i. Fohat như Đấng Sáng Tạo Vật Chất
ii. Fohat as the Arranger.
ii. Fohat như Đấng Sắp Đặt.
iii. Fohat as the ‘Uniter’ (equivalent to Eros).
iii. Fohat như ‘Đấng Hợp Nhất’ (tương đương với Eros).
iv. Fohat as the Director.
iv. Fohat như Đấng Điều Hướng.
(9 Akasha. Definition S. D., II, 538
(9 Akasha. Định nghĩa S. D., II, 538
It is the synthesis of ether S. D., I, 353, 354
Nó là tổng hợp của ether S. D., I, 353, 354
It is the essence of ether S. D., I, 366
Nó là tinh túy của ether S. D., I, 366
It is primordial ether S. D., I, 585
Nó là ether nguyên sơ S. D., I, 585
223. These three statements suggest that the meaning of “ether” here given is not the usual. For instance, the first cosmic etheric is the “sea of fire”, which occurring on the first or logoic plane, should be the “synthesis of ether”—not akasha.
223. Ba phát biểu này gợi ý rằng ý nghĩa của “ether” được nêu ở đây không phải là ý nghĩa thông thường. Chẳng hạn, dĩ thái vũ trụ thứ nhất là “biển lửa”, xuất hiện trên cõi thứ nhất hay cõi logoic, lẽ ra phải là “tổng hợp của ether”—chứ không phải akasha.
224. If Akasha is all these things, what is HPB’s definition of “ether” in this context?
224. Nếu Akasha là tất cả những điều này, thì định nghĩa của HPB về “ether” trong ngữ cảnh này là gì?
225. Perhaps “Akasha” is being given a broader and higher meaning than the substance/energy of the second or monadic subplane.
225. Có lẽ “Akasha” đang được gán cho một ý nghĩa rộng hơn và cao hơn chất liệu/năng lượng của cõi phụ thứ hai hay cõi phụ chân thần.
226. At this point could she be equating the term “ether” with “Aether” which begins on the third subplane of the cosmic physical plane? Since Akasha is ‘higher’ than the Aether of the atmic plane, it could be called, in relation to atmic Aether, the synthesis, the essence and primordial. Otherwise to call Akasha these things (and confine its meaning to the substance energy of the second cosmic subplane) does not make sense.
226. Ở điểm này, liệu bà có đang đồng nhất thuật ngữ “ether” với “Aether”, vốn bắt đầu trên cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ không? Vì Akasha ‘cao hơn’ Aether của cõi atma, nên nó có thể được gọi, trong liên hệ với Aether atma, là tổng hợp, là tinh túy và là nguyên sơ. Nếu không, việc gọi Akasha là những điều này (và giới hạn ý nghĩa của nó vào chất liệu năng lượng của cõi phụ vũ trụ thứ hai) là không hợp lý.
It is the third Logos in manifestation S. D., I, 377)
Nó là Logos thứ ba trong biểu hiện S. D., I, 377)
227. We must ponder, “In what way is Akasha the “third Logos in manifestation”. Only a very broad definition of Akasha would make this possible. If the Third Logos had differentiated primordial matter into the matter of all the forty-nine subplanes of the systemic plane, then that matter would be generically be called “Akasha” IF Akasha is the “third Logos in manifestation”.
227. Chúng ta phải suy ngẫm: “Theo cách nào Akasha là ‘Logos thứ ba trong biểu hiện’?” Chỉ một định nghĩa rất rộng về Akasha mới khiến điều này khả hữu. Nếu Logos thứ ba đã biến phân vật chất nguyên sơ thành vật chất của toàn bộ bốn mươi chín cõi phụ của cõi hệ thống, thì vật chất ấy, một cách tổng quát, sẽ được gọi là “Akasha” NẾU Akasha là “Logos thứ ba trong biểu hiện”.
228. “Aether” can be symbolized as a pyramid inscribed in a sphere.
228. “Aether” có thể được biểu tượng hóa như một kim tự tháp nội tiếp trong một khối cầu.
229. “Ether” (as given in the three statements immediately above) may mean “Aether” plus the lower four planes (four elements)!
229. “Ether” (như được nêu trong ba phát biểu ngay trên) có thể có nghĩa là “Aether” cộng với bốn cõi thấp (bốn nguyên tố)!
230. Remember that the four highest planes are called “etheric” planes. But they are cosmic ethers (buddhic, atmic, monadic, logoic).
230. Hãy nhớ rằng bốn cõi cao nhất được gọi là các cõi “dĩ thái”. Nhưng chúng là các dĩ thái vũ trụ (Bồ đề, atma, chân thần, logoic).
231. There are also super-cosmic etheric planes (cosmic buddhic, cosmic atmic, cosmic monadic, cosmic logoic)
231. Cũng có các cõi dĩ thái siêu vũ trụ (Bồ đề vũ trụ, atma vũ trụ, chân thần vũ trụ, logoic vũ trụ)
232. A group of factors to be related are Vulcan, atomic matter, higher vibration, and fourth initiation.
232. Một nhóm các yếu tố cần được liên hệ với nhau là Vulcan, vật chất nguyên tử, rung động cao hơn, và lần điểm đạo thứ tư.
233. The highest of the cosmic subplanes is the ‘home’ of the least differentiated matter in the solar system. Vulcan relates to the Sea of Fire.
233. Cõi phụ cao nhất của các cõi phụ vũ trụ là ‘nhà’ của loại vật chất ít biến phân nhất trong hệ mặt trời. Vulcan liên hệ với Biển Lửa.
(10 H. P. B., defines the Akasha in the following terms: S. D., II, 538. "Akasha the astral Light can be defined in a few words:
(10 H. P. B. định nghĩa Akasha theo những thuật ngữ sau: S. D., II, 538. “Akasha, Ánh sáng cảm dục, có thể được định nghĩa bằng vài lời:
234. In this case the term “astral light” may not relate only to the astral plane. It may be a higher kind of astral light.
234. Trong trường hợp này, thuật ngữ “ánh sáng cảm dục” có thể không chỉ liên hệ với cõi cảm dục. Nó có thể là một loại ánh sáng cảm dục cao hơn.
It is the Universal soul, the Matrix of the Universe, the Mysterium Magicum from which all that exists is born by separation or differentiation. In the various occult books it is called by different terms and it would be of value perhaps if we enumerate some of them here: There is one universal element with its differentiations.
Nó là đại hồn, Khuôn Mẹ của Vũ Trụ, Mysterium Magicum mà từ đó mọi cái hiện hữu được sinh ra bằng sự phân ly hay biến phân. Trong các sách huyền bí khác nhau, nó được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau, và có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta liệt kê một số trong đó ở đây: Có một nguyên tố phổ quát với các biến phân của nó.
235. In this case Akasha seems to be related to the “Sea of Fire”. The “Sea of Fire” is the maximally undifferentiated substance possible in our solar system, (but, let us remember, not pure primordial matter or pure pregenetic matter).
235. Trong trường hợp này, Akasha dường như có liên hệ với “Biển Lửa”. “Biển Lửa” là chất liệu ít biến phân nhất có thể có trong hệ mặt trời của chúng ta, (nhưng, hãy nhớ rằng, không phải là vật chất nguyên sơ thuần khiết hay vật chất tiền phát sinh thuần khiết).
236. The list tabulated below includes as categories the Sea of Fire and not only Akasha. It will be clear that much that is listed below is about first subplane substance/energy—the Sea of Fire. As well “primordial substance” finds its way into the tabulation.
236. Danh sách được lập bảng dưới đây bao gồm như những phạm trù cả Biển Lửa chứ không chỉ riêng Akasha. Sẽ rõ ràng rằng phần lớn những gì được liệt kê dưới đây là về chất liệu/năng lượng của cõi phụ thứ nhất—Biển Lửa. Đồng thời “chất liệu nguyên sơ” cũng được đưa vào bảng.
237. “Aether” is to be taken as a higher level of “ether”.
237. “Aether” phải được hiểu như một cấp độ cao hơn của “ether”.
238. There is potential confusion in the mixture of terms below. One must proceed carefully to keep the necessary distinctions.
238. Có khả năng gây nhầm lẫn trong sự pha trộn các thuật ngữ dưới đây. Người ta phải tiến hành cẩn trọng để giữ được những phân biệt cần thiết.
Homogeneous (mostly descriptions of the, first subplane. One Universal Element)
Đồng nhất (phần lớn là những mô tả về, cõi phụ thứ nhất. Một Nguyên tố Phổ quát)
1. Undifferentiated cosmic substance
1. Chất liệu vũ trụ chưa biến phân
2. Primordial ether (in this case it cannot be found on the second cosmic subplane)
2. Ether nguyên sơ (trong trường hợp này nó không thể được tìm thấy trên cõi phụ vũ trụ thứ hai)
3. Primordial electric entity (easily related to the “sea of fire”)
3. Thực thể điện nguyên sơ (dễ liên hệ với “biển lửa”)
4. Akasha (considered as root matter, likely undifferentiated)
4. Akasha (được xem như vật chất gốc, có lẽ chưa biến phân)
5. Super-astral light (if Akasha is ‘higher astral light’)
5. Ánh sáng siêu cảm dục (nếu Akasha là ‘ánh sáng cảm dục cao hơn’)
6. Fiery serpent
6. Xà hỏa
7. Mulaprakriti
7. Mulaprakriti
8. Pregenetic matter
8. Vật chất tiền phát sinh
239. Akasha can mean matter of all kinds on the cosmic physical plane. So Akasha is a general term and is not confined to the second subplane of the cosmic physical plane, though it may mean that second subplane substance/energy most often.
