Trích nội dung chương
386. Taking the systemic analogy, there will be a time when Shamballa rushes forth to meet an ascending Spiritual Hierarchy in process of destruction. Shamballa will then no longer be active and expressive through its extensions (Hierarchy, humanity and the lesser kingdoms) but will become the point of its own Self-focus. 386. Lấy phép loại suy hệ thống, sẽ có một thời điểm khi Shamballa lao ra để gặp Thánh đoàn tinh thần đang thăng lên trong tiến trình hủy diệt. Khi đó Shamballa sẽ không còn hoạt động và biểu lộ qua các sự mở rộng của nó (Thánh đoàn, nhân loại và các giới nhỏ hơn) nữa, mà sẽ trở thành điểm tự tập trung của chính Nó.
386. Taking the systemic analogy, there will be a time when Shamballa rushes forth to meet an ascending Spiritual Hierarchy in process of destruction. Shamballa will then no longer be active and expressive through its extensions (Hierarchy, humanity and the lesser kingdoms) but will become the point of its own Self-focus.
386. Lấy phép loại suy hệ thống, sẽ có một thời điểm khi Shamballa lao ra để gặp Thánh đoàn tinh thần đang thăng lên trong tiến trình hủy diệt. Khi đó Shamballa sẽ không còn hoạt động và biểu lộ qua các sự mở rộng của nó (Thánh đoàn, nhân loại và các giới nhỏ hơn) nữa, mà sẽ trở thành điểm tự tập trung của chính Nó.
387. We see that this second paragraph may well express a process analogous to the process expressed in Stanza I: “The secret of Fire lies hid in the second letter of the Sacred Word. Etc...)
387. Chúng ta thấy rằng đoạn thứ hai này rất có thể diễn tả một tiến trình tương tự với tiến trình được diễn tả trong Bài kệ I: “Bí mật của Lửa ẩn giấu trong chữ thứ hai của Linh từ Thiêng Liêng. V.v...)
388. If we study the process carefully, we shall find ways of interpolating the five cosmic symbols into the process. In the paragraph from the Old Commentary, there is concentration upon stages which relate more to symbols four and five, and especially five—the Swastika.
388. Nếu chúng ta nghiên cứu tiến trình này một cách cẩn thận, chúng ta sẽ tìm ra những cách để nội suy năm biểu tượng vũ trụ vào tiến trình ấy. Trong đoạn trích từ Cổ Luận, có sự tập trung vào các giai đoạn liên hệ nhiều hơn đến biểu tượng thứ tư và thứ năm, và đặc biệt là thứ năm—chữ Vạn.
389. At the climax of the process the “Prodigal Son” returns, and all subsequent activity occurs within the “Father’s Home” (the circle of the unmoving which has now become the “sphere of activity”).
389. Ở cực điểm của tiến trình, “Đứa Con Hoang Đàng” trở về, và mọi hoạt động tiếp theo đều diễn ra trong “Nhà của Cha” (vòng tròn của cái bất động, nay đã trở thành “khối cầu hoạt động”).
390. The suggestions given above are not meant to be conclusive, merely to give hints concerning a few possible modes of interpretation: cosmic, systemic/macrocosmic, microcosmic, and (at times) microcosmically etheric.
390. Những gợi ý nêu trên không nhằm đưa ra kết luận dứt khoát, mà chỉ nhằm cung cấp những chỉ dẫn về một vài phương thức diễn giải khả dĩ: vũ trụ, hệ thống/đại thiên địa, vi mô, và (đôi khi) vi mô dĩ thái.
391. For the convenience of students, I have tabulated the two sets of interpretations for the five symbols under study side by side. Parallel sections for both interpretations can be studied together for the light they may throw upon each other.
391. Để tiện cho các đạo sinh, tôi đã lập bảng hai bộ diễn giải cho năm biểu tượng đang được nghiên cứu, đặt song song với nhau. Các phần tương ứng của cả hai cách diễn giải có thể được nghiên cứu cùng nhau để thấy ánh sáng mà chúng có thể soi rọi lẫn nhau.
Five Cosmic Symbols Interpreted Generically
Năm Biểu Tượng Vũ Trụ Được Diễn Giải Một Cách Tổng Quát
1. The circle. This stands for the ring-pass-not of undifferentiated matter. It stands for a solar system or the body logoic, viewed etherically; it stands for a planet or the body of a Heavenly Man viewed etherically; it stands for a human body, viewed likewise, etherically and it stands for them all at the prime or earliest epoch of manifestation. It stands finally for a single cell within the human vehicle, and for the atom of the chemist or physicist.
1. Vòng tròn. Điều này tượng trưng cho vòng-giới-hạn của vật chất chưa biến phân. Nó tượng trưng cho một hệ mặt trời hay thân thể của Thượng đế, được nhìn dưới góc độ dĩ thái; nó tượng trưng cho một hành tinh hay thân thể của một Đấng Thiên Nhân được nhìn dưới góc độ dĩ thái; nó tượng trưng cho thể người, cũng được nhìn như vậy, về mặt dĩ thái, và nó tượng trưng cho tất cả những điều ấy ở thời kỳ nguyên sơ hay sớm nhất của biểu hiện. Sau cùng, nó tượng trưng cho một tế bào đơn lẻ trong hiện thể con người, và cho nguyên tử của nhà hóa học hay nhà vật lý.
2. The circle with the point in the centre. This signifies the production of heat in the heart of matter; the point of fire, the moment of the first rotary activity, the first straining of the atom, motivated by latent heat, into the sphere of influence of another atom. This produced the first radiation, the first pull of attraction, and the [Page 160] consequent setting up of a repulsion and therefore producing
2. Vòng tròn với điểm ở trung tâm. Điều này biểu thị sự phát sinh nhiệt trong lòng vật chất; điểm lửa, khoảnh khắc của hoạt động quay đầu tiên, sự căng ra đầu tiên của nguyên tử, được thúc đẩy bởi nhiệt tiềm ẩn, vào trong khối cầu ảnh hưởng của một nguyên tử khác. Điều này tạo ra sự bức xạ đầu tiên, lực hút đầu tiên, và [Page 160] do đó thiết lập một lực đẩy lùi và vì vậy tạo ra
3. The circle divided into two. This marks the active rotation and the beginning of the mobility of the atom of matter, and produces the subsequent extension of the influence of the positive point within the atom of matter till its sphere of influence extends from the centre to the periphery. At the point where it touches the periphery it contacts the influence of the atoms in its environment; radiation is set up and the point of depression makes its appearance, marking the inflow and outflow of force or heat.
3. Vòng tròn chia làm hai. Điều này đánh dấu sự quay hoạt động và sự khởi đầu của tính động của nguyên tử vật chất, và tạo ra sự mở rộng tiếp theo của ảnh hưởng của điểm dương bên trong nguyên tử vật chất cho đến khi khối cầu ảnh hưởng của nó mở rộng từ trung tâm đến chu vi. Tại điểm nó chạm đến chu vi, nó tiếp xúc với ảnh hưởng của các nguyên tử trong môi trường của nó; sự bức xạ được thiết lập và điểm lõm xuất hiện, đánh dấu sự vào và ra của mãnh lực hay nhiệt.
We are here only showing the application of cosmic symbols to matter, and are not dealing with manifestation from any other angle than that of the purely material. For instance, we are applying the symbol of the point within the circle to the sphere of matter, and the point of latent heat. We are not handling at this point matter as informed by an entity who is to matter, when so informing, a point of conscious life.
Ở đây chúng ta chỉ đang trình bày việc áp dụng các biểu tượng vũ trụ vào vật chất, và không bàn đến biểu hiện từ bất kỳ góc độ nào khác ngoài góc độ thuần vật chất. Chẳng hạn, chúng ta đang áp dụng biểu tượng của điểm trong vòng tròn vào khối cầu vật chất, và vào điểm nhiệt tiềm ẩn. Ở điểm này, chúng ta không xử lý vật chất như được thấm nhuần bởi một thực thể, thực thể mà đối với vật chất, khi thấm nhuần như vậy, là một điểm sự sống có ý thức.
We are dealing only with matter and latent heat, with the result produced by rotary movement of radiatory heat and the consequent interplay of bodies atomic. We are therefore dealing with the point we set out to consider while studying our fifth division, motion in the sheaths.
Chúng ta chỉ đang bàn đến vật chất và nhiệt tiềm ẩn, đến kết quả do chuyển động quay của nhiệt bức xạ tạo ra và sự tương tác tiếp theo của các thể nguyên tử. Vì vậy, chúng ta đang bàn đến điểm mà chúng ta đã dự định xem xét khi nghiên cứu phân bộ thứ năm của mình, chuyển động trong các thể vỏ.
4. The Circle divided into four. This is the true circle of matter, the equal armed cross of the Holy Spirit, Who is the personification of active intelligent matter. This shows the fourth dimensional quality of matter and the penetration of the fire in four directions, its threefold radiation being symbolised by the triangles formed by the fourfold cross. This portrays the fourfold revolution of any atom. By this is not meant the ability of any atom to make four revolutions, but the fourth dimensional quality of the revolution which is the goal aimed at, and which is even now becoming known in matter during this [Page 161] fourth round, and in this fourth chain. As the fifth spirilla or fifth stream of force in an atom becomes developed, and man can conceive of a fourth-dimensional rotary movement, the accuracy of this symbol will be recognised. It will then be seen that all sheaths in their progress from inertia to rhythm, via mobility, pass through all stages, whether they are logoic sheaths, the rays in which the Heavenly Men veil Themselves, the planes which form the bodies of certain solar entities, the causal body (or the sheath of the Ego on the mental plane), the human physical body in its etheric constitution, or a cell in that body etheric. All these material forms (existent in etheric matter which is the true matter of all forms) are primarily undifferentiated ovoids; they then become actively rotating or manifest latent heat; next they manifest duality or latent and radiatory fire; the expression of these two results in fourth dimensional action or the wheel or rotary form turning upon itself.
4. Vòng tròn chia làm bốn. Đây là vòng tròn đích thực của vật chất, thập giá có bốn cánh bằng nhau của Chúa Thánh Thần, Đấng là hiện thân của vật chất hoạt động thông tuệ. Điều này cho thấy phẩm tính bốn chiều của vật chất và sự xuyên nhập của lửa theo bốn hướng, sự bức xạ tam phân của nó được biểu tượng hóa bằng các tam giác do thập giá tứ phân tạo thành. Điều này mô tả cuộc quay tứ phân của bất kỳ nguyên tử nào. Điều này không có nghĩa là khả năng của bất kỳ nguyên tử nào thực hiện bốn vòng quay, mà là phẩm tính bốn chiều của cuộc quay, vốn là mục tiêu được nhắm đến, và ngay cả bây giờ đang trở nên được biết đến trong vật chất trong [Page 161] cuộc tuần hoàn thứ tư này, và trong dãy thứ tư này. Khi loa tuyến thứ năm hay dòng mãnh lực thứ năm trong một nguyên tử trở nên phát triển, và con người có thể hình dung một chuyển động quay bốn chiều, tính chính xác của biểu tượng này sẽ được công nhận. Khi đó sẽ thấy rằng mọi thể vỏ trong tiến trình của chúng từ Quán tính đến nhịp điệu, thông qua tính động, đều đi qua mọi giai đoạn, dù đó là các thể vỏ của Thượng đế, các cung mà trong đó các Đấng Thiên Nhân che phủ Chính Các Ngài, các cõi tạo thành các thể của một số thực thể thái dương, thể nguyên nhân (hay thể vỏ của chân ngã trên cõi trí), thể xác con người trong cấu tạo dĩ thái của nó, hay một tế bào trong thể dĩ thái ấy. Tất cả các hình tướng vật chất này (tồn tại trong vật chất dĩ thái, vốn là vật chất đích thực của mọi hình tướng) trước hết là những hình trứng chưa biến phân; sau đó chúng trở nên quay hoạt động hay biểu lộ nhiệt tiềm ẩn; kế tiếp chúng biểu lộ nhị nguyên tính hay lửa tiềm ẩn và lửa bức xạ; sự biểu lộ của hai điều này dẫn đến hoạt động bốn chiều hay bánh xe, hay hình thức quay xoay trên chính nó.
5. The swastika, or the fire extending not only from the periphery to the centre in four directions, but gradually circulating and radiating from and around the entire periphery. This signifies completed activity in every department of matter until finally we have a blazing, fiery wheel, turning every way, with radiant channels of fire from the centre to the ring-pass-not,—fire within, without and around until the wheel is consumed and there is naught remaining but perfected fire.
5. Chữ Vạn, hay ngọn lửa không chỉ kéo dài từ chu vi đến trung tâm theo bốn hướng, mà còn dần dần tuần hoàn và bức xạ từ và quanh toàn bộ chu vi. Điều này biểu thị hoạt động hoàn tất trong mọi bộ phận của vật chất cho đến cuối cùng chúng ta có một bánh xe lửa rực cháy, quay theo mọi hướng, với các kênh lửa bức xạ từ trung tâm đến vòng-giới-hạn,—lửa ở bên trong, bên ngoài và xung quanh cho đến khi bánh xe bị thiêu rụi và không còn gì sót lại ngoài lửa hoàn hảo.
392. For the sake of completeness, the following section is added, pointing as it does to the First Stanza of Dzyan.
392. Vì mục đích đầy đủ, phần sau đây được thêm vào, vì nó chỉ đến Bài kệ thứ nhất của Dzyan.
393. The section comes from p. 1231 of TCF and is a preface to the section of Electric Fire.
393. Phần này đến từ trang 1231 của TCF và là lời tựa cho phần Lửa Điện.
All that it will be possible for us to do in this section will be to impart the truth in three ways. Through the illumination of the student's mind as he studies the stanzas of Dzyan which will be found at the commencement of the treatise. Secondly, through the realisation that will come to the student as he correlates and ponders upon the various occult fragments found scattered through the pages, primarily centering his attention upon the following words:
Tất cả những gì chúng ta có thể làm trong phần này là truyền đạt chân lý theo ba cách. Thứ nhất, qua sự soi sáng trí tuệ của đạo sinh khi y nghiên cứu các bài kệ Dzyan sẽ được tìm thấy ở phần mở đầu của bộ luận. Thứ hai, qua sự chứng nghiệm sẽ đến với đạo sinh khi y liên hệ và suy ngẫm về các mảnh huyền bí khác nhau được tìm thấy rải rác trong các trang sách, chủ yếu tập trung sự chú ý của mình vào những lời sau đây:
394. Had we realized that the pondering of these often incomprehensible stanzas was to lead to “the illumination of the student’s mind”.
394. Giá như chúng ta đã nhận ra rằng việc suy ngẫm về những bài kệ thường khó hiểu này sẽ dẫn đến “sự soi sáng trí tuệ của đạo sinh”.
395. The illumination arises through access to the intuition. The pondering and correlating (which also opens the door to truth) is a function of the mind. From “occult fragments” there can be gathered a mosaic reflective of reality.
395. Sự soi sáng phát sinh qua việc tiếp cận trực giác. Việc suy ngẫm và liên hệ (điều cũng mở cánh cửa dẫn đến chân lý) là một chức năng của trí tuệ. Từ những “mảnh huyền bí”, có thể thu thập được một bức khảm phản chiếu thực tại.
