Trích nội dung chương
n. The base note of matter sounds always—according to our vibratory level. That note constantly sounding is our present condition. n. Âm nền của vật chất luôn luôn vang lên—theo cấp độ rung động của chúng ta. Nốt luôn vang lên ấy là tình trạng hiện tại của chúng ta.
m. A chord is an integrated system. The most important chord for humanity to consider consists of
m. Một hợp âm là một hệ thống tích hợp. Hợp âm quan trọng nhất để nhân loại xem xét gồm có
i. The base note of matter
i. Âm nền của vật chất
ii. The perfected third of the personality
ii. Quãng ba hoàn thiện của phàm ngã
iii. The dominant fifth of the soul
iii. Quãng năm chủ đạo của linh hồn
iv. And the higher note of the monad, an octave above the fundamental
iv. Và nốt cao hơn của chân thần, cao hơn một quãng tám so với âm cơ bản
n. The base note of matter sounds always—according to our vibratory level. That note constantly sounding is our present condition.
n. Âm nền của vật chất luôn luôn vang lên—theo cấp độ rung động của chúng ta. Nốt luôn vang lên ấy là tình trạng hiện tại của chúng ta.
17. As the text is difficult to read and assimilate, a discussion arose on how shall we proceed in class, and what our methods might be? Several options were offered.
17. Vì văn bản khó đọc và khó lĩnh hội, một cuộc thảo luận đã nảy sinh về việc chúng ta nên tiến hành trong lớp như thế nào, và các phương pháp của chúng ta có thể là gì. Một số lựa chọn đã được đưa ra.
a. Read straight through and keep going.
a. Đọc thẳng từ đầu đến cuối và tiếp tục đi tới.
b. Read and elaborate but do not explore the elaborations.
b. Đọc và khai triển nhưng không khảo sát các phần khai triển.
c. Read and elaborate and explore the elaboration within a limited time frame
c. Đọc, khai triển và khảo sát phần khai triển trong một khung thời gian giới hạn
d. Elaborate and follow the elaboration with unbounded enthusiasm.
d. Khai triển và theo đuổi phần khai triển với nhiệt tâm vô hạn.
Second, as active heat or prana; this animates all, and is the driving force of the evolving form. [This must connect with the Rising Sign] It shows itself in the four ethers and in the gaseous state, and a correspondence is here found on the physical plane in connection with man to the Akasha and its fivefold manifestation on the plane of the solar system.
Thứ hai, như nhiệt hoạt động hay prana; điều này làm sinh động mọi sự, và là động lực của hình tướng đang tiến hoá. [Điều này hẳn phải liên hệ với Dấu Hiệu Mọc] Nó biểu lộ trong bốn dĩ thái và trạng thái khí, và ở đây tìm thấy một sự tương ứng trên cõi hồng trần liên hệ với con người đối với Akasha và sự biểu hiện ngũ phân của nó trên cõi của hệ mặt trời.
18. We are speaking only of the first five subplanes of any seven-subplane system. The gaseous subplane (whether cosmic gaseous {i.e., the mental} or systemic gaseous {i.e., literally, the gaseous} is listed as the fifth for it somehow conveys etheric energy to the densest two subplanes {i.e., liquid and earthily dense}).
18. Chúng ta chỉ đang nói về năm cõi phụ đầu tiên của bất kỳ hệ thống bảy cõi phụ nào. Cõi phụ khí (dù là khí vũ trụ {tức cõi trí} hay khí hệ thống {tức theo nghĩa đen, thể khí}) được liệt kê là thứ năm vì bằng cách nào đó nó chuyển tải năng lượng dĩ thái đến hai cõi phụ đậm đặc nhất {tức lỏng và đậm đặc thuộc đất}.
19. How is the term Akasha being used here?
19. Thuật ngữ Akasha đang được dùng ở đây như thế nào?
a. In a more generic sense as representing the first cosmic etheric plane and the four subplanes below it (including the cosmic gaseous) or
a. Theo một nghĩa tổng quát hơn, như biểu thị cõi dĩ thái vũ trụ thứ nhất và bốn cõi phụ bên dưới nó (bao gồm cả cõi khí vũ trụ), hay
b. as the substance-energy of the monadic plane, manifesting through the five lower systemic planes beginning with the atmic (“Aetheric”) plane immediately ‘lower’ than the Akasha?
b. như chất liệu-năng lượng của cõi chân thần, biểu hiện qua năm cõi hệ thống thấp hơn bắt đầu với cõi atma (“Dĩ thái”) ngay “thấp” hơn Akasha?
20. In order to preserve the correspondence, the first of the options would have to be chosen. We have seen earlier that the use of the term “Akasha” is not always localized to the second subplane, yet it often is.
20. Để bảo toàn sự tương ứng, lựa chọn thứ nhất sẽ phải được chọn. Chúng ta đã thấy trước đây rằng việc dùng thuật ngữ “Akasha” không phải lúc nào cũng được khu biệt vào cõi phụ thứ hai, dù thường là như vậy.
21. Just for a balancing point of view (and even though the correspondence would not work out numerically) this paragraph could be seen as confirming the association of the Akasha with the monadic plane, for Akasha has a fivefold expression (including the atmic and four lower planes).
21. Chỉ để có một quan điểm cân bằng (và dù sự tương ứng sẽ không khớp về mặt số học), đoạn này có thể được xem như xác nhận sự liên kết của Akasha với cõi chân thần, vì Akasha có một biểu hiện ngũ phân (bao gồm cõi atma và bốn cõi thấp hơn).
22. When Akasha is used in relation to the second subplane, one can see that the second subplane substance-energy could be conceived as ‘animatory’ since, through the number two, it would correspond to the soul, the animator.
22. Khi Akasha được dùng liên hệ với cõi phụ thứ hai, người ta có thể thấy rằng chất liệu-năng lượng của cõi phụ thứ hai có thể được quan niệm là ‘tiếp sinh lực’ vì, thông qua con số hai, nó sẽ tương ứng với linh hồn, đấng tiếp sinh lực.
23. To be animated is to be stimulated by soul.
23. Được phú linh là được linh hồn kích thích.
24. Soul is reflected in the ether and the etheric body is like the soul in that it is an animator.
24. Linh hồn được phản chiếu trong dĩ thái và thể dĩ thái giống như linh hồn ở chỗ nó là một tác nhân phú linh.
25. soul/personality = etheric body/dense physical {liquid, earthily dense}
25. linh hồn/phàm ngã = thể dĩ thái/thể xác đậm đặc {lỏng, đậm đặc thuộc đất}
26. The gaseous subplane, though technically part of the dense physical of the Logos or man, acts as a kind of mediator between the two.
26. Cõi phụ khí, tuy về mặt kỹ thuật là một phần của thể xác đậm đặc của Thượng đế hay của con người, lại hoạt động như một loại trung gian giữa hai phần ấy.
27. Points Emerging in Group Discussion:
27. Những điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:
a. Another extended analogy or ratio suggested itself. Rising Sign/Sun Sign = Active Heat/Latent Heat = Etheric Body/ Dense Physical = Soul/Personality = Uranus/Saturn = Sun/Moon = Life/Death = Solar Angels/Human Soul = Evolution/Involution.
a. Một phép loại suy hay tỷ lệ mở rộng khác đã tự gợi ra. Dấu hiệu mọc/Dấu hiệu Mặt Trời = Nhiệt hoạt động/Nhiệt tiềm ẩn = Thể dĩ thái/ Thể xác đậm đặc = Linh hồn/Phàm ngã = Sao Thiên Vương/Sao Thổ = Mặt Trời/Mặt Trăng = Sự sống/Cái chết = Thái dương Thiên Thần/Linh hồn con người = Thăng thượng tiến hoá/Giáng hạ tiến hoá.
b. A five-pointed star can be interpreted as symbolizing the four ethers and the gaseous subplane. This star could be considered inverted, thus revealing the manner in which vitality reaches the denser levels—via the gaseous subplane.
b. Một ngôi sao năm cánh có thể được diễn giải như tượng trưng cho bốn dĩ thái và cõi phụ khí. Ngôi sao này có thể được xem là đảo ngược, nhờ đó cho thấy cách sinh lực đạt tới các cấp độ đậm đặc hơn—qua cõi phụ khí.
c. If the gaseous is below the ether how do you make an equivalence?
c. Nếu khí ở dưới dĩ thái thì làm sao các bạn tạo ra một sự tương đương?
d. We may think of the gaseous subplane as the pivot point between the really dense physical nature (liquid and earthily dense) and the four ethers/
d. Chúng ta có thể nghĩ về cõi phụ khí như điểm trục giữa bản chất hồng trần thật sự đậm đặc (lỏng và đậm đặc thuộc đất) và bốn dĩ thái/
e. The gaseous subplane allows the vitalization of the lower two subplanes. The mental plane (which is the gaseous systemic plane) thus facilitates the vitalization of the astral and physical planes
e. Cõi phụ khí cho phép tiếp sinh lực cho hai cõi phụ thấp hơn. Vì vậy, cõi trí (là cõi khí của hệ thống) tạo điều kiện cho việc tiếp sinh lực cho cõi cảm dục và cõi hồng trần
f. Because life begins on etheric levels, one is only ‘half alive’ when you can think (but only think).
f. Bởi vì sự sống bắt đầu trên các cấp độ dĩ thái, người ta chỉ ‘sống một nửa’ khi các bạn có thể suy nghĩ (nhưng chỉ suy nghĩ).
g. Manas, in general, is a soul function, which connects two extremes.
g. Manas, nói chung, là một chức năng của linh hồn, nối kết hai cực đoan.
h. Man does not live “by bread alone”. For our vitality we are moving from bread to breath
h. Con người không sống “chỉ nhờ bánh mì”. Đối với sinh lực của chúng ta, chúng ta đang chuyển từ bánh mì sang hơi thở
28. The following tabulations should offer some clarification of the structure of the subplanes.
28. Những bảng liệt kê sau đây sẽ giúp làm sáng tỏ phần nào cấu trúc của các cõi phụ.
Physical.....
Hồng trần.....
1. Hearing 5th gaseous
1. Thính giác 5th khí
2. Touch, feeling 4th first etheric
2. Xúc chạm, cảm giác 4th dĩ thái thứ nhất
3. Sight 3rd super-etheric
3. Thị giác 3rd siêu dĩ thái
4. Taste 2nd sub-atomic
4. Vị giác 2nd hạ nguyên tử
5. Smell 1st atomic
5. Khứu giác 1st nguyên tử
Astral.....
Cảm dục.....
1. Clairaudience 5th
1. Thông nhĩ 5th
2. Psychometry 4th
2. Thuật trắc tâm 4th
3. Clairvoyance 3rd
3. Thông nhãn 3rd
4. Imagination 2nd
4. Sự tưởng tượng 2nd
5. Emotional idealism 1st (TCF 188)
5. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc 1st (TCF 188)
29. In relation to the first five subplanes, notice the implied division between five and two. On the astral plane, the lower two subplanes (the 6th and 7th) are off-limits.
29. Liên quan đến năm cõi phụ đầu tiên, hãy lưu ý sự phân chia hàm ý giữa năm và hai. Trên cõi cảm dục, hai cõi phụ thấp hơn (cõi thứ 6th và 7th) là những vùng cấm.