239. Akasha có thể có nghĩa là vật chất thuộc mọi loại trên cõi hồng trần vũ trụ. Vì vậy Akasha là một thuật ngữ tổng quát và không bị giới hạn vào cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ, dù nó có thể thường mang nghĩa là chất liệu/năng lượng của cõi phụ thứ hai ấy.
240. The reader must beware of these confusing changes of terminology. Setting upon a set of definitions which is valid most of the time and achieve mental stability. Then be alert to alterations of terminology in varying contexts.
240. Người đọc phải cảnh giác trước những thay đổi thuật ngữ gây nhầm lẫn này. Hãy xác lập một bộ định nghĩa có giá trị trong phần lớn trường hợp và đạt được sự ổn định trí tuệ. Sau đó hãy tỉnh táo trước những thay đổi thuật ngữ trong các ngữ cảnh khác nhau.
241. Sound is the property of akasha.
241. Âm thanh là thuộc tính của akasha.
242. Points Emerging in Group Discussion:
242. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:
a. Akasha is the Ocean of Sound.
a. Akasha là Đại Dương của Âm Thanh.
b. Akasha is the “Sonoriferous Ether” from one of the Upanishads
b. Akasha là “Ether Phát Âm” từ một trong các Upanishad
c. Akasha is the medium where all the vibrations we have created are stored. Everything the monad has ever done is stored in the higher Akasha (and temporarily in lower vibratory strata).
c. Akasha là môi trường nơi mọi rung động mà chúng ta đã tạo ra được lưu giữ. Mọi điều chân thần từng làm đều được lưu giữ trong Akasha cao hơn (và tạm thời trong các tầng rung động thấp hơn).
d. Through the right use of the Sacred Word we will restored to the Akasha—the right use will bring us HOME.
d. Qua việc sử dụng đúng Linh từ Thiêng Liêng, chúng ta sẽ được phục hồi vào Akasha—việc sử dụng đúng sẽ đưa chúng ta về NHÀ.
It is the sumtotal [Page 44] of that which is active, animated, or vitalized, and of all that concerns itself with the adaptation of the form to the needs of the inner flame of life.)
Nó là tổng thể [Page 44] của tất cả những gì đang hoạt động, được linh hoạt hóa, hay được tiếp sinh lực, và của mọi điều tự bận tâm với sự thích ứng của hình tướng với các nhu cầu của ngọn lửa sự sống bên trong.)
243. From this perspective, Akasha is everything except the essence of Life—Pure Being.
243. Từ góc nhìn này, Akasha là mọi thứ ngoại trừ tinh túy của Sự sống—Bản Thể Thuần Khiết.
244. Thus, in a way, Akasha is all that is devic.
244. Vì vậy, theo một cách nào đó, Akasha là tất cả những gì mang tính thiên thần.
245. Akasha, thus, from this widened definition, is ‘pattern in motion’.
245. Do đó, từ định nghĩa được mở rộng này, Akasha là ‘mô hình trong chuyển động’.
(11 Fohat is divine thought or energy (Shakti) as manifested on any plane of the cosmos. It is the interplay between Spirit and matter.
(11 Fohat là tư tưởng thiêng liêng hay năng lượng (Shakti) như được biểu hiện trên bất kỳ cõi nào của vũ trụ. Nó là sự tương tác giữa tinh thần và vật chất.
246. Fohat applies to all planes. Here are applications to the cosmic physical plane.
246. Fohat áp dụng cho mọi cõi. Dưới đây là những ứng dụng đối với cõi hồng trần vũ trụ.
a. Parashakti
a. Parashakti
b. Kriyashakti
b. Kriyashakti
c. Jnana shakti—Force of Mind.
c. Jnana shakti—Mãnh lực của Trí Tuệ.
d. Mantrikashakti
d. Mantrikashakti
e. Ichchashakti
e. Ichchashakti
f. Kundalinishakti
f. Kundalinishakti
247. It is energic interplay, or vital link.
247. Nó là sự tương tác năng lượng, hay mối liên kết sinh lực.
248. In China, it is called the “wind”.
248. Ở Trung Hoa, nó được gọi là “gió”.
249. For HPB it is the “Fiery Whirlwind”
249. Đối với HPB, nó là “Cơn Lốc Lửa”
250. Note the statement that Fohat is active on any plane of the cosmos. This must include the cosmic and super-cosmic planes. Who knows where it ends? In some manner, it must be an aspect of the Universal Logos (related to the Universal Third Principle).
250. Hãy lưu ý phát biểu rằng Fohat hoạt động trên bất kỳ cõi nào của vũ trụ. Điều này hẳn phải bao gồm các cõi vũ trụ và siêu vũ trụ. Ai biết nó kết thúc ở đâu? Theo một cách nào đó, nó hẳn phải là một phương diện của Thượng đế Vũ Trụ (liên hệ với Nguyên Khí thứ ba của Vũ Trụ).
251. Note that Fohat is the “interplay between Spirit and Matter”. This relates it to the second aspect of divinity, and to the letter “U” in the AUM.
251. Hãy lưu ý rằng Fohat là “sự tương tác giữa Tinh thần và Vật chất”. Điều này liên hệ nó với phương diện thứ hai của thiên tính, và với chữ “U” trong AUM.
252. There is a section in Initiation: Human and Solar in which the U and the M seem to have interchangeable functions and the mind is considered the mediator. This would fit with the more usual meaning of Fohat as related to the Divine Mind.
252. Có một đoạn trong Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương trong đó U và M dường như có những chức năng có thể thay thế cho nhau và trí tuệ được xem là trung gian. Điều này sẽ phù hợp với ý nghĩa thông thường hơn của Fohat như có liên hệ với Trí của Thượng đế.
The seven differentiations of Fohat are:
Bảy biến phân của Fohat là:
253. Fohat represents dynamic power on all planes. It is everywhere to be found—ubiquitous and in constant motion as is the third ray.
253. Fohat biểu thị quyền năng năng động trên mọi cõi. Nó hiện diện ở khắp nơi—phổ hiện và luôn luôn chuyển động như cung ba.
254. Fohat seems most related to the third aspect of divinity, and especially to the first aspect of that third aspect. Yet, Fohat is also “Eros” and thus related to the second aspect.
254. Fohat dường như liên hệ nhiều nhất với phương diện thứ ba của thiên tính, và đặc biệt với phương diện thứ nhất của phương diện thứ ba ấy. Tuy nhiên, Fohat cũng là “Eros” và do đó liên hệ với phương diện thứ hai.
255. We must remember that all the major aspects of divinity have three sub-aspects.
255. Chúng ta phải nhớ rằng mọi phương diện lớn của thiên tính đều có ba phương diện phụ.
256. “…Brahma is the sumtotal of Fohat”
256. “…Brahma là tổng thể của Fohat”
257. Is Fohat equal to “energy in motion”? We remember the statement, “Energy is in motion and circulates”.
257. Fohat có bằng với “năng lượng trong chuyển động” không? Chúng ta nhớ phát biểu, “Năng lượng đang chuyển động và tuần hoàn”.
258. The motion of Fohat is akin to “rotary motion”, for it is Fohat that “digs holes in space”.
258. Chuyển động của Fohat gần với “chuyển động xoay tròn”, vì chính Fohat là cái “đào những lỗ trong không gian”.
259. It was suggested, in a meaningful jest, that where the ABSOLUTE comes from is not ‘ap-parent’. This means that the ABSOLUTE is “Parentless”.
259. Người ta đã gợi ý, trong một câu đùa đầy ý nghĩa, rằng nơi ABSOLUTE xuất phát không phải là ‘hiển-nhiên’. Điều này có nghĩa là ABSOLUTE là “Không Cha Mẹ”.
