Trích nội dung chương
115. We find in the extract above a direct analogy between groups of causal bodies and the physical body of man. The Planetary Logos/groups of causal bodies = man/his physical body. We must, however, be careful about the manner in which we define the term “physical”. In this context, it means etheric. 115. Trong đoạn trích trên, chúng ta thấy một phép tương đồng trực tiếp giữa các nhóm thể nguyên nhân và thể xác của con người. Đức Hành Tinh Thượng Đế/các nhóm thể nguyên nhân = con người/thể xác của y. Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn trọng về cách định nghĩa thuật ngữ “hồng trần”. Trong ngữ cảnh này, nó có nghĩa là dĩ thái.
115. We find in the extract above a direct analogy between groups of causal bodies and the physical body of man. The Planetary Logos/groups of causal bodies = man/his physical body. We must, however, be careful about the manner in which we define the term “physical”. In this context, it means etheric.
115. Trong đoạn trích trên, chúng ta thấy một phép tương đồng trực tiếp giữa các nhóm thể nguyên nhân và thể xác của con người. Đức Hành Tinh Thượng Đế/các nhóm thể nguyên nhân = con người/thể xác của y. Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn trọng về cách định nghĩa thuật ngữ “hồng trần”. Trong ngữ cảnh này, nó có nghĩa là dĩ thái.
116. Since the dense physical body of a human being is not a principle (in relation to man) man’s true physical body is considered his etheric body. It is important that we remember this.
116. Vì thể xác đậm đặc của con người không phải là một nguyên khí (trong tương quan với con người), nên thể hồng trần đích thực của con người được xem là thể dĩ thái của y. Điều quan trọng là chúng ta phải nhớ điều này.
117. It is thus clear and confirmed that the higher mental plane (on the two lower levels of which, causal bodies can be found—can they be found on the first level?) is considered in relation to the Heavenly Man (as Planetary Logos) an area of etheric expression.
117. Như vậy, rõ ràng và được xác nhận rằng cõi thượng trí (trên hai cấp độ thấp hơn của cõi này có thể tìm thấy các thể nguyên nhân—chúng có thể được tìm thấy trên cấp độ thứ nhất không?) được xem trong tương quan với Đấng Thiên Nhân (với tư cách Đức Hành Tinh Thượng Đế) là một khu vực của sự biểu lộ dĩ thái.
118. Since human causal bodies are not found on the concrete mental subplanes, those subplanes cannot be considered etheric in relation to the Planetary Logos or greatest planetary Heavenly Man.
118. Vì các thể nguyên nhân của con người không được tìm thấy trên các cõi phụ trí cụ thể, nên các cõi phụ ấy không thể được xem là dĩ thái trong tương quan với Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Đấng Thiên Nhân hành tinh vĩ đại nhất.
119. Yet, we have been reading of a type of Heavenly Man for whom the entire manasic plane stands as an area of etheric expression. The nature of such a lesser Heavenly Man must be ascertained.
119. Tuy nhiên, chúng ta đã đọc về một loại Đấng Thiên Nhân mà đối với Ngài toàn bộ cõi manas là một khu vực biểu lộ dĩ thái. Bản chất của một Đấng Thiên Nhân thấp hơn như thế phải được xác định.
120. It is also confirmed that the lower mental plane must be considered equivalent to the gaseous subplane of the Planetary Logos’ dense physical vehicle.
120. Điều cũng được xác nhận là cõi hạ trí phải được xem là tương đương với cõi phụ khí của hiện thể xác đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế.
121. If these speculations are correct, we can see that each of these great beings has a differing number of systemic etheric sub-planes go to the constitution of the etheric sub-planes of these beings.
121. Nếu những suy đoán này là đúng, chúng ta có thể thấy rằng mỗi một trong các hữu thể vĩ đại này có một số lượng khác nhau các cõi phụ dĩ thái của hệ góp phần vào cấu tạo các cõi phụ dĩ thái của các hữu thể ấy.
122. The Solar Logos has a fourth etheric vehicle with seven systemic sub-planes (the seven sub-planes of the systemic buddhic plane). The Planetary Logos has a fourth etheric vehicle with only three systemic sub-planes (the three sub-planes of the systemic higher mental plane). We could speculate upon the number of systemic sub-planes which go to the constitution of a Chain Lord and Globe Lord, but not enough is known to make such speculation really profitable. We can only speculate that the numbers will vary.
122. Thái dương Thượng đế có một hiện thể dĩ thái thứ tư với bảy cõi phụ của hệ (bảy cõi phụ của cõi Bồ đề của hệ). Đức Hành Tinh Thượng Đế có một hiện thể dĩ thái thứ tư chỉ với ba cõi phụ của hệ (ba cõi phụ của cõi thượng trí của hệ). Chúng ta có thể suy đoán về số lượng cõi phụ của hệ góp phần vào cấu tạo của một Chúa Tể Dãy và Chúa Tể Bầu hành tinh, nhưng chưa biết đủ để làm cho sự suy đoán ấy thực sự hữu ích. Chúng ta chỉ có thể suy đoán rằng các con số sẽ khác nhau.
123. If we hope in any way to maintain numerical consistency between the numbers of systemic sub-planes involved in the expression of (for instance) the four etheric vehicles of these different types of beings, we shall have to have what we might call plane-overlap. This is perhaps an unusual idea and there is no way to verify that if may be true.
123. Nếu chúng ta hy vọng bằng cách nào đó duy trì được tính nhất quán số học giữa số lượng các cõi phụ của hệ tham dự vào sự biểu lộ của (chẳng hạn) bốn hiện thể dĩ thái của các loại hữu thể khác nhau này, thì chúng ta sẽ phải có điều mà có thể gọi là sự chồng lấn cõi. Đây có lẽ là một ý tưởng khác thường và không có cách nào để kiểm chứng rằng nó có thể là đúng.
124. For instance, a Solar Logos has seven systemic sub-planes which constitute His lowest or fourth ether, the buddhic plane. Is it justifiable to think that a Planetary Logos has only three systemic sub-planes constituting His fourth or lowest ether (i.e., the higher mental plane)?
124. Chẳng hạn, một Thái dương Thượng đế có bảy cõi phụ của hệ cấu thành cõi dĩ thái thấp nhất hay thứ tư của Ngài, tức cõi Bồ đề. Có chính đáng không khi nghĩ rằng một Đức Hành Tinh Thượng Đế chỉ có ba cõi phụ của hệ cấu thành cõi dĩ thái thứ tư hay thấp nhất của Ngài (tức cõi thượng trí)?
125. OR, using the principle of plane overlap, may the lowest of the Planetary Logos’ four etheric vehicles consist of three systemic sub-planes on the higher mental plane and the four lowest sub-planes on the systemic buddhic plane.
125. HOẶC, dùng nguyên lý chồng lấn cõi, liệu hiện thể dĩ thái thấp nhất trong bốn hiện thể dĩ thái của Đức Hành Tinh Thượng Đế có thể gồm ba cõi phụ của hệ trên cõi thượng trí và bốn cõi phụ thấp nhất trên cõi Bồ đề của hệ chăng.
126. If we give this idea credence, we shall have to think that our usual maps of the planes and sub-planes are drawn from the perspective of the Solar Logos and man, and not from the perspective of any of the Heavenly Men in a planetary scheme.
126. Nếu chúng ta chấp nhận ý tưởng này, chúng ta sẽ phải nghĩ rằng các bản đồ thông thường của chúng ta về các cõi và cõi phụ được vẽ từ quan điểm của Thái dương Thượng đế và con người, chứ không phải từ quan điểm của bất kỳ Đấng Thiên Nhân nào trong một hệ hành tinh.
127. Just as there are no hard and fast boundaries between the signs of the zodiac, so there would be a system of relativity defining the boundaries of various planes, depending upon the type of entity or being under discussion.
127. Cũng như không có những ranh giới cứng nhắc giữa các dấu hiệu hoàng đạo, thì sẽ có một hệ thống tính tương đối xác định ranh giới của các cõi khác nhau, tùy thuộc vào loại thực thể hay hữu thể đang được bàn đến.
128. We think of our systemic higher mental plane as mental, but to a Planetary Logos it is etheric (or, at least, part of His etheric constitution) and to a Solar Logos it is gaseous (along with the concrete mental sub-planes). To a Chain Lord it may be analogous to the astral body and to a Globe Lord the higher mental plane may be as the lower mental plane.
128. Chúng ta nghĩ về cõi thượng trí của hệ như là trí tuệ, nhưng đối với một Đức Hành Tinh Thượng Đế, nó là dĩ thái (hoặc ít nhất là một phần trong cấu tạo dĩ thái của Ngài) và đối với một Thái dương Thượng đế, nó là khí (cùng với các cõi phụ trí cụ thể). Đối với một Chúa Tể Dãy, nó có thể tương tự như thể cảm dục, và đối với một Chúa Tể Bầu hành tinh, cõi thượng trí có thể giống như cõi hạ trí.
129. If we study what might be called ‘the continuum of prakritic vibration’, we may be able to more easily understand the principle of ‘planar overlap’.
129. Nếu chúng ta nghiên cứu điều có thể được gọi là “liên tục thể của rung động prakriti”, chúng ta có thể hiểu dễ hơn nguyên lý “chồng lấn cõi”.
130. Obviously, we cannot ascertain the truth here. All we can do is follow the suggested analogies and attend to the implications.
130. Hiển nhiên, chúng ta không thể xác định chân lý ở đây. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là theo các phép tương đồng được gợi ý và chú ý đến các hàm ý của chúng.
131. VSK suggests: “This is related to table on TCF 331, and helps solve the problem of the question of which is the colour of buddhi.”
131. VSK gợi ý: “Điều này có liên hệ với bảng ở TCF 331, và giúp giải quyết vấn đề câu hỏi màu sắc của Bồ đề là gì.”
It should be borne in mind that the manifesting Existences embody certain planes, and have Their points of deepest involution on diverse levels:
Cần ghi nhớ rằng các Hữu Thể đang biểu lộ nhập thể một số cõi nhất định, và có các điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của Các Ngài trên những cấp độ khác nhau:
132. Here are series of important comparisons which will convey to us the areas of manifestation for three types of self-conscious entities.
132. Ở đây là một loạt so sánh quan trọng sẽ truyền đạt cho chúng ta các khu vực biểu lộ của ba loại thực thể ngã thức.
133. Man, a Planetary Logos and a Solar Logos are all “manifesting Existences”.
133. Con người, một Đức Hành Tinh Thượng Đế và một Thái dương Thượng đế đều là những “Hữu Thể đang biểu lộ”.
134. This extract seems to confirm the possibility of the validity of ‘planar overlap’.
134. Đoạn trích này dường như xác nhận khả năng hiệu lực của “sự chồng lấn cõi”.
135. If we say that “manifesting Existences embody certain planes”, may it be justifiable to say that they also embody certain sub-planes?
135. Nếu chúng ta nói rằng “các Hữu Thể đang biểu lộ nhập thể một số cõi nhất định”, thì có chính đáng không khi nói rằng các Ngài cũng nhập thể một số cõi phụ nhất định?
136. In studying the planar gamut of manifestation for diverse entities, the principle of relativity will, it seems, have to be considered.
136. Khi nghiên cứu toàn bộ dải cõi biểu lộ của các thực thể khác nhau, dường như nguyên lý tính tương đối sẽ phải được xét đến.
a. A Man originates on the monadic level, has his main focal point on the fifth level, the mental, but is seeking full conscious development on the three lower planes, the mental, the astral and the physical.
a. Một Con Người phát sinh trên cấp độ chân thần, có điểm tập trung chính của mình trên cấp độ thứ năm, tức cõi trí, nhưng đang tìm kiếm sự phát triển hữu thức trọn vẹn trên ba cõi thấp hơn, tức cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần.
137. The relationship between the two an the five is here clearly evident, for the human Monad’s center of origination is on the second plane while the main focal point of man-the-Monad is on the fifth plane.
137. Mối tương quan giữa số hai và số năm ở đây hiển nhiên rõ rệt, vì trung tâm phát sinh của chân thần con người ở trên cõi thứ hai trong khi điểm tập trung chính của con người-như-chân-thần ở trên cõi thứ năm.