396. Again, the familiar stanza under discussion.
396. Một lần nữa, bài kệ quen thuộc đang được bàn đến.
"The secret of the Fire lies hid in the second letter of the Sacred Word. The mystery of life is concealed within the heart. When the lower point vibrates, when the Sacred Triangle glows, when the point, the middle centre and the apex, connect and circulate the Fire, when the threefold apex likewise burns, then the two triangles—the greater and the lesser—merge into one Flame, which burneth up the whole."
"Bí mật của Lửa ẩn giấu trong chữ thứ hai của Linh từ Thiêng Liêng. Huyền nhiệm của sự sống được che giấu trong tim. Khi điểm thấp rung động, khi Tam Giác Thiêng Liêng rực sáng, khi điểm, trung tâm ở giữa và đỉnh nối kết và tuần hoàn Lửa, khi đỉnh tam phân cũng cháy lên, thì hai tam giác—lớn hơn và nhỏ hơn—hòa nhập thành một Ngọn Lửa, ngọn lửa ấy thiêu rụi toàn thể."
TCF 173-183 S2S6 Revision
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Cước chú và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
Please Read these Commentaries with your TCF Book Handy for the Sake of Continuity. The extensive commentary may otherwise disrupt the sense of flow.
Xin đọc các phần Bình Luận này với sách TCF trong tay để giữ được tính liên tục. Phần bình luận quá rộng có thể làm gián đoạn cảm giác mạch chảy.
We take up our second point in the consideration of the centres:
Chúng ta bắt đầu điểm thứ hai trong việc xem xét các trung tâm:
1. We recall the first point in the consideration of the centres was here, on page 163.
1. Chúng ta nhớ rằng điểm thứ nhất trong việc xem xét các trung tâm đã ở đây, tại trang 163.
1. The Nature of the Centres.
1. Bản chất của các trung tâm.
[Covered, we remember, in section S2S4]
[Đã được trình bày, chúng ta nhớ, trong phần S2S4]
2. We may wish to refresh our memory, as we discussed this subject in the section before last, before Christmas, when we dealt with Stanza I.
2. Chúng ta có thể muốn làm mới lại ký ức của mình, vì chúng ta đã bàn về chủ đề này trong phần trước nữa, trước lễ Giáng Sinh, khi chúng ta bàn đến Bài kệ I.
2. The centres in connection with the Rays.
2. Các trung tâm trong liên hệ với các cung.
This will give us a large range of subject to be dealt with, and much food for thought, surmise and wise conjecture. All that is here stated is given simply as basic or foundation facts, upon which may be erected a structure of conjecture, and of logical reasoning, employing the imagination, and thereby effecting two things:
Điều này sẽ cho chúng ta một phạm vi chủ đề rộng lớn để bàn đến, và nhiều điều đáng suy ngẫm, phỏng đoán và suy luận minh triết. Tất cả những gì được phát biểu ở đây chỉ đơn giản được đưa ra như những sự kiện căn bản hay nền tảng, trên đó có thể dựng lên một cấu trúc phỏng đoán và lý luận hợp logic, sử dụng sự tưởng tượng, và nhờ đó thực hiện hai điều:
3. When we read DK we do this: we erect a “structure of conjecture”.
3. Khi chúng ta đọc Chân sư DK, chúng ta làm điều này: chúng ta dựng lên một “cấu trúc phỏng đoán”.
4. Conjecture is an important mental dynamic; it is an extension of thought which may lead us to intuitive apprehension. It also proposes that which must be proven, and in the direction of such proofs those who conjecture are obliged to labor.
4. Phỏng đoán là một động lực trí tuệ quan trọng; nó là một sự mở rộng của tư tưởng có thể dẫn chúng ta đến sự nắm bắt trực giác. Nó cũng đề xuất điều phải được chứng minh, và theo hướng của những chứng minh ấy, những người phỏng đoán buộc phải lao động.
These are an ability to expand our mental concept and to build the antaskarana, or that bridge which all who seek to function in the buddhic vehicle must build between higher and lower mind; hence the necessity for the use of the imagination (which is the astral equivalent to mental discrimination), and its ultimate transmutation into intuition.
Đó là khả năng mở rộng khái niệm trí tuệ của chúng ta và xây dựng antaskarana, hay cây cầu mà tất cả những ai tìm cách hoạt động trong vận cụ Bồ đề đều phải xây dựng giữa thượng trí và hạ trí; do đó có sự cần thiết phải sử dụng sự tưởng tượng (vốn là đối phần cảm dục của sự phân biện trí tuệ), và sự chuyển hoá tối hậu của nó thành trực giác.
5. By engaging in conjecture we learn to expand our mental concept. We are led into presently unverified areas of thought.
5. Bằng cách tham gia vào sự phỏng đoán, chúng ta học cách mở rộng khái niệm trí tuệ của mình. Chúng ta được dẫn vào những lĩnh vực tư tưởng hiện chưa được kiểm chứng.
6. Through conjecture we are also building the antahkarana.
6. Qua sự phỏng đoán, chúng ta cũng đang xây dựng antahkarana.
7. Imagination is astral in nature but the in the process of creative imagination the mental component is added.
7. Sự tưởng tượng có bản chất cảm dục nhưng trong tiến trình sự tưởng tượng sáng tạo, thành phần trí tuệ được thêm vào.
8. Imagination, we are told, is the astral equivalent to mental discrimination. Mental discrimination is an act of mental separation or distinction. Does imagination choose? We might say that it does. One can choose the images one entertains. We need not simply entertain anything that comes to mind. Imagination (as here presented) seems to be disciplined imagination. It is not the “active imagination” (a psychological technique) which can go anywhere, entertain any image, and is allowed to do so.
8. Người ta bảo chúng ta rằng sự tưởng tượng là đối phần cảm dục của sự phân biện trí tuệ. Sự phân biện trí tuệ là một hành vi tách biệt hay phân biệt bằng trí tuệ. Sự tưởng tượng có chọn lựa không? Chúng ta có thể nói rằng có. Người ta có thể chọn những hình ảnh mà mình nuôi dưỡng. Chúng ta không nhất thiết chỉ tiếp nhận bất cứ điều gì xuất hiện trong trí. Sự tưởng tượng (như được trình bày ở đây) dường như là sự tưởng tượng được rèn luyện. Nó không phải là “sự tưởng tượng chủ động” (một kỹ thuật tâm lý học) có thể đi bất cứ đâu, tiếp nhận bất kỳ hình ảnh nào, và được phép làm như vậy.
9. Through mental discrimination we distinguish one thought from another, one thing from another. Through imagination, we distinguish the different objects of desire. We imagistically discriminate between that which is desired and that which is not.
9. Qua sự phân biện trí tuệ, chúng ta phân biệt tư tưởng này với tư tưởng khác, vật này với vật khác. Qua sự tưởng tượng, chúng ta phân biệt các đối tượng khác nhau của dục vọng. Chúng ta bằng hình ảnh phân biện giữa điều được ham muốn và điều không được ham muốn.
10. A disciplined imagination can be selective just as is mental discrimination. We allow images to form only in accordance with an energy stream to which we given internal assent. All other streams are rebuffed before images can form.
10. Một sự tưởng tượng được rèn luyện có thể có tính chọn lọc cũng như sự phân biện trí tuệ. Chúng ta chỉ cho phép các hình ảnh hình thành phù hợp với một dòng năng lượng mà chúng ta đã nội tâm chấp thuận. Mọi dòng khác đều bị đẩy lui trước khi hình ảnh có thể hình thành.
11. The main point is that imagination need not be unguided and helplessly at the service of simply any energy stream. Every time we guide the imagination creatively, we choose to allow the image-making faculty to respond to a particular energy stream and not to another. There is an internal sensitivity (probably astral) which determines that to which we allow the image-making faculty to respond.
11. Điểm chính là sự tưởng tượng không nhất thiết phải không được hướng dẫn và bất lực phục vụ cho đơn giản là bất kỳ dòng năng lượng nào. Mỗi khi chúng ta hướng dẫn sự tưởng tượng một cách sáng tạo, chúng ta chọn cho phép năng lực tạo hình ảnh đáp ứng với một dòng năng lượng nhất định chứ không phải dòng khác. Có một sự nhạy cảm nội tại (có lẽ là cảm dục) quyết định điều mà chúng ta cho phép năng lực tạo hình ảnh đáp ứng.
12. We are given a developmental sequence: imagination – mental discrimination – intuition.
12. Chúng ta được trao cho một chuỗi phát triển: sự tưởng tượng – sự phân biện trí tuệ – trực giác.
13. Imagination, as we are seeing, can conform to different energies. In the process of antahkarana-building the imagination is to reflect or conform to buddhic impulse.
13. Như chúng ta đang thấy, sự tưởng tượng có thể phù hợp với những năng lượng khác nhau. Trong tiến trình xây dựng antahkarana, sự tưởng tượng phải phản chiếu hay phù hợp với xung lực Bồ đề.
14. From VSK: “Note that the science of the Antahkarana is listed in R&I as a second ray presentation, a book in two parts, with a title in two parts—‘antah’ and ‘karana’. These divisions reflect the double dual wheels of this second system within its internal and external structure as the fifth part of a Treatise on the Seven Rays, and culminating treatise.”
14. Từ VSK: “Lưu ý rằng khoa học về Antahkarana được liệt kê trong R&I như một trình bày cung hai, một cuốn sách gồm hai phần, với một nhan đề gồm hai phần—‘antah’ và ‘karana’. Những phân chia này phản ánh các bánh xe nhị nguyên kép của hệ thống thứ hai này trong cấu trúc nội tại và ngoại tại của nó như phần thứ năm của một bộ Luận về Bảy Cung, và là bộ luận kết thúc.”
All teachers, who have taken pupils in hand for training, and who seek to use them in world service, follow the method of imparting a fact (oft veiled in words and blinded by symbol) and then of leaving the pupil to follow his own deductions.
Tất cả các huấn sư, những người đã nhận học trò để huấn luyện, và tìm cách sử dụng họ trong việc phụng sự thế gian, đều theo phương pháp truyền đạt một sự kiện (thường được che phủ trong ngôn từ và làm mù đi bởi biểu tượng) rồi để học trò tự theo đuổi những suy diễn của mình.
15. This is the older method of giving hints. Later when He wrote DINA II, DK spoke of the newer method:
15. Đây là phương pháp cũ để đưa ra những gợi ý. Về sau khi Ngài viết DINA II, Chân sư DK đã nói về phương pháp mới hơn:
“Today, this method is no longer being used, and this change constitutes one of the modes of training the disciples of the New Age. The modern disciple has to recognise the hint which is related to his point in consciousness and which is to be found in the mass of instruction made available for his use. He has to seek for the—to him—most deeply esoteric statement he encounters in the current teaching; from this isolated hint he has to abstract the significance, after removing it from its context; later, he must learn and profit from its meaning.” (DINA I 319)
“Ngày nay, phương pháp này không còn được sử dụng nữa, và sự thay đổi này tạo thành một trong những phương thức huấn luyện các đệ tử của Kỷ Nguyên Mới. Đệ tử hiện đại phải nhận ra gợi ý có liên hệ với điểm tâm thức của mình và có thể được tìm thấy trong khối lượng giáo huấn được cung cấp để y sử dụng. Y phải tìm kiếm phát biểu—đối với y—huyền bí sâu xa nhất mà y gặp trong giáo huấn hiện thời; từ gợi ý cô lập này y phải rút ra thâm nghĩa, sau khi tách nó ra khỏi văn cảnh của nó; về sau, y phải học hỏi và thu lợi từ ý nghĩa của nó.” (DINA I 319)
Discrimination is thereby developed, and discrimination is the main method whereby the Spirit effects its liberation from the trammels of matter, and discerns between illusion and that which is veiled by it.
Nhờ đó sự phân biện được phát triển, và sự phân biện là phương pháp chính nhờ đó tinh thần thực hiện sự giải thoát của nó khỏi những trói buộc của vật chất, và phân biện giữa ảo tưởng và điều bị nó che phủ.
16. Discrimination is the method by which one separates the real from the unreal.
16. Sự phân biện là phương pháp nhờ đó người ta tách cái thực ra khỏi cái không thực.
17. Those who are intent on liberation cannot ignore the potency of the mind—the great discriminator.
17. Những ai chuyên chú vào sự giải thoát không thể bỏ qua năng lực của trí tuệ—đấng phân biện vĩ đại.
18. In that way imagination is similar; it helps one recognize the truth.
18. Theo cách đó, sự tưởng tượng cũng tương tự; nó giúp người ta nhận ra chân lý.
19. Through discrimination, we move from the real to the unreal. It is the method utilized at the fourth initiation under the influence of Mercury (buddhi) and Saturn (the mind, under the third ray—the “Divine Separator” and “Discriminating Essential Life” EP I 68)
19. Qua sự phân biện, chúng ta đi từ cái thực đến cái không thực. Đó là phương pháp được sử dụng ở lần điểm đạo thứ tư dưới ảnh hưởng của Sao Thủy (Bồ đề) và Sao Thổ (trí tuệ, dưới cung ba—“Đấng Phân Ly Thiêng Liêng” và “Sự Sống Cốt Yếu Phân Biện” EP I 68)
20. This was also the method of the great Sage Shankara, Who (a “Sixth Rounder” like the Buddha”) trained those who were Arhats (as did the Buddha) and utilized the planets Mercury and Saturn to discriminate the real from the unreal.
20. Đây cũng là phương pháp của Đại Hiền Triết Shankara, Đấng (một “Người của Cuộc Tuần Hoàn thứ sáu” như Đức Phật) đã huấn luyện những người là A La Hán (như Đức Phật đã làm) và sử dụng các hành tinh Sao Thủy và Sao Thổ để phân biện cái thực với cái không thực.
21. What is that which is veiled by illusion? Shall we call it buddhi, pure reason, the intuition? This faculty is revealed in a new way at the fourth initiation.
21. Điều gì là cái bị ảo tưởng che phủ? Chúng ta có nên gọi nó là Bồ đề, lý trí thuần túy, trực giác không? Năng lực này được mặc khải theo một cách mới ở lần điểm đạo thứ tư.
Not much can be here imparted, as the subject, if dealt with at all fully, would convey too much information to those liable to misuse it.
Không thể truyền đạt nhiều ở đây, vì chủ đề này, nếu được bàn đến đầy đủ, sẽ chuyển tải quá nhiều thông tin cho những người có thể lạm dụng nó.
22. Those liable to misuse it are just about everybody. Do we share HPB’s assessment that until a man has taken the fourth degree he is an unconscious black magician?
22. Những người có thể lạm dụng nó hầu như là tất cả mọi người. Chúng ta có chia sẻ đánh giá của HPB rằng cho đến khi một người đã nhận điểm đạo bậc bốn thì y là một nhà hắc thuật vô thức không?
As we know, the evolution of the centres is a slow and gradual thing, and proceeds in ordered cycles varying according to the ray of a man's Monad.
Như chúng ta biết, sự tiến hoá của các trung tâm là một điều chậm chạp và tuần tự, và tiến hành theo những chu kỳ có trật tự, thay đổi tùy theo cung chân thần của một người.
23. The cycles are cycles of unfoldment and attainment, and they do not occur for all monadic types at the same time, in the same sequence and for the same duration.