30. Because active heat animates, it is related to the animating factor (the soul).
30. Bởi vì nhiệt hoạt động phú linh, nên nó có liên hệ với yếu tố phú linh (linh hồn).
31. Again, active heat is seen as a “driving force” in relation to the form. This relates active heat to the energy of “progress onward” and “driving forward through space”.
31. Một lần nữa, nhiệt hoạt động được xem như một “mãnh lực thúc đẩy” liên hệ với hình tướng. Điều này liên hệ nhiệt hoạt động với năng lượng của “tiến lên phía trước” và “thúc đẩy tiến về phía trước xuyên qua không gian”.
32. When studying esoteric astrology, we learn of the “driving energies” of the Rising-sign, related to the soul. Following the analogy, the driving energies of the Rising-sign will have a relation to the etheric body as well.
32. Khi nghiên cứu Chiêm Tinh Học Nội Môn, chúng ta học về các “năng lượng thúc đẩy” của dấu hiệu mọc, liên hệ với linh hồn. Theo phép loại suy, các năng lượng thúc đẩy của dấu hiệu mọc cũng sẽ có liên hệ với thể dĩ thái.
33. Active heat, in this definition, is correlated to the number five, for it includes the energy of the four ethers and their immediate vehicle of expression—the gaseous state.
33. Trong định nghĩa này, nhiệt hoạt động được tương quan với con số năm, vì nó bao gồm năng lượng của bốn dĩ thái và vận cụ biểu hiện trực tiếp của chúng—trạng thái khí.
34. Akasha is related to sound. The second ray expressed through the “Word” and Vishnu is the Divine Singer.
34. Akasha có liên hệ với âm thanh. cung hai được biểu lộ qua “Linh từ” và Vishnu là Đấng Ca Hát thiêng liêng.
This fire is the basic vibration [the fundamental, a pedal tone] of the little system in which the monad or human spirit is the logos, and it [Page 46] holds the personality or lower material man in objective manifestation thus permitting the spiritual unit to contact the plane of densest matter. [It seems that ether holds the lower material man in objective manifestation, or is it both types of fire—latent and active?] It has its correspondence in the ray of intelligent activity and is controlled by the Law of Economy in one of its subdivisions, the Law of Adaptation in Time.
Lửa này là rung động căn bản {nền tảng, một âm nền kéo dài] của tiểu hệ thống trong đó chân thần hay tinh thần con người là thượng đế, và nó [Page 46] giữ phàm ngã hay con người vật chất thấp trong biểu hiện khách quan, nhờ đó cho phép đơn vị tinh thần tiếp xúc với cõi vật chất đậm đặc nhất. [Dường như dĩ thái giữ con người vật chất thấp trong biểu hiện khách quan, hay là cả hai loại lửa—tiềm ẩn và hoạt động?] Nó có sự tương ứng trong cung của hoạt động thông tuệ và được kiểm soát bởi Định luật Tiết Kiệm trong một trong các phân bộ của nó, Định luật Thích Ứng trong Thời Gian.
35. When DK says “this fire is the basic vibration…” is He talking about “Internal Vitalising Fire” (i.e., interior fire) or about active heat or prana?
35. Khi Chân sư DK nói “lửa này là rung động căn bản…” thì Ngài đang nói về “Lửa Tiếp Sinh Lực Nội Tại” (tức là lửa bên trong) hay về nhiệt hoạt động hoặc prana?
36. If He means active heat/radiatory fire, then we have to ponder what it means for this type of heat/fire to represent the “basic vibration of the little system”. It would mean that “latent heat” is not the basic vibration, yet, somehow it seems that it should be (having ‘come over’ from the first solar system and being, therefore, basic).
36. Nếu Ngài muốn nói đến nhiệt hoạt động/lửa bức xạ, thì chúng ta phải suy ngẫm điều có nghĩa gì khi loại nhiệt/lửa này đại diện cho “rung động căn bản của tiểu hệ thống”. Điều đó có nghĩa là “nhiệt tiềm ẩn” không phải là rung động căn bản, tuy vậy, bằng cách nào đó dường như nó phải là như thế (vì đã ‘đi qua’ từ hệ mặt trời thứ nhất và do đó là căn bản).
37. From another perspective, however, it would make sense that “this fire” means “active heat” as it is active heat which permits the spiritual unit to contact “the plane of densest matter” (in which is found “latent fire”.
37. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, sẽ hợp lý nếu “lửa này” có nghĩa là “nhiệt hoạt động”, vì chính nhiệt hoạt động cho phép đơn vị tinh thần tiếp xúc với “cõi vật chất đậm đặc nhất” (nơi tìm thấy “lửa tiềm ẩn”.
38. “Internal Vitalising Fire” as a whole has a correspondence to the ray of intelligent activity. It would also be reasonable to consider the entirety of “Internal Vitalising Fire” as the “basic vibration” of man’s little system.
38. “Lửa Tiếp Sinh Lực Nội Tại” như một toàn thể có sự tương ứng với cung của hoạt động thông tuệ. Cũng sẽ hợp lý nếu xem toàn bộ “Lửa Tiếp Sinh Lực Nội Tại” là “rung động căn bản” của tiểu hệ thống của con người.
39. Points Emerging in Group Discussion:
39. Những điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:
a. What is a logos? A divine entity.
a. logos là gì? Một thực thể thiêng liêng.
b. What characterizes it? Synthesis
b. Điều gì đặc trưng cho nó? Tổng hợp
c. When searching for the meaning of “logos”, what thoughts come to us?
c. Khi tìm kiếm ý nghĩa của “logos”, những ý nghĩ nào đến với chúng ta?
i. A focal point
i. Một điểm hội tụ
ii. A “speech, word, reason”.
ii. Một “lời nói, linh từ, lý trí”.
d. The term “logic” is related to “logos”. What can we learn about the nature of “logos” from contemplating “logic”?
d. Thuật ngữ “logic” có liên hệ với “logos”. Chúng ta có thể học được gì về bản chất của “logos” khi chiêm ngưỡng “logic”?
i. Mental coherency
i. Tính gắn kết trí tuệ
ii. Order,
ii. Trật tự,
iii. Consistency
iii. Tính nhất quán
iv. That which “makes sense”
iv. Điều “có ý nghĩa”
v. That which is demonstrable and provable.
v. Điều có thể được chứng minh và kiểm chứng.
e. The concept of “logos” is relate to ideation, to the conception of patterns. The patterns conceived must be reasonable, logical and beautiful
e. Khái niệm “logos” có liên hệ với sự hình thành ý tưởng, với việc quan niệm các mô hình. Các mô hình được quan niệm phải hợp lý, logic và đẹp đẽ
f. From this perspective, an Archetype is a ‘reasonable Word’.
f. Từ góc nhìn này, một nguyên mẫu là một ‘Linh từ hợp lý’.
g. The Creator, creates through a Word which the Creator both speaks and is.
g. Đấng Sáng Tạo sáng tạo qua một Linh từ mà Đấng Sáng Tạo vừa xướng ra vừa là.
h. Vishnu is associated with the systemic plane of archetypal pure reason (a reason more pure than that found upon the buddhic plane).
h. Vishnu được liên kết với cõi hệ thống của lý trí thuần khiết nguyên mẫu (một lý trí thuần khiết hơn lý trí được tìm thấy trên cõi Bồ đề).
i. Vishnu, Pure Reason, Sound, Akasha and Logos must be interrelated.
i. Vishnu, Lý Trí Thuần Khiết, Âm thanh, Akasha và Logos hẳn phải có liên hệ tương hỗ.
j. The Universal Logos creates Cosmos. More truly, the Universal Logos becomes Cosmos.
j. Thượng đế Vũ Trụ sáng tạo Vũ trụ. Nói đúng hơn, Thượng đế Vũ Trụ trở thành Vũ trụ.
k. We discover logos within us when pure reason is achieved. We have to intuit the Logos. Through intuition we realize ourselves as logoi
k. Chúng ta khám phá logos bên trong mình khi lý trí thuần khiết được đạt tới. Chúng ta phải trực giác Logos. Qua trực giác, chúng ta nhận ra chính mình là các thượng đế
l. “No man commeth to the Father except through me.” In this case the “me” is the Christ Principle (pure reason). Another way of saying this is that no man commeth unto the Father except through the intuition (Christ Principle, pure reason). It is the intuition that apprehends the Father.
l. “Không ai đến được với Cha ngoại trừ qua ta.” Trong trường hợp này, “ta” là Nguyên Khí Christ (lý trí thuần khiết). Một cách khác để nói điều này là không ai đến được với Cha ngoại trừ qua trực giác (Nguyên Khí Christ, lý trí thuần khiết). Chính trực giác lĩnh hội Cha.
m. The basic vibration of our little system is what note? FA
m. Rung động căn bản của tiểu hệ thống chúng ta là nốt nào? FA
n. Lower notes are created by higher notes, just as higher notes arise from lower notes as partials or harmonics. The highest tones in cosmos precipitate as lower tones. This is a sonic mystery.
n. Các nốt thấp được tạo ra bởi các nốt cao, cũng như các nốt cao phát sinh từ các nốt thấp như các âm bồi hay hoà âm. Những âm cao nhất trong vũ trụ ngưng tụ thành các âm thấp hơn. Đây là một huyền nhiệm âm thanh.
o. It might be said that through the process of emanation, the highest tones become tones which are progressively lower in their frequency. Tone of low frequency are experienced as ‘low notes’
o. Có thể nói rằng qua tiến trình xuất lộ/phát xạ, các âm cao nhất trở thành những âm ngày càng thấp hơn về tần số. Những âm có tần số thấp được cảm nhận như ‘các nốt thấp’
p. The term “spiritual unit” (as presented in the section above) can be interpreted as the monad.
p. Thuật ngữ “đơn vị tinh thần” (như được trình bày trong phần trên) có thể được diễn giải là chân thần.
q. What Fire and what Ray rule the “Far Country”—the plane of densest matter? The Primordial Ray and the lowest fire—Fire-by-Friction.
q. Lửa nào và cung nào cai quản “Xứ Xa”—cõi vật chất đậm đặc nhất? Cung Nguyên Sơ và ngọn lửa thấp nhất—Lửa ma sát.
40. Can the Law of Adaptation in Time be considered the third subdivision of the third law?
40. Định luật Thích Ứng trong Thời Gian có thể được xem là phân bộ thứ ba của định luật thứ ba không?
Other Laws subsidiary to the Law of Economy
Các định luật khác phụ thuộc vào Định luật Tiết Kiệm
“1. The Law of Vibration, dealing with the key note or measure of the matter of each plane. By knowledge of this law the material of any plane in its seven divisions can be controlled.
“1. Định luật Rung Động, xử lý chủ âm hay nhịp độ của vật chất của mỗi cõi. Nhờ hiểu biết định luật này, chất liệu của bất kỳ cõi nào trong bảy phân bộ của nó đều có thể được kiểm soát.
2. The Law of Adaptation, is the law governing the rotary movement of any atom on every plane and subplane.
2. Định luật Thích Ứng là định luật chi phối chuyển động quay của bất kỳ nguyên tử nào trên mọi cõi và cõi phụ.
