← Commentary_S3_223_340_song ngữ

S3S7: TCF 285-296

Trích nội dung chương

748. The reason that Karma adjusts the interplay of forms with mathematical exactitude (the fourth ray is the Ray of Mathematical Exactitude) is to bring about the emergence of the second aspect or quality. 748. Lý do khiến Nghiệp quả điều chỉnh sự tương tác của các hình tướng với độ chính xác toán học (cung bốn là Cung của Độ Chính Xác Toán Học) là để mang lại sự xuất hiện của phương diện thứ hai hay phẩm tính.


748. The reason that Karma adjusts the interplay of forms with mathematical exactitude (the fourth ray is the Ray of Mathematical Exactitude) is to bring about the emergence of the second aspect or quality.

748. Lý do khiến Nghiệp quả điều chỉnh sự tương tác của các hình tướng với độ chính xác toán học (cung bốn là Cung của Độ Chính Xác Toán Học) là để mang lại sự xuất hiện của phương diện thứ hai hay phẩm tính.

749. Force causes vibration; this interaction pertains to the third aspect of divinity. It is amazing how much the Law of Karma works with and promotes the emergence of the second aspect, even though first and third ray methods are utilized.

749. Mãnh lực gây ra rung động; sự tương tác này liên quan đến phương diện thứ ba của thiên tính. Thật đáng kinh ngạc khi Định luật Nghiệp quả hoạt động cùng với và thúc đẩy sự xuất hiện của phương diện thứ hai đến mức nào, dù các phương pháp của cung một và cung ba được sử dụng.

750. If one studies the third and second rays of Libra, one can see how the second ray is meant to emerge from the balancing of forces made possible by the third aspect.

750. Nếu nghiên cứu cung ba và cung hai của Libra, người ta có thể thấy cách mà cung hai được dự định xuất hiện từ sự quân bình các mãnh lực được phương diện thứ ba làm cho khả hữu.

751. Interestingly, the second aspect of divinity is the “form builder”. Force and vibration pertain to the matter aspect. The second aspect pertains to the patterning and cohesion of form.

751. Thật thú vị, phương diện thứ hai của thiên tính là “đấng kiến tạo hình tướng”. Mãnh lực và rung động liên quan đến phương diện vật chất. Phương diện thứ hai liên quan đến sự tạo mô hình và sự cố kết của hình tướng.

752. When we consider the planet Saturn, we may come to understand that second ray purposes lie behind all the drastic hard-line disciplining administered by this planetary Lord of Karma.

752. Khi xem xét hành tinh Sao Thổ, chúng ta có thể đi đến chỗ hiểu rằng các mục đích của cung hai nằm phía sau mọi sự rèn kỷ luật nghiêm khắc cứng rắn do vị Chúa Tể Nghiệp Quả hành tinh này áp đặt.

753. Basically, Karma serves the growth of consciousness.

753. Về căn bản, Nghiệp quả phụng sự sự tăng trưởng của tâm thức.

Seventh. Both work through forms made up of:

Thứ bảy. Cả hai đều hoạt động qua các hình tướng được cấu thành bởi:

754. Here the formal constitutions of Man and the Solar Logos are compared.

754. Ở đây các cấu tạo hình tướng của Con Người và Thái dương Thượng đế được so sánh.

[Page 283]

[Page 283]

a. Three main types of forms: A mental form, one aspect of manifestation; an astral form, a second aspect; and a physical form, the third aspect.

a. Ba loại hình tướng chính: Một hình tướng trí tuệ, một phương diện của biểu hiện; một hình tướng cảm dục, phương diện thứ hai; và một hình tướng hồng trần, phương diện thứ ba.

755. From one perspective the mental form is correlated to the first ray, the astral to the second and the physical form to the third. There is also a legitimate way to reverse the correlation for the mental and physical forms, assigning the third ray to the mental body and the first to the physical form.

755. Từ một góc nhìn, hình tướng trí tuệ tương ứng với cung một, hình tướng cảm dục với cung hai và hình tướng hồng trần với cung ba. Cũng có một cách hợp lý để đảo ngược sự tương ứng đối với hình tướng trí tuệ và hồng trần, gán cung ba cho thể trí và cung một cho hình tướng hồng trần.

The mental vibration sets the key measure and seeks to utilise and co-ordinate the physical body at Will. It deals with or links up the consciousness to the three forms in one direction; it repulses and causes separation in another.

Rung động trí tuệ đặt ra nhịp điệu chủ âm và tìm cách sử dụng cũng như phối hợp thể xác theo Ý chí. Nó đề cập đến hay nối kết tâm thức với ba hình tướng theo một hướng; theo hướng khác, nó đẩy lùi và gây ra sự phân ly.

756. The mind has a dual function—that which links and that which repels and separates.

756. Trí tuệ có một chức năng kép—chức năng nối kết và chức năng đẩy lùi, phân ly.

757. The body is to be controlled by the mind. “Mind over matter”.

757. Thể phải được trí tuệ kiểm soát. “Trí tuệ trên vật chất”.

758. The mind is the dominating principle within the personality. “I come forth and from the plane of mind I rule.”

758. Trí tuệ là nguyên khí chi phối bên trong phàm ngã. “Tôi xuất hiện và từ cõi trí Tôi cai quản.”

759. In the words “key measure” the principle of rhythm is suggested. At first the “key measure” applies to the personality.

759. Trong các từ “nhịp điệu chủ âm”, nguyên lý nhịp điệu được gợi ra. Lúc đầu, “nhịp điệu chủ âm” áp dụng cho phàm ngã.

760. The key measure which is set by the mental vibration should eventually resonate to the keynote of the soul. This will occur when the mind can be held steady in the light. Still later, the “key measure” will resonate to monadic vibration.

760. Nhịp điệu chủ âm được đặt ra bởi rung động trí tuệ cuối cùng nên cộng hưởng với chủ âm của linh hồn. Điều này sẽ xảy ra khi trí tuệ có thể được giữ vững trong ánh sáng. Về sau nữa, “nhịp điệu chủ âm” sẽ cộng hưởng với rung động chân thần.

761. The mental vibration is both attractive and repulsive. Towards the later stages of evolution it cooperates in repulsing the attractiveness of the form. It assists the man to discriminate in relation to his desires and to ‘see through’ the lure of form.

761. Rung động trí tuệ vừa hấp dẫn vừa đẩy lùi. Về các giai đoạn sau của tiến hoá, nó hợp tác trong việc đẩy lùi sức hấp dẫn của hình tướng. Nó giúp con người phân biện liên quan đến các ham muốn của mình và “nhìn thấu” sự quyến rũ của hình tướng.

762. The mental vibration also assists soul consciousness to infuse the form, working out strategies by means of which this can be done.

762. Rung động trí tuệ cũng giúp tâm thức linh hồn thấm nhuần hình tướng, vạch ra các chiến lược nhờ đó điều này có thể được thực hiện.