23. Các chu kỳ ấy là những chu kỳ khai mở và thành tựu, và chúng không xảy ra cho mọi loại chân thần cùng một lúc, theo cùng một trình tự và trong cùng một thời lượng.
24. There are generalities that apply to all monadic types, and specificities that distinguish them.
24. Có những điểm tổng quát áp dụng cho mọi loại chân thần, và những điểm đặc thù phân biệt chúng.
25. Why might it be that the evolution of centres accords to monadic cycles, and not, alternatively, to egoic or solar, or personality cycles?
25. Vì sao có thể là sự tiến hoá của các trung tâm lại phù hợp với các chu kỳ chân thần, chứ không phải, thay vào đó, với các chu kỳ chân ngã hay thái dương, hay phàm ngã?
26. It is at this time that we should remember that the chakras are basically extensions of monadic power, electric fire. This we have been studying. No matter the extent to which they appear in fields ‘lower’ than the Monad, they derive from the power of the Monad and are directly connected to the Monad and its ray type.
26. Chính vào lúc này chúng ta nên nhớ rằng các chakra về căn bản là những sự mở rộng của quyền năng chân thần, Lửa Điện. Đây là điều chúng ta đã nghiên cứu. Dù chúng xuất hiện đến mức nào trong những trường “thấp hơn” chân thần, chúng vẫn phát sinh từ quyền năng của chân thần và được nối kết trực tiếp với chân thần và loại cung của nó.
[Page 174]
[Page 174]
The life of the Pilgrim can be, for purposes of discussion, divided into three main periods:
Đời sống của Người Hành Hương có thể, vì mục đích thảo luận, được chia thành ba thời kỳ chính:
27. The Jiva is the pilgrim, and the Prodigal Son.
27. Jiva là người hành hương, và là Đứa Con Hoang Đàng.
28. The Jiva is the ‘Monad-in-extension’.
28. Jiva là ‘Chân Thần-trong-sự-mở-rộng’.
1. That period wherein he is under the influence of the Personality Ray.
1. Thời kỳ mà y ở dưới ảnh hưởng của cung phàm ngã.
29. This period accords with the control of the third aspect of divinity.
29. Thời kỳ này tương ứng với sự kiểm soát của phương diện thứ ba của thiên tính.
2. That wherein he comes under the Ray of the Ego.
2. Thời kỳ mà y đi vào dưới cung của chân ngã.
30. This period accords with the control of the second aspect.
30. Thời kỳ này tương ứng với sự kiểm soát của phương diện thứ hai.
31. Though this period of development seems longer than the next, it is really shorter overall, lasting some tens of lives.
31. Dù thời kỳ phát triển này dường như dài hơn thời kỳ kế tiếp, nhưng xét tổng thể nó thực ra ngắn hơn, kéo dài vài chục kiếp sống.
3. That wherein the Monadic Ray holds sway.
3. Thời kỳ mà cung chân thần nắm quyền chi phối.
32. This period, the shortest from the human point of view (though longest from the perspective of post-human development) accords with the control of the first divine aspect.
32. Thời kỳ này, ngắn nhất theo quan điểm con người (dù dài nhất theo viễn tượng phát triển hậu nhân loại), tương ứng với sự kiểm soát của phương diện thiêng liêng thứ nhất.
The first period is by far the longest, and covers the vast progression of the centuries wherein the activity aspect of the threefold self is being developed.
Thời kỳ thứ nhất dài hơn hẳn, và bao trùm sự tiến triển rộng lớn qua nhiều thế kỷ, trong đó phương diện hoạt động của phàm ngã tam phân đang được phát triển.
33. Most often it appears that the first part of any developmental cycle is longest. So it is for both stars and men.
33. Thông thường nhất, có vẻ như phần đầu của bất kỳ chu kỳ phát triển nào cũng dài nhất. Điều này đúng cho cả các ngôi sao lẫn con người.
34. We note the use of the word “centuries” but, perhaps, millennia would be a more representative unit of time.
34. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “nhiều thế kỷ”, nhưng có lẽ nhiều thiên niên kỷ sẽ là một đơn vị thời gian tiêu biểu hơn.
35. May we say that the first period of development may last in excess of twenty-one million years, as there are many today who individualized on the Earth-chain’s fourth round, some twenty-one million years ago, who have not yet reached the stage of coming under the Ray of the Ego. For some another million or two years may be needed. But, today, events are moving so fast that unparalleled development may be a possibility.
35. Chúng ta có thể nói rằng thời kỳ phát triển thứ nhất có thể kéo dài hơn hai mươi mốt triệu năm, vì hiện nay có nhiều người đã biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn thứ tư của Dãy Địa Cầu, khoảng hai mươi mốt triệu năm trước, mà vẫn chưa đạt đến giai đoạn đi vào dưới cung của chân ngã. Với một số người khác, có thể còn cần thêm một hay hai triệu năm nữa. Nhưng ngày nay, các biến cố đang diễn ra quá nhanh đến nỗi một sự phát triển chưa từng có có thể là điều khả hữu.
Life after life slips away during which the aspect of manas or mind is being slowly wrought out, and the human being comes more and more under the control of his intellect, operating through his physical brain.
Kiếp này qua kiếp khác trôi qua, trong đó phương diện manas hay trí tuệ đang dần dần được triển khai, và con người ngày càng đi vào dưới sự kiểm soát của trí năng của mình, hoạt động qua bộ não hồng trần.
36. This is the stage which culminates with the unfoldment of the third petal of the egoic lotus—the sacrifice petal of the knowledge tier.
36. Đây là giai đoạn lên đến đỉnh điểm với sự khai mở của cánh hoa thứ ba của Hoa Sen Chân Ngã—cánh hoa hi sinh của tầng tri thức.
37. Think of the vast perspective which makes meaningful the phrase “life after life slips away”.
37. Hãy nghĩ đến viễn cảnh bao la khiến cho cụm từ “kiếp này qua kiếp khác trôi đi” trở nên đầy ý nghĩa.
38. The initiate’s entire sense of time is altered from what it was when he was an average human being or even a disciple.
38. Toàn bộ ý thức về thời gian của điểm đạo đồ bị biến đổi so với khi y còn là một con người trung bình hay ngay cả một đệ tử.
This might be looked upon as corresponding to the period of the first solar system, wherein the third aspect logoic, that of Brahma, Mind, or Intelligence, was being brought to the point of achievement.74
Điều này có thể được xem như tương ứng với thời kỳ của hệ mặt trời thứ nhất, trong đó phương diện thứ ba của Thượng đế, tức Brahma, Trí Tuệ, hay Thông Tuệ, đang được đưa đến điểm thành tựu.74
39. The stage of mental development corresponds to the major process of the first solar system.
39. Giai đoạn phát triển trí tuệ tương ứng với tiến trình lớn của hệ mặt trời thứ nhất.
40. Still more accurately, we might also call the process of that solar system the stage of ‘personality development’ for the Solar Logos. Of course, true personality development necessitates mental development.
40. Chính xác hơn nữa, chúng ta cũng có thể gọi tiến trình của hệ mặt trời ấy là giai đoạn “phát triển phàm ngã” đối với Thái dương Thượng đế. Dĩ nhiên, sự phát triển phàm ngã đích thực đòi hỏi sự phát triển trí tuệ.
74:"When the last cycle of man-bearing has been completed by that last fecund earth; and humanity has reached in a mass the stage of Buddhahood and passed out of the objective existence into the mystery of Nirvana—
74:"Khi chu kỳ cuối cùng của sự mang nhân loại đã được hoàn tất bởi địa cầu phì nhiêu cuối cùng ấy; và nhân loại, trong toàn thể, đã đạt đến giai đoạn Phật quả và vượt ra khỏi sự tồn tại khách quan để đi vào huyền nhiệm của Niết Bàn—
41. Shall the mysteries of Nirvana be realized at the fifth initiation, since the atmic plane (so focal for the fifth degree initiate) is called the “nirvanic plane”? (TCF 164)
41. Phải chăng những huyền nhiệm của Niết Bàn được chứng nghiệm ở lần điểm đạo thứ năm, vì cõi atma (rất là tiêu điểm đối với điểm đạo đồ cấp năm) được gọi là “cõi Niết Bàn”? (TCF 164)
then "strikes the hour"; the seen becomes the unseen, the concrete resumes its pre-cyclic state of atomic distribution.
thì “giờ điểm” vang lên; cái được thấy trở thành cái không được thấy, cái cụ thể trở lại trạng thái tiền chu kỳ của sự phân bố nguyên tử.
42. We are speaking here of relative pralayas, otherwise nothing would remain—even the “pre-cyclic state of atomic distribution”.
42. Ở đây chúng ta đang nói về các giai kỳ qui nguyên tương đối, nếu không thì sẽ chẳng còn gì tồn tại—ngay cả “trạng thái tiền chu kỳ của sự phân bố nguyên tử”.
But the dead worlds left behind the onsweeping impulse do not continue dead. Motion is the eternal order of things and affinity or attraction its handmaid of all works. The thrill of life will again re-unite the atom, and it will stir again in the inert planet when the time comes.
Nhưng những thế giới chết bị bỏ lại phía sau xung lực quét tới ấy không tiếp tục chết. Chuyển động là trật tự vĩnh cửu của vạn vật và ái lực hay sức hút là nữ tỳ của nó trong mọi công việc. Sự rung động của sự sống sẽ lại tái hợp nguyên tử, và nó sẽ lại khuấy động trong hành tinh trơ lì khi thời điểm đến.
43. Perhaps we mean, “reunite the atom(s)” into forms, as even an inert planet must be composed of atoms.
43. Có lẽ điều được muốn nói là “tái hợp nguyên tử” thành các hình tướng, vì ngay cả một hành tinh trơ lì cũng phải được cấu thành bởi các nguyên tử.
Though all its forces have remained statu quo and are now asleep, yet little by little it will—when the hour re-strikes—gather for a new cycle of man-bearing maternity, and give birth to something still higher as moral and physical types than during the preceding manvantara.
Dù mọi mãnh lực của nó vẫn giữ nguyên statu quo và hiện đang ngủ yên, nhưng từng chút một nó sẽ—khi giờ lại điểm—tập hợp cho một chu kỳ mới của sự mang thai nhân loại, và sinh ra một điều gì đó còn cao hơn về các kiểu mẫu đạo đức và thể chất so với trong manvantara trước.
44. Here is where the term “manvantara” is appropriate (no matter what its actual duration). We have noted that the term “mahamanvantara” (an “occult century”) and “manvantara” (a day of Brahma) must not be confused, though the distinction, it seems, is not always kept.
44. Đây là chỗ thuật ngữ “manvantara” thích hợp (bất kể thời lượng thực sự của nó là bao lâu). Chúng ta đã lưu ý rằng thuật ngữ “mahamanvantara” (một “thế kỷ huyền bí”) và “manvantara” (một ngày của Brahma) không được nhầm lẫn với nhau, dù dường như sự phân biệt này không phải lúc nào cũng được giữ vững.
45. The sign Libra conveys the energy of the “status quo”, and is a sign much related to consummation and, thus, pralaya. Pisces is another such sign. Interestingly, in relation to both these signs, Venus is powerful. Venus connotes the power of harmonization that precedes dissolution.
45. Dấu hiệu Thiên Bình truyền đạt năng lượng của “trạng thái giữ nguyên”, và là một dấu hiệu liên hệ nhiều với sự hoàn tất và do đó với giai kỳ qui nguyên. Song Ngư là một dấu hiệu khác như vậy. Điều thú vị là, trong liên hệ với cả hai dấu hiệu này, Sao Kim đều mạnh. Sao Kim hàm ý quyền năng điều hòa đi trước sự tan rã.
And its "cosmic atoms already in a differentiated state" (differing—in the producing force in the mechanical sense of motions and effects) remain statu quo as well as globes and everything else in the process of formation."
Và các “nguyên tử vũ trụ đã ở trong một trạng thái biến phân” của nó (khác nhau—trong mãnh lực sản sinh theo nghĩa cơ học của các chuyển động và hiệu quả) cũng vẫn giữ nguyên statu quo, cũng như các bầu hành tinh và mọi thứ khác trong tiến trình hình thành."
46. We are not talking about ‘absolute pralaya’ (the ‘Maha-Pralaya’ which dissolves the entirety of cosmos—objective and subjective).
46. Chúng ta không nói về “giai kỳ qui nguyên tuyệt đối” (tức “Maha-Pralaya” làm tan rã toàn thể vũ trụ—khách quan và chủ quan).
47. A return to the state of non-differentiation (Mulaprakriti) is a penultimate stage and does not refer to the type of pralayas here discussed.
47. Sự trở về trạng thái không biến phân (Mulaprakriti) là một giai đoạn áp chót và không chỉ đến loại giai kỳ qui nguyên đang được bàn đến ở đây.
Such is the "hypothesis fully in accordance with (your) (my) note."
Đó là “giả thuyết hoàn toàn phù hợp với âm điệu của (bạn) (tôi).”
For, as planetary development is as progressive as human or race evolution, the hour of the Pralaya's coming catches the series of worlds at successive stages of evolution; (i.e.) each has attained to some one of the periods of evolutionary progress—each stops there, until the outward impulse of the next manvantara sets it going from that very point—like a stopped time-piece re-wound. Therefore, I have used the word "differentiated."
Vì, cũng như sự phát triển hành tinh tiến bộ như sự tiến hoá của con người hay của nhân loại, giờ đến của giai kỳ qui nguyên bắt gặp chuỗi thế giới ở những giai đoạn tiến hoá kế tiếp nhau; (nghĩa là) mỗi thế giới đã đạt đến một thời kỳ nào đó của tiến trình tiến hoá—mỗi thế giới dừng lại ở đó, cho đến khi xung lực bên ngoài của manvantara kế tiếp làm nó vận hành trở lại từ chính điểm ấy—như một chiếc đồng hồ ngừng được lên dây lại. Vì vậy, tôi đã dùng từ “biến phân.”
48. That achieved differentiation is not destroyed by a minor pralaya (such as a solar systemic pralaya, or even a constellational or super-constellational pralaya).
48. Sự biến phân đã đạt được ấy không bị hủy diệt bởi một giai kỳ qui nguyên nhỏ (chẳng hạn như một giai kỳ qui nguyên của hệ mặt trời, hay thậm chí một giai kỳ qui nguyên của chòm sao hoặc siêu chòm sao).
49. In studying TCF we realize that the term “atom” can refer to units great and small. Here, the term relates to the tiny units comprising the vehicles of each of the Planetary Logoi, whose evolution has been interrupted like “stopped time-piece(s)”.
49. Khi nghiên cứu Luận về Lửa Vũ Trụ, chúng ta nhận ra rằng thuật ngữ “nguyên tử” có thể chỉ những đơn vị lớn và nhỏ. Ở đây, thuật ngữ này liên hệ đến những đơn vị cực nhỏ cấu thành các vận cụ của mỗi Hành Tinh Thượng Đế, mà sự tiến hoá của các Ngài đã bị gián đoạn như những “chiếc đồng hồ ngừng”.
50. What is said here of planetary development is true of our lives as well. There is no true finishing of the process. All lesser lives are interrupted in their development by pralaya. The main question is: “How much of the cyclic-intention for a particular incarnation was fulfilled when the irresistible moment of death came?”