3. The Law of Repulsion, governs that relationship between atoms, which results in their non-attachment and in their complete freedom from each other; it also keeps them rotating at fixed points from the globe or sphere of opposite polarity.
3. Định luật Đẩy Lùi chi phối mối liên hệ giữa các nguyên tử, đưa đến sự không bám dính của chúng và sự hoàn toàn tự do của chúng đối với nhau; nó cũng giữ cho chúng quay tại những điểm cố định tính từ bầu hành tinh hay khối cầu có cực tính đối nghịch.
4. The Law of Friction, governs the heat aspect of any atom, the radiation of an atom, and the effect of that radiation on any other atom.” (TCF 219)
4. Định luật Ma Sát chi phối phương diện nhiệt của bất kỳ nguyên tử nào, sự bức xạ của một nguyên tử, và tác động của sự bức xạ ấy lên bất kỳ nguyên tử nào khác.” (TCF 219)
Qualities of Rotary Motion:
Các phẩm tính của Chuyển Động Quay:
1. Separation, or the repulsive effect,
1. Sự tách biệt, hay hiệu ứng đẩy lùi,
2. Momentor the interior effect,
2. Động lượng hay hiệu ứng nội tại,
3. Frictional, environal effect,
3. Hiệu ứng ma sát, bao quanh,
4. Absorption, the receptive or attractive effect, (TCF 157)
4. Sự hấp thụ, hiệu ứng tiếp nhận hay thu hút, (TCF 157)
41. According to the interpretation which sees “active heat” as “this fire”, we could say that active heat arranges the contact of the human spirit with densest matter (earthly, liquid and gaeous), but is not the fire of densest matter itself.
41. Theo cách diễn giải xem “nhiệt hoạt động” là “lửa này”, chúng ta có thể nói rằng nhiệt hoạt động sắp xếp sự tiếp xúc của tinh thần con người với vật chất đậm đặc nhất (thuộc đất, lỏng và khí), nhưng bản thân nó không phải là lửa của vật chất đậm đặc nhất.
42. Note this subdivision of the Law of Economy—“the Law of Adaptation in Time”.
42. Hãy lưu ý phân bộ này của Định luật Tiết Kiệm—“Định luật Thích Ứng trong Thời Gian”.
a. Suitable change at the “goal-fit” moment
a. Sự thay đổi thích hợp vào đúng thời điểm “phù hợp với mục tiêu”
b. “To do the right thing at the right time”
b. “Làm điều đúng vào đúng lúc”
c. If the adaptation is too slow or too fast, there is friction and ill-fittingness.
c. Nếu sự thích ứng quá chậm hoặc quá nhanh, sẽ có ma sát và sự không phù hợp.
2. There is next the Fire or Spark of Mind which is the correspondence in man to solar fire. This constitutes the thinking self-conscious unit or the soul. This fire of mind is governed by the Law of Attraction as is its greater correspondence. Later we can enlarge on this. It is this spark of mind in man, manifesting as spiral cyclic activity [cyclic impulsions of a heightening frequency], which leads to expansion and to his eventual return to the centre of his system, the Monad—the origin and goal for the reincarnating Jiva [Divine Pilgrim] or human being. As in the macrocosm this fire also manifests in a twofold manner.
2. Tiếp theo là Lửa hay Tia Lửa của Trí Tuệ là sự tương ứng trong con người với Lửa Thái dương. Điều này cấu thành đơn vị ngã thức biết suy nghĩ hay linh hồn. Lửa của trí tuệ này được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn cũng như sự tương ứng lớn hơn của nó. Sau này chúng ta có thể khai triển thêm về điều này. Chính tia lửa trí tuệ này trong con người, biểu lộ như hoạt động chu kỳ xoắn ốc [những xung lực chu kỳ với tần số tăng dần], dẫn đến sự mở rộng và đến sự trở về cuối cùng của y với trung tâm của hệ thống mình, chân thần—nguồn gốc và mục tiêu của Jiva tái sinh [Lữ Khách Thiêng Liêng] hay con người. Cũng như trong đại thiên địa, lửa này cũng biểu lộ theo cách nhị phân.
43. Note the equivalence between “Fire of Mind” and “Spark of Mind”.
43. Hãy lưu ý sự tương đương giữa “Lửa của Trí Tuệ” và “Tia Lửa của Trí Tuệ”.
44. Remember the idea that the “spark of mind” is the presence of the Solar Angel in man, and the Solar Angel, we remember, is an agent of the “Fire of Mind” originating on the cosmic mental plane.
44. Hãy nhớ ý tưởng rằng “tia lửa của trí tuệ” là sự hiện diện của Thái dương Thiên Thần trong con người, và như chúng ta nhớ, Thái dương Thiên Thần là một tác nhân của “Lửa của Trí Tuệ” phát nguyên trên cõi trí vũ trụ.
45. Like the Divine Ray, the “fire of mind” is governed by the Law of Attraction.
45. Giống như Cung Thiêng Liêng, “lửa của trí tuệ” được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn.
46. We should consider that the “spark of mind” relates to the higher mental plane and the soul and not to the energies of the concrete mind expressing on the lower four subplanes of the mental plane.
46. Chúng ta nên xem rằng “tia lửa của trí tuệ” liên hệ với cõi thượng trí và linh hồn chứ không liên hệ với các năng lượng của trí cụ thể biểu lộ trên bốn cõi phụ thấp của cõi trí.
47. There are cycles of soul impulses, which may be related to the spiral cyclic activity of the spark of mind. The Solar Angel (via the “spark of mind”) influences its “shadow man” rhythmically.
47. Có những chu kỳ xung lực của linh hồn, có thể liên hệ với hoạt động chu kỳ xoắn ốc của tia lửa trí tuệ. Thái dương Thiên Thần (qua “tia lửa của trí tuệ”) ảnh hưởng đến “con người bóng” của nó một cách nhịp điệu.
48. Reincarnation is a major influence of the “spark of mind in man”, and the Solar Angel induces incarnation.
48. Tái sinh là một ảnh hưởng lớn của “tia lửa trí tuệ trong con người”, và Thái dương Thiên Thần gây ra sự nhập thể.
49. What are the times of the cyclic impulses of the soul? On a daily basis? A monthly basis or bi-weekly basis, coordinating with the full moon and new moon? On a yearly basis?
49. Thời điểm của các xung lực chu kỳ của linh hồn là gì? Theo hằng ngày? Theo hằng tháng hay hai tuần một lần, phối hợp với trăng tròn và trăng non? Theo hằng năm?
50. To study the subject of white magic, one must research the soul’s meditation and the impulses it sends to its “shadow man” through that meditation.
50. Để nghiên cứu chủ đề chánh thuật, người ta phải khảo cứu sự tham thiền của linh hồn và các xung lực mà nó gửi đến “con người bóng” của nó qua sự tham thiền ấy.
51. The “reincarnating Jiva” is that part of the monad which descends into lower matter. The Jiva is really the “pilgrim” going forth into a “foreign country” (to use the terminology of the story of the “Prodigal Son”.
51. “Jiva tái sinh” là phần của chân thần đi xuống vào vật chất thấp. Jiva thật sự là “lữ khách” đi ra vào một “xứ lạ” (dùng thuật ngữ của câu chuyện “Người Con Hoang Đàng”.
52. Points Emerging in Group Discussion:
52. Những điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:
a. With the addition of the Solar Angel in our thought process, the quality of the process changes dramatically.
a. Với việc thêm Thái dương Thiên Thần vào tiến trình tư tưởng của chúng ta, phẩm tính của tiến trình thay đổi một cách mạnh mẽ.
b. This dual thinking process is called Contemplation—in it we slip into the thought process of the Solar Angel (at least to some extent). Meditation occurs under the influence of Virgo (and it can be done as a strictly human thinker or in the light of the soul). But such meditation not yet a dual thinking process until Libra (harmonizing dualities) becomes influential.
b. Tiến trình tư duy kép này được gọi là Chiêm ngưỡng—trong đó chúng ta trượt vào tiến trình tư tưởng của Thái dương Thiên Thần (ít nhất ở một mức độ nào đó). Tham thiền diễn ra dưới ảnh hưởng của Virgo (và có thể được thực hiện như một người suy tư thuần nhân loại hoặc trong ánh sáng của linh hồn). Nhưng sự tham thiền như thế chưa phải là một tiến trình tư duy kép cho đến khi Libra (hài hoà các nhị nguyên tính) trở nên có ảnh hưởng.
c. Libra ruled contemplation. In contemplation, our thinking becomes, to a great measure, the Solar Angel’s thinking. I am being thought.
c. Libra cai quản sự chiêm ngưỡng. Trong chiêm ngưỡng, tư duy của chúng ta trở thành, ở mức độ lớn, tư duy của Thái dương Thiên Thần. Tôi đang được suy nghĩ.
d. This reminds one of the dynamics of the Tao. In contemplation it can be said that “I am as much being thought as thinking.”
d. Điều này khiến người ta nhớ đến động lực học của Đạo. Trong chiêm ngưỡng, có thể nói rằng “Tôi vừa đang được suy nghĩ cũng vừa đang suy nghĩ.”
e. Participating in the meditation of the soul is full contemplation.
e. Tham dự vào sự tham thiền của linh hồn là sự chiêm ngưỡng trọn vẹn.
f. ‘Scorpio happens’! The highest ruler of Scorpio is Mercury, which in Scorpio eventually functions as the intuition bringing illumination. Then, the Solar Angel has dominated the human thought process. There eventuates victory, and the end (through intuition) of Mercurial illusions.
f. ‘Hổ Cáp xảy ra’! chủ tinh cao nhất của Hổ Cáp là Sao Thủy, và trong Hổ Cáp cuối cùng nó hoạt động như trực giác mang lại soi sáng. Khi ấy, Thái dương Thiên Thần đã thống trị tiến trình tư tưởng của con người. Khi đó xảy ra chiến thắng, và sự chấm dứt (qua trực giác) của các ảo tưởng thuộc Sao Thủy.
g. The spark of mind forces spiral cyclic motion.
g. Tia lửa trí tuệ cưỡng bách chuyển động chu kỳ xoắn ốc.
h. Because the spark of mind is within us, and because it emanates from the cosmic mental plane, we all have a touch of the cosmic mental within our nature.
h. Bởi vì tia lửa trí tuệ ở trong chúng ta, và bởi vì nó phát xạ từ cõi trí vũ trụ, nên tất cả chúng ta đều có một chút cõi trí vũ trụ trong bản chất mình.
i. Solar Angel invests itself in animal man of the Earth-chain (and in transplanted lunar man from the Moon-chain).
i. Thái dương Thiên Thần đầu tư chính nó vào người thú của Dãy Địa Cầu (và vào con người thái âm được cấy chuyển từ Dãy Mặt Trăng).
j. The spark of mind is as much of itself as the Solar Angel can ‘put down’ into the soil of primitive man to accelerate the growth of man’s form without destroying it.
j. Tia lửa trí tuệ là chừng ấy của chính nó mà Thái dương Thiên Thần có thể ‘đặt xuống’ vào mảnh đất của con người nguyên thủy để gia tốc sự tăng trưởng của hình tướng con người mà không hủy diệt nó.