138. There is also an implied connection between the numbers one and five, for the Monad, although on the second plane, represents the first aspect of divinity. The numbers one and five are, of course, intimately related. The number one is the Father and five is the Son.
138. Cũng có một mối liên hệ hàm ẩn giữa các số một và năm, vì chân thần, dù ở trên cõi thứ hai, lại tượng trưng cho phương diện thứ nhất của thiên tính. Dĩ nhiên, các số một và năm có liên hệ mật thiết. Số một là Cha và số năm là Con.
139. When dealing with the true origin of man, it is practical to indicate the monadic level, but what of the Sea of Fire? When the monadic sheath is destroyed, then man-the-essential-Monad is surely not destroyed, but (so it seems reasonable to infer) would be liberated into the sea of fire.
139. Khi bàn đến nguồn gốc đích thực của con người, việc chỉ ra cấp độ chân thần là thực tiễn, nhưng còn Biển Lửa thì sao? Khi lớp vỏ chân thần bị hủy diệt, thì con người-như-chân-thần-bản chất chắc chắn không bị hủy diệt, mà (dường như có thể suy ra hợp lý như vậy) sẽ được giải thoát vào biển lửa.
140. The monadic level is the operative point of monadic focus for man’s entire pilgrimage into the lower five planes, however when dealing with the more remote origin of the Monad and its eventual destiny, still higher planes (i.e., cosmic sub-planes) will have to be considered.
140. Cấp độ chân thần là điểm hoạt động của sự tập trung chân thần cho toàn bộ cuộc hành hương của con người vào năm cõi thấp hơn, tuy nhiên khi bàn đến nguồn gốc xa xôi hơn của chân thần và định mệnh cuối cùng của nó, thì các cõi còn cao hơn nữa (tức các cõi phụ vũ trụ) sẽ phải được xét đến.
b. A Heavenly Man has His source outside the solar system (as man outside the three worlds of his endeavor),
b. Một Đấng Thiên Nhân có nguồn gốc của Ngài ở ngoài hệ mặt trời (cũng như con người ở ngoài ba cõi giới của nỗ lực của mình),
141. When the Tibetan references the solar system He often confines Himself to the cosmic physical plane.
141. Khi Chân sư Tây Tạng nhắc đến hệ mặt trời, Ngài thường tự giới hạn vào cõi hồng trần vũ trụ.
142. Since we are talking about sources, we are talking about Monads. It must be remembered, however, that the Ego is, in a way, the source for manifesting man, just as the planetary logoic Ego or the solar logoic Ego would be sources for the manifesting Planetary Logos and Solar Logos respectively.
142. Vì chúng ta đang nói về các nguồn gốc, nên chúng ta đang nói về các chân thần. Tuy nhiên, phải nhớ rằng chân ngã, theo một cách nào đó, là nguồn gốc cho con người đang biểu lộ, cũng như chân ngã hành tinh thượng đế hay chân ngã thái dương thượng đế sẽ là nguồn gốc cho Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế đang biểu lộ tương ứng.
143. Nevertheless, we do seem to be talking of Monads.
143. Tuy nhiên, chúng ta quả thực dường như đang nói về các chân thần.
144. The true origin of a Planetary Logos or Heavenly Man (let us, for the most part, treat these terms as equivalent) is probably the cosmic monadic plane. This may be inferred because the causal body of a Planetary Logos is found upon the higher levels of the cosmic mental plane, just as the causal body of man is found upon the higher levels of the systemic mental plane.
144. Nguồn gốc đích thực của một Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Đấng Thiên Nhân (phần lớn chúng ta hãy xem các thuật ngữ này là tương đương) có lẽ là cõi chân thần vũ trụ. Điều này có thể được suy ra vì thể nguyên nhân của một Đức Hành Tinh Thượng Đế được tìm thấy trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ, cũng như thể nguyên nhân của con người được tìm thấy trên các cấp độ cao hơn của cõi trí của hệ.
145. It is probable that the Heavenly Man here discussed is the greatest of our planetary Heavenly Men—the Planetary Logos.
145. Có lẽ Đấng Thiên Nhân được bàn đến ở đây là vĩ đại nhất trong các Đấng Thiên Nhân hành tinh của chúng ta—Đức Hành Tinh Thượng Đế.
146. When (on p. 271) DK spoke of a Heavenly Man who “has an originating source, His Monad, a semi-permanent body on the monadic levels of the solar system”, we have to be very careful. Does the Heavenly Man there under discussion have both “an originating source, His Monad” and “a semi-permanent body of the monadic levels of the solar system”?
146. Khi (ở tr. 271) Chân sư DK nói về một Đấng Thiên Nhân “có một nguồn gốc khởi nguyên, Chân thần của Ngài, một thể bán thường tồn trên các cấp độ chân thần của hệ mặt trời”, chúng ta phải hết sức cẩn trọng. Phải chăng Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây có cả “một nguồn gốc khởi nguyên, Chân thần của Ngài” và “một thể bán thường tồn trên các cấp độ chân thần của hệ mặt trời”?
147. OR, is the phrase “a semi-permanent body on the monadic levels of the solar system” a phrase in apposition, referring to “His Monad”?
147. HAY, cụm từ “một thể bán thường tồn trên các cấp độ chân thần của hệ mặt trời” là một cụm từ đồng vị, quy chiếu về “Chân thần của Ngài”?
148. Why is the word “and” not used before “a semi-permanent body” just as it is earlier in the paragraph when describing a human being, for a human being has a Monad as an “originating source” and a “semi-permanent vehicle, the causal body”? Is this just an error? Or is it meant to produce ambiguity and, hence, a deeper search.
148. Tại sao từ “và” lại không được dùng trước “một thể bán thường tồn” như đã được dùng trước đó trong đoạn khi mô tả một con người, vì con người có một Chân thần như một “nguồn gốc khởi nguyên” và một “vận cụ bán thường tồn, thể nguyên nhân”? Đây chỉ là một sai sót chăng? Hay điều đó được dụng ý để tạo ra sự mơ hồ và do đó dẫn đến một sự truy cứu sâu hơn.
149. If the solar system is considered to be the cosmic physical plane, then all three types of planetary Heavenly Men may have originating sources outside the solar system.
149. Nếu hệ mặt trời được xem là cõi hồng trần vũ trụ, thì cả ba loại Đấng Thiên Nhân hành tinh đều có thể có các nguồn gốc khởi nguyên bên ngoài hệ mặt trời.
150. The Monad of our Planetary Logos (and of all Planetary Logoi) are, we infer, to be found upon the cosmic monadic plane. Where are the originating sources of those Heavenly Men known as Chain Lords and Globe Lords?
150. Chân thần của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta (và của mọi Hành Tinh Thượng Đế) theo suy luận của chúng ta được tìm thấy trên cõi chân thần vũ trụ. Các nguồn gốc khởi nguyên của những Đấng Thiên Nhân được biết đến như các Chúa Tể của Dãy và các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh ở đâu?
151. If the aggregations of human Monads on the systemic monadic plane are a kind of causal body to a certain type of Heavenly Man, then the monadic origin of that type of Heavenly Man would certainly be found outside the solar system (considering the solar system as the cosmic physical plane).
151. Nếu các tập hợp những Chân thần nhân loại trên cõi chân thần của hệ thống là một loại thể nguyên nhân đối với một loại Đấng Thiên Nhân nào đó, thì nguồn gốc chân thần của loại Đấng Thiên Nhân ấy hẳn nhiên sẽ được tìm thấy bên ngoài hệ mặt trời (khi xem hệ mặt trời như cõi hồng trần vũ trụ).
152. We cannot say upon what type of contra-parallel the Monad of a Chain Lord may be found, or the Monad of a Globe Lord, but it would seem likely to be on cosmic planes above the cosmic physical plane (on which the human Monad has its point of focus).
152. Chúng ta không thể nói Chân thần của một Chúa Tể của Dãy hay của một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh có thể được tìm thấy trên loại đối song nào, nhưng có vẻ hợp lý là nó nằm trên các cõi vũ trụ cao hơn cõi hồng trần vũ trụ (nơi Chân thần nhân loại có điểm tập trung của nó).
153. We are somewhat limited here because we do not know what might be called the ‘developmental proportion’ between a Planetary Logos and His subsidiaries—Chain Lords and Globe Lords. We have some idea of how to measure man against a Solar Logos or Planetary Logos, but how to measure a Globe Lord or a Chain Lord against a Planetary Logos?
153. Ở đây chúng ta phần nào bị giới hạn vì không biết điều có thể gọi là “tỉ lệ phát triển” giữa một Hành Tinh Thượng Đế và các phân thể phụ thuộc của Ngài—các Chúa Tể của Dãy và các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh. Chúng ta có một vài ý niệm về cách đo lường con người so với một Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng Đế, nhưng làm sao đo lường một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay một Chúa Tể của Dãy so với một Hành Tinh Thượng Đế?
154. The Tibetan has been talking mainly about four types of atoms—the tiny atom of matter/substance; man as an atom; the Planetary Logos as an atom and the Solar Logos as an atom.
154. Chân sư Tây Tạng chủ yếu đang nói về bốn loại nguyên tử—nguyên tử cực nhỏ của vật chất/chất liệu; con người như một nguyên tử; Hành Tinh Thượng Đế như một nguyên tử và Thái dương Thượng đế như một nguyên tử.
155. May it be possible that there are also inferences concerning Globe Lords and Chain Lords as atoms?
155. Có thể chăng cũng có những suy luận liên quan đến các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh và các Chúa Tể của Dãy như những nguyên tử?
156. The three worlds of man’s endeavor are the physical-etheric, the astral and the lower mental worlds.
156. Ba cõi giới của nỗ lực nơi con người là các cõi hồng trần-dĩ thái, cảm dục và hạ trí.
157. What are the three worlds of endeavor for the type of Heavenly Man here discussed? If the Heavenly Man is the Planetary Logos, then the three worlds are the cosmic physical plane, the cosmic astral plane and the lower cosmic mental plane. Thus, the originating source of the Planetary Logos would have to be ‘above’ even the cosmic mental plane.
157. Ba cõi giới của nỗ lực đối với loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây là gì? Nếu Đấng Thiên Nhân là Hành Tinh Thượng Đế, thì ba cõi giới ấy là cõi hồng trần vũ trụ, cõi cảm dục vũ trụ và cõi hạ trí vũ trụ. Như vậy, nguồn gốc khởi nguyên của Hành Tinh Thượng Đế hẳn phải ở “trên” cả cõi trí tuệ vũ trụ.
has His main focal point on the second plane of the system, the monadic,
có điểm tập trung chính của Ngài trên cõi thứ hai của hệ thống, cõi chân thần,
158. What for man is monadic and his highest point of focus is for the type of Heavenly Man here discussed an intermediary point of expression. We note, however, that the causal body of a Planetary Logos is not found upon the systemic monadic plane but upon the cosmic mental plane.
158. Điều gì đối với con người là chân thần và là điểm tập trung cao nhất của y thì đối với loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây lại là một điểm biểu lộ trung gian. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng thể nguyên nhân của một Hành Tinh Thượng Đế không được tìm thấy trên cõi chân thần của hệ thống mà trên cõi trí tuệ vũ trụ.
159. So for the Planetary Logos (the greatest of the three types planetary Heavenly Men), the focus on the systemic monadic plane is not a causal focus, though such a focus may be considered an analogy to causal focus for a lesser type of planetary Heavenly Man.
159. Vì vậy, đối với Hành Tinh Thượng Đế (vĩ đại nhất trong ba loại Đấng Thiên Nhân hành tinh), điểm tập trung trên cõi chân thần của hệ thống không phải là một điểm tập trung nguyên nhân, mặc dù một điểm tập trung như vậy có thể được xem là một sự tương đồng với điểm tập trung nguyên nhân đối với một loại Đấng Thiên Nhân hành tinh thấp hơn.
and is seeking consciousness on the planes of the Triad,—this in relation to all the cells in His body.
và đang tìm kiếm tâm thức trên các cõi của Tam nguyên tinh thần,—điều này trong liên hệ với mọi tế bào trong thân thể của Ngài.
160. This is an important point. Man (as a cell in the body of the Planetary Logos) is the medium through which a Heavenly Man is seeking to expand His consciousness on the cosmic physical plane.
160. Đây là một điểm quan trọng. Con người (như một tế bào trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế) là trung gian mà qua đó một Đấng Thiên Nhân đang tìm cách mở rộng tâm thức của Ngài trên cõi hồng trần vũ trụ.
161. Man is seeking full consciousness development on the lower three systemic planes and “A Heavenly Man” is seeking full consciousness development through man through the spiritual triad of man—the spiritual triad being for man as the personality of the Monad.
161. Con người đang tìm kiếm sự phát triển trọn vẹn của tâm thức trên ba cõi thấp của hệ thống và “một Đấng Thiên Nhân” đang tìm kiếm sự phát triển trọn vẹn của tâm thức qua con người, thông qua tam nguyên tinh thần của con người—tam nguyên tinh thần đối với con người cũng như phàm ngã của chân thần.
162. Man, it would seem, is as a cell of consciousness for the type of Heavenly Man here discussed and indispensable for the expansion of the consciousness.
162. Có vẻ như con người là một tế bào tâm thức đối với loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây và là điều không thể thiếu cho sự mở rộng của tâm thức.
163. We are told that the type of Heavenly Man here discussed “has His main focal point on the second plane of the system, the monadic”. This statement must be compared with the ‘location’ of the “main focal point” for man and for the Solar Logos. Man has his main focal point on causal levels. From what is said about the Solar Logos, it seems possible that He, too, has His main focal point on cosmic causal levels, for we are told that He “has His main focal point on the cosmic mental plane”.
163. Chúng ta được cho biết rằng loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây “có điểm tập trung chính của Ngài trên cõi thứ hai của hệ thống, cõi chân thần”. Phát biểu này phải được so sánh với “vị trí” của “điểm tập trung chính” nơi con người và nơi Thái dương Thượng đế. Con người có điểm tập trung chính của mình trên các cấp độ nguyên nhân. Từ những gì được nói về Thái dương Thượng đế, có vẻ có thể là Ngài cũng có điểm tập trung chính của Ngài trên các cấp độ nguyên nhân vũ trụ, vì chúng ta được cho biết rằng Ngài “có điểm tập trung chính của Ngài trên cõi trí tuệ vũ trụ”.
164. If the Heavenly Man here discussed is really the Planetary Logos of the Earth-scheme, something is out of proportion. If the Heavenly Man under discussion is really the full Planetary Logos, He too should have His main focal point on what for Him are causal levels, but this is not the case.
164. Nếu Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến ở đây thực sự là Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Địa Cầu, thì có điều gì đó mất cân xứng. Nếu Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến thực sự là Hành Tinh Thượng Đế trọn vẹn, thì Ngài cũng phải có điểm tập trung chính của Ngài trên điều mà đối với Ngài là các cấp độ nguyên nhân, nhưng không phải như vậy.
165. The conclusion to be drawn is that when Master DK speaks of a Heavenly Man, He is not always talking about the same type of being!
165. Kết luận phải rút ra là khi Chân sư DK nói về một Đấng Thiên Nhân, Ngài không phải lúc nào cũng nói về cùng một loại hữu thể!
166. It may be that there is a type of blinding going on, by means of which a Globe Lord or Chain Lord is discussed in relation to man, and not always the great Planetary Logos of the entire Earth-scheme.
166. Có thể đang diễn ra một loại che mờ nào đó, nhờ đó một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay Chúa Tể của Dãy được bàn đến trong liên hệ với con người, chứ không phải lúc nào cũng là Hành Tinh Thượng Đế vĩ đại của toàn bộ hệ hành tinh Địa Cầu.
167. Because there are three types of Heavenly Men associated with our planetary scheme, one must remain very alert with regard to the meaning of the references. A sense of proportion will be an important guide.
167. Bởi vì có ba loại Đấng Thiên Nhân gắn liền với hệ hành tinh của chúng ta, người ta phải luôn hết sức tỉnh táo đối với ý nghĩa của các quy chiếu. Ý thức về tỉ lệ sẽ là một chỉ dẫn quan trọng.
He developed consciousness on the three [Page 272] lower planes of the three worlds during the first solar system, again in relation to the cells in His body.
Ngài đã phát triển tâm thức trên ba [Page 272] cõi thấp của ba cõi giới trong hệ mặt trời thứ nhất, một lần nữa trong liên hệ với các tế bào trong thân thể của Ngài.
168. The more one studies these references in depth, their many layers are revealed, if not understood. The Tibetan packs so much information into a few words
168. Càng nghiên cứu sâu những quy chiếu này, nhiều tầng lớp của chúng càng được bộc lộ ra, dù chưa hẳn được thấu hiểu. Chân sư Tây Tạng gói ghém quá nhiều thông tin trong một vài từ
169. Just as the Solar Logos has evolved considerably since His expression through His first major solar system, so have Heavenly Men.
169. Cũng như Thái dương Thượng đế đã tiến hóa đáng kể kể từ khi Ngài biểu lộ qua hệ mặt trời lớn đầu tiên của Ngài, các Đấng Thiên Nhân cũng vậy.
170. When the Tibetan speaks of the “first solar system”, does He mean the first of three major solar systems or the first of the five of which our present solar system is the fifth.
170. Khi Chân sư Tây Tạng nói về “hệ mặt trời thứ nhất”, Ngài muốn nói đến hệ mặt trời lớn thứ nhất trong ba hệ mặt trời lớn hay hệ thứ nhất trong năm hệ mà hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là hệ thứ năm.
171. The first of the five would have to have been a very material solar system.
171. Hệ thứ nhất trong năm hẳn phải là một hệ mặt trời rất vật chất.
172. If we use analogy, we shall see that the efforts of the Heavenly Man under discussion in relation to the first major solar system were analogically closer to the present efforts of man than the Heavenly Man’s efforts in relation to the present solar system.
172. Nếu dùng sự tương đồng, chúng ta sẽ thấy rằng những nỗ lực của Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến liên hệ với hệ mặt trời lớn thứ nhất gần với những nỗ lực hiện nay của con người hơn, theo nghĩa tương đồng, so với những nỗ lực của Đấng Thiên Nhân liên hệ với hệ mặt trời hiện tại.
173. We are told that the Heavenly Man is presently seeking consciousness on the planes of the Triad. This would mean (if the Heavenly Man under discussion is the full Planetary Logos) that He is seeking a type of etheric consciousness.
173. Chúng ta được cho biết rằng Đấng Thiên Nhân hiện đang tìm kiếm tâm thức trên các cõi của Tam nguyên tinh thần. Điều này có nghĩa (nếu Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến là Hành Tinh Thượng Đế trọn vẹn) rằng Ngài đang tìm kiếm một loại tâm thức dĩ thái.
174. Yet we are told that the Planetary Logos is not only seeking consciousness but “control” on the cosmic astral plane. Does this not seem like a discrepancy?
174. Tuy nhiên, chúng ta được cho biết rằng Hành Tinh Thượng Đế không chỉ tìm kiếm tâm thức mà còn tìm kiếm “sự kiểm soát” trên cõi cảm dục vũ trụ. Điều này chẳng phải có vẻ như một sự bất nhất sao?
175. It is clear that some type of Heavenly Man is seeking consciousness through the cells of His body on the triadal levels, but is it the great Planetary Logos or a lesser Heavenly Man within the greater?
175. Rõ ràng là một loại Đấng Thiên Nhân nào đó đang tìm kiếm tâm thức qua các tế bào trong thân thể của Ngài trên các cấp độ tam nguyên, nhưng đó là Hành Tinh Thượng Đế vĩ đại hay một Đấng Thiên Nhân thấp hơn bên trong Đấng lớn hơn?
176. The term “in relation to the cells in His body” (the human and deva units) is of importance. Man in the aggregate is an extension of the consciousness of the Heavenly Man. This is probably true on all planets and in relation to all Heavenly Men.
176. Thuật ngữ “trong liên hệ với các tế bào trong thân thể của Ngài” (các đơn vị người và thiên thần) là điều quan trọng. Con người trong tổng thể là một sự mở rộng của tâm thức của Đấng Thiên Nhân. Điều này có lẽ đúng trên mọi hành tinh và trong liên hệ với mọi Đấng Thiên Nhân.
177. Really, man is an extension of the consciousness of all planetary Heavenly Men. It is simply a question of determining what type of extension. Obviously, the unit man means more to a Globe Lord than to a Chain Lord, and more to a Chain Lord than to a Planetary Logos.
177. Thực ra, con người là một sự mở rộng của tâm thức của mọi Đấng Thiên Nhân hành tinh. Chỉ là vấn đề xác định loại mở rộng nào. Hiển nhiên, đơn vị con người có ý nghĩa đối với một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh nhiều hơn đối với một Chúa Tể của Dãy, và có ý nghĩa đối với một Chúa Tể của Dãy nhiều hơn đối với một Hành Tinh Thượng Đế.
Man is repeating His endeavor up to the fifth Initiation which will bring him to a stage of consciousness achieved by a Heavenly Man in a much earlier mahamanvantara.
Con người đang lặp lại nỗ lực của Ngài cho đến lần điểm đạo thứ năm, điều sẽ đưa y đến một giai đoạn tâm thức mà một Đấng Thiên Nhân đã đạt được trong một Đại giai kỳ sinh hóa sớm hơn rất nhiều.
178. This is an extraordinary statement productive of expanded perspective.
178. Đây là một phát biểu phi thường, tạo ra một viễn cảnh được mở rộng.
179. The words “much earlier” demand to be quantified. Our Solar Logos has had, according to one method of enumeration, five solar systemic expressions. This is the fifth.
179. Những từ “sớm hơn rất nhiều” đòi hỏi phải được định lượng. Theo một phương pháp liệt kê, Thái dương Thượng đế của chúng ta đã có năm lần biểu lộ hệ mặt trời. Đây là lần thứ năm.
180. The words “much earlier” suggest that when our Heavenly Man (if we are now talking about the Planetary Logos) was (in composite form) an initiate of the fifth degree, it may not have been within the solar systems generated by our Solar Logos. During such solar systems (even if there were five) the Solar Logos has been a Solar Logos and, presumably, the Planetary Logos has been some kind of Planetary Logos—not just a man of the fifth initiation.
180. Những từ “sớm hơn rất nhiều” gợi ý rằng khi Đấng Thiên Nhân của chúng ta (nếu giờ đây chúng ta đang nói về Hành Tinh Thượng Đế) là một điểm đạo đồ bậc năm (trong hình thức tổng hợp), thì điều đó có thể đã không nằm trong các hệ mặt trời do Thái dương Thượng đế của chúng ta tạo ra. Trong các hệ mặt trời như thế (ngay cả nếu có năm), Thái dương Thượng đế đã là một Thái dương Thượng đế và, có lẽ, Hành Tinh Thượng Đế đã là một loại Hành Tinh Thượng Đế nào đó—chứ không chỉ là một con người ở lần điểm đạo thứ năm.
181. We cannot consider that a Heavenly Man in a much earlier Mahamanvantara was just as a single, individual man is now. A Planetary Logos is a group being, and it takes many men (developed later as Solar Angels) to form the composite-yet-unified consciousness of a Planetary Logos.
181. Chúng ta không thể xem rằng một Đấng Thiên Nhân trong một Đại giai kỳ sinh hóa sớm hơn rất nhiều đã chỉ giống như một con người đơn lẻ, cá biệt như hiện nay. Một Hành Tinh Thượng Đế là một hữu thể nhóm, và cần nhiều con người (về sau phát triển thành các Thái dương Thiên Thần) để hình thành tâm thức tổng hợp nhưng hợp nhất của một Hành Tinh Thượng Đế.
The Pitris who formed the egoic body of a human being do not—alone and isolated—form planetary Logoi. The forty-nine groups of solar fires concerned in the great work are those spoken of, and they become the forty-nine planetary Logoi in connexion with seven solar systems. (TCF 879)
Các tổ phụ đã hình thành thể chân ngã của một con người không—một mình và cô lập—hình thành các Hành Tinh Thượng Đế. Bốn mươi chín nhóm lửa thái dương liên quan đến đại công việc là những nhóm được nói đến, và chúng trở thành bốn mươi chín Hành Tinh Thượng Đế liên hệ với bảy hệ mặt trời. (TCF 879)
182. This is a very important point. Some may wish to debate it: namely that great group beings are ‘composite-yet-unitary’ entities.
182. Đây là một điểm rất quan trọng. Một số người có thể muốn tranh luận về điều này: tức là những hữu thể nhóm vĩ đại là những thực thể ‘tổng hợp nhưng đơn nhất’.
183. The many former men who now constitute a Heavenly Man were in the stage that many men are now “many” mahamanvantaras ago!
183. Nhiều con người trước kia mà nay cấu thành một Đấng Thiên Nhân đã ở trong giai đoạn mà nhiều con người nay đang ở, từ “nhiều” Đại giai kỳ sinh hóa trước!
184. At the very least, this statement gives some kind of idea of how long it takes to produce a Heavenly Man (though which of the Heavenly Men we do not know).
184. Ít nhất, phát biểu này cho một ý niệm nào đó về việc cần bao lâu để tạo ra một Đấng Thiên Nhân (mặc dù chúng ta không biết là loại nào trong các Đấng Thiên Nhân).
185. One must think of a few of the elevations through which man (individually and in increasingly large aggregates can pass)
185. Người ta phải nghĩ đến một vài cấp thăng tiến mà con người (cá nhân và trong những tập hợp ngày càng lớn hơn có thể đi qua)
a. Man
a. Con người
b. Solar Angel
b. Thái dương Thiên Thần
c. Groups of Solar Angels
c. Các nhóm Thái dương Thiên Thần
d. Still greater groupings of Solar Angels
d. Những tập hợp còn lớn hơn của các Thái dương Thiên Thần
e. Globe Lords
e. Các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh
f. Chain Lords
f. Các Chúa Tể của Dãy
g. Entities manifesting through Kingdoms of Nature (cf. TCF 648)
g. Các Thực Thể biểu lộ qua các giới trong thiên nhiên (x. TCF 648)
h. Planetary Logoi
h. Các Hành Tinh Thượng Đế
186. No doubt many steps are omitted, for our knowledge of the many rungs of this particular ‘Ladder of Entities’ is minimal. If, however, we understand these, ladders, we shall know the destiny of the various kinds of entities we can identify.
186. Hẳn nhiên nhiều nấc đã bị bỏ sót, vì tri thức của chúng ta về nhiều bậc trên “Thang Các Thực Thể” đặc thù này là rất ít ỏi. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu được những chiếc thang này, chúng ta sẽ biết vận mệnh của các loại thực thể khác nhau mà chúng ta có thể đồng hoá với.
In connection with the initiations this should be carefully borne in mind.
Liên hệ với các cuộc điểm đạo, điều này cần được ghi nhớ cẩn thận.
187. This sentence draws immediate attention to TCF 384, where initiations for man, the Planetary Logos and the Solar Logos are discussed. Man is mentioned in relation to the “first cosmic initiation”, and our Planetary Logos in relation to the “second cosmic initiation”.
187. Câu này lập tức hướng sự chú ý đến TCF 384, nơi các cuộc điểm đạo của con người, Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế được bàn đến. Con người được nhắc đến trong liên hệ với “cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất”, và Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta trong liên hệ với “cuộc điểm đạo vũ trụ thứ hai”.
188. The implication is that many mahamanvantaras lie between the first cosmic initiation being taken by man (his fifth planetary initiation) and the second initiation to be taken by the Planetary Logos.
188. Hàm ý là nhiều Đại giai kỳ sinh hóa nằm giữa cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất do con người thọ nhận (lần điểm đạo hành tinh thứ năm của y) và cuộc điểm đạo thứ hai sẽ do Hành Tinh Thượng Đế thọ nhận.
189. In fact the orders of initiation suggested must necessarily be different. It is as if the Planetary Logos must have a first cosmic initiation on His own level, and that the first cosmic initiation of a Planetary Logos is not the same as the first cosmic initiation for man. Again, this inference may be debated.
189. Thực ra, các cấp bậc điểm đạo được gợi ý hẳn nhiên phải khác nhau. Dường như Hành Tinh Thượng Đế phải có một cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất trên cấp độ riêng của Ngài, và cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất của một Hành Tinh Thượng Đế không giống với cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất của con người. Một lần nữa, suy luận này có thể bị tranh luận.
190. Because the fifth initiation is mentioned in relation to the type of Heavenly Man under discussion (TCF 272), and because on TCF 384, the fifth initiation is implied to be the “first cosmic initiation”, it is likely that the type of Heavenly Man under discussion is, indeed, the Planetary Logos.
190. Bởi vì lần điểm đạo thứ năm được nhắc đến trong liên hệ với loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến (TCF 272), và bởi vì ở TCF 384, lần điểm đạo thứ năm được hàm ý là “cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất”, nên có khả năng loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến quả thực là Hành Tinh Thượng Đế.
191. We are dealing with great Entities and vast cycles. No wonder we can only analogize towards some very loose, approximative speculations when dealing with these matters.
191. Chúng ta đang bàn đến những Thực Thể vĩ đại và những chu kỳ bao la. Không lạ gì khi chúng ta chỉ có thể suy luận theo tương đồng để đi đến một vài phỏng đoán rất lỏng và gần đúng khi xử lý những vấn đề này.
c. A solar Logos has His origin on a still higher cosmic level,
c. một Thái dương Thượng đế có nguồn gốc của Ngài trên một cấp độ vũ trụ còn cao hơn,
192. We must think carefully here. If our Planetary Logos has His causal body on the third level of the cosmic mental plane, and the Solar Logos has His causal body on the first level of the cosmic mental plane, is there any reason to think that both of them should not have their monadic origins on the cosmic monadic plane?
192. Ở đây chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận. Nếu Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta có thể nguyên nhân của Ngài trên cấp độ thứ ba của cõi trí tuệ vũ trụ, và Thái dương Thượng đế có thể nguyên nhân của Ngài trên cấp độ thứ nhất của cõi trí tuệ vũ trụ, thì có lý do gì để nghĩ rằng cả hai vị lại không có nguồn gốc chân thần của mình trên cõi chân thần vũ trụ?
193. Yet, even if both the Planetary Logos and the Solar Logos originated on the cosmic monadic plane, that high plane would necessarily be divided into various vibratory levels, and presumably the origin of the Solar Logos would be rather higher on the cosmic monadic plane than the origin of the Planetary Logos.
193. Tuy nhiên, ngay cả nếu cả Hành Tinh Thượng Đế lẫn Thái dương Thượng đế đều khởi nguyên trên cõi chân thần vũ trụ, thì cõi cao ấy hẳn nhiên phải được phân chia thành nhiều cấp độ rung động khác nhau, và có lẽ nguồn gốc của Thái dương Thượng đế sẽ cao hơn khá nhiều trên cõi chân thần vũ trụ so với nguồn gốc của Hành Tinh Thượng Đế.
194. We note that the sentence used the word “level” rather than “plane”. This invites the foregoing speculation.
194. Chúng ta lưu ý rằng câu văn dùng từ “cấp độ” thay vì “cõi”. Điều này gợi ra suy đoán vừa nêu.
has His main focal point on the cosmic mental plane but is expressing Himself through the three lower cosmic planes just as man is seeking self-expression in the three worlds.
có điểm tập trung chính của Ngài trên cõi trí tuệ vũ trụ nhưng đang biểu lộ chính Ngài qua ba cõi vũ trụ thấp cũng như con người đang tìm kiếm sự tự biểu lộ trong ba cõi giới.
195. We note that the Solar Logos, although a “Brother” of the Planetary Logoi, has “His main focal point” on a much higher level than have the Heavenly Men Logoi.
195. Chúng ta lưu ý rằng Thái dương Thượng đế, dù là một “Huynh Đệ” của các Hành Tinh Thượng Đế, lại có “điểm tập trung chính của Ngài” trên một cấp độ cao hơn rất nhiều so với các Đấng Thiên Nhân là các Hành Tinh Thượng Đế.
196. If the Heavenly Man under discussion is the Planetary Logos, then it would seem (as pointed out above) that the Law of Analogy has been violated. All three of the beings under discussion should have their main point of focus on causal levels. But, again, it would be reasonable for lesser Heavenly Men to have lesser main points of focus on the cosmic physical plane instead of on the cosmic mental plane.
196. Nếu Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến là Hành Tinh Thượng Đế, thì có vẻ như (như đã chỉ ra ở trên) định luật tương đồng đã bị vi phạm. Cả ba hữu thể đang được bàn đến đều phải có điểm tập trung chính của mình trên các cấp độ nguyên nhân. Nhưng, một lần nữa, sẽ hợp lý nếu các Đấng Thiên Nhân thấp hơn có các điểm tập trung chính thấp hơn trên cõi hồng trần vũ trụ thay vì trên cõi trí tuệ vũ trụ.
197. Why a great difference in main point of focus between a Solar Logos and a Planetary Logos would be so hard to fathom is because other points of comparison do not show the Planetary Logoi and the Solar Logos so far removed from each other. They are, after all, “Brothers” (“Martanda and His Seven Brothers”) coming into manifestation (as The Secret Doctrine tells us) at the same time. At least this would be so for the physical manifestation of the sacred planets in relation to the physical manifestation of the Sun.
197. Lý do khiến một khác biệt lớn trong điểm tập trung chính giữa một Thái dương Thượng đế và một Hành Tinh Thượng Đế khó lòng thấu hiểu là vì những điểm so sánh khác không cho thấy các Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế cách xa nhau đến thế. Rốt cuộc, các Ngài là “Huynh Đệ” (“Martanda và Bảy Huynh Đệ của Ngài”) cùng đi vào biểu lộ (như Giáo Lý Bí Nhiệm cho chúng ta biết) vào cùng một thời điểm. Ít nhất điều này sẽ đúng đối với sự biểu lộ hồng trần của các hành tinh thiêng liêng trong liên hệ với sự biểu lộ hồng trần của Mặt Trời.
198. It is hard to imagine why it should not be said that the Planetary Logoi have their main point of focus on the cosmic mental plane just as does the Solar Logos—though on a lower level of the cosmic mental plane. In fact, this must necessarily be the case if the Law of Analogy is to be upheld.
198. Thật khó hình dung tại sao lại không thể nói rằng các Hành Tinh Thượng Đế có điểm tập trung chính của mình trên cõi trí tuệ vũ trụ cũng như Thái dương Thượng đế—dù ở một cấp độ thấp hơn của cõi trí tuệ vũ trụ. Thực ra, điều này hẳn phải là như vậy nếu định luật tương đồng được duy trì.
199. While we cannot confirm that it is so, but it seems more and more probable that there are types of Heavenly Man which DK periodically references are of a lower order than a Planetary Logos—for instance a Globe Lord or Chain Lord. Then the discrepancy between the expression of the Solar Logos and “a Heavenly Man” would make more sense.
199. Dù chúng ta không thể xác nhận là như vậy, nhưng ngày càng có vẻ có xác suất rằng những loại Đấng Thiên Nhân mà Chân sư DK định kỳ nhắc đến thuộc một trật tự thấp hơn Hành Tinh Thượng Đế—chẳng hạn một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay Chúa Tể của Dãy. Khi đó, sự sai khác giữa sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế và “một Đấng Thiên Nhân” sẽ có ý nghĩa hơn.
200. We remember that the term “Heavenly Man” is generic and can refer to at least three categories of entity associated with the manifestation of a planetary scheme: the Planetary Logos, a Chain Lord, and a Globe Lord.
200. Chúng ta nhớ rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” là một thuật ngữ tổng quát và có thể quy chiếu đến ít nhất ba loại thực thể gắn liền với sự biểu lộ của một hệ hành tinh: Hành Tinh Thượng Đế, một Chúa Tể của Dãy, và một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh.
201. It would be productive to search the contexts in which the words “the Heavenly Man” and “a Heavenly Man” are used. Revelations concerning the levels of Heavenly Men might then appear.
201. Sẽ hữu ích nếu truy cứu các ngữ cảnh trong đó những từ “đấng Thiên Nhân” và “một Đấng Thiên Nhân” được dùng. Khi đó, những mặc khải liên quan đến các cấp độ của các Đấng Thiên Nhân có thể sẽ xuất hiện.
202. In any case the analogy between the Solar Logos and man is very close: Solar Logos/three lower cosmic planes = Man/three lower systemic planes.
202. Dù sao đi nữa, sự tương đồng giữa Thái dương Thượng đế và con người là rất gần: Thái dương Thượng đế/ba cõi vũ trụ thấp = Con người/ba cõi thấp của hệ thống.
Therefore, the seven major planes of the solar system are in the same relation to Him cosmically as the physical plane is to a human being. They form His etheric and dense bodies.
Do đó, bảy cõi chính của hệ mặt trời có cùng mối liên hệ với Ngài về mặt vũ trụ như cõi hồng trần đối với một con người. Chúng tạo thành thể dĩ thái và thể đậm đặc của Ngài.
203. We are speaking of the Solar Logos and man.
203. Chúng ta đang nói về Thái dương Thượng đế và con người.
204. This is another tremendously important statement. All the lower twenty-one systemic subplanes are the dense physical nature of the Solar Logos—material dense, liquid and gaseous.
204. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng khác. Toàn bộ hai mươi mốt cõi phụ thấp của hệ thống là bản chất hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế—vật chất đậm đặc, lỏng và khí.
205. The four higher systemic planes (twenty-eight systemic subplanes) are the etheric nature of the Solar Logos.
205. Bốn cõi chính cao hơn của hệ thống (hai mươi tám cõi phụ của hệ thống) là bản chất dĩ thái của Thái dương Thượng đế.
206. As previously stated, it would seem that the dense physical nature for our Planetary Logos should be the lower eighteen subplanes, and that the four ethers would be constituted by:
206. Như đã nói trước đây, có vẻ như bản chất hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta phải là mười tám cõi phụ thấp, và bốn dĩ thái sẽ được cấu thành bởi:
a. The higher mental subplanes
a. các cõi phụ thượng trí
b. The buddhic plane
b. cõi Bồ đề
c. The atmic plane
c. cõi atma
d. The monadic plane
d. cõi chân thần
207. The only “atom” which is directly and unequivocally related to man, analogically, is the Solar Logos. The sevens fit together very well when considering the human being and the “Grand Heavenly Man”.
207. “Nguyên tử” duy nhất có liên hệ trực tiếp và minh bạch với con người, theo tương đồng, là Thái dương Thượng đế. Các bộ bảy ăn khớp với nhau rất tốt khi xét con người và “Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại”.
208. Our analogical ingenuity is required when we start comparing the three types of planetary Heavenly Men with either the human being or the Solar Logos.
208. Sự khéo léo suy luận theo tương đồng của chúng ta là điều cần thiết khi bắt đầu so sánh ba loại Đấng Thiên Nhân hành tinh với con người hoặc với Thái dương Thượng đế.
209. Even when the great Heavenly Man called the Planetary Logos is meant, He may be functioning through various of His emanated aspects (a Globe Lord or a Chain Lord). Thus, when we are told that a Heavenly Man (Planetary Logos) is functioning in a certain manner and in relation to certain planes, it may indeed be the Planetary Logos functioning but through His lesser aspects (Globe Lords and Chain Lords).
209. Ngay cả khi Đấng Thiên Nhân vĩ đại được gọi là Hành Tinh Thượng Đế được ngụ ý, Ngài vẫn có thể đang hoạt động qua nhiều phương diện xuất lộ của Ngài (một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay một Chúa Tể của Dãy). Vì vậy, khi chúng ta được cho biết rằng một Đấng Thiên Nhân (Hành Tinh Thượng Đế) đang hoạt động theo một cách nào đó và trong liên hệ với những cõi nào đó, thì quả thực có thể là Hành Tinh Thượng Đế đang hoạt động nhưng qua các phương diện thấp hơn của Ngài (các Chúa Tể của Bầu Hành Tinh và các Chúa Tể của Dãy).
210. Thus, when a Globe Lord functions in a certain way and in relation to a certain plane, it is, indeed, the Planetary Logos (the greatest of the planetary Heavenly Men) that is functioning—‘behind’ and through the Globe Lord.
210. Vì vậy, khi một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hoạt động theo một cách nào đó và trong liên hệ với một cõi nào đó, thì quả thực chính Hành Tinh Thượng Đế (vĩ đại nhất trong các Đấng Thiên Nhân hành tinh) đang hoạt động—ở “phía sau” và thông qua Chúa Tể của Bầu Hành Tinh.
211. Interesting problems are revealed when considering the constitution of a Planetary Logos. For instance, how many Sanat Kumaras are there? Some at globe levels? Some fewer at chain levels? One originating Sanat Kumara at the scheme level?
211. Những vấn đề thú vị được bộc lộ khi xem xét cấu tạo của một Hành Tinh Thượng Đế. Chẳng hạn, có bao nhiêu Đức Sanat Kumara? Một số ở các cấp độ bầu hành tinh? Một số ít hơn ở các cấp độ dãy? Một Đức Sanat Kumara khởi nguyên ở cấp độ hệ hành tinh?
212. The same question can be applied to Buddhas of Activity and their higher correspondences (cf. TCF 873). The various kinds of Buddhas, all interrelated and the lesser as emanations of the greater, are found at the globe, chain and scheme levels.
212. Cùng một câu hỏi có thể được áp dụng cho các Đức Phật Hoạt Động và các tương ứng cao hơn của các Ngài (x. TCF 873). Các loại Đức Phật khác nhau, tất cả đều liên hệ với nhau và loại thấp hơn là những xuất lộ của loại cao hơn, được tìm thấy ở các cấp độ bầu hành tinh, dãy và hệ hành tinh.
213. By understanding the dynamics of the process of emanation, it is possible to speak of an ‘originating being’ in terms of His emanations. The lesser emanations naturally would have a lesser scope of expression, but the emanative source works through the lesser emanations.
213. Bằng cách thấu hiểu động lực của tiến trình xuất lộ, người ta có thể nói về một ‘hữu thể khởi nguyên’ theo các xuất lộ của Ngài. Các xuất lộ thấp hơn dĩ nhiên sẽ có phạm vi biểu lộ nhỏ hơn, nhưng nguồn xuất lộ ấy lại hoạt động qua các xuất lộ thấp hơn.
214. Thus, in a planetary scheme, there are many individual Heavenly Men (as there are a number of globes and chains), and yet, but one Heavenly Man (the emanative source of them all—the Planetary Logos).
214. Vì vậy, trong một hệ hành tinh, có nhiều Đấng Thiên Nhân cá biệt (cũng như có một số bầu hành tinh và dãy), nhưng đồng thời chỉ có một Đấng Thiên Nhân (nguồn xuất lộ của tất cả các vị ấy—Hành Tinh Thượng Đế).
215. Entities of different power and scope are ‘spread’ differently across the systemic and cosmic planes. Each type of entity has its own particular ‘space’ for expression.
215. Các thực thể có quyền năng và phạm vi khác nhau được “trải” khác nhau trên các cõi của hệ thống và các cõi vũ trụ. Mỗi loại thực thể có “không gian” biểu lộ riêng biệt của nó.
It might be stated that:
Có thể phát biểu rằng:
1. He vitalises them by His life and heat.
1. Ngài tiếp sinh lực cho chúng bằng sự sống và nhiệt của Ngài.
216. Life relates to the first aspect of divinity and “heat” to the third. In this context, “light” relates to the second aspect.
216. Sự sống liên hệ với phương diện thứ nhất của thiên tính và “nhiệt” với phương diện thứ ba. Trong ngữ cảnh này, “ánh sáng” liên hệ với phương diện thứ hai.
2. He animates them.
2. Ngài làm cho chúng sinh động.
217. The word “animate” suggests not only vitalization but the influence of the soul or “anima”.
217. Từ “làm cho sinh động” gợi ý không chỉ sự tiếp sinh lực mà còn ảnh hưởng của linh hồn hay “anima”.
3. He is fully conscious through them.
3. Ngài hoàn toàn có tâm thức qua chúng.
218. Through both His etheric and dense vehicles, or only through His etheric vehicle, since the dense vehicle is not a principle?
218. Qua cả hai vận cụ dĩ thái và đậm đặc của Ngài, hay chỉ qua vận cụ dĩ thái của Ngài, vì vận cụ đậm đặc không phải là một nguyên khí?
219. What does it mean that the Solar Logos descends no lower than the systemic buddhic plane?
219. Điều đó có nghĩa gì khi nói rằng Thái dương Thượng đế không giáng xuống thấp hơn cõi Bồ đề của hệ thống?
220. One can imagine however, that as man solarizes his consciousness the consciousness of the Solar Logos would, through man, penetrate deeper and deeper into the matter which for Him is unprincipled.
220. Tuy nhiên, người ta có thể hình dung rằng khi con người thái dương hóa tâm thức của mình, tâm thức của Thái dương Thượng đế sẽ, thông qua con người, thâm nhập ngày càng sâu hơn vào vật chất vốn đối với Ngài là không có nguyên khí.
4. The etheric is in time His lowest principle, but the dense physical is not counted.
4. Thể dĩ thái theo thời gian là nguyên khí thấp nhất của Ngài, nhưng thể hồng trần đậm đặc thì không được tính.
221. In what way “not counted”? Probably, simply, not counted as a principle.
221. “Không được tính” theo nghĩa nào? Có lẽ đơn giản là không được tính như một nguyên khí.
222. Does this mean that the Solar Logos is not fully conscious through His dense physical vehicles—the lower three systemic planes? That they are below the threshold of His consciousness, just as there are certain physiological functions in man’s body which are below the threshold?
222. Điều này có nghĩa rằng Thái dương Thượng đế không hoàn toàn có tâm thức qua các vận cụ hồng trần đậm đặc của Ngài—ba cõi thấp của hệ thống? Rằng chúng ở dưới ngưỡng tâm thức của Ngài, cũng như có những chức năng sinh lý nào đó trong thể con người ở dưới ngưỡng ấy?
223. The words “in time” are enigmatic. Does this suggest that the principles of the Solar Logos are numbered differently ‘out of time’?
223. Những từ “theo thời gian” thật bí ẩn. Điều này có gợi ý rằng các nguyên khí của Thái dương Thượng đế được đánh số khác đi khi ‘ngoài thời gian’ không?
224. Perhaps, time and space (as we conceived them) only refer to the cosmic physical plane on which the solar logoic etheric body is the only principle.
224. Có lẽ thời gian và không gian (như chúng ta quan niệm) chỉ quy chiếu đến cõi hồng trần vũ trụ, trên đó thể dĩ thái thái dương thượng đế là nguyên khí duy nhất.
The dense cosmic physical body is composed of matter of the three lower planes of the solar system, the mental, the astral and the physical. The buddhic plane is consequently the fourth cosmic ether.
Thể hồng trần vũ trụ đậm đặc được cấu thành từ vật chất của ba cõi thấp của hệ mặt trời: cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. Do đó cõi Bồ đề là dĩ thái vũ trụ thứ tư.
225. This is simple cosmic geography and must be grasped by all students of TCF.
225. Đây là địa lý học vũ trụ đơn giản và phải được mọi đạo sinh của TCF nắm vững.
226. VSK asks: “Why in this last sentence, is “consequently” italicized – emphasizing this point?”
226. VSK hỏi: “Vì sao trong câu cuối này, từ “consequently” lại được in nghiêng—để nhấn mạnh điểm này?”
227. May it be suggested that the relationship between man and the Solar Logos is simply being driven home?
227. Có thể gợi ý rằng mối liên hệ giữa con người và Thái dương Thượng đế đơn giản đang được nhấn mạnh chăng?
228. Also, the abstraction of the Solar Logos from the lower three systemic planes is being emphasized.
228. Ngoài ra, sự trừu xuất của Thái dương Thượng đế khỏi ba cõi hệ thống thấp cũng đang được nhấn mạnh.
d. The Heavenly Men form the seven centres in the body of the Logos.
d. Các Đấng Thiên Nhân tạo thành bảy trung tâm trong thân thể của Thượng đế.
229. Yes, seven, but by other enumerations there are ten Heavenly Men. Or are there really twelve major Heavenly Men, for, one day, each constellation of the zodiac will be known as ruled by one of the Planetary Logoi.
229. Đúng, bảy, nhưng theo những cách liệt kê khác thì có mười Đấng Thiên Nhân. Hay thật ra có mười hai Đấng Thiên Nhân chính yếu, vì một ngày kia, mỗi chòm sao trong hoàng đạo sẽ được biết là do một trong các Hành Tinh Thượng Đế cai quản.
230. The Heavenly Men here referenced must necessarily be Scheme Lords. The lesser, emanative extensions of the Planetary Logos are not centres in the body of the Logos.
230. Các Đấng Thiên Nhân được nhắc đến ở đây nhất thiết phải là các Chúa Tể của hệ hành tinh. Những sự mở rộng xuất lộ thấp hơn của Hành Tinh Thượng Đế không phải là các trung tâm trong thân thể của Thượng đế.
Therefore, They are the spheres of fire which animate His body, and each of Them expresses one form of His force manifestation, according to Their place within the body.
Vì vậy, Các Ngài là những khối cầu lửa làm sinh động thân thể của Ngài, và mỗi Đấng trong Các Ngài biểu lộ một hình thức biểu hiện mãnh lực của Ngài, tùy theo vị trí của Các Ngài trong thể ấy.
231. Another name for a chakra is a “sphere of fire”.
231. Một tên gọi khác của luân xa là “khối cầu lửa”.
232. One of the great questions is: how can any entity be itself to itself, and yet constitute but a functional part of a greater encompassing entity?
232. Một trong những câu hỏi lớn là: làm sao bất kỳ thực thể nào có thể là chính nó đối với chính nó, mà đồng thời lại chỉ cấu thành một phần chức năng của một thực thể bao quát lớn hơn?
233. This is only possible if apparently separate entities are not separate at all. Every sphere is organically related to a larger encompassing sphere, until the universal ‘Sphere of all Spheres’ is reached.
233. Điều này chỉ có thể nếu những thực thể có vẻ tách biệt thật ra hoàn toàn không tách biệt. Mỗi khối cầu đều liên hệ hữu cơ với một khối cầu bao quát lớn hơn, cho đến khi đạt tới ‘Khối Cầu của mọi Khối Cầu’ vũ trụ.
e. Human beings, when centred within their groups on causal levels, form one or other of the seven centres in the body of a Heavenly Man.
e. Con người, khi được định tâm trong các nhóm của mình trên các cấp độ nguyên nhân, tạo thành trung tâm này hay trung tâm kia trong thân thể của một Đấng Thiên Nhân.
234. Here is a big hint. What kind of Heavenly Man are we discussing? It surely must be evident that in the section of TCF we are studying the mystery of the various types of Heavenly Men through subtle hints if not over statements.
234. Đây là một gợi ý lớn. Chúng ta đang bàn về loại Đấng Thiên Nhân nào? Hẳn phải rõ rằng trong phần của TCF mà chúng ta đang nghiên cứu, chúng ta đang khảo sát huyền nhiệm về các loại Đấng Thiên Nhân khác nhau qua những gợi ý tinh tế, nếu không phải là những phát biểu trực tiếp.
235. If planetary chains are as major chakras to a Heavenly Man (considered as the Planetary Logos), then (in relation to such a Heavenly Man) what kind of centers or chakras are formed by human beings within their groups on causal levels?
235. Nếu các dãy hành tinh là những luân xa chính đối với một Đấng Thiên Nhân (được xem như Hành Tinh Thượng Đế), thì (liên hệ với một Đấng Thiên Nhân như thế) con người trong các nhóm của mình trên các cấp độ nguyên nhân tạo thành loại trung tâm hay luân xa nào?
236. The answer must come—“much smaller centers”.
236. Câu trả lời hẳn phải là—“những trung tâm nhỏ hơn nhiều”.
237. However, if the type of Heavenly Man discussed is a Globe Lord, then it is conceivable that groups of human beings on causal levels could serve as at least minor centers in relation to such an entity.
237. Tuy nhiên, nếu loại Đấng Thiên Nhân được bàn đến là một Chúa Tể của bầu hành tinh, thì có thể hình dung rằng các nhóm người trên các cấp độ nguyên nhân có thể phục vụ như ít nhất là những trung tâm phụ đối với một thực thể như vậy.
238. It would seem that the seven major groups of human Monads on the systemic monadic plane could serve as the major seven centers of a Globe Lord.
238. Có vẻ như bảy nhóm lớn các chân thần người trên cõi chân thần hệ thống có thể phục vụ như bảy trung tâm chính của một Chúa Tể của bầu hành tinh.
239. On the chain level, all Monads on all globes of a chain would have to be considered in seven great aggregates, even to comprise minor chain centers—for are not the globes within a chain the major chakras of that chain?
239. Ở cấp độ dãy, tất cả các chân thần trên mọi bầu hành tinh của một dãy sẽ phải được xét trong bảy tập hợp lớn, ngay cả để cấu thành những trung tâm dãy phụ—vì chẳng phải các bầu hành tinh trong một dãy là những luân xa chính của dãy đó sao?
240. We are just trying to keep our determinations in proportion through the Law of Analogy.
240. Chúng ta chỉ đang cố giữ cho các xác định của mình đúng tỉ lệ qua định luật tương đồng.
241. On the scheme level, all monads on all chains would have to be considered in seven great aggregates, even to comprise minor scheme centers, for are not the seven chains within a planetary scheme the seven major chakras of that scheme?
241. Ở cấp độ hệ hành tinh, tất cả các chân thần trên mọi dãy sẽ phải được xét trong bảy tập hợp lớn, ngay cả để cấu thành những trung tâm hệ hành tinh phụ, vì chẳng phải bảy dãy trong một hệ hành tinh là bảy luân xa chính của hệ đó sao?
Each of the seven chains might be looked upon as picturing the seven centres of one of the Heavenly Men. (TCF 206)
Mỗi một trong bảy dãy có thể được xem như phác họa bảy trung tâm của một trong các Đấng Thiên Nhân. (TCF 206)
242. We are dealing with a problem of scale which should not be ignored.
242. Chúng ta đang xử lý một vấn đề về quy mô mà không nên bỏ qua.
243. In relation to the excerpt above, we must also remember that the true groups of human beings which go to the constitution of a Heavenly Man are now focussed upon the triadal planes; i.e., the Hierarchy changed its focus to the buddhic plane and the majority of Ashrams are now found on the buddhic plane and not on the causal planes.
243. Liên hệ với đoạn trích trên, chúng ta cũng phải nhớ rằng các nhóm người đích thực cấu thành nên một Đấng Thiên Nhân hiện nay được tập trung trên các cõi tam nguyên tinh thần; tức là, Thánh đoàn đã chuyển trọng tâm sang cõi Bồ đề và đa số các ashram hiện nay được tìm thấy trên cõi Bồ đề chứ không phải trên các cõi nguyên nhân.
244. We have to debate whether TCF was written before this great ‘move’, during it, or after it (unlikely).
244. Chúng ta phải bàn xem liệu TCF được viết trước cuộc “chuyển dời” lớn lao này, trong khi nó diễn ra, hay sau đó (điều này khó xảy ra).
f. The solar Logos forms one centre in the body of a still greater cosmic ENTITY.
f. Thái dương Thượng đế tạo thành một trung tâm trong thể của một THỰC THỂ vũ trụ còn lớn hơn nữa.
245. This ENTITY is not what is usually considered the One About Whom Naught May Be Said, but a cosmic ENTITY which is only a chakra in the One About Whom Naught May Be Said. (cf. TCF 293).
245. THỰC THỂ này không phải là điều thường được xem là Đấng Bất Khả Tư Nghị, mà là một THỰC THỂ vũ trụ chỉ là một luân xa trong Đấng Bất Khả Tư Nghị. (xem TCF 293).
246. Not much is said about the Cosmic Logos who contains our solar system as but a chakra. Because not much is said, perhaps this ENTITY should be called the One About Whom Not Much Is Said!
246. Không có nhiều điều được nói về Thượng đế Vũ Trụ chứa hệ mặt trời của chúng ta chỉ như một luân xa. Vì không có nhiều điều được nói, có lẽ THỰC THỂ này nên được gọi là Đấng mà về Ngài Không Nhiều Điều Được Nói Đến!
Human beings therefore [Page 273] find their place within one of the forty-nine centres (not groups, for a centre may be made up of many groups, corresponding to the different parts) of the seven Heavenly Men.
Vì vậy, con người [Page 273] tìm thấy vị trí của mình trong một trong bốn mươi chín trung tâm (không phải các nhóm, vì một trung tâm có thể được tạo thành từ nhiều nhóm, tương ứng với các phần khác nhau) của bảy Đấng Thiên Nhân.
247. If the seven Heavenly Men have forty-nine centers, then it is reasonable to think of these centers as forty-nine planetary chains (of the principle seven Planetary Logoi).
247. Nếu bảy Đấng Thiên Nhân có bốn mươi chín trung tâm, thì hợp lý khi nghĩ về các trung tâm này như bốn mươi chín dãy hành tinh (của bảy Hành Tinh Thượng Đế chính yếu).
248. The excerpt suggests that human beings are found on each and all of these forty-nine planetary chains.
248. Đoạn trích gợi ý rằng con người được tìm thấy trên từng và mọi dãy hành tinh trong bốn mươi chín dãy này.
249. How many groups go to the constitution of a center? Well, we can imagine that there are many, many kinds of lives and groups of lives which go to the constitution of a planetary chain.
249. Có bao nhiêu nhóm cấu thành một trung tâm? Chúng ta có thể hình dung rằng có rất, rất nhiều loại sự sống và nhóm sự sống cấu thành một dãy hành tinh.
250. What is being said is that man is not part of the constitution of all groups that constitute one of the forty-nine centers. This must be obvious, because some of those groups are animal, plant, deva, etc. groups.
250. Điều đang được nói là con người không phải là một phần trong cấu tạo của mọi nhóm cấu thành một trong bốn mươi chín trung tâm. Điều này hẳn là hiển nhiên, vì một số nhóm ấy là các nhóm động vật, thực vật, thiên thần, v.v.
251. This material about globes, chains and schemes is heavily veiled. It is so veiled, that we do not know how heavily it is veiled; we, therefore, imagine what is to be revealed as much more transparent than it really is.
251. Tài liệu này về các bầu hành tinh, các dãy và các hệ hành tinh được che phủ rất dày. Nó được che phủ đến mức chúng ta không biết nó được che phủ nặng đến mức nào; vì vậy, chúng ta tưởng tượng điều sẽ được tiết lộ minh bạch hơn thực tế rất nhiều.
252. Not until we know much more about the vibratory and ‘aggregatory’ nature of matter-substance and the many different methods of expressing polarity, will we know how chains and schemes are actually formed.
252. Chỉ đến khi chúng ta biết nhiều hơn rất nhiều về bản chất rung động và ‘kết tập’ của vật chất-chất liệu và nhiều phương pháp khác nhau để biểu lộ sự phân cực, chúng ta mới biết các dãy và các hệ hành tinh thực sự được hình thành như thế nào.
A Heavenly Man, with His seven centres,
Một Đấng Thiên Nhân, với bảy trung tâm của Ngài,
253. Here the term “Heavenly Man” definitely means one of the Planetary Logoi.
253. Ở đây, thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” chắc chắn có nghĩa là một trong các Hành Tinh Thượng Đế.
254. These centers are planetary chains.
254. Các trung tâm này là các dãy hành tinh.
forms one centre in the body of the solar Logos.
tạo thành một trung tâm trong thân thể của Thái dương Thượng đế.
255. Determining which planetary schemes represent which centers is a vexed question requiring ongoing investigation.
255. Việc xác định hệ hành tinh nào tượng trưng cho trung tâm nào là một vấn đề nan giải, đòi hỏi sự khảo cứu liên tục.
256. Throughout these commentaries, many thoughts have been offered on this subject and will be offered.
256. Xuyên suốt các phần bình giải này, nhiều tư tưởng đã được nêu ra về chủ đề này và sẽ còn được nêu ra.
I would here point out to you the close connection existing between the seven Rishis of the Great Bear and the seven Heavenly Men.
Ở đây tôi muốn chỉ ra cho bạn mối liên hệ mật thiết hiện hữu giữa bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh và bảy Đấng Thiên Nhân.
257. The Seven Rishis are ‘prototypical’ to the Heavenly Men.
257. Bảy Đấng Rishi là những nguyên mẫu đối với các Đấng Thiên Nhân.
The seven Rishis (as They are called) of the Great Bear express Themselves through the medium of the seven planetary Logoi Who are Their Representatives and to Whom They stand in the relation of prototype. (EA 85)
Bảy Đấng Rishi (như Các Ngài được gọi) của Đại Hùng Tinh biểu lộ Chính Mình qua trung gian của bảy Hành Tinh Thượng Đế, là những Đấng Đại Diện của Các Ngài và đối với các Ngài, Các Đấng Rishi đứng trong mối quan hệ nguyên mẫu. (EA 85)
The seven Rishis of the Great Bear are to Them what the Monad is to the evolving human unit.
Bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh đối với Các Ngài cũng như chân thần đối với đơn vị người đang tiến hoá.
258. If this is the case, what is the Solar Logos to the seven Heavenly Men? Does the Solar Logos stand more as the soul to the Heavenly Men?
258. Nếu đúng như vậy, thì Thái dương Thượng đế là gì đối với bảy Đấng Thiên Nhân? Có phải Thái dương Thượng đế đứng gần như linh hồn đối với các Đấng Thiên Nhân chăng?
259. Compared to the duration of a Monad, there are many appearances of the “evolving human unit”—IF by this phrase is meant the human personality.
259. So với thời lượng của một chân thần, có nhiều lần xuất hiện của “đơn vị người đang tiến hoá”—NẾU cụm từ này được hiểu là phàm ngã con người.
260. Of course, the “evolving human unit” could be considered as the soul nature of the human being.
260. Dĩ nhiên, “đơn vị người đang tiến hoá” có thể được xem là bản chất linh hồn của con người.
261. Really, both the personality and the soul nature (and its form) evolve, but the evolution of the soul nature and its form is the more substantial, and the degree of evolution of the personality is only a reflection of the evolution of the soul.
261. Thật ra, cả phàm ngã lẫn bản chất linh hồn (và hình tướng của nó) đều tiến hoá, nhưng sự tiến hoá của bản chất linh hồn và hình tướng của nó thì đáng kể hơn, còn mức độ tiến hoá của phàm ngã chỉ là sự phản chiếu của sự tiến hoá của linh hồn.
262. If, for instance, the “evolving human unit” meant the soul nature, then the Seven Rishis would hold the “Fixed Design” for each Heavenly Man, and the Heavenly Man would attempt to express this Fixed Design through its soul nature.
262. Chẳng hạn, nếu “đơn vị người đang tiến hoá” có nghĩa là bản chất linh hồn, thì Bảy Đấng Rishi sẽ nắm giữ “Thiết Kế Cố Định” cho mỗi Đấng Thiên Nhân, và Đấng Thiên Nhân sẽ cố gắng biểu lộ Thiết Kế Cố Định này qua bản chất linh hồn của mình.
263. One would expect at least several incarnations of a Heavenly Man during the term of supervision by one of the Rishis.
263. Người ta hẳn sẽ mong đợi ít nhất vài lần lâm phàm của một Đấng Thiên Nhân trong thời kỳ được một trong các Đấng Rishi giám sát.
264. Although this interesting analogy is given, it must not be forgotten that a Heavenly Man has His own monadic nature. His Monad and the Monad of one of the Seven Rishis are not identical in Time and Space, though essentially, they are the same (for all Monads are ONE).
264. Dù phép tương đồng thú vị này được đưa ra, không được quên rằng một Đấng Thiên Nhân có bản chất chân thần riêng của Ngài. Chân thần của Ngài và chân thần của một trong Bảy Đấng Rishi không đồng nhất trong Thời Gian và Không Gian, dù về bản chất, chúng là một (vì mọi chân thần đều là MỘT).
265. If the human Monad is the prototype to man (considered as a soul), then a Rishi (considered monadically) is a prototype to a Heavenly Man considered as a soul.
265. Nếu chân thần người là nguyên mẫu đối với con người (được xem như một linh hồn), thì một Đấng Rishi (được xét theo phương diện chân thần) là nguyên mẫu đối với một Đấng Thiên Nhân được xem như một linh hồn.
266. The analogy, however, is not exact.
266. Tuy nhiên, phép tương đồng này không chính xác hoàn toàn.
267. Whenever we say that a greater entity holds a function for that lower entity as a periodical vehicle of that lower entity (for instance, a soul or monad), we must realize that the lower entity has its own soul or Monad, and that the place held by the greater entity does not replace the soul function or monadic function of the lesser entity. This bears pondering.
267. Bất cứ khi nào chúng ta nói rằng một thực thể lớn hơn giữ một chức năng cho thực thể thấp hơn như một vận cụ chu kỳ của thực thể thấp hơn ấy (chẳng hạn như một linh hồn hay chân thần), chúng ta phải nhận ra rằng thực thể thấp hơn có linh hồn hoặc Chân thần riêng của nó, và vị trí do thực thể lớn hơn nắm giữ không thay thế chức năng linh hồn hay chức năng chân thần của thực thể nhỏ hơn. Điều này đáng để suy ngẫm.
VII. WHY IS THE PROGRESS OF EVOLUTION CYCLIC?
VII. TẠI SAO TIẾN TRÌNH TIẾN HOÁ LẠI CÓ TÍNH CHU KỲ?
This question is one which necessarily appalls us and makes us wonder.
Câu hỏi này là một câu hỏi nhất thiết khiến chúng ta kinh ngạc và tự hỏi.
268. VSK muses: “Well, now that you mention it, I could be appalled, but I didn’t know it was that bad. Now I wonder more …”
268. VSK ngẫm nghĩ: “Ồ, giờ bạn nhắc đến thì tôi có thể kinh ngạc, nhưng tôi đâu biết nó nghiêm trọng đến thế. Giờ tôi càng thắc mắc hơn …”
269. It would seem that one would have to know a great deal more than we do to be sufficiently appalled!
269. Có vẻ như người ta sẽ phải biết nhiều hơn chúng ta rất nhiều mới có thể kinh ngạc đầy đủ!
270. We do know that those who consider the progress of evolution as simply linear, will never understand the true process. For them, the science of astrology will be irrelevant and the process of reincarnation (as it is) practically meaningless.
270. Chúng ta biết rằng những ai xem tiến trình tiến hoá chỉ đơn thuần là tuyến tính sẽ không bao giờ hiểu được tiến trình đích thực. Đối với họ, khoa học chiêm tinh sẽ không thích đáng và tiến trình luân hồi (đúng như nó là) hầu như vô nghĩa.
Let us, therefore, deal with it as follows: Certain ideas are involved in the thought of cyclic progression, and these ideas it might pay us well to contemplate.
Vì vậy, chúng ta hãy bàn đến nó như sau: Có những ý tưởng nhất định hàm chứa trong tư tưởng về sự tiến triển theo chu kỳ, và những ý tưởng này rất đáng để chúng ta chiêm ngưỡng.
271. Now we will analyze the concept of “cyclic progression”.
271. Giờ đây chúng ta sẽ phân tích khái niệm “sự tiến triển theo chu kỳ”.
1. The Idea of Repetition.
1. Ý tưởng về sự lặp lại.
272. Without repetition, there is insufficient progression for growth. The greater must impart itself to the lesser. Because the absorptive power of the lesser is limited in scope compared to what is to be imparted by the greater, the instrumentality of repetition is needed to render the impartation successful.
272. Không có sự lặp lại thì không có đủ sự tiến triển cho tăng trưởng. Cái lớn hơn phải truyền đạt chính nó cho cái nhỏ hơn. Vì năng lực hấp thụ của cái nhỏ hơn bị giới hạn về phạm vi so với điều sẽ được cái lớn hơn truyền đạt, nên phương tiện lặp lại là cần thiết để làm cho sự truyền đạt thành công.
273. As human beings, we repeat what we have to say in order to make an impression.
273. Là con người, chúng ta lặp lại điều mình phải nói để tạo ấn tượng.
274. We do notice how often and from how many different angles DK seems to repeat Himself so that we may understand.
274. Chúng ta nhận thấy Chân sư DK dường như thường lặp lại Chính Mình biết bao và từ bao nhiêu góc độ khác nhau để chúng ta có thể thấu hiểu.
This repetition involves the following factors:
Sự lặp lại này bao gồm các yếu tố sau:
a. Repetition in time: The thought of cyclic activity necessitates periods of time of differing length—greater or lesser cycles—but (according to their length) of uniform degree.
a. Sự lặp lại trong thời gian: Tư tưởng về hoạt động theo chu kỳ đòi hỏi những khoảng thời gian có độ dài khác nhau—những chu kỳ lớn hơn hay nhỏ hơn—nhưng (theo độ dài của chúng) có mức độ đồng nhất.
275. Different cycles are of different duration. However, a particular category of cycle will be of uniform duration.
275. Những chu kỳ khác nhau có thời lượng khác nhau. Tuy nhiên, một loại chu kỳ nhất định sẽ có thời lượng đồng nhất.
276. The term “degree”, however, is perplexing.
276. Tuy nhiên, thuật ngữ “mức độ” thật khó hiểu.
277. A being in manifestation will pass through certain repetitive cycles in time. I, who occupy a certain space, will pass through a certain number of uniform days—the days of my ongoingness.
277. Một hữu thể đang biểu hiện sẽ đi qua những chu kỳ lặp lại nhất định trong thời gian. Tôi, kẻ chiếm một không gian nhất định, sẽ đi qua một số ngày đồng nhất nhất định—những ngày của sự tiếp diễn của tôi.
278. The period of Earth around the Sun will (at this approximate time in the evolutionary process of our solar system) always take 365¼ Earth days.
278. Chu kỳ Trái Đất quay quanh Mặt Trời sẽ (vào thời điểm gần đúng này trong tiến trình tiến hoá của hệ mặt trời chúng ta) luôn mất 365¼ ngày Trái Đất.
279. The uniformity of cyclic events is a vital principle of the order which characterizes cosmos. We do not expect that one revolution of the Earth around the Sun will be of the usual duration and the next revolution half as long.
279. Tính đồng nhất của các biến cố chu kỳ là một nguyên lý thiết yếu của trật tự đặc trưng cho vũ trụ. Chúng ta không mong đợi rằng một vòng quay của Trái Đất quanh Mặt Trời sẽ có thời lượng thông thường còn vòng quay kế tiếp lại chỉ dài bằng một nửa.
280. All this is another way of saying that the cycles of nature are regular. Cycles of different types have different durations, but cycles of the same type have uniform duration.
280. Tất cả điều này là một cách khác để nói rằng các chu kỳ của bản chất là đều đặn. Các chu kỳ thuộc những loại khác nhau có thời lượng khác nhau, nhưng các chu kỳ cùng loại có thời lượng đồng nhất.
281. When dealing with tightening and loosening spirals, the cycles proceed according to definite formulas and not randomly.
281. Khi bàn đến những vòng xoắn siết chặt và nới lỏng, các chu kỳ diễn tiến theo những công thức xác định chứ không ngẫu nhiên.
A manvantara, or Day of Brahma, is always of a certain length, and so is a mahamanvantara. The cycles wherein an atom of any plane revolves upon its axis are uniform on its own plane.
Một giai kỳ sinh hóa, hay Ngày của Brahma, luôn có một độ dài nhất định, và một Đại giai kỳ sinh hóa cũng vậy. Các chu kỳ trong đó một nguyên tử của bất kỳ cõi nào quay quanh trục của nó đều đồng nhất trên chính cõi của nó.
282. DK gives examples of the kind we have been discussing.
282. Chân sư DK đưa ra những ví dụ thuộc loại chúng ta đang bàn đến.
283. The uniform “Day of Brahma” is uniform with respect to our solar system and, perhaps, with respect to solar systems like ours. But presumably, there may be “Days of Brahma” in other kinds of systems which are of different duration from “Days of Brahma” within out own system.
283. “Ngày của Brahma” đồng nhất là đồng nhất đối với hệ mặt trời của chúng ta và, có lẽ, đối với những hệ mặt trời giống như hệ của chúng ta. Nhưng có lẽ, có thể có những “Ngày của Brahma” trong những loại hệ khác có thời lượng khác với những “Ngày của Brahma” trong chính hệ của chúng ta.
284. The cycles of any particular category of entity in nature are uniform “on its own plane”. This may mean that an entity, whose structure consists of a number of planes, has cycles of revolution which are different on the various planes upon which it expresses—different, but uniform on each particular plane.
284. Các chu kỳ của bất kỳ loại thực thể riêng biệt nào trong bản chất đều đồng nhất “trên chính cõi của nó”. Điều này có thể có nghĩa là một thực thể, có cấu trúc gồm một số cõi, có các chu kỳ quay khác nhau trên những cõi khác nhau mà nó biểu lộ—khác nhau, nhưng đồng nhất trên từng cõi riêng biệt.
285. One wonders whether we are being told that a “Day of Brahma” has something to do with revolution/rotation upon an axis.
285. Người ta tự hỏi liệu chúng ta có đang được bảo rằng một “Ngày của Brahma” có liên hệ nào đó với sự quay/quay tròn quanh một trục hay không.
286. One wonders further whether repetition in time always involves revolution and rotation (as distinct from vibration).
286. Người ta còn tự hỏi thêm liệu sự lặp lại trong thời gian có luôn bao hàm sự quay và quay tròn (phân biệt với rung động) hay không.
287. We learn from HPB that such a “Day” can be determined by planetary movement.
287. Chúng ta học được từ HPB rằng một “Ngày” như vậy có thể được xác định bằng chuyển động hành tinh.
“One day out of this long life of Brahma is called Kalpa; and a Kalpa is that portion of time which intervenes between one conjunction of all the planets on the horizon of Lanka, at the first point of Aries, and a subsequent similar conjunction.” (TCF 36, note 6)
“Một ngày trong đời sống dài lâu này của Brahma được gọi là Kalpa; và một Kalpa là khoảng thời gian xen giữa một lần đồng vị của tất cả các hành tinh trên chân trời Lanka, tại điểm đầu tiên của Bạch Dương, và một lần đồng vị tương tự tiếp theo.” (TCF 36, chú thích 6)
288. We have been describing “Repetition in Time”.
288. Chúng ta đã mô tả “Sự lặp lại trong Thời gian”.
289. This type of repetition may be considered related to the kind of repetition described below.
289. Loại lặp lại này có thể được xem là có liên hệ với loại lặp lại được mô tả dưới đây.
b. Repetition in fact: This involves the idea of a key measure, or sound of any particular group of atoms that go to the composition of any particular form.
b. Sự lặp lại trong sự kiện: Điều này bao hàm ý tưởng về một nhịp độ chủ âm, hay âm thanh của bất kỳ nhóm nguyên tử riêng biệt nào cấu thành bất kỳ hình tướng riêng biệt nào.
290. Here we are dealing with the phenomenon of frequency, pitch and key-note.
290. Ở đây chúng ta đang bàn đến hiện tượng tần số, cao độ và chủ âm.
291. The example suggests minute and extremely rapid cycles.
291. Ví dụ này gợi ý những chu kỳ cực nhỏ và cực kỳ nhanh.
292. When contrasting the first type of repetition with the second, we may have to contrast revolution/rotation with vibration/oscillation.
292. Khi đối chiếu loại lặp lại thứ nhất với loại thứ hai, có lẽ chúng ta phải đối chiếu sự quay/quay tròn với rung động/dao động.
293. It is clear that fact and form are related.
293. Rõ ràng là sự kiện và hình tướng có liên hệ với nhau.
This grouping of atoms will tend to the make-up of a particular series of circumstances and will repeat the measure or sound when an animating factor is brought to bear upon them.
Sự kết nhóm các nguyên tử này sẽ có xu hướng tạo nên một chuỗi hoàn cảnh riêng biệt và sẽ lặp lại nhịp độ hay âm thanh khi một yếu tố làm sinh động được tác động lên chúng.
294. If a certain stimulating note is sounding, a group of atoms (responding to the sounding note) will continue to be similarly related and will thus appear as an ongoing form—the form will remain the same. They repeat their relationship, and, thus, the circumstances they represent keep re-presenting themselves.
294. Nếu một âm điệu kích thích nào đó đang được xướng lên, một nhóm nguyên tử (đáp ứng với âm điệu đang vang lên) sẽ tiếp tục liên hệ với nhau theo cách tương tự và do đó sẽ xuất hiện như một hình tướng tiếp diễn—hình tướng sẽ vẫn như cũ. Chúng lặp lại mối liên hệ của mình, và do đó, những hoàn cảnh mà chúng biểu thị cứ tiếp tục tự trình hiện.
295. Something significant is here suggested about the habit nature.
295. Ở đây có điều gì đó quan trọng được gợi ra về bản chất thói quen.
296. When this type of repetition recurs, we say “the same thing happened again”.
296. Khi loại lặp lại này tái diễn, chúng ta nói “cùng một việc lại xảy ra”.
297. If circumstances are to change, then the frequency, pitch or key-notes of the associated atomic aggregates have to change.
297. Nếu hoàn cảnh phải thay đổi, thì tần số, cao độ hay các chủ âm của những tập hợp nguyên tử liên hệ phải thay đổi.
298. The atoms must become refined and newly aggregated if they are to respond differently to the animating factor to which, in the past, they always responded similarly. In other words, the animating factor is not solely responsible for the response; it is also the condition of the atoms, their quality and their relationship to each other.
298. Các nguyên tử phải trở nên tinh luyện và được kết tập lại theo cách mới nếu chúng phải đáp ứng khác đi với yếu tố làm sinh động mà trong quá khứ chúng luôn đáp ứng giống nhau. Nói cách khác, yếu tố làm sinh động không phải là điều duy nhất chịu trách nhiệm cho sự đáp ứng; còn có tình trạng của các nguyên tử, phẩm tính của chúng và mối liên hệ của chúng với nhau.
299. Change of circumstance can occur in two ways; either the condition of the responding atoms, their quality and their relationship to each other changes; or, the quality and intensity of the animating factor or note will change.
299. Sự thay đổi hoàn cảnh có thể xảy ra theo hai cách; hoặc tình trạng của các nguyên tử đáp ứng, phẩm tính của chúng và mối liên hệ của chúng với nhau thay đổi; hoặc phẩm tính và cường độ của yếu tố làm sinh động hay âm điệu sẽ thay đổi.
When the vitalising force is contacting at stated periods a certain set of atoms, it will call forth from them a specific sound which will demonstrate objectively as environing circumstances.
Khi mãnh lực tiếp sinh lực tiếp xúc vào những thời điểm nhất định với một tập hợp nguyên tử nào đó, nó sẽ gọi ra từ chúng một âm thanh đặc thù, âm thanh này sẽ biểu hiện khách quan thành những hoàn cảnh bao quanh.
300. In case we do not recognize it, we are being given a very clear lesson in micro-occultism.
300. Trong trường hợp chúng ta không nhận ra điều đó, thì ở đây chúng ta đang được trao cho một bài học rất rõ ràng về huyền bí học vi mô.
301. We also gather that circumstance is sound and sound is circumstance. As well, the sound of circumstance is an atomic evocation.
301. Chúng ta cũng hiểu rằng hoàn cảnh là âm thanh và âm thanh là hoàn cảnh. Ngoài ra, âm thanh của hoàn cảnh là một sự gợi lên nguyên tử.
302. What is required for a change of circumstances can loosely be called ‘atomic reconditioning’.
302. Điều cần thiết cho một sự thay đổi hoàn cảnh có thể được gọi một cách lỏng là ‘sự tái định hình nguyên tử’.
In other words, [Page 274] the interplay of the Self and the not-self is invariably of a cyclic nature.
Nói cách khác, [Page 274] sự tương tác giữa Bản Ngã và không-phải-Bản Ngã luôn luôn có bản chất chu kỳ.
303. For instance, the Solar Angel sends out cyclic impulses to its ‘shadow man’. The man then responds according to his present condition.
303. Chẳng hạn, Thái dương Thiên Thần phát ra những xung lực chu kỳ đến ‘người bóng’ của nó. Khi ấy con người đáp ứng tùy theo tình trạng hiện tại của mình.
304. It is important to recognize that that factor within man (or any other type of Man) which we call the Self, relates to the not-Self in a cyclic manner.
304. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng yếu tố bên trong con người (hay bất kỳ loại Người nào khác) mà chúng ta gọi là Bản Ngã liên hệ với không-phải-Bản Ngã theo một cách thức chu kỳ.
The same quality in tone will be called forth by the Self as it indwells the form, but the key will ascend by gradual degrees.
Cùng một phẩm tính trong âm điệu sẽ được Bản Ngã gọi ra khi nó ngự trong hình tướng, nhưng chủ âm sẽ thăng lên theo những cấp độ dần dần.
305. A “key” is a tonal center or musical pitch around which a musical composition revolves and to which it invariably and finally returns (at least before writing with consistency in a given key was abandoned in the late 19th century).
305. Một “chủ âm” là một trung tâm âm điệu hay cao độ âm nhạc mà quanh đó một tác phẩm âm nhạc xoay chuyển và cuối cùng luôn quay về (ít nhất là trước khi việc sáng tác nhất quán trong một chủ âm nhất định bị từ bỏ vào cuối thế kỷ 19th).
306. It is the fundamental tone or tonic that is keyed-up—i.e., ascends by gradual degrees. Every entity (and both planes and sub-planes are atomic aggregates ensouled by great devic entities) has its fundamental note or keynote.
306. Chính âm cơ bản hay âm chủ được nâng lên—tức là, thăng lên theo những cấp độ dần dần. Mọi thực thể (và cả các cõi lẫn cõi phụ đều là những tập hợp nguyên tử được các thực thể thiên thần lớn phú linh) đều có âm cơ bản hay chủ âm của nó.
307. As the atomic form is refined and the interrelation of atoms is rendered more archetypal, the ability to vibrate to higher frequencies grows, and, correspondingly, the pitch or key of the atomic response rises. In other words, the atoms vibrate to a faster measure.
307. Khi hình tướng nguyên tử được tinh luyện và mối tương liên của các nguyên tử trở nên nguyên mẫu hơn, khả năng rung động với những tần số cao hơn tăng lên, và tương ứng như vậy, cao độ hay chủ âm của sự đáp ứng nguyên tử tăng lên. Nói cách khác, các nguyên tử rung động theo một nhịp độ nhanh hơn.
308. As the basic or fundamental note rises, the relationship between all atomic factors is intensified and purified.
308. Khi âm cơ bản hay âm nền tăng lên, mối liên hệ giữa mọi yếu tố nguyên tử được tăng cường và thanh lọc.
309. Our Solar Logos, for instance, has changed His key-note from F to G. This represents an elevated vibration and a change from the color green to blue.
309. Chẳng hạn, Thái dương Thượng đế của chúng ta đã đổi chủ âm của Ngài từ F sang G. Điều này biểu thị một rung động được nâng cao và một sự thay đổi từ màu lục sang màu lam.
310. The gradual degrees of ascent are the stages of the initiatory process.
310. Những cấp độ thăng lên dần dần là các giai đoạn của tiến trình điểm đạo.
311. All of initiation is a ‘keying-up’ in relation to higher stimulus.
311. Toàn bộ điểm đạo là một sự ‘nâng chủ âm’ trong liên hệ với kích thích cao hơn.
312. The “same quality in tone” reflects the fact that the basic identity of the responding aggregate remains the same; but as the quality of the aggregate changes (not the identity) the key-pitch or key-note changes.
312. “Cùng một phẩm tính trong âm điệu” phản ánh sự kiện rằng bản sắc cơ bản của tập hợp đáp ứng vẫn giữ nguyên; nhưng khi phẩm tính của tập hợp thay đổi (không phải bản sắc) thì cao độ chủ âm hay chủ âm thay đổi.