50. Điều được nói ở đây về sự phát triển hành tinh cũng đúng với đời sống của chúng ta. Không có sự hoàn tất thực sự nào của tiến trình. Mọi sự sống nhỏ hơn đều bị gián đoạn trong sự phát triển của chúng bởi giai kỳ qui nguyên. Câu hỏi chính là: “Bao nhiêu phần của ý định chu kỳ dành cho một lần lâm phàm nhất định đã được hoàn thành khi khoảnh khắc không thể cưỡng lại của cái chết đến?”
51. We must submit to this cosmic ritual; “Rome was not built in a day.” Even a solar system requires far more than a “day of Brahma” for its completion.
51. Chúng ta phải thuận theo nghi lễ vũ trụ này; “La Mã không được xây trong một ngày.” Ngay cả một hệ mặt trời cũng cần nhiều hơn rất xa một “ngày của Brahma” để hoàn tất.
At the coming of the Pralaya no human, animal, or even vegetable entity will be alive to see it, but there will be the earths or globes with their mineral kingdoms; and all these planets will be physically disintegrated in the pralaya, yet not destroyed;
Khi giai kỳ qui nguyên đến, sẽ không có thực thể nhân loại, động vật, hay ngay cả thực vật nào còn sống để chứng kiến nó, nhưng sẽ có các địa cầu hay các bầu hành tinh với các giới kim thạch của chúng; và tất cả các hành tinh này sẽ bị phân rã về mặt hồng trần trong giai kỳ qui nguyên, nhưng không bị hủy diệt;
52. This is the point to realize: “physically disintegrated but not destroyed”.
52. Đây là điểm cần chứng nghiệm: “bị phân rã về mặt hồng trần nhưng không bị hủy diệt”.
53. The final universal pralaya includes all in the swath of its destruction.
53. Giai kỳ qui nguyên phổ quát cuối cùng bao gồm tất cả trong làn quét hủy diệt của nó.
for they have their places in the sequence of evolution and their "privations" coming again out of the subjective, they will find the exact point from which they have to move on around the chain of "manifested forms."
vì chúng có vị trí của mình trong trình tự tiến hoá và các "privations" của chúng, khi lại đi ra từ cõi chủ quan, sẽ tìm thấy chính xác điểm mà từ đó chúng phải tiếp tục vận động quanh dãy của “các hình tướng biểu hiện.”
54. The term “privations” is important. A privation is an abstracted energy with formative powers. An abstracted essence is still potent though deprived of its customary vehicles of manifestation.
54. Thuật ngữ “privations” rất quan trọng. Một privation là một năng lượng được rút trừu tượng có các quyền năng tạo hình. Một tinh chất được rút trừu tượng vẫn còn mạnh mẽ dù bị tước mất các vận cụ biểu hiện thông thường của nó.
55. Evolution is precisely sequential and there are no skipped steps.
55. Tiến hoá chính xác là tuần tự và không có bước nào bị bỏ qua.
This, as you know, is repeated endlessly throughout Eternity.
Điều này, như bạn biết, được lặp lại vô tận suốt Vĩnh Cửu.
56. What is the type of “Eternity” here meant? Yet, on one level or another, I believe it is correct to say “endlessly throughout Eternity” even if that eternity is Endless Duration.
56. “Vĩnh Cửu” ở đây được muốn nói là loại nào? Tuy vậy, ở cấp độ này hay cấp độ khác, tôi tin rằng nói “vô tận suốt Vĩnh Cửu” là đúng, ngay cả nếu vĩnh cửu ấy là Thời Lượng Vô Tận.
57. The ABSOLUTE, ITSELF, is a ‘PRIVATION’—the ULTIMATE PRIVATION.
57. BẢN THỂ TUYỆT ĐỐI, TỰ NÓ, là một ‘PRIVATION’—PRIVATION TỐI HẬU.
58. And will there be continuity, such that the ‘Privation’ (abstracted at the “Day be with Us”) of the entirety of cosmos will re-grasp (at the dawn of the next universe) vehicles of expression in the state they had achieved in the past universe? I do not think so. All is new. For the reasoning involved, please see Infinitization of Selfhood.
58. Và liệu có sự liên tục chăng, đến mức ‘Privation’ (được rút trừu tượng vào “Ngày ở cùng Chúng Ta”) của toàn thể vũ trụ sẽ nắm lại (vào bình minh của vũ trụ kế tiếp) các vận cụ biểu hiện trong trạng thái mà chúng đã đạt được trong vũ trụ trước? Tôi không nghĩ vậy. Mọi sự đều mới. Về lập luận liên quan, xin xem Sự Vô Hạn Hóa của Tự Tính.
Each man of us has gone this ceaseless round, and will repeat it forever and ever.
Mỗi chúng ta, với tư cách con người, đã đi qua vòng quay không ngừng này, và sẽ lặp lại nó mãi mãi không thôi.
59. Though not as “man” per se. By the time the universal pralaya for this cosmos sets in, there will be no man.
59. Tuy nhiên không phải là với tư cách “con người” chính nó. Vào lúc giai kỳ qui nguyên phổ quát của vũ trụ này khởi sự, sẽ không còn con người nữa.
The deviation of each one's course, and his rate of progress from Nirvana to Nirvana is governed by causes which he himself creates out of the exigencies in which he finds himself entangled."—From The Mahatma Letters to A. P. Sinnett, p. 6
Sự lệch hướng trong lộ trình của mỗi người, và tốc độ tiến bộ của y từ Niết Bàn này đến Niết Bàn khác, được chi phối bởi những nguyên nhân mà chính y tạo ra từ những đòi hỏi cấp bách trong đó y thấy mình bị vướng mắc."—Trích từ The Mahatma Letters to A. P. Sinnett, tr. 6
60. Fascinating concept—“from Nirvana to Nirvana”. Nirvana is a relative term, and even the Solar Logos, and Beings far beyond, experience higher correspondences to Nirvana. The Nirvana of the Universal Logos ends His universe!
60. Một khái niệm thật hấp dẫn—“từ Niết Bàn đến Niết Bàn”. Niết Bàn là một thuật ngữ tương đối, và ngay cả Thái dương Thượng đế, cùng những Hữu Thể vượt xa hơn nữa, cũng kinh nghiệm những tương ứng cao hơn của Niết Bàn. Niết Bàn của Thượng đế Vũ Trụ chấm dứt vũ trụ của Ngài!
Then the second aspect began in [Page 175] this present solar system to be blended with, and wrought out through it.
Rồi phương diện thứ hai bắt đầu trong [Page 175] hệ mặt trời hiện tại này được hòa trộn với phương diện ấy, và được triển khai thông qua nó.
61. Our second solar system is the system of Love-Wisdom. It is really the fifth solar system, but the second major solar system of our particular Solar Logos.
61. Hệ mặt trời thứ hai của chúng ta là hệ của Bác Ái – Minh Triết. Thực ra đó là hệ mặt trời thứ năm, nhưng là hệ mặt trời chính yếu thứ hai của Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta.
62. The second aspect wrought through the third aspect.
62. Phương diện thứ hai được triển khai thông qua phương diện thứ ba.
Centuries go by and the man becomes ever more actively intelligent, and the field of his life more suitable for the coming in of this second aspect.
Nhiều thế kỷ trôi qua và con người trở nên ngày càng thông tuệ linh hoạt hơn, và lĩnh vực đời sống của y ngày càng thích hợp hơn cho sự đi vào của phương diện thứ hai này.
63. The second aspect thrives in a more illumined atmosphere. Light is the forerunner of Love-Wisdom.
63. Phương diện thứ hai phát triển mạnh trong một bầu khí quyển được soi sáng hơn. Ánh sáng là tiền đạo của Bác Ái – Minh Triết.
The correspondence lies in similitude and not in detail as seen in time and space. It covers the period of the first three triangles dealt with earlier.
Sự tương ứng nằm trong tính tương tự chứ không nằm trong chi tiết như được thấy trong thời gian và không gian. Nó bao trùm thời kỳ của ba tam giác đầu tiên đã được bàn đến trước đây.
64. We are speaking of the slow incoming of the second aspect and its demonstration through the third.
64. Chúng ta đang nói về sự đi vào chậm chạp của phương diện thứ hai và sự biểu lộ của nó thông qua phương diện thứ ba.
65. The three triangles mentioned are:
65. Ba tam giác được nhắc đến là:
1. The pranic triangle.
1. Tam giác prana.
a. The shoulder centre.
a. Trung tâm vai.
b. The centre near the diaphragm.
b. Trung tâm gần cơ hoành.
c. The spleen.
c. Lá lách.
2. Man controlled from the astral plane.
2. Con người được kiểm soát từ cõi cảm dục.
a. The base of the spine.
a. Đáy cột sống.
b. The solar plexus.
b. Tùng thái dương.
c. The heart.
c. Tim.
3. Man controlled from the mental plane.
3. Con người được kiểm soát từ cõi trí.
a. The base of the spine.
a. Đáy cột sống.
b. The heart.
b. Tim.
c. The throat.
c. Cổ họng.
66. This first period connected with third ray takes place as the three outer petals are unfolded—the Knowledge Tier. However, the first period cannot be limited to the unfoldment of those petals only, for the fourth petal is still, in a sense, lunar, and even if it is considered a “love petal”, does not yet correlate with the emergence of the solar factor in the life of the human being.
66. Thời kỳ đầu tiên này gắn với cung ba diễn ra khi ba cánh hoa bên ngoài được khai mở—Tầng Tri Thức. Tuy nhiên, thời kỳ đầu tiên không thể chỉ giới hạn vào sự khai mở của riêng các cánh hoa ấy, vì cánh hoa thứ tư vẫn, theo một nghĩa nào đó, thuộc về nguyệt tính, và dù được xem là một “cánh hoa bác ái”, vẫn chưa tương ứng với sự xuất hiện của yếu tố thái dương trong đời sống con người.
67. The fifth petal, as well, may have much in it that is strictly personal and, thus, lunar.
67. Cánh hoa thứ năm cũng vậy, có thể chứa nhiều điều hoàn toàn mang tính cá nhân và do đó mang tính nguyệt tính.
68. Personality development occurs at the fourth and fifth petal and a personality has its point of control on the lower mental plane.
68. Sự phát triển phàm ngã xảy ra ở cánh hoa thứ tư và thứ năm, và một phàm ngã có điểm kiểm soát của nó trên cõi hạ trí.
69. The heart center is involved in these first three stages which finally evidence a growing intelligence, but it is necessarily the third aspect of the heart center and concerns the gradual lessening of desire and selfishness as they slowly give way to a more socially responsible attitude.
69. Trung tâm tim có liên quan trong ba giai đoạn đầu này, những giai đoạn cuối cùng biểu lộ một trí tuệ đang tăng trưởng, nhưng tất yếu đó là phương diện thứ ba của trung tâm tim và liên quan đến sự giảm dần của dục vọng và tính ích kỷ khi chúng từ từ nhường chỗ cho một thái độ có trách nhiệm xã hội hơn.
We must not forget that, for the sake of clarity, we are here differentiating between the different aspects, and considering their separated development, a thing only permissible in time and space or during the evolutionary process, but not permissible from the standpoint of the Eternal Now, and from the Unity of the All-Self.
Chúng ta không được quên rằng, vì mục đích làm sáng tỏ, ở đây chúng ta đang phân biệt giữa các phương diện khác nhau, và xem xét sự phát triển tách biệt của chúng, điều chỉ được phép trong thời gian và không gian hay trong tiến trình tiến hoá, nhưng không được phép từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, và từ Hợp Nhất của Đại Ngã.
70. The mind separates and divides in order to create the kind of clarity it can manage. The truth of evolutionary process is a story of merging, blending and overlapping which can only justly be apprehended by the intuition which is synthetic in its grasp.
70. Thể trí tách biệt và phân chia để tạo ra loại sáng tỏ mà nó có thể xử lý được. Chân lý của tiến trình tiến hoá là một câu chuyện của sự hòa nhập, hòa trộn và chồng lấn, chỉ có thể được trực giác—vốn có tính tổng hợp trong sự nắm bắt của nó—lĩnh hội một cách đúng đắn.
71. The third degree initiate lives in the Eternal and knows the Self as One. We see in the section above how these two factors go together—the “Eternal Now” and the “Unity of the All Self”.
71. Điểm đạo đồ cấp ba sống trong Vĩnh Cửu và biết Bản Ngã là Một. Chúng ta thấy trong đoạn trên hai yếu tố này đi cùng nhau như thế nào—“Hiện Tại Vĩnh Cửu” và “Hợp Nhất của Đại Ngã”.
The Vishnu or the Love-Wisdom aspect is latent in the Self, and is part of the monadic content, but the Brahma aspect, the Activity-Intelligence aspect precedes its manifestation in time.
Phương diện Vishnu hay phương diện Bác Ái – Minh Triết tiềm tàng trong Bản Ngã, và là một phần của nội dung chân thần, nhưng phương diện Brahma, phương diện Hoạt Động–Thông Tuệ, đi trước sự biểu hiện của nó trong thời gian.
72. The three major divine aspects are all part of the “monadic content” as are the four rays of attribute and their qualities.
72. Ba phương diện thiêng liêng chính yếu đều là một phần của “nội dung chân thần”, cũng như bốn cung thuộc tính và các phẩm tính của chúng.
73. That which is latent is inherent though, as yet, unexpressed. The Purpose substanding the Fixed Design controls the ‘moment of release into objectivity’ for various divine aspects and qualities.
73. Điều tiềm tàng là điều vốn có sẵn dù chưa được biểu lộ. Thiên Ý nâng đỡ Thiết Kế Cố Định kiểm soát “khoảnh khắc giải phóng vào tính khách quan” đối với các phương diện và phẩm tính thiêng liêng khác nhau.
The Tabernacle in the Wilderness preceded the building of the Temple of Solomon; the kernel of wheat has to lie in the darkness of mother Earth before the golden perfected ear can be seen, and the Lotus has to cast its roots down into the mud before the beauty of the blossom can be produced.
Nhà Tạm trong Hoang Địa đi trước việc xây dựng Đền Thờ Solomon; hạt lúa mì phải nằm trong bóng tối của mẹ Trái Đất trước khi bông lúa vàng óng hoàn hảo có thể được nhìn thấy, và Hoa sen phải cắm rễ xuống bùn trước khi vẻ đẹp của đóa hoa có thể được tạo ra.
74. The Tibetan presents in allegory the story of the emergence of the second aspect from the third.
74. Chân sư Tây Tạng trình bày bằng ẩn dụ câu chuyện về sự xuất hiện của phương diện thứ hai từ phương diện thứ ba.
75. The theme is Virgoan and describes the gestation of the second aspect ‘within’ a ‘lower’ aspect—the third.
75. Chủ đề này mang tính Xử Nữ và mô tả sự thai nghén của phương diện thứ hai “bên trong” một phương diện “thấp” hơn—phương diện thứ ba.
76. The normal habitation of our consciousness is a virtual “Tabernacle in the Wilderness” before it can be raised as the beautiful “Temple of Solomon”. The change from Tabernacle to Temple occurs as the consciousness disidentifies with the personality (which has been its imprisoning focus for millions of years) and gradually enters the grander and more beauteous ‘spaces’ of the higher mental plane (whereon the causal body, the Temple, is built”).
