← Commentary_S3_223_340_song ngữ

e. Spiritual Consciousness 5.

Trích nội dung chương

Buddhic realisation. The unit is aware of his group. The separated unit identifies himself with his ray or type. —S. D., III, 572. I, 183, 623. (Sự)chứng nghiệm Bồ đề. Đơn vị nhận biết nhóm của mình. Đơn vị tách biệt đồng hoá chính mình với cung hay loại của mình. —S. D., III, 572. I, 183, 623.


e. Spiritual Consciousness 5.

e. Tâm thức tinh thần 5.

Buddhic realisation. The unit is aware of his group. The separated unit identifies himself with his ray or type. —S. D., III, 572. I, 183, 623.

(Sự)chứng nghiệm Bồ đề. Đơn vị nhận biết nhóm của mình. Đơn vị tách biệt đồng hoá chính mình với cung hay loại của mình. —S. D., III, 572. I, 183, 623.

541. The term “spiritual” again refers to that which transpires within the spiritual triad.

541. Thuật ngữ “tinh thần” ở đây một lần nữa chỉ điều diễn ra bên trong tam nguyên tinh thần tinh thần.

542. Spiritual consciousness is group consciousness.

542. Tâm thức tinh thần là tâm thức nhóm.

543. We see that consciousness of one’s ray is inseparable from group consciousness. Is buddhi required truly to identify one’s ray? Certainly, mentality alone cannot do it.

543. Chúng ta thấy rằng tâm thức về cung của mình là không thể tách rời khỏi tâm thức nhóm. Có phải Bồ đề là điều cần thiết để thật sự đồng hoá được cung của mình không? Chắc chắn chỉ riêng trí tuệ thì không thể làm được điều đó.

544. The term “realisation” is used. Elsewhere, the term “realisation” is associated with the atmic plane, and it has just been associated with love.

544. Thuật ngữ “(sự)chứng nghiệm” được dùng. Ở nơi khác, thuật ngữ “(sự)chứng nghiệm” được liên kết với cõi atma, và vừa rồi nó cũng đã được liên kết với bác ái.

f. Atmic Consciousness 6.

f. Tâm thức atma 6.

The consciousness of the unit of the Septenary solar system. —S. D., II, 673. II, 741.

Tâm thức của đơn vị thuộc hệ mặt trời thất phân. —S. D., II, 673. II, 741.

545. This seems a great extension over the manner in which atmic consciousness have been previously described.

545. Điều này dường như là một sự mở rộng lớn so với cách tâm thức atma đã được mô tả trước đây.

546. To what degree is the septenary solar system realized by the atmically conscious unit? It would seem that the solar system in its Brahmic aspect could be conceived, since the atmic plane is the first of the Brahmic planes.

546. Đơn vị có tâm thức atma chứng nghiệm hệ mặt trời thất phân đến mức nào? Có vẻ như hệ mặt trời trong phương diện Brahma của nó có thể được quan niệm, vì cõi atma là cõi thứ nhất trong các cõi Brahma.

547. We remember the relationship between the Heavenly Men (the Divine Manasaputras) and the third or Brahmic aspect of divinity.

547. Chúng ta nhớ mối liên hệ giữa các Đấng Thiên Nhân (các Manasaputra thiêng liêng) và phương diện thứ ba hay phương diện Brahma của thiên tính.

These two embody super-consciousness.

Hai loại này thể hiện siêu tâm thức.

548. Atmic and buddhic consciousness are “super-consciousness”. We understand that such consciousness partakes of the consciousness of the Planetary Logos.

548. Tâm thức atma và Bồ đề là “siêu tâm thức”. Chúng ta hiểu rằng loại tâm thức ấy dự phần vào tâm thức của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

The seventh type embraces them all and is God Consciousness. —S. D., II, 740. note.

Loại thứ bảy bao trùm tất cả chúng và là Tâm thức Thượng đế. —S. D., II, 740. chú thích.

549. This is consciousness as apprehended on the seventh or logoic level. Probably monadic consciousness should be included in “God Consciousness”.

549. Đây là tâm thức như được lĩnh hội trên cấp độ thứ bảy hay cấp độ logoic. Có lẽ tâm thức chân thần nên được bao gồm trong “Tâm thức Thượng đế”.

550. The seventh type of consciousness may be conceived as a correspondence to Atma-Vidya, or the seventh and synthetic school of Indian Philosophy.

550. Loại tâm thức thứ bảy có thể được quan niệm như một tương ứng với Atma-Vidya, hay trường phái thứ bảy và có tính tổng hợp của Triết học Ấn Độ.

Study also S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32. note, 741, 552. note. —S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584.

Cũng hãy nghiên cứu S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32. chú thích, 741, 552. chú thích. —S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584.

551. We return now to the definitions of time.

551. Giờ đây chúng ta trở lại các định nghĩa về thời gian.

Time has been defined as a succession of states of consciousness,

Thời gian đã được định nghĩa là một chuỗi tiếp nối các trạng thái tâm thức,

552. This is the definition of time which the Secret Doctrine has most emphasized.

552. Đây là định nghĩa về thời gian mà Giáo Lý Bí Nhiệm đã nhấn mạnh nhiều nhất.

553. Presumably if there were not succession of states of consciousness, there would be no time. All states are really states of consciousness. If there are no changes of states of consciousness, a state of timelessness supervenes.

553. Có lẽ nếu không có sự tiếp nối của các trạng thái tâm thức, sẽ không có thời gian. Mọi trạng thái thực ra đều là trạng thái tâm thức. Nếu không có những thay đổi của các trạng thái tâm thức, thì trạng thái phi thời gian sẽ xuất hiện.

554. Continuous identical perception is timelessness.

554. Tri giác đồng nhất liên tục là phi thời gian.

555. One thing succeeds another through a change in the object of perception.

555. Một sự vật nối tiếp một sự vật khác qua sự thay đổi trong đối tượng của tri giác.

556. Those who appreciate eternity are perceiving that which does not change, even though they are simultaneously aware of the illusion of that which changes. To master this dual form of perception is to master the art of living.

556. Những ai cảm nhận được vĩnh cửu đang tri giác điều không thay đổi, dù đồng thời họ vẫn nhận biết ảo tưởng của điều thay đổi. Làm chủ hình thức tri giác nhị nguyên này là làm chủ nghệ thuật sống.

557. Time is based upon limitation of perception. The expression of Uranian perception instead of Saturnian perception would overcome this limitation. Uranus is the planet of simultaneity.

557. Thời gian dựa trên sự giới hạn của tri giác. Sự biểu lộ của tri giác Uranus thay vì tri giác Saturn sẽ vượt qua giới hạn này. Uranus là hành tinh của tính đồng thời.

558. What is to be pondered is how to overcome the sense of succession or of the occurrence of one thing after another. The All-Seeing Eye (the ‘Eye of Simultaneity’) can do this.

558. Điều cần được suy ngẫm là làm thế nào để vượt qua cảm giác về sự tiếp nối hay về việc một sự việc xảy ra sau một sự việc khác. Con Mắt Thấy Tất Cả (tức ‘Con Mắt của Tính Đồng Thời’) có thể làm được điều này.

559. Succession is overcome by Omnipresence. Time, Saturn (Father Time) and Omnipresence are all related to the third aspect of divinity.

559. Sự tiếp nối được vượt qua bằng Tính Hiện Diện Khắp Nơi. Thời gian, Saturn (Cha Thời Gian) và Tính Hiện Diện Khắp Nơi đều liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

560. Our sense of the Eternal Now will grow as we overcome the sense of distinct areas of space. If one can be (as it were) omnipresent and see all things simultaneously, one’s sense of time will profoundly alter.

560. Cảm nhận của chúng ta về Hiện Tại Vĩnh Cửu sẽ tăng trưởng khi chúng ta vượt qua cảm giác về những vùng không gian tách biệt. Nếu một người có thể, nói như vậy, hiện diện khắp nơi và thấy mọi sự đồng thời, thì cảm nhận của người ấy về thời gian sẽ thay đổi sâu sắc.

561. We can practice such perception through the use of the creative imagination.

561. Chúng ta có thể thực hành loại tri giác ấy qua việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo.

15. and it therefore may be studied from the point of view of

15. và vì vậy nó có thể được nghiên cứu từ quan điểm của

562. We are being given the manner in which time may be studied.

562. Chúng ta đang được chỉ cho cách thức mà thời gian có thể được nghiên cứu.

[Page 279]

[Page 279]

a. Logoic consciousness, or the successive states of divine realisation within the solar sphere.

a. Tâm thức logoic, hay các trạng thái kế tiếp nhau của sự chứng nghiệm thiêng liêng bên trong khối cầu thái dương.

563. We are considering time in relation to a Solar Logos.

563. Chúng ta đang xem xét thời gian trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế.

564. We presume that these successive states of realisation are ordered.

564. Chúng ta giả định rằng các trạng thái chứng nghiệm kế tiếp nhau này là có trật tự.

565. How does the Solar Logos perceive time? Since the changes perceived are longer than the changes perceived by lesser entities, relatively great ‘spans of consciousness (great, to a lesser being) may be perceived as but an hour, a day, a month, etc. Hence the time categories—an hour, day, week, month, year or century of Brahma.

565. Thái dương Thượng đế tri giác thời gian như thế nào? Vì những thay đổi được tri giác dài hơn những thay đổi được các thực thể nhỏ hơn tri giác, nên những ‘khoảng tâm thức’ tương đối lớn (lớn đối với một hữu thể nhỏ hơn) có thể được tri giác chỉ như một giờ, một ngày, một tháng, v.v. Do đó mới có các phạm trù thời gian—một giờ, một ngày, một tuần, một tháng, một năm hay một thế kỷ của Brahma.

566. Successive states are really successively perceived states. Perhaps in the solar logoic consciousness, the sense of succession has given way to the sense of simultaneity. Yet even a Solar Logos has a time/space schedule.

566. Các trạng thái kế tiếp nhau thực ra là các trạng thái được tri giác kế tiếp nhau. Có lẽ trong tâm thức logoic thái dương, cảm giác về sự tiếp nối đã nhường chỗ cho cảm giác về tính đồng thời. Tuy vậy, ngay cả một Thái dương Thượng đế cũng có một lịch trình thời gian/không gian.

567. A solar system exists in time so long as a Solar Logos meditates upon the essential idea or pattern which the solar system embodies.

567. Một hệ mặt trời tồn tại trong thời gian chừng nào một Thái dương Thượng đế còn tham thiền về ý tưởng hay mô hình cốt yếu mà hệ mặt trời ấy thể hiện.

b. Planetary consciousness, or the consciousness of a Heavenly Man as He cycles successively through the scheme.

b. Tâm thức hành tinh, hay tâm thức của một Đấng Thiên Nhân khi Ngài tuần hoàn kế tiếp nhau qua hệ hành tinh.

568. We are considering time in relation to a Planetary Logos.

568. Chúng ta đang xem xét thời gian trong liên hệ với một Hành Tinh Thượng Đế.

569. The Heavenly Man who is the Planetary Logos cycles through globes, rounds and chains.

569. Đấng Thiên Nhân là Hành Tinh Thượng Đế tuần hoàn qua các bầu hành tinh, các cuộc tuần hoàn và các Dãy.

570. The manner of this cyclic succession is mysterious. Theosophists seem to have reduced the process to a very orderly and sequential pattern, but, from a study of DK, there seems to be much more to it and much more that occurs with simultaneity.

570. Cách thức của sự kế tiếp theo chu kỳ này là điều huyền nhiệm. Các nhà Thông Thiên Học dường như đã giản lược tiến trình này thành một mô hình rất trật tự và tuần tự, nhưng qua việc nghiên cứu Chân sư DK, dường như còn nhiều điều hơn thế và còn nhiều điều xảy ra trong tính đồng thời hơn nữa.

571. The successive cycles are probably determined by the focus or attention of the Planetary Logos. Events may be going on everywhere, but the Planetary Logos’ main focus may be relatively sequential—in a manner not yet even partially revealed, though analogically related to chakric development with the human being.

571. Các chu kỳ kế tiếp nhau có lẽ được quyết định bởi tiêu điểm hay sự chú ý của Hành Tinh Thượng Đế. Các sự kiện có thể đang diễn ra ở khắp nơi, nhưng tiêu điểm chính của Hành Tinh Thượng Đế có thể tương đối tuần tự—theo một cách thức mà cho đến nay vẫn chưa được mặc khải dù chỉ một phần, tuy có liên hệ theo định luật tương đồng với sự phát triển luân xa nơi con người.

c. Causal consciousness, or the successive expanding of the intelligent awareness of a human being from life to life.

c. Tâm thức nguyên nhân, hay sự mở rộng kế tiếp nhau của nhận biết thông minh của một con người từ kiếp này sang kiếp khác.