When Fohat is said to produce "Seven Laya Centres," it means that for formative or creative purposes, the GREAT LAW (Theists may call it God) stops, or rather modifies its perpetual motion on seven invisible points within the area of the manifested Universe. "The great Breath digs through Space seven holes into Laya to cause them to circumgyrate during Manvantara" (Occult Catechism). (SD I 147)
Khi nói rằng Fohat tạo ra “Bảy Trung Tâm Laya”, điều đó có nghĩa là vì những mục đích tạo hình hay sáng tạo, ĐỊNH LUẬT VĨ ĐẠI (những người hữu thần có thể gọi là Thượng đế) dừng lại, hay đúng hơn là điều chỉnh chuyển động vĩnh cửu của nó tại bảy điểm vô hình trong phạm vi của Vũ Trụ biểu hiện. “Hơi Thở Vĩ Đại đào xuyên Không Gian bảy lỗ vào Laya để khiến chúng quay tròn trong suốt Manvantara” (Giáo Lý Vấn Đáp Huyền Bí). (SD I 147)
260. Fohat is “cosmic electricity plus intelligence”. It is the ‘Servant of Cosmic Ideation’.
260. Fohat là “điện vũ trụ cộng với trí tuệ”. Nó là ‘Người Phụng Sự của Sự Tạo Ý Vũ Trụ’.
261. Fohat is connected with five, because its action begins on the Brahmic plane, one plane under the “Akasha”
261. Fohat được nối kết với số năm, vì hoạt động của nó bắt đầu trên cõi Brahmic, thấp hơn một cõi so với “Akasha”
“Fohat, is analogous to what the Christian regards as the spirit; it is the will-to-exist, the determining life principle of God, Who, we can predicate, is the sum total of all forms, and of all states of consciousness; it is divine Purpose, actively functioning.”(SAIM 99)
“Fohat tương tự với điều mà người Cơ Đốc giáo xem là tinh thần; nó là ý chí-tồn tại, nguyên khí sự sống quyết định của Thượng đế, Đấng mà chúng ta có thể khẳng định là tổng thể của mọi hình tướng, và của mọi trạng thái tâm thức; nó là Thiên Ý, đang hoạt động một cách tích cực.”(SAIM 99)
“Fohat. Cosmic electricity; primordial light; the ever-present electrical energy; the universal propelling vital forces the ceaseless destructive and formative power; the synthesis of the many forms of electrical phenomena.” (IHS 218)
“Fohat. Điện vũ trụ; ánh sáng nguyên sơ; năng lượng điện luôn hiện diện; các mãnh lực sinh lực thúc đẩy phổ quát; quyền năng hủy diệt và tạo hình không ngừng; sự tổng hợp của nhiều hình thức hiện tượng điện.” (IHS 218)
262. Fohat is the “Fiery whirlwind”—HPB names it thus.
262. Fohat là “Cơn lốc lửa”—HPB gọi nó như vậy.
263. Is Fohat—anything that drives something somewhere. Can it be likened to the Chi?
263. Fohat có phải là—bất cứ cái gì đẩy một cái gì đó đi đến một nơi nào đó không? Nó có thể được ví với Chi chăng?
264. Points Emerging in Group Discussion:
264. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:
a. Is Fohat the personality aspect of a great Cosmic Logos. Agni, we are told, is the personality of the Solar Logos.
a. Fohat có phải là phương diện phàm ngã của một Cosmic Logos vĩ đại không? Chúng ta được bảo rằng Agni là phàm ngã của Thái dương Thượng đế.
b. Fohat is like the movement from NOTHING to Something, and from Something to NOTHING.
b. Fohat giống như sự chuyển động từ KHÔNG GÌ đến một cái gì đó, và từ một cái gì đó đến KHÔNG GÌ.
c. If we study the idea of “digging holes in space”, we find that it makes room for something new.
c. Nếu chúng ta nghiên cứu ý niệm “đào những lỗ trong không gian”, chúng ta thấy rằng nó tạo chỗ cho một điều gì mới.
d. A metaphysical speculations were abounding, it was suggested that maybe the universe is a ‘black hole in INFINITY’.
d. Khi những suy đoán siêu hình học đang tràn ngập, người ta gợi ý rằng có lẽ vũ trụ là một ‘hố đen trong VÔ CỰC’.
Fohat, called in consequence, the "Messenger of their will" -- the fiery whirlwind. (SD I 108)
Fohat, do đó được gọi là “Sứ giả của ý chí của các Ngài” -- cơn lốc lửa. (SD I 108)
265. Akasha precedes Fohat.
265. Akasha có trước Fohat.
266. Fohat is the energy which utilizes the Akasha, if Akasha is considered all substance/energy of the cosmic physical plane.
266. Fohat là năng lượng sử dụng Akasha, nếu Akasha được xem là toàn bộ chất liệu/năng lượng của cõi hồng trần vũ trụ.
267. Akasha relates to the second plane. Its expression is “Fohat”
267. Akasha liên hệ với cõi thứ hai. Biểu hiện của nó là “Fohat”
268. “Aether” is that differentiation associated with the atmic plane.
268. “Aether” là biến phân gắn liền với cõi atma.
269. A definition for the term “Fohat” is “divine Energy”.
269. Một định nghĩa cho thuật ngữ “Fohat” là “Năng lượng thiêng liêng”.
It might here be useful to point out that magnetism is the effect of the divine ray in manifestation in the same sense that electricity is the manifested effect of the primordial ray of active intelligence. It would be well to ponder on this for it holds hid a mystery.
Ở đây có lẽ sẽ hữu ích khi chỉ ra rằng từ điện là hiệu quả của cung thiêng liêng trong biểu hiện theo cùng ý nghĩa mà điện là hiệu quả biểu hiện của cung nguyên sơ của trí tuệ linh hoạt. Sẽ là điều tốt nếu suy ngẫm về điều này vì nó che giấu một huyền nhiệm.
270. Fohat is related to primordial ray and cosmic electricity
270. Fohat liên hệ với cung nguyên sơ và điện vũ trụ
271. An important pondering:
271. Một điều suy ngẫm quan trọng:
Ray
Cung
Divine Ray
Cung Thiêng Liêng
Primordial Ray of Active Intelligence
Cung Nguyên Sơ của Trí Tuệ Linh Hoạt
272. The relationship between electricity and magnetism must be pondered. A magnetic field induces electricity (electrical current).
272. Mối liên hệ giữa điện và từ tính phải được suy ngẫm. Một trường từ gây cảm ứng điện (dòng điện).
The fires of the mental plane also demonstrate in a twofold manner:
Các ngọn lửa của cõi trí cũng biểu hiện theo hai cách:
1) First, as the Fire of Mind, the basis of all expression and in one peculiar occult sense the sumtotal of existence. It provides the relation between the life and the form, between spirit and matter, and is the basis of consciousness itself.
1) Thứ nhất, như Lửa của Trí Tuệ, nền tảng của mọi biểu hiện và, theo một ý nghĩa huyền bí đặc biệt, là tổng thể của sự tồn tại. Nó cung cấp mối liên hệ giữa sự sống và hình tướng, giữa tinh thần và vật chất, và là nền tảng của chính tâm thức.
273. This fire is Solar Fire and is related to Higher Mind. Soul and Solar Fire are intimately related.
273. Ngọn lửa này là Lửa Thái dương và liên hệ với Thượng trí. Linh hồn và Lửa Thái dương có liên hệ mật thiết.
274. We can understand that the Fire of Mind is a great linking fire.
274. Chúng ta có thể hiểu rằng Lửa của Trí Tuệ là một ngọn lửa liên kết vĩ đại.
275. As it is form-building fire, related to the Second Logos and to the Second Outpouring.
275. Vì nó là ngọn lửa xây dựng hình tướng, liên hệ với Logos thứ hai và Lần Tuôn Đổ thứ hai.
276. The Fire of Mind, as here discussed, is considered in relation to solar fire and to the higher mental plane.
276. Lửa của Trí Tuệ, như được bàn ở đây, được xét trong liên hệ với lửa thái dương và với cõi trí cao hơn.
277. The mental permanent atom (not the mental unit) relates to this higher Fire of Mind.
277. Nguyên tử trường tồn trí tuệ (không phải đơn vị hạ trí) liên hệ với Lửa của Trí Tuệ cao hơn này.
278. Thus Fohat (relating intimately to the third ray) must also be related to the Fire of Mind. But Fohat, per se, is a vital, electrical Cosmic Being.
278. Vì vậy Fohat (liên hệ mật thiết với cung ba) cũng phải liên hệ với Lửa của Trí Tuệ. Nhưng chính Fohat, tự nó, là một Hữu Thể Vũ Trụ điện lực, sinh lực.
279. Mind arranges and organizes matter into form (thus serving the Second Logos). The throat center is the basis of expression. The throat center is formulator of patterns in matter. The Fire of Mind is related to the throat center (among other centers). The third ray throat center serves the second ray realization of pattern (through the ajna and heart centers).
279. Trí tuệ sắp xếp và tổ chức vật chất thành hình tướng (do đó phụng sự Logos thứ hai). Trung tâm cổ họng là nền tảng của biểu hiện. Trung tâm cổ họng là cơ quan tạo lập các mô hình trong vật chất. Lửa của Trí Tuệ liên hệ với trung tâm cổ họng (trong số các trung tâm khác). Trung tâm cổ họng cung ba phụng sự sự chứng nghiệm mô hình của cung hai (thông qua các trung tâm ajna và tim).
280. Just as the soul is ‘behind’ all expression in the three worlds, so the “Fire of Mind” (which is solar fire) is ‘behind’ all expression macrocosmically.
280. Cũng như linh hồn ở ‘đằng sau’ mọi biểu hiện trong ba cõi thấp, thì “Lửa của Trí Tuệ” (vốn là lửa thái dương) cũng ở ‘đằng sau’ mọi biểu hiện trong đại thiên địa.
281. Expression relates to that which is ‘pressed out’ into manifestation. This is the work of Brahma, Fohat, and the Third Logos.
281. Biểu hiện liên hệ với điều được ‘ép ra’ vào biểu hiện. Đây là công việc của Brahma, Fohat, và Logos thứ ba.
282. It is interesting when dealing with the Fire of Mind to notice its relations to both the Second and Third Logoi. In this regard, we remember that solar fire is a fire of love (second aspect), but also a fire of the cosmic mental (third aspect) plane.
282. Thật thú vị khi bàn đến Lửa của Trí Tuệ để nhận thấy các liên hệ của nó với cả hai Logos thứ hai và thứ ba. Về phương diện này, chúng ta nhớ rằng lửa thái dương là một lửa của bác ái (phương diện thứ hai), nhưng cũng là một ngọn lửa của cõi trí tuệ vũ trụ (phương diện thứ ba).