76. Nơi cư ngụ bình thường của tâm thức chúng ta là một “Nhà Tạm trong Hoang Địa” trên thực tế trước khi nó có thể được nâng lên thành “Đền Thờ Solomon” mỹ lệ. Sự thay đổi từ Nhà Tạm sang Đền Thờ xảy ra khi tâm thức thôi đồng hoá với phàm ngã (vốn đã là tiêu điểm giam hãm của nó suốt hàng triệu năm) và dần dần đi vào những “không gian” lớn lao và mỹ lệ hơn của Cõi thượng trí (nơi thể nguyên nhân, tức Đền Thờ, được xây dựng).
77. By the time this refocussing occurs, the Temple is becoming a thing of beauty.
77. Vào lúc sự tái tập trung này xảy ra, Đền Thờ đang trở thành một vật thể của vẻ đẹp.
78. We also note the contrast between the “kernel of wheat (corn)” and the “golden perfected ear”. Consciousness is buried in the matter/form of the lower three worlds before it ripens into full soul consciousness, now independent of its lower environment. The color “gold” or “golden” is frequently a symbol of the fulfillment of the consciousness aspect. The blazing Sun (yellow or golden yellow, and hence associated with buddhi) is the symbol of the Master who is a full member of the Kingdom of Souls.
78. Chúng ta cũng lưu ý sự tương phản giữa “hạt lúa mì” và “bông lúa vàng óng hoàn hảo”. Tâm thức bị chôn vùi trong vật chất/hình tướng của ba cõi thấp trước khi chín muồi thành tâm thức linh hồn trọn vẹn, nay độc lập với môi trường thấp của nó. Màu “vàng” hay “vàng óng” thường là biểu tượng của sự hoàn thành phương diện tâm thức. Mặt Trời rực cháy (vàng hay vàng kim, và do đó liên hệ với Bồ đề) là biểu tượng của Chân sư, Đấng là một thành viên trọn vẹn của Thiên Giới của các linh hồn.
79. The idea behind all these metaphors is that consciousness must be subjected for ages to matter/form before its full beauty can emerge. Consciousness cannot selfishly move on and away from the limitation; using the metaphor of the growth of the lotus, consciousness must root itself in the mud of material limitation in order to grow into the higher spaces—through and above the water, into the air and under the Sun.
79. Ý tưởng đằng sau tất cả những ẩn dụ này là tâm thức phải chịu sự chi phối của vật chất/hình tướng qua nhiều thời đại trước khi vẻ đẹp trọn vẹn của nó có thể xuất hiện. Tâm thức không thể ích kỷ tiến lên và rời xa sự giới hạn; dùng ẩn dụ về sự tăng trưởng của hoa sen, tâm thức phải cắm rễ vào bùn của sự giới hạn vật chất để tăng trưởng vào những không gian cao hơn—xuyên qua và vượt lên trên nước, vào không khí và dưới Mặt Trời.
The second period, wherein the egoic ray holds sway, is not so long comparatively; it covers the period wherein the fourth and fifth triangles are being vivified, and marks the lives wherein the man throws his forces on the side of evolution, disciplines his life, steps upon the Probationary Path, and continues up to the third Initiation.
Thời kỳ thứ hai, trong đó cung chân ngã nắm quyền chi phối, tương đối không dài bằng; nó bao trùm thời kỳ trong đó tam giác thứ tư và thứ năm được tiếp sinh lực, và đánh dấu những kiếp sống trong đó con người đặt các mãnh lực của mình về phía tiến hoá, kỷ luật hóa đời sống của mình, bước lên Con Đường Dự Bị, và tiếp tục cho đến lần điểm đạo thứ ba.
80. The phase here described takes us to the third initiation.
80. Giai đoạn được mô tả ở đây đưa chúng ta đến lần điểm đạo thứ ba.
81. We are dealing with the phase of egoic unfoldment and not of monadic demonstration. Even the sixth triangle concerns the unfoldment of the soul factor (partially through the higher Ego and partially through the spiritual triad—though in all truth, the higher Ego is the spiritual triad).
81. Chúng ta đang bàn đến giai đoạn khai mở chân ngã chứ không phải sự biểu lộ chân thần. Ngay cả tam giác thứ sáu cũng liên quan đến sự khai mở của yếu tố linh hồn (một phần thông qua chân ngã cao hơn và một phần thông qua Tam Nguyên Tinh Thần—dù thật ra, chân ngã cao hơn là Tam Nguyên Tinh Thần).
82. At the culmination of this phase, all nine petals of the egoic lotus will open.
82. Ở đỉnh điểm của giai đoạn này, cả chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã sẽ mở ra.
83. When does a man throw his forces on the side of evolution? This occurs during the opening of the love petals and especially the fifth and sixth petals, preceding the opening of the sacrifice tier (during which the taking of the “great manasic initiations” occur) (cf. TCF 869-870 for the contrast between the “great manasic initiations” and certain lesser, seldom recognized initiations characteristic of the human race).
83. Khi nào con người đặt các mãnh lực của mình về phía tiến hoá? Điều này xảy ra trong khi các cánh hoa bác ái mở ra, đặc biệt là cánh hoa thứ năm và thứ sáu, trước khi tầng hi sinh mở ra (trong thời gian đó diễn ra việc tiếp nhận các “điểm đạo manas lớn”) (xem TCF 869-870 để thấy sự tương phản giữa các “điểm đạo manas lớn” và một số điểm đạo nhỏ hơn, hiếm khi được nhận biết, đặc trưng cho nhân loại).
84. We may say that the treading of the Probationary Path is inseparable from the effort to discipline the life. The probationer is no longer simply giving in to the demands of the lunar vehicles but is attempting to have them conform to higher principles.
84. Chúng ta có thể nói rằng việc bước đi trên Con Đường Dự Bị không thể tách rời khỏi nỗ lực kỷ luật hóa đời sống. Người dự bị không còn đơn giản đầu hàng trước những đòi hỏi của các vận cụ nguyệt tính mà đang cố gắng làm cho chúng phù hợp với các nguyên khí cao hơn.
85. The fourth a fifth triangles are listed below as a reminder. We studied them closely in a previous commentary.
85. Tam giác thứ tư và thứ năm được liệt kê dưới đây để nhắc lại. Chúng ta đã nghiên cứu kỹ chúng trong một phần bình giải trước.
[Page 170]
[Page 170]
4. Man partially controlled by the Ego, advanced man.
4. Con người được chân ngã kiểm soát một phần, con người tiến bộ.
a. The heart.
a. Tim.
b. The throat.
b. Cổ họng.
c. The head, i.e., the four lesser centres and their synthesis, the alta centre.
c. Đầu, tức bốn trung tâm nhỏ hơn và sự tổng hợp của chúng, trung tâm alta.
86. As a reminder, the term “advanced man” usually (but not always) takes us to the portal of the first initiation. The phase of “spiritual man” begins at the first degree.
86. Để nhắc lại, thuật ngữ “con người tiến bộ” thường (nhưng không phải luôn luôn) đưa chúng ta đến cổng của lần điểm đạo thứ nhất. Giai đoạn của “con người tinh thần” bắt đầu ở cấp độ thứ nhất.
87. We have to be careful about any rigid interpretation of such terms. They have a certain elasticity and will mean different things in different contexts.
87. Chúng ta phải cẩn thận với bất kỳ cách giải thích cứng nhắc nào về những thuật ngữ như thế. Chúng có một độ co giãn nhất định và sẽ mang những ý nghĩa khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau.
5. Spiritual man to the third Initiation.
5. Con người tinh thần đến lần điểm đạo thứ ba.
a. The heart.
a. Tim.
b. The throat.
b. Cổ họng.
c. The seven head centres.
c. Bảy trung tâm đầu.
88. The fivefold scheme we have been studying has many gaps. Only the most general phases of unfoldment are considered. If we wish to understand the interim stages of unfoldment we shall have to add a number of triangles.
88. Mô hình ngũ phân mà chúng ta đang nghiên cứu có nhiều khoảng trống. Chỉ những giai đoạn khai mở tổng quát nhất mới được xem xét. Nếu muốn thấu hiểu các giai đoạn trung gian của sự khai mở, chúng ta sẽ phải thêm vào một số tam giác.
89. In the following paragraphs is presented teaching of great importance. It is abstruse and difficult to understand and we shall have to proceed carefully.
89. Trong các đoạn sau đây trình bày một giáo huấn có tầm quan trọng lớn. Nó sâu kín và khó thấu hiểu, và chúng ta sẽ phải tiến hành cẩn trọng.
Under the regime of the Personality Ray, the man proceeds upon the five Rays to work consciously with Mind, the sixth sense, passing first upon the four minor Rays and eventually upon the third.
Dưới sự chi phối của cung phàm ngã, con người tiến bước trên năm cung để làm việc một cách hữu thức với trí tuệ, giác quan thứ sáu, trước hết đi qua bốn cung nhỏ và cuối cùng qua cung ba.
90. The entire first period of man’s incarnational life is lives “under the regime of the Personality Ray”, even though it will take millions of years for the personality ray to emerge from latency to manifest potency.
90. Toàn bộ thời kỳ đầu của đời sống lâm phàm của con người là những kiếp sống “dưới sự chi phối của cung phàm ngã”, dù sẽ phải mất hàng triệu năm để cung phàm ngã xuất hiện từ trạng thái tiềm tàng đến năng lực biểu hiện.
91. The mental unit is, essentially, the seat of personality, and that unit exists even from the very earliest days—at individualization and following individualization.
91. Đơn vị hạ trí, về bản chất, là chỗ ngự của phàm ngã, và đơn vị ấy tồn tại ngay từ những ngày sớm nhất—vào lúc biệt ngã hóa và sau biệt ngã hóa.
92. Questions arise concerning whether a primitive human being even has a personality or personality ray. It is possible for him to have a personality ray without having a demonstrable personality.
92. Những câu hỏi nảy sinh liên quan đến việc liệu một con người nguyên thủy có thực sự có một phàm ngã hay cung phàm ngã hay không. Có thể y có một cung phàm ngã mà không có một phàm ngã có thể biểu lộ rõ rệt.
93. If we do not agree with the possibility just stated, we shall have to say that the “regime of the Personality Ray” begins much later in the evolutionary cycle, and that the many initial, primitive incarnations are lived under no major regime at all—or simply ‘under the regime of the three lunar vehicles’.
93. Nếu chúng ta không đồng ý với khả năng vừa nêu, thì sẽ phải nói rằng “sự chi phối của cung phàm ngã” bắt đầu muộn hơn nhiều trong chu kỳ tiến hoá, và rằng nhiều lần lâm phàm ban đầu, nguyên thủy được sống mà không ở dưới sự chi phối lớn nào cả—hoặc đơn giản là ‘dưới sự chi phối của ba vận cụ nguyệt tính’.
94. The questions to be answered are: “If a personality is not detectible, manifest or discernible, is there a personality ray, and if so, ‘where’ is it? In what ‘state’ does it exist? If it exists in a state of latency even in the life of primitive man, does it have any influence whatsoever in man’s development?
94. Những câu hỏi cần được trả lời là: “Nếu một phàm ngã không thể được phát hiện, biểu lộ hay phân biện, thì có một cung phàm ngã hay không, và nếu có, nó ở ‘đâu’? Nó tồn tại trong ‘trạng thái’ nào? Nếu nó tồn tại trong trạng thái tiềm tàng ngay cả trong đời sống của con người nguyên thủy, thì nó có bất kỳ ảnh hưởng nào trong sự phát triển của con người hay không?
95. We are told that the Monad and probably the Ego do have slight conditioning power even in primitive days. Could this also be so of a latent, unexpressed personality ray? It is surely worthy pondering.
95. Chúng ta được cho biết rằng Chân thần và có lẽ cả chân ngã quả thật có một quyền năng tác động nhẹ ngay cả trong những ngày nguyên thủy. Liệu điều này cũng có thể đúng đối với một cung phàm ngã tiềm tàng, chưa biểu lộ chăng? Điều ấy chắc chắn đáng để suy ngẫm.
96. The personality is the Brahmic aspect of man. There are five Rays of Brahma (fourth, fifth, sixth and seventh, with the major Brahmic ray being the third which synthesizes the other four).
96. Phàm ngã là phương diện Brahma của con người. Có năm cung của Brahma (cung bốn, cung năm, cung sáu và cung bảy, với cung Brahma chính yếu là cung ba, tổng hợp bốn cung kia).
97. The early lives of man are lived upon the Rays of Attribute, the four minor rays. Eventually, the possibility arises to express through either a soul or personality on the third ray—but not until much later in the evolutionary process.
97. Những kiếp sống đầu tiên của con người được sống trên Các Cung Thuộc Tính, tức bốn cung nhỏ. Cuối cùng, khả năng xuất hiện để biểu lộ thông qua một linh hồn hoặc phàm ngã trên cung ba—nhưng mãi đến rất lâu sau trong tiến trình tiến hoá mới có thể như vậy.
“During these earlier periods all human beings were conditioned by the four Rays of Attribute; both as souls and as incarnated persons they were upon one of these four rays. Towards the middle of the Atlantean cycle (untold millions of years ago) the influence of the third Ray of Active Intelligence became exceedingly potent. Certain of the advanced humanity of the period gradually found their way on to, or rather into, the stream of divine energy which we call the third ray. The possibility, therefore, of their becoming integrated personalities was for the first time recognised, and humanly recognised. Such an integration must ever precede conscious human initiation. (R&I 560)
“Trong những thời kỳ sớm hơn này, tất cả loài người đều bị bốn Cung Thuộc Tính tác động; cả với tư cách linh hồn lẫn với tư cách những con người đang lâm phàm, họ đều ở trên một trong bốn cung ấy. Về phía giữa chu kỳ Atlantis (hàng triệu năm không thể kể xiết trước đây), ảnh hưởng của cung ba của Thông Tuệ Hoạt Động trở nên cực kỳ mạnh mẽ. Một số người trong nhân loại tiến bộ của thời kỳ ấy dần dần tìm được đường đi lên, hay đúng hơn là đi vào, dòng năng lượng thiêng liêng mà chúng ta gọi là cung ba. Vì vậy, khả năng để họ trở thành những phàm ngã tích hợp lần đầu tiên được nhận biết, và được con người nhận biết. Sự tích hợp như thế luôn luôn phải đi trước điểm đạo hữu thức của con người. (R&I 560)
98. We can see that in the developmental process it is not possible to have any ray at any time. There is a sequence of unfoldment which gradually brings all the seven rays into prominence; this sequence moves from the Rays of Attribute towards the Rays of Aspect. Perhaps the sequence is even more linear (with respect to the personality), moving from the seventh ray towards the first in numerical order.
98. Chúng ta có thể thấy rằng trong tiến trình phát triển, không thể có bất kỳ cung nào vào bất kỳ lúc nào. Có một trình tự khai mở dần dần đưa cả bảy cung vào chỗ nổi bật; trình tự này chuyển từ Các Cung Thuộc Tính đến Các Cung Trạng Thái. Có lẽ trình tự ấy thậm chí còn tuyến tính hơn nữa (xét theo phàm ngã), chuyển từ cung bảy đến cung một theo thứ tự số học.