572. Time may be studied in relation to the man-as-Ego by considering causal consciousness.

572. Thời gian có thể được nghiên cứu trong liên hệ với con người-như-chân ngã bằng cách xem xét tâm thức nguyên nhân.

573. The life of the little personality is of short duration from the perspective the consciousness of the Ego on its own plane.

573. Sự sống của phàm ngã nhỏ bé có thời lượng ngắn ngủi từ góc nhìn của tâm thức của chân ngã trên cõi riêng của nó.

574. What are the successive states of consciousness registered by the soul on its own plane? Of what relative duration are these successive states?

574. Những trạng thái tâm thức kế tiếp nhau nào được linh hồn ghi nhận trên cõi riêng của nó? Những trạng thái kế tiếp nhau này có thời lượng tương đối ra sao?

575. One of the ‘spans of awareness’ for the Ego on its own plane will be a unit of expanded intelligent awareness. Expansions as a result of an incarnation lived will be registered.

575. Một trong những ‘khoảng nhận biết’ của chân ngã trên cõi riêng của nó sẽ là một đơn vị nhận biết thông minh được mở rộng. Những sự mở rộng do kết quả của một kiếp sống đã được sống sẽ được ghi nhận.

576. The sense of time is inseparable from the factor of comparison.

576. Cảm giác về thời gian là không thể tách rời khỏi yếu tố so sánh.

577. If a ‘span of awareness’ cannot be compared with another span, the sense of whether that span is long or short cannot be determined. Thus, much of an entity’s sense of time (the seeming length of time of any occurrence) depends upon which successive states of consciousness are registered by any type of entity.

577. Nếu một ‘khoảng nhận biết’ không thể được so sánh với một khoảng khác, thì không thể xác định được cảm giác rằng khoảng ấy là dài hay ngắn. Vì vậy, phần lớn cảm nhận về thời gian của một thực thể (độ dài dường như có của bất kỳ biến cố nào) tùy thuộc vào những trạng thái tâm thức kế tiếp nhau nào được ghi nhận bởi bất kỳ loại thực thể nào.

578. The question arises concerning whether great consciousnesses register minute states of consciousness. What do they notice? Do they notice tiny events? It would seem not. And yet it is said that “Not a sparrow falls…”

578. Câu hỏi được đặt ra là liệu những tâm thức lớn có ghi nhận những trạng thái tâm thức vi tế hay không. Các Ngài chú ý điều gì? Các Ngài có chú ý đến những biến cố nhỏ bé không? Có vẻ là không. Tuy nhiên, người ta vẫn nói rằng “Không một con chim sẻ nào rơi xuống…”

d. Human consciousness, or the awareness of a man on the physical plane, and progressively on the emotional and the mental planes.

d. Tâm thức con người, hay sự nhận biết của một người trên cõi hồng trần, và dần dần trên cõi cảm dục và cõi trí.

579. Time may be studied in relation to man the personality.

579. Thời gian có thể được nghiên cứu trong liên hệ với con người là phàm ngã.

580. We remind ourselves that time and the factor of awareness are inseparable. A unit of time is a span of awareness.

580. Chúng ta tự nhắc mình rằng thời gian và yếu tố nhận biết là không thể tách rời. Một đơn vị thời gian là một khoảng nhận biết.

581. We gather the impression that the sense of time on the physical plane is altered as awareness embraces more phenomena on the astral and mental planes.

581. Chúng ta có ấn tượng rằng cảm giác về thời gian trên cõi hồng trần bị thay đổi khi sự nhận biết bao trùm nhiều hiện tượng hơn trên cõi cảm dục và cõi trí.

582. We may infer that the ‘spans of awareness’ for greater entities are of relatively greater duration than the ‘spans of awareness’ for lesser entities.

582. Chúng ta có thể suy ra rằng các ‘khoảng nhận biết’ của những thực thể lớn hơn có thời lượng tương đối lớn hơn các ‘khoảng nhận biết’ của những thực thể nhỏ hơn.

583. Questions arise as to the rapidity of successive states on the different planes. Are there more successive states to be registered on lower planes than on higher? This is not easy to answer, but one senses that the answer would be significant.

583. Những câu hỏi được đặt ra về tốc độ của các trạng thái kế tiếp nhau trên các cõi khác nhau. Có phải trên các cõi thấp có nhiều trạng thái kế tiếp nhau cần được ghi nhận hơn trên các cõi cao không? Điều này không dễ trả lời, nhưng người ta cảm thấy rằng câu trả lời sẽ có ý nghĩa quan trọng.

e. Animal, vegetable and mineral consciousness which differs from the human consciousness in many particulars, and primarily in that it does not co-ordinate, or deduce and recognise separate identity. It resembles human consciousness in that it covers the response to successive contacts of the units involved during their small cycles.

e. Tâm thức động vật, thực vật và khoáng vật khác với tâm thức con người ở nhiều phương diện, và trước hết ở chỗ nó không phối hợp, không suy diễn và không nhận ra bản sắc tách biệt. Nó giống tâm thức con người ở chỗ nó bao gồm sự đáp ứng đối với những tiếp xúc kế tiếp nhau của các đơn vị liên hệ trong các chu kỳ nhỏ của chúng.

584. One gathers that for the subconscious units involves, there is no sense of time. The sense of time pertains to those entities with self-conscious awareness.

584. Người ta có ấn tượng rằng đối với các đơn vị tiềm thức liên hệ, không có cảm giác về thời gian. Cảm giác về thời gian thuộc về những thực thể có nhận biết ngã thức.

585. Important differences are given between human consciousness in contrast with animal, vegetable and mineral consciousness.

585. Những khác biệt quan trọng được nêu ra giữa tâm thức con người và tâm thức động vật, thực vật và khoáng vật.

586. The consciousness of the subhuman kingdoms does not

586. Tâm thức của các giới dưới nhân loại không

a. Co-ordinate

a. Phối hợp

b. Deduce

b. Suy diễn

c. Recognize separate identity.

c. Nhận ra bản sắc tách biệt.

587. In this, subhuman consciousness differs from human consciousness.

587. Ở điểm này, tâm thức dưới nhân loại khác với tâm thức con người.

588. Both are similar in that they register successive contacts.

588. Cả hai giống nhau ở chỗ chúng ghi nhận những tiếp xúc kế tiếp nhau.

589. The sense of successiveness relates to the scope of the consciousness. Given a consciousness of sufficient scope, the illusion of successiveness is negated, though, paradoxically that which was formerly interpreted as successiveness is noticed.

589. Cảm giác về tính kế tiếp liên hệ với tầm mức của tâm thức. Với một tâm thức có tầm mức đủ rộng, ảo tưởng về tính kế tiếp bị phủ định, dù nghịch lý thay, điều trước đây được diễn giải như tính kế tiếp vẫn được nhận thấy.

f. Atomic consciousness, demonstrating through successive states of repulsion and attraction. In this last definition lies the key to the other states of consciousness.

f. Tâm thức nguyên tử, biểu lộ qua các trạng thái kế tiếp nhau của sự đẩy lùi và hấp dẫn. Chính trong định nghĩa cuối cùng này có chìa khóa cho các trạng thái tâm thức khác.

590. We are being given the essential character of the consciousness of the atom.

590. Chúng ta đang được trao cho đặc tính cốt yếu của tâm thức của nguyên tử.

591. The key to all states of consciousness is here given.

591. Ở đây chìa khóa cho mọi trạng thái tâm thức được trao ra.

592. Let us see if we can offer an interpretation.

592. Hãy xem liệu chúng ta có thể đưa ra một cách diễn giải hay không.

593. Attention is attracted, and attention endures as long as attraction to the object of attention lasts. Changes of successive states of awareness are determined by attraction and repulsion. When a new attraction overcomes the prevailing attraction the state of consciousness changes. Consciousness engages or disengages with an object according to attraction or repulsion. Thus, changes of interest yield successive states of consciousness and, thus, changes of interest determine the sense of the passage of time.

593. Sự chú ý bị thu hút, và sự chú ý kéo dài chừng nào sự hấp dẫn đối với đối tượng của sự chú ý còn kéo dài. Những thay đổi của các trạng thái nhận biết kế tiếp nhau được quyết định bởi hấp dẫn và đẩy lùi. Khi một sự hấp dẫn mới vượt thắng sự hấp dẫn đang chi phối, trạng thái tâm thức thay đổi. Tâm thức gắn kết hay tách rời khỏi một đối tượng tùy theo hấp dẫn hay đẩy lùi. Vì vậy, những thay đổi trong mối quan tâm tạo ra các trạng thái tâm thức kế tiếp nhau, và như thế, những thay đổi trong mối quan tâm quyết định cảm giác về sự trôi qua của thời gian.

594. Successive states of attraction or repulsion create successive ‘spans of awareness’, and successive ‘spans of awareness’ are time.

594. Những trạng thái hấp dẫn hay đẩy lùi kế tiếp nhau tạo ra những ‘khoảng nhận biết’ kế tiếp nhau, và những ‘khoảng nhận biết’ kế tiếp nhau là thời gian.

595. If there were one continuous and unchanging span of awareness, the state of timelessness would supervene.

595. Nếu chỉ có một khoảng nhận biết liên tục và không thay đổi, thì trạng thái phi thời gian sẽ xuất hiện.

596. All this is an effort to define time as a perception.

596. Tất cả điều này là một nỗ lực nhằm định nghĩa thời gian như một tri giác.

597. It may be that one can manipulate time, from the fourth plane (or fourth dimension). It is hard to think about playing with time when one is still limited to three-dimensional consciousness. But if we were focussed buddhically, it would make more sense.

597. Có thể là người ta có thể thao tác với thời gian từ cõi thứ tư (hay chiều thứ tư). Thật khó nghĩ về việc đùa với thời gian khi người ta vẫn còn bị giới hạn trong tâm thức ba chiều. Nhưng nếu chúng ta được tập trung một cách Bồ đề, điều đó sẽ có ý nghĩa hơn nhiều.

An atom revolves upon its axis.

Một nguyên tử quay quanh trục của nó.

598. We have begun with the Logos and worked our way down to the atom.

598. Chúng ta đã bắt đầu với Logos và lần xuống đến nguyên tử.

In its revolution it comes within the field of activity of other atoms. These it either attracts and swings into its own field of operation, or it repulses and drives them outside its range of activity, causing separation.

Trong sự quay của nó, nó đi vào trong trường hoạt động của các nguyên tử khác. Những nguyên tử này nó hoặc hấp dẫn và kéo vào trường vận hành riêng của nó, hoặc đẩy lùi và xua chúng ra ngoài phạm vi hoạt động của nó, gây nên sự phân ly.

599. We see that the atom of matter/substance is affected by the Law of Attraction and Repulsion even if the manner in which this law operates on the atomic level is as a subset of the Law of Economy.

599. Chúng ta thấy rằng nguyên tử của vật chất/chất liệu bị ảnh hưởng bởi Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, cho dù cách thức định luật này vận hành ở cấp độ nguyên tử là như một tập con của Định luật Tiết Kiệm.

600. At the atomic levels there is a constant process of aggregation based on attraction and a constant process of dispersion based on repulsion.

600. Ở các cấp độ nguyên tử có một tiến trình kết tụ liên tục dựa trên hấp dẫn và một tiến trình phân tán liên tục dựa trên đẩy lùi.

One thing to be borne in mind in the concept of mutual attraction is the preservation of identity in cohesion.

Một điều cần ghi nhớ trong khái niệm về sự hấp dẫn hỗ tương là sự bảo tồn bản sắc trong sự cố kết.

601. Through attraction, there is a repeated pattern of association of those atoms which are drawn together and held together by their attraction for one another.

601. Qua hấp dẫn, có một mô hình lặp đi lặp lại của sự liên kết giữa những nguyên tử được kéo lại với nhau và được giữ lại với nhau bởi sự hấp dẫn của chúng đối với nhau.

602. This cohesion and pattern-retention of mutually attracted atoms promotes the sense of continuity of identity.

602. Sự cố kết này và sự duy trì mô hình của các nguyên tử hấp dẫn lẫn nhau thúc đẩy cảm giác về tính liên tục của bản sắc.

603. When we look in the mirror we see pretty much the same form and figure. We say, then, that we “recognize ourselves”. If, however, the atoms of our form and figure did not cohere, but were constantly being dispersed, the form and figure would be changing constantly and would not be recognizable as consistent. From one moment to the next, we would not recognize the changing form and figure as ourselves or as pertaining to ourselves.

603. Khi chúng ta nhìn vào gương, chúng ta thấy gần như cùng một hình tướng và vóc dáng. Khi đó chúng ta nói rằng mình “nhận ra chính mình”. Tuy nhiên, nếu các nguyên tử của hình tướng và vóc dáng của chúng ta không cố kết mà liên tục bị phân tán, thì hình tướng và vóc dáng ấy sẽ thay đổi liên tục và sẽ không thể được nhận ra là nhất quán. Từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, chúng ta sẽ không nhận ra hình tướng và vóc dáng đang thay đổi ấy là chính mình hay thuộc về mình.

604. The sense of continuity of identity necessitates the existence of a stable form which is based upon the continuous cohesion and pattern-retention of mutually attracted atoms.

604. Cảm giác về tính liên tục của bản sắc đòi hỏi sự hiện hữu của một hình tướng ổn định, vốn dựa trên sự cố kết liên tục và sự duy trì mô hình của các nguyên tử hấp dẫn lẫn nhau.

605. Because energy states and energy forms within our energy system demonstrate repetition, we are endowed with the sense of a distinct identity which is perceived as this and not that. If change of energy states and energy forms is ongoing and highly variable, we will not recognize a sense of continuous identity, because we will become identified with that which is constantly changing.

605. Bởi vì các trạng thái năng lượng và các hình tướng năng lượng bên trong hệ thống năng lượng của chúng ta biểu lộ sự lặp lại, chúng ta được phú cho cảm giác về một bản sắc riêng biệt, được tri giác là cái này chứ không phải cái kia. Nếu sự thay đổi của các trạng thái năng lượng và các hình tướng năng lượng là liên tục và rất biến thiên, chúng ta sẽ không nhận ra một cảm giác về bản sắc liên tục, bởi vì chúng ta sẽ đồng hoá với điều đang thay đổi không ngừng.

606. When, however, there is Self-identification as Pure Being, the sense of identity-as-Essence will be continuous, regardless of the even highly variable changes of energy states and energy forms within our energy system.

606. Tuy nhiên, khi có sự đồng hoá với Đại Ngã như Bản Thể Thuần Khiết, thì cảm giác về bản sắc-như-Tinh Yếu sẽ liên tục, bất kể những thay đổi, dù rất biến thiên, của các trạng thái năng lượng và các hình tướng năng lượng bên trong hệ thống năng lượng của chúng ta.

607. We are gathering that something about the rate of rotation of an atom determines whether it will be attracted to or repellant of other atoms. The whole process almost certainly has a numerical key.

607. Chúng ta đang hiểu rằng một điều gì đó về tốc độ quay của một nguyên tử quyết định liệu nó sẽ bị hấp dẫn đối với hay đẩy lùi các nguyên tử khác. Toàn bộ tiến trình này gần như chắc chắn có một chìa khóa số học.

608. We are understanding the relationship of repetition to the preservation of a cohesive identity—an identity which seems or appears the same from moment to moment. Underlying this illusion of sameness is the great Principle of Unrepeatability advanced by Master Morya.

608. Chúng ta đang hiểu mối liên hệ của sự lặp lại với sự bảo tồn một bản sắc cố kết—một bản sắc dường như hay có vẻ là giống nhau từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Nằm bên dưới ảo tưởng về tính giống nhau này là Nguyên khí lớn lao của Tính Không Thể Lặp Lại do Chân sư Morya đề xướng.

609. We are also understanding that even though an atom coheres with other atoms to which it is attracted, it does not lose its distinctive identity by doing do.

609. Chúng ta cũng đang hiểu rằng dù một nguyên tử kết dính với những nguyên tử khác mà nó bị thu hút đến, nó cũng không vì thế mà đánh mất bản sắc riêng biệt của mình.

A human being in objective manifestation likewise revolves upon his axis, or around his central point, his mainspring of animation;

Một con người trong biểu hiện khách quan cũng vậy, quay quanh trục của mình, hay quanh điểm trung tâm của mình, nguồn động lực sinh hoạt của mình;

610. Master DK is giving us hints about occult anatomy.

610. Chân sư DK đang ban cho chúng ta những gợi ý về giải phẫu học huyền bí.

611. The phrase “mainspring of animation” suggests the driving power (“mainspring”) of the soul (the animator).

611. Cụm từ “nguồn động lực sinh hoạt” gợi ý quyền năng thúc đẩy (“động lực chính”) của linh hồn (đấng hoạt hóa).

612. We might question whether that “central point” is the jewel in the lotus.

612. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu “điểm trung tâm” ấy có phải là bảo châu trong hoa sen hay không.

613. Almost certainly the causal sheath revolves around the jewel as the central point.

613. Gần như chắc chắn thể nguyên nhân quay quanh bảo châu như điểm trung tâm.

this brings him within the range of activity of other men, other human atoms.

điều này đưa y vào trong phạm vi hoạt động của những người khác, những nguyên tử nhân loại khác.

614. There is an ongoing question here: what is it that brings the man “within the range of activity of other men”. Is it the revolution on his axis that does so? Or something else?

614. Ở đây có một câu hỏi đang tiếp diễn: điều gì đưa con người “vào trong phạm vi hoạt động của những người khác”? Có phải sự quay quanh trục của y làm điều đó không? Hay là điều gì khác?

615. Of the atom of substance, the following is said: “In its revolution it comes within the field of activity of other atoms.” This sentence suggests that during the course of its revolution the atom comes within the field of activity of the other atoms, but not that the revolution is the cause of coming within range of others.

615. Về nguyên tử của chất liệu, điều sau đây được nói: “Trong sự quay của nó, nó đi vào trong trường hoạt động của những nguyên tử khác.” Câu này gợi ý rằng trong tiến trình quay của mình, nguyên tử đi vào trong trường hoạt động của các nguyên tử khác, nhưng không phải rằng sự quay là nguyên nhân khiến nó đi vào trong phạm vi của những nguyên tử khác.

616. But it is probably so that the changes due to rotation account for whether there is attraction or repulsion with respect to the others.

616. Nhưng có lẽ đúng là những thay đổi do sự quay gây ra giải thích việc có sự thu hút hay đẩy lùi đối với những nguyên tử khác.

617. Analogizing to the human level, we all know that at some times we are attracted to other human beings and at other times repelled by the same human beings. The phase of vehicular rotation could account somewhat for this.

617. Tương tự ở cấp độ con người, tất cả chúng ta đều biết rằng có những lúc chúng ta bị thu hút đến những con người khác và vào những lúc khác lại bị chính những con người ấy đẩy lùi. Giai đoạn quay của vận cụ có thể phần nào giải thích điều này.

This similarly either tends to co-operation or cohesion, or to separation or repulsion.

Điều này cũng tương tự, hoặc có khuynh hướng dẫn đến hợp tác hay kết dính, hoặc dẫn đến tách biệt hay đẩy lùi.

618. It seems most reasonable to conclude that it is not the atom’s rotation on its axis (whether the human atom or the atom of substance) that brings it within range of other atoms, but that the phase of rotation does contribute to whether there is attraction to or repulsion from other atoms.

618. Có vẻ hợp lý nhất khi kết luận rằng không phải sự quay của nguyên tử quanh trục của nó (dù là nguyên tử nhân loại hay nguyên tử chất liệu) đưa nó vào trong phạm vi của những nguyên tử khác, mà là giai đoạn quay có góp phần quyết định việc có sự thu hút đến hay đẩy lùi khỏi những nguyên tử khác hay không.

619. If, in man, the rotation of his sheaths is keyed to various planetary cycles, it is clear that at different times in a complete planetary cycle the conditions inducing attraction or repulsion change.

619. Nếu, nơi con người, sự quay của các thể của y được điều chỉnh theo nhiều chu kỳ hành tinh khác nhau, thì rõ ràng là vào những thời điểm khác nhau trong một chu kỳ hành tinh trọn vẹn, các điều kiện gây ra thu hút hay đẩy lùi sẽ thay đổi.

Again it must be borne in mind that even in cohesion identity is preserved.

Một lần nữa cần ghi nhớ rằng ngay cả trong sự kết dính, bản sắc vẫn được bảo tồn.

620. What was true of an atom of substance is true of man; just because a man coheres with others, does mean he loses his sense of identity. In fact, in true group consciousness, the sense of distinctive identity may be enhanced—harmoniously.

620. Điều đúng với một nguyên tử chất liệu cũng đúng với con người; chỉ vì một người kết dính với những người khác không có nghĩa là y đánh mất cảm thức về bản sắc của mình. Thật ra, trong tâm thức nhóm chân chính, cảm thức về bản sắc riêng biệt có thể được tăng cường—một cách hài hòa.

[Page 280]

[Page 280]

A Heavenly Man, through the form of a planetary chain, similarly revolves upon His axis, and a like phenomenon may be observed.

Một Đấng Thiên Nhân, thông qua hình tướng của một dãy hành tinh, cũng tương tự quay quanh trục của Ngài, và một hiện tượng tương tự có thể được quan sát.

621. The question has already been posed: if a planetary chain revolves how does it do so? It is easy to imagine the revolution of globes upon their axis. Are chains laid out in space as is the solar system and its planets, or are the globes in a chain super-imposable? From the way chains are represented in theosophical literature, we shall not get any real assistance in answering this question.

621. Câu hỏi đã được nêu ra rồi: nếu một dãy hành tinh quay thì nó quay như thế nào? Thật dễ hình dung sự quay của các bầu hành tinh quanh trục của chúng. Các dãy có được bố trí trong không gian như hệ mặt trời và các hành tinh của nó không, hay các bầu hành tinh trong một dãy là chồng khít lên nhau? Từ cách các dãy được trình bày trong văn liệu Thông Thiên Học, chúng ta sẽ không nhận được sự trợ giúp thực sự nào để trả lời câu hỏi này.

622. Several thoughts and questions arise in connection with this excerpt:

622. Một số ý nghĩ và câu hỏi nảy sinh liên quan đến đoạn trích này:

a. Could it be that at any one time, one chain is focal, in such a way that it is used as the center of revolution for a Planetary Logos?

a. Có thể nào vào bất kỳ một thời điểm nào, một dãy là tiêu điểm, theo cách mà nó được dùng làm trung tâm quay cho một Hành Tinh Thượng Đế?

b. When a Planetary Logos changes focus, concentrating on different globes or chains, does His external axis also change orientation?

b. Khi một Hành Tinh Thượng Đế thay đổi tiêu điểm, tập trung vào những bầu hành tinh hay những dãy khác nhau, thì trục bên ngoài của Ngài cũng có thay đổi định hướng không?

c. Can the planetary chains be conceived as built together as molecules are built together?

c. Có thể quan niệm các dãy hành tinh được cấu tạo cùng nhau như các phân tử được cấu tạo cùng nhau không?

d. Can one conceive of the planetary chains ‘piled’, as it were, one on top of another other such that they all chains (and even all globes) share the same axis, like many Russian Dolls?

d. Có thể quan niệm các dãy hành tinh được “xếp chồng”, có thể nói như vậy, cái này lên trên cái kia để tất cả các dãy (và thậm chí mọi bầu hành tinh) cùng chia sẻ một trục, như nhiều búp bê Nga không?

623. It is because we human beings do not know real structure of planetary chains that we cannot yet answer such questions.

623. Chính vì chúng ta, những con người, không biết cấu trúc thực sự của các dãy hành tinh nên chúng ta chưa thể trả lời những câu hỏi như thế.

624. We do not know whether the globes in a chain are superimposed upon each other, yet each preserving the integrity of its distinctive sheaths.

624. Chúng ta không biết liệu các bầu hành tinh trong một dãy có chồng khít lên nhau hay không, nhưng mỗi bầu vẫn bảo tồn tính toàn vẹn của các thể riêng biệt của nó.

625. We do not know how the chains are distributed in space and whether they are, again, superimposed upon each other, each preserving the integrity of its distinctive sheaths.

625. Chúng ta không biết các dãy được phân bố trong không gian như thế nào và liệu chúng, một lần nữa, có chồng khít lên nhau hay không, mỗi dãy vẫn bảo tồn tính toàn vẹn của các thể riêng biệt của nó.

626. By a process of what we could call ‘electrical differentiation’, the integrity of the distinctive sheaths could be preserved even through the process of superimposition. Then is could be said of the sheaths of globes and chains that “even in cohesion [their] identity is preserved”.

626. Bằng một tiến trình mà chúng ta có thể gọi là “biến phân điện”, tính toàn vẹn của các thể riêng biệt có thể được bảo tồn ngay cả xuyên qua tiến trình chồng khít. Khi đó có thể nói về các thể của các bầu hành tinh và các dãy rằng “ngay cả trong sự kết dính, bản sắc [của chúng] vẫn được bảo tồn”.

627. This seems true of the sheaths of man. They are in a way, superimposed, and in a relationship that we could call cohesive, yet, within this cohesion their identity is preserved.

627. Điều này dường như đúng với các thể của con người. Theo một cách nào đó, chúng chồng khít lên nhau, và ở trong một mối liên hệ mà chúng ta có thể gọi là kết dính, tuy nhiên, trong sự kết dính này, bản sắc của chúng vẫn được bảo tồn.

628. Under the Law of Attraction, there is the induction of amalgamation accompanied by the preservation of distinction of the amalgamated units.

628. Dưới Định luật Hấp Dẫn, có sự cảm ứng của sự hòa trộn đi kèm với việc bảo tồn tính phân biệt của các đơn vị đã được hòa trộn.

A planet repulses a planet similarly charged, for it is a known law that like particles repel each other,

Một hành tinh đẩy lùi một hành tinh mang điện tích tương tự, vì đó là một định luật đã biết rằng các hạt giống nhau đẩy lùi nhau,

629. We are viewing planets almost as ions or charged particles. There are a few occult hints concerning the manner in which planets are “charged”. We are told that Earth is in a masculine (“positive”) incarnation:

629. Chúng ta đang nhìn các hành tinh gần như những ion hay những hạt mang điện. Có một vài gợi ý huyền bí liên quan đến cách các hành tinh được “nạp điện”. Chúng ta được cho biết rằng Trái Đất đang ở trong một lần lâm phàm nam tính (“dương”):

“Likewise certain of the planetary schemes are positive and others negative; three of the schemes are dual, both negative and positive. The same can be predicated anent a solar system, and, curiously enough, anent the planes themselves. For instance, in connection with the earth scheme we have a positive polarity of a temporary nature based on the type of incarnation our particular Heavenly Man is undergoing on our planet. By this is meant that there are masculine and feminine incarnations undergone by Heavenly Men as by men, considering the entire subject from the angle of electrical polarity and not from sex as understood in connection with the physical body.” (TCF 322)

“Cũng vậy, một số hệ hành tinh là dương và những hệ khác là âm; ba trong các hệ là kép, vừa âm vừa dương. Điều tương tự cũng có thể được khẳng định về một hệ mặt trời, và, thật kỳ lạ, về chính các cõi nữa. Chẳng hạn, liên quan đến hệ Địa Cầu, chúng ta có một cực tính dương mang tính tạm thời dựa trên loại lâm phàm mà Đấng Thiên Nhân đặc thù của chúng ta đang trải qua trên hành tinh của chúng ta. Điều này có nghĩa là có những lần lâm phàm nam tính và nữ tính mà các Đấng Thiên Nhân trải qua cũng như con người, nếu xét toàn bộ chủ đề từ góc độ cực tính điện chứ không phải từ giới tính như được hiểu liên quan đến thể xác.” (TCF 322)

630. Given the attractive relationship between the Heavenly Man of Earth and the Heavenly Man of Venus, we could infer that one is in a positive and one a negative (receptive) incarnation. If so, their “charges” would be opposite.

630. Với mối liên hệ hấp dẫn giữa Đấng Thiên Nhân của Trái Đất và Đấng Thiên Nhân của Sao Kim, chúng ta có thể suy ra rằng một vị đang ở trong lần lâm phàm dương và một vị ở trong lần lâm phàm âm (tiếp nhận). Nếu vậy, “điện tích” của các Ngài sẽ đối nghịch nhau.

but occultly it is a known law that they will eventually attract each other as the vibration becomes sufficiently strong.

nhưng về mặt huyền bí, đó là một định luật đã biết rằng cuối cùng chúng sẽ hút nhau khi rung động trở nên đủ mạnh.

631. Presumably, this type of attraction between similarly charged atoms or particles occurs when the Law of Synthesis becomes the law characterizing planetary processes. The word “eventually” is used and this suggests, in this context, the later stages of planetary evolution.

631. Có lẽ loại thu hút này giữa những nguyên tử hay hạt mang điện tích tương tự xảy ra khi Định luật Tổng Hợp trở thành định luật đặc trưng cho các tiến trình hành tinh. Từ “cuối cùng” được dùng, và điều này gợi ý, trong ngữ cảnh này, các giai đoạn muộn hơn của tiến hoá hành tinh.

632. Like attracts like when Spirit seeks to merge with Spirit. This attraction of like for like can already be seen operative on the level of soul.

632. Cái giống nhau hút cái giống nhau khi tinh thần tìm cách hòa nhập với tinh thần. Sự thu hút của cái giống nhau đối với cái giống nhau này đã có thể được thấy đang hoạt động ở cấp độ linh hồn.

633. Another way of understanding this phenomenon on the human level is as follows: personalities draw opposites and souls/spirits draw complementaries and similars

633. Một cách khác để hiểu hiện tượng này ở cấp độ con người là như sau: các phàm ngã hút các đối cực và các linh hồn/tinh thần hút các yếu tố bổ sung và tương đồng

A negative planet will be attracted by a positive, and so on through all forms.

Một hành tinh âm sẽ bị thu hút bởi một hành tinh dương, và cứ thế xuyên qua mọi hình tướng.

634. This is the usual condition in the earlier stages of evolution.

634. Đây là tình trạng thông thường trong các giai đoạn đầu của tiến hoá.

635. When obscuration, merging and absorption come, it would seem that we are dealing with the fusing of like with like. For this reason, Venus, a planet of quality similar to Neptune, would merge into Neptune, and Mercury, a planet which shares many qualities in common with Uranus, would merge into Uranus.

635. Khi sự che mờ, hòa nhập và hấp thụ đến, dường như chúng ta đang xử lý sự dung hợp của cái giống với cái giống. Vì lý do này, Sao Kim, một hành tinh có phẩm tính tương tự Sao Hải Vương, sẽ hòa nhập vào Sao Hải Vương, và Sao Thủy, một hành tinh chia sẻ nhiều phẩm tính chung với Sao Thiên Vương, sẽ hòa nhập vào Sao Thiên Vương.

636. Of course, similarity of quality does not necessarily determine whether the two planets involved are in a positive or negative incarnation.

636. Dĩ nhiên, sự tương đồng về phẩm tính không nhất thiết quyết định liệu hai hành tinh liên hệ có ở trong lần lâm phàm dương hay âm hay không.

637. We gather that a planet has a fundamental polarity, and various periods of shifting polarity. Probably for final absorption, it is the fundamental polarity that counts.

637. Chúng ta rút ra rằng một hành tinh có một cực tính căn bản, và nhiều thời kỳ cực tính thay đổi. Có lẽ đối với sự hấp thụ cuối cùng, chính cực tính căn bản mới là điều quan trọng.

This is the manifestation of SEX in substance of every kind, from the tiny atom in the body to the vast planetary chains, and this is the basis of activity.

Đây là biểu hiện của TÌNH DỤC trong chất liệu thuộc mọi loại, từ nguyên tử nhỏ bé trong cơ thể cho đến những dãy hành tinh bao la, và đây là nền tảng của hoạt động.

638. It would seem in this context that the term “chains” means schemes. We recall that the term “chains” suggests relation to a greater “scheme”—in this case a solar scheme.

638. Dường như trong ngữ cảnh này, thuật ngữ “dãy” có nghĩa là các hệ hành tinh. Chúng ta nhớ rằng thuật ngữ “dãy” gợi ý mối liên hệ với một “hệ hành tinh” lớn hơn—trong trường hợp này là một hệ hành tinh thái dương.

639. It becomes clear that most atoms are characterized by one polarity or another. Perhaps some atoms (like some planets) have both polarities (TCF 322).

639. Rõ ràng là hầu hết các nguyên tử được đặc trưng bởi cực tính này hay cực tính kia. Có lẽ một số nguyên tử (như một số hành tinh) có cả hai cực tính (TCF 322).

640. Just as sexual attraction is more evident in younger people, so it may be with respect to all types of atoms—the attraction between atoms of different polarities is accentuated in the earlier phases of evolution.

640. Cũng như sự hấp dẫn tính dục rõ rệt hơn nơi người trẻ, có thể cũng vậy đối với mọi loại nguyên tử—sự thu hút giữa các nguyên tử có cực tính khác nhau được nhấn mạnh hơn trong các giai đoạn đầu của tiến hoá.

Radiatory activity is simply the interplay between male and female, and this can be seen in the physical atom of the scientist, among men and women, and in the vaster atom of a solar system as it vibrates with its cosmic opposite.

Hoạt động bức xạ chỉ đơn giản là sự tương tác giữa nam và nữ, và điều này có thể được thấy trong nguyên tử hồng trần của nhà khoa học, giữa những người nam và nữ, và trong nguyên tử rộng lớn hơn của một hệ mặt trời khi nó rung động với đối cực vũ trụ của nó.

641. From units that are attracted to each other a radiation goes forth. Through this radiatory activity interplay is promoted.

641. Từ những đơn vị bị thu hút lẫn nhau, một sự bức xạ phát ra. Thông qua hoạt động bức xạ này, sự tương tác được thúc đẩy.

642. As well, the magnetism between opposing poles evokes radiation.

642. Đồng thời, từ tính giữa các cực đối nghịch cũng gợi lên bức xạ.

643. When radiation emanates from the nucleus of an atom (of any kind) towards a satellite of that atom, we see the same interplay between positive and negative.

643. Khi bức xạ phát ra từ hạt nhân của một nguyên tử (thuộc bất kỳ loại nào) hướng đến một vệ tinh của nguyên tử ấy, chúng ta thấy cùng một sự tương tác giữa dương và âm.

644. We see that radiatory activity is promoted by the Law of Attraction. Perhaps, without the Law of Attraction, radiatory activity is not even possible.

644. Chúng ta thấy rằng hoạt động bức xạ được thúc đẩy bởi Định luật Hấp Dẫn. Có lẽ, nếu không có Định luật Hấp Dẫn, hoạt động bức xạ thậm chí cũng không thể có được.

645. We are discussing the close relationship between magnetism and electricity (or radiation).

645. Chúng ta đang bàn đến mối liên hệ mật thiết giữa từ điện và điện lực (hay bức xạ).

We might, therefore, consider time as that process of activity, or that progression in development, wherein the indwelling Consciousness is seeking its opposite, and coming under the Law of Attraction, which leads to atomic, human, planetary, spiritual, solar and cosmic marriage.

Vì vậy, chúng ta có thể xem thời gian như tiến trình hoạt động ấy, hay sự tiến triển trong phát triển ấy, trong đó Tâm thức nội tại đang tìm kiếm đối cực của mình, và đi vào dưới Định luật Hấp Dẫn, vốn dẫn đến hôn phối nguyên tử, nhân loại, hành tinh, tinh thần, thái dương và vũ trụ.

646. This is an unusual definition of time.

646. Đây là một định nghĩa khác thường về thời gian.

647. Time is defined not as a span but as a “process of activity”.

647. Thời gian được định nghĩa không phải như một khoảng mà như một “tiến trình hoạt động”.

648. It would seem that time is defined as that process of activity during which (under the Law of Attraction) the marriage partner is sought and marriage consummated.

648. Dường như thời gian được định nghĩa là tiến trình hoạt động trong đó (dưới Định luật Hấp Dẫn) người bạn đời hôn phối được tìm kiếm và hôn phối được hoàn tất.

649. It is interesting to realize that Libra the sign of marriage and that Saturn Lord of Time (we are defining time) is the strongest planet in Libra

649. Thật thú vị khi nhận ra rằng Thiên Bình là dấu hiệu của hôn phối và Sao Thổ là Chúa Tể của Thời Gian (chúng ta đang định nghĩa thời gian) là hành tinh mạnh nhất trong Thiên Bình.

650. This definition needs to be related to the definition of time as the “succession of states of consciousness”.

650. Định nghĩa này cần được liên hệ với định nghĩa về thời gian như là “sự tiếp nối của các trạng thái tâm thức”.

651. We can never divorce the nature of time from consciousness and experience. It is as if to say that there is no time apart from the experience of time. This means that if a span of activity is not beheld it does not exist. Thus time, becomes, in a way, ‘duration of perception’.

651. Chúng ta không bao giờ có thể tách rời bản chất của thời gian khỏi tâm thức và kinh nghiệm. Như thể muốn nói rằng không có thời gian tách biệt khỏi kinh nghiệm về thời gian. Điều này có nghĩa là nếu một khoảng hoạt động không được tri nhận thì nó không tồn tại. Vì vậy, thời gian, theo một cách nào đó, trở thành ‘thời lượng của tri giác’.

652. The key to solving the riddle of time is to examine simplicity and complexity in the process of perception.

652. Chìa khóa để giải câu đố về thời gian là khảo sát tính đơn giản và tính phức tạp trong tiến trình tri giác.

653. In states of profound absorption or concentration, there is the sense of timelessness, or the sense that great ‘amounts’ of time pass very quickly, or that small ‘amounts’ of time are of great duration.

653. Trong những trạng thái hấp thụ hay tập trung sâu sắc, có cảm giác vô thời gian, hoặc cảm giác rằng những “lượng” thời gian lớn trôi qua rất nhanh, hoặc rằng những “lượng” thời gian nhỏ lại có thời lượng rất lớn.

654. We often think that time, per se, is real but that our sense of time is subjective and variable. What I am emphasizing is that ‘real time’ is subjective, or is created by a subjective act—that of perception.

654. Chúng ta thường nghĩ rằng thời gian, chính nó, là thực nhưng cảm thức của chúng ta về thời gian thì chủ quan và biến đổi. Điều tôi đang nhấn mạnh là “thời gian thực” là chủ quan, hay được tạo ra bởi một hành vi chủ quan—đó là tri giác.

This idea is comparatively simple in relation to a human being, and can be seen in daily demonstration in his contacts with other men; these contacts are governed, for instance, very largely by his likes and dislikes.

Ý tưởng này tương đối đơn giản khi liên hệ với một con người, và có thể được thấy trong biểu hiện hằng ngày nơi những tiếp xúc của y với những người khác; chẳng hạn, những tiếp xúc này phần lớn được chi phối bởi những điều y thích và không thích.

655. This is the usual astral responsiveness. We can imagine that the astral body and its rotation on its axis account very much for whether human units are attracted to or repelled from each other.

655. Đây là sự đáp ứng cảm dục thông thường. Chúng ta có thể hình dung rằng thể cảm dục và sự quay của nó quanh trục của nó giải thích rất nhiều việc các đơn vị nhân loại bị thu hút đến hay bị đẩy lùi khỏi nhau.

All these attractions and repulsions are under law, and their cause exists in form itself.

Mọi sự thu hút và đẩy lùi này đều ở dưới định luật, và nguyên nhân của chúng tồn tại trong chính hình tướng.

656. If the attractions and repulsions are under law, they must be based on mathematical relations. Coherence or separation are mathematically determined. Frequency of vibration or rotation will determine attraction and repulsion. Quantity is quality.

656. Nếu các sự thu hút và đẩy lùi ở dưới định luật, chúng phải dựa trên những tương quan toán học. Sự kết dính hay tách rời được quyết định về mặt toán học. Tần số rung động hay quay sẽ quyết định sự thu hút và đẩy lùi. Số lượng là phẩm tính.

657. In practical life, we often see that people function according to rhythms which render them either attractive or repulsive to other people. The nature of rhythm is determined mathematically.

657. Trong đời sống thực tiễn, chúng ta thường thấy rằng con người hoạt động theo những nhịp điệu khiến họ hoặc hấp dẫn hoặc gây đẩy lùi đối với những người khác. Bản chất của nhịp điệu được quyết định về mặt toán học.

The emotion of like or of dislike is nothing else but the realisation by the conscious entity of the swinging into his magnetic radius of an atomic form which he is led, by the very law of his own being, to either attract or repulse.

Cảm xúc thích hay không thích không gì khác hơn là sự chứng nghiệm của thực thể hữu thức về việc một hình tướng nguyên tử dao động vào trong bán kính từ tính của y, mà do chính định luật của bản thể mình, y bị dẫn dắt để hoặc thu hút hoặc đẩy lùi nó.

658. To be attracted or repelled seems (initially at least) to be beyond the control of the indweller.

658. Việc bị thu hút hay bị đẩy lùi dường như (ít nhất là lúc đầu) vượt ngoài sự kiểm soát của đấng nội tại.

659. Playing with language, we can think that we like people who are like us. At least there must be certain significant points in common.

659. Chơi đùa với ngôn ngữ, chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta thích những người giống chúng ta. Ít nhất phải có một số điểm chung quan trọng nào đó.

Only when the form is transcended, and Spirit seeks out Spirit, will the phenomena of repulsion cease.

Chỉ khi hình tướng được siêu vượt, và tinh thần tìm đến tinh thần, thì hiện tượng đẩy lùi mới chấm dứt.

660. We are being told that in the state of synthesis, in which Spirit has sought, found and merged with Spirit, the state of repulsion has ceased. Synthesis, then, in a non-polar state beyond the state of attraction or repulsion.

660. Chúng ta đang được cho biết rằng trong trạng thái tổng hợp, trong đó tinh thần đã tìm kiếm, tìm thấy và hòa nhập với tinh thần, trạng thái đẩy lùi đã chấm dứt. Như vậy, tổng hợp là một trạng thái phi cực tính vượt lên trên trạng thái thu hút hay đẩy lùi.

This will be the inevitable finale at the cessation of solar evolution, and it will bring about pralaya.

Đây sẽ là kết cục tất yếu khi sự tiến hoá thái dương chấm dứt, và nó sẽ mang lại Giai kỳ qui nguyên.

661. Finales (even in music) occur under the Law of Synthesis—bringing all together in “one accord”.

661. Những kết khúc (ngay cả trong âm nhạc) xảy ra dưới Định luật Tổng Hợp—đưa tất cả vào “một hòa điệu”.

The duration of the interplay, the period of the search of Spirit for Spirit, and [Page 281] the vibratory process necessitated by the utilisation of the form, this we call Time, whether in connection with a man, a planetary Logos, or the Deity.

Thời lượng của sự tương tác, thời kỳ của cuộc tìm kiếm của tinh thần đối với tinh thần, và [Page 281] tiến trình rung động cần thiết do sự sử dụng hình tướng, đó là điều chúng ta gọi là Thời Gian, dù liên hệ với một con người, một Hành Tinh Thượng Đế, hay Thượng đế.

662. Are “time” and “duration” equivalent terms? If so, it seems that the term “time” is being defined by an equivalent term. And yet there are subtle differences in connotation between “time” and “duration”.

662. “Thời gian” và “thời lượng” có phải là những thuật ngữ tương đương không? Nếu vậy, dường như thuật ngữ “thời gian” đang được định nghĩa bằng một thuật ngữ tương đương. Tuy nhiên, có những khác biệt tinh tế về hàm ý giữa “thời gian” và “thời lượng”.

663. The operative terms in this definition are “duration” and “period”. I have earlier used the word “span”, suggesting much of the same.

663. Những thuật ngữ tác động trong định nghĩa này là “thời lượng” và “thời kỳ”. Trước đây tôi đã dùng từ “khoảng”, gợi ý phần lớn cùng một điều.

664. Unless the Law of Attraction is operative, the experience of time will not be operative. Under the Law of Attraction, change and interplay occur. Change and interplay produce sequences of conscious events.

664. Trừ phi Định luật Hấp Dẫn đang hoạt động, kinh nghiệm về thời gian sẽ không hoạt động. Dưới Định luật Hấp Dẫn, sự thay đổi và sự tương tác xảy ra. Sự thay đổi và sự tương tác tạo ra những chuỗi sự kiện hữu thức.

665. In a state of Pure Spirit or Pure Matter there is no change and thus no sequence of states of consciousness and, thus, no experience of time, and, thus, no time.

665. Trong trạng thái Tinh thần Thuần túy hay Vật chất Thuần túy không có sự thay đổi và do đó không có chuỗi các trạng thái tâm thức và, vì vậy, không có kinh nghiệm về thời gian, và, vì vậy, không có thời gian.

666. To the one who perceives only changelessness, there is no time.

666. Đối với kẻ chỉ tri nhận sự bất biến, thì không có thời gian.

Space, again, is included in the idea of consciousness, and its utilisation of matter. Space, for the Logos, is literally the form wherein His conscious activities and purposes are worked out—the solar ring-pass-not.

Không gian, một lần nữa, được bao hàm trong ý niệm về tâm thức, và sự sử dụng vật chất của nó. Không gian, đối với Thượng đế, theo nghĩa đen là hình tướng trong đó các hoạt động và mục đích hữu thức của Ngài được triển khai—vòng-giới-hạn thái dương.

667. Usually, we associate space with formlessness. This may be true of the most abstract definition of SPACE as the ABSOLUTE.

667. Thông thường, chúng ta liên kết không gian với tính vô tướng. Điều này có thể đúng với định nghĩa trừu tượng nhất của KHÔNG GIAN như TUYỆT ĐỐI.

668. But, within Universe, space is form. Or more properly, space is also a perception—a perception of form rather than a perception of relative duration (time)

668. Nhưng trong Vũ trụ, không gian là hình tướng. Hay nói đúng hơn, không gian cũng là một tri giác—một tri giác về hình tướng hơn là một tri giác về thời lượng tương đối (thời gian).

669. It seems that the Tibetan has entered into very abstract considerations in this section of the book. Whenever speaking of Time and Space the utmost demands are placed on thought.

669. Dường như Chân sư Tây Tạng đã đi vào những suy xét rất trừu tượng trong phần này của quyển sách. Mỗi khi nói về Thời Gian và Không Gian, những đòi hỏi cao nhất đều được đặt lên tư tưởng.

670. We might call space, a sustained perception of that which is different from something else. Or a sustained perception of a certain group of interactive factors.

670. Chúng ta có thể gọi không gian là một tri giác được duy trì về cái khác với một cái gì khác. Hoặc là một tri giác được duy trì về một nhóm nhất định các yếu tố tương tác.

671. In other words, space for any entity is the wholeness of the contents of consciousness for that entity. Entities with greater consciousness express within and relate to a greater ‘space’. An entity’s ‘space’ is the ring pass not of that entity’s perception or registration. All space is psychological space or perceptual space.

671. Nói cách khác, không gian đối với bất kỳ thực thể nào là tính toàn thể của nội dung tâm thức đối với thực thể ấy. Những thực thể có tâm thức lớn hơn biểu lộ trong và liên hệ với một “không gian” lớn hơn. “Không gian” của một thực thể là vòng-giới-hạn của tri giác hay sự ghi nhận của thực thể ấy. Mọi không gian đều là không gian tâm lý hay không gian tri giác.

672. Man’s ‘space’ is the sphere of his perception. This sphere is a form.

672. “Không gian” của con người là khối cầu tri giác của y. Khối cầu này là một hình tướng.

The space wherein a planetary Logos works out His plans is similarly as much of solar space as His consciousness is developed enough to use.

Không gian trong đó một Hành Tinh Thượng Đế triển khai các kế hoạch của Ngài cũng tương tự, là chừng nào của không gian thái dương mà tâm thức của Ngài đã phát triển đủ để sử dụng.

673. Again we see the relation of space to consciousness.

673. Một lần nữa chúng ta thấy mối liên hệ của không gian với tâm thức.

674. A Planetary Logos is contained within the ‘space’ of a Solar Logos because the consciousness of the Planetary Logos is contained within the consciousness of the Solar Logos.

674. Một Hành Tinh Thượng Đế được chứa trong “không gian” của một Thái dương Thượng đế bởi vì tâm thức của Hành Tinh Thượng Đế được chứa trong tâm thức của Thái dương Thượng đế.

675. We remember the definition of the Universe as a huge aggregation of states of consciousness—the lesser contained within the greater, and the greater Entities experiencing through the lesser.

675. Chúng ta nhớ định nghĩa về Vũ trụ như một tập hợp khổng lồ các trạng thái tâm thức—cái nhỏ hơn được chứa trong cái lớn hơn, và các Thực Thể lớn hơn kinh nghiệm thông qua cái nhỏ hơn.

Man again repeats the process and his ring-pass-not is included in the radius of his consciousness, and may be very circumscribed as in the case of the little evolved, or may be inclusive of a portion of planetary space of great extent, and even in the case of the very highly evolved may begin to touch the periphery of the sphere of influence of the planetary Logos in Whose body he is a cell.

Con người lại lặp lại tiến trình ấy và vòng-giới-hạn của y được bao gồm trong bán kính tâm thức của y, và có thể rất hạn hẹp như trong trường hợp của người ít tiến hoá, hoặc có thể bao gồm một phần không gian hành tinh rất rộng lớn, và thậm chí trong trường hợp của người rất cao độ tiến hoá có thể bắt đầu chạm đến chu vi của khối cầu ảnh hưởng của Hành Tinh Thượng Đế mà trong thân thể của Ngài y là một tế bào.

676. We are speaking of ring-pass-nots of consciousness. A man’s ‘space’ expands as his consciousness expands.

676. Chúng ta đang nói về các vòng-giới-hạn của tâm thức. “Không gian” của một người mở rộng khi tâm thức của y mở rộng.

677. What are the limitations of the ‘space’ within which we, individually, express? How is this ‘space’ expanded when we merge in group consciousness? How is the ‘space’ expanded when we begin to merge into “God consciousness”?

677. Những giới hạn của “không gian” trong đó chúng ta, với tư cách cá nhân, biểu lộ là gì? “Không gian” này được mở rộng như thế nào khi chúng ta hòa nhập trong tâm thức nhóm? “Không gian” được mở rộng như thế nào khi chúng ta bắt đầu hòa nhập vào “tâm thức Thượng đế”?

Space for the atom (for instance, the atom in the physical body of man) will be the radius of the form in which is found the greater centre of consciousness of which it is a part

Không gian đối với nguyên tử (chẳng hạn, nguyên tử trong thể xác của con người) sẽ là bán kính của hình tướng trong đó tìm thấy trung tâm tâm thức lớn hơn mà nó là một phần của trung tâm ấy

678. The greater center of consciousness is the consciousness of the man who indwells the body of which the atom is a part.

678. Trung tâm tâm thức lớn hơn là tâm thức của con người nội tại trong thể mà nguyên tử là một phần của thể ấy.

679. In a way the consciousness of the atom is but a tiny aspect of the consciousness of the man who indwells the form.

679. Theo một cách nào đó, tâm thức của nguyên tử chỉ là một phương diện nhỏ bé của tâm thức của con người nội tại trong hình tướng.

and it will be both attracted and repulsed—attracted and built into the form of the greater Life, yet repulsed and thereby prevented from moving from a certain point within that form.

và nó sẽ vừa bị thu hút vừa bị đẩy lùi—bị thu hút và được xây dựng vào trong hình tướng của Sự sống lớn hơn, nhưng lại bị đẩy lùi và nhờ đó bị ngăn không cho di chuyển khỏi một điểm nhất định trong hình tướng ấy.

680. In the case of the atom of matter/substance, potential space (the entirety of the body in which it is found) is greater than the ring-pass-not within that space (or body) to which the atom is confined. A single atom will not be ‘free’ to wander to all part of the ‘space’ that is the body/form of man.

680. Trong trường hợp nguyên tử của vật chất/chất liệu, không gian tiềm năng (toàn bộ thể trong đó nó được tìm thấy) lớn hơn vòng-giới-hạn trong không gian ấy (hay thể ấy) mà nguyên tử bị giới hạn trong đó. Một nguyên tử đơn lẻ sẽ không “tự do” để lang thang đến mọi phần của “không gian” là thể/hình tướng của con người.

681. So it is for man; we cannot wander into all ‘spaces’ of which we may be theoretically cognizant. We are attracted by the greater, yet repulsed by it at the same time.

681. Con người cũng vậy; chúng ta không thể lang thang vào mọi “không gian” mà về mặt lý thuyết chúng ta có thể nhận biết. Chúng ta bị cái lớn hơn thu hút, nhưng đồng thời cũng bị nó đẩy lùi.

We have here dealt a little with time and space in their relation to a specific centre of consciousness;

Ở đây chúng ta đã bàn đôi chút về thời gian và không gian trong mối liên hệ của chúng với một trung tâm tâm thức đặc thù;

682. Be that centre of consciousness the consciousness of a tiny atom, a man, a Planetary Logos or a Solar Logos.

682. Dù trung tâm tâm thức ấy là tâm thức của một nguyên tử nhỏ bé, một con người, một Hành Tinh Thượng Đế hay một Thái dương Thượng đế.

we have seen that they are simply forms of ideas to express the cyclic activity of an entity.

chúng ta đã thấy rằng chúng chỉ đơn giản là những hình thức của các ý tưởng để diễn đạt hoạt động chu kỳ của một thực thể.

683. What is said immediately above is what we must grasp, and it is difficult—that time and space “are simply forms of ideas to express the cyclic activity an entity”. Time and space are not even ideas, but only forms of ideas.

683. Điều vừa được nói ngay trên là điều chúng ta phải nắm bắt, và điều đó khó—rằng thời gian và không gian “chỉ đơn giản là những hình thức của các ý tưởng để diễn đạt hoạt động chu kỳ của một thực thể”. Thời gian và không gian thậm chí không phải là ý tưởng, mà chỉ là những hình thức của các ý tưởng.

684. Space is the totality of the sphere of consciousness; consciousness creates space. Time is that which interrupts the unvarying perception of essence.

684. Không gian là tổng thể của khối cầu tâm thức; tâm thức tạo ra không gian. Thời gian là cái làm gián đoạn tri giác bất biến về tinh túy.

685. Unless an entity is engaged in “cyclic activity” there would be no time and space.

685. Trừ phi một thực thể đang tham dự vào “hoạt động chu kỳ” thì sẽ không có thời gian và không gian.

686. All activity is, fundamentally, cyclic activity and is based upon the principle of pulsation between being and non-being.

686. Mọi hoạt động, về căn bản, đều là hoạt động chu kỳ và dựa trên nguyên khí dao động giữa hữu thể và phi hữu thể.

687. Time and space are based upon limitation and discontinuity of perception/consciousness.

687. Thời gian và không gian dựa trên sự giới hạn và tính gián đoạn của tri giác/tâm thức.

The subject is exceedingly abstruse, due to the low stage of the human intelligence, which is as yet so occupied with the objective or material side of manifestation that the attraction existing between Spirit and Spirit is little more than a concept.

Chủ đề này cực kỳ thâm áo, do giai đoạn thấp của trí tuệ nhân loại, vốn hiện còn quá bận rộn với phương diện khách quan hay vật chất của biểu hiện đến nỗi sự thu hút hiện hữu giữa tinh thần và tinh thần chỉ hơn một khái niệm rất ít.

688. We can all agree with the Tibetan. There are few sections of TCF which are more difficult than the section we have been examining.

688. Tất cả chúng ta đều có thể đồng ý với Chân sư Tây Tạng. Có rất ít phần trong TCF khó hơn phần mà chúng ta đã khảo sát.

689. Only if one is identified as Spirit will it be possible to fathom the attraction existing between Spirit and Spirit. It is that which causes the human Spirit to look beyond and through any differences in order to discover in the apparent ‘other’ that which is absolutely identical with itself (i.e., the Spirit) Right now, the registration of distinctions overpowers the search for identicality.

689. Chỉ khi một người được đồng hoá như tinh thần thì mới có thể thấu suốt sự thu hút hiện hữu giữa tinh thần và tinh thần. Chính điều đó khiến tinh thần nhân loại nhìn vượt lên và xuyên qua mọi khác biệt để khám phá nơi “kẻ khác” biểu kiến cái hoàn toàn đồng nhất với chính mình (tức là tinh thần). Ngay lúc này, sự ghi nhận các khác biệt lấn át việc tìm kiếm tính đồng nhất.

When more of the human family have their centre of consciousness in the Ego and hence are busy with the work of repulsing matter, and with the withdrawal of [Page 282] Spirit from form, then only will the transmutative process be comprehended,

Khi nhiều thành viên hơn của gia đình nhân loại có trung tâm tâm thức của họ ở trong chân ngã và do đó bận rộn với công việc đẩy lùi vật chất, và với sự rút lui của [Page 282] tinh thần khỏi hình tướng, thì chỉ khi đó tiến trình chuyển hoá mới được thấu hiểu,

690. We are given the work to be accomplished by the human being who has his center of consciousness centered in the Ego

690. Chúng ta được cho biết công việc phải được hoàn thành bởi con người có trung tâm tâm thức đặt nơi chân ngã.

a. The work of repulsing matter

a. Công việc đẩy lùi vật chất

b. The work of withdrawing Spirit from form

b. Công việc rút tinh thần khỏi hình tướng

691. In the tabulation on TCF 275. we are given the interrelation between Spirit and form. The Ego is not mentioned.

691. Trong bảng liệt kê ở TCF 275, chúng ta được cho thấy mối tương quan giữa tinh thần và hình tướng. Chân ngã không được nhắc đến.

a. The period of the domination of the form note is that of involution.

a. Thời kỳ sự thống trị của âm điệu hình tướng là thời kỳ giáng hạ tiến hoá.

b. The period of the repulsion of form by Spirit is that of the battlefield of the three worlds.

b. Thời kỳ tinh thần đẩy lùi hình tướng là thời kỳ chiến trường của ba cõi thấp.

c. The period of the attraction of Spirit and Spirit, and the consequent withdrawal from form is that of the Path.

c. Thời kỳ tinh thần hút tinh thần, và hậu quả là sự rút lui khỏi hình tướng, là thời kỳ của Con Đường.

d. The period of domination of the note of Spirit is that of the higher planes of evolution.

d. Thời kỳ sự thống trị của âm điệu tinh thần là thời kỳ của các cõi cao hơn của tiến hoá.

692. Yet the Ego is to be considered an extension of the Spirit, and the consciousness which is centered in the Ego is passing through stage “b.” above. The “Law of Repulse” is a law of the soul. The work of the soul/Ego is also instrumental during the initial stages of withdrawing Spirit from form.

692. Tuy nhiên, chân ngã phải được xem là một sự mở rộng của tinh thần, và tâm thức được đặt trung tâm trong chân ngã đang đi qua giai đoạn “b.” ở trên. “Định luật Đẩy Lùi” là một định luật của linh hồn. Công việc của linh hồn/chân ngã cũng là công cụ trong các giai đoạn đầu của việc rút tinh thần khỏi hình tướng.

693. Such a human being (whose consciousness is centered in the Ego) is functioning under the fourth Law of the Soul—the Law of Repulse (which is also the first triadally impulsed soul law).

693. Một con người như thế (mà tâm thức được định tâm trong chân ngã) đang hoạt động dưới Định luật thứ tư của linh hồn—Định luật Đẩy Lùi (cũng là định luật linh hồn đầu tiên được Tam nguyên tinh thần thúc đẩy).

694. Centering the consciousness in the Ego is, of course, preliminary to the centering of consciousness in the Spirit.

694. Dĩ nhiên, việc định tâm tâm thức trong chân ngã là bước sơ bộ cho việc định tâm tâm thức trong tinh thần.

695. Before Spirit can merge with Spirit it must be abstracted from matter/form. The soul-center promotes this abstraction.

695. Trước khi tinh thần có thể hợp nhất với tinh thần, nó phải được rút ra khỏi vật chất/hình tướng. Trung tâm linh hồn thúc đẩy sự trừu xuất này.

696. The work of transmutation (although considered preliminary to transformation and transfiguration) requires a disidentification from matter/form.

696. Công việc chuyển hoá (dù được xem là bước sơ bộ cho chuyển đổi và Biến hình) đòi hỏi phải không còn đồng hoá với vật chất/hình tướng.

then only will time (as known in the three worlds) be transcended,

khi đó và chỉ khi đó thời gian (như được biết trong ba cõi thấp) mới được siêu vượt,

697. The suggestion is that there are more ways to understand time than as it is understood in the three worlds.

697. Điều được gợi ý là có nhiều cách để hiểu thời gian hơn là cách nó được hiểu trong ba cõi thấp.

698. The factor of Time is inescapable if there is to be a Universe. A Universe, in one respect, is the commencement of Time (as well as its sustainment and termination) within the infinite continuum of Endless Duration

698. Yếu tố Thời gian là điều không thể tránh khỏi nếu phải có một Vũ trụ. Xét theo một phương diện, một Vũ trụ là sự khởi đầu của Thời gian (cũng như sự duy trì và chấm dứt của nó) bên trong continuum vô hạn của Thời Lượng Vô Tận

and then only will space (as manifested to man through the three lower planes or the eighteen subplanes) be found to be a barrier.

và khi đó và chỉ khi đó không gian (như được biểu hiện cho con người qua ba cõi thấp hay mười tám cõi phụ) mới được thấy là một rào cản.

699. The normal ‘space’ for the average human being is the ring-pass-not of the eighteen lower subplanes. Within these worlds he normally lives and moves and has his being and feels no conscious confinement thereby.

699. “Không gian” thông thường đối với con người trung bình là vòng-giới-hạn của mười tám cõi phụ thấp. Trong các thế giới này, y bình thường sống, vận động và tồn tại, và không cảm thấy có sự giam hãm hữu thức nào bởi điều đó.

700. Let us tabulate the results of centering consciousness in the Ego:

700. Chúng ta hãy lập bảng các kết quả của việc định tâm tâm thức trong chân ngã:

a. The transmutative process will be comprehended

a. Tiến trình chuyển hoá sẽ được thấu hiểu

b. Time (as we know it) will be transcended

b. Thời gian (như chúng ta biết) sẽ được siêu vượt

c. Space (as manifested through the eighteen sub-planes) will be found to be a barrier

c. Không gian (như được biểu hiện qua mười tám cõi phụ) sẽ được thấy là một rào cản

This same statement can be predicated of the seven Logoi and of the solar Logos, extending the idea to other planes, solar and cosmic.

Cùng một phát biểu này có thể được áp dụng cho bảy Các Thượng đế và cho Thái dương Thượng đế, mở rộng ý tưởng sang các cõi khác, thái dương và vũ trụ.

701. The “seven Logoi” (in this context) are the seven Planetary Logoi. Usually, when Planetary Logoi are indicated, the Tibetan will say so.

701. “Bảy Các Thượng đế” (trong ngữ cảnh này) là bảy Hành Tinh Thượng Đế. Thông thường, khi muốn chỉ các Hành Tinh Thượng Đế, Chân sư Tây Tạng sẽ nói rõ như vậy.

702. The Planetary Logoi are cosmic beings, and the time they experience can be conceived as relating to the eighteen lower cosmic subplanes which, as well, is their confining ‘space’—especially when they are non-sacred Planetary Logoi.

702. Các Hành Tinh Thượng Đế là những hữu thể vũ trụ, và thời gian mà Các Ngài trải nghiệm có thể được quan niệm là liên hệ với mười tám cõi phụ vũ trụ thấp, vốn cũng là “không gian” giam hãm Các Ngài—đặc biệt khi Các Ngài là các Hành Tinh Thượng Đế không thiêng liêng.

703. The twenty-one lower cosmic subplanes determine time and space for a Solar Logos.

703. Hai mươi mốt cõi phụ vũ trụ thấp xác định thời gian và không gian đối với một Thái dương Thượng đế.

704. One cannot experience of time outside of one’s space. One cannot experience relative space except through the processes of time.

704. Người ta không thể trải nghiệm thời gian bên ngoài không gian của mình. Người ta không thể trải nghiệm không gian tương đối ngoại trừ qua các tiến trình của thời gian.

705. Long ago Planetary Logoi and Solar Logoi achieved transmutation as it is necessitated in the human evolutionary process, and transcended time (humanly considered) and broke through the barrier of ‘human space’ produced by the limitations of human consciousness.

705. Từ lâu, các Hành Tinh Thượng Đế và các Thái dương Thượng đế đã đạt được sự chuyển hoá như điều cần thiết trong tiến trình tiến hoá của con người, và đã siêu vượt thời gian (xét theo cách hiểu của con người) cũng như phá vỡ rào cản của “không gian nhân loại” do các giới hạn của tâm thức con người tạo ra.

706. Is it not, therefore, interesting that these great beings must pass though other and greater transmutations; transcend time of an entirely different order (related, of course, to the limitations of their perceptual process—vast though it is); and enlarge their conception of ‘space’.

706. Vậy chẳng phải là điều thú vị sao khi những hữu thể vĩ đại này phải trải qua những sự chuyển hoá khác và lớn lao hơn; siêu vượt thời gian thuộc một trật tự hoàn toàn khác (dĩ nhiên liên hệ đến các giới hạn của tiến trình tri giác của Các Ngài—dù nó bao la đến đâu); và mở rộng quan niệm của Các Ngài về “không gian”.

707. When we humans speak of transcending time and space, we rarely think that those beings (who many mahamanvantaras ago were human) are even now attempting to transcend time and space as time and space appear to them!

707. Khi chúng ta, loài người, nói về việc siêu vượt thời gian và không gian, chúng ta hiếm khi nghĩ rằng những hữu thể ấy (những Đấng từ nhiều Đại giai kỳ sinh hóa trước đã từng là con người) thậm chí ngay bây giờ vẫn đang cố gắng siêu vượt thời gian và không gian như thời gian và không gian xuất hiện đối với Các Ngài!

So also can it be narrowed down to the subhuman, and to the involutionary lives, remembering ever that as the consciousness is more confined and restricted so inertia, lack of response and limitation of radiation will be seen.

Tương tự như vậy, điều này cũng có thể được thu hẹp xuống giới dưới nhân loại và các sự sống giáng hạ tiến hoá, luôn ghi nhớ rằng khi tâm thức càng bị giam hãm và hạn chế hơn thì quán tính, sự thiếu đáp ứng và sự giới hạn của bức xạ sẽ càng được thấy rõ.

708. Such subhuman lives are overcome by the energy of the third aspect through which ‘amalgamative radiation’ is not produced.

708. Những sự sống dưới nhân loại như thế bị năng lượng của phương diện thứ ba chế ngự, qua đó “bức xạ dung hợp” không được tạo ra.

709. Compared, for instance, to a Planetary Logos, the human being is

709. Chẳng hạn, so với một Hành Tinh Thượng Đế, con người là

a. Restricted and confined

a. Bị hạn chế và giam hãm

b. Characterized by inertia

b. Được đặc trưng bởi quán tính

c. Characterized by lack of response

c. Được đặc trưng bởi sự thiếu đáp ứng

d. Characterized by limitation of radiation

d. Được đặc trưng bởi sự giới hạn của bức xạ

710. A similar restriction will be noted when comparing a Planetary Logos to the Solar Logos, though these two types of beings are far closer in their degree of unfoldment than is a man to a Planetary Logos or Solar Logos.

710. Một sự hạn chế tương tự sẽ được lưu ý khi so sánh một Hành Tinh Thượng Đế với Thái dương Thượng đế, dù hai loại hữu thể này gần nhau hơn nhiều về mức độ khai mở so với con người đối với một Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế.

By a close scrutiny of chart V (See p. 344), it will be apparent wherein lies the problem of the Logos, and wherein lies the accuracy of the correspondence between Him and His reflection Man.

Bằng sự khảo sát kỹ lưỡng Biểu đồ V (xem tr. 344), sẽ trở nên hiển nhiên chính trong đâu có vấn đề của Thượng đế, và chính trong đâu có tính chính xác của sự tương ứng giữa Ngài và phản ánh của Ngài là Con Người.

711. Chart V is one of the great charts in TCF. An extraordinary amount of knowledge can be mined from a prolonged and careful examination of the chart.

711. Biểu đồ V là một trong những biểu đồ lớn trong TCF. Một lượng tri thức phi thường có thể được khai thác từ việc khảo sát kéo dài và cẩn trọng biểu đồ này.

712. As previously stated, the analogy between the Solar Logos and Man is in many points closer than the analogy between the Planetary Logos and Man.

712. Như đã nói trước đây, sự tương đồng giữa Thái dương Thượng đế và Con Người ở nhiều điểm gần hơn sự tương đồng giữa Hành Tinh Thượng Đế và Con Người.

713. The chart suggests far more than it depicts literally. Far more is implied than is presented.

713. Biểu đồ gợi ra nhiều hơn rất nhiều so với điều nó mô tả theo nghĩa đen. Nhiều điều được hàm ý hơn là được trình bày.

714. We will note that the cosmic atmic plane and the cosmic astral plane are left apparently blank, which is hardly the case. Important centers of focus for our Planetary Logos (and even for out Solar Logos) are there to be found. But a single chart cannot illustrate all pertinent relationships.

714. Chúng ta sẽ lưu ý rằng cõi atma vũ trụ và cõi cảm dục vũ trụ dường như bị để trống, trong khi thực tế hầu như không phải vậy. Những trung tâm tập chú quan trọng của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta (và ngay cả của Thái dương Thượng đế của chúng ta) được tìm thấy ở đó. Nhưng một biểu đồ đơn lẻ không thể minh hoạ mọi tương quan thích đáng.

715. In relation to the shared problems of Man and the Solar Logos, they are problems incident to the fact that both beings are midway through their process of evolution.

715. Liên quan đến những vấn đề chung của Con Người và Thái dương Thượng đế, đó là những vấn đề phát sinh từ sự kiện rằng cả hai hữu thể đều đang ở giữa tiến trình tiến hoá của mình.

716. Is it not interesting that Man is considered a “reflection” of the Solar Logos. This is not said in so many words with regard to our Heavenly Man.

716. Chẳng phải là điều thú vị sao khi Con Người được xem là một “phản ánh” của Thái dương Thượng đế. Điều này không được nói rõ như thế đối với Đấng Thiên Nhân của chúng ta.

717. What may be the “problem of the Logos”? The following quotations concerning the Solar Logos and Man suggest some of the problems:

717. “Vấn đề của Thượng đế” có thể là gì? Những trích dẫn sau đây liên quan đến Thái dương Thượng đế và Con Người gợi ý một số vấn đề:

Both are at their point of deepest involution. (TCF 282)

Cả hai đều ở tại điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của mình. (TCF 282)

We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing cosmic mind. (LOM 52-53)

Chúng ta đã được cho biết rằng Thái dương Thượng đế, trên các cõi vũ trụ, đang làm việc với vấn đề của trí tuệ vũ trụ; rằng Ngài hoạt động trong hệ mặt trời hồng trần của Ngài, được phân cực trong thể cảm dục, hay thể cảm xúc, vũ trụ của Ngài, và đang phát triển trí tuệ vũ trụ. (LOM 52-53)

Man has to bring down into conscious full control, the God within. Through that control he must dominate circumstance, make his environment his instrument and manipulate matter. On cosmic levels the Logos does likewise. Both are far from achievement. (TCF 282)

Con Người phải đưa Thượng đế bên trong xuống dưới sự kiểm soát đầy đủ và hữu thức. Qua sự kiểm soát đó, y phải chế ngự hoàn cảnh, biến môi trường của mình thành công cụ của mình và thao tác vật chất. Trên các cấp độ vũ trụ, Thượng đế cũng làm như vậy. Cả hai còn rất xa thành tựu. (TCF 282)

Just as the planet called the earth is regarded as the turning point or the battle-ground between Spirit and matter, and is therefore, from that very consideration, of great importance, so our solar system holds an analogous place in the cosmic scheme. The cosmic man, the solar Arjuna, is wrestling for His individualised perfected self-consciousness, and for freedom and liberation from the form, and from the not-self. So man on this planet battles for similar ideals on his tiny scale; so battle in heaven Michael and His Angels, or the divine Heavenly Men, Whose problem is the same on the higher scale. (TCF 242)

Cũng như hành tinh gọi là Trái Đất được xem là điểm ngoặt hay chiến trường giữa tinh thần và vật chất, và vì thế, chính từ sự xem xét đó, có tầm quan trọng lớn lao, thì hệ mặt trời của chúng ta cũng giữ một vị trí tương tự trong hệ hành tinh vũ trụ. Con người vũ trụ, Arjuna thái dương, đang vật lộn để đạt ngã thức biệt ngã hóa hoàn hảo của Ngài, và để có tự do cùng giải thoát khỏi hình tướng, khỏi cái không-phải-ngã. Con người trên hành tinh này cũng chiến đấu cho những lý tưởng tương tự ở quy mô nhỏ bé của mình; cũng như trên thiên giới Michael và các Thiên Thần của Ngài, hay các Đấng Thiên Nhân thiêng liêng, chiến đấu, mà vấn đề của Các Ngài cũng y hệt ở quy mô cao hơn. (TCF 242)

718. The close scrutiny which DK suggests will not be easy.

718. Sự khảo sát kỹ lưỡng mà Chân sư DK gợi ý sẽ không dễ dàng.

719. The alignments between the numbers two and four are evident in the chart.

719. Những sự chỉnh hợp giữa các con số hai và bốn là hiển nhiên trong biểu đồ.

720. We note our Solar Logos’ relation to the fourth Rishi of the Great Bear, remembering that our Logos is of the fourth order.

720. Chúng ta lưu ý mối liên hệ của Thái dương Thượng đế của chúng ta với vị Rishi thứ tư của Đại Hùng Tinh, ghi nhớ rằng Thượng đế của chúng ta thuộc cấp thứ tư.

721. Four is the number of struggle towards harmony, and two the number of the love-wisdom which arises harmony is achieved.

721. Bốn là con số của sự đấu tranh hướng tới hài hoà, và hai là con số của bác ái-minh triết nảy sinh khi hài hoà được đạt tới.

722. The Chart suggests that we live in an astral-buddhic solar system, and that the struggle towards the full achievement of Cosmic Love pertains to our Solar Logos.

722. Biểu đồ gợi ý rằng chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm dục-bồ đề, và rằng sự đấu tranh hướng tới việc thành tựu trọn vẹn Bác Ái Vũ Trụ liên quan đến Thái dương Thượng đế của chúng ta.

723. Incidentally, the line from the Logos passes through the Vishnu aspect on the logoic plane and a fourth Planetary Logos on the monadic plane. Is this Planetary Logos the Logos of the Earth-scheme, or of the sacred planet of the fourth ray—Mercury egoically, and Vulcan, monadically?

723. Nhân tiện, đường từ Thượng đế đi qua phương diện Vishnu trên cõi logoic và một Hành Tinh Thượng Đế thứ tư trên cõi chân thần. Hành Tinh Thượng Đế này là Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu, hay của hành tinh thiêng liêng thuộc cung bốn—Sao Thủy về mặt chân ngã, và Vulcan về mặt chân thần?

724. I will call our attention to the following fact now, and hope later to suggest some thoughts re its elucidation: On the cosmic monadic plane, the line which passes through the fourth Rishi of the Great Bear originates in a triangle which is either the second or the third depending on the mode of counting the seven triangles in each large circle. This must be very significant for all that is transpiring within our solar system.

724. Bây giờ tôi sẽ lưu ý chúng ta đến sự kiện sau đây, và hy vọng sau này sẽ gợi ra vài tư tưởng liên quan đến sự làm sáng tỏ nó: Trên cõi chân thần vũ trụ, đường đi qua vị Rishi thứ tư của Đại Hùng Tinh bắt nguồn trong một tam giác hoặc là tam giác thứ hai hoặc thứ ba tùy theo cách đếm bảy tam giác trong mỗi vòng tròn lớn. Điều này hẳn phải rất có ý nghĩa đối với mọi điều đang diễn ra trong hệ mặt trời của chúng ta.

725. That little triangle in the fourth large circle is what we might call a ‘sleeping hint’, awaiting the day of its revelation—when?—centuries ahead?

725. Tam giác nhỏ ấy trong vòng tròn lớn thứ tư là điều mà chúng ta có thể gọi là một “gợi ý đang ngủ”, chờ đợi ngày được mặc khải—khi nào?—nhiều thế kỷ phía trước chăng?

726. VSK states: “The following list is a beautiful demonstration of numerical resonance to context in a seven point list”.

726. VSK nói: “Danh sách sau đây là một minh hoạ đẹp đẽ về sự cộng hưởng số học với ngữ cảnh trong một danh sách bảy điểm”.

727. Here we are given a tabulation of conditions and problems shared by both Man and the Solar Logos.

727. Ở đây chúng ta được cho một bảng liệt kê các điều kiện và vấn đề được chia sẻ bởi cả Con Người lẫn Thái dương Thượng đế.

First. Both are in objective manifestation on the physical plane.

Thứ nhất. Cả hai đều đang ở trong biểu hiện khách quan trên cõi hồng trần.

728. In relation to a human being, we are dealing with the systemic physical plane.

728. Liên hệ với một con người, chúng ta đang đề cập đến cõi hồng trần hệ thống.

729. In relation to the Solar Logos, we are dealing with the cosmic physical plane. Note that the Tibetan requires that we realize that it is the cosmic physical plane which pertains to the Solar Logos.

729. Liên hệ với Thái dương Thượng đế, chúng ta đang đề cập đến cõi hồng trần vũ trụ. Lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng đòi hỏi chúng ta phải chứng nghiệm rằng chính cõi hồng trần vũ trụ là điều liên quan đến Thái dương Thượng đế.

Second. Both are at their point of deepest involution.

Thứ hai. Cả hai đều ở tại điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của mình.

730. This means that both beings are subject to the number four, which represents the midway point in a sevenfold cycle.

730. Điều này có nghĩa là cả hai hữu thể đều chịu dưới con số bốn, tượng trưng cho điểm ở giữa trong một chu kỳ thất phân.

731. This statement should be compared with information found on TCF 384.

731. Phát biểu này nên được so sánh với thông tin tìm thấy ở TCF 384.

Third. Both are trammelled by matter, and are developing consciousness (egoic consciousness) on the physical plane—man on the solar physical, and the Logos on the cosmic physical plane.

Thứ ba. Cả hai đều bị trói buộc bởi vật chất, và đang phát triển tâm thức (tâm thức chân ngã) trên cõi hồng trần—con người trên cõi hồng trần thái dương, và Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ.

732. Man well knows that he is not free; is it surprising to think of the great Solar Logos as a Being who, relatively, also is not free, but like man, trammeled by matter?

732. Con Người biết rất rõ rằng y không tự do; vậy có đáng ngạc nhiên không khi nghĩ về Thái dương Thượng đế vĩ đại như một Hữu thể mà, tương đối mà nói, cũng không tự do, nhưng giống như con người, bị vật chất trói buộc?

733. Most human beings have not yet developed full egoic consciousness on the physical plane—the solar (or systemic) physical. The Solar Logos, likewise, as He expresses Himself upon the cosmic physical plane, has not yet developed the capacity to access the full consciousness of His own Ego on its own plane—the cosmic mental plane.

733. Phần lớn con người chưa phát triển đầy đủ tâm thức chân ngã trên cõi hồng trần—cõi hồng trần thái dương (hay hệ thống). Tương tự như vậy, Thái dương Thượng đế, khi Ngài biểu lộ chính mình trên cõi hồng trần vũ trụ, vẫn chưa phát triển năng lực tiếp cận trọn vẹn tâm thức của chính chân ngã của Ngài trên cõi riêng của nó—cõi trí vũ trụ.

734. If the Solar Logos has to develop the capacity to register and express egoic consciousness on the cosmic physical plane, this must certainly be true of the Planetary Logoi.

734. Nếu Thái dương Thượng đế phải phát triển năng lực ghi nhận và biểu lộ tâm thức chân ngã trên cõi hồng trần vũ trụ, thì điều này chắc chắn cũng đúng đối với các Hành Tinh Thượng Đế.

735. We can only imagine what type of Solar Angel has created the causal body of the Solar Logos

735. Chúng ta chỉ có thể hình dung loại Thái dương Thiên Thần nào đã tạo ra thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế

“A solar Logos uses for His energy centres the planetary schemes, each of which embodies a peculiar type of energy, and each of which, therefore, vibrates to the key of the logoic solar Angel, of which the human solar Angel is a dim reflection. It is interesting here to note that as the human solar Angel is a unity, manifesting through three tiers of petals, the logoic correspondence is even more interesting, for that great cosmic Entity demonstrates on the cosmic mental plane as a triple flame working through seven tiers of petals, and it is the energy from these seven circles of energy which pulsates through the medium of any scheme. All this is hidden in the mystery of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and it is not possible for men to solve it,—the truth being obscure to even the highest Dhyan Chohan of our system.

“Một Thái dương Thượng đế sử dụng các hệ hành tinh làm các trung tâm năng lượng của Ngài, mỗi hệ hành tinh thể hiện một loại năng lượng đặc thù, và do đó, mỗi hệ hành tinh rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần logoic, mà Thái dương Thiên Thần của con người chỉ là một phản ánh mờ nhạt. Ở đây thật thú vị khi lưu ý rằng cũng như Thái dương Thiên Thần của con người là một đơn vị, biểu lộ qua ba tầng cánh hoa, thì sự tương ứng logoic còn thú vị hơn nữa, vì Thực Thể vũ trụ vĩ đại ấy biểu lộ trên cõi trí vũ trụ như một ngọn lửa tam phân hoạt động qua bảy tầng cánh hoa, và chính năng lượng từ bảy vòng năng lượng này đập nhịp qua trung gian của bất kỳ hệ hành tinh nào. Tất cả điều này được ẩn giấu trong huyền nhiệm của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và con người không thể giải được,—sự thật vẫn mờ tối ngay cả đối với vị Dhyan Chohan cao nhất của hệ thống chúng ta.

736. If the planetary schemes, as chakras of the Solar Logos, vibrate to the key of the logoic Solar Angel, then the chakras of man must necessarily vibrate to the key of man’s Solar Angel.

736. Nếu các hệ hành tinh, với tư cách là các luân xa của Thái dương Thượng đế, rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần logoic, thì các luân xa của con người tất yếu cũng phải rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần của con người.

737. It may be inferred that the logoic Solar Angel also has or focusses upon a ray, just as does man’s Solar Angel. This ray is, probably, what we call the soul ray or egoic ray. It is interesting to realize that all our chakras vibrate to the key of our soul ray. Probably there is a contest within each chakra to see whether it will be ruled by the soul ray or personality ray of the indwelling entity.

737. Có thể suy ra rằng Thái dương Thiên Thần logoic cũng có hay tập chú vào một cung, cũng như Thái dương Thiên Thần của con người. Cung này có lẽ là điều chúng ta gọi là cung linh hồn hay cung chân ngã. Thật thú vị khi nhận ra rằng tất cả các luân xa của chúng ta đều rung động theo chủ âm của cung linh hồn của chúng ta. Có lẽ có một sự tranh chấp bên trong mỗi luân xa để xem liệu nó sẽ được cai quản bởi cung linh hồn hay cung phàm ngã của thực thể nội tại.

738. Further, all the planetary schemes vibrate to the key of the Solar Logos’ soul ray, as is evidenced from the chart immediately below:

738. Hơn nữa, tất cả các hệ hành tinh đều rung động theo chủ âm của cung linh hồn của Thái dương Thượng đế, như được chứng minh từ biểu đồ ngay bên dưới:

Fourth. Man has to bring down into conscious full control, the God within. Through that control he must dominate circumstance, make his environment his instrument and manipulate matter. On cosmic levels the Logos does likewise. Both are far from achievement.

Thứ tư. Con Người phải đưa Thượng đế bên trong xuống dưới sự kiểm soát đầy đủ và hữu thức. Qua sự kiểm soát đó, y phải chế ngự hoàn cảnh, biến môi trường của mình thành công cụ của mình và thao tác vật chất. Trên các cấp độ vũ trụ, Thượng đế cũng làm như vậy. Cả hai còn rất xa thành tựu.

739. The human being is seeking mastery on the eighteen lower subplanes of the systemic physical plane and, eventually, upon the twenty-one lower subplanes.

739. Con người đang tìm kiếm quyền làm chủ trên mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần hệ thống và, cuối cùng, trên hai mươi mốt cõi phụ thấp.

740. The Solar Logos, analogously to man, must seek mastery upon the eighteen lower cosmic subplanes and eventually upon twenty-one such planes.

740. Tương tự với con người, Thái dương Thượng đế phải tìm kiếm quyền làm chủ trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp và cuối cùng trên hai mươi mốt cõi như thế.

741. It is interesting that our Solar Logos, though presently astrally polarized, has taken the second cosmic initiation and is working towards the third.

741. Thật thú vị khi Thái dương Thượng đế của chúng ta, dù hiện nay phân cực cảm xúc, đã nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ hai và đang tiến tới lần điểm đạo thứ ba.

742. Following analogy, there must be many human beings who, having taken the second initiation, are still astrally polarized, as they work towards the third initiation.

742. Theo phép tương đồng, hẳn phải có nhiều con người, dù đã nhận lần điểm đạo thứ hai, vẫn còn phân cực cảm xúc khi họ tiến tới lần điểm đạo thứ ba.

743. This is interesting because at the second initiation the human being must have achieved spiritual intelligence and an illumined mind.

743. Điều này thật thú vị vì ở lần điểm đạo thứ hai con người hẳn phải đạt được trí tuệ tinh thần và một trí tuệ được soi sáng.

744. Can we say that the Solar Logos has achieved spiritual intelligence and an illumined mind even though astrally polarized? Perhaps. Probably because our Solar Logos is of such an astral-buddhic nature the astral-buddhic relationship will always be inordinately strong regardless of the degree of spiritual intelligence and mental illumination achieved.

744. Chúng ta có thể nói rằng Thái dương Thượng đế đã đạt được trí tuệ tinh thần và một trí tuệ được soi sáng dù vẫn phân cực cảm xúc không? Có lẽ. Có lẽ bởi vì Thái dương Thượng đế của chúng ta có bản chất cảm dục-bồ đề đến mức mối liên hệ cảm dục-bồ đề sẽ luôn mạnh một cách quá mức bất kể mức độ trí tuệ tinh thần và sự soi sáng trí tuệ đã đạt được.

Fifth. Both work in, with, and by, electrical force.

Thứ năm. Cả hai đều hoạt động trong, với, và bằng mãnh lực điện.

745. Is this to say that both are related to the Pleiades? The Solar Logos has a special relationship to the Pleiades who are a major source of cosmic buddhi. The Path which the Solar Logos is treading leads to the cosmic buddhic plane, and the Sun is said to revolve around the Pleiades.

745. Điều này có phải muốn nói rằng cả hai đều liên hệ với Pleiades không? Thái dương Thượng đế có một mối liên hệ đặc biệt với Pleiades, vốn là một nguồn chính của Bồ đề vũ trụ. Con Đường mà Thái dương Thượng đế đang bước đi dẫn đến cõi bồ đề vũ trụ, và Mặt Trời được nói là quay quanh Pleiades.

Sixth. Both come under the laws governing forms and hence both are controlled in time and space by KARMA, which is the Law of forms. It has to do with quality, as force has to do with vibration.

Thứ sáu. Cả hai đều nằm dưới các định luật chi phối các hình tướng và do đó cả hai đều bị NGHIỆP QUẢ kiểm soát trong thời gian và không gian, mà nghiệp quả là Định luật của các hình tướng. Nó liên quan đến phẩm tính, cũng như mãnh lực liên quan đến rung động.

746. Human beings who hope soon to “be rid of karma” had best attend to this excerpt. Beings far greater than a Solar Logos (if they manifest through a form) are still subject to the Law of Forms.

746. Những con người hy vọng sớm “thoát khỏi nghiệp quả” tốt nhất nên chú ý đến đoạn trích này. Những hữu thể lớn lao hơn nhiều so với một Thái dương Thượng đế (nếu biểu lộ qua một hình tướng) vẫn còn chịu dưới Định luật của các Hình Tướng.

747. We are given a profound hint: Karma is related to quality as force is related to vibration.

747. Chúng ta được cho một gợi ý sâu sắc: Nghiệp quả liên hệ với phẩm tính cũng như mãnh lực liên hệ với rung động.