k. We may consider death as too strong a touch from the soul. Interestingly, the magnetic planet Jupiter is involved in death.
k. Chúng ta có thể xem cái chết như một sự chạm quá mạnh từ linh hồn. Điều thú vị là hành tinh từ tính Sao Mộc có liên quan đến cái chết.
l. From this perspective, the Akasha, Sound and the Note of Death, and Vishnu the Singer should be investigated for relations)
l. Từ góc nhìn này, Akasha, Âm thanh và Nốt của Cái chết, cùng Vishnu Đấng Ca Hát nên được khảo cứu về các mối liên hệ)
m. Death is both a magnetic event and a “Great Adventure” The Tibetan speaks of the “eternally, lovely secret of death”. (relating it, thus, to the second ray
m. Cái chết vừa là một biến cố từ tính vừa là một “Cuộc Phiêu Lưu Vĩ Đại”. Chân sư Tây Tạng nói về “bí mật muôn đời đáng yêu của cái chết”. (do đó liên hệ nó với cung hai
n. Death is related to the breath of the soul, and thus to the Law of Periodicity and to the second aspect of divinity (not only the first)
n. Cái chết có liên hệ với hơi thở của linh hồn, và do đó với Định luật Chu Kỳ và với phương diện thứ hai của thiên tính (không chỉ phương diện thứ nhất)
o. Could our incarnational life be considered the rhythm of the breathing of the Solar Angel?
o. Có thể xem đời sống nhập thể của chúng ta là nhịp điệu hơi thở của Thái dương Thiên Thần không?
p. Through the Solar Angel, the egoic lotus has been created. The touch from the cosmic mental plane emanate from the Egoic Lotus of the Solar Logos (located on the first subplane of the cosmic mental plane). Man and the Sun.
p. Qua Thái dương Thiên Thần, Hoa Sen Chân Ngã đã được tạo ra. Sự chạm từ cõi trí vũ trụ phát xạ từ Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế (tọa lạc trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí vũ trụ). Con người và Mặt Trời.
q. The breathing pattern is universal. You find it in all kingdoms—for instance, the vegetable kingdom. Perhaps even minerals ‘breathe’.
q. Mô hình hô hấp là phổ quát. Bạn tìm thấy nó trong mọi giới—thí dụ, giới thực vật. Có lẽ ngay cả khoáng vật cũng ‘thở’.
r. Breath is essentially an exchange of energies¸ or substances and is essentially ruled by Mercury.
r. Hơi thở về bản chất là một sự trao đổi năng lượng hay chất liệu và về căn bản được cai quản bởi Sao Thủy.
s. One must study Gemini, Mercury, and the Breath.
s. Người ta phải nghiên cứu Gemini, Sao Thủy, và Hơi Thở.
t. The utilization of the antahkarana is also a type of ‘breathing’. The ‘breathing antahkarana’ is related to Mercury, Gemini and Aquarius.
t. Việc sử dụng antahkarana cũng là một loại ‘hô hấp’. ‘Antahkarana hô hấp’ có liên hệ với Sao Thủy, Gemini và Aquarius.
u. Can we consider that the “spark of mind ours”? It was suggested that it is, as if, ours ‘bestowed from the future’. The mental ability equivalent to the spark of mind is inherently ours, because we are monads.
u. Chúng ta có thể xem “tia lửa của trí tuệ là của chúng ta” không? Có ý kiến cho rằng đúng như vậy, như thể nó là của chúng ta nhưng được ‘ban xuống từ tương lai’. Năng lực trí tuệ tương đương với tia lửa trí tuệ vốn dĩ là của chúng ta, bởi vì chúng ta là các chân thần.
v. The spark of mind is as a ‘solar entity’ anchored within our fields. It is, very plainly, the Solar Logos within us.
v. Tia lửa trí tuệ như một ‘thực thể thái dương’ được neo trong các trường của chúng ta. Nói rất rõ ràng, đó là Thái dương Thượng đế ở bên trong chúng ta.
w. The mental unit is lunar and relates to the number four. The mental unit is not the spark of mind.
w. Đơn vị hạ trí là thái âm và liên hệ với số bốn. Đơn vị hạ trí không phải là tia lửa trí tuệ.
x. The mental unit is an evocation of instinct. Its placement suggests that it is evidence of the arrested development of the mental process. On the Moon-chain it was a steadily rising center of mentality seeking to approximate the manasic permanent atom. If the Moon-chain had not been interrupted in its development, that approximation might have occurred.
x. Đơn vị hạ trí là một sự gợi lên của bản năng. Vị trí của nó gợi ý rằng nó là bằng chứng của sự phát triển bị đình trệ của tiến trình trí tuệ. Trên Dãy Mặt Trăng, nó là một trung tâm trí tuệ tăng trưởng đều đặn, tìm cách xấp xỉ nguyên tử trường tồn manas. Nếu Dãy Mặt Trăng không bị gián đoạn trong sự phát triển của nó, sự xấp xỉ ấy có thể đã xảy ra.
y. In transplanted Moon-chain humanity, the mental unit had definitely reached a considerable degree of development. In Earth humanity, the mental unit was a far more incipient center.
y. Trong nhân loại Dãy Mặt Trăng được cấy chuyển, đơn vị hạ trí chắc chắn đã đạt đến một mức phát triển đáng kể. Trong nhân loại Trái Đất, đơn vị hạ trí là một trung tâm còn phôi thai hơn nhiều.
z. From the Solar Angel via the spark of mind, beneficent cyclic impulses go forth. When the personality receives them expansion of consciousness occurs. Such Solar Angelic impulses are progressively higher than previous ones--over time.
z. Từ Thái dương Thiên Thần qua tia lửa trí tuệ, những xung lực chu kỳ từ hòa được phát ra. Khi phàm ngã tiếp nhận chúng, sự mở rộng tâm thức xảy ra. Những xung lực của Thái dương Thiên Thần như thế dần dần cao hơn những xung lực trước đó--theo thời gian.
aa. It was suggested that one must no always importune the Solar Angel. It needs time to attend to its own affairs.
aa. Có ý kiến cho rằng người ta không nên luôn luôn nài ép Thái dương Thiên Thần. Nó cần thời gian để lo công việc riêng của nó.
It shows as that intelligent will which links the Monad or spirit with its lowest point of contact, the personality, functioning through a physical vehicle.
Nó biểu lộ như ý chí thông tuệ nối kết chân thần hay tinh thần với điểm tiếp xúc thấp nhất của nó, phàm ngã, hoạt động qua một vận cụ hồng trần.
53. The “spark of mind” is a bridging fire.
53. “Tia lửa trí tuệ” là một ngọn lửa bắt cầu.
54. Here the “lowest point of contact” is considered the personality (as a whole). The etheric fire/radiatory fire permitted the spiritual man to link to “the plane of densest matter”. The “spark of mind” permits the spirit to link to the “lowest point of contact”. Interestingly, however, the personality is directly related to “physical vehicle” just as the soul is to the astral, and the monad to the mental.
54. Ở đây “điểm tiếp xúc thấp nhất” được xem là phàm ngã (như một toàn thể). Lửa dĩ thái/lửa bức xạ cho phép con người tinh thần nối kết với “cõi vật chất đậm đặc nhất”. “Tia lửa trí tuệ” cho phép tinh thần nối kết với “điểm tiếp xúc thấp nhất”. Tuy nhiên, điều thú vị là phàm ngã lại liên hệ trực tiếp với “vận cụ hồng trần” cũng như linh hồn liên hệ với cõi cảm dục, và chân thần liên hệ với cõi trí.
55. Refer to the Macrocosm as follows: “Finally are to be found [Page 39] the fires of the cosmic mental plane, which are the fires of the cosmic ray of will.”
55. Hãy tham chiếu Đại thiên địa như sau: “Sau cùng được tìm thấy [Page 39] các lửa của cõi trí vũ trụ, là các lửa của cung ý chí vũ trụ.”
56. We note that mental fire has its definite will component. The monad, generically, expresses through mind.
56. Chúng ta lưu ý rằng lửa trí tuệ có thành phần ý chí xác định của nó. Chân thần, nói chung, biểu lộ qua trí tuệ.
It likewise demonstrates, as yet imperfectly, as the vitalising factor in the thought forms fabricated by the thinker.
Nó cũng biểu lộ, dù còn bất toàn, như yếu tố tiếp sinh lực trong các hình tư tưởng do thức giả tạo tác.
57. We are speaking here of elemental fire.
57. Ở đây chúng ta đang nói về lửa hành khí.
58. We are speaking of the ‘lower’ division of the fires of mind, remembering that in all “atoms” the fire of mind is twofold.
58. Chúng ta đang nói về phân bộ ‘thấp’ của các lửa của trí tuệ, nhớ rằng trong mọi “nguyên tử”, lửa của trí tuệ là nhị phân.
59. The lower mental fire which involves or expresses through fire elementals which are more lunar than solar.
59. Lửa trí tuệ thấp vốn bao hàm hay biểu lộ qua các hành khí lửa mang tính thái âm nhiều hơn thái dương.
As yet but few thought forms, comparatively, can be said to be constructed by the center of consciousness, the thinker, the Ego.
Cho đến nay, chỉ có tương đối ít hình tư tưởng có thể được nói là được kiến tạo bởi trung tâm tâm thức, thức giả, chân ngã.
60. What transpires below is about the two “thinkers”. There are also three if the spiritual triad is included.
60. Điều diễn ra bên dưới là về hai “thức giả”. Cũng có ba nếu Tam Nguyên Tinh Thần được bao gồm.
61. In the case of DK’s sentence immediately above, the “thinker” is the disciple in touch with, aligned with, identified with his Ego.
61. Trong trường hợp câu của Chân sư DK ngay phía trên, “thức giả” là đệ tử đang tiếp xúc với, chỉnh hợp với, đồng hoá với chân ngã của y.
62. There are two kinds of thinkers. Soul on its own plane is a Thinker. But man in touch with his soul is also a thinker. Both types of thinkers are here discussed.
62. Có hai loại thức giả. Linh hồn trên cõi riêng của nó là một Thức Giả. Nhưng con người tiếp xúc với linh hồn mình cũng là một thức giả. Cả hai loại thức giả đều được bàn đến ở đây.
63. Man the Monad-in-extension (on the plane of the triad or within the causal body) is a thinker. The Solar Angel is a supervisory Thinker (a master and initiate of all degrees) adding its impulses to the thought of man as thinker.
63. Con người là Chân Thần-trong-sự-mở-rộng (trên cõi của Tam nguyên tinh thần hay trong thể nguyên nhân) là một thức giả. Thái dương Thiên Thần là một Thức Giả giám sát (một chân sư và điểm đạo đồ ở mọi cấp độ) thêm các xung lực của nó vào tư tưởng của con người như một thức giả.
64. The Solar Angel does not need to assist the man as thinker, once that man is established within the spiritual triad. This occurs at the fourth degree.
64. Thái dương Thiên Thần không cần trợ giúp con người như một thức giả nữa, một khi con người ấy được thiết lập trong Tam Nguyên Tinh Thần. Điều này xảy ra ở cấp độ thứ tư.