99. One cannot (at our stage of evolution) dogmatize about such things nor over-generalize. There does, however, seem to be a significant trend: the abstract rays (three, two and one) express at a later stage of evolution than the concrete rays (seven, six, five, four)—at least through the personality and soul.
99. Người ta không thể (ở giai đoạn tiến hoá của chúng ta) giáo điều về những điều như thế, cũng không thể khái quát hóa quá mức. Tuy nhiên, dường như có một xu hướng đáng kể: các cung trừu tượng (ba, hai và một) biểu lộ ở một giai đoạn tiến hoá muộn hơn các cung cụ thể (bảy, sáu, năm, bốn)—ít nhất là qua phàm ngã và linh hồn.
100. As for the usual mental rays—five, four, one—perhaps there is also an ascending sequence in their order of expression.
100. Còn về các cung thể trí thông thường—năm, bốn, một—có lẽ cũng có một trình tự đi lên trong thứ tự biểu lộ của chúng.
He works [Page 176] upon the third Ray, or that of active Intelligence, and from thence proceeds to one of the subrays of the two other major Rays, if the third is not his egoic Ray.
Y hoạt động [Page 176] trên cung ba, tức cung Trí Tuệ linh hoạt, và từ đó tiến đến một trong các cung phụ của hai Cung chính yếu kia, nếu cung ba không phải là cung chân ngã của y.
101. After working upon the Rays of Attribute, most men will move onto the third ray personality unless the third ray is the egoic ray.
101. Sau khi hoạt động trên Các Cung Thuộc Tính, phần lớn con người sẽ chuyển sang phàm ngã cung ba trừ khi cung ba là cung chân ngã.
102. Those who do not have the third ray Ego can have the third ray personality as they enter the stage of aspirant. Work upon a second or first ray personality follows work upon the third.
102. Những ai không có Chân ngã cung ba có thể có phàm ngã cung ba khi họ bước vào giai đoạn người chí nguyện. Sau công việc trên phàm ngã cung ba sẽ là công việc trên phàm ngã cung hai hoặc cung một.
103. It would seem that at this stage of development, those with a second ray soul may have a personality upon the first or third rays; those with a first ray soul may have a personality upon the second or third rays; those with a third ray soul may have personalities upon the first or second rays. In all these cases, the personality will be upon the first or second rays only if one has reached the stage of aspirant or moved beyond that stage.
103. Dường như ở giai đoạn phát triển này, những người có linh hồn cung hai có thể có phàm ngã trên cung một hoặc cung ba; những người có linh hồn cung một có thể có phàm ngã trên cung hai hoặc cung ba; những người có linh hồn cung ba có thể có phàm ngã trên cung một hoặc cung hai. Trong tất cả các trường hợp này, phàm ngã sẽ chỉ ở trên cung một hoặc cung hai nếu người ấy đã đạt đến giai đoạn người chí nguyện hoặc đã vượt quá giai đoạn đó.
104. The phrase, “One of the subrays of the two other major Rays”, indicates (in this context) either a first or second ray personality, as the personality ray is, indeed, a subray of the egoic ray.
104. Cụm từ, “Một trong các cung phụ của hai Cung chính yếu kia”, cho thấy (trong ngữ cảnh này) hoặc là phàm ngã cung một hoặc cung hai, vì cung phàm ngã quả thực là một cung phụ của cung chân ngã.
105. We can interpret the general sense of this section as meaning that if a man has a third ray Ego, he will not work with a third ray personality (and from thence move to a second or first ray personality). This is not to say that he cannot move to a second or first ray personality as he becomes an aspirant, but simply that this movement will not take place following work with a third ray personality. Apparently, at this stage of development, we will not see the third ray as both the egoic ray and the ray of the personality.
105. Chúng ta có thể diễn giải ý nghĩa chung của phần này là: nếu một người có Chân ngã cung ba, y sẽ không hoạt động với phàm ngã cung ba (và từ đó chuyển sang phàm ngã cung hai hoặc cung một). Điều này không có nghĩa là y không thể chuyển sang phàm ngã cung hai hoặc cung một khi trở thành người chí nguyện, mà chỉ đơn giản là sự chuyển dịch này sẽ không diễn ra sau khi hoạt động với phàm ngã cung ba. Rõ ràng, ở giai đoạn phát triển này, chúng ta sẽ không thấy cung ba vừa là cả cung chân ngã vừa là cung của phàm ngã.
106. We are speaking about a time of transference from work “under the regime of the Personality Ray” to work under the Soul Ray. At this time it is highly unlikely that the personality ray will be the same as the soul ray. Only one hypothetical example of a disciple having the same personality and soul ray is discussed in the teaching (cf. EP II 354), though it is suggested that those on a given soul ray may have any kind of personality ray. The odds, however, are against it. None of the some fifty disciples personally trained by the Tibetan had the same soul and personality ray.
106. Chúng ta đang nói về một thời kỳ chuyển tiếp từ công việc “dưới chế độ của cung Phàm ngã” sang công việc dưới cung Linh hồn. Vào thời điểm này, rất khó có khả năng cung phàm ngã lại giống cung linh hồn. Chỉ có một ví dụ giả định về một đệ tử có cùng cung phàm ngã và cung linh hồn được bàn đến trong giáo huấn (x. EP II 354), dù có gợi ý rằng những người ở trên một cung linh hồn nhất định có thể có bất kỳ loại cung phàm ngã nào. Tuy nhiên, xác suất là chống lại điều đó. Không một ai trong khoảng năm mươi đệ tử được Chân sư Tây Tạng trực tiếp huấn luyện có cùng cung linh hồn và cung phàm ngã.
107. In general we can consider the “regime of the Personality Ray” as the entire first part of evolution, with the caveat given above—i.e., that personality development depends, really, upon mental development, and that the personality ray emerges only later in the course of evolution.
107. Nói chung, chúng ta có thể xem “chế độ của cung Phàm ngã” là toàn bộ phần đầu của tiến hoá, với điều kiện bảo lưu đã nêu ở trên—tức là, sự phát triển phàm ngã thật ra tùy thuộc vào sự phát triển trí tuệ, và cung phàm ngã chỉ xuất hiện muộn hơn trong tiến trình tiến hoá.
108. The rays of Brahma [three, four, five, six, seven] are most important when “under the regime of the Personality Ray”.
108. Các cung của Brahma [ba, bốn, năm, sáu, bảy] là quan trọng nhất khi “dưới chế độ của cung Phàm ngã”.
109. One can have a first ray mind even if one is not a first ray personality, for only an aspirant can have a first or second ray personality.”
109. Người ta có thể có trí tuệ cung một ngay cả khi không phải là phàm ngã cung một, vì chỉ người chí nguyện mới có thể có phàm ngã cung một hoặc cung hai.”
“The Personality ray is always one of the five rays (the minor four and the third ray) until a man becomes an aspirant when it can be any of the seven.” (Extract from an Unpublished Paper).
“Cung Phàm ngã luôn luôn là một trong năm cung (bốn cung phụ và cung ba) cho đến khi con người trở thành người chí nguyện, khi đó nó có thể là bất kỳ cung nào trong bảy cung.” (Trích từ một tài liệu chưa xuất bản).
110. Work upon the personality ray proceeds, we may hypothesize, until the first successful attempts to reverse of the wheel (i.e., to respond to the principles and energies of the soul). This occurs during the later part of the Mutable Cross followed by entry into the Kingdom of Souls upon the Fixed Cross.
110. Công việc trên cung phàm ngã tiếp diễn, theo giả thuyết của chúng ta, cho đến những nỗ lực thành công đầu tiên nhằm đảo ngược bánh xe (tức là đáp ứng với các nguyên khí và năng lượng của linh hồn). Điều này xảy ra trong phần sau của Thập Giá Biến đổi, tiếp theo là sự đi vào Thiên Giới trên Thập Giá Cố Định.
111. When will a soul upon a Ray of Attribute change to a soul ray which is a Ray of Aspect (one, two or three)?
111. Khi nào một linh hồn trên một Cung Thuộc Tính sẽ đổi sang một cung linh hồn là một Cung Trạng Thái (một, hai hoặc ba)?
112. There may be much debate upon this question. If a disciple has a third, second or first ray soul there has definitely been a transference somewhere in the course of evolutionary development because all souls are initially focussed on the fourth, fifth, sixth or seventh rays.
112. Có thể có nhiều tranh luận về câu hỏi này. Nếu một đệ tử có linh hồn cung ba, hai hoặc một thì chắc chắn đã có một sự chuyển dịch nào đó trong tiến trình phát triển tiến hoá, bởi vì mọi linh hồn ban đầu đều tập trung trên các cung bốn, năm, sáu hoặc bảy.
“Every human being, in the earlier stages of his development (in ancient Lemuria and Atlantis, or possessing [Page 559] today the Lemurian or Atlantean state of consciousness—and there are many such), comes into incarnation [a single incarnation?] upon one of the four Rays of Attribute, because these rays are peculiarly and uniquely related to the fourth kingdom in nature, and therefore to the fourth Creative Hierarchy.” (R&I 558-559)
“Mỗi con người, trong các giai đoạn đầu của sự phát triển của y (ở Lemuria và Atlantis cổ xưa, hoặc ngày nay [Page 559] còn mang trạng thái tâm thức Lemuria hay Atlantis—và có rất nhiều người như vậy), đi vào lâm phàm [một kiếp sống đơn lẻ?] trên một trong bốn Cung Thuộc Tính, bởi vì các cung này có liên hệ đặc biệt và độc đáo với giới thứ tư trong thiên nhiên, và do đó với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.” (R&I 558-559)
“During these earlier periods all human beings were conditioned by the four Rays of Attribute; both as souls and as incarnated persons they were upon one of these four rays. Towards the middle of the Atlantean cycle (untold millions of years ago) the influence of the third Ray of Active Intelligence became exceedingly potent. Certain of the advanced humanity of the period gradually found their way on to, or rather into, the stream of divine energy which we call the third ray. [Perhaps in either their soul or personality nature] The possibility, therefore, of their becoming integrated personalities was for the first time recognised, and humanly recognised. Such an integration must ever precede conscious human initiation.” (R&I 560)
“Trong các thời kỳ đầu này, mọi con người đều bị tác động bởi bốn Cung Thuộc Tính; cả với tư cách linh hồn lẫn với tư cách những con người đang lâm phàm, họ đều ở trên một trong bốn cung này. Về khoảng giữa chu kỳ Atlantis (hàng triệu năm không thể tính kể trước đây), ảnh hưởng của cung ba Trí Tuệ linh hoạt trở nên cực kỳ mạnh mẽ. Một số người thuộc nhân loại tiến bộ của thời kỳ ấy dần dần tìm được đường đi vào, hay đúng hơn là đi vào trong, dòng năng lượng thiêng liêng mà chúng ta gọi là cung ba. [Có lẽ trong bản chất linh hồn hoặc phàm ngã của họ] Vì thế, khả năng trở thành Phàm ngã tích hợp của họ lần đầu tiên được nhận ra, và được con người nhận ra. Sự tích hợp như thế luôn luôn phải đi trước điểm đạo hữu thức của con người.” (R&I 560)
113. To become an integrated personality requires both the labors of the soul and the labors of the personality.
113. Để trở thành một Phàm ngã tích hợp đòi hỏi cả lao động của linh hồn lẫn lao động của phàm ngã.
114. Some might suggest that only when one approaches the second initiation is it possible to change soul rays. Two of DK’s disciples were in process of such a change (perhaps, three) and one of them was definitely a candidate for the second initiation.
114. Một số người có thể cho rằng chỉ khi tiến gần đến lần điểm đạo thứ hai thì mới có thể đổi cung linh hồn. Hai đệ tử của Chân sư DK đang trong tiến trình thay đổi như vậy (có lẽ là ba), và một trong số họ chắc chắn là ứng viên cho lần điểm đạo thứ hai.
115. There are problems with this point of view, however. One of the disciples with a third ray soul had not even taken the first initiation. His soul ray was, therefore, a Ray of Aspect, and it must have become so even before the first initiation—necessarily.
115. Tuy nhiên, có những vấn đề với quan điểm này. Một trong các đệ tử có linh hồn cung ba thậm chí còn chưa nhận lần điểm đạo thứ/8621§nhất. Vì vậy, cung linh hồn của y là một Cung Trạng Thái, và nó hẳn đã trở thành như thế ngay cả trước lần điểm đạo thứ nhất—một cách tất yếu.
116. Almost all of DK’s disciples had either first, second or third ray souls and almost all of them were focussed between the first and second initiations—some closer to the second degree than others. A number of them had been accepted disciples for a few years. It would seem therefore that approach to the second initiation was not the only time for the soul-ray change. Rather, the entry into the period of aspiration would seem the time for such a change.
116. Hầu như tất cả các đệ tử của Chân sư DK đều có linh hồn cung một, hai hoặc ba, và hầu như tất cả họ đều tập trung giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai—một số gần cấp thứ hai hơn những người khác. Một số trong họ đã là đệ tử được chấp nhận trong vài năm. Vì vậy, dường như việc tiến gần đến lần điểm đạo thứ hai không phải là thời điểm duy nhất cho sự thay đổi cung linh hồn. Đúng hơn, việc bước vào thời kỳ khát vọng dường như là thời điểm cho sự thay đổi như vậy.
117. We read that a human being could have a first or second ray personality only if he/she were an aspirant. This would mean that such a person would be treading the Path of Probation even if only in the early stages.
117. Chúng ta đọc thấy rằng một con người chỉ có thể có phàm ngã cung một hoặc cung hai nếu y là người chí nguyện. Điều này có nghĩa là người ấy sẽ đang bước trên Con Đường Dự Bị, dù chỉ ở các giai đoạn đầu.
118. It may be that the possibility of changing soul rays would correlate with entry upon the Path of Aspiration or Probation. Work upon a first or second ray personality (the personality being always a subray of the soul) would facilitate such a transference. A personality of a particular ray would accustom the individual to the ray upon which his soul was preparing to refocus.
118. Có thể khả năng thay đổi cung linh hồn tương ứng với việc bước vào Con Đường Khát Vọng hoặc Con Đường Dự Bị. Công việc trên phàm ngã cung một hoặc cung hai (phàm ngã luôn luôn là một cung phụ của linh hồn) sẽ tạo thuận lợi cho sự chuyển dịch như vậy. Một phàm ngã thuộc một cung nhất định sẽ làm cho cá nhân quen với cung mà trên đó linh hồn của y đang chuẩn bị tái tập trung.
119. Work upon a third ray personality would come earlier than personality work upon the first or second, but such work would, it seems, facilitate a transference to a third ray soul.
119. Công việc trên phàm ngã cung ba sẽ đến sớm hơn công việc phàm ngã trên cung một hoặc cung hai, nhưng công việc ấy, dường như, sẽ tạo thuận lợi cho sự chuyển dịch sang linh hồn cung ba.
120. It is as if one must become accustomed to the energy of the Rays of Attribute on a more concrete and material level before the soul can refocus on one of those higher rays.
120. Dường như người ta phải trở nên quen thuộc với năng lượng của Các Cung Thuộc Tính ở một cấp độ cụ thể và vật chất hơn trước khi linh hồn có thể tái tập trung trên một trong các cung cao hơn ấy.