2) Second, as the Elementals of Fire, or the sumtotal of the active expression of thought, showing itself through the medium of those entities who, in their very essence, are fire itself.
2) Thứ hai, như Các Hành Khí của Lửa, hay tổng thể của biểu hiện linh hoạt của tư tưởng, tự biểu lộ qua trung gian của những thực thể mà trong chính tinh túy của chúng là lửa.
283. The Elementals of Fire are built into thoughtforms.
283. Các Hành Khí của Lửa được xây dựng vào trong các Hình tư tưởng.
284. The mental unit is related to this group.
284. Đơn vị hạ trí liên hệ với nhóm này.
285. We notice the word “active” in “active expression of thought”. This relates these Elementals of Fire to the third ray, the Ray of Activity.
285. Chúng ta lưu ý từ “linh hoạt” trong “biểu hiện linh hoạt của tư tưởng”. Điều này liên hệ các Hành Khí của Lửa này với cung ba, Cung của Hoạt Động.
286. When discussing this lower aspect of the fires of the mental plane, we are focussing on the four lower subplanes—the planes of concrete mind.
286. Khi bàn về phương diện thấp hơn này của các ngọn lửa của cõi trí, chúng ta đang tập trung vào bốn cõi phụ thấp—các cõi của trí cụ thể.
287. This group of Elementals of Fire are a correspondence on lower mental plane to the elementals of latent heat on/in the dense physical plane.
287. Nhóm Hành Khí của Lửa này là một tương ứng trên cõi hạ trí với các hành khí của nhiệt ẩn trên/trong cõi hồng trần đậm đặc.
288. Active radiatory heat/latent heat = Fire of Mind/Elementals of Fire
288. Nhiệt bức xạ linh hoạt/nhiệt ẩn = Lửa của Trí Tuệ/Các Hành Khí của Lửa
These dualities of expression make the four necessary factors in the logoic quaternary,12
Những nhị nguyên tính biểu hiện này tạo nên bốn yếu tố logoic cần thiết trong bộ tứ,12
289. We are speaking of the 21 lower subplanes of the cosmic physical plane (which include both types of mental fire and both types of physical heat). The Logos concerned is the Solar Logos.
289. Chúng ta đang nói về 21 cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ (bao gồm cả hai loại lửa trí tuệ và cả hai loại nhiệt hồng trần). Logos được nói đến là Thái dương Thượng đế.
290. The 21 lower subplanes are numbered as follows: 3 dense physical, 4 systemic etheric, 7 astral, 4 lower mental, 3 higher mental. Five divisions indicate the Brahmic factor of the Solar Logos. With the elimination of the astral body (7) you have 14. We notice that we are not (in the context of this discussion) speaking of the fires of the astral plane.
290. Hai mươi mốt cõi phụ thấp được đánh số như sau: 3 hồng trần đậm đặc, 4 dĩ thái hệ thống, 7 cảm dục, 4 hạ trí, 3 thượng trí. Năm phân chia chỉ ra yếu tố Brahma của Thái dương Thượng đế. Khi loại bỏ thể cảm dục (7), các bạn có 14. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta không (trong ngữ cảnh của cuộc thảo luận này) đang nói về các ngọn lửa của cõi cảm dục.
291. The esoteric developmental process demands (eventually) the elimination of the astral body.
291. Tiến trình phát triển huyền bí đòi hỏi (cuối cùng) sự loại bỏ thể cảm dục.
292. Let us differentiate between higher mind (subplanes two and three--Venus) and abstract mind (subplane one—Mercury,):
292. Hãy phân biệt giữa thượng trí (cõi phụ hai và ba--Sao Kim) và trí trừu tượng (cõi phụ một—Sao Thủy,):
293. Esoterically the Cosmic Will does not belong on the cosmic mental plane, yet, in relation to our present solar system (the second, by one method of counting) Cosmic Will is there to be found.
293. Một cách huyền bí Ý Chí Vũ Trụ không thuộc về cõi trí vũ trụ, tuy nhiên, trong liên hệ với hệ mặt trời hiện tại của chúng ta (hệ thứ hai, theo một phương pháp đếm), Ý Chí Vũ Trụ được tìm thấy ở đó.
or the lower nature of the Logos viewing His manifestation from one esoteric angle;
hay bản chất thấp hơn của Logos khi nhìn biểu hiện của Ngài từ một góc độ huyền bí;
294. Presumably this “esoteric angle” deals with the Solar Logos as He overcomes the cosmic astral plane (and does not count cosmic kama, or cosmic kama-manas as principles). Usually a lower quaternary includes kama or kama manas, but as here presented, it does not.
294. Có lẽ “góc độ huyền bí” này bàn đến Thái dương Thượng đế khi Ngài vượt qua cõi cảm dục vũ trụ (và không tính kama vũ trụ, hay kama-manas vũ trụ như những nguyên khí). Thông thường một bộ tứ thấp hơn bao gồm kama hay kama manas, nhưng như được trình bày ở đây, thì không.
exoterically, they are the sumtotal of the logoic quaternary, plus the logoic fifth principle, cosmic mind.
một cách ngoại môn, chúng là tổng thể của bộ tứ logoic, cộng với nguyên khí thứ năm logoic, trí tuệ vũ trụ.
295. Earlier, DK related cosmic mind to the will; thus the two plus two are related to a one which represents the will factor.
295. Trước đó, Chân sư DK đã liên hệ trí tuệ vũ trụ với ý chí; do đó hai cộng hai được liên hệ với một, vốn biểu thị yếu tố ý chí.
296. Maybe the exoteric consideration of the logoic quaternary, does include cosmic kama or cosmic kama manas, and then separates the energies of the logoic higher mind into a superior category.
296. Có lẽ cách xem xét ngoại môn về bộ tứ logoic có bao gồm kama vũ trụ hay kama-manas vũ trụ, rồi sau đó tách các năng lượng của thượng trí logoic vào một phạm trù cao hơn.
(12:The quaternary is composed of the four lower principles and the sheaths through which they manifest as a coherent unit, being held together during manifestation by the life force of the indwelling entity.) (i.e., the soul)
(12:Bộ tứ được cấu thành bởi bốn nguyên khí thấp hơn và các vỏ bọc mà qua đó chúng biểu hiện như một đơn vị cố kết, được giữ lại với nhau trong thời kỳ biểu hiện bởi mãnh lực sự sống của thực thể nội tại.) (tức là, linh hồn)
297. We note that the logoic quaternary is said to consist of both “principles” and “sheaths”. They are often differentiated as ‘faculty’ and the ‘vehicular means of expressing this faculty’.
297. Chúng ta lưu ý rằng bộ tứ logoic được nói là gồm cả “nguyên khí” lẫn “vỏ bọc”. Chúng thường được phân biệt như ‘năng lực’ và ‘phương tiện vận cụ để biểu lộ năng lực này’.
298. Still retaining the “esoteric angle”, these four plus one are the ‘Logoic Pentagram’. The one relates to the Fire of Intelligent Will.
298. Vẫn giữ “góc độ huyền bí”, bốn cộng với một này là ‘Ngôi Sao Năm Cánh Logoic’. Một liên hệ với Lửa của Ý Chí Thông Tuệ.
299. Remember we are dealing with the logoic quaternary, not the human quaternary or the planetary logoic quaternary.
299. Hãy nhớ rằng chúng ta đang bàn đến bộ tứ logoic, chứ không phải bộ tứ nhân loại hay bộ tứ logoic hành tinh.
300. A lower quaternary would normally consist of the physical vehicle, the etheric plus prana, the kamic body (astral body) and the lower mental body.
300. Một bộ tứ thấp hơn thông thường sẽ gồm vận cụ hồng trần, dĩ thái cộng với prana, thể kamic (thể cảm dục) và thể hạ trí.
301. In this case, the kamic vehicle is not discussed, and the higher fire of mind is included.
301. Trong trường hợp này, vận cụ cảm dục không được bàn đến, và lửa cao hơn của trí tuệ được bao gồm.
302. We seem that the term “quaternary” represents different types of fourfoldness depending upon the angle of vision and the entity involved.
302. Dường như thuật ngữ “bộ tứ” biểu thị những loại tính tứ phân khác nhau tùy theo góc độ tầm nhìn và thực thể liên hệ.
303. Planets related to the logoic quaternary could be considered as Venus, Mars, Earth and Pluto. Note three non-sacred planets and one sacred. Venus (with its sixth ray monad), associated with the logoic solar plexus and kama manas); Mars associated with the logoic sacral center and kama; Earth with the spleen and the logoic etheric body (though later with the logoic base of the spine); and Pluto with the base of the spine (and like the Moon) with the physical body.
303. Các hành tinh liên hệ với bộ tứ logoic có thể được xem là Sao Kim, Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Diêm Vương. Hãy lưu ý ba hành tinh không thiêng liêng và một hành tinh thiêng liêng. Sao Kim (với chân thần cung sáu của nó), liên kết với tùng thái dương logoic và kama manas); Sao Hỏa liên kết với trung tâm xương cùng logoic và kama; Trái Đất với lá lách và thể dĩ thái logoic (dù về sau là với đáy cột sống logoic); và Sao Diêm Vương với đáy cột sống (và giống như Mặt Trăng) với thể xác.