65. Even if the Solar Angel has his highest point on the cosmic astral, at least part of his influence is within the man.
65. Dù Thái dương Thiên Thần có điểm cao nhất của nó trên cõi cảm dục vũ trụ, ít nhất một phần ảnh hưởng của nó ở bên trong con người.
66. The soul or Ego (as the term is often used, when it does not mean the Solar Angel) is human consciousness (within the causal body) plus a fragment of solar angelic consciousness which influence the human consciousness. The solar angel animates and vivifies the causal body. It is responsible for the causal body’s rising from a relative lifelessness to animation. Within the attentive ministrations of the Solar Angel, the causal body would not be indwelt by an “inner spiritual fire”.
66. Linh hồn hay chân ngã (như thuật ngữ này thường được dùng, khi nó không có nghĩa là Thái dương Thiên Thần) là tâm thức con người (trong thể nguyên nhân) cộng với một mảnh vụn của tâm thức thái dương thiên thần, vốn ảnh hưởng đến tâm thức con người. Thái dương Thiên Thần phú linh và làm sinh động thể nguyên nhân. Nó chịu trách nhiệm cho việc thể nguyên nhân từ trạng thái tương đối vô sinh khí vươn lên thành có sinh động. Nếu không có sự chăm nom chú tâm của Thái dương Thiên Thần, thể nguyên nhân sẽ không được một “nội hỏa tinh thần” cư ngụ.
67. All individualized men have causal bodies (not only those who ‘received’ the causal body in Lemuria.)
67. Mọi người đã biệt ngã hóa đều có thể nguyên nhân (không chỉ những người đã ‘nhận’ thể nguyên nhân ở Lemuria.)
68. When the soul is the Thinker (with a capital “T”) it is the Solar Angel who is the Thinker.
68. Khi linh hồn là Thức Giả (với chữ “T” viết hoa) thì chính Thái dương Thiên Thần là Thức Giả.
69. When man thinks as a soul, he is the thinker, working from within his illumined lower mind, or better, from within the causal body (after the third degree), and is strongly influenced by the thought of the Solar Angel.
69. Khi con người suy nghĩ như một linh hồn, y là thức giả, hoạt động từ bên trong hạ trí được soi sáng của mình, hay đúng hơn, từ bên trong thể nguyên nhân (sau cấp độ thứ ba), và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng của Thái dương Thiên Thần.
70. Man as thinker-in-the-causal-body is most related to the third degree.
70. Con người như thức giả-trong-thể-nguyên-nhân liên hệ nhiều nhất với cấp độ thứ ba.
71. When I (man) have achieved the power to think within the causal body, I am growing into the thought of the Solar Angel as Thinker. I am successfully blending my thought with the Solar Angel’s thought.
71. Khi tôi (con người) đã đạt được năng lực suy nghĩ trong thể nguyên nhân, tôi đang lớn dần vào tư tưởng của Thái dương Thiên Thần như Thức Giả. Tôi đang hòa nhập thành công tư tưởng của mình với tư tưởng của Thái dương Thiên Thần.
72. The soul (who is, in the white magical process, Rule I) in meditation deep is the Solar Angel.
72. Linh hồn (vốn là, trong tiến trình chánh thuật, quy luật I) trong tham thiền sâu là Thái dương Thiên Thần.
73. So we are considering
73. Vì vậy, chúng ta đang xét đến
a. The ‘Big Thinker’ the Solar Angel
a. ‘Đại Thức Giả’ là Thái dương Thiên Thần
b. The ‘little thinker’ man still thinking on the plane of concrete mind (and much affected by desire)
b. ‘tiểu thức giả’ là con người vẫn còn suy nghĩ trên cõi trí cụ thể (và chịu ảnh hưởng nhiều bởi dục vọng)
c. And a ‘transitional thinker’: man growing into the capacity to think within the causal body and thus to become identified with the thought generated by the Solar Angel as Thinker..
c. Và một “thức giả chuyển tiếp”: con người đang phát triển vào năng lực suy tư bên trong thể nguyên nhân và nhờ đó trở nên đồng hoá với tư tưởng do Thái dương Thiên Thần tạo ra như là Nhà Tư Tưởng..
74. When the disciple is blending with the Solar Angel’s thought, he is becoming type of thinker superior to what he was when he could only think as a man on the lower mental plane.
74. Khi đệ tử đang dung hợp với tư tưởng của Thái dương Thiên Thần, y đang trở thành một loại thức giả cao hơn điều y vốn là khi y chỉ có thể suy tư như một con người trên cõi hạ trí.
75. The third degree initiate contemplates, the merging with the causal body.
75. Điểm đạo đồ cấp ba chiêm ngưỡng, sự hợp nhất với thể nguyên nhân.
76. The contemplating one slips out of his own meditation into the meditation of the Solar Angel in contemplation. It is the soul as Solar Angel that originally contemplates. The one who is achieving the state of contemplation is merged with thought of his Solar Angel the ‘Greater Contemplator’.
76. Người chiêm ngưỡng trượt ra khỏi sự tham thiền của chính mình để đi vào sự tham thiền của Thái dương Thiên Thần trong trạng thái chiêm ngưỡng. Chính linh hồn như Thái dương Thiên Thần là Đấng nguyên thủy chiêm ngưỡng. Người đang đạt tới trạng thái chiêm ngưỡng được dung hợp với tư tưởng của Thái dương Thiên Thần của mình, “Đấng Chiêm Ngưỡng Vĩ Đại”’.
77. The two successive states (correlating to Virgo and Libra are:
77. Hai trạng thái kế tiếp nhau (tương ứng với Xử Nữ và Thiên Bình) là:
a. thinking within the lower illumined mind (Virgo)
a. suy tư bên trong hạ trí được soi sáng (Xử Nữ)
b. and thinking within the causal body merged with the thought impulses and presence of the Solar Angel. This is called contemplation.
b. và suy tư bên trong thể nguyên nhân, được dung hợp với các xung lực tư tưởng và sự hiện diện của Thái dương Thiên Thần. Điều này được gọi là chiêm ngưỡng.
78. The fire of the spiritual triad is not exactly the same as solar fire (through the ray of the spiritual triad and the ray of the causal body are the same—EP I 168-169).
78. Lửa của Tam Nguyên Tinh Thần không hoàn toàn giống với Lửa Thái dương (mặc dù cung của Tam Nguyên Tinh Thần và cung của thể nguyên nhân là cùng một cung—EP I 168-169).
79. Solar angel stimulates heart and “thinking within the heart”; thinking within the triad stimulates the heart in the head and is still more impersonal.
79. Thái dương Thiên Thần kích thích tim và “suy tư bên trong tim”; suy tư bên trong Tam nguyên tinh thần kích thích tim trong đầu và còn vô ngã hơn nữa.
80. Disciple as thinkers are sometimes inspired and sometimes not. The degree to which the mental unit is infused by the energies found within the causal body (animate as they are by the presence of the Solar Angel) determines the degree of inspiration of man’s thought.
80. Đệ tử với tư cách là các thức giả đôi khi được cảm hứng và đôi khi không. Mức độ mà đơn vị hạ trí được thấm nhuần bởi các năng lượng tìm thấy bên trong thể nguyên nhân (được làm cho sinh động bởi sự hiện diện của Thái dương Thiên Thần) quyết định mức độ cảm hứng trong tư tưởng của con người.
81. When the mental unit is further animated by the spiritual triad, the inspiration will change in quality and intensity.
81. Khi đơn vị hạ trí còn được Tam Nguyên Tinh Thần làm cho sinh động thêm nữa, cảm hứng sẽ thay đổi về phẩm tính và cường độ.
Few people as yet are in such close touch with their higher self, or Ego, that they can build the matter of the mental plane into a form which can be truly said to be an expression of the thoughts, purpose or desire of their Ego, functioning through the physical brain.
Hiện nay, vẫn còn ít người tiếp xúc mật thiết đến thế với chân ngã, hay Ego, của mình đến mức họ có thể xây dựng vật chất của cõi trí thành một hình tướng mà thực sự có thể nói là một biểu hiện của các tư tưởng, mục đích hay ham muốn của chân ngã của họ, đang hoạt động qua bộ não hồng trần.
82. Here the term “Ego”, with a capital “E”, means the Solar Angel and a Thinker who is autonomous from man-as-thinker.
82. Ở đây, thuật ngữ “Ego”, viết hoa chữ “E”, có nghĩa là Thái dương Thiên Thần và một Nhà Tư Tưởng tự trị, tách biệt khỏi con người-với-tư-cách-nhà-tư-tưởng.
83. The Ego/Solar Angel does, indeed, function through the physical brain, because the “spark of mind” actually has a point of implantation within the brain. In this way, symbolically, Venus/Mercury (soul-infused mind) is anchored in Saturn (the brain)
83. Quả thật, Chân ngã/Thái dương Thiên Thần hoạt động qua bộ não hồng trần, bởi vì “tia lửa trí tuệ” thực sự có một điểm cấy đặt bên trong bộ não. Theo cách này, về mặt biểu tượng, Kim Tinh/Thủy Tinh (trí tuệ được linh hồn thấm nhuần) được neo giữ trong Thổ Tinh (bộ não)
Most of the thought forms at present in circulation may be said to be aggregations of matter, built into form with the aid of kama-manas (or of desire faintly tinged with mind producing thus an admixture of astral and mental matter, mostly astral), and largely due to reflex elemental action.
Phần lớn các hình tư tưởng hiện đang lưu hành có thể được nói là những tập hợp của vật chất, được xây dựng thành hình tướng với sự trợ giúp của kama-manas (hay dục vọng được nhuốm nhẹ bởi trí tuệ, do đó tạo ra một hỗn hợp của vật chất cảm dục và trí tuệ, phần nhiều là cảm dục), và phần lớn là do hoạt động phản xạ của hành khí.