763. Man is the Thinker and in his nature manas is paramount. Let us ponder the mental vibration we are generating and expressing.

763. Con Người là Nhà Tư Tưởng và trong bản chất của y manas là tối thượng. Chúng ta hãy suy ngẫm về rung động trí tuệ mà chúng ta đang tạo ra và biểu lộ.

The astral vibration deals with the quality, with the attractive measure. It is the psychic element.

Rung động cảm dục liên quan đến phẩm tính, đến nhịp điệu hấp dẫn. Nó là yếu tố thông linh.

764. The word “measure” suggests rhythm and mathematics.

764. Từ “nhịp điệu” gợi ra nhịp điệu và toán học.

765. So far we have been given two kinds of measures:

765. Cho đến nay chúng ta đã được cho hai loại nhịp điệu:

a. The “key measures”

a. “Nhịp điệu chủ âm”

b. The “attractive measure”

b. “Nhịp điệu hấp dẫn”

766. The astral vibration is selective of external quality which harmonizes with inherent quality and repellant to that which felt as inharmonious.

766. Rung động cảm dục có tính chọn lọc đối với phẩm tính bên ngoài hài hoà với phẩm tính nội tại và có tính đẩy lùi đối với điều được cảm thấy là bất hài hoà.

767. The “psychic element” is the sensitive element.

767. “Yếu tố thông linh” là yếu tố nhạy cảm.

The physical is the meeting ground of consciousness with the material form. This last is the result produced by the union of the key measure and the quality of tone.

Hồng trần là nơi gặp gỡ của tâm thức với hình tướng vật chất. Điều sau cùng này là kết quả được tạo ra bởi sự kết hợp của nhịp điệu chủ âm và phẩm tính của âm điệu.

768. More profound occultism!

768. Huyền bí học sâu sắc hơn nữa!

769. We are dealing with the magical process. It is indicated that the physical nature is the result of the collaboration between mind and the astral nature. In the magical process, the production of the final external form also depends upon the collaboration of the mind and the astral body.

769. Chúng ta đang đề cập đến tiến trình huyền thuật. Điều được chỉ ra là bản chất hồng trần là kết quả của sự cộng tác giữa trí tuệ và bản chất cảm dục. Trong tiến trình huyền thuật, việc tạo ra hình tướng bên ngoài cuối cùng cũng tùy thuộc vào sự cộng tác của trí tuệ và thể cảm dục.

770. The initiation process demands that consciousness infuse the material form. Thus, are the “prisoners of the planet” redeemed.

770. Tiến trình điểm đạo đòi hỏi tâm thức phải thấm nhuần hình tướng vật chất. Nhờ đó, “những tù nhân của hành tinh” được cứu chuộc.

771. We are to ponder on the “key measure” which, eventually, is to vibrate to monadic purpose (for the Monad is reflected in the mind), and the “quality of tone” (reflective of the soul) through which this key measure must express.

771. Chúng ta phải suy ngẫm về “nhịp điệu chủ âm”, mà cuối cùng sẽ rung động theo mục đích chân thần (vì chân thần được phản ánh trong trí tuệ), và “phẩm tính của âm điệu” (phản ánh linh hồn) qua đó nhịp điệu chủ âm này phải biểu lộ.

772. Within the personality the mind is the representative of the Monad and the astral body of the Ego.. The monadic ray has a special effect upon the mind and the soul ray upon the astral body.

772. Bên trong phàm ngã, trí tuệ là đại diện của chân thần và thể cảm dục là đại diện của chân ngã.. Cung chân thần có một tác động đặc biệt lên trí tuệ và cung linh hồn lên thể cảm dục.

“The Personality ray finds its major field of activity and expression in the physical body. It determines its life trend and purpose, its appearance and occupation. It is selective of quality, when influenced by the egoic ray.

“Cung phàm ngã tìm thấy lĩnh vực hoạt động và biểu lộ chính của nó trong thể xác. Nó xác định xu hướng sống và mục đích, vẻ ngoài và nghề nghiệp của thể ấy. Nó có tính chọn lọc đối với phẩm tính, khi bị cung chân ngã tác động.

The Egoic Ray has direct and specific action upon the astral body. Hence the battlefield of the life is ever on the plane of illusions as the soul seeks to dispel the ancient glamour, the aspirant is enabled to walk in the light.

Cung Chân ngã có tác động trực tiếp và đặc thù lên thể cảm dục. Vì thế chiến trường của đời sống luôn ở trên cõi ảo tưởng khi linh hồn tìm cách làm tiêu tan ảo cảm cổ xưa, người chí nguyện được giúp để bước đi trong ánh sáng.

The Monadic Ray influences the mental body, after integration of the personality has been brought about. It causes the mind nature to achieve that clear vision which finds its consummation at the fourth initiation, and releases the man from the limitations of form. There is an analogy to this triplicity and an interesting symbolic relation in the three Initiators. (EP I 406)

Cung Chân thần ảnh hưởng đến thể trí, sau khi sự tích hợp của phàm ngã đã được thực hiện. Nó khiến bản chất trí tuệ đạt được linh thị sáng tỏ, vốn đạt đến sự viên mãn ở lần điểm đạo thứ tư, và giải thoát con người khỏi các giới hạn của hình tướng. Có một sự tương đồng với bộ ba này và một mối liên hệ biểu tượng thú vị trong ba Đấng Điểm đạo. (EP I 406)

773. All that is here said is true of both man and the Solar Logos.

773. Tất cả những gì được nói ở đây đều đúng cho cả con người lẫn Thái dương Thượng đế.

b. Seven centres of force which hold the three forms in one coherent whole, and cause their vitalisation and their co-ordination.

b. Bảy trung tâm mãnh lực giữ ba hình tướng trong một toàn thể cố kết, và gây ra sự tiếp sinh lực cũng như sự phối hợp của chúng.

774. Let us tabulate the functions of the seven centers of force in relation to both man and Solar Logos.

774. Chúng ta hãy lập bảng các chức năng của bảy trung tâm mãnh lực liên hệ với cả con người lẫn Thái dương Thượng đế.

a. The centers hold the three forms in one coherent whole

a. Các trung tâm giữ ba hình tướng trong một toàn thể cố kết

b. The centers cause the vitalization of the three forms

b. Các trung tâm gây ra sự tiếp sinh lực cho ba hình tướng

c. The centers cause the coordination of the three forms.

c. Các trung tâm gây ra sự phối hợp của ba hình tướng.

775. If the Planetary Logoi are the centers in the body of a Solar Logos, then we learn something about the influence of the planets on the coherency of the three bodies logoic, on their vitalization and their coordination.

775. Nếu các Hành Tinh Thượng Đế là các trung tâm trong thể của một Thái dương Thượng đế, thì chúng ta học được điều gì đó về ảnh hưởng của các hành tinh đối với tính cố kết của ba thể logoic, đối với sự tiếp sinh lực và sự phối hợp của chúng.