304. There are other assignments such as Sun, Pluto, Mars, Earth, Moon (relating to the personality and its four vehicles in descending order). All of these are non-sacred ‘planets’, and have a special connection to the lower principles and vehicles of man.
304. Có những quy gán khác như Mặt Trời, Sao Diêm Vương, Sao Hỏa, Trái Đất, Mặt Trăng (liên hệ với phàm ngã và bốn vận cụ của nó theo thứ tự đi xuống). Tất cả những “hành tinh” này đều không thiêng liêng, và có một liên hệ đặc biệt với các nguyên khí và vận cụ thấp của con người.
305. These types of assignments are speculative and the attempt to get them ‘right’ can stimulate the intuition.
305. Những kiểu quy gán này mang tính suy đoán và nỗ lực làm cho chúng “đúng” có thể kích thích trực giác.
The divine spark does not as yet manifest (as do the other two fires) as a duality, though what lies hidden in a later cycle, evolution alone will disclose.
Tia lửa thiêng liêng cho đến nay vẫn chưa biểu hiện (như hai loại lửa kia biểu hiện) thành một nhị nguyên tính, dù điều gì ẩn kín trong một chu kỳ về sau thì chỉ có tiến hoá mới tiết lộ.
306. Is the “divine spark” monadic fire, or the fire of the first ray? It would seem so.
306. “Tia lửa thiêng liêng” có phải là lửa chân thần, hay lửa của cung một không? Có vẻ là như vậy.
307. During the third (and impending) solar system, we can expect the divine spark to manifest as a duality.
307. Trong hệ mặt trời thứ ba (và đang đến gần), chúng ta có thể chờ đợi tia lửa thiêng liêng biểu hiện như một nhị nguyên tính.
308. Later developments during this solar system may be part of the preparation for the next system, and show a greater manifestation of the divine spark.
308. Những phát triển về sau trong hệ mặt trời này có thể là một phần của sự chuẩn bị cho hệ thống kế tiếp, và cho thấy sự biểu hiện lớn hơn của tia lửa thiêng liêng.
309. Question: Does the divine spark come from the cosmic mental plane? What is the origin of the monads?
309. Câu hỏi: tia lửa thiêng liêng có đến từ cõi trí vũ trụ không? Nguồn gốc của các chân thần là gì?
310. Does the monad come from the Central Spiritual Sun, through the Heart of the Sun? If the monad is that which has its home within the Sun (IHS 196), from what aspect of the Sun does the monad come? It is obvious the monad does not come from the physical Sun. The Central Spiritual Sun is a much better candidate and is, interestingly, mentioned in terms of the origin of the Solar Angels.
310. Chân thần có đến từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương, qua Trái Tim của Mặt Trời không? Nếu chân thần là cái có quê nhà của nó bên trong Mặt Trời (IHS 196), thì chân thần đến từ phương diện nào của Mặt Trời? Hiển nhiên chân thần không đến từ Mặt Trời vật lý. Mặt trời Tinh thần Trung Ương là một ứng viên thích hợp hơn nhiều và, điều thú vị là, được nhắc đến theo nghĩa nguồn gốc của các Thái dương Thiên Thần.
311. Are the “sparks of mind” different from the “divine sparks”? The term “sparks of mind” is used in relation to the fragment of itself which the Solar Angels “put down” into animal man at the moment of individualization. The term “divine sparks” has a distinctly monadic relation. Let us not forget, however, that Solar Angels have or, better, are monads too.
311. “Những tia lửa của trí tuệ” có khác với “những tia lửa thiêng liêng” không? Thuật ngữ “những tia lửa của trí tuệ” được dùng liên hệ với mảnh phân thân của chính các Thái dương Thiên Thần mà các Ngài “đặt xuống” vào người thú vào lúc biệt ngã hóa. Thuật ngữ “những tia lửa thiêng liêng” có một liên hệ rõ rệt với chân thần. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng các Thái dương Thiên Thần có hay đúng hơn, là các chân thần nữa.
312. May it be, then, that the “sparks of mind” are related to the presence of the Solar Angels in man whereas the “divine sparks” are related to monadic fire?
312. Vậy thì, có thể chăng “những tia lửa của trí tuệ” liên hệ với sự hiện diện của các Thái dương Thiên Thần trong con người, trong khi “những tia lửa thiêng liêng” liên hệ với lửa chân thần?
313. Could the human monad come from the “Heart of the Sun” or from the “Central Spiritual Sun”? The Central Spiritual Sun considered as the spirit or monadic aspect of the Solar Logos will have its ‘home’ upon the cosmic monadic plane.
313. Chân thần nhân loại có thể đến từ “Trái Tim của Mặt Trời” hay từ “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” không? Mặt trời Tinh thần Trung Ương, được xem như phương diện tinh thần hay chân thần của Thái dương Thượng đế, sẽ có “quê nhà” của nó trên cõi chân thần vũ trụ.
314. Of course the true origin of the monad is much higher. Essentially is a ‘ray of the RAY of the ABSOLUTE’ which flashed forth at the beginning of the subjective Universe.
314. Dĩ nhiên, nguồn gốc đích thực của chân thần còn cao hơn nhiều. Về bản chất, nó là một ‘tia của TIA của TUYỆT ĐỐI’ đã lóe ra vào lúc khởi đầu của Vũ Trụ chủ quan.
315. The “Hub of the Wheel” is the CSS—Central Spiritual Sun, likened to Libra, which rules peace.
315. “Trục của Bánh Xe” là CSS—Mặt trời Tinh thần Trung Ương, được ví với Thiên Bình, dấu hiệu cai quản hòa bình.
316. A question arose: “Will there be a seventh solar system?” Numerological necessity might seem to demand one, as there is usually a seventh phase in most occult processes. Would the seventh solar system somehow be a synthesis of the foregoing six?
316. Một câu hỏi được nêu ra: “Sẽ có một hệ mặt trời thứ bảy chăng?” Tính tất yếu về số học dường như đòi hỏi điều đó, vì thường có một giai đoạn thứ bảy trong hầu hết các tiến trình huyền bí. Liệu hệ mặt trời thứ bảy bằng cách nào đó sẽ là một tổng hợp của sáu hệ trước đó chăng?
This third fire, along with the other two, make the necessary five of logoic evolutionary development and by its perfected merging with the other two fires as the evolutionary process proceeds is seen the goal of logoic attainment for this greater cycle or period of this solar system. (i.e. the Maha-Kalpa, and “Occult Century”)
Loại lửa thứ ba này, cùng với hai loại kia, tạo nên bộ năm cần thiết của sự phát triển logoic thăng thượng tiến hoá, và qua sự hòa nhập hoàn hảo của nó với hai loại lửa kia khi tiến trình tiến hoá tiếp diễn, người ta thấy được mục tiêu thành tựu logoic cho chu kỳ hay thời kỳ lớn hơn này của hệ mặt trời này. (tức là Đại giai kỳ sinh hóa, và “Thế Kỷ Huyền Bí”)
317. The perfect merging of the four with the fifth should be mastership—in this case, solar logoic mastership. But from other references, it is doubtful that the Solar Logos intends to take His fifth initiation in this solar system. The fourth seems to be the limit.
317. Sự hòa nhập hoàn hảo của bốn với năm hẳn phải là chân sư vị—trong trường hợp này là chân sư vị của Thái dương Thượng đế. Nhưng từ những dẫn chiếu khác, thật đáng ngờ rằng Thái dương Thượng đế có ý định nhận lần điểm đạo thứ năm của Ngài trong hệ mặt trời này. Lần thứ tư dường như là giới hạn.
318. Five is the number of Brahma. But five is also the number of the second ray, indicating the duration of its cycle.
318. Năm là con số của Brahma. Nhưng năm cũng là con số của cung hai, chỉ thời lượng chu kỳ của nó.
“The cycles of the second ray are dynamic and recur in a regular rhythm at this time and during the twenty-five thousand years of a zodiacal cycle in sequences of five hundred years.” (EP I 349)
“Các chu kỳ của cung hai có tính năng động và tái diễn theo một nhịp điệu đều đặn vào lúc này và trong hai mươi lăm ngàn năm của một chu kỳ hoàng đạo theo những chuỗi năm trăm năm.” (EP I 349)
319. This is a second ray solar system, and the merging of the five completes it.
319. Đây là một hệ mặt trời cung hai, và sự hòa nhập của bộ năm hoàn tất nó.
320. Interestingly, the fourth initiation may be attained by our solar logos. (TCF 590)
320. Điều thú vị là, lần điểm đạo thứ tư có thể được Thái dương Thượng đế của chúng ta đạt đến. (TCF 590)
“Then, in a dual synthesis, they will pass on into the third system, that in which the Power aspect is developed, and the head centres will be complete. This achieved, our Logos has triumphed, and measured up to the sixth cosmic Initiation, just as He should measure up in this system to the fourth.” (TCF 590) (also add TCF 384, re the initiatory goal of the Solar Logos)
“Rồi, trong một tổng hợp nhị nguyên, các Ngài sẽ chuyển sang hệ thống thứ ba, hệ thống trong đó phương diện Quyền năng được phát triển, và các trung tâm đầu sẽ hoàn tất. Khi điều này đạt được, Thượng đế của chúng ta đã toàn thắng, và đạt tới lần Điểm Đạo vũ trụ thứ sáu, cũng như Ngài phải đạt tới trong hệ thống này lần thứ tư.” (TCF 590) (cũng thêm TCF 384, liên quan đến mục tiêu điểm đạo của Thái dương Thượng đế)
321. If we carefully study the certain words in the section above, we shall realize that the word “take” and “measure up” are not necessarily the same.