84. There are five (seven) categories of thinker:
84. Có năm (bảy) loại thức giả:
a. Kama manasic thinking in the lower mind (mostly colored by desire-kama)
a. Suy tư trí-cảm trong hạ trí (phần nhiều bị nhuốm màu bởi dục vọng-kama)
b. Thinking in the lower mind, rationally and objectively. This is purposeful but not necessarily inspired. Dry. Keeps distinctions. Still in the lower mind, and there almost exclusively. (Not yet illumined—can be intelligent)
b. Suy tư trong hạ trí, một cách hợp lý và khách quan. Điều này có mục đích nhưng không nhất thiết được cảm hứng. Khô khan. Giữ các phân biệt. Vẫn ở trong hạ trí, và gần như chỉ ở đó. (Chưa được soi sáng—có thể thông minh)
c. Thinking in the lower mind but with some response to the illumination coming from the soul. First transition. Raja yoga. Thinking within a mind held steady in the light. Unitive thinking begins to enter. Influenced by the “Son of Mind”
c. Suy tư trong hạ trí nhưng có một ít đáp ứng với sự soi sáng đến từ linh hồn. Chuyển tiếp đầu tiên. Raja yoga. Suy tư bên trong một trí tuệ được giữ vững trong ánh sáng. Suy tư hợp nhất bắt đầu đi vào. Bị ảnh hưởng bởi “Con của Trí Tuệ”
d. Thinking within the causal body, in the presence of one’s own best qualities and virtues. One begins to be a soul. Beginning to change our identity. Beginning of supra-personal thinking. In the presence of one’s own accumulated ‘personal’/individual wisdom.
d. Suy tư bên trong thể nguyên nhân, trong sự hiện diện của những phẩm chất và đức hạnh tốt đẹp nhất của chính mình. Người ta bắt đầu là một linh hồn. Bắt đầu thay đổi bản sắc của chúng ta. Khởi đầu của suy tư siêu phàm ngã. Trong sự hiện diện của minh triết “cá nhân”/biệt ngã tích lũy của chính mình.
e. Merging contemplatively with the thought of the Solar Angel—thought which is not gathered from one’s own experience.
e. Dung hợp một cách chiêm ngưỡng với tư tưởng của Thái dương Thiên Thần—tư tưởng không được thu thập từ kinh nghiệm của chính mình.
f. Intuitive thinking within the spiritual triad (More via the Will aspect.) Wholeness and pure reason, inclusive reason.
f. Suy tư trực giác bên trong Tam Nguyên Tinh Thần (nhiều hơn qua phương diện Ý Chí.) Tính toàn vẹn và lý trí thuần khiết, lý trí bao gồm.
g. Atmic thinking- Thinking within the Plan, Law and Purpose (Mind that is the Law)
g. Suy tư atma- Suy tư bên trong Thiên Cơ, Định luật và Thiên Ý (Trí tuệ mà là Định luật)
85. A discriminative study of these types of thinking should help us become more discerning with regard to the thinking process. Discernment is related to recognition; discrimination is related to separation.
85. Một nghiên cứu có tính phân biện về các loại suy tư này sẽ giúp chúng ta trở nên có phân biện tinh thần hơn đối với tiến trình suy tư. Phân biện tinh thần liên hệ với sự nhận biết; phân biện liên hệ với sự tách biệt.
86. In thought as simply “aggregations of matter”, caused by “reflex elemental action”, the dimensions of purpose and plan are missing. Such thoughts come together under the impulse of desire. They are kama-manasic thoughts and not pure thoughts.
86. Trong tư tưởng chỉ đơn thuần là “những tập hợp của vật chất”, do “hoạt động phản xạ của hành khí” gây ra, các chiều kích của mục đích và Thiên Cơ đều vắng mặt. Những tư tưởng như thế tụ lại dưới xung lực của dục vọng. Chúng là những tư tưởng trí-cảm chứ không phải những tư tưởng thuần khiết.
87. Who is thinking if the thought process is not to be a reflex action? May we say, it is the mentally illumined disciple aligned with the higher Ego/Solar Angel?
87. Ai đang suy tư nếu tiến trình tư tưởng không là một hành động phản xạ? Chúng ta có thể nói rằng đó là đệ tử được soi sáng về trí tuệ, được chỉnh hợp với Chân ngã cao hơn/Thái dương Thiên Thần chăng?
88. How many centers are involved in the various thought processes? Higher centers have to be involved in thinking if it to be more than the aggregating of thought matter under the impulse of desire.
88. Có bao nhiêu trung tâm tham gia vào các tiến trình tư tưởng khác nhau? Các trung tâm cao hơn phải tham gia vào suy tư nếu nó muốn là điều gì đó hơn là sự tập hợp vật chất tư tưởng dưới xung lực của dục vọng.
89. We are to use certain higher chakras during thinking process in order to avoid the kind of thought which is simply a reflex action. Energy follows thought.
89. Chúng ta phải sử dụng một số luân xa cao hơn nào đó trong tiến trình suy tư để tránh loại tư tưởng chỉ đơn thuần là một hành động phản xạ. Năng lượng đi theo tư tưởng.
90. Note, then, the different foci which may be involved in different qualities thinking.
90. Vậy hãy lưu ý những tiêu điểm khác nhau có thể tham gia vào những phẩm tính suy tư khác nhau.
91. Practically, we do not want to let our mental elemental ‘do its own thinking’, as the aggregations produces will be illusory and will not reflect the Plan. We (the disciple aligned with the Ego/Solar Angel) want to guide and direct the mental elemental in the creation of thought which can reflect the Ego/Solar Angel.
91. Về mặt thực tiễn, chúng ta không muốn để tinh linh trí tuệ của mình “tự suy tư”, vì những tập hợp mà nó tạo ra sẽ là ảo tưởng và sẽ không phản ánh Thiên Cơ. Chúng ta (đệ tử được chỉnh hợp với Chân ngã/Thái dương Thiên Thần) muốn hướng dẫn và chỉ đạo tinh linh trí tuệ trong việc sáng tạo tư tưởng có thể phản ánh Chân ngã/Thái dương Thiên Thần.
92. Maybe we should try to differentiate some terms concerning the subject of soul.
92. Có lẽ chúng ta nên cố gắng phân biệt một số thuật ngữ liên quan đến chủ đề linh hồn.
a. Soul is consciousness per se, the faculty of sentiency.
a. Linh hồn là chính tâm thức, năng lực cảm tri.
b. The soul can mean several things, so one must be aware of the context in which this word is used.
b. Linh hồn có thể có vài nghĩa, vì vậy người ta phải ý thức được ngữ cảnh trong đó từ này được dùng.
i. The Solar Angel
i. Thái dương Thiên Thần
ii. That type of consciousness which is focussed within the causal body
ii. Loại tâm thức được tập trung bên trong thể nguyên nhân
iii. The human soul, not only in the causal body, but present on the lower mental plane
iii. Linh hồn con người, không chỉ trong thể nguyên nhân, mà còn hiện diện trên cõi hạ trí
iv. The blend of consciousness cased by the union of high form of human awareness and Solar Angelic presence. In this case the term “soul” would be equivalent to the term “Ego” in the second definition immediately below.
iv. Sự pha trộn của tâm thức do sự kết hợp của hình thức cao của nhận thức con người và sự hiện diện thiên thần thái dương. Trong trường hợp này, thuật ngữ “linh hồn” sẽ tương đương với thuật ngữ “Ego” trong định nghĩa thứ hai ngay bên dưới.
c. The term “Ego” can mean
c. Thuật ngữ “Ego” có thể có nghĩa là
i. The Solar Angel as an autonomous entity
i. Thái dương Thiên Thần như một thực thể tự trị
ii. The combination of human soul within the causal body and the energy presence of the Solar Angel as it animates that causal body. Thus “Ego” can mean a kind of ‘composite being’ formed of the presence and consciousness of both man and Solar Angel.
ii. Sự kết hợp của linh hồn con người bên trong thể nguyên nhân và sự hiện diện năng lượng của Thái dương Thiên Thần khi nó làm sinh động thể nguyên nhân ấy. Vì vậy “Ego” có thể có nghĩa là một loại “hữu thể tổng hợp” được hình thành từ sự hiện diện và tâm thức của cả con người lẫn Thái dương Thiên Thần.
iii. Ego can also mean the spiritual triad considered as a higher form of soul or consciousness.
iii. Ego cũng có thể có nghĩa là Tam Nguyên Tinh Thần được xem như một hình thức cao hơn của linh hồn hay tâm thức.
iv. EGO can mean the monad itself, the true center of “I-ness”.
iv. EGO có thể có nghĩa là chính chân thần, trung tâm đích thực của “tính Tôi”.
These dualities of expression are:
Những nhị nguyên tính diễn đạt này là:
93. Here is a summary of the four types of energy with which we have been dealing. They are not given in order, for the higher energy precedes the lower. Nevertheless, the nature of the four divisions is very clearly explained.
93. Đây là bản tóm tắt về bốn loại năng lượng mà chúng ta đã bàn đến. Chúng không được nêu theo thứ tự, vì năng lượng cao hơn đi trước năng lượng thấp hơn. Tuy nhiên, bản chất của bốn phân chia này được giải thích rất rõ ràng.
[Page 47]
[Page 47]
1. Active fire or prana. [Etheric fire and vitality, driving the dense physical form (earthly, liquid and gaseous).]
1. Lửa hoạt động hay prana. [Lửa dĩ thái và sinh lực, thúc đẩy hình tướng hồng trần đậm đặc (thuộc đất, lỏng và khí).]
Latent fire or bodily heat. [The fires within dense matter, heating it]
Lửa tiềm ẩn hay nhiệt của thể. [Các ngọn lửa bên trong vật chất đậm đặc, làm nóng nó]
2. Mental energy in the mental body. [Self-engendered fire, the fifth principle]
2. Năng lượng trí tuệ trong thể trí. [Lửa tự phát sinh, nguyên khí thứ năm]
Purely mental thought forms, animated by self-engendered fire, or by the fifth principle, and therefore part of the sphere, or system of control, of the Monad. [The fires of lower mind]
Các hình tư tưởng thuần khiết trí tuệ, được làm sinh động bởi lửa tự phát sinh, hay bởi nguyên khí thứ năm, và vì thế là một phần của khối cầu, hay hệ thống kiểm soát, của chân thần. [Các ngọn lửa của hạ trí]
94. The wording relating to the mental fires is, perhaps. a little ambiguous. Are the higher mental fires listed first or second? The answer is probably that they are listed first in order, because the first listing concerns “energy” and the second listing “thought forms”. “Energy” relates to solar fire or higher mental fire, and “thoughtforms” to the forms build by the mental elemental.
94. Cách diễn đạt liên quan đến các ngọn lửa trí tuệ có lẽ hơi mơ hồ. Các ngọn lửa thượng trí được liệt kê trước hay sau? Câu trả lời có lẽ là chúng được liệt kê trước theo thứ tự, bởi vì phần liệt kê thứ nhất liên quan đến “năng lượng” và phần liệt kê thứ hai liên quan đến “các hình tư tưởng”. “Năng lượng” liên hệ với Lửa Thái dương hay lửa thượng trí, còn “các hình tư tưởng” liên hệ với các hình tướng do tinh linh trí tuệ xây dựng.
95. “Self-engendered fire” is the fire of the soul/Solar Angel. It is ‘soul-fire’ and relates more to the true Self. The elemental fires are somewhat ‘distanced’ from the Self and cannot be said to be “Self-engendered”. There is a line of connection from monad, to the higher mental fires, to the higher internal fires (i.e., the radiatory fires).
95. “Lửa tự phát sinh” là lửa của linh hồn/Thái dương Thiên Thần. Nó là “lửa linh hồn” và liên hệ nhiều hơn với Chân Ngã đích thực. Các ngọn lửa hành khí phần nào “cách xa” Chân Ngã và không thể nói là “tự phát sinh”. Có một đường nối từ chân thần, đến các ngọn lửa thượng trí, đến các ngọn lửa nội tại cao hơn (tức các ngọn lửa bức xạ).