776. We remember that the seven chakras are extensions of monadic energy (meditated by the Ego on its own plane). So really, it is the Monad (whether of man or Planetary Logos) that is causing coherence, vitalization and coordination.

776. Chúng ta nhớ rằng bảy luân xa là những sự mở rộng của năng lượng chân thần (được chân ngã tham thiền trên cõi riêng của nó). Vì vậy, thực sự chính chân thần (dù của con người hay của Hành Tinh Thượng Đế) là điều gây ra sự cố kết, sự tiếp sinh lực và sự phối hợp.

They put the triple unit into correlation with their main centre of consciousness on the higher planes, whether that centre is the causal body of man, of a planetary Logos, or of a solar Logos.

Chúng đặt đơn vị tam phân vào trong sự tương quan với trung tâm tâm thức chính của chúng trên các cõi cao, dù trung tâm ấy là thể nguyên nhân của con người, của một Hành Tinh Thượng Đế, hay của một Thái dương Thượng đế.

777. Here the causal body is references as the “main centre of consciousness”, but in other sections of the book we learn that the energy pulsing through the causal body (cohering, vitalizing and coordinating) really emanates from the Monad.

777. Ở đây thể nguyên nhân được nhắc đến như “trung tâm tâm thức chính”, nhưng trong những phần khác của sách, chúng ta biết rằng năng lượng đang đập nhịp xuyên qua thể nguyên nhân (kết dính, tiếp sinh lực và phối hợp) thực ra phát xuất từ chân thần.

778. We may remember that earlier in this Commentary we were discussing the “main focal point” of man, the Heavenly Man and the Solar Logos (TCF 271). Perhaps we can equate the terms “main centre of consciousness” with “main focal point” since the causal body is involved in relation to both terms.

778. Chúng ta có thể nhớ rằng trước đó trong phần Bình Luận này, chúng ta đã bàn đến “điểm tập trung chính” của con người, Đấng Thiên Nhân và Thái dương Thượng đế (TCF 271). Có lẽ chúng ta có thể xem các thuật ngữ “trung tâm tâm thức chính” và “điểm tập trung chính” là tương đương, vì thể nguyên nhân có liên hệ với cả hai thuật ngữ ấy.

779. However, we noticed that the “main focal point” of the type of Heavenly Man under discussion was considered the systemic monadic plane. From reading what is given above, we realize that the type of Heavenly Man there discussed was probably not the Planetary Logos in His fulness (though every type of Heavenly Man is an expression of the Planetary Logos).

779. Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy rằng “điểm tập trung chính” của loại Đấng Thiên Nhân đang được bàn đến được xem là cõi chân thần hệ thống. Khi đọc điều được trình bày ở trên, chúng ta nhận ra rằng loại Đấng Thiên Nhân được bàn đến ở đó có lẽ không phải là Hành Tinh Thượng Đế trong sự viên mãn của Ngài (dù mọi loại Đấng Thiên Nhân đều là một biểu hiện của Hành Tinh Thượng Đế).

780. We are here told that a Planetary Logos has for His “main centre of consciousness on the higher planes”, the causal body, yet in the section under “main focal point” the causal body was not mentioned in relation to a Heavenly Man.

780. Ở đây chúng ta được cho biết rằng một Hành Tinh Thượng Đế có “trung tâm tâm thức chính của Ngài trên các cõi cao” là thể nguyên nhân, thế nhưng trong phần nói về “điểm tập trung chính”, thể nguyên nhân đã không được nhắc đến trong liên hệ với một Đấng Thiên Nhân.

781. In relation to that earlier section, it becomes clear that the Planetary Logos was functioning through a lesser Heavenly Man, and it was the function embodied by the lesser Heavenly Man that was being described by listing its “main focal point” on the systemic monadic plane.

781. Liên hệ với phần trước đó, điều trở nên rõ ràng là Hành Tinh Thượng Đế đang hoạt động thông qua một Đấng Thiên Nhân nhỏ hơn, và chính chức năng được hiện thân bởi Đấng Thiên Nhân nhỏ hơn ấy đã được mô tả bằng cách liệt kê “điểm tập trung chính” của nó trên cõi chân thần hệ thống.

782. When the centres are rightly functioning and in a manner coordinated with each other, they will give access to Ego and Monad.

782. Khi các trung tâm vận hành đúng đắn và theo cách được phối hợp với nhau, chúng sẽ cho phép tiếp cận chân ngã và chân thần.

c. Millions of infinitesimal cells, each embodying a lesser life, each in a condition of constant activity, and each repulsing other cells so as to preserve individuality or identity, yet each held to each by a central attractive force.

c. Hàng triệu tế bào vô cùng nhỏ bé, mỗi tế bào hiện thân một sự sống nhỏ hơn, mỗi tế bào ở trong trạng thái hoạt động không ngừng, và mỗi tế bào đều đẩy lùi các tế bào khác để bảo tồn tính biệt ngã hay bản sắc, nhưng mỗi tế bào vẫn được giữ với nhau bởi một mãnh lực hấp dẫn trung tâm.

783. Here we have important information descriptive of a cell. When what is said here is applied to man as a cell in the Planetary Logos, the results are illuminating.

783. Ở đây chúng ta có thông tin quan trọng mô tả một tế bào. Khi điều được nói ở đây được áp dụng cho con người như một tế bào trong Hành Tinh Thượng Đế, kết quả thật soi sáng.

784. The cell

784. Tế bào

a. Embodies a lesser life

a. Hiện thân một sự sống nhỏ hơn

b. Is in a condition of constant activity

b. Ở trong trạng thái hoạt động không ngừng

c. Is repulsing other cells so as to preserve individuality or identity. (On the human level, this is an interesting rationale for the dynamic of repulsion which goes on between human units. If human beings do not know who to repulse, their individuality and identity can be compromised.)

c. Đẩy lùi các tế bào khác để bảo tồn tính biệt ngã hay bản sắc. (Ở cấp độ con người, đây là một cơ sở lý giải thú vị cho động lực đẩy lùi diễn ra giữa các đơn vị nhân loại. Nếu con người không biết phải đẩy lùi ai, tính biệt ngã và bản sắc của họ có thể bị tổn hại.)

d. Is held to other cells by a central attractive force. (This relates to either the herd instinct or group instinct in man—inspired by the soul.)

d. Được giữ với các tế bào khác bởi một mãnh lực hấp dẫn trung tâm. (Điều này liên hệ hoặc với bản năng bầy đàn hoặc bản năng nhóm nơi con người—được linh hồn truyền cảm hứng.)

Thus we have produced the objective form of a crystal, a vegetable, an animal, a man, a planet, a system.

Như vậy chúng ta đã tạo ra hình tướng khách quan của một tinh thể, một thực vật, một động vật, một con người, một hành tinh, một hệ thống.

785. All these structures are composed of “cells”.

785. Tất cả các cấu trúc này đều được hợp thành từ “tế bào”.

786. We are familiar with the cell structure for the vegetable, animal or man. What is the analogue to a cell within a crystal? A molecule?