321. Nếu chúng ta nghiên cứu cẩn thận một số từ ngữ trong đoạn trên, chúng ta sẽ nhận ra rằng từ “nhận” và “đạt tới” không nhất thiết là một.
322. This five is related to the human third initiation with its symbol of the five-pointed star. (The divine spark is consciously active at the third degree)
322. Bộ năm này liên hệ với lần điểm đạo thứ ba của con người cùng biểu tượng ngôi sao năm cánh của nó. (Tia lửa thiêng liêng hoạt động một cách hữu thức ở cấp độ thứ ba)
323. But also, a human being who becomes a Master, is also symbolized by the five-pointed star.
323. Nhưng đồng thời, một con người trở thành một Chân sư cũng được biểu tượng hóa bằng ngôi sao năm cánh.
324. It is the vehicle which is sacrificed, as the consciousness identifies with something greater.
324. Chính vận cụ bị hi sinh, khi tâm thức đồng hoá với một điều gì lớn lao hơn.
325. If we think microcosmically, we shall realize that a man may “measure up” to a certain initiation without “taking” that initiation.
325. Nếu chúng ta suy nghĩ theo tiểu thiên địa, chúng ta sẽ nhận ra rằng một người có thể “đạt tới” một điểm đạo nào đó mà không “nhận” điểm đạo ấy.
[Page 45]
[Page 45]
When the primordial ray of intelligent activity, the divine ray of intelligent love, and the third cosmic ray of intelligent will meet, blend, merge, and blaze forth, the Logos will take His fifth initiation, thus completing one of His cycles.
Khi tia nguyên sơ của hoạt động thông tuệ, tia thiêng liêng của tình thương thông tuệ, và tia vũ trụ thứ ba của ý chí thông tuệ gặp nhau, hòa trộn, dung hợp, và bùng cháy, thì Thượng đế sẽ nhận lần điểm đạo thứ năm của Ngài, như thế hoàn tất một trong các chu kỳ của Ngài.
326. An important point: does DK mean the fifth minor initiation which eventually will be followed by the third cosmic and finally the fourth cosmic in this system? Or does He mean the fifth greater initiation, which is a cosmic initiation, and is not the fifth in a the present series of nine in which He is now engaged.
326. Một điểm quan trọng: phải chăng Chân sư DK muốn nói đến lần điểm đạo nhỏ thứ năm mà rốt cuộc sẽ được tiếp nối bởi lần vũ trụ thứ ba và cuối cùng là lần vũ trụ thứ tư trong hệ thống này? Hay Ngài muốn nói đến lần điểm đạo lớn thứ năm, vốn là một điểm đạo vũ trụ, và không phải là lần thứ năm trong chuỗi chín hiện tại mà Ngài đang trải qua.
327. If the fifth initiation is a greater cosmic initiation, it would seem likely that it would occur in the third solar system. This is what the reference on TCF 590 seems to be saying. However a few sections earlier we were told—
327. Nếu lần điểm đạo thứ năm là một điểm đạo vũ trụ lớn hơn, thì có vẻ hợp lý là nó sẽ xảy ra trong hệ mặt trời thứ ba. Đây dường như là điều đoạn dẫn ở TCF 590 đang nói. Tuy nhiên, ở vài đoạn trước đó chúng ta đã được cho biết—
“This third fire, along with the other two, make the necessary five of logoic evolutionary development and by its perfected merging with the other two fires as the evolutionary process proceeds is seen the goal of logoic attainment for this greater cycle or period of this solar system.” [Page Underlining and bolding, MDR]
“Loại lửa thứ ba này, cùng với hai loại kia, tạo nên bộ năm cần thiết của sự phát triển logoic thăng thượng tiến hoá, và qua sự hòa nhập hoàn hảo của nó với hai loại lửa kia khi tiến trình tiến hoá tiếp diễn, người ta thấy được mục tiêu thành tựu logoic cho chu kỳ hay thời kỳ lớn hơn này của hệ mặt trời này.” [Page Gạch dưới và in đậm, MDR]
328. So the matter must remain unresolved in our minds.
328. Vì vậy, vấn đề này phải vẫn chưa được giải quyết trong tâm trí chúng ta.
329. Could DK possibly be suggesting that the fifth initiation can happen at the end of this solar system? It is unlikely, but there are hints to this effect.
329. Có thể nào Chân sư DK đang gợi ý rằng lần điểm đạo thứ năm có thể xảy ra vào cuối hệ mặt trời này không? Điều đó khó có khả năng, nhưng vẫn có những ám chỉ theo hướng ấy.
330. Points Emerging in Group Discussion: Speculations anent the grades of initiations to be taken by the Solar Logos in the three solar systems.
330. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm: Những suy đoán liên quan đến các cấp điểm đạo sẽ được Thái dương Thượng đế nhận trong ba hệ mặt trời.
a. First SS probationary initiate, initiations 1 and 2 (the Initiator is the cosmic correspondence to the Christ);
a. Hệ mặt trời thứ nhất, điểm đạo đồ dự bị, các lần điểm đạo 1 và 2 (Đấng Điểm đạo là tương ứng vũ trụ với Đức Christ);
b. Second SS, initiations of the soul, 3, 4, 5 (the Initiator is the cosmic correspondence to Sanat Kumara).
b. Hệ mặt trời thứ hai, các điểm đạo của linh hồn, 3, 4, 5 (Đấng Điểm đạo là tương ứng vũ trụ với Đức Sanat Kumara).
c. Third SS initiations of the spirit/monad—at least initiation 6. (The Initiator is the cosmic correspondence of the Silent Watcher).
c. Hệ mặt trời thứ ba, các điểm đạo của tinh thần/chân thần—ít nhất là điểm đạo 6. (Đấng Điểm đạo là tương ứng vũ trụ của Đấng Quan Sát Thầm Lặng).
d. If there is a seventh initiation (would it be in the third solar system or one subsequent) the Initiator would be the cosmic correspondence of the Planetary Logos).
d. Nếu có một lần điểm đạo thứ bảy (liệu nó sẽ ở trong hệ mặt trời thứ ba hay một hệ tiếp sau), thì Đấng Điểm đạo sẽ là tương ứng vũ trụ của Đức Hành Tinh Thượng Đế).
e. It seems almost certain that there will be at least six solar systems and maybe seven through which our Solar Logos has taken, is taking or will take incarnation. Yet, from a certain perspective, it may be possible to count these six or seven as three.
e. Dường như gần như chắc chắn rằng sẽ có ít nhất sáu hệ mặt trời và có thể là bảy, qua đó Thái dương Thượng đế của chúng ta đã, đang hoặc sẽ lâm phàm. Tuy nhiên, từ một góc nhìn nào đó, có thể đếm sáu hay bảy hệ này thành ba.
The 5th Mahamanvantara (or solar system) The solar Logos achieves His fifth major Initiation. (TCF 605)
Giai kỳ sinh hóa thứ 5 (hay hệ mặt trời) Thái dương Thượng đế đạt được lần Điểm Đạo lớn thứ năm của Ngài. (TCF 605)
331. Rather, it is likely that our Logos will achieve His Great Renunciation (cosmically) in this solar system.
331. Đúng hơn, có khả năng là Thượng đế của chúng ta sẽ đạt Đại Sự Từ Bỏ của Ngài (theo nghĩa vũ trụ) trong hệ mặt trời này.
332. For man the elements are the issue; for a Planetary Logos, it is the planes; for a Solar Logos, the issue is the nine stages of consciousness. [This in reference to the process of initiation.]
332. Đối với con người, các nguyên tố là vấn đề; đối với một Hành Tinh Thượng Đế, đó là các cõi; đối với một Thái dương Thượng đế, vấn đề là chín giai đoạn của tâm thức. [Điều này liên hệ đến tiến trình điểm đạo.]
333. A class discussion ensued concerning the three Great Beings who each manifest through three planets. The three planets concerning the Third Ray Being is given.
333. Một cuộc thảo luận trong lớp tiếp theo liên quan đến ba Đấng Vĩ Đại, mỗi Đấng biểu hiện qua ba hành tinh. Ba hành tinh liên quan đến Đấng cung ba đã được nêu ra.
“Saturn, Mars and our Earth constitute, in a curious esoteric manner, the personality of a stupendous ray Life, Whose energy is that of the third Ray.” (EP II 98-99) Uranus, Jupiter and Venus are similarly allied in order to manifest or express a great Life. (EP II 99)
“Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất của chúng ta cấu thành, theo một cách huyền bí kỳ lạ, phàm ngã của một Sự Sống cung vĩ đại, mà năng lượng của Ngài là năng lượng của cung ba.” (EP II 98-99) Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Kim cũng được liên kết tương tự để biểu hiện hay diễn đạt một Sự Sống vĩ đại. (EP II 99)
334. Shiva = Neptune (mental—the “God of Reasoning”), Vulcan (astral—relating to the heart of the sun [EA 393], Pluto (physical—the god of the underworld) (Shiva holds the Trident, Neptune.)