96. We learn that that which occurs within the lower mental body and is animated by the self-engendered fire of the fifth principle is also subject to the control of the monad which, generically, expresses through the mind/mental elemental just as the soul expresses through the astral body/astral elemental and the personality through the physical vehicle/physical elemental. The five is subject to the one, as the Tetraktys reveals (point one in the Tetraktys being directly above point five)
96. Chúng ta học được rằng điều xảy ra bên trong thể hạ trí và được làm sinh động bởi lửa tự phát sinh của nguyên khí thứ năm cũng chịu sự kiểm soát của chân thần, chân thần này, theo nghĩa tổng quát, biểu lộ qua trí tuệ/tinh linh trí tuệ cũng như linh hồn biểu lộ qua thể cảm dục/tinh linh cảm dục và phàm ngã biểu lộ qua vận cụ hồng trần/tinh linh thể xác. Số năm phục tùng số một, như Tetraktys cho thấy (điểm một trong Tetraktys nằm trực tiếp phía trên điểm năm)
97. Points Emerging in Group Discussion:
97. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:
a. There is an equivalence between Solar Fire and Self-Engendered Fire. (Not engendered by something other).
a. Có một sự tương đương giữa Lửa Thái dương và Lửa Tự Phát Sinh. (Không được phát sinh bởi một cái gì khác).
b. In dealing with Self-engendered fire we are dealing with the dynamics of what we usually call the “Higher Self”.
b. Khi bàn đến lửa tự phát sinh, chúng ta đang bàn đến động lực học của điều mà chúng ta thường gọi là “Bản Ngã Cao Siêu”.
These form an esoteric quaternary which with the fifth factor, the divine spark of intelligent will, make the five of monadic manifestation—manifestation in this case connotating a purely subjective manifestation which is neither altogether spiritual nor altogether material.
Những điều này tạo thành một bộ bốn huyền bí, mà cùng với yếu tố thứ năm, tia lửa thiêng liêng của ý chí thông minh, làm nên số năm của biểu hiện chân thần—biểu hiện trong trường hợp này hàm ý một biểu hiện thuần khiết chủ quan, không hoàn toàn tinh thần cũng không hoàn toàn vật chất.
98. Devas clothe essence. Robes are devically constructed “Garment of God”. The Whole universe is a ‘Devic Robe’—One Flame is that which is clothed in Fire. One Flame is naked and the fiery clothing covers it.
98. Các thiên thần khoác áo cho tinh chất. Những chiếc áo được kiến tạo một cách thiên thần “Y Phục của Thượng đế”. Toàn thể vũ trụ là một “Thiên Thần Y” — Một Ngọn Lửa là cái được khoác trong Lửa. Một Ngọn Lửa là trần trụi và lớp áo lửa bao phủ nó.
"The seven brothers are all the children of the same Father, but the elder three partake of the Father's nature. The younger four resemble the Mother. The three elder sons go forth into the universe of stars, and there they represent the Father. The younger four go forth into the universe of stars and show the nature of the one the Father loved." (EP I 351)
“Bảy huynh đệ đều là con của cùng một Người Cha, nhưng ba người anh cả dự phần vào bản chất của Cha. Bốn người em giống Mẹ. Ba người con lớn đi ra vào vũ trụ sao trời, và ở đó họ đại diện cho Cha. Bốn người em đi ra vào vũ trụ sao trời và biểu lộ bản chất của Đấng mà Cha yêu.” (EP I 351)
99. Again, as in the case of the Solar Logos, the quaternary formed is first viewed from the esoteric perspective.
99. Một lần nữa, như trong trường hợp của Thái dương Thượng đế, bộ bốn được hình thành trước hết được nhìn từ quan điểm huyền bí.
100. Symbolically, the pentagram stands between the triangle and the square. The pentagram is subjective and relates to consciousness. The triangle is of the spirit. The square is of personality and matter. These figures are reflected in astrological charts used by the Masters.
100. Về mặt biểu tượng, ngôi sao năm cánh đứng giữa tam giác và hình vuông. Ngôi sao năm cánh có tính chủ quan và liên hệ với tâm thức. Tam giác thuộc về tinh thần. Hình vuông thuộc về phàm ngã và vật chất. Những hình này được phản chiếu trong các lá số chiêm tinh do các Chân sư sử dụng.
101. The term “intelligent” is attached to will because we are still largely focussed in the lower two and a half planes of the seven cosmic planes (or from some another perspective, on the lower three cosmic planes).These lower two and a half (or three) are the sphere of intelligence, cosmically considered. We are not yet speaking of pure will, cosmically considered.
101. Thuật ngữ “thông minh” được gắn với ý chí bởi vì chúng ta vẫn còn phần lớn tập trung trong hai cõi rưỡi thấp hơn của bảy cõi vũ trụ (hay từ một góc nhìn khác, trên ba cõi vũ trụ thấp hơn). Hai cõi rưỡi thấp hơn ấy (hay ba cõi) là phạm vi của trí tuệ, xét theo vũ trụ. Chúng ta chưa nói đến ý chí thuần khiết, xét theo vũ trụ.
102. Points Emerging in Group Discussion:
102. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:
a. Triangles are symbols of spirit and squares of form. In their relation we have the ‘aspectual’ three and the ‘attributive’ four.
a. Tam giác là biểu tượng của tinh thần và hình vuông là biểu tượng của hình tướng. Trong mối liên hệ của chúng, chúng ta có số ba “trạng thái” và số bốn “thuộc tính”.
b. The following quotation from EP I makes this clear.
b. Trích dẫn sau từ EP I làm rõ điều này.
c. "The seven brothers are all the children of the same Father, but the elder three partake of the Father's nature. The younger four resemble the Mother. The three elder sons go forth into the universe of stars, and there they represent the Father. The younger four go forth into the universe of stars and show the nature of the one the Father loved." (EP I 351)
c. “Bảy huynh đệ đều là con của cùng một Người Cha, nhưng ba người anh cả dự phần vào bản chất của Cha. Bốn người em giống Mẹ. Ba người con lớn đi ra vào vũ trụ sao trời, và ở đó họ đại diện cho Cha. Bốn người em đi ra vào vũ trụ sao trời và biểu lộ bản chất của Đấng mà Cha yêu.” (EP I 351)
d. The One Flame is Root of Man and Deva. Man inhabits the Robe. The Devas make or become the Robe.
d. Một Ngọn Lửa là Cội Rễ của Người và thiên thần. Con người cư ngụ trong Y Phục. Các thiên thần tạo ra hoặc trở thành Y Phục.
e. Devas resemble the Mother. MAN resembles the Father—and both come from LIFE.
e. Các thiên thần giống Mẹ. CON NGƯỜI giống Cha—và cả hai đều đến từ SỰ SỐNG.
f. There is One Flame; then it ‘Sees’ itself, and you have Spirit/Matter. Spirit comes MAN, and from Mother/Mulaprakriti, comes Deva—both resolve into the ONE FLAME—Spirit-Matter as One.
f. Có Một Ngọn Lửa; rồi nó “Thấy” chính nó, và các bạn có Tinh thần/Vật chất. Từ Tinh thần đến CON NGƯỜI, và từ Mẹ/Mulaprakriti đến thiên thần—cả hai đều phân giải vào MỘT NGỌN LỬA—Tinh thần-Vật chất là Một.
g. In normal life—Fathers and Daughters are related, and Mothers and Sons.
g. Trong đời sống bình thường—Cha và Con gái có liên hệ, và Mẹ và Con trai cũng vậy.
h. Through Saturn, the triangle is man and the five-pointed star is numbers 3, 4, 5, 6, 7.
h. Qua Thổ Tinh, tam giác là con người và ngôi sao năm cánh là các số 3, 4, 5, 6, 7.
3. Finally there is the Monadic Flame Divine. This embodies the highest vibration of which the Monad is capable, is governed by the Law of Synthesis, and is the cause of the forward progressive movement of the evolving Jiva.
3. Sau cùng là Ngọn Lửa Chân Thần Thiêng Liêng. Điều này thể hiện rung động cao nhất mà chân thần có khả năng đạt được, được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và là nguyên nhân của chuyển động tiến bộ đi tới phía trước của Jiva đang tiến hoá.
103. The Jiva is monad journeying and returning—the ‘experiencing monad’. Part of us waits for the rest of us to return. (Story of emanation, and the Prodigal Son).
103. Jiva là chân thần đang du hành và trở về—“chân thần trải nghiệm”. Một phần của chúng ta chờ phần còn lại của chúng ta trở về. (Câu chuyện về sự phát xạ, và Người Con Hoang Đàng).
104. Apparently the monad is also capable of lower vibrations. Really, the monad is Self-extended through all the lower dimensions and in those dimensions is experiencing various vibrations.
104. Rõ ràng chân thần cũng có khả năng có những rung động thấp hơn. Thực ra, chân thần tự mở rộng xuyên qua mọi chiều kích thấp hơn và trong những chiều kích ấy đang trải nghiệm các rung động khác nhau.
105. Within what we usually call the monad (focussed, we are told, on the second systemic plane) is the flame which is the real monad. We may ponder whether the essence of the monad (here called the “Monadic Flame Divine”) is not more related to the “Sea of Fire” than to the “Akasha”. There is reason for thinking it is.
105. Bên trong điều mà chúng ta thường gọi là chân thần (được bảo là tập trung trên cõi hệ thống thứ hai) có ngọn lửa là chân thần thực sự. Chúng ta có thể suy ngẫm liệu tinh chất của chân thần (ở đây được gọi là “Ngọn Lửa Chân Thần Thiêng Liêng”) có không liên hệ với “Biển Lửa” nhiều hơn là với “Akasha”. Có lý do để nghĩ như vậy.
106. In this solar system (the second or fifth), the Monadic Flame Divine is still closely associated with the “Fire of Mind” on the mental plane (the ‘Fire of Soul’). This is not yet the solar system ‘of the monad’.
106. Trong hệ mặt trời này (hệ thứ hai hay thứ năm), Ngọn Lửa Chân Thần Thiêng Liêng vẫn còn gắn bó mật thiết với “Lửa của Trí Tuệ” trên cõi trí (“Lửa của Linh Hồn”). Đây chưa phải là hệ mặt trời “của chân thần”.
We now come, in due course, to the point of merging or to the end of manifestation, and to the consummation (viewing it monadically) of the great cycle or manvantara. What shall we therefore find? Just as in the macrocosm the blending of the three essential fires of the cosmos marked the point of logoic attainment, so, in the blending of the essential fires of the microcosm, do we arrive at the apotheosis of human attainment for this cycle.
Giờ đây, theo tiến trình thích hợp, chúng ta đi đến điểm dung hợp hay đến chỗ kết thúc của biểu hiện, và đến sự viên mãn (xét theo chân thần) của chu kỳ lớn hay giai kỳ sinh hóa. Vậy chúng ta sẽ thấy gì? Cũng như trong đại thiên địa, sự hòa trộn của ba ngọn lửa cốt yếu của vũ trụ đánh dấu điểm thành tựu logoic, thì trong sự hòa trộn của các ngọn lửa cốt yếu của tiểu thiên địa, chúng ta đạt đến sự thần thánh hóa của thành tựu nhân loại cho chu kỳ này.
107. Apotheosis in this case is the fifth degree. Just as the monad achieves the fifth degree in the “manvantara”, we were wondering whether the solar logoic Monad achieved the fifth degree in this “Mahamanvantara”.
107. Sự thần thánh hóa trong trường hợp này là cấp năm. Cũng như chân thần đạt cấp năm trong “giai kỳ sinh hóa”, chúng ta đã tự hỏi liệu Chân Thần logoic thái dương có đạt cấp năm trong “Đại giai kỳ sinh hóa” này hay không.