786. Chúng ta quen thuộc với cấu trúc tế bào của thực vật, động vật hay con người. Tương đồng của một tế bào trong một tinh thể là gì? Một phân tử chăng?

787. Within a planet, man is a cell. There is a necessity to determine the relationship of a man to the three types of Heavenly Men—Globe Lords, Chain Lords and the Scheme-Lord (the Planetary Logos).

787. Trong một hành tinh, con người là một tế bào. Cần phải xác định mối liên hệ của con người với ba loại Đấng Thiên Nhân—các Chúa Tể Bầu Hành Tinh, các Chúa Tể Dãy và Chúa Tể Hệ Hành Tinh (Hành Tinh Thượng Đế).

788. Within a solar system, groupings of men are as cells. In relation to the Solar Logos, is it legitimate to look upon Ashrams as cells?

788. Trong một hệ mặt trời, các nhóm người là như những tế bào. Liên hệ với Thái dương Thượng đế, có chính đáng không khi xem các ashram như những tế bào?

Finally, both work, therefore, in a dual manner and each demonstrates both attraction and repulsion.

Sau cùng, do đó cả hai đều hoạt động theo cách nhị phân và mỗi bên đều biểu lộ cả hấp dẫn lẫn đẩy lùi.

789. We remember that we are dealing with the condition of and problems shared by a Solar Logos and a man.

789. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đang bàn đến trạng thái và các vấn đề được chia sẻ bởi một Thái dương Thượng đế và một con người.

Attraction of matter to Spirit and the building of a form for the use of Spirit is the result of electrical energy in the universe, which in each case brings the lesser lives or spheres into its range of influence.

Sự hấp dẫn của vật chất đối với Tinh thần và việc xây dựng một hình tướng để Tinh thần sử dụng là kết quả của năng lượng điện trong vũ trụ, năng lượng này trong mỗi trường hợp đưa các sự sống hay các khối cầu nhỏ hơn vào trong phạm vi ảnh hưởng của nó.

790. This is the first stage of a threefold process and relates to the Pleiadian impulse. The Pleiades are the source of “electrical energy”.

790. Đây là giai đoạn thứ nhất của một tiến trình tam phân và liên hệ với xung lực Pleiades. Pleiades là nguồn của “năng lượng điện”.

791. We are linking “electrical energy” to the Law of Attraction. We are discussing, perhaps, the second aspect of Fohat as Eros. Electrical energy, in this case, is a form-builder.

791. Chúng ta đang liên kết “năng lượng điện” với Định luật Hấp Dẫn. Có lẽ chúng ta đang bàn đến phương diện thứ hai của Fohat như Eros. Năng lượng điện, trong trường hợp này, là một đấng kiến tạo hình tướng.

792. The material lives must be brought within the sphere of influence of Spirit. Electrical energy accomplishes this.

792. Các sự sống vật chất phải được đưa vào trong phạm vi ảnh hưởng của Tinh thần. Năng lượng điện thực hiện điều này.

793. The attracted material units obscure the Spirit, but a great act of service is thereby arranged.

793. Các đơn vị vật chất được hấp dẫn làm che khuất Tinh thần, nhưng nhờ đó một hành vi phụng sự lớn lao được sắp đặt.

The magnetic force, the life of the Logos gathers together His body of manifestation. The magnetic force of the Heavenly Man, the planetary Logos, gathers out of the solar ring-pass-not that which He needs for each incarnation.

Mãnh lực từ tính, sự sống của Thượng đế, tập hợp lại thể biểu hiện của Ngài. Mãnh lực từ tính của Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng Đế, tập hợp từ vòng-giới-hạn thái dương điều mà Ngài cần cho mỗi lần lâm phàm.

794. Notice the use of the words “energy” and “force”. We are dealing with electrical energy and magnetic force.

794. Hãy lưu ý việc dùng các từ “năng lượng” và “mãnh lực”. Chúng ta đang bàn đến năng lượng điện và mãnh lực từ tính.

795. We are focusing upon a process of selectivity conditioned by the karma of the gatherer and of the gathered.

795. Chúng ta đang tập trung vào một tiến trình chọn lọc được tác động bởi nghiệp quả của kẻ tập hợp và của những gì được tập hợp.

796. It is as if, for the duration of manifestation, both factors are attracted to each other—the one who serves as logos and the lesser units gathered by the logos (whether that logos is the central life of an atom, a man, a Planetary Logos or a Solar Logos).

796. Dường như trong suốt thời kỳ biểu hiện, cả hai yếu tố đều bị hấp dẫn lẫn nhau—đấng phụng sự như một logos và các đơn vị nhỏ hơn được logos tập hợp (dù logos ấy là sự sống trung tâm của một nguyên tử, một con người, một Hành Tinh Thượng Đế hay một Thái dương Thượng đế).

[Page 284]

[Page 284]

The magnetic force of the Ego gathers, at each rebirth, matter within the particular sphere or scheme within which the Ego has place.

Mãnh lực từ tính của chân ngã, trong mỗi lần tái sinh, tập hợp vật chất trong khối cầu hay hệ hành tinh đặc thù mà trong đó chân ngã có chỗ đứng.

797. This matter is pre-conditioned by the previous incarnation of the particular Ego. The matter gathered has already been tinged by the quality of the Ego through frequent, former association.

797. Vật chất này đã được tác động trước bởi lần lâm phàm trước của chân ngã đặc thù ấy. Vật chất được tập hợp đã mang sắc thái phẩm tính của chân ngã do sự liên kết thường xuyên trước đây.

The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions, and the one who is the breath itself, despatching the lives to the reservoir of substance, or recalling them at will to resume their relation to him. (R&I 103)

Trọng tâm hoạt động chuyển từ thể hoạt động sang thực thể hoạt động bên trong thể ấy, bậc chủ của hoàn cảnh quanh mình, người điều khiển những gì mình sở hữu, và đấng chính là hơi thở, phóng đi các sự sống vào kho chứa chất liệu, hoặc gọi chúng trở lại theo ý muốn để tiếp tục mối liên hệ của chúng với y. (R&I 103)

798. The same must be true of the Solar Logos and the Planetary Logos. They are (through previous experience) related to that which they gather. And when they are gathered by a far greater Entity, it is as a result of former association.

798. Điều tương tự hẳn cũng đúng đối với Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng Đế. Các Ngài có liên hệ (qua kinh nghiệm trước đây) với điều mà Các Ngài tập hợp. Và khi Các Ngài được một Thực Thể lớn lao hơn rất nhiều tập hợp, điều đó là kết quả của sự liên kết trước kia.

799. When the Ego takes its ‘rest’ between incarnations, the matter previously conditioned by the Ego is also ‘resting’ within a “reservoir of life”

799. Khi chân ngã “nghỉ ngơi” giữa các lần nhập thể, vật chất trước đó đã được chân ngã tác động cũng đang “nghỉ ngơi” trong một “kho chứa sự sống”

So on down the scale, we find the lesser pursuing its round ever within the greater.