334. Shiva = Sao Hải Vương (trí tuệ—“Thượng đế của Suy Luận”), Vulcan (cảm dục—liên hệ với trái tim của mặt trời [EA 393], Sao Diêm Vương (hồng trần—vị thần của âm phủ) (Shiva cầm Cây Đinh Ba, Sao Hải Vương.)
335. Vishnu = Uranus (mental), Venus (astral), Jupiter (physical)
335. Vishnu = Sao Thiên Vương (trí tuệ), Sao Kim (cảm dục), Sao Mộc (hồng trần)
336. Brahma = Saturn (mental), Mars (astral), Earth (physical)—this assignment of vehicles is confirmed.
336. Brahma = Sao Thổ (trí tuệ), Sao Hỏa (cảm dục), Trái Đất (hồng trần)—sự quy gán các vận cụ này đã được xác nhận.
337. The assignments of planetary vehicles for Shiva and Vishnu, however, are not necessarily correct, though they can be supported by reason.
337. Tuy nhiên, những quy gán các vận cụ hành tinh cho Shiva và Vishnu không nhất thiết là đúng, dù chúng có thể được lý trí hỗ trợ.
338. The fifth initiation always completes a natural unit of work. Man takes his fifth initiation in the third cycle of his development.
338. Lần điểm đạo thứ năm luôn hoàn tất một đơn vị công việc tự nhiên. Con người nhận lần điểm đạo thứ năm của mình trong chu kỳ
a. From individualization until the first initiation
a. Từ biệt ngã hóa đến lần điểm đạo thứ nhất
b. From the first initiation to the third
b. Từ lần điểm đạo thứ nhất đến lần thứ ba
c. From the third initiation to the fifth
c. Từ lần điểm đạo thứ ba đến lần thứ năm
339. This is also true for the Solar Logos. He probably takes the fifth initiation in His third incarnation—by some accounts, His sixth incarnation. (cf. TCF 605)
339. Điều này cũng đúng đối với Thái dương Thượng đế. Có lẽ Ngài nhận lần điểm đạo thứ năm trong lần lâm phàm thứ ba của Ngài—theo một số cách tính, là lần lâm phàm thứ sáu của Ngài. (xem TCF 605)
“The 5th Mahamanvantara (or solar system) The solar Logos achieves His fifth major Initiation.”
“Giai kỳ sinh hóa thứ 5 (hay hệ mặt trời) Thái dương Thượng đế đạt được lần Điểm Đạo lớn thứ năm của Ngài.”
340. Here there seems to be no doubt about it; we are told that we are in the “5th Mahamanvantara (or solar system)” and that in this great cycle the Solar Logos is to achieve “His fifth major initiation” (implying as TCF 384 suggests, that there are minor initiations).
340. Ở đây dường như không có gì phải nghi ngờ; chúng ta được cho biết rằng chúng ta đang ở trong “Giai kỳ sinh hóa thứ 5th ” (hay hệ mặt trời) và rằng trong chu kỳ lớn này Thái dương Thượng đế sẽ đạt được “lần điểm đạo lớn thứ năm của Ngài” (hàm ý, như TCF 384 gợi ý, rằng có những lần điểm đạo nhỏ).
341. If planetary schemes to a Solar Logos are like chains to a Planetary Logos, then the initiation of certain planets corresponds to various initiations (probably minor) of a Solar Logos, just as initiations on certain chains (for a Planetary Logos) correspond to His minor initiations.
341. Nếu các hệ hành tinh đối với một Thái dương Thượng đế giống như các dãy đối với một Hành Tinh Thượng Đế, thì điểm đạo của một số hành tinh nhất định tương ứng với các điểm đạo khác nhau (có lẽ là nhỏ) của một Thái dương Thượng đế, cũng như các điểm đạo trên một số dãy nhất định (đối với một Hành Tinh Thượng Đế) tương ứng với các lần điểm đạo nhỏ của Ngài.
342. This fifth Mahamanvantara is, nevertheless, from a certain and much emphasized perspective, also the second.
342. Tuy nhiên, Giai kỳ sinh hóa thứ năm này, từ một góc nhìn nhất định và được nhấn mạnh nhiều, cũng là Mahamanvantara thứ hai.
343. In any case, we are left with apparently contradictory references. The number four and two are certainly related, as twice two is four and both are on the Love-Wisdom line. That our Solar Logos should take His fourth major initiation in this second solar system is numerologically sound. However, the numbers two and five are also closely related (as the soul placed upon the fifth plane demonstrates), and so it is also reasonable that at the end of the Mahamanvantara, the Solar Logos may take His fifth major initiation.
343. Dù sao đi nữa, chúng ta vẫn còn lại với những dẫn chiếu có vẻ mâu thuẫn. Con số bốn và hai chắc chắn có liên hệ với nhau, vì hai lần hai là bốn và cả hai đều nằm trên tuyến Bác Ái – Minh Triết. Việc Thái dương Thượng đế của chúng ta nhận lần điểm đạo lớn thứ tư của Ngài trong hệ mặt trời thứ hai này là hợp lý về mặt số học. Tuy nhiên, các con số hai và năm cũng liên hệ chặt chẽ với nhau (như linh hồn được đặt trên cõi thứ năm cho thấy), và vì thế cũng hợp lý khi vào cuối Mahamanvantara, Thái dương Thượng đế có thể nhận lần điểm đạo lớn thứ năm của Ngài.
344. I suggest we wait and see!
344. Tôi đề nghị chúng ta cứ chờ xem!
When the rotary, the forward, and the spiral cyclic movements are working in perfect synthesis then the desired vibration will have been reached. When the three Laws of Economy, of Attraction, and of Synthesis work with perfect adjustment to each other, then nature will perfectly display the needed functioning, and the correct adaptation of the material form to the indwelling spirit, of matter to life, and of consciousness to its vehicle.
Khi các chuyển động chu chuyển, tiến tới, và xoắn ốc tuần hoàn đang hoạt động trong sự tổng hợp hoàn hảo thì rung động mong muốn sẽ được đạt đến. Khi ba Định luật Tiết Kiệm, Hấp Dẫn, và Tổng Hợp hoạt động trong sự điều chỉnh hoàn hảo với nhau, thì bản chất sẽ biểu lộ một cách hoàn hảo sự vận hành cần thiết, và sự thích ứng đúng đắn của hình tướng vật chất với tinh thần nội tại, của vật chất với sự sống, và của tâm thức với vận cụ của nó.
345. The Solar Logos becomes an “Adept” at this point, and “correct adaptation” is the result.
345. Thái dương Thượng đế trở thành một “chân sư” ở điểm này, và “sự thích ứng đúng đắn” là kết quả.
346. Perhaps the consummation here discussed will make of our Solar Logos a Cosmic Chohan of the sixth cosmic initiation.
346. Có lẽ sự viên mãn được bàn đến ở đây sẽ làm cho Thái dương Thượng đế của chúng ta trở thành một Chohan Vũ Trụ của lần điểm đạo vũ trụ thứ sáu.
347. If so, the consummation definitely relates to the third solar system.
347. Nếu vậy, sự viên mãn ấy chắc chắn liên hệ với hệ mặt trời thứ ba.
348. We, as spiritual aspirants are symbolically in our second solar system, and, primarily cultivating soul.
348. Chúng ta, với tư cách những người chí nguyện tinh thần, một cách biểu tượng đang ở trong hệ mặt trời thứ hai của mình, và chủ yếu đang vun bồi linh hồn.
S1S3 NEW
(TCF 45-54)
(TCF 45-54)
Version 1.3.1 Updated 19Mar05
Phiên bản 1.3.1 Cập nhật 19Mar05
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và dẫn chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
II. FIRE IN THE MICROCOSM
II. LỬA TRONG TIỂU THIÊN ĐỊA
Let us briefly consider therefore the correspondence between the greater whole and the unit man and then block out our subject in detail and consider the sections into which it will be wise to divide it.
Vì vậy, chúng ta hãy ngắn gọn xem xét sự tương ứng giữa toàn thể lớn hơn và đơn vị con người, rồi phác thảo chủ đề của chúng ta một cách chi tiết và xem xét các phần mà sẽ là khôn ngoan nếu chia nó ra.
1. We think we know man, the microcosm, best (when compared to the other three “atoms” under discussion. This is probably true, and so our opportunity to analogize to other “atoms” from what we ‘know’ of man is probably most a most fruitful exercise.
1. Chúng ta nghĩ rằng mình biết rõ nhất về con người, tiểu thiên địa (khi so với ba “nguyên tử” khác đang được bàn đến). Điều này có lẽ đúng, và vì vậy cơ hội suy theo tương đồng đến các “nguyên tử” khác từ điều chúng ta “biết” về con người có lẽ là một thực hành rất phong phú.
Fire in the Microcosm is likewise threefold in essence and fivefold in manifestation.
Lửa trong Tiểu thiên địa cũng tam phân trong bản chất và ngũ phân trong biểu hiện.
2. The triangle represents the essence and the five-pointed star, manifestation.
2. Tam giác biểu thị bản chất, còn ngôi sao năm cánh biểu thị sự biểu hiện.
3. The essential fires are threefold—“electric fire”, “solar fire” and “fire by friction”. The fact that the two lower fires are considered dual produces the five in manifestation.
3. Các loại lửa cốt yếu là tam phân—“Lửa Điện”, “Lửa Thái dương” và “Lửa ma sát”. Sự kiện hai loại lửa thấp hơn được xem là nhị nguyên tạo ra bộ năm trong biểu hiện.
4. Five is a number associated with manifestation because it relates to the five ‘Planes of Brahma’, which are qualified by the third aspect and the third ray—the aspect and ray of manifestation.
4. Năm là một con số gắn với sự biểu hiện vì nó liên hệ với năm ‘Cõi của Brahma’, vốn được phẩm định bởi phương diện thứ ba và cung ba—phương diện và cung của sự biểu hiện.
1. There is Internal Vitalising Fire, which is the correspondence to fire by friction. This is the sumtotal of individual kundalini; it animates the corporeal frame and demonstrates also in the twofold manner:
1. Có Lửa Tiếp Sinh Lực Nội Tại, tương ứng với Lửa ma sát. Đây là tổng số kundalini cá nhân; nó làm sinh động khung thể xác và cũng biểu lộ theo cách nhị phân:
5. The internal fires which vitalize are also twofold.
5. Các loại lửa nội tại tiếp sinh lực cũng là nhị phân.
6. We note that “individual kundalini” is not only a fire related to the dense, liquid and gaseous physical vehicles, but a fire related to the etheric vehicle.
6. Chúng ta lưu ý rằng “kundalini cá nhân” không chỉ là một loại lửa liên hệ với các vận cụ hồng trần đậm đặc, lỏng và khí, mà còn là một loại lửa liên hệ với vận cụ dĩ thái.
7. One of the great mysteries regarding the constitution of our cosmic physical plane is why the physical and mental planes should be divided, whereas the astral is not.
7. Một trong những huyền nhiệm lớn liên quan đến cấu tạo của cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta là tại sao cõi hồng trần và cõi trí lại phải được phân chia, trong khi cõi cảm dục thì không.
8. We do not know whether higher planes are divided (to the same extent) or divided at all, although activity on the higher three subplanes of, for instance, the monadic is referenced, and maybe this is subtly true of others of the cosmic ethers.
8. Chúng ta không biết liệu các cõi cao hơn có được phân chia (đến cùng mức độ ấy) hay có được phân chia chút nào không, mặc dù hoạt động trên ba cõi phụ cao hơn của, chẳng hạn, cõi chân thần có được nhắc đến, và có lẽ điều này cũng đúng một cách tinh tế đối với các dĩ thái vũ trụ khác.
First, as latent heat which is the basis of life of the spheroidal cell, or atom, and of its rotary adjustment to all other cells.
Thứ nhất, như nhiệt tiềm ẩn là nền tảng của sự sống của tế bào hình cầu, hay nguyên tử, và của sự điều chỉnh chu chuyển của nó với mọi tế bào khác.
9. We note the equivalence between the term “spheroidal cell” and “atom”. Usually, in human science, the cell is a much larger structure than the atom. Nevertheless, we have to take notice of how these terms are used in occultism.
9. Chúng ta lưu ý sự tương đương giữa thuật ngữ “tế bào hình cầu” và “nguyên tử”. Thông thường, trong khoa học nhân loại, tế bào là một cấu trúc lớn hơn nguyên tử rất nhiều. Tuy nhiên, chúng ta phải chú ý đến cách những thuật ngữ này được dùng trong huyền bí học.
10. We are speaking here of the human atom as a “spheroidal cell”.
10. Ở đây chúng ta đang nói về nguyên tử con người như một “tế bào hình cầu”.
11. But are we speaking of the atoms within the human body, or the human body as a “spheroidal cell”? If man, as a whole, is considered a “cell” or “atom”, we must question wherein lies the rotary motion of man—at least on the dense physical level.
11. Nhưng chúng ta đang nói về các nguyên tử bên trong cơ thể con người, hay về cơ thể con người như một “tế bào hình cầu”? Nếu con người, như một toàn thể, được xem là một “tế bào” hay “nguyên tử”, chúng ta phải đặt câu hỏi chuyển động quay của con người nằm ở đâu—ít nhất là trên cấp độ hồng trần đậm đặc.
12. Maybe we are not aware of the slow rotation of the physical body or of the etheric (which is said to appear “static”).
12. Có lẽ chúng ta không nhận biết được sự quay chậm của thể xác hay của thể dĩ thái (vốn được nói là có vẻ “tĩnh”).
13. The words “rotary adjustment” is significant. Probably the various rates of rotation found from one atom to another are really adjustments. As atoms adapt to one another, it would seem that they would change their rates of rotation. We are always being told how a “wheel” spins faster during its new cycle.
13. Những từ “sự điều chỉnh chu chuyển” có ý nghĩa quan trọng. Có lẽ các tốc độ quay khác nhau được tìm thấy từ nguyên tử này sang nguyên tử khác thực sự là những sự điều chỉnh. Khi các nguyên tử thích ứng với nhau, có vẻ như chúng sẽ thay đổi tốc độ quay của mình. Chúng ta luôn được cho biết một “bánh xe” quay nhanh hơn như thế nào trong chu kỳ mới của nó.
14. Probably as we human atoms meet other human atoms our rotary spin is either hastened or slowed.
14. Có lẽ khi chúng ta, những nguyên tử con người, gặp những nguyên tử con người khác, vòng quay chu chuyển của chúng ta hoặc được tăng nhanh hoặc bị làm chậm lại.
15. Yet is seems rather clear that there are certain fixed periods to, let us say, the rotation of an astral, a mental or a causal body. These periods of rotation are likely to be secrets of initiation.
15. Tuy nhiên, dường như khá rõ rằng có những chu kỳ cố định nhất định đối với, chúng ta hãy nói, sự quay của một thể cảm dục, một thể trí hay một thể nguyên nhân. Những chu kỳ quay này có lẽ là những bí mật của điểm đạo.
16. Points Emerging in Group Discussion:
16. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:
a. As individuals we are ‘in our own whirl’. Modulations and moderations are required of us for cooperative living.
a. Với tư cách cá nhân, chúng ta ‘ở trong cơn xoáy riêng của mình’. Những điều biến và tiết chế là cần thiết đối với chúng ta để sống hợp tác.
b. Unless there is rotary adjustment there will be no spiral cyclic motion.
b. Nếu không có sự điều chỉnh chu chuyển thì sẽ không có chuyển động xoắn ốc tuần hoàn.
c. We cannot move together unless we adjust to each other. Much of this kind of adjustment is the adjustment of the tempo of one to the tempo of another or others.
c. Chúng ta không thể cùng chuyển động nếu không điều chỉnh với nhau. Phần lớn loại điều chỉnh này là điều chỉnh nhịp độ của người này với nhịp độ của người khác hay những người khác.
d. We are to adjust to the group as a whole and to each other.
d. Chúng ta phải điều chỉnh với toàn thể nhóm và với nhau.
e. Is rotary adjustment an adjustment of a vehicle to another vehicle?
e. Phải chăng sự điều chỉnh chu chuyển là sự điều chỉnh của một vận cụ với một vận cụ khác?
f. Venus (prime planet of the soul) is imposing rhythms (as the soul does) upon the entirety of humanity. The Masters still belong to humanity.
f. Sao Kim (hành tinh chủ yếu của linh hồn) đang áp đặt các nhịp điệu (như linh hồn vẫn làm) lên toàn thể nhân loại. Các Chân sư vẫn thuộc về nhân loại.
g. The Four Races are related to the rhythms of Venus. The point is—we could find the rhythms of the different part so the body, and also there are rhythms of the different parts of humanity.
g. Bốn Nhân Loại liên hệ với các nhịp điệu của Sao Kim. Vấn đề là—chúng ta có thể tìm ra các nhịp điệu của những phần khác nhau của cơ thể, và cũng có những nhịp điệu của những phần khác nhau của nhân loại.
h. We are like elementals who are changing into devas.
h. Chúng ta giống như các hành khí đang chuyển thành các thiên thần.
i. Consider in this matter of rotary adjustment, the mystery of the planes rotating East to West, and the rays from North to South
i. Trong vấn đề điều chỉnh chu chuyển này, hãy xét đến huyền nhiệm của các cõi quay từ Đông sang Tây, và các cung từ Bắc xuống Nam
j. The main point in this discussion is the necessity for rotary adjustment. We have all to adjust our rhythms, adjust our periods (period of rotation), to the rhythms and periods of others and of the group as a whole.
j. Điểm chính trong cuộc thảo luận này là sự cần thiết của điều chỉnh chu chuyển. Tất cả chúng ta phải điều chỉnh các nhịp điệu của mình, điều chỉnh các chu kỳ của mình (chu kỳ quay), theo các nhịp điệu và chu kỳ của những người khác và của toàn thể nhóm.
k. We might call this type of adjustment ‘harmonic adjustment’, for it preserves harmony within the whole.
k. Chúng ta có thể gọi loại điều chỉnh này là sự điều chỉnh ‘hài hòa’, vì nó bảo tồn sự hài hòa trong toàn thể.
l. A chord of music is a miniature hierarchy. A chord played in tune represents an harmonious, hierarchical relationship of frequencies.
l. Một hợp âm là một hệ thống thứ bậc thu nhỏ. Một hợp âm được chơi đúng điệu biểu thị một mối liên hệ thứ bậc hài hòa của các tần số.