121. The Christ waited perhaps a millions years, maybe more between the third degree (taken perhaps in the fourth subrace of the fourth root race, but definitely taken in Atlantis) and fourth degree taken in relatively recent Aryan times. It is reasonable to consider that the Christ took the fourth degree as Krishna, given the sacrificial life of that great Teacher.
121. Đức Christ có lẽ đã chờ một triệu năm, có thể hơn, giữa cấp thứ ba (có lẽ nhận trong giống dân phụ thứ tư của giống dân gốc thứ tư, nhưng chắc chắn nhận tại Atlantis) và cấp thứ tư được nhận trong thời Arya tương đối gần đây. Thật hợp lý khi cho rằng Đức Christ đã nhận cấp thứ tư với tư cách Krishna, xét đến đời sống hi sinh của vị Huấn sư vĩ đại ấy.
122. Different types of developments occur as one approaches the second degree and at the second degree. The will overcomes desire, and the Monad begins to have a consciously registered effect.
122. Những loại phát triển khác nhau xảy ra khi người ta tiến gần đến cấp thứ hai và tại cấp thứ hai. Ý chí vượt thắng dục vọng, và chân thần bắt đầu có một tác động được ghi nhận một cách hữu thức.
123. It may be that it is the effect of the Monad upon the soul ray that causes the soul ray to change (if the change has not changed before that time). We remember that the sense of monadic destiny is felt in the soul even at the first degree, so monadic influence has a significant soul impact during the period in which we hypothesized a possible change of soul rays (which is also, more or less, the period when a change to one of the first two personality rays—ray one and ray two—can, according to law, appear).
123. Có thể chính tác động của chân thần lên cung linh hồn làm cho cung linh hồn thay đổi (nếu sự thay đổi chưa xảy ra trước thời điểm đó). Chúng ta nhớ rằng cảm thức về định mệnh chân thần được cảm nhận trong linh hồn ngay từ cấp thứ nhất, vì vậy ảnh hưởng chân thần có một tác động đáng kể lên linh hồn trong thời kỳ mà chúng ta giả định có thể có sự thay đổi các cung linh hồn (đó cũng, ít nhiều, là thời kỳ mà sự thay đổi sang một trong hai cung phàm ngã đầu tiên—cung một và cung hai—có thể, theo định luật, xuất hiện).
124. After the second degree one may find oneself in the Ashram of a Master whose ray is the same as one’s monadic ray. (LOM 267)
124. Sau cấp thứ hai, người ta có thể thấy mình ở trong ashram của một Chân sư có cung giống với cung chân thần của mình. (LOM 267)
125. The change in the soul ray focus of the Christ (from the fourth ray soul to the second) happened before he was Krishna, on the second ray. Christ took the third initiation on the fourth ray with the Buddha, and naturally in a fourth ray Ashram. Krishna was a most sensitive musician having had, we infer, long experience on the fourth ray. The second ray is also a musical ray, Master KH, on the second ray, is also master musician—an organist. Vishnu (the Second Logos) sings the world into existence).
125. Sự thay đổi trong tiêu điểm cung linh hồn của Đức Christ (từ linh hồn cung bốn sang cung hai) đã xảy ra trước khi Ngài là Krishna, trên cung hai. Đức Christ đã nhận lần điểm đạo thứ ba trên cung bốn cùng với Đức Phật, và dĩ nhiên trong một ashram cung bốn. Krishna là một nhạc sĩ cực kỳ nhạy cảm, theo suy luận của chúng ta, đã có kinh nghiệm lâu dài trên cung bốn. Cung hai cũng là một cung âm nhạc; Chân sư KH, trên cung hai, cũng là một nhạc sư bậc thầy—một nghệ sĩ đàn organ. Vishnu (Thượng đế Thứ Hai) xướng thế giới vào hiện hữu).
126. We can eliminate the hypothesis that soul ray changes occur only as one approaches the second degree because, if so, between the first degree and the approach to the second degree, all souls would have to be fourth, fifth, sixth and seventh ray souls. Since in the Tibetan’s groups, the great majority of disciples were positioned between the first and second degree, with a few for whom the second degree was imminent, and since almost all of them had for a soul ray a Ray of Aspect, we see the impossibility of the hypothesis. The change of soul ray must necessarily have occurred earlier, and perhaps quite a bit earlier.
126. Chúng ta có thể loại bỏ giả thuyết rằng sự thay đổi cung linh hồn chỉ xảy ra khi người ta tiến gần đến cấp thứ hai, bởi vì nếu vậy, giữa cấp thứ nhất và sự tiến gần đến cấp thứ hai, mọi linh hồn đều sẽ phải là linh hồn cung bốn, năm, sáu và bảy. Vì trong các nhóm của Chân sư Tây Tạng, đại đa số đệ tử được định vị giữa cấp thứ nhất và thứ hai, với một vài người mà cấp thứ hai đã cận kề, và vì hầu như tất cả họ đều có một Cung Trạng Thái làm cung linh hồn, nên chúng ta thấy tính bất khả của giả thuyết ấy. Sự thay đổi cung linh hồn tất yếu phải xảy ra sớm hơn, và có lẽ sớm hơn khá nhiều.
127. Souls on the fourth and sixth rays go to the third ray and second but must be developing the quality of intelligence in order to do so. The later stages of the Mutable Cross do, however, see a significant growth in intelligence.
127. Các linh hồn trên cung bốn và cung sáu đi đến cung ba và cung hai, nhưng phải đang phát triển phẩm tính trí tuệ mới làm được như vậy. Tuy nhiên, các giai đoạn sau của Thập Giá Biến đổi quả thực chứng kiến một sự tăng trưởng đáng kể về trí tuệ.
128. In group discussion it was proposed to correlate: yellow, sacrifice, the sacrifice petals, the fourth ray and the Moon.
128. Trong thảo luận nhóm, người ta đã đề nghị liên hệ: màu vàng, sự hi sinh, các cánh hoa hi sinh, cung bốn và Mặt Trăng.
129. It was also proposed that the taking of initiation may have to do with soul cycles and with the needs of the historical period. There is no hard and fast way to determine when a given initiation will be taken or what may be the interval between initiations. It can be noted, however, that there seems to be a rather rapid acceleration between ascending initiations (not including the sixth and seventh). The interval is shortening.
129. Người ta cũng đề nghị rằng việc nhận điểm đạo có thể liên quan đến các chu kỳ linh hồn và các nhu cầu của thời kỳ lịch sử. Không có cách cứng nhắc và cố định nào để xác định khi nào một điểm đạo nhất định sẽ được nhận hoặc khoảng cách giữa các lần điểm đạo có thể là bao lâu. Tuy nhiên, có thể lưu ý rằng dường như có một sự gia tốc khá nhanh giữa các lần điểm đạo đi lên (không kể lần thứ sáu và thứ bảy). Khoảng cách đang ngắn lại.
130. Some interesting points emerge from considering cycle of ray development:
130. Một số điểm thú vị xuất hiện khi xem xét chu kỳ phát triển cung:
a. We may reasonably make the inference that, even today, the majority of souls are on the fourth, fifth, sixth or seventh rays, because the majority of souls are not yet intelligent (i.e., not yet even mentally focussed).
a. Chúng ta có thể suy ra một cách hợp lý rằng, ngay cả ngày nay, đa số linh hồn ở trên các cung bốn, năm, sáu hoặc bảy, bởi vì đa số linh hồn vẫn chưa có trí tuệ (tức là, thậm chí còn chưa tập trung trên cõi trí).
b. Third ray is often the personality ray in the period preceding the first initiation. Whether or not the personality ray is likely to be third in the incarnation during which the first initiation is taken is not a certainty. Some references suggest the prominence of the first ray.
b. Cung ba thường là cung phàm ngã trong thời kỳ đi trước lần điểm đạo thứ nhất. Việc cung phàm ngã có khả năng là cung ba trong kiếp sống mà trong đó lần điểm đạo thứ nhất được nhận hay không thì không chắc chắn. Một số dẫn chiếu gợi ý sự nổi trội của cung một.
c. Point to make: the majority of people on this planet being astrally polarized must also, necessarily, be on the fourth, fifth, sixth, or seventh rays in their soul nature—not only in their personality nature.
c. Điểm cần nêu là: đa số người trên hành tinh này, vì phân cực cảm xúc, tất yếu cũng phải ở trên các cung bốn, năm, sáu hoặc bảy trong bản chất linh hồn của họ—không chỉ trong bản chất phàm ngã của họ.
d. The majority of human beings today have third or sixth ray personalities. But let us remember that to have a third ray personality, one must be cultivating intelligence. Yet, the majority are far from this stage. This would mean that there must be a great number of sixth ray personalities among average human beings.
d. Đa số con người ngày nay có phàm ngã cung ba hoặc cung sáu. Nhưng hãy nhớ rằng để có phàm ngã cung ba, người ta phải đang vun bồi trí tuệ. Tuy nhiên, đa số còn rất xa giai đoạn này. Điều đó có nghĩa là hẳn phải có một số lượng rất lớn phàm ngã cung sáu trong những con người trung bình.
“At this time there are a vast number of souls in incarnation whose personality rays are either the sixth or the third. (DON 31)”
“Hiện nay có một số lượng rất lớn các linh hồn đang lâm phàm mà cung phàm ngã của họ hoặc là cung sáu hoặc là cung ba. (DON 31)”
Perhaps, however, we should not generalize about other periods in planetary development. While is certain that the fourth, fifth, sixth or seventh ray personalities will predominate, it is not certain the sixth ray personalities will be in the greatest number over all and irrespective of the historical period in question.
Tuy nhiên, có lẽ chúng ta không nên khái quát hóa về các thời kỳ khác trong sự phát triển hành tinh. Dù chắc chắn rằng các phàm ngã cung bốn, năm, sáu hoặc bảy sẽ chiếm ưu thế, nhưng không chắc các phàm ngã cung sáu sẽ luôn luôn đông nhất, bất kể thời kỳ lịch sử đang xét là gì.
e. It was suggested that with the approach to the first initiation, on the earlier Path of Probation, the possibility of transferring to a third ray soul emerges.
e. Người ta gợi ý rằng khi tiến gần đến lần điểm đạo thứ nhất, trên Con Đường Dự Bị ban đầu, khả năng chuyển sang linh hồn cung ba xuất hiện.
f. With the approach to the first degree, the third ray personality also emerges, as we have seen in the references.
f. Khi tiến gần đến cấp thứ nhất, phàm ngã cung ba cũng xuất hiện, như chúng ta đã thấy trong các dẫn chiếu.
g. When one becomes more intelligent one can have a third ray personality.
g. Khi người ta trở nên thông tuệ hơn, người ta có thể có phàm ngã cung ba.
h. The third ray is the synthesizing ray through which to enter expression upon the second and first rays.
h. Cung ba là cung tổng hợp, qua đó đi vào sự biểu lộ trên cung hai và cung một.
i. The Monad begins at the first degree to impact the soul—so, at that time it may be possible to change soul rays (at the first degree).
i. Chân thần bắt đầu từ cấp thứ nhất tác động lên linh hồn—vì vậy, vào thời điểm đó có thể có khả năng thay đổi các cung linh hồn (ở cấp thứ nhất).
131. If the disciple ISGL had written the book on Shamballa (bringing his hypothesized first ray monad into fuller expression) his sixth ray soul could have changed to the second ray which, apparently, it did not fully do in that incarnation.
131. Nếu đệ tử ISGL đã viết cuốn sách về Shamballa (đưa chân thần cung một được giả định của ông vào biểu lộ đầy đủ hơn) thì linh hồn cung sáu của ông có thể đã đổi sang cung hai, điều mà rõ ràng đã không hoàn toàn xảy ra trong kiếp sống đó.
Enquiry might naturally arise as to whether the egoic ray is necessarily one of the three major rays,
Một câu hỏi tự nhiên có thể nảy sinh là liệu cung chân ngã có nhất thiết là một trong ba cung chính yếu hay không,
132. Because there are seven methods of destroying the causal body (according to the ray of the soul) it is quite clear that even advanced Egos can be found on the Rays of Attribute, not only on the three major rays.
132. Bởi vì có bảy phương pháp hủy diệt thể nguyên nhân (theo cung của linh hồn), nên khá rõ ràng rằng ngay cả các Chân ngã tiến bộ cũng có thể được tìm thấy trên Các Cung Thuộc Tính, chứ không chỉ trên ba cung chính yếu.
and if Initiates and Masters are not to be found upon some of the rays of mind, the minor four.
và liệu các điểm đạo đồ và các Chân sư có không được tìm thấy trên một số cung của trí tuệ, tức bốn cung phụ, hay không.
133. One is an initiate (though an advanced one) even at the fourth degree, but a Master is rather rarely called an initiate (though, of course, he is one).
133. Người ta là một điểm đạo đồ (dù là một vị tiến bộ) ngay cả ở cấp thứ tư, nhưng một Chân sư khá hiếm khi được gọi là một điểm đạo đồ (dù dĩ nhiên Ngài là như vậy).
134. Further, for Masters the monadic ray has become significant. The growth of the influence of the monadic ray began in a focal manner at the third degree and is potent by the time the fifth degree is taken and one becomes a Master.
134. Hơn nữa, đối với các Chân sư, cung chân thần đã trở nên quan trọng. Sự tăng trưởng ảnh hưởng của cung chân thần bắt đầu một cách tiêu điểm ở cấp thứ ba và trở nên mạnh mẽ vào lúc cấp thứ năm được nhận và người ta trở thành một Chân sư.
The answer lies here: The egoic ray can always be one of the seven,
Câu trả lời nằm ở đây: cung chân ngã luôn luôn có thể là một trong bảy cung,
135. This is clear from many references.
135. Điều này rõ ràng từ nhiều dẫn chiếu.
but we need to remember that, in this astral-buddhic solar system, wherein love and wisdom are being brought into objectivity, the bulk of the monads are on the love-wisdom ray.
nhưng chúng ta cần nhớ rằng, trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề này, nơi bác ái và minh triết đang được đưa vào tính khách quan, phần lớn các chân thần ở trên cung bác ái-minh triết.
136. This statement needs examination. We have to remember that we are speaking about the solar system and not the planet.
136. Phát biểu này cần được khảo sát. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đang nói về hệ mặt trời chứ không phải hành tinh.
137. When speaking of the planet, the following reference from EP II is of importance:
137. Khi nói về hành tinh, dẫn chiếu sau từ EP II là quan trọng:
“Only those units of life who are coloured predominantly by the third ray of activity pass for any length of time through these three schemes. A hint is here conveyed as to the prevalence of third ray Monads among the sons of men. The ray of active intelligence, expressing itself through the seven ray types, is above everything else the ray upon which the majority of human monads will, particularly, at this time, be found. We shall, therefore, find the following psychological types colouring the bulk of our humanity, and the ray of active intelligence expressing itself through
“Chỉ những đơn vị sự sống nào được nhuốm màu chủ yếu bởi cung ba hoạt động mới đi qua ba hệ hành tinh này trong một thời gian đáng kể. Ở đây có một gợi ý được truyền đạt về sự phổ biến của các chân thần cung ba trong những người con của nhân loại. Cung Trí Tuệ linh hoạt, tự biểu lộ qua bảy loại cung, trên hết mọi sự là cung mà trên đó đa số các chân thần nhân loại sẽ, đặc biệt vào lúc này, được tìm thấy. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy các loại hình tâm lý sau đây nhuốm màu phần lớn nhân loại của chúng ta, và cung Trí Tuệ linh hoạt tự biểu lộ qua
1. Will, evoking divine purpose.
1. Ý chí, gợi lên thiên ý.