108. The number 25 (according to SDP) is the number of the fourth ray, and humanity is the kingdom most related to the fourth ray. It may be that in a generic period of 25,000, 000 years, one becomes a Master. The suggested span would date from Individualization.
108. Số 25 (theo SDP) là số của cung bốn, và nhân loại là giới liên hệ nhiều nhất với cung bốn. Có thể trong một giai đoạn tổng quát 25.000.000 năm, người ta trở thành một Chân sư. Khoảng thời gian được gợi ý ấy sẽ tính từ sự biệt ngã hóa.
109. In this solar system, the number five marks attainment. In this solar system, fulfillment comes in the form of a five-pointed star? Will fulfillment in the third (next) solar system demonstrate as a seven-pointed star?
109. Trong hệ mặt trời này, số năm đánh dấu thành tựu. Trong hệ mặt trời này, sự hoàn mãn đến dưới hình thức một ngôi sao năm cánh chăng? Liệu sự hoàn mãn trong hệ mặt trời thứ ba (kế tiếp) sẽ biểu lộ như một ngôi sao bảy cánh chăng?
110. Points Emerging from Group Discussion:
110. Những Điểm Nổi Lên Từ Thảo Luận Nhóm:
a. Does it make sense that the number five characterizes the climax of the second cycle? All this development is under Sirius which is largely characterized by the second and fifth rays. The number five rules all cycles on the second ray.
a. Có hợp lý chăng khi số năm đặc trưng cho đỉnh điểm của chu kỳ thứ hai? Tất cả sự phát triển này đều dưới Sirius, vốn phần lớn được đặc trưng bởi cung hai và cung năm. Số năm cai quản mọi chu kỳ trên cung hai.
b. Two and five together signify the union of love (two) and light (five). Venus, Sirius, and Raja-Yoga are to be related.
b. Hai và năm cùng nhau biểu thị sự hợp nhất của bác ái (hai) và ánh sáng (năm). Kim Tinh, Sirius, và Raja-Yoga cần được liên hệ với nhau.
c. We have the completion of the five pointed star in the second solar system.
c. Chúng ta có sự hoàn tất của ngôi sao năm cánh trong hệ mặt trời thứ hai.
d. Five-pointed star is symbol signifying the transition from the three to the two.
d. Ngôi sao năm cánh là biểu tượng chỉ sự chuyển tiếp từ ba sang hai.
When the latent fire of the personality or lower self blends with the fire of mind, that of the higher self, and finally merges with the Divine Flame, then the man takes the fifth Initiation in this solar system, and has completed one of his greater cycles.13
Khi lửa tiềm ẩn của phàm ngã hay phàm ngã hòa trộn với lửa của trí tuệ, tức lửa của Bản Ngã Cao Siêu, và cuối cùng hợp nhất với Ngọn Lửa Thiêng Liêng, khi đó con người nhận lần điểm đạo thứ năm trong hệ mặt trời này, và đã hoàn tất một trong những chu kỳ lớn hơn của mình.13
111. Note that one of the fires of mind (related to elemental activity) is still found within the domain of personality.
111. Lưu ý rằng một trong các lửa của trí tuệ (liên hệ với hoạt động hành khí) vẫn còn được tìm thấy trong phạm vi của phàm ngã.
112. Note also that the “Divine Flame” relates to the first aspect of divinity whereas the “Divine Ray” is the second ray and relates to the second aspect.
112. Cũng lưu ý rằng “Ngọn Lửa Thiêng Liêng” liên hệ với phương diện thứ nhất của thiên tính, trong khi “Cung Thiêng Liêng” là cung hai và liên hệ với phương diện thứ hai.
(13 These terms, Lower Self, Higher Self, Divine Self, are apt to be confusing until the student apprehends the various synonyms connected with them. The following table may be found helpful:
(13 Những thuật ngữ này, Phàm Ngã, Bản Ngã Cao Siêu, Bản Ngã Thiêng Liêng, dễ gây nhầm lẫn cho đến khi đạo sinh nắm được các từ đồng nghĩa khác nhau liên hệ với chúng. Bảng sau đây có thể hữu ích:
Father Son Mother
Cha Con Mẹ
Spirit Soul Body
Tinh thần Linh hồn Thể
Life Consciousness Form
Sự sống Tâm thức Hình tướng
Monad Ego Personality
Chân thần Chân ngã Phàm ngã
Divine Self Higher Self Lower Self
Bản Ngã Thiêng Liêng Bản Ngã Cao Siêu Phàm ngã
Spirit Individuality Personal Self
Tinh thần Cá thể tính Bản ngã cá nhân
The Point The Triad The Quaternary
Điểm Tam nguyên tinh thần Bộ bốn
Monad Solar Angel Lunar Lords)
Chân thần Thái dương Thiên Thần Các nguyệt tinh quân)
113. In all of these triplicities we have the representation of the number eight. 1 + 3 + 4.
113. Trong tất cả các bộ ba này, chúng ta có sự biểu hiện của số tám. 1 + 3 + 4.
114. Every term in the first column is a one. In the second column every term can be represented by a three. In the third column, we are dealing with a four.
114. Mọi thuật ngữ trong cột thứ nhất đều là một một. Trong cột thứ hai, mọi thuật ngữ có thể được biểu thị bằng một ba. Trong cột thứ ba, chúng ta đang bàn đến một bốn.
When the three blaze forth as one fire, liberation from matter, or from material form is achieved. Matter has been correctly adjusted to spirit, and finally the indwelling life slips forth out of its sheath which forms now only a channel for liberation.
Khi ba cái bùng cháy thành một lửa duy nhất, sự giải thoát khỏi vật chất, hay khỏi hình tướng vật chất, được đạt tới. Vật chất đã được điều chỉnh đúng đắn theo tinh thần, và cuối cùng sự sống nội tại trượt ra khỏi vỏ bọc của nó, vỏ bọc giờ đây chỉ còn tạo thành một kênh cho sự giải thoát.
115. We are talking of the fifth initiation.
115. Chúng ta đang nói về lần điểm đạo thứ năm.
116. Full illumination occurs with the dissipation of the clouds following the explosion at the fourth initiation.
116. Sự soi sáng trọn vẹn xảy ra cùng với việc làm tiêu tan các đám mây tiếp theo sau vụ nổ ở lần điểm đạo thứ tư.
117. The sheath is this case is all vehicles in the lower five worlds.
117. Vỏ bọc trong trường hợp này là mọi vận cụ trong năm cõi thấp.
118. Although we are here most probably speaking of the liberation which occurs at the fifth degree, real liberation from matter occurs at the sixth degree, when the monad is liberated from the five ‘material’ worlds of Brahma.
118. Mặc dù ở đây rất có thể chúng ta đang nói về sự giải thoát xảy ra ở cấp năm, sự giải thoát thực sự khỏi vật chất xảy ra ở cấp sáu, khi chân thần được giải thoát khỏi năm cõi “vật chất” của Brahma.
119. When speaking of consummations, we must be aware of which consummation we are discussing. The consummation described here seems to go beyond the fourth initiation (which is the first great consummation). Yet the fourth initiation is not ruled by the pentagram, and the fifth initiation is.
119. Khi nói về các sự viên mãn, chúng ta phải ý thức được mình đang bàn đến sự viên mãn nào. Sự viên mãn được mô tả ở đây dường như vượt quá lần điểm đạo thứ tư (vốn là sự viên mãn lớn đầu tiên). Tuy nhiên, lần điểm đạo thứ tư không được cai quản bởi ngôi sao năm cánh, còn lần điểm đạo thứ năm thì có.
[Page 48]
[Page 48]
III. FIRE IN MANIFESTATION.
III. LỬA TRONG BIỂU HIỆN.
To continue our consideration of the fires which sustain the economy of the visible solar system, and of the visible objective human being, which produce evolutionary development, and which are the bases of all objective efflorescence, it must be noted that they demonstrate as the sumtotal of the vital life of a solar system, of a planet, of the entire constitution of active functioning man upon the physical plane, and of the atom of substance.
Để tiếp tục việc xem xét của chúng ta về các ngọn lửa duy trì sự tiết kiệm của hệ mặt trời hữu hình, và của con người hữu hình khách quan, là những ngọn lửa tạo ra sự phát triển tiến hoá, và là nền tảng của mọi sự nở hoa khách quan, cần lưu ý rằng chúng biểu lộ như tổng thể của sự sống sinh lực của một hệ mặt trời, của một hành tinh, của toàn bộ cấu tạo của con người hoạt động tích cực trên cõi hồng trần, và của nguyên tử chất liệu.
120. We continue with a discussion of the objective fires.
120. Chúng ta tiếp tục với một cuộc thảo luận về các ngọn lửa khách quan.
121. There are four atoms: Solar Logos, Planet, Man, Atom.
121. Có bốn nguyên tử: Thái dương Thượng đế, Hành tinh, Con người, Nguyên tử.
122. This little paragraph is a summary of the subject under consideration.
122. Đoạn ngắn này là một bản tóm tắt về chủ đề đang được xem xét.
123. The word “economy” is deliberately used, is related to the third aspect (functioning under the Law of Economy), and suggests ‘energy-balance’. Balance is a quality of Libra, a constellation transmitting the third ray, and closely related to the third aspect and to the third cosmic law, Law of Economy..
123. Từ “economy” được dùng một cách có chủ ý, liên hệ với phương diện thứ ba (hoạt động dưới Định luật Tiết Kiệm), và gợi ý “sự cân bằng năng lượng”. Cân bằng là một phẩm tính của Thiên Bình, một chòm sao truyền dẫn cung ba, và liên hệ mật thiết với phương diện thứ ba và với định luật vũ trụ thứ ba, Định luật Tiết Kiệm..
124. The “Will-to-Evolve” is the third ray aspect of will. We are dealing here with fires connected to the third aspect of divinity.
124. “Ý Chí-hướng Tiến Hóa” là phương diện cung ba của ý chí. Ở đây chúng ta đang bàn đến các ngọn lửa liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.
125. An “efflorescence” is a flowering. There is “subjective efflorescence” as well. Objective efflorescence occurs through a personality. Subjective efflorescence occurs in relation to the soul dimension. Is the full efflorescence of the egoic lotus an objective efflorescence, a subjective efflorescence or a combination of the two?
125. Một “efflorescence” là một sự nở hoa. Cũng có “sự nở hoa chủ quan”. Sự nở hoa khách quan xảy ra qua một phàm ngã. Sự nở hoa chủ quan xảy ra trong mối liên hệ với chiều kích linh hồn. Sự nở hoa trọn vẹn của Hoa Sen Chân Ngã là một sự nở hoa khách quan, một sự nở hoa chủ quan hay là sự kết hợp của cả hai?
126. Immediately below we engage in a useful summary of the main points of the study to this point.
126. Ngay bên dưới, chúng ta đi vào một bản tóm tắt hữu ích về các điểm chính của cuộc nghiên cứu cho đến thời điểm này.
Speaking broadly we would say that the first fire deals entirely with:
Nói một cách khái quát, chúng ta sẽ nói rằng ngọn lửa thứ nhất hoàn toàn liên quan đến: