Trích nội dung chương
It is similar to the effect produced in striking the same note in different octaves, beginning at the base. Điều này tương tự như hiệu quả tạo ra khi gõ cùng một nốt ở những quãng tám khác nhau, bắt đầu từ nốt trầm.
It is similar to the effect produced in striking the same note in different octaves, beginning at the base.
Điều này tương tự như hiệu quả tạo ra khi gõ cùng một nốt ở những quãng tám khác nhau, bắt đầu từ nốt trầm.
313. We recognize the same “quality” in a note sounded in its different octaves. F1. is twice as slow as F2, which is twice as slow as F3, which is four times as fast as F1. –BUT, each sounding of an F (though the Fs are of different frequencies) is qualitatively recognized as an F. We say to ourselves, “Ah, that is the same note sounded in different octaves”. The octave changes, but the note does not. If you are not convinced of this phenomenon, go to a piano and sound the different octaves of the same note and you will recognize the Tibetan’s point.
313. Chúng ta nhận ra cùng một “phẩm tính” trong một nốt được xướng lên ở những quãng tám khác nhau của nó. F1. chậm gấp đôi F2, và F3 lại nhanh gấp đôi F 2, tức nhanh gấp bốn lần F1. –NHƯNG, mỗi lần vang lên của một nốt F (dù các nốt F có tần số khác nhau) đều được nhận ra về mặt phẩm tính là một nốt F. Chúng ta tự nhủ, “À, đó là cùng một nốt được xướng lên ở những quãng tám khác nhau”. Quãng tám thay đổi, nhưng nốt thì không. Nếu bạn chưa tin hiện tượng này, hãy đến một cây đàn piano và gõ những quãng tám khác nhau của cùng một nốt, bạn sẽ nhận ra ý của Chân sư Tây Tạng.
314. One could begin with a high note and sound progressively lower octaves of that note; the recognition would be the same.
314. Người ta có thể bắt đầu với một nốt cao và lần lượt xướng những quãng tám thấp hơn của nốt ấy; sự nhận biết vẫn sẽ như nhau.
315. Does evolution begin at the “base”? Yes, in a way. Involution begins with a note of high frequency; the process takes the descending life to a note of low frequency; evolution is a re-ascent from low frequency to high frequency.
315. Tiến hoá có bắt đầu từ “đáy” không? Có, theo một nghĩa nào đó. Giáng hạ tiến hoá bắt đầu với một nốt có tần số cao; tiến trình này đưa sự sống đi xuống đến một nốt có tần số thấp; tiến hoá là sự thăng trở lại từ tần số thấp lên tần số cao.
316. In much of the description of Repetition in Fact, we notice that Repetition in Time is implied. The stimuli to which Repetition in Fact is made are very often cyclic stimuli repeated in time.
316. Trong phần lớn mô tả về Sự lặp lại trong Sự kiện, chúng ta nhận thấy Sự lặp lại trong Thời gian được hàm ý. Những kích thích mà Sự lặp lại trong Sự kiện đáp ứng đến rất thường là những kích thích chu kỳ được lặp lại trong thời gian.
317. A problem arises in considering the two excerpts above. Is the ascent of the key by gradual degrees done in octaves or in lesser divisions? The movement of our Solar Logos from a focus on the note F to a focus on the note G is not an ascent by octaves.
317. Một vấn đề nảy sinh khi xem xét hai đoạn trích trên. Sự thăng lên của chủ âm theo những cấp độ dần dần có diễn ra theo quãng tám hay theo những phân chia nhỏ hơn không? Sự chuyển dịch của Thái dương Thượng đế của chúng ta từ sự tập trung vào nốt F sang sự tập trung vào nốt G không phải là một sự thăng lên theo quãng tám.
318. Further, when considering the four notes of a man: the fundamental, the third of the personality, the fifth of the soul and the octave of the Monad, it is clear that the ascent from the base or fundamental passes through notes within the octave which separates the fundamental from the note of the Monad.
318. Hơn nữa, khi xét bốn âm điệu của một con người: âm cơ bản, quãng ba của phàm ngã, quãng năm của linh hồn và quãng tám của Chân thần, thì rõ ràng rằng sự thăng lên từ nền tảng hay âm cơ bản đi qua các âm điệu trong quãng tám vốn phân cách âm cơ bản với âm điệu của Chân thần.
319. If we wish to synthesize these ideas, we might say that ascent occurs both by octaves and by means of notes within the octave. Perhaps truly climactic evolutionary events are marked by achieving the higher octave of the fundamental from which the evolutionary process began.
319. Nếu muốn tổng hợp các ý tưởng này, chúng ta có thể nói rằng sự thăng lên diễn ra vừa bằng các quãng tám vừa bằng các âm điệu bên trong quãng tám. Có lẽ những biến cố tiến hoá thực sự mang tính cao trào được đánh dấu bằng việc đạt tới quãng tám cao hơn của âm cơ bản từ đó tiến trình tiến hoá đã khởi đầu.
c. Repetition in space: This concept is involved deep in the greater concept of karma, which is really the law that governs the matter of the solar system, and which commenced its work in earlier solar systems.
c. Sự lặp lại trong không gian: Khái niệm này hàm chứa sâu xa trong khái niệm lớn hơn về nghiệp quả, vốn thực sự là định luật chi phối vấn đề vật chất của hệ mặt trời, và đã bắt đầu công việc của nó trong các hệ mặt trời trước đós.
320. A man is born, then dies, then reappears in space, cyclically. He appears and disappears from space (i.e., from a given field of perception). This dynamic is related to the manifestation process and to the Law of Periodicity.
320. Một người được sinh ra, rồi chết đi, rồi lại xuất hiện trong không gian, theo chu kỳ. Y xuất hiện và biến mất khỏi không gian (tức là khỏi một trường tri giác nhất định). Động thái này liên hệ với tiến trình biểu hiện và với Định luật Chu Kỳ.
321. We are getting into deep matters here.
321. Ở đây chúng ta đang đi vào những vấn đề sâu xa.
322. Karma is an obscure subject and DK is offering some occult elucidation.
322. Nghiệp quả là một chủ đề tối nghĩa và Chân sư DK đang đưa ra một vài sự làm sáng tỏ huyền bí học.
323. Karma is related to materiality—to the nature, quality and disposition of matter.
323. Nghiệp quả liên hệ với tính vật chất—với bản chất, phẩm tính và sự sắp đặt của vật chất.
324. The Law of Karma, we are told, commenced its work in earlier solar systems—note the plural. These systems were all governed by the third aspect of divinity. Our solar system is the first in the series of six (or seven) which is to be governed by the second aspect.
324. Chúng ta được cho biết rằng Định luật Nghiệp quả đã bắt đầu công việc của nó trong các hệ mặt trời trước đós—hãy lưu ý số nhiều. Các hệ này đều được chi phối bởi phương diện thứ ba của thiên tính. Hệ mặt trời của chúng ta là hệ đầu tiên trong chuỗi sáu (hoặc bảy) hệ sẽ được chi phối bởi phương diện thứ hai.
We have, therefore, cycles in order, and repetition in an ever-ascending spiral, under definite law.
Do đó, chúng ta có các chu kỳ theo trật tự, và sự lặp lại trong một đường xoắn ốc luôn đi lên, dưới định luật xác định.
325. In the above excerpt, DK is trying to convey to us something about Repetition in Space.
325. Trong đoạn trích trên, Chân sư DK đang cố truyền đạt cho chúng ta điều gì đó về Sự lặp lại trong Không gian.
326. When we are told that we have “cycles in order”, something of Repetition in Time is suggested.
326. Khi được bảo rằng chúng ta có “các chu kỳ theo trật tự”, điều đó gợi ý phần nào về Sự lặp lại trong Thời gian.
327. Really, what is being described is spiral-cyclic motion—the motion of the second aspect of divinity.
327. Thực ra, điều đang được mô tả là chuyển động chu kỳ-xoắn ốc—chuyển động của phương diện thứ hai của thiên tính.
328. If time is related to the first and third aspects of divinity, space is related to the second aspect.
328. Nếu thời gian liên hệ với phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính, thì không gian liên hệ với phương diện thứ hai.
329. Just as there was a uniformity of degree within a specific category of cycle in relation to Repetition in Time, so the spiral cycles, though not necessarily uniform, do proceed (not randomly) but under definite law. They also proceed in an orderly manner.
329. Cũng như đã có một tính đồng đều về cấp độ trong một loại chu kỳ nhất định liên hệ với Sự lặp lại trong Thời gian, thì các chu kỳ xoắn ốc, dù không nhất thiết đồng đều, vẫn tiến hành (không phải ngẫu nhiên) mà dưới định luật xác định. Chúng cũng tiến hành một cách có trật tự.
330. There is a suggestion that the second and seventh rays are cooperating.
330. Có một gợi ý rằng cung hai và cung bảy đang hợp tác với nhau.
331. A simple way of viewing this idea of Repetition in Space is that certain cyclic events occur in a certain order in the same location in space.
331. Một cách đơn giản để nhìn ý tưởng về Sự lặp lại trong Không gian này là một số biến cố chu kỳ xảy ra theo một trật tự nhất định tại cùng một vị trí trong không gian.
332. For instance, the appearance of the personality of man is a cyclic event and the evolution of that personality is a spiral-cyclic event. The appearance of that personality always occurs on this planet—i.e., in the same ‘place’ or ‘space’. Man, as a personality, reappears cyclically in the same space.
332. Chẳng hạn, sự xuất hiện của phàm ngã con người là một biến cố chu kỳ và sự tiến hoá của phàm ngã ấy là một biến cố chu kỳ-xoắn ốc. Sự xuất hiện của phàm ngã ấy luôn xảy ra trên hành tinh này— tức là, trong cùng một ‘nơi chốn’ hay ‘không gian’. Con người, với tư cách một phàm ngã, tái xuất hiện theo chu kỳ trong cùng một không gian.
333. VSK queries: “Why would karma be more related to space? As an ENTITY, is space the material and destiny therefore of Itself?”
333. VSK nêu câu hỏi: “Tại sao nghiệp quả lại liên hệ với không gian nhiều hơn? Với tư cách một THỰC THỂ, phải chăng không gian là chất liệu và do đó là định mệnh của Chính Nó?”
334. There is much to suggest that karma is equally related to time. Saturn, Lord of Karma, is also Lord of Time.
334. Có nhiều điều cho thấy nghiệp quả cũng liên hệ ngang nhau với thời gian. Sao Thổ, Chúa Tể của Nghiệp quả, cũng là Chúa Tể của Thời gian.
335. Jupiter, in its relation to karma, may have more to do with growthful repetition in space.
335. Sao Mộc, trong mối liên hệ của nó với nghiệp quả, có thể liên quan nhiều hơn đến sự lặp lại tăng trưởng trong không gian.growthful repetition in space.
336. Here is a brief summary of the three types of repetition thus far addressed:
336. Sau đây là bản tóm lược ngắn về ba loại lặp lại đã được đề cập cho đến nay:
a. The entity remains as it is, but rotates uniformly and revolves uniformly. Different types of entities rotate and revolve producing cycles of different duration, but there is uniformity within any type of cycle. For instance, planetary periods differ in duration from each other, but each cycle of a given planet is uniform in duration in relation to all the other cycles of that planet. Repetition in Time.
a. Thực thể vẫn giữ nguyên như nó là, nhưng quay đều và vận hành đều. Những loại thực thể khác nhau quay và vận hành tạo ra các chu kỳ có thời lượng khác nhau, nhưng có sự đồng đều trong bất kỳ loại chu kỳ nào. Chẳng hạn, các chu kỳ hành tinh khác nhau về thời lượng, nhưng mỗi chu kỳ của một hành tinh nhất định đều đồng đều về thời lượng so với tất cả các chu kỳ khác của hành tinh đó. Sự lặp lại trong Thời gian.
b. The entity remains more or less as it is, but its quality improves, so it rises in its frequency through the rising in frequency of its atomic constituents, but the frequency of the elements composing it may remain in relatively the same proportion though all units rise. If the relative proportion changed too much, the form would no longer be recognizable as itself. Its identity would have changed. We have two related types of repetition: Repetition in Fact and Repetition in Form (discussed below).
b. Thực thể vẫn ít nhiều như cũ, nhưng phẩm tính của nó được cải thiện, nên nó tăng tần số thông qua sự tăng tần số của các thành phần nguyên tử của nó, nhưng tần số của các nguyên tố cấu thành nó có thể vẫn giữ trong cùng một tỉ lệ tương đối dù mọi đơn vị đều tăng lên. Nếu tỉ lệ tương đối thay đổi quá nhiều, hình tướng sẽ không còn được nhận ra là chính nó nữa. Bản sắc của nó hẳn đã thay đổi. Chúng ta có hai loại lặp lại liên hệ với nhau: Sự lặp lại trong Sự kiện và Sự lặp lại trong Hình tướng (được bàn dưới đây).
c. The entity disappears and reappears, disappears and reappears according to karmic law. This is Repetition in Space.
c. Thực thể biến mất rồi tái xuất hiện, biến mất rồi tái xuất hiện theo định luật nghiệp quả. Đây là Sự lặp lại trong Không gian.
The thoughts thus conveyed might be expressed likewise as follows:
Những tư tưởng được truyền đạt như vậy cũng có thể được diễn đạt như sau:
337. The three kinds of repetition have been fairly comprehensible. It remains to be seen whether the same ease of comprehension will follow.
337. Ba loại lặp lại này khá dễ hiểu. Còn phải xem liệu cùng một sự dễ hiểu ấy có tiếp tục theo sau hay không.
a. The solar system repeating its activity
a. Hệ mặt trời lặp lại hoạt động của nó
....Repetition in Space.
....Sự lặp lại trong Không gian.
338. The macrocosmic unit with respect to the sequence of four types of repetition here listed, is the solar system. The solar system is the largest unit listed among these four.
338. Đơn vị đại thiên địa, xét theo chuỗi bốn loại lặp lại được liệt kê ở đây, là hệ mặt trời. Hệ mặt trời là đơn vị lớn nhất được liệt kê trong bốn đơn vị này.
339. It would seem that the solar system has its allotted space, and for the duration of the solar system that space is held.
339. Có vẻ như hệ mặt trời có không gian được phân định cho nó, và trong suốt thời gian tồn tại của hệ mặt trời, không gian ấy được giữ vững.
340. Of course, if we go beyond the context of one solar system, we will also find the solar system repeating in time.
340. Dĩ nhiên, nếu vượt ra ngoài bối cảnh của một hệ mặt trời, chúng ta cũng sẽ thấy hệ mặt trời lặp lại trong thời gian.
b. A planetary chain repeating its activity
b. Một dãy hành tinh lặp lại hoạt động của nó
....Repetition in Time.
....Sự lặp lại trong Thời gian.
341. Now, what do we mean by a “planetary chain”? We have seen that planetary schemes are sometimes (when compared to the solar system considered as a solar scheme) called “planetary chains”.
341. Vậy, giờ đây, chúng ta muốn nói gì khi nói “dãy hành tinh”? Chúng ta đã thấy rằng các hệ hành tinh đôi khi (khi so sánh với hệ mặt trời được xem như một hệ mặt trời) được gọi là “các dãy hành tinh”.
342. Or, by planetary chain, is a large chakra in a planetary scheme meant?
342. Hoặc, phải chăng dãy hành tinh có nghĩa là một luân xa lớn trong một hệ hành tinh?
343. We are told that a planetary scheme does not have the same number of chains at all times, and so it is possible that they appear and disappear.
343. Chúng ta được cho biết rằng một hệ hành tinh không có cùng một số dãy ở mọi thời điểm, và vì thế có thể là chúng xuất hiện rồi biến mất.
344. We also are faced with the question of whether a Planetary Logos functioning through a planetary scheme undergoes a number of incarnations during the incarnation of the solar system. If there are multiple incarnations of a scheme, then we would have Repetition in Time.
344. Chúng ta cũng phải đối diện với câu hỏi liệu một Hành Tinh Thượng Đế hoạt động thông qua một hệ hành tinh có trải qua một số lần lâm phàm trong suốt sự lâm phàm của hệ mặt trời hay không. Nếu có nhiều lần lâm phàm của một hệ, thì chúng ta sẽ có Sự lặp lại trong Thời gian.
345. If there are several incarnations of a planetary chain (a major planetary chakra) we would also have Repetition in Time.
345. Nếu có nhiều lần lâm phàm của một dãy hành tinh (một luân xa hành tinh lớn) thì chúng ta cũng sẽ có Sự lặp lại trong Thời gian.
346. Also, an incarnation of a planetary scheme or planetary chain may not mean the complete disappearance and reappearance of the entire scheme or chain; it can mean a rotating change in emphasis upon any particular scheme or chakra. This would be another reasonable way of considering the processes of a planetary scheme or chain in relation to Repetition in Time.
346. Ngoài ra, một lần lâm phàm của một hệ hành tinh hay dãy hành tinh có thể không có nghĩa là toàn bộ hệ hay dãy hoàn toàn biến mất rồi tái xuất hiện; nó có thể có nghĩa là một sự thay đổi luân phiên về trọng tâm nhấn mạnh trên bất kỳ hệ hay luân xa cụ thể nào. Đây sẽ là một cách hợp lý khác để xem xét các tiến trình của một hệ hay dãy hành tinh liên hệ với Sự lặp lại trong Thời gian.
347. Yet it can be inferred that a planetary scheme or chain also has it proper space.
347. Tuy nhiên, có thể suy ra rằng một hệ hay dãy hành tinh cũng có không gian riêng thích hợp của nó.space.
c. The constant consecutive reverberation of a plane note, of a subplane note, and of all that is called into objectivity by that note
c. Sự vang dội liên tiếp không ngừng của một âm điệu cõi, của một âm điệu cõi phụ, và của tất cả những gì được gọi vào tính khách quan bởi âm điệu ấy
.....Plane Repetition.
.....Sự lặp lại của Cõi.
348. A new form of repetition is introduced here; it is called “Plane Repetition”. It does seem to relate to “Repetition in Fact”. Planar-circumstances and sub-planar-circumstances are called into manifestation by certain resounding keynotes vibrating to a certain frequencies. The concept of frequency implies the constant repetition of a vibratory cycle in which a certain number of vibrations occur per unit of time.
348. Ở đây một hình thức lặp lại mới được đưa vào; nó được gọi là “Sự lặp lại của Cõi”. Nó dường như có liên hệ với “Sự lặp lại trong Sự kiện”. Các hoàn cảnh cõi và cõi phụ được gọi vào biểu hiện bởi những chủ âm vang lên nhất định đang rung động ở những tần số nhất định. Khái niệm về tần số hàm ý sự lặp lại không ngừng của một chu kỳ rung động trong đó một số rung động nhất định xảy ra trên mỗi đơn vị thời gian.
349. Planes and subplanes, too, are keyed-up as evolution persists. That a plane or sub-plane continues to appear as an ‘evoked condition’ or circumstance is due to the constant sounding of the note characterizing it.
349. Các cõi và cõi phụ cũng được nâng âm khi tiến hoá tiếp diễn. Việc một cõi hay cõi phụ tiếp tục xuất hiện như một ‘điều kiện’ hay hoàn cảnh được gợi lên là do sự xướng lên liên tục của âm điệu đặc trưng cho nó.
350. There is a constant ‘consecutiveness’ to the reverberation of the plane note. The determined frequency is sustained. The plane note does not change pitch, unless by a definite act of will of the particular type of Logos Who is ensouling the plane.
350. Có một tính ‘liên tiếp’ không ngừng đối với sự vang dội của âm điệu cõi. Tần số đã được xác định được duy trì. Âm điệu cõi không đổi cao độ, trừ phi bởi một hành vi ý chí xác định của loại Thượng đế đặc thù đang phú linh cõi ấy.
d. The tendency of atoms to perpetuate their activity, and thus produce similarity of circumstance, of environment and of vehicle
d. Khuynh hướng của các nguyên tử muốn duy trì hoạt động của chúng, và do đó tạo ra sự tương tự về hoàn cảnh, về môi trường và về vận cụ
....Form Repetition.
....Sự lặp lại của Hình tướng.
351. The fact that we can recognize forms as persistent is due to “Form Repetition” which, again, seems to be related to “Repetition in Fact”. Form Repetition occurs within Plane Repetition. Forms are produced from the substance of planes. The planar and sub-planar substances are of a certain nature because of their keynote. Those substances, aggregated in unique mixtures, produce:
351. Sự kiện rằng chúng ta có thể nhận ra các hình tướng là bền vững là nhờ “Sự lặp lại của Hình tướng”, điều này, một lần nữa, dường như liên hệ với “Sự lặp lại trong Sự kiện”. Sự lặp lại của Hình tướng xảy ra trong Sự lặp lại của Cõi. Các hình tướng được tạo ra từ chất liệu của các cõi. Các chất liệu cõi và cõi phụ có một bản chất nhất định do chủ âm của chúng. Những chất liệu ấy, khi được kết tập trong những hỗn hợp độc đáo, tạo ra:
a. Similarity of circumstance
a. Sự tương tự về hoàn cảnh
b. Similarity of environment
b. Sự tương tự về môi trường
c. Similarity of vehicle
c. Sự tương tự về vận cụ
352. Within a given solar system (the bounded context which we are discussing), the Solar Logos ‘holds the space’ persistently; the schemes and chains endure for a greater or lesser time and are activated in order; the planes persist in a certain condition according to their keynote; the forms within the planes are evoked into continuing presence by the tendency of their atomic constituents to respond to stimulation in a repetitious manner.
352. Trong một hệ mặt trời nhất định (bối cảnh giới hạn mà chúng ta đang bàn đến), Thái dương Thượng đế ‘giữ không gian’ một cách bền bỉ; các hệ và các dãy tồn tại trong thời gian dài hay ngắn hơn và được hoạt hoá theo trật tự; các cõi tồn tại trong một điều kiện nhất định theo chủ âm của chúng; các hình tướng bên trong các cõi được gợi vào sự hiện diện liên tục bởi khuynh hướng của các thành phần nguyên tử của chúng đáp ứng với kích thích theo một cách lặp đi lặp lại.
When we carry these ideas on to every plane in the solar system, and from thence to the cosmic planes, we have opened up for ourselves infinitude.
Khi chúng ta mang những ý tưởng này đến mọi cõi trong hệ mặt trời, và từ đó đến các cõi vũ trụ, chúng ta đã mở ra cho chính mình tính vô cùng.
353. I would call it a ‘virtual infinitude’. The time spans involved are so great compared to the tiny life cycle of man that the time involved seems infinite.
353. Tôi sẽ gọi đó là một tính vô cùng ‘ảo như thật’. Những khoảng thời gian liên hệ ở đây quá lớn so với chu kỳ sống nhỏ bé của con người đến nỗi thời gian liên hệ dường như vô hạn.
354. It is clear that the principle of repetition—in space, in time, in fact, in form, in relation to planes and subplanes—is ubiquitous throughout the Universe.
354. Rõ ràng là nguyên lý lặp lại—trong không gian, trong thời gian, trong sự kiện, trong hình tướng, liên hệ với các cõi và cõi phụ—hiện diện khắp nơi trong Vũ trụ.
2. Repetition of Cyclic Action is Governed by Two Laws:
2. Sự lặp lại của Hoạt động Chu kỳ được chi phối bởi Hai Định luật:
355. Thus far we have dealt somewhat with the Idea of Repetition.
355. Cho đến nay chúng ta đã phần nào bàn đến Ý tưởng về Sự lặp lại.
356. We now deal with two laws governing Cyclic Action.
356. Giờ đây chúng ta bàn đến hai định luật chi phối Hoạt động Chu kỳ.
Perhaps it is more accurate to say that it is governed by one law, primarily, and a subsidiary law.
Có lẽ nói chính xác hơn là nó được chi phối chủ yếu bởi một định luật, và một định luật phụ.
357. DK approaches with specificity, arranging the two laws in a hierarchy.
357. Chân sư DK tiếp cận một cách cụ thể, sắp xếp hai định luật theo một thứ bậc.
This leads [Page 275] to two general types of cycles, and is involved in the very nature of the Self and of the not-self. The interplay of the two by the aid of mind produces that which we call environment or circumstance.
Điều này dẫn [Page 275] đến hai loại chu kỳ tổng quát, và hàm chứa trong chính bản chất của Ngã và vô-ngã. Sự tương tác của hai điều này với sự trợ giúp của trí tuệ tạo ra điều mà chúng ta gọi là môi trường hay hoàn cảnh.
358. Self is Spirit; not-Self is matter; mind is the link between the two (solar fire).
358. Ngã là Tinh thần; vô-ngã là vật chất; trí tuệ là mối liên kết giữa hai điều ấy (lửa thái dương).
359. Solar fire is the fire of ‘bridging mind’. It is quality of mind that can create a bridge between Spirit and Matter/matter. It comes (as far as we in our solar system are concerned) from the cosmic mental plane.
359. Lửa thái dương là lửa của ‘trí tuệ bắt cầu’. Chính phẩm tính của trí tuệ có thể tạo ra một cây cầu giữa Tinh thần và Vật chất/vật chất. Nó đến (ít nhất là đối với chúng ta trong hệ mặt trời này) từ cõi trí vũ trụ.
360. Is the Tibetan saying that environment and circumstance are produced by the interplay between two general types of cycles, or by the interplay between Self and not-self by the aid of mind? Let us seek clarification below.
360. Phải chăng Chân sư Tây Tạng đang nói rằng môi trường và hoàn cảnh được tạo ra bởi sự tương tác giữa hai loại chu kỳ tổng quát, hay bởi sự tương tác giữa Ngã và vô-ngã với sự trợ giúp của trí tuệ? Hãy tìm sự làm sáng tỏ ở dưới.
361. Repetition of Cyclic Action is involved in the very nature of the Self and the not-Self.
361. Sự lặp lại của Hoạt động Chu kỳ hàm chứa trong chính bản chất của Ngã và vô-ngã.
The general law, which produces cyclic effect, is the Law of Attraction and Repulsion, of which the subsidiary law is the Law of Periodicity, and of Rebirth.
Định luật tổng quát, tạo ra hiệu quả chu kỳ, là Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, mà định luật phụ của nó là Định luật Chu Kỳ, và Tái sinh.
362. Here, the names of the two laws are given.
362. Ở đây, tên của hai định luật được nêu ra.
363. Since the Law of Periodicity is the second Fundamental of the Secret Doctrine, it is strange to see it presented as a subsidiary of the Law of Attraction.
363. Vì Định luật Chu Kỳ là Căn Bản thứ hai của Giáo Lý Bí Nhiệm, nên thật lạ khi thấy nó được trình bày như một định luật phụ của Định luật Hấp Dẫn.
364. If the Law of Attraction and Repulsion causes cyclic effect, let us see how this may be the case. Let us examine the reincarnational cycle of man. Death ensues when the attraction of the soul overpowers the attraction of matter. The incarnating consciousness is then repelled from the lower three worlds of form. Incarnation resumes (normally) when the attractive power of matter and the magnetic attraction towards the three worlds (which we call desire) overpower the attractive power which held the Jiva on higher mental plane. The Jiva, or reincarnating consciousness, is then temporarily repelled from the world of the soul and drawn into the lower three worlds.
364. Nếu Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi gây ra hiệu quả chu kỳ, hãy xem điều này có thể như thế nào. Hãy khảo sát chu kỳ tái sinh của con người. Cái chết xảy đến khi sức hút của linh hồn thắng thế sức hút của vật chất. Khi đó tâm thức nhập thể bị đẩy ra khỏi ba cõi thấp của hình tướng. Sự nhập thể lại tiếp tục (một cách bình thường) khi quyền năng hấp dẫn của vật chất và sức hút từ tính hướng về ba cõi giới (mà chúng ta gọi là dục vọng) thắng thế quyền năng hấp dẫn đã giữ Jiva trên Cõi thượng trí. Khi đó Jiva, hay tâm thức tái sinh, tạm thời bị đẩy khỏi thế giới của linh hồn và bị kéo vào ba cõi thấp.
365. These changes of attraction occur cyclically.
365. Những thay đổi về sức hút này xảy ra theo chu kỳ.
366. The two poles are alternatively activated. As well, surfeit in relation to one pole is experienced within the form simultaneously with a desire for the opposite pole; then this reverses. When surfeit is experienced in relation to one pole, attraction is experienced in relation to the opposite pole.
366. Hai cực được hoạt hoá luân phiên. Đồng thời, sự bão hoà quá mức đối với một cực được kinh nghiệm bên trong hình tướng cùng lúc với một ham muốn đối với cực đối nghịch; rồi điều này đảo ngược. Khi sự bão hoà quá mức được kinh nghiệm đối với một cực, thì sức hút được kinh nghiệm đối với cực đối nghịch.
367. Eventually, there is only attraction towards the Self which is not bi-polar.
367. Cuối cùng, chỉ còn sức hút hướng về Ngã vốn không lưỡng cực.
Cyclic evolution is entirely the result of the activity of matter, and of the Will or Spirit.
Tiến hoá chu kỳ hoàn toàn là kết quả của hoạt động của vật chất, và của Ý chí hay Tinh thần.
368. Spirit proceeds by pulsations. Matter will only configure itself under the moulding influence of a Spirit-pulsation. We might call such pulsation, ‘formative pulsation’. Rhythmic, formative, “moulding” pulsation produces cyclic evolution.
368. Tinh thần tiến hành bằng những nhịp xung. Vật chất chỉ tự cấu hình dưới ảnh hưởng uốn nắn của một nhịp xung của Tinh thần. Chúng ta có thể gọi nhịp xung như thế là ‘nhịp xung tạo hình’. Những nhịp xung nhịp nhàng, tạo hình, “uốn nắn” tạo ra tiến hoá chu kỳ.
369. We are considering the cause of cyclic evolution as an interplay between the first and third aspects of divinity.
369. Chúng ta đang xét nguyên nhân của tiến hoá chu kỳ như một sự tương tác giữa phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính.
370. It is the consciousness (the product of Spirit and matter) that evolves spiral cyclically.
370. Chính tâm thức (sản phẩm của Tinh thần và vật chất) tiến hoá theo chu kỳ-xoắn ốc.
371. Pulsations come via the Will and are impulsed by Spirit. Pulsations rise in quality incrementally and carry progressively the “Fixed Design” of the archetype towards which consciousness must rise—spiral-cyclically.
371. Các nhịp xung đến qua Ý chí và được Tinh thần thúc đẩy. Các nhịp xung tăng lên về phẩm tính từng bước và mang ngày càng “Thiết Kế Cố Định” của nguyên mẫu mà tâm thức phải vươn lên tới—theo chu kỳ-xoắn ốc.
372. In colloquial language, the pulsations of Spirit persistently “raise the bar”.
372. Nói theo ngôn ngữ thông thường, các nhịp xung của Tinh thần liên tục “nâng chuẩn lên”.
373. Will is equated with Spirit. Elsewhere, Will is considered a faculty of the Spirit.
373. Ý chí được đồng nhất với Tinh thần. Ở nơi khác, Ý chí được xem là một năng lực của Tinh thần.
It is produced by the interaction of active matter and moulding Spirit.
Nó được tạo ra bởi sự tương tác giữa vật chất hoạt động và Tinh thần uốn nắn.
374. How interesting to consider Spirit as a factor which moulds.
374. Thật thú vị khi xem Tinh thần như một yếu tố uốn nắn.
375. We are reminded that Vulcan (a planetary force which shapes and moulds) is a first ray planet related to Spirit.
375. Chúng ta được nhắc rằng Vulcan (một mãnh lực hành tinh tạo hình và uốn nắn) là một hành tinh cung một liên hệ với Tinh thần.
376. The soul builds, but it builds to achieve that which is indicated by the mould of Spirit.
376. Linh hồn xây dựng, nhưng nó xây dựng để đạt được điều được chỉ ra bởi khuôn mẫu của Tinh thần.
377. The Monad/Spirit holds the archetypal form.
377. Chân thần/Tinh thần nắm giữ hình tướng nguyên mẫu.
Every form holds hid a Life.
Mọi hình tướng đều ẩn giấu một Sự sống.
378. The Spirit indwells every form.
378. Tinh thần ngự bên trong mọi hình tướng.
Every life constantly reaches out after the similar life latent in other forms.
Mọi sự sống không ngừng vươn ra tìm kiếm sự sống tương tự tiềm ẩn trong các hình tướng khác.
379. This relates to that later phase of the evolutionary process when Spirit begins to merge with Spirit; the One rediscovers itself in all things.
379. Điều này liên hệ với giai đoạn sau của tiến trình tiến hoá khi Tinh thần bắt đầu hợp nhất với Tinh thần; Đấng Duy Nhất tái khám phá chính mình trong vạn vật.
When Spirit and matter sound the same note evolution will cease.
Khi Tinh thần và vật chất xướng cùng một âm điệu, tiến hoá sẽ chấm dứt.
380. Soul is the means by which the note of Spirit is transferred to the note of matter. Soul is the modulator respecting both the note of Spirit and the note of matter.
380. Linh hồn là phương tiện nhờ đó âm điệu của Tinh thần được chuyển sang âm điệu của vật chất. Linh hồn là bộ điều biến đối với cả âm điệu của Tinh thần lẫn âm điệu của vật chất.
381. When the same note is sounded by Spirit and matter, we have reached a condition of stasis or equilibrium. There is then no more longing or desire (under the Law of Attraction) arising in matter/form. There is then no more need to bestow arising in Spirit (for the note of Spirit has been bestowed).
381. Khi cùng một âm điệu được Tinh thần và vật chất xướng lên, chúng ta đã đạt tới một trạng thái tĩnh tại hay quân bình. Khi đó không còn sự khao khát hay dục vọng nào nữa (dưới Định luật Hấp Dẫn) phát sinh trong vật chất/hình tướng. Khi đó cũng không còn nhu cầu ban phát nào phát sinh trong Tinh thần nữa (vì âm điệu của Tinh thần đã được ban phát).
382. The Law of Attraction and Repulsion has ceased. Spirit and matter are now as one and so there need be no more attraction between them.
382. Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi đã chấm dứt. Tinh thần và vật chất giờ đây như một, và vì thế không còn cần có sức hút giữa chúng nữa.
When the note sounded by the form is stronger than that of Spirit, we have attraction between forms.
Khi âm điệu do hình tướng xướng lên mạnh hơn âm điệu của Tinh thần, chúng ta có sức hút giữa các hình tướng.
383. At this stage, the power of Spirit is passive; forms are dynamic and interactive. Spirit exerts no felt influence.
383. Ở giai đoạn này, quyền năng của Tinh thần là thụ động; các hình tướng thì năng động và tương tác. Tinh thần không tạo ra ảnh hưởng khả cảm nào.
When the note sounded by Spirit is stronger than that of matter and form, we have Spirit repelling form.
Khi âm điệu do Tinh thần xướng lên mạnh hơn âm điệu của vật chất và hình tướng, chúng ta có Tinh thần đẩy lùi hình tướng.
384. At this stage, Spirit begins its long search for Spirit (at first discovering soul) and in doing so repels the form, for form is seen as an interference in the process of uniting Spirit to Spirit (even though Spirit is one in all things).
384. Ở giai đoạn này, Tinh thần bắt đầu cuộc tìm kiếm lâu dài của nó đối với Tinh thần (lúc đầu khám phá ra linh hồn), và khi làm như vậy nó đẩy lùi hình tướng, vì hình tướng được thấy như một sự cản trở trong tiến trình hợp nhất Tinh thần với Tinh thần (dù Tinh thần là một trong vạn vật).
Here we have the basis for the battlefield of life,
Ở đây chúng ta có cơ sở cho chiến trường của sự sống,
385. The battle is based on this: will Spirit win through the initial utilization of soul, or will matter continue to attract?
385. Cuộc chiến dựa trên điều này: liệu Tinh thần có chiến thắng thông qua việc sử dụng linh hồn ban đầu hay vật chất sẽ tiếp tục hấp dẫn?
and its myriads of intermediate stages, which might be expressed as follows:
và vô số giai đoạn trung gian của nó, có thể được diễn tả như sau:
a. The period of the domination of the form note is that of involution.
a. Giai đoạn âm điệu của hình tướng thống trị là giai đoạn của giáng hạ tiến hoá.
386. I, the Spirit in form, desire form, continuously forgetting that I am Spirit
386. Tôi, Tinh thần trong hình tướng, ham muốn hình tướng, liên tục quên rằng tôi là Tinh thần
b. The period of the repulsion of form by Spirit is that of the battlefield of the three worlds.
b. Giai đoạn Tinh thần đẩy lùi hình tướng là giai đoạn của chiến trường trong ba cõi giới.
387. To this should be added, ‘the intermittent repulsion of Spirit by form’. Christ was despised and rejected.
387. Nên thêm vào đây, ‘sự đẩy lùi gián đoạn của Tinh thần bởi hình tướng’. Đức Christ đã bị khinh miệt và chối bỏ.
388. Sometimes form will look attractive and sometimes not. The consciousness is caught between wanting form and not wanting it. The Law of Repulse, the fourth Law of the Soul, is active. There is an oscillating rejection of the not-Self.
388. Đôi khi hình tướng sẽ trông hấp dẫn và đôi khi thì không. Tâm thức bị mắc kẹt giữa việc muốn hình tướng và không muốn nó. Định luật Đẩy Lùi, Định luật thứ tư của Linh hồn, đang hoạt động. Có một sự khước từ dao động đối với vô-ngã.
389. During this stage, the instrument of Spirit (and warrior on behalf of Spirit) is soul—not really mentioned in this tabulation.
389. Trong giai đoạn này, công cụ của Tinh thần (và chiến binh thay mặt cho Tinh thần) là linh hồn—điều này thực ra không được nhắc đến trong bảng liệt kê này.
390. Yet, in a way, soul is also form, and the Spirit must one day repel the form-of-soul as well.
390. Tuy nhiên, theo một nghĩa nào đó, linh hồn cũng là hình tướng, và một ngày kia Tinh thần cũng phải đẩy lùi hình tướng-của-linh-hồn.
c. The period of the attraction of Spirit and Spirit, and the consequent withdrawal from form is that of the Path.
c. Giai đoạn của sức hút giữa Tinh thần và Tinh thần, và sự rút lui khỏi hình tướng do đó, là giai đoạn của Con Đường.
391. Here is an excellent definition of the Path.
391. Đây là một định nghĩa tuyệt vời về Con Đường.
392. An intermediate stage is to be attracted to soul qualities.
392. Một giai đoạn trung gian là bị hấp dẫn bởi các phẩm tính của linh hồn.
393. The attraction of Spirit and Spirit is recognized with the finding of pure being in an attraction.
393. Sức hút giữa Tinh thần và Tinh thần được nhận ra khi tìm thấy bản thể thuần túy trong một sức hút.
394. Soul attraction is based on quality; Spirit-attraction is based on that which transcends quality—pure being.
394. Sức hút của linh hồn dựa trên phẩm tính; sức hút của Tinh thần dựa trên điều vượt lên trên phẩm tính—bản thể thuần túy.
395. Practically, if attracted units can share the experience of being alive—spiritually, then the attracted units are approaching to the state of Spirit being attracted by Spirit. To the degree that we are consciously the Monad, we can do this.
395. Trên thực tế, nếu các đơn vị bị hấp dẫn có thể chia sẻ kinh nghiệm đang sống—về mặt tinh thần, thì các đơn vị bị hấp dẫn ấy đang tiến gần đến trạng thái Tinh thần bị Tinh thần hấp dẫn. Trong chừng mực chúng ta hữu thức là Chân thần, chúng ta có thể làm được điều này.
d. The period of domination of the note of Spirit is that of the higher planes of evolution.
d. Giai đoạn của sự thống trị của âm điệu Tinh thần là giai đoạn của các cõi tiến hoá cao hơn.
396. We are speaking of the note of the higher planes of evolution—the cosmic ethers.
396. Chúng ta đang nói về âm điệu của các cõi tiến hoá cao hơn—các dĩ thái vũ trụ.
397. Normally, until the later stages of evolution, life is weaker than quality. This is so until Spirit dominates.
397. Thông thường, cho đến các giai đoạn sau của tiến hoá, sự sống yếu hơn phẩm tính. Điều này đúng cho đến khi Tinh thần thống trị.
398. The note of Spirit is the note the Monad is sounding. It is preceded by the note of the soul within the causal body and by the note of the spiritual triad (which, with the note of Spirit, is muted by the note of the soul within the causal body—until the causal body is destroyed).
398. Âm điệu của Tinh thần là âm điệu mà Chân thần đang xướng lên. Nó được đi trước bởi âm điệu của linh hồn bên trong thể nguyên nhân và bởi âm điệu của Tam Nguyên Tinh Thần (mà cùng với âm điệu của Tinh thần, bị âm điệu của linh hồn bên trong thể nguyên nhân làm cho dịu xuống—cho đến khi thể nguyên nhân bị phá huỷ).
To the synchronisation of the notes, or to the lack of synchronisation, may be attributed all that occurs in the world cycles.
Mọi điều xảy ra trong các chu kỳ thế giới có thể được quy cho sự đồng bộ hóa của các âm điệu, hoặc cho sự thiếu đồng bộ hóa.
399. Synchronization causes the cessation of attraction and repulsion. Non-synchronization necessitates the continued activity of the Law of Attraction and Repulsion—leading to harmonization, unification and finally identification and synchronization.
399. Sự đồng bộ hóa gây ra sự chấm dứt của hấp dẫn và đẩy lùi. Sự không đồng bộ hóa đòi hỏi hoạt động tiếp tục của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi—dẫn đến sự hài hoà, hợp nhất và cuối cùng là đồng hoá và đồng bộ hóa.
Thus we have the production of harmony; first, the basic note of matter, then the note of Spirit gradually overcoming the lower note and usurping attention [Page 276] till gradually the note of Spirit overpowers all other notes.
Như vậy chúng ta có sự tạo ra hài hoà; trước hết là âm điệu cơ bản của vật chất, rồi âm điệu của Tinh thần dần dần thắng vượt âm điệu thấp hơn và chiếm lấy sự chú ý [Page 276] cho đến khi dần dần âm điệu của Tinh thần áp đảo mọi âm điệu khác.
400. Here we have the entire evolutionary process expressed in musical terms.
400. Ở đây chúng ta có toàn bộ tiến trình tiến hoá được diễn đạt bằng ngôn ngữ âm nhạc.
401. When the note of Spirit overpowers all other notes, we have the perfection of the ‘Chord of the Monad’.
401. Khi âm điệu của Tinh thần áp đảo mọi âm điệu khác, chúng ta có sự hoàn thiện của ‘Hợp âm của Chân thần’.
“At first, there is dissonance and discord, a clashing of the colours, and a fight between the Higher and the Lower. But as time progresses, and later with the aid of the Master, harmony of colour and tone is produced (a synonymous matter), until eventually you will have the basic note of matter, the major third of the aligned Personality, the dominant fifth of the Ego, followed by the full chord of the Monad or Spirit.” (LOM 4)
“Thoạt đầu, có sự bất hoà và nghịch âm, sự xung đột của các màu sắc, và cuộc chiến giữa Cái Cao và Cái Thấp. Nhưng khi thời gian trôi qua, và về sau với sự trợ giúp của Chân sư, sự hài hoà của màu sắc và âm điệu được tạo ra (đó là những điều đồng nghĩa), cho đến cuối cùng bạn sẽ có âm điệu cơ bản của vật chất, quãng ba trưởng của Phàm ngã đã chỉnh hợp, quãng năm át của Chân ngã, tiếp theo là hợp âm trọn vẹn của Chân thần hay Tinh thần.” (LOM 4)
402. Has the “note of Spirit” usurped attention within our psyche? This note will eventually become demanding and dominant. But first the soul note, considered, literally as the dominant fifth, must attract attention.
402. Phải chăng “âm điệu của Tinh thần” đã chiếm lấy sự chú ý trong tâm lý của chúng ta? Âm điệu này cuối cùng sẽ trở nên đòi hỏi và thống trị. Nhưng trước hết âm điệu của linh hồn, được xem theo nghĩa đen là quãng năm át, phải thu hút sự chú ý.
403. The soul note attracts attention (utilizing the quality of the second ray); the note of Spirit usurps attention, utilizing the quality of the first ray.
403. Âm điệu của linh hồn thu hút sự chú ý (sử dụng phẩm tính của cung hai); âm điệu của Tinh thần chiếm lấy sự chú ý, sử dụng phẩm tính của cung một.
404. The word “usurping” is definitely a first ray word!
404. Từ “chiếm lấy” rõ ràng là một từ của cung một!
Yet it must be borne in mind that it is the note of the life that holds the form together.
Tuy nhiên cần ghi nhớ rằng chính âm điệu của sự sống giữ cho hình tướng kết hợp với nhau.
405. The note of matter would not be sounding if the note of Spirit ceased sounding.
405. Âm điệu của vật chất sẽ không vang lên nếu âm điệu của Tinh thần ngừng vang lên.
406. We remember the moulding effect of the Spirit. The coherence of matter is caused by a process of Spirit-moulding. Spirit forces material factors together creating a ring-pass-not. Soul sustains the enforced relationship through the power of attraction.
406. Chúng ta nhớ đến hiệu quả uốn nắn của Tinh thần. Sự kết dính của vật chất được gây ra bởi một tiến trình Tinh thần-uốn nắn. Tinh thần ép các yếu tố vật chất lại với nhau tạo ra một vòng-giới-hạn. Linh hồn duy trì mối quan hệ bị áp đặt ấy qua quyền năng của sức hút.
The note of the Sun, for instance, holds in just attraction the circling spheres, the planets.
Chẳng hạn, âm điệu của Mặt Trời giữ các khối cầu quay tròn, các hành tinh, trong một sức hút chính xác.
407. Here is a new angle on the Law of Attraction. The “note of the Sun” is an attractive force.
407. Đây là một góc nhìn mới về Định luật Hấp Dẫn. “Âm điệu của Mặt Trời” là một mãnh lực hấp dẫn.
408. Do we realize that in life we are attracted by various sounding notes, and even ‘held in orbit’ by certain greater notes. Just as the planets do, we circle around the sources from whence these notes emanate.
408. Chúng ta có nhận ra rằng trong đời sống chúng ta bị hấp dẫn bởi nhiều âm điệu đang vang lên khác nhau, và thậm chí còn được ‘giữ trong quỹ đạo’ bởi một số âm điệu lớn hơn nào đó không? Cũng như các hành tinh, chúng ta quay quanh những nguồn phát ra các âm điệu ấy.
409. The note of the Sun (in the present solar system) can be considered the note G.
409. Âm điệu của Mặt Trời (trong hệ mặt trời hiện tại) có thể được xem là nốt G.
410. We note that the type of attraction is “just attraction”, suggesting the influence of Libra, and a type of attraction which is not too great or too little. The attraction is absolutely balanced and proportionate (Libra) so that the circling spheres or planets can maintain their correct position relative to the source of attraction—the Sun.
410. Chúng ta lưu ý rằng loại hấp dẫn này là “chính là hấp dẫn”, gợi ý ảnh hưởng của Thiên Bình, và là một loại hấp dẫn không quá lớn cũng không quá nhỏ. Sức hấp dẫn ấy hoàn toàn quân bình và tương xứng (Thiên Bình) để các khối cầu hay hành tinh đang tuần hoàn có thể duy trì vị trí đúng đắn của chúng tương quan với nguồn hấp dẫn—Mặt Trời.
411. May we think that different notes sounding forth from the Sun will produce planetary orbits of different kinds? Perhaps the orbital arrangement created through the sounding of the note G is entirely different from the orbital arrangement in the last solar system which was produced by the sounding of the note F.
411. Chúng ta có thể nghĩ rằng những âm điệu khác nhau được xướng lên từ Mặt Trời sẽ tạo ra những quỹ đạo hành tinh thuộc những loại khác nhau chăng? Có lẽ sự sắp xếp quỹ đạo được tạo ra qua việc xướng lên nốt G hoàn toàn khác với sự sắp xếp quỹ đạo trong hệ mặt trời trước vốn được tạo ra qua việc xướng lên nốt F.
412. It may be that there will be seven solar systems, and that each of them sounded a particular note of the scale beginning with the fundamental note C. Our solar system is the fifth and the note G is the fifth note in the diatonic scale beginning with C.
412. Có thể sẽ có bảy hệ mặt trời, và mỗi hệ trong số đó đã xướng lên một nốt đặc thù của âm giai bắt đầu bằng nốt căn bản C. Hệ mặt trời của chúng ta là hệ thứ năm và nốt G là nốt thứ năm trong âm giai bảy nốt bắt đầu từ C.
413. From another perspective however, the next solar system is to be sounding the note of Will or C. Much thought will be required to clarify the number of solar systems through which our Solar Logos manifests and the nature of the different notes sounding through each.
413. Tuy nhiên, từ một góc độ khác, hệ mặt trời kế tiếp sẽ xướng lên nốt của Ý Chí hay C. Sẽ cần nhiều suy tư để làm sáng tỏ số lượng các hệ mặt trời qua đó Thái dương Thượng đế của chúng ta biểu hiện và bản chất của những nốt khác nhau được xướng lên qua mỗi hệ.
The notes synchronise and harmonise till the stage of adequacy is reached and the period of abstraction.
Các nốt đồng bộ hóa và hài hòa hóa cho đến khi đạt tới giai đoạn đầy đủ và thời kỳ trừu xuất.
414. The process of evolution (sonically considered) is very much the adjusting of note to note.
414. Tiến trình tiến hoá (xét về mặt âm thanh) phần lớn chính là sự điều chỉnh nốt này với nốt kia.
415. The stages of mutual interplay given are:
415. Các giai đoạn tương tác hỗ tương được nêu ra là:
a. Synchronization
a. Đồng bộ hóa
b. Harmonization
b. Hài hòa hóa
c. Adequacy
c. Sự đầy đủ
d. Abstraction.
d. Trừu xuất.
416. The term synchronization introduces the time factor. In order to harmonize properly, the notes involved must sound rhythmically in relation to each other. Their cycles must be related and synchronized.
416. Thuật ngữ đồng bộ hóa đưa vào yếu tố thời gian. Để hài hòa đúng đắn, các nốt liên hệ phải được xướng lên một cách nhịp điệu trong tương quan với nhau. Các chu kỳ của chúng phải có liên hệ và được đồng bộ hóa.
Cyclic evolution proceeds. A human being, similarly, holds (by means of his note) the atoms of the three bodies together, being to them as the central sun to the planets.
Tiến hoá theo chu kỳ tiếp diễn. Tương tự như vậy, một con người giữ các nguyên tử của ba thể lại với nhau (bằng nốt của y), đối với chúng cũng như mặt trời trung tâm đối với các hành tinh.
417. To the atoms of our little system we (the human being) are as the central sun is to the planets.
417. Đối với các nguyên tử của tiểu hệ của chúng ta, chúng ta (con người) cũng như mặt trời trung tâm đối với các hành tinh.
418. The atoms of our vehicles are held in attractive relation by the sounding of our note.
418. Các nguyên tử của các vận cụ chúng ta được giữ trong tương quan hấp dẫn nhờ việc xướng lên nốt của chúng ta.
419. The atoms do not so much revolve as rotate on their own axis. But the sheaths of our nature do revolve around a central axis. This type of revolution could equally be considered rotation.
419. Các nguyên tử không quay quanh nhiều cho bằng quay trên trục riêng của chúng. Nhưng các thể vỏ của bản chất chúng ta thì quay quanh một trục trung tâm. Loại chuyển động quay quanh này cũng có thể được xem là sự quay tròn.
Primarily, nevertheless, it may be posited that the Law of Attraction is the demonstration of the powers of Spirit, whilst the Law of Repulsion governs the form.
Tuy nhiên, trước hết, có thể khẳng định rằng Định luật Hấp Dẫn là sự biểu lộ các quyền năng của Tinh thần, trong khi Định luật Đẩy Lùi chi phối hình tướng.
420. We see the Law of Attraction (and Repulsion) as placed between Spirit and matter and partaking of the qualities of both.
420. Chúng ta thấy Định luật Hấp Dẫn (và Định luật Đẩy Lùi) được đặt giữa tinh thần và vật chất và dự phần vào các phẩm tính của cả hai.
421. Attraction, therefore, is fundamentally of the Spirit and repulsion of the form.
421. Do đó, hấp dẫn về căn bản thuộc về tinh thần, còn đẩy lùi thuộc về hình tướng.
422. From what is here suggested, the Law of Attraction and Repulsion represents an oscillation between the quality of Spirit and the quality of Matter.
422. Từ điều được gợi ý ở đây, Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi biểu thị một sự dao động giữa phẩm tính của Tinh thần và phẩm tính của Vật chất.
423. This statement reminds one of the thought—in relation to the Ray of Harmony through Conflict—that harmony represents the higher part of the ray and conflict the lower.
423. Phát biểu này gợi nhớ đến tư tưởng—liên quan đến Cung Hài Hòa qua Xung Đột—rằng hài hòa biểu thị phần cao hơn của cung, còn xung đột là phần thấp hơn.
Spirit attracts Spirit throughout the greater cycle.
Tinh thần hấp dẫn tinh thần trong suốt đại chu kỳ.
424. What kind of cycle is meant by “the greater cycle”? Would this be the type of cycle to which the Monad (uninvolved with descent into the five planes of human and superhuman evolution) is subjected?
424. “Đại chu kỳ” hàm ý loại chu kỳ nào? Có phải đây là loại chu kỳ mà chân thần (không dính líu đến sự giáng xuống năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại) phải chịu không?
425. We do not know the pre-planetary history of the Monad nor its future. Perhaps both its history and future are involved “the greater cycle”. Certainly, it would seem to be true of its future.
425. Chúng ta không biết lịch sử tiền-hành tinh của chân thần cũng như tương lai của nó. Có lẽ cả lịch sử lẫn tương lai của nó đều nằm trong “đại chu kỳ”. Chắc chắn điều này dường như đúng đối với tương lai của nó.
In lesser cycles, Spirit temporarily attracts matter.
Trong các tiểu chu kỳ, tinh thần tạm thời hấp dẫn vật chất.
426. It would seem that, temporarily (for however many millions of years). humanity has been passing through a lesser cycle.
426. Dường như, một cách tạm thời (dù là trong bao nhiêu triệu năm), nhân loại đã và đang đi qua một tiểu chu kỳ.
427. Could we say that the entire ‘Pilgrimage into Matter’ of the Monad has been a lesser cycle? From what is here said, it would seem so.
427. Chúng ta có thể nói rằng toàn bộ cuộc “Hành Hương vào Vật Chất” của chân thần là một tiểu chu kỳ chăng? Từ điều được nói ở đây, dường như là như vậy.
428. The cycles in which the Spirit manifests via soul as the personality are, by this definition, “lesser cycles”.
428. Các chu kỳ trong đó Tinh thần biểu hiện qua linh hồn như là phàm ngã, theo định nghĩa này, là “tiểu chu kỳ”.
The tendency of Spirit is to merge and blend with Spirit.
Khuynh hướng của Tinh thần là hòa nhập và dung hợp với Tinh thần.
429. The Law of Spirit is the Law of Synthesis. Spirit seeks to merge with itself. Shall we say that the Spirit, temporarily bound by the form, seeks its liberation by finding Spirit in other forms?
429. Định luật của Tinh thần là Định luật Tổng Hợp. Tinh thần tìm cách hòa nhập với chính nó. Chúng ta có nên nói rằng Tinh thần, tạm thời bị ràng buộc bởi hình tướng, tìm kiếm sự giải thoát của mình bằng cách tìm thấy Tinh thần trong những hình tướng khác chăng?
430. All that is here said pertains to interplay within the Veil of Illusion, for we know that Spirit is, essentially, One.
430. Tất cả những gì được nói ở đây đều liên quan đến sự tương tác bên trong Bức Màn Ảo Tưởng, vì chúng ta biết rằng Tinh thần, về bản chất, là Một.
Form repulses form, and thus brings about separation.
Hình tướng đẩy lùi hình tướng, và do đó tạo ra sự phân ly.
431. The motion of form life is rotary. Rotating forms naturally spin off other forms with which they come into contact.
431. Chuyển động của sự sống hình tướng là chuyển động quay tròn. Những hình tướng quay tròn tự nhiên hất văng những hình tướng khác mà chúng tiếp xúc.
432. The purpose of form, per se, and operating under its own law (the Law of Economy) is to remain distinct from other forms.
432. Mục đích của hình tướng, chính nó, và khi vận hành dưới định luật riêng của nó (Định luật Tiết Kiệm), là duy trì sự phân biệt với các hình tướng khác.
But—during the great cycle of evolution
Nhưng—trong đại chu kỳ tiến hoá
433. … necessitating the fusing power of the second ray and the Law of Attraction…
433. … đòi hỏi quyền năng dung hợp của cung hai và Định luật Hấp Dẫn…
—when the third factor of Mind comes in,
—khi yếu tố thứ ba là Trí tuệ đi vào,
434. In this context, mind is the second which is the third—the “Son”, third in order, but second in placement within the Trinity.
434. Trong ngữ cảnh này, trí tuệ là yếu tố thứ hai mà lại là thứ ba—“Người Con”, thứ ba theo thứ tự, nhưng thứ hai về vị trí trong Tam Vị.
435. Mind (related to solar fire and originating on the cosmic mental plane) is the bridging energy.
435. Trí tuệ (liên hệ với lửa của trí tuệ và phát sinh trên cõi trí vũ trụ) là năng lượng bắt cầu.
and when the point of balance is the goal,
và khi điểm quân bình là mục tiêu,
436. That “point of balance” being governed by Libra with its mixture of third and second rays…
436. “Điểm quân bình” ấy được Thiên Bình chi phối với sự pha trộn của cung ba và cung hai…
437. We can see that Mind is an ordering faculty.
437. Chúng ta có thể thấy rằng Trí tuệ là một năng lực sắp xếp.
the cyclic display of the interaction between Spirit and form is seen, and the result is the ordered cycles of the planets, of a human being, and of an atom.
sự biểu lộ theo chu kỳ của sự tương tác giữa Tinh thần và hình tướng được thấy rõ, và kết quả là các chu kỳ có trật tự của các hành tinh, của một con người, và của một nguyên tử.
438. Spiral cyclic motion—the second type of motion (related to Mind, as here described) produces forms which gradually evolve in ordered cycles.
438. Chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ—loại chuyển động thứ hai (liên hệ với Trí tuệ, như được mô tả ở đây)—tạo ra những hình tướng dần dần tiến hoá trong các chu kỳ có trật tự.
439. Spirit moulds; matter is moulded; form (relating to the second aspect of divinity) is produced.
439. Tinh thần nắn khuôn; vật chất được nắn khuôn; hình tướng (liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính) được tạo ra.
440. While it may seem that “form” should relate more to the third aspect of divinity, it is truly related to the geometrizing of the second aspect.
440. Dù có vẻ như “hình tướng” nên liên hệ nhiều hơn với phương diện thứ ba của thiên tính, nhưng thật ra nó liên hệ với sự hình học hóa của phương diện thứ hai.
441. We could say, in a way, that form is related both to the third and second aspects, but more essentially to the second.
441. Theo một cách nào đó, chúng ta có thể nói rằng hình tướng liên hệ cả với phương diện thứ ba lẫn phương diện thứ hai, nhưng về cốt yếu thì với phương diện thứ hai nhiều hơn.
442. Spirit is sattvic, or pulsating; matter is tamasic, inert; form is rajasic—in a process of constant change as it seeks to approximate the Fixed Design inhering in Spirit.
442. Tinh thần là sattva, hay rung động; vật chất là tamas, trì trệ; hình tướng là rajas—trong một tiến trình biến đổi không ngừng khi nó tìm cách xấp xỉ Mô Hình Cố Định vốn nội tại trong Tinh thần.
443. There must eventually arise an orderly regulation in the oscillating process of attraction to Spirit and attraction to matter. This is the “cyclic display of the interaction between Spirit and form..,”
443. Cuối cùng phải xuất hiện một sự điều hòa có trật tự trong tiến trình dao động giữa hấp dẫn hướng về Tinh thần và hấp dẫn hướng về vật chất. Đây là “sự biểu lộ theo chu kỳ của sự tương tác giữa Tinh thần và hình tướng…”
444. The term “cosmos” suggests beauty and order. Cosmos also suggests the second ray, Mind and the Law of Attraction and Repulsion.
444. Thuật ngữ “vũ trụ” gợi ý vẻ đẹp và trật tự. Vũ trụ cũng gợi ý cung hai, Trí tuệ và Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi.
445. We can associate the Law of Attraction (and Repulsion) with the orderly building of the form and its orderly unfoldment through ordered cycles.
445. Chúng ta có thể liên kết Định luật Hấp Dẫn (và Định luật Đẩy Lùi) với sự kiến tạo có trật tự của hình tướng và sự khai mở có trật tự của nó qua các chu kỳ có trật tự.
446. We see how much seventh ray is suggested. Jupiter (a planet expressing both the second and seventh ray) is implicated in this process cyclic, developmental process.
446. Chúng ta thấy cung bảy được gợi ý nhiều đến mức nào. Sao Mộc (một hành tinh biểu lộ cả cung hai lẫn cung bảy) có liên can trong tiến trình theo chu kỳ, mang tính phát triển này.
447. Jupiter (as ruler of the twelfth sign, Pisces) is related to the ending of cycles in fulfillment.
447. Sao Mộc (với tư cách chủ tinh của dấu hiệu thứ mười hai, Song Ngư) liên hệ với sự kết thúc các chu kỳ trong sự hoàn thành.
448. Two trinities are being discussed: Spirit/Mind/Form; Spirit/Consciousness/Matter
448. Hai bộ ba đang được bàn đến: Tinh thần/Trí tuệ/Hình tướng; Tinh thần/Tâm thức/Vật chất
449. When we are told that there is a cyclic display of interaction between Spirit and form, we should not discount the interplay between the first and second aspects of divinity.
449. Khi được cho biết rằng có một sự biểu lộ theo chu kỳ của sự tương tác giữa Tinh thần và hình tướng, chúng ta không nên xem nhẹ sự tương tác giữa phương diện thứ nhất và thứ hai của thiên tính.
Thus, through repetition, is consciousness developed, and responsive faculty induced.
Như vậy, qua sự lặp lại, tâm thức được phát triển, và năng lực đáp ứng được tạo ra.
450. Without repetition in the form of ‘cyclic ritual’ consciousness will not unfold.
450. Nếu không có sự lặp lại dưới hình thức “nghi lễ theo chu kỳ”, tâm thức sẽ không khai mở.
451. By means of cyclic repetition, Spirit makes its impress upon matter/form.
451. Bằng phương tiện lặp lại theo chu kỳ, Tinh thần tạo dấu ấn của nó lên vật chất/hình tướng.
452. Consciousness is Spirit penetrating and pervading matter/form such that it knows matter/form.
452. Tâm thức là Tinh thần thâm nhập và thấm khắp vật chất/hình tướng đến mức nó biết vật chất/hình tướng.
When this faculty is of such a nature that it is an inherent part of the Entity's working capital, it has to be exercised on every plane, and again cyclic action is the law, and hence rebirth again and again is the method of exercise.
Khi năng lực này có bản chất đến mức nó là một phần cố hữu trong vốn hoạt động của Thực Thể, thì nó phải được vận dụng trên mọi cõi, và một lần nữa hoạt động theo chu kỳ là định luật, và do đó tái sinh hết lần này đến lần khác là phương pháp vận dụng.
453. We are speaking of the exercise of “responsive faculty”.
453. Chúng ta đang nói về sự vận dụng “năng lực đáp ứng”.
454. That which is developed must be exercised and, thus, unfolded through exercise.
454. Điều gì được phát triển thì phải được vận dụng và do đó được khai mở qua sự vận dụng.
455. The method of exercising responsive faculty on every plane is through the instrumentality of rebirth. Rebirth offers an orderly, cyclic approach to expression on all planes—in this case, an ascending, spiral-cyclic expression.
455. Phương pháp vận dụng năng lực đáp ứng trên mọi cõi là thông qua công cụ tái sinh. Tái sinh đem lại một cách tiếp cận có trật tự, theo chu kỳ đối với sự biểu lộ trên mọi cõi—trong trường hợp này là một sự biểu lộ đi lên, xoắn ốc theo chu kỳ.
When the innate conscious faculty of every unit of consciousness has become co-ordinated as part of the equipment of the Logos on every plane of the solar system, then, and only then, will cyclic evolution cease, will rotary movement on every plane of the cosmic physical plane be of such a uniform vibration as to set up action on the next cosmic plane, the astral.
Khi năng lực tâm thức bẩm sinh của mọi đơn vị tâm thức đã trở nên phối hợp như một phần của trang bị của Thượng đế trên mọi cõi của hệ mặt trời, thì khi ấy, và chỉ khi ấy, tiến hoá theo chu kỳ mới chấm dứt, chuyển động quay tròn trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ mới có được một rung động đồng nhất đến mức thiết lập hoạt động trên cõi vũ trụ kế tiếp, tức cõi cảm dục.
456. We are speaking of the solar logoic development on all planes and subplanes of the cosmic physical plane.
456. Chúng ta đang nói về sự phát triển logoi thái dương trên mọi cõi và cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.
457. Every unit of life within the solar system must become coordinated with the Purpose of the Solar Logos. Then, there will be no independent units, per se, though free will, will, nevertheless, persist. The action of each Self-conscious unit will be but an aspect of the conscious expression of the Solar Logos. God-the-Solar-Logos will be “all-in-all” on the cosmic physical plane.
457. Mọi đơn vị sự sống bên trong hệ mặt trời phải trở nên phối hợp với Thiên Ý của Thái dương Thượng đế. Khi ấy, sẽ không còn những đơn vị độc lập, chính chúng, dù ý chí tự do vẫn sẽ tiếp tục tồn tại. Hoạt động của mỗi đơn vị ngã thức sẽ chỉ là một phương diện của sự biểu lộ có ý thức của Thái dương Thượng đế. Thượng đế-với-tư-cách-Thái-dương-Thượng-đế sẽ là “tất cả trong mọi sự” trên cõi hồng trần vũ trụ.
458. With such an occurrence, rotary motion on all planes and subplanes of the cosmic physical plane will be numerically coordinated and harmonized according to logoic Purpose. Friction will cease. The solar logoic mission will be accomplished and a new ‘area’ of cosmic expression will be assayed.
458. Với một biến cố như thế, chuyển động quay tròn trên mọi cõi và cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ sẽ được phối hợp và hài hòa về mặt số lượng theo Thiên Ý logoi. Ma sát sẽ chấm dứt. Sứ mệnh logoi thái dương sẽ được hoàn tất và một “lĩnh vực” mới của sự biểu lộ vũ trụ sẽ được thử nghiệm.
459. The next higher plane cannot be attracted to the lower (and vice versa), while there is much unresolved dissonance on the lower. If we harmonize the level of our present the next higher level will be invoked.
459. Cõi cao hơn kế tiếp không thể bị hấp dẫn xuống cõi thấp hơn (và ngược lại), khi ở cõi thấp hơn còn nhiều bất hòa chưa được giải quyết. Nếu chúng ta hài hòa cấp độ hiện tại của mình thì cấp độ cao hơn kế tiếp sẽ được khẩn cầu lên.
460. When there is no more to be done, life moves on (and ‘up’).
460. Khi không còn gì phải làm nữa, sự sống tiếp tục tiến lên (và “đi lên”).
[Page 277]
[Page 277]
3. The Third Idea Involved Is That of the Two Types of Cycles
3. Ý Tưởng Thứ Ba Được Bao Hàm Là Ý Tưởng Về Hai Loại Chu Kỳ
461. We have just dealt with two laws, one of which is the subsidiary of the other.
461. Chúng ta vừa bàn đến hai định luật, trong đó một định luật là phụ thuộc của định luật kia.
a. The Law of Attraction and Repulsion
a. Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi
b. The Law of Periodicity (the effect of the magnetisms and antipathies induced by the Law of Attraction and Repulsion)
b. Định luật Tuần Hoàn (hệ quả của các từ điện và phản cảm được tạo ra bởi Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi)
462. Now, we address two types of cycles.
462. Giờ đây, chúng ta bàn đến hai loại chu kỳ.
1. Rotation on the axis: This is to be seen whether we are dealing with a minute atom of substance, with a planet revolving on its axis, with the rotation of the causal body, or with the rotation of a solar system.
1. Sự quay trên trục: Điều này được thấy dù chúng ta đang đề cập đến một nguyên tử cực nhỏ của chất liệu, một hành tinh quay trên trục của nó, sự quay của thể nguyên nhân, hay sự quay của một hệ mặt trời.
463. DK affirms the ubiquity of the process of rotation.
463. Chân sư DK khẳng định tính phổ biến khắp nơi của tiến trình quay.
464. It comes a no surprise to think of a planet revolving on its axis (rotating, really), but the rotating of the atom on its axis may be a new idea, and the “rotation of the causal body” on its axis a revolutionary concept.
464. Không có gì ngạc nhiên khi nghĩ đến một hành tinh quay trên trục của nó (thật ra là quay tròn), nhưng việc nguyên tử quay trên trục của nó có thể là một ý tưởng mới, và “sự quay của thể nguyên nhân” trên trục của nó là một khái niệm mang tính cách mạng.
465. The causal body may inherently contain an entire zodiac and planetary system which determines the astrology of the soul. When certain sections of the causal body appear before one’s ‘face’, the energies belonging to the appearing section must be faced.
465. Thể nguyên nhân có thể vốn chứa toàn bộ một hoàng đạo và hệ hành tinh quyết định chiêm tinh học của linh hồn. Khi những phần nào đó của thể nguyên nhân xuất hiện trước “gương mặt” của một người, các năng lượng thuộc phần xuất hiện ấy phải được đối diện.
466. The rotation of a solar system (as an entirety) has also not been suspected by modern astronomical science, but the rotation of the Sun itself, on its own axis, has been identified.
466. Sự quay của một hệ mặt trời (như một toàn thể) cũng chưa được khoa học thiên văn hiện đại ngờ tới, nhưng sự quay của chính Mặt Trời trên trục riêng của nó thì đã được nhận diện.
a. In relation to the human being, this might be considered as the rotation of the various sheaths around the central consciousness during any one incarnation.
a. Liên hệ với con người, điều này có thể được xem như sự quay của các thể vỏ khác nhau quanh tâm thức trung tâm trong bất kỳ một kiếp lâm phàm nào.
467. We should attend closely to what is said. A kind of central position is given to a “central consciousness”.
467. Chúng ta nên chú ý kỹ đến điều được nói ra. Một loại vị trí trung tâm được dành cho một “tâm thức trung tâm”.
468. It is suggested that all the sheaths of man rotate around this central consciousness during the process of incarnation.
468. Điều được gợi ý là tất cả các thể vỏ của con người đều quay quanh tâm thức trung tâm này trong tiến trình lâm phàm.
469. This is conceivable in relation to all sheaths except the etheric body which seems to conform to the contours of the non-rotating physical body, and yet it may be the case.
469. Điều này có thể hình dung được đối với mọi thể vỏ ngoại trừ thể dĩ thái, vốn dường như tuân theo các đường nét của thể xác không quay, tuy nhiên có thể vẫn là như vậy.
470. One can be sure that the periods of rotation of the sheaths is one of the secrets of initiation.
470. Có thể chắc chắn rằng các chu kỳ quay của các thể vỏ là một trong những bí mật của điểm đạo.
471. One can also reasonably infer that such rotation is keyed to planetary cycles.
471. Người ta cũng có thể suy ra một cách hợp lý rằng sự quay như thế được điều chỉnh theo các chu kỳ hành tinh.
472. Such rotation would account for spiral-cyclic encounters with similar conditions. There will be a general repetition of the kind of experience encountered as the sheath rotates or revolves, however, the quality of the sheath may have been elevated during the time period from the beginning of one cycle of rotation to the beginning of the next. The quality of response at similar points in the rotational cycle (one on a lower and one on a higher turn of the spiral) will thus be elevated or enhanced.
472. Sự quay như thế sẽ giải thích cho những cuộc gặp gỡ xoắn ốc theo chu kỳ với các điều kiện tương tự. Sẽ có một sự lặp lại tổng quát về loại kinh nghiệm gặp phải khi thể vỏ quay hay xoay vòng; tuy nhiên, phẩm tính của thể vỏ có thể đã được nâng cao trong khoảng thời gian từ đầu một chu kỳ quay đến đầu chu kỳ kế tiếp. Phẩm tính của sự đáp ứng tại những điểm tương tự trong chu kỳ quay (một ở vòng thấp hơn và một ở vòng cao hơn của đường xoắn ốc) do đó sẽ được nâng cao hay tăng cường.
473. In other words, if we encounter circumstances with enhanced equipment, our response to those circumstances will be elevated above what it formerly was. We will have grown.
473. Nói cách khác, nếu chúng ta gặp những hoàn cảnh với trang bị được tăng cường, thì sự đáp ứng của chúng ta đối với những hoàn cảnh ấy sẽ được nâng cao hơn trước kia. Chúng ta sẽ đã trưởng thành.
474. From another perspective, if analogous urges emanate from a rotating sheath at ‘parallel’ points in the rotational cycle (and the quality of the rotating sheath has improved over what it was one cycle before) the expression of the vehicle will be enhanced regardless of what type of circumstances are encountered.
474. Từ một góc độ khác, nếu những thôi thúc tương đồng phát ra từ một thể vỏ đang quay tại những điểm “song song” trong chu kỳ quay (và phẩm tính của thể vỏ đang quay đã được cải thiện so với một chu kỳ trước đó) thì sự biểu lộ của vận cụ sẽ được tăng cường bất kể gặp phải loại hoàn cảnh nào.
b. In relation to a Heavenly Man it might be considered as the rotation of a globe within a chain, or the period of one incarnation.
b. Liên hệ với một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được xem như sự quay của một bầu hành tinh trong một dãy, hay chu kỳ của một lần lâm phàm.
475. This is an occult hint and a little thought about it reveals how deeply veiled is this matter of the structure of globes, chains and schemes.
475. Đây là một gợi ý huyền bí và chỉ cần suy nghĩ đôi chút về nó sẽ thấy vấn đề cấu trúc của các bầu hành tinh, các dãy và các hệ hành tinh được che giấu sâu xa đến mức nào.
476. Is it being said that one rotation of a globe within a chain represents one incarnation of the Heavenly Man expressing through a particular scheme?
476. Có phải đang nói rằng một vòng quay của một bầu hành tinh trong một dãy biểu thị một lần lâm phàm của Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh đặc thù không?
477. Or is the incarnating entity the Globe Lord or Chain Lord?
477. Hay thực thể đang lâm phàm là Chúa Tể của Bầu Hành Tinh hay Chúa Tể của Dãy?
478. Note that in relation to the incarnation, we are not speaking of the cyclic disappearance of that which is rotating. Obviously, more than the physical globe is rotating.
478. Lưu ý rằng liên hệ với sự lâm phàm, chúng ta không nói về sự biến mất theo chu kỳ của cái đang quay. Hiển nhiên, không chỉ bầu hành tinh hồng trần là đang quay.
479. We might also ask, what sheath or sheaths within the globe are rotating? Not just its physical sheath, presumably, for that rotation occurs on a daily basis, and can hardly be canned “one incarnation”. A globe will, however, have a number of interior sheaths with differing periods of rotation. Some of the internal sheaths (for instance a causal sheath) may be very slow in their rotation when compared to the cycles familiar to man.
479. Chúng ta cũng có thể hỏi, thể vỏ nào hay những thể vỏ nào bên trong bầu hành tinh đang quay? Có lẽ không chỉ là thể hồng trần của nó, vì sự quay đó diễn ra hằng ngày, và khó có thể gọi là “một lần lâm phàm”. Tuy nhiên, một bầu hành tinh sẽ có một số thể vỏ nội tại với những chu kỳ quay khác nhau. Một số thể vỏ bên trong (chẳng hạn một thể nguyên nhân) có thể quay rất chậm so với các chu kỳ quen thuộc với con người.
480. Will every globe also have a monadic sheath which rotates? If so, one rotation per one incarnation may seem more reasonable.
480. Mỗi bầu hành tinh cũng sẽ có một thể chân thần quay chăng? Nếu vậy, một vòng quay cho một lần lâm phàm có vẻ hợp lý hơn.
481. In any case, one rotation of a globe within a chain does represent the period of one incarnation for some type of planetary Heavenly Man (of which, we remember, there can be at least three).
481. Dù sao đi nữa, một vòng quay của một bầu hành tinh trong một dãy quả thật biểu thị chu kỳ của một lần lâm phàm đối với một loại Đấng Thiên Nhân hành tinh nào đó (mà chúng ta nhớ rằng có thể có ít nhất ba).
482. We can hardly think of this rotation as related simply to the cycle of one day and night. Our Earth-globe for instance, does rotate once a day and night.
482. Chúng ta khó có thể nghĩ sự quay này chỉ đơn giản liên hệ với chu kỳ một ngày và một đêm. Chẳng hạn, bầu hành tinh Trái Đất của chúng ta quả thật quay một lần mỗi ngày đêm.
483. Additionally, a structural question arises: can a planetary chain rotate? And if so, what is the nature of its rotation? It is easy to understand how a globe may rotate, but the rotation of a planetary chain or a planetary scheme are harder to conceive. This question bears upon the actual structure of a planetary chain and a planetary scheme.
483. Ngoài ra, một câu hỏi về cấu trúc được đặt ra: một dãy hành tinh có thể quay không? Và nếu có, bản chất sự quay của nó là gì? Thật dễ hiểu cách một bầu hành tinh có thể quay, nhưng sự quay của một dãy hành tinh hay một hệ hành tinh thì khó hình dung hơn. Câu hỏi này liên quan đến cấu trúc thực sự của một dãy hành tinh và một hệ hành tinh.
484. It is clear that the diagrams we have depicting planetary globes, chains and schemes are not suggestive of the real structure of the planetary system.
484. Rõ ràng là các sơ đồ chúng ta có mô tả các bầu hành tinh, các dãy và các hệ hành tinh không gợi ra cấu trúc thực của hệ hành tinh.
c. In relation to a solar Logos it might be considered as one complete revolution of the Sun in space, with all that is included within the ring-pass-not.
c. Liên hệ với một Thái dương Thượng đế, điều này có thể được xem như một vòng quay trọn vẹn của Mặt Trời trong không gian, cùng với tất cả những gì được bao gồm bên trong vòng-giới-hạn.
485. The term revolution is used, but really, rotation is meant.
485. Thuật ngữ vòng quay được dùng, nhưng thật ra điều được hàm ý là sự quay tròn.
486. We are not just talking about the rotation of the Sun as a sphere—a period of some twenty-seven days. We are talking of the rotation of the entire solar sphere, with a period of rotation close to 100,000. years.
486. Chúng ta không chỉ nói về sự quay của Mặt Trời như một khối cầu—một chu kỳ khoảng hai mươi bảy ngày. Chúng ta đang nói về sự quay của toàn bộ khối cầu thái dương, với chu kỳ quay gần 100,000. năm.
The exact figures of the cycle which covers the vast rotation must remain as yet esoteric, but it may be stated that it approximates one hundred thousand years, being, as might be supposed, controlled by the energy of the first aspect, and therefore of the first Ray. (TCF 1057)
Các con số chính xác của chu kỳ bao trùm sự quay vĩ đại này hiện vẫn phải còn là huyền bí, nhưng có thể nói rằng nó xấp xỉ một trăm ngàn năm, và như có thể được giả định, bị chi phối bởi năng lượng của phương diện thứ nhất, và do đó bởi Cung một. (TCF 1057)
2. Rotation around an orbit.
2. Sự quay quanh một quỹ đạo.
487. DK seems to be deliberately blurring the distinction between terms. When orbital motion is considered, the term usually used is “revolution”
487. Dường như Chân sư DK cố ý làm mờ đi sự phân biệt giữa các thuật ngữ. Khi xét đến chuyển động quỹ đạo, thuật ngữ thường được dùng là “vòng quay”
This is the revolution of a sphere of life,
Đây là vòng quay của một khối cầu sự sống,
488. Here, in the very next sentence, He uses the preferred term.
488. Ở đây, ngay trong câu kế tiếp, Ngài dùng thuật ngữ được ưa dùng.
489. He similarly blurs the distinction between the terms “sign” and “constellation”.
489. Tương tự, Ngài cũng làm mờ đi sự phân biệt giữa các thuật ngữ “dấu hiệu” và “chòm sao”.
not only on its axis, but along a spheroidal path or orbit around a central point.
không chỉ trên trục của nó, mà còn dọc theo một đường hay quỹ đạo hình cầu quanh một điểm trung tâm.
490. Such a path, as we know, is nominally “spheroidal” but often, in fact, elliptical.
490. Như chúng ta biết, một đường như thế trên danh nghĩa là “hình cầu” nhưng thường, trên thực tế, là hình elip.
a. In connection with man this might be considered as the revolution of the wheel of life, or the passage of an entity through the three lower planes down into incarnation and back again.
a. Liên hệ với con người, điều này có thể được xem như vòng quay của bánh xe sự sống, hay sự đi qua của một thực thể xuyên qua ba cõi thấp xuống đến lâm phàm rồi trở lại.
491. Pictorially, this type of revolution will probably not appear as does the revolution of the Earth around the Sun.
491. Về mặt hình ảnh, loại vòng quay này có lẽ sẽ không xuất hiện như vòng quay của Trái Đất quanh Mặt Trời.
492. Yet, often processes which we interpret as symbolic have a literal meaning. Accordingly, one wonders about a type of motion occurring within the causal body which is pictorially closer to the revolution of the Earth around the Sun than may be imagined. In a way, the three lower planes are contained within the causal body (for the permanent atoms generating these bodies are thus contained) and so the type of revolution of the wheel of life here described is pictorially conceivable.
492. Tuy nhiên, thường thì những tiến trình mà chúng ta diễn giải như biểu tượng lại có một ý nghĩa theo nghĩa đen. Theo đó, người ta tự hỏi về một loại chuyển động xảy ra bên trong thể nguyên nhân mà về mặt hình ảnh gần với vòng quay của Trái Đất quanh Mặt Trời hơn là người ta có thể tưởng tượng. Theo một nghĩa nào đó, ba cõi thấp được chứa đựng bên trong thể nguyên nhân (vì các nguyên tử trường tồn tạo ra các thể này được chứa đựng như vậy) và do đó loại vòng quay của bánh xe sự sống được mô tả ở đây là điều có thể hình dung về mặt hình ảnh.
493. When we speak of the “wheel of life” some sort of occult ‘wheel’ may, indeed, be involved. The mysteries, then, would be protected by the assumption that the teacher could not possibly be literal in His meaning.
493. Khi chúng ta nói về “bánh xe sự sống”, quả thật có thể có một “bánh xe” huyền bí nào đó được bao hàm. Khi ấy, các huyền nhiệm sẽ được bảo vệ bởi giả định rằng huấn sư không thể nào lại có ý nghĩa theo nghĩa đen trong điều Ngài nói.
494. One can easily think of the latitudinal rotation of the causal body on its axis (rotation parallel to the lines of latitude), but what of a longitudinal rotation. The planes, we remember, rotate from East to West and the rays from North to South. For DK the planes rotate latitudinally, and the rays longitudinally (parallel to the lines of longitude).
494. Người ta có thể dễ dàng nghĩ đến sự quay theo vĩ độ của thể nguyên nhân trên trục của nó (sự quay song song với các đường vĩ độ), nhưng còn sự quay theo kinh độ thì sao. Chúng ta nhớ rằng các cõi quay từ Đông sang Tây và các cung từ Bắc xuống Nam. Đối với Chân sư DK, các cõi quay theo vĩ độ, còn các cung quay theo kinh độ (song song với các đường kinh độ).
495. In relation to the causal body we can conceive of an orbit for the movement from East to West and an orbit for the movement from North to South.
495. Liên hệ với thể nguyên nhân, chúng ta có thể hình dung một quỹ đạo cho chuyển động từ Đông sang Tây và một quỹ đạo cho chuyển động từ Bắc xuống Nam.
496. The North/South rotation may pictorially describe the process of incarnation and release from incarnation.
496. Sự quay Bắc/Nam có thể mô tả bằng hình ảnh tiến trình lâm phàm và giải thoát khỏi lâm phàm.
497. These movements may occultly describe the inner workings of the “Wheel of Life”.
497. Những chuyển động này có thể mô tả một cách huyền bí các hoạt động nội tại của “Bánh Xe Sự Sống”.
b. In connection with a Heavenly Man it might be considered as the cycle which we call a round in which the life of the Heavenly Man cycles through all the seven globes.
b. Liên hệ với một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được xem như chu kỳ mà chúng ta gọi là một cuộc tuần hoàn, trong đó sự sống của Đấng Thiên Nhân tuần hoàn qua cả bảy bầu hành tinh.
498. This is one type of round—a chain-round. There seems also to be a scheme-round of much longer duration in which a Heavenly Man cycles through all seven chains—or through more, considering that there may be ten.
498. Đây là một loại cuộc tuần hoàn—một cuộc tuần hoàn của dãy. Dường như cũng có một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh với thời lượng dài hơn nhiều, trong đó một Đấng Thiên Nhân tuần hoàn qua cả bảy dãy—hay qua nhiều hơn, nếu xét rằng có thể có mười.
499. There is probably an analogy between one incarnational turning of the wheel of life for a man, and the period of one round. Is a round equivalent to one type of incarnation of a Heavenly Man? A few sentences earlier we learned that the rotation of a globe in a chain was equivalent to “one incarnation”. Much will depend upon the type of Heavenly Man we are discussing.
499. Có lẽ có một sự tương đồng giữa một vòng quay lâm phàm của bánh xe sự sống đối với con người, và chu kỳ của một cuộc tuần hoàn. Một cuộc tuần hoàn có tương đương với một loại lâm phàm của một Đấng Thiên Nhân không? Vài câu trước chúng ta đã biết rằng sự quay của một bầu hành tinh trong một dãy tương đương với “một lần lâm phàm”. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào loại Đấng Thiên Nhân mà chúng ta đang bàn đến.
500. All lesser incarnations of the lesser types of Heavenly Men within a Planetary Logos are really incarnations of that Planetary Logos—this we hypothesized. But the rotation of all sheaths pertaining to a globe may be one incarnation of that type of Heavenly Man which is a Globe Lord, and the completion of a round may be one incarnation of that type of Heavenly Man which is a Chain Lord.
500. Mọi lần lâm phàm nhỏ hơn của các loại Đấng Thiên Nhân thấp hơn bên trong một Hành Tinh Thượng Đế thật ra đều là những lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng Đế ấy—đó là điều chúng ta đã giả thuyết. Nhưng sự quay của mọi thể vỏ liên hệ với một bầu hành tinh có thể là một lần lâm phàm của loại Đấng Thiên Nhân là Chúa Tể của Bầu Hành Tinh, và sự hoàn tất một cuộc tuần hoàn có thể là một lần lâm phàm của loại Đấng Thiên Nhân là Chúa Tể của Dãy.
501. If there are seven rounds per chain and seven or ten chains, then the number of these types of ‘incarnations’ for a Heavenly Man would be either forty-nine or seventy.
501. Nếu có bảy cuộc tuần hoàn cho mỗi dãy và bảy hay mười dãy, thì số lượng các loại “lần lâm phàm” này đối với một Đấng Thiên Nhân sẽ là bốn mươi chín hoặc bảy mươi.
502. These numbers, themselves, may have to be multiplied by seven or ten when considering greater planetary cycles—i.e., scheme-rounds.
502. Chính các con số này có thể còn phải được nhân với bảy hoặc mười khi xét đến các chu kỳ hành tinh lớn hơn—tức là các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh.
c. In connection with the solar Logos it is the complete revolution of the solar system around its cosmic centre.
c. Liên hệ với Thái dương Thượng đế, đó là vòng quay trọn vẹn của hệ mặt trời quanh trung tâm vũ trụ của nó.
503. This type of cycle has a duration, we are told, of approximately 250,000. years. The cosmic centre is the star Alcyone in the Pleiades.
503. Chúng ta được cho biết loại chu kỳ này có thời lượng xấp xỉ 250,000. năm. Trung tâm vũ trụ là ngôi sao Alcyone trong chòm Thất Nữ.
Ponder on this and remember also that our Sun is travelling through space (carrying our solar system along in its sphere of influence) around our own central and conditioning star which it has been rightly presumed exists in the constellation Taurus, the Bull, being found in the Pleiades. (EA 111)
Hãy suy ngẫm về điều này và cũng hãy nhớ rằng Mặt Trời của chúng ta đang du hành trong không gian (mang theo hệ mặt trời của chúng ta trong khối cầu ảnh hưởng của nó) quanh ngôi sao trung tâm và tác động lên chúng ta, mà người ta đã giả định đúng đắn là tồn tại trong chòm Kim Ngưu, Con Bò Đực, được tìm thấy trong chòm Thất Nữ. (EA 111)
504. Some modern astronomers think this type of cycle is not possible given the mass of the Sun and the distance of the Sun from the Pleiades.
504. Một số nhà thiên văn học hiện đại cho rằng loại chu kỳ này là không thể có xét theo khối lượng của Mặt Trời và khoảng cách từ Mặt Trời đến chòm Thất Nữ.
505. The question naturally arises (if the analogies presented are really tight) whether one cycle of our solar system around the Pleiades represents some type of ‘incarnation’ for our Solar Logos. Such a revolution certainly must represent a developmental phase for our Solar Logos.
505. Câu hỏi tự nhiên nảy sinh (nếu các tương đồng được trình bày thật sự chặt chẽ) là liệu một chu kỳ của hệ mặt trời chúng ta quanh chòm Thất Nữ có biểu thị một loại “lần lâm phàm” nào đó của Thái dương Thượng đế chúng ta không. Một vòng quay như thế chắc chắn phải biểu thị một giai đoạn phát triển đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta.
It is to be noted at this point that the ideas dealt with in connection with cyclic evolution cannot be posited apart from the concept of consciousness.
Cần lưu ý rằng tại điểm này, các ý tưởng được bàn đến liên quan đến tiến hoá theo chu kỳ không thể được đặt ra tách rời khỏi khái niệm tâm thức.
506. The concept of “cyclic evolution” and the “concept of consciousness” are inseparable.
506. Khái niệm “tiến hoá theo chu kỳ” và “khái niệm tâm thức” là bất khả phân ly.
507. During cyclic evolution, the evolution of consciousness is the most important result (though, naturally, there will also be evolution of the form as an instrument of consciousness).
507. Trong tiến hoá theo chu kỳ, sự tiến hoá của tâm thức là kết quả quan trọng nhất (dù dĩ nhiên cũng sẽ có sự tiến hoá của hình tướng như một công cụ của tâm thức).
508. Spiral-cyclic motion is the method by which consciousness evolves.
508. Chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ là phương pháp nhờ đó tâm thức tiến hoá.
The ideas of [Page 278] time, of space, and of activity (from the point of view of the occultist), can only be conceived as relative to some conscious entity, to some Thinker.
Các ý tưởng về [Page 278] thời gian, không gian, và hoạt động (theo quan điểm của nhà huyền bí học), chỉ có thể được quan niệm là tương đối đối với một thực thể có tâm thức nào đó, đối với một Đấng Tư Tưởng nào đó.
509. Time, space and motion are an archetypal trinity.
509. Thời gian, không gian và chuyển động là một bộ ba nguyên mẫu.
510. VSK suggests: “So, without a Thinker to conceive it, cyclic evolution ‘does not exist’.”
510. VSK gợi ý: “Vì vậy, nếu không có một Đấng Tư Tưởng để quan niệm ra nó, tiến hoá theo chu kỳ ‘không tồn tại’.”
511. Time, space and motion are categories of perception. The entire Universe is a perceptual process. The Universe arises through a mysterious ‘Act of Self-Perception’.
511. Thời gian, không gian và chuyển động là những phạm trù của tri giác. Toàn thể Vũ Trụ là một tiến trình tri giác. Vũ Trụ phát sinh qua một ‘Hành Động Tự Tri Giác’ huyền nhiệm.
512. From this perspective, time, space and activity are categories of consciousness.
512. Từ góc nhìn này, thời gian, không gian và hoạt động là những phạm trù của tâm thức.
Time to the occultist is that cycle, greater or lesser, in which some life runs some specific course, in which some particular period begins, continues, and ends, in connection with the awareness of some Entity, and is recognised only as time when the participating life has reached a considerable stage of awareness.
Đối với nhà huyền bí học, thời gian là chu kỳ, lớn hơn hay nhỏ hơn, trong đó một sự sống nào đó vận hành một tiến trình đặc thù nào đó, trong đó một giai đoạn đặc biệt nào đó bắt đầu, tiếp diễn và kết thúc, liên hệ với sự nhận biết của một Thực Thể nào đó, và chỉ được nhận biết là thời gian khi sự sống tham dự đã đạt đến một giai đoạn nhận biết đáng kể.
513. Time is defined primarily as a cycle.
513. Thời gian trước hết được định nghĩa như một chu kỳ.
514. The “greater” or “lesser” can be determined only in comparison with other such cycles.
514. “Lớn hơn” hay “nhỏ hơn” chỉ có thể được xác định khi so sánh với những chu kỳ khác như thế.
515. The factor of awareness is inseparable from cycles of time. A cycle of time is marked, therefore, by the beginning and end of the awareness of some Entity.
515. Yếu tố nhận biết là không thể tách rời khỏi các chu kỳ thời gian. Vì vậy, một chu kỳ thời gian được đánh dấu bởi sự khởi đầu và kết thúc của sự nhận biết của một Thực Thể nào đó.
516. Undeveloped entities are not immediately aware of the time cycles in which they are participating and of which they are already aware in the higher aspects of their nature.
516. Những thực thể chưa phát triển không lập tức nhận biết được các chu kỳ thời gian mà chúng đang tham dự và về đó chúng đã sẵn nhận biết trong các phương diện cao hơn của bản chất chúng.
517. All this is another way of saying that unless a cycle of time is perceived by some Entity, it does not exist. If there is no consciousness of time, there is no time.
517. Tất cả điều này là một cách khác để nói rằng trừ phi một chu kỳ thời gian được một Thực Thể nào đó tri giác, nó không tồn tại. Nếu không có tâm thức về thời gian, thì không có thời gian.
518. A unit of time, then, is the relative duration of a ‘span of awareness’.
518. Vậy thì, một đơn vị thời gian là độ dài tương đối của một ‘khoảng nhận biết’.
519. Time, in the largest sense is, therefore, a non-continuous act of Self-Perception. If Self-perception is continuous, one has only endless duration or timelessness.
519. Vì vậy, theo nghĩa rộng nhất, thời gian là một hành động Tự Tri Giác không liên tục. Nếu tự tri giác là liên tục, người ta chỉ có sự kéo dài vô tận hay phi thời gian.
520. Thus, there is no strictly objective time. Time is essentially the result of a subjective process and is a subjective measurement.
520. Do đó, không có thời gian khách quan theo nghĩa nghiêm ngặt. Về bản chất, thời gian là kết quả của một tiến trình chủ quan và là một sự đo lường chủ quan.
Footnote 15: The Secret Doctrine says:
Cước chú 15: Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng:
1. The Universe is in reality but a huge aggregation of states of consciousness. —S. D., II, 633. I, 70, 626,
1. Vũ Trụ trong thực tại chỉ là một tập hợp khổng lồ những trạng thái tâm thức. —S. D., II, 633. I, 70, 626,
521. There are many states of consciousness within the One Consciousness.
521. Có nhiều trạng thái tâm thức bên trong Tâm Thức Duy Nhất.
522. The Universe is not an objective something; it is a subjective something.
522. Vũ Trụ không phải là một cái gì khách quan; nó là một cái gì chủ quan.
523. The Universe is a Self-perception.
523. Vũ Trụ là một sự Tự tri giác.
524. The Universal Self becomes the Universe through Self-perception.
524. Đại Ngã Vũ Trụ trở thành Vũ Trụ qua sự Tự tri giác.
2. Spirit and consciousness are synonymous terms. —S. D., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593.
2. Tinh thần và tâm thức là những thuật ngữ đồng nghĩa. —S. D., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593.
525. This may be so from one perspective. From another perspective, consciousness may be understood as a limitation upon Spirit (considered as Pure Being).
525. Điều này có thể đúng từ một góc nhìn. Từ một góc nhìn khác, tâm thức có thể được hiểu như một sự giới hạn đặt lên Tinh thần (được xem như Bản Thể Thuần Khiết).
526. At the highest level of cosmos, it may be presumed that the Perceiver, the Perceived and the Perceiving are so interwoven as to be indistinguishable.
526. Ở cấp độ cao nhất của vũ trụ, có thể giả định rằng Đấng Tri Giác, cái được tri giác và sự tri giác đan xen với nhau đến mức không thể phân biệt.
3. Every atom in the universe is endowed with consciousness. —S. D., I, 105. II, 709, 742.
3. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều được phú cho tâm thức. —S. D., I, 105. II, 709, 742.
527. This is by now a familiar idea. The consciousness with which the atom is endowed is not self-consciousness but a kind of sensitive responsiveness to other such units.
527. Đến nay đây là một ý tưởng quen thuộc. Tâm thức mà nguyên tử được phú cho không phải là ngã thức mà là một loại đáp ứng nhạy cảm đối với những đơn vị khác cùng loại.
4. Six types of Consciousness as embodied in the on the five planes of Human Evolution. —S. D., I, 123. II, 678.
4. Sáu loại Tâm thức như được thể hiện trong trên năm cõi của Tiến Hoá Nhân Loại. —S. D., I, 123. II, 678.
528. It is interesting that although there are seven principles, there are six types of consciousness. Actually, however, a final type of consciousness is added following the six, just as a final, synthetic School of Indian Philosophy is added after the description of the usual six Schools.
528. Điều đáng chú ý là mặc dù có bảy nguyên khí, lại có sáu loại tâm thức. Tuy nhiên, trên thực tế, một loại tâm thức cuối cùng được thêm vào sau sáu loại ấy, cũng như một Trường phái Triết học Ấn Độ cuối cùng, có tính tổng hợp, được thêm vào sau khi mô tả sáu Trường phái thông thường.
a. The Mineral Kingdom 1.
a. Giới kim thạch 1.
Intelligent activity. All atoms show ability to select, to discriminate intelligently under the Law of Attraction and Repulsion. —S. D., I, 295.
Hoạt động thông minh. Mọi nguyên tử đều cho thấy khả năng chọn lựa, phân biện một cách thông minh dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. —S. D., I, 295.
529. The Law of Attraction and Repulsion is, in this case, a subset of the Law of Economy.
529. Trong trường hợp này, Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi là một tập con của Định luật Tiết Kiệm.
530. Each of the cosmic laws is contained within the other two as a subsidiary expression.
530. Mỗi định luật vũ trụ đều được chứa trong hai định luật kia như một biểu hiện phụ thuộc.
b. Vegetable Kingdom 2.
b. Giới thực vật 2.
Intelligent activity plus embryo sensation or feeling.
Hoạt động thông minh cộng với cảm giác hay cảm thọ phôi thai.
531. The degree of responsiveness is greatly increased over the type of response evident in the mineral kingdom. The influence of the Law of Attraction and Repulsion is far more accentuated.
531. Mức độ đáp ứng gia tăng rất nhiều so với loại đáp ứng biểu lộ trong giới kim thạch. Ảnh hưởng của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi được nhấn mạnh hơn nhiều.
532. The vegetable kingdom is developing a nascent sense of touch under the Law of Attraction and Repulsion.
532. Giới thực vật đang phát triển một cảm giác xúc chạm sơ khai dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.
533. If this is the case, is the mineral kingdom developing a kind of ‘hearing’, though the sense of touch (in this solar system) is the most prominent sense and virtually equivalent to consciousness.
533. Nếu đúng như vậy, thì phải chăng giới kim thạch đang phát triển một loại ‘thính giác’, mặc dù xúc giác (trong hệ mặt trời này) là giác quan nổi trội nhất và hầu như tương đương với tâm thức.
c. Animal Kingdom 3.
c. Giới động vật 3.
Intelligent activity, sensation plus instinct, or embryo mentality. —S. D., III, 573, 574.
Hoạt động thông minh, cảm giác cộng với bản năng, hay trí tuệ phôi thai. —S. D., III, 573, 574.
534. Manas (a third factor) enters in relation to the third kingdom, the animal.
534. Manas (một yếu tố thứ ba) đi vào liên hệ với giới thứ ba, tức giới động vật.
535. Neither minerals or plants have eyes, per se, but animals do.
535. Cả khoáng vật lẫn thực vật đều không có mắt chính chúng, nhưng động vật thì có.
536. The emergence or the eye and the emergence of instinct as nascent intelligence are coeval.
536. Sự xuất hiện của mắt và sự xuất hiện của bản năng như trí thông minh sơ khai là đồng thời.
These three embody the sub-human consciousness.
Ba giới này thể hiện tâm thức dưới nhân loại.
537. The human being is possessed of mineral, vegetative and animal life. He is the macrocosm to these three microcosms. The three lower kingdoms exist within man.
537. Con người sở hữu sự sống khoáng vật, thực vật và động vật. Y là đại thiên địa đối với ba tiểu thiên địa này. Ba giới thấp tồn tại bên trong con người.
d. Human consciousness 4.
d. Tâm thức nhân loại 4.
Intelligent activity, love or perfected feeling or realisation and will, or intelligent purpose. The three aspects. S. D., I, 215, 231. —S. D., II, 552. III, 579.
Hoạt động thông minh, bác ái hay cảm thọ được hoàn thiện hay (sự)chứng nghiệm, và ý chí, hay mục đích thông minh. Ba phương diện. S. D., I, 215, 231. —S. D., II, 552. III, 579.
538. Interesting definitions are here given:
538. Ở đây có những định nghĩa đáng chú ý:
a. Love is perfected feeling. Thus the astral and buddhic faculties are linked.
a. Bác ái là cảm thọ được hoàn thiện. Như vậy, các năng lực cảm dục và Bồ đề được nối kết.
b. Love also appears to be ‘perfected realization’ which we might call “pure reason”. Love is a blend of the apotheosis of touch and sight.
b. Bác ái dường như cũng là ‘(sự)chứng nghiệm được hoàn thiện’, điều mà chúng ta có thể gọi là “lý trí thuần khiết”. Bác ái là sự pha trộn của đỉnh cao của xúc chạm và thị giác.
c. Will is “intelligent purpose”; this equivalence pertains to the atmic plane which is both a plane of will (the first of the five Brahmic planes) and a plane of intelligence (the third of the cosmic-physical subplanes).
c. Ý chí là “mục đích thông minh”; sự tương đương này liên hệ đến cõi atma, vốn vừa là một cõi của ý chí (cõi thứ nhất trong năm cõi Brahma) vừa là một cõi của trí thông minh (cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ).
This is Self-Consciousness—the middle point. —S. D., I, 297.
Đây là Ngã thức—điểm ở giữa. —S. D., I, 297.
539. The ‘middle law’, the Law of Karma, must be closely associated with man. It cannot apply to those entities possessing only “sub-human consciousness” and, thus, devoid of individual responsibility.
539. “Định luật ở giữa”, Định luật Nghiệp quả, hẳn phải gắn bó chặt chẽ với con người. Nó không thể áp dụng cho những thực thể chỉ sở hữu “tâm thức dưới nhân loại” và vì vậy không có trách nhiệm cá nhân.
540. Self-consciousness is positioned midway between sub-consciousness and group consciousness (the highest expression of which is universal consciousness or God-consciousness).
540. Ngã thức được đặt ở giữa tiềm thức và tâm thức nhóm (mà biểu hiện cao nhất của nó là tâm thức vũ trụ hay tâm thức Thượng đế).