2. Love, expressing divine quality.
2. Bác ái, biểu lộ phẩm tính thiêng liêng.
3. Intellect, as the reflector of the Intuition.
3. Trí tuệ, như sự phản chiếu của Trực giác.
4. Conflict, producing harmony.
4. Xung đột, tạo ra hài hòa.
5. Knowledge or science, leading to radiance.
5. Tri thức hay khoa học, dẫn đến sự rạng ngời.
6. Idealism, establishing the divine pattern.
6. Lý tưởng, thiết lập mô hình thiêng liêng.
7. Ritual or organisation, manifesting Deity. (EP II 101)
7. Nghi lễ hay tổ chức, biểu lộ Thượng đế. (EP II 101)
138. In this tabulation, we are speaking of third ray Monads expressing themselves through souls on all the seven rays.
138. Trong bảng liệt kê này, chúng ta đang nói về các chân thần cung ba tự biểu lộ qua các linh hồn trên cả bảy cung.
139. There is some problem in considering that the majority of human Monads will be found upon the third ray, for the majority of Earth-chain humanity expresses the second ray Monad, and it would seem that on this chain, Earth-chain humanity is in the majority, with intelligent Moon-chain humanity making up only a rather small percentage (perhaps twenty percent at the most).
139. Có một số khó khăn khi cho rằng đa số chân thần nhân loại sẽ được tìm thấy trên cung ba, vì đa số nhân loại Dãy Địa Cầu biểu lộ chân thần cung hai, và dường như trên dãy này, nhân loại Dãy Địa Cầu chiếm đa số, còn nhân loại thông tuệ Dãy Mặt Trăng chỉ chiếm một tỷ lệ khá nhỏ (có lẽ nhiều nhất là hai mươi phần trăm).
140. We could attempt to understand the assertion by thinking of the monadic types to be found on different globes and chains. Perhaps, the third ray types are in the majority within the Earth-scheme, but not necessarily upon the Earth-chain.
140. Chúng ta có thể cố gắng hiểu khẳng định này bằng cách nghĩ đến các loại chân thần được tìm thấy trên các bầu hành tinh và các dãy khác nhau. Có lẽ các loại cung ba chiếm đa số trong hệ hành tinh Địa Cầu, nhưng không nhất thiết trên Dãy Địa Cầu.
141. In any case, on our globe at this time, astrally polarized humanity (who is far more likely to be Earth-chain humanity than Moon-chain humanity) far outnumbers the mentally polarized types (who probably came in the majority of cases from the Moon-chain.)
141. Dù sao đi nữa, trên bầu hành tinh của chúng ta vào lúc này, nhân loại phân cực cảm xúc (những người có khả năng cao hơn nhiều là nhân loại Dãy Địa Cầu hơn là nhân loại Dãy Mặt Trăng) đông hơn rất nhiều so với các loại phân cực trí tuệ (những người có lẽ trong đa số trường hợp đến từ Dãy Mặt Trăng.)
142. We have then:
142. Vậy thì chúng ta có:
a. The majority of Monads in our solar system being on the second ray
a. Đa số chân thần trong hệ mặt trời của chúng ta ở trên cung hai
b. The majority of Monads (at this time) within the Earth-scheme focussed on the third ray.
b. Đa số chân thần (vào lúc này) trong hệ hành tinh Địa Cầu tập trung trên cung ba.
c. There is an uncertain condition as regards the Earth-chain and our little globe, but the exoteric numbers seem to point (overall) towards a greater number of second ray monads than third.
c. Có một tình trạng không chắc chắn liên quan đến Dãy Địa Cầu và bầu hành tinh nhỏ bé của chúng ta, nhưng các con số ngoại môn dường như chỉ ra (tổng quát) số lượng chân thần cung hai lớn hơn cung ba.
The fact, therefore, of its being the synthetic ray has a vast significance. This is the system of the SON, whose name is Love. This is the divine incarnation of Vishnu.
Do đó, sự kiện nó là cung tổng hợp có một ý nghĩa vô cùng to lớn. Đây là hệ thống của CON, danh xưng của Ngài là Bác ái. Đây là sự lâm phàm thiêng liêng của Vishnu.
143. We are speaking of our Solar Logos in the role of Vishnu. This is His Vishnu-Incarnation.
143. Chúng ta đang nói về Thái dương Thượng đế của chúng ta trong vai trò Vishnu. Đây là sự Lâm Phàm Vishnu của Ngài.
The Dragon of Wisdom is in manifestation, and He brings into incarnation those cosmic Entities who are in essence identical with Himself.
Rồng Minh Triết đang biểu hiện, và Ngài đưa vào lâm phàm những Thực Thể vũ trụ mà về bản chất đồng nhất với chính Ngài.
144. Our Solar Logos has already achieved the stage of Dragon of Wisdom because He has developed Divine Love. He is attempting to fulfill the title, “Lion of Cosmic Will”.
144. Thái dương Thượng đế của chúng ta đã đạt đến giai đoạn Rồng Minh Triết vì Ngài đã phát triển Bác ái thiêng liêng. Ngài đang cố gắng hoàn thành danh hiệu, “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ”.
145. Immediately above we are given the justification for the attraction into our system of so many second ray Monads.
145. Ngay phía trên, chúng ta được trao cho sự biện minh về sức hút vào hệ thống của chúng ta của rất nhiều chân thần cung hai.
After the third Initiation all human beings find themselves on their monadic ray,
Sau lần điểm đạo thứ ba, mọi con người đều thấy mình ở trên cung chân thần của mình,
146. What do we mean by the words, “find themselves”? There is, indeed, a need for the advancing initiate to find his monadic ray, and the experience of the third initiation helps him do so.
146. Chúng ta muốn nói gì qua những lời, “thấy mình”? Quả thực, có nhu cầu để điểm đạo đồ đang tiến lên tìm ra cung chân thần của y, và kinh nghiệm của lần điểm đạo thứ ba giúp y làm điều đó.
147. From yet another perspective, it may be that if an individual really wishes to find himself (that Self being none other than the Monad), he must do so upon the monadic ray which leads directly into the monadic nature.
147. Từ một góc nhìn khác nữa, có thể là nếu một cá nhân thực sự muốn tìm thấy chính mình (Bản Ngã ấy không gì khác hơn là chân thần), y phải làm như vậy trên cung chân thần dẫn trực tiếp vào bản chất chân thần.
148. Another interpretation (and one that will to many appear most likely) suggests that the monadic ray will simply become much more influential than before the third degree, and will grow in power relative to the egoic ray—that after the third initiation, the monadic ray would be the major ray focus of the individual.
148. Một cách diễn giải khác (và là cách mà với nhiều người sẽ có vẻ có khả năng nhất) cho rằng cung chân thần đơn giản sẽ trở nên có ảnh hưởng mạnh hơn nhiều so với trước cấp thứ ba, và sẽ tăng quyền năng tương đối so với cung chân ngã—rằng sau lần điểm đạo thứ ba, cung chân thần sẽ là tiêu điểm cung chính yếu của cá nhân.
149. If we think carefully, we may realize that the fourth initiation may indicate a point of balance between the two rays—monadic and soul/triadal (as these last two are the same). We must remember that the egoic ray is still important even for a Master for the ray of the spiritual triad is focal even for a Master as that ray is still influential upon the atmic plane—the plane whereon the Master is principally focussed.
149. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta có thể nhận ra rằng lần điểm đạo thứ tư có thể chỉ ra một điểm quân bình giữa hai cung—chân thần và linh hồn/tam nguyên tinh thần (vì hai cung sau này là một). Chúng ta phải nhớ rằng cung chân ngã vẫn còn quan trọng ngay cả đối với một Chân sư vì cung của Tam Nguyên Tinh Thần vẫn là tiêu điểm ngay cả đối với một Chân sư, bởi cung ấy vẫn còn có ảnh hưởng trên cõi atma—cõi mà Chân sư chủ yếu tập trung trên đó.
on one of the three major rays,
trên một trong ba cung chính yếu,
150. The initiate finds himself majorly on one of the three major rays. He also finds other monadic qualities within him, and these are of some importance.
150. Điểm đạo đồ thấy mình chủ yếu trên một trong ba cung chính yếu. Y cũng thấy những phẩm tính chân thần khác bên trong mình, và những phẩm tính này là điều có phần quan trọng.
151. A true or major monadic ray is one of the three major rays—Rays of Aspect.
151. Một cung chân thần đích thực hay chính yếu là một trong ba cung chính yếu—Các Cung Trạng Thái.
…and the fact that Masters and Initiates are found on all the [monadic] rays is due to the following two factors:
…và sự kiện rằng các Chân sư và các điểm đạo đồ được tìm thấy trên tất cả các cung [chân thần] là do hai yếu tố sau đây:
152. We were just speaking of Initiates and Masters “finding themselves” on one of the three major rays monadically.
152. Chúng ta vừa mới nói về các điểm đạo đồ và các Chân sư “thấy mình” trên một trong ba cung chính yếu về mặt chân thần.
153. Now we are speaking of the Masters and Initiates finding themselves on all the rays, monadically.
153. Giờ đây chúng ta đang nói về các Chân sư và các điểm đạo đồ thấy mình trên mọi cung, về mặt chân thần.
154. Masters presumably are functioning largely on their monadic ray though their egoic ray (which is the same as the triadal ray) is still influential.
154. Có lẽ các Chân sư đang hoạt động phần lớn trên cung chân thần của Các Ngài, dù cung chân ngã của Các Ngài (vốn cũng là cung tam nguyên tinh thần) vẫn còn có ảnh hưởng.
155. DK is accounting for the fact that Masters are found not only on three monadic rays but on seven.
155. Chân sư DK đang giải thích sự kiện rằng các Chân sư được tìm thấy không chỉ trên ba cung chân thần mà còn trên bảy.
First. Each major ray has its subrays, which correspond to all the seven.
Thứ nhất. Mỗi cung chính đều có các cung phụ của nó, tương ứng với cả bảy cung.
156. We will suggest that the word “major” is being used in two ways—both occultly blinding the student and stimulating the intuition.
156. Chúng tôi xin gợi ý rằng từ “chính” đang được dùng theo hai cách—cả hai đều một cách huyền bí làm mù đạo sinh và kích thích trực giác.
157. The term “major ray” (as used here) may mean not only one of the three Rays of Aspect, but also the monadic ray.
157. Thuật ngữ “cung chính” (như được dùng ở đây) có thể có nghĩa không chỉ là một trong ba Các Cung Trạng Thái, mà còn là cung chân thần nữa.
158. A “major ray” can be considered one of the three Rays of Aspect, and each such ray will have seven subrays (whether the “major ray” is an egoic ray or even a monadic ray), for an egoic ray may also be one of the major rays and all egoic rays have subrays. (cf. EP II 18, for the inference). These egoic subrays will be found both on the plane of the Ego and on the plane whereon the source of personality is focussed (the lower mental plane).
158. Một “cung chính” có thể được xem là một trong ba Các Cung Trạng Thái, và mỗi cung như thế sẽ có bảy cung phụ (dù “cung chính” ấy là cung chân ngã hay thậm chí là cung chân thần), vì một cung chân ngã cũng có thể là một trong các cung chính và mọi cung chân ngã đều có các cung phụ. (x. EP II 18, để suy ra điều này). Các cung phụ chân ngã này sẽ được tìm thấy cả trên cõi của chân ngã lẫn trên cõi nơi nguồn của phàm ngã được tập trung vào (cõi hạ trí).
159. The same is true for the Monad. It will have one category of subray on its own plane (the monadic plane) and one on a lower plane—the plane of the Ego.
159. Điều tương tự cũng đúng với chân thần. Nó sẽ có một loại cung phụ trên chính cõi của nó (cõi chân thần) và một loại trên cõi thấp hơn—cõi của chân ngã.
160. What we are saying is that rays one, two and three (as monadic rays—each of them being a Ray of Aspect and all of them rays which define the “major” or “primary” monadic ray) will each of them have seven possible subrays corresponding to each of the seven rays. Only one of these subrays will be prominent at any one time.
160. Điều chúng tôi đang nói là các cung một, hai và ba (với tư cách là các cung chân thần—mỗi cung trong số đó là một Cung Trạng Thái và tất cả đều là những cung xác định cung chân thần “chính” hay “sơ cấp”) mỗi cung sẽ có bảy cung phụ khả hữu tương ứng với mỗi một trong bảy cung. Chỉ một trong các cung phụ này sẽ nổi trội vào bất kỳ một thời điểm nào.
161. What is further and definitely being suggested here is that the “major” monadic ray of a human being has, on its own plane, a subray. The egoic ray of the human being (which is focussed on a plane which is lower than monadic focus) is a subray of the monadic ray but not the only subray.
161. Điều đang được gợi ý thêm nữa và rõ ràng ở đây là cung chân thần “chính” của một con người, trên chính cõi của nó, có một cung phụ. Cung chân ngã của con người (được tập trung trên một cõi thấp hơn tiêu điểm chân thần) là một cung phụ của cung chân thần nhưng không phải là cung phụ duy nhất.
162. For confirmation of the meaning of ‘major monadic ray’ as I am here using it, see the following quotation:
162. Để xác nhận ý nghĩa của “cung chân thần chính” như tôi đang dùng ở đây, hãy xem đoạn trích sau:
“In connection with the use by the initiate of what we might call pure will, it should be remembered that this pure will works into manifestation through one or other of the three aspects of the Spiritual Triad. This activity is determined by the major ray upon which the initiate finds himself, from the angle of his monadic ray. Every spiritual man is upon one or another of the three major rays, for the minor four rays of attribute are all eventually absorbed into the third Ray of Active Intelligence. (R&I 310)
“Liên quan đến việc điểm đạo đồ sử dụng điều mà chúng ta có thể gọi là ý chí thuần túy, cần nhớ rằng ý chí thuần túy này đi vào biểu hiện thông qua một hay một phương diện khác của Tam Nguyên Tinh Thần. Hoạt động này được quyết định bởi cung chính mà điểm đạo đồ nhận thấy mình đang ở trên đó, xét từ góc độ cung chân thần của y. Mỗi con người tinh thần đều ở trên một trong ba cung chính, vì bốn cung phụ thuộc tính cuối cùng đều được hấp thu vào cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động. (R&I 310)
163. Note the term “spiritual man” which may related to the spiritual triad and to the initiate after the third initiation.
163. Hãy lưu ý thuật ngữ “con người tinh thần”, có thể liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần và với điểm đạo đồ sau lần điểm đạo thứ ba.
164. The term “eventually” is important revealing the long period of evolution required for this absorption of a Ray of Attribute into a Ray of Aspect.
164. Thuật ngữ “cuối cùng” rất quan trọng, cho thấy thời kỳ tiến hoá lâu dài cần thiết cho sự hấp thu này của một Cung Thuộc Tính vào một Cung Trạng Thái.