Cứ thế đi xuống theo thang bậc, chúng ta thấy cái nhỏ hơn luôn theo đuổi cuộc tuần hoàn của nó bên trong cái lớn hơn.

800. Even the Universal Logos pursues its round with the GREATER—the GREATEST OF ALL POSSIBLE—the ABSOLUTE.

800. Ngay cả Thượng đế Vũ Trụ cũng theo đuổi cuộc tuần hoàn của Ngài bên trong ĐẤNG LỚN HƠN—ĐẤNG VĨ ĐẠI NHẤT TRONG MỌI KHẢ THỂ—ĐẤNG TUYỆT ĐỐI.

Therefore we have (during a period of Attraction and Repulsion, or a life cycle) that which we call Time and Space, and this holds equally true in the life cycle of a Logos or an ant, or a crystal.

Do đó chúng ta có (trong một thời kỳ Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, hay một chu kỳ sự sống) điều mà chúng ta gọi là Thời Gian và Không Gian, và điều này cũng đúng như nhau trong chu kỳ sự sống của một Thượng đế, một con kiến, hay một tinh thể.

801. A life cycle is by definition a period of attraction and repulsion. Between the poles the life cycle occurs. The ‘space’ for the occurrence of every life cycle is situated in a specific magnetic and repulsive relation to the two poles. That relation changes through the process of evolution, moving away from matter and towards Spirit. In other words, the attraction towards matter gives way to repulsion from matter, and the repulsion from Spirit gives way to attraction to Spirit.

801. Theo định nghĩa, một chu kỳ sự sống là một thời kỳ hấp dẫn và đẩy lùi. Chu kỳ sự sống xảy ra giữa hai cực. “Không gian” cho sự xảy ra của mọi chu kỳ sự sống được đặt trong một mối liên hệ từ tính và đẩy lùi đặc thù với hai cực ấy. Mối liên hệ đó thay đổi qua tiến trình tiến hoá, di chuyển xa khỏi vật chất và hướng về Tinh thần. Nói cách khác, sự hấp dẫn đối với vật chất nhường chỗ cho sự đẩy lùi khỏi vật chất, và sự đẩy lùi khỏi Tinh thần nhường chỗ cho sự hấp dẫn đối với Tinh thần.

802. The condition of Spirit and root Matter is timeless and spaceless. Through their electrical, magnetic interplay limited perception begins and thus begin time and space.

802. Trạng thái của Tinh thần và Vật chất căn bản là phi thời gian và phi không gian. Qua sự tương tác điện và từ tính của chúng, tri giác hữu hạn bắt đầu, và như thế thời gian và không gian bắt đầu.

803. Unless attraction and repulsion are operative we will not have time and space.

803. Nếu hấp dẫn và đẩy lùi không hoạt động, chúng ta sẽ không có thời gian và không gian.

804. Or, time and space manifest only during periods of attraction and repulsion between Spirit and Matter.

804. Hoặc, thời gian và không gian chỉ biểu hiện trong những thời kỳ có hấp dẫn và đẩy lùi giữa Tinh thần và Vật chất.

805. The coming together of Spirit and Matter create time and space and also bring about the effective emergence into prominence of the second aspect of divinity (the ‘Universe Builder’) with its second law—the Law of Attraction—coeval with time and space.

805. Sự hội tụ của Tinh thần và Vật chất tạo ra thời gian và không gian, đồng thời cũng làm xuất hiện một cách hữu hiệu và nổi bật phương diện thứ hai của thiên tính (Đấng “Kiến Tạo Vũ Trụ”) với định luật thứ hai của nó—Định luật Hấp Dẫn—đồng thời với thời gian và không gian.

806. We judge then that the following ideas are closely related:

806. Vậy chúng ta kết luận rằng các ý tưởng sau đây có liên hệ mật thiết với nhau:

a. The attraction and repulsion of Spirit and Matter

a. Sự hấp dẫn và đẩy lùi của Tinh thần và Vật chất

b. The Law of Attraction and Repulsion

b. Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi

c. The Law of Periodicity

c. Định luật Chu Kỳ

d. Time and Space

d. Thời Gian và Không Gian

There are cycles of activity in matter, due to some energising Will, and then Time and Space are known.

Có những chu kỳ hoạt động trong vật chất, do một Ý Chí tiếp năng lượng nào đó, và khi ấy Thời Gian và Không Gian được biết đến.

807. Unless there is a cycle of activity in matter, Time and Space will not be known.

807. Nếu không có một chu kỳ hoạt động trong vật chất, Thời Gian và Không Gian sẽ không được biết đến.

808. The Will (as Spirit or of Spirit) commences the engagement of Spirit and Matter.

808. Ý Chí (như Tinh thần hay của Tinh thần) khởi đầu sự gắn kết của Tinh thần và Vật chất.

809. The genesis of time and space require the instigation of cyclic and spiral cyclic activity in matter as an energizing Will engages with matter.

809. Sự phát sinh của thời gian và không gian đòi hỏi sự khởi phát hoạt động chu kỳ và xoắn ốc-chu kỳ trong vật chất khi một Ý Chí tiếp năng lượng gắn kết với vật chất.

810. We note the phrase, “Time and Space are known”. This phrase points to the fact that Time and Space are perceptions or, as Kant has said, “categories of consciousness”.

810. Chúng ta lưu ý cụm từ “Thời Gian và Không Gian được biết đến”. Cụm từ này chỉ ra sự kiện rằng Thời Gian và Không Gian là những tri giác hay, như Kant đã nói, là “những phạm trù của tâm thức”.

There are cycles of non-being when Time and Space are not, and the energising Will is withdrawn.

Có những chu kỳ phi hiện hữu khi Thời Gian và Không Gian không có, và Ý Chí tiếp năng lượng được rút lại.

811. This is of philosophical importance.

811. Điều này có tầm quan trọng triết học.

812. The only cycle of pure and true non-being is the cycle of the ABSOLUTE—as GOD-ALL-IN-ALL.

812. Chu kỳ duy nhất của phi hiện hữu thuần túy và chân thực là chu kỳ của ĐẤNG TUYỆT ĐỐI—như THƯỢNG ĐẾ-TẤT CẢ-TRONG-TẤT CẢ.

813. Paradoxically, although ‘within’ the ABSOLUTE, Time and Space are not, nevertheless this ‘STATE’ occurs periodically!

813. Một cách nghịch lý, dù “bên trong” ĐẤNG TUYỆT ĐỐI, Thời Gian và Không Gian không có, tuy nhiên “TRẠNG THÁI” này lại xảy ra một cách chu kỳ!

814. The cycles of non-being are devoid of the sequential changes caused by the Law of Attraction and Repulsion.

814. Các chu kỳ phi hiện hữu không có những biến đổi tuần tự do Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi gây ra.

815. We see how fundamental to the production of Time and Space is the “energizing Will”.

815. Chúng ta thấy “Ý Chí tiếp năng lượng” có tính nền tảng đến mức nào đối với việc tạo ra Thời Gian và Không Gian.

816. The Will is that which goes forth from the Real in order to create the un-Real.

816. Ý Chí là điều phát xuất từ Thực Tại để tạo ra cái phi-thực tại.

817. The Will is the catalyst for the emergence of interactive duality.

817. Ý Chí là chất xúc tác cho sự xuất hiện của nhị nguyên tính tương tác.

818. The cycles of non-being need not be absolute. Each entity enters, periodically, relative cycles of non-being relative.

818. Các chu kỳ phi hiện hữu không nhất thiết phải là tuyệt đối. Mỗi thực thể đi vào, theo chu kỳ, những chu kỳ phi hiện hữu tương đối.

But we must not forget that this is purely relative, and only to be considered from the standpoint of the particular life or entity involved, and the special stage of awareness reached. All must be interpreted in terms of consciousness.

Nhưng chúng ta không được quên rằng điều này hoàn toàn tương đối, và chỉ được xem xét từ quan điểm của sự sống hay thực thể đặc thù có liên quan, cùng giai đoạn nhận biết đặc biệt đã đạt được. Mọi sự đều phải được diễn giải theo tâm thức.

819. There are, apparently, many types of cycles of relative non-being, but, in cosmos, they are more an experience than a fact.

819. Hiển nhiên có nhiều loại chu kỳ của phi hiện hữu tương đối, nhưng trong vũ trụ, chúng là một kinh nghiệm hơn là một sự kiện.

820. In deepest sleep, time and space appear as naught—at least the awakening one remembers a period of apparent non-existence or nothingness. This is not to say that the abstracted consciousness was not conscious and aware on levels impenetrable to the waking consciousness.

820. Trong giấc ngủ sâu nhất, thời gian và không gian dường như là hư không—ít nhất người thức dậy nhớ lại một thời kỳ dường như không hiện hữu hay hư vô. Điều này không có nghĩa là tâm thức được rút ra ấy đã không có tâm thức và nhận biết trên những cấp độ mà tâm thức thức tỉnh không thể xuyên thấu.

821. A cycle of relative non-being is a cycle of abstraction, or pralaya but not a cycle of extinction.

821. Một chu kỳ phi hiện hữu tương đối là một chu kỳ trừu xuất, hay giai kỳ qui nguyên, nhưng không phải là một chu kỳ của sự diệt tuyệt.

822. Perhaps may be that within cosmos, any cycle of non-being is really illusory, for the cosmos is being in manifestation, and consciousness is inextinguishable (though its content in higher worlds is often unremembered by the human being immersed in the limited consciousness of the lower worlds).

822. Có lẽ trong vũ trụ, bất kỳ chu kỳ phi hiện hữu nào thực ra cũng là ảo tưởng, vì vũ trụ là bản thể đang biểu hiện, và tâm thức là bất khả diệt (dù nội dung của nó trong các thế giới cao thường không được con người đang chìm trong tâm thức hạn hẹp của các thế giới thấp ghi nhớ).

823. We now deal with the meaning of three kinds of cycles. In the immediately foregoing excerpts DK mentions only two.

823. Giờ đây chúng ta bàn đến ý nghĩa của ba loại chu kỳ. Trong các trích đoạn ngay trước đó, Chân sư DK chỉ nhắc đến hai loại.

The first type of cycle, or the period involved in one entire revolution of a sphere around its own centre of consciousness, is to the particular Entity involved (be he God or man) a lesser cycle.

Loại chu kỳ thứ nhất, hay thời kỳ bao hàm trong một vòng quay trọn vẹn của một khối cầu quanh trung tâm tâm thức riêng của nó, đối với Thực Thể đặc thù có liên quan (dù là Thượng đế hay con người) là một chu kỳ nhỏ hơn.

824. This is rotation upon an axis.

824. Đây là sự tự quay trên một trục.

825. One revolution/rotation of this kind is, for the Earth, a day and night cycle. Clearly, for the Earth, this is a lesser cycle when compared to the yearly revolution of the Earth around the Sun.

825. Một vòng quay/tự quay loại này, đối với Trái Đất, là một chu kỳ ngày và đêm. Rõ ràng, đối với Trái Đất, đây là một chu kỳ nhỏ hơn khi so với cuộc cách mạng hằng năm của Trái Đất quanh Mặt Trời.

826. For a human being, one lesser cycle is a complete rotation of all rotating sheaths. We do not know the periods for such rotations. The greater cycle is the cycle of incarnation.

826. Đối với một con người, một chu kỳ nhỏ hơn là một sự quay trọn vẹn của mọi vỏ bọc đang quay. Chúng ta không biết các chu kỳ của những sự quay như thế. Chu kỳ lớn hơn là chu kỳ nhập thể.

827. This type of cycle correlates to the third aspect of divinity and to rotary motion.

827. Loại chu kỳ này tương ứng với phương diện thứ ba của thiên tính và với chuyển động quay tròn.

The second type of cycle or the period involved in the complete circling of an orbit, or the revolution of a sphere around the centre of which it is an integral part, we can consider as a greater cycle.

Loại chu kỳ thứ hai hay thời kỳ bao hàm trong sự đi trọn một quỹ đạo, hay cuộc cách mạng của một khối cầu quanh trung tâm mà nó là một phần toàn vẹn, chúng ta có thể xem là một chu kỳ lớn hơn.

828. Thus we have rotation, per se, as a lesser cycle and revolution per se, as a greater cycle.

828. Như vậy chúng ta có sự tự quay, chính nó, như một chu kỳ nhỏ hơn và sự cách mạng, chính nó, như một chu kỳ lớn hơn.

829. This second type of cycle correlates to the second aspect of divinity and to spiral-cyclic motion.

829. Loại chu kỳ thứ hai này tương ứng với phương diện thứ hai của thiên tính và với chuyển động xoắn ốc-chu kỳ.

830. For man it will be kind of ‘revolution’ around his Ego in the reincarnational cycle.

830. Đối với con người, đó sẽ là một loại “cách mạng” quanh chân ngã của y trong chu kỳ tái sinh.

831. For the Planetary Logos, this type of cycle will be a revolution around the Sun, defining the year.

831. Đối với Hành Tinh Thượng Đế, loại chu kỳ này sẽ là một cuộc cách mạng quanh Mặt Trời, xác định năm.

832. For the Solar Logos this cycle will be a revolution (we are told) of the solar system around the Pleiades (especially with reference to the central star of the Pleiades, Alcyone).

832. Đối với Thái dương Thượng đế, chu kỳ này sẽ là một cuộc cách mạng (như chúng ta được cho biết) của hệ mặt trời quanh Pleiades (đặc biệt liên hệ đến ngôi sao trung tâm của Pleiades, Alcyone).

The third type of cycle has not so much to do with the transition of the form through a certain location in space but as the cycle which includes both the greater and the lesser cycles.

Loại chu kỳ thứ ba không liên hệ nhiều đến sự chuyển tiếp của hình tướng qua một vị trí nào đó trong không gian cho bằng là chu kỳ bao gồm cả chu kỳ lớn hơn lẫn chu kỳ nhỏ hơn.

833. This type of cycle, we can infer, will rightly be correlated with the first aspect of divinity and with the first type of motion—progressive.

833. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng loại chu kỳ này sẽ được tương ứng đúng đắn với phương diện thứ nhất của thiên tính và với loại chuyển động thứ nhất—tiến triển.

It has to do with the response of the ENTITY, to Whom our solar Logos is but a centre in His Body, to the contacts made on that centre and on its cosmic opposite.

Nó liên hệ đến sự đáp ứng của THỰC THỂ mà đối với Ngài, Thái dương Thượng đế của chúng ta chỉ là một trung tâm trong Thể của Ngài, đối với những tiếp xúc được tạo ra trên trung tâm ấy và trên cực đối nghịch vũ trụ của nó.

834. A great triangle is produced between the ENTITY (let us call it a Cosmic Logos) and two Solar Logoi—our Solar Logos and the Solar Logos who is His polar opposite. We have already speculated on the possibility of either the Logos of Sirius or the Logos of Alpha Centauri—the two stars closest to the Sun.

834. Một tam giác lớn được tạo ra giữa THỰC THỂ ấy (chúng ta hãy gọi là một Thượng đế Vũ Trụ) và hai Thái dương Thượng đế—Thái dương Thượng đế của chúng ta và Thái dương Thượng đế là cực đối nghịch của Ngài. Chúng ta đã suy đoán trước đây về khả năng đó là Thượng đế của Sirius hoặc Thượng đế của Alpha Centauri—hai ngôi sao gần Mặt Trời nhất.

835. In this type of cycle, the Cosmic Logos is responding to the interplay between Solar Logoi.

835. Trong loại chu kỳ này, Thượng đế Vũ Trụ đang đáp ứng với sự tương tác giữa các Thái dương Thượng đế.

836. If we try to keep our perspective in proportion, the ENTITY concerned will not be the Super-Cosmic Logos or the One About Whom Naught May Be Said, because it is the constellation of which our Logos is one small part which is a center in such a BEING. (cf. TCF 293)

836. Nếu chúng ta cố giữ tầm nhìn của mình đúng tỉ lệ, THỰC THỂ được nói đến sẽ không phải là Thượng đế Siêu Vũ Trụ hay Đấng Bất Khả Tư Nghị, bởi vì chính chòm sao mà Thượng đế của chúng ta là một phần nhỏ trong đó mới là một trung tâm trong một HỮU THỂ như thế. (xem TCF 293)

These two centres, for instance, our solar system and its cosmic opposite, in their interaction create a cycle period which has a relation to the "ONE WHO IS ABOVE OUR LOGOS."

Chẳng hạn, hai trung tâm này, hệ mặt trời của chúng ta và cực đối nghịch vũ trụ của nó, trong sự tương tác của chúng tạo ra một chu kỳ có liên hệ với "ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA."

837. This whole subject is blinded. We have made some inferences elsewhere in this commentary.

837. Toàn bộ chủ đề này bị che giấu. Chúng ta đã đưa ra một vài suy luận ở nơi khác trong phần bình luận này.

838. The ONE WHO IS ABOVE OUR LOGOS is probably a Cosmic Logos and not a Super-Cosmic Logos.

838. ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA có lẽ là một Thượng đế Vũ Trụ chứ không phải một Thượng đế Siêu Vũ Trụ.

839. One suspects that in considering these two Solar Logoi there is an analogy to the Earth (related to our Logos, perhaps) and Venus (related to the other Logos). If the analogy is appropriate, the other Logos is probably the Logos of Sirius.

839. Người ta nghi rằng khi xét đến hai Thái dương Thượng đế này có một sự tương đồng với Trái Đất (có lẽ liên hệ với Thượng đế của chúng ta) và Sao Kim (liên hệ với Thượng đế kia). Nếu sự tương đồng ấy thích hợp, thì Thượng đế kia có lẽ là Thượng đế của Sirius.

840. Have we noticed how great a leap there has been between the second type of cycle and the third?

840. Chúng ta có nhận thấy bước nhảy lớn đến mức nào giữa loại chu kỳ thứ hai và loại thứ ba không?

841. One suspects that in relation to this third cycle there will be a “driving forward through space” towards that great ENTITY which will act as an attractor for the two Solar Logoi under discussion.

841. Người ta nghi rằng liên hệ với chu kỳ thứ ba này sẽ có một “sự thúc đẩy tiến tới xuyên qua không gian” hướng về THỰC THỂ vĩ đại ấy, Đấng sẽ hoạt động như một lực hút đối với hai Thái dương Thượng đế đang được bàn đến.

This is, of course, beyond human conception, but must be included in our enumeration of cycles if exactitude is to be achieved.

Dĩ nhiên điều này vượt ngoài khả năng quan niệm của con người, nhưng phải được đưa vào sự liệt kê các chu kỳ của chúng ta nếu muốn đạt được tính chính xác.

842. On the solar logoic level

842. Ở cấp độ thái dương logoic

a. The entire solar system has one revolution every 100,000. or so years.

a. Toàn bộ hệ mặt trời có một vòng cách mạng mỗi 100,000. năm hoặc khoảng đó.

b. The entire solar system revolves (we are told) around the Pleiades every 250,000. years or so.

b. Toàn bộ hệ mặt trời quay quanh (như chúng ta được cho biết) Pleiades mỗi 250,000. năm hoặc khoảng đó.

c. Our solar system and another to which ours is intimately related, are related to a greater ENTITY, and this relationship should involve the motion of “progress onward”.

c. Hệ mặt trời của chúng ta và một hệ khác mà hệ của chúng ta có liên hệ mật thiết, đều có liên hệ với một THỰC THỂ lớn hơn, và mối liên hệ này hẳn phải bao hàm chuyển động của “sự tiến triển đi tới”.

d. DK gives a hint when He says that this third type of cycle does not involve the “transition of the form through a certain location in space”, as do the first and second cycles. If the motion of “progress onward” were involved, the location in space would not be a “certain location” but would be forever changing with the “driving forward” of the two Logoi towards their ‘Attractor’.

d. Chân sư DK đưa ra một gợi ý khi Ngài nói rằng loại chu kỳ thứ ba này không bao hàm “sự chuyển tiếp của hình tướng qua một vị trí nào đó trong không gian”, như hai chu kỳ thứ nhất và thứ hai. Nếu chuyển động của “sự tiến triển đi tới” có liên quan, thì vị trí trong không gian sẽ không phải là một vị trí “nhất định” mà sẽ luôn thay đổi cùng với “sự thúc đẩy tiến tới” của hai Thượng đế hướng về ‘Đấng Hấp Dẫn’ của Các Ngài.

e. This cycle would involve direct movement towards a cosmic center, and would naturally include the other two cycles of the Solar Logos—axial rotation and orbital revolution. The “driving forward” would render orbital revolution spiral-cyclic. So would it be, as well, for axial rotation

e. Chu kỳ này sẽ bao hàm chuyển động trực tiếp hướng về một trung tâm vũ trụ, và dĩ nhiên sẽ bao gồm hai chu kỳ kia của Thái dương Thượng đế—sự tự quay trên trục và sự cách mạng theo quỹ đạo. “Sự thúc đẩy tiến tới” sẽ làm cho sự cách mạng theo quỹ đạo trở thành xoắn ốc-chu kỳ. Điều đó cũng sẽ đúng đối với sự tự quay trên trục

843. Such a cycle in relation to man would relate to a return to the Monad.

843. Một chu kỳ như thế liên hệ với con người sẽ liên hệ đến sự trở về với chân thần.

844. We cannot hope to penetrate the veils hiding such cosmic occurrences. It does seem reasonable, however, to infer that this third type of cycle relates to Law of Monadic Return on both a human and solar logoic level.

844. Chúng ta không thể hy vọng xuyên thấu những bức màn che giấu các biến cố vũ trụ như thế. Tuy nhiên, có vẻ hợp lý khi suy ra rằng loại chu kỳ thứ ba này liên hệ với Định luật Trở Về của Chân Thần trên cả cấp độ con người lẫn cấp độ thái dương logoic.

845. To simplify, the first type of cycle can be correlated with the personality.

845. Để đơn giản hóa, loại chu kỳ thứ nhất có thể được tương ứng với phàm ngã.

846. The second type of cycle is a soul or egoic cycle.

846. Loại chu kỳ thứ hai là một chu kỳ linh hồn hay chân ngã.

847. The third type of cycle is inferred as a monadic cycle.

847. Loại chu kỳ thứ ba được suy ra là một chu kỳ chân thần.

848. The material we have been considering is deeply veiled and our intelligence is not sufficient to penetrate. DK uses the word “exceedingly abstruse”, and He means it!

848. Tài liệu mà chúng ta đang xem xét bị che phủ rất sâu và trí tuệ của chúng ta không đủ để xuyên thấu. Chân sư DK dùng từ “cực kỳ thâm áo”, và Ngài thực sự có ý như vậy!

S3S7: TCF 285-296

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Người ta đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với cuốn TCF ở bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.

VIII. WHY IS KNOWLEDGE BOTH EXOTERIC AND ESOTERIC? 16

VIII. TẠI SAO TRI THỨC VỪA NGOẠI MÔN VỪA NỘI MÔN? 16

1. This seems an unusual question. After many years of studying esotericism, the very foundation of our study predicates a distinction between esoteric and exoteric knowledge.

1. Đây có vẻ là một câu hỏi khác thường. Sau nhiều năm nghiên cứu huyền bí học, chính nền tảng của việc học của chúng ta giả định một sự phân biệt giữa tri thức nội môn và ngoại môn.

2. Perhaps the answers to be offered are not as obvious as we may suppose.

2. Có lẽ những câu trả lời được đưa ra không hiển nhiên như chúng ta có thể nghĩ.

Footnote 16: In the Secret Doctrine we are told that there are seven branches of knowledge mentioned in the Puranas. S. D., I, 192.

Cước chú 16: Trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta được cho biết rằng có bảy ngành tri thức được nhắc đến trong các Purana. S. D., I, 192.

3. The Puranas are considered more exoteric than either the Vedas or Upanishads.

3. Các Purana được xem là ngoại môn hơn cả Veda lẫn Upanishad.

Correspondences can here be worked out in connection with:—

Những tương ứng ở đây có thể được triển khai liên hệ với:—

4. Perhaps some indications concerning these correspondences can be offered. It is probable that the correspondences will not always fit neatly.

4. Có lẽ có thể đưa ra một vài chỉ dẫn liên quan đến những tương ứng này. Có khả năng là các tương ứng ấy sẽ không phải lúc nào cũng khớp gọn ghẽ.

a. The seven Rays, the Lords of Sacrifice, Love and Knowledge.

a. Bảy cung, các Chúa Tể của Hi Sinh, Bác Ái và Tri Thức.

5. It is interesting that all seven of the rays are included under three headings—sacrifice, love and knowledge.

5. Thật thú vị khi cả bảy cung đều được bao gồm dưới ba tiêu đề—hi sinh, bác ái và tri thức.

6. It may be said with reason that all of the seven are characterized by all three of the qualities.

6. Có thể nói một cách hợp lý rằng cả bảy cung đều được đặc trưng bởi cả ba phẩm tính ấy.

7. From another perspective the Lord of Sacrifice may be considered the Lords upon the first ray; the Lord of Love may be considered the Ray Lord upon the second ray; the Lords of Knowledge will be the Ray Lords on the five Brahmic Rays—three, four, five, six and seven.

7. Từ một góc nhìn khác, Chúa Tể của Hi Sinh có thể được xem là các Chúa Tể trên cung một; Chúa Tể của Bác Ái có thể được xem là Chúa Tể Cung trên cung hai; các Chúa Tể của Tri Thức sẽ là các Chúa Tể Cung trên năm cung Brahma—ba, bốn, năm, sáu và bảy.

8. From yet another perspective the Lords of Sacrifice can be considered the Ray Lords expressing through the first and seventh rays: the Lords of Love can be considered the Ray Lords expressing through the second, fourth and sixth rays; the Lords of Knowledge can be considered as the Ray Lords expressing through the third and fifth rays.

8. Từ một góc nhìn khác nữa, các Chúa Tể của Hi Sinh có thể được xem là các Chúa Tể Cung biểu lộ qua cung một và cung bảy; các Chúa Tể của Bác Ái có thể được xem là các Chúa Tể Cung biểu lộ qua cung hai, cung bốn và cung sáu; các Chúa Tể của Tri Thức có thể được xem là các Chúa Tể Cung biểu lộ qua cung ba và cung năm.

b. The seven states of consciousness.

b. Bảy trạng thái tâm thức.

1. Each state of consciousness correlates with one of the seven planes and is principally expressive on that particular plane.

1. Mỗi trạng thái tâm thức tương ứng với một trong bảy cõi và chủ yếu biểu lộ trên cõi đặc thù ấy.

c. The seven states of matter or planes.

c. Bảy trạng thái của vật chất hay các cõi.

1. We are speaking here of the atomic structure of the planes. From another perspective, the planes can be equated with states of consciousness.

1. Ở đây chúng ta đang nói về cấu trúc nguyên tử của các cõi. Từ một góc nhìn khác, các cõi có thể được xem là tương đương với các trạng thái tâm thức.

d. The seven types of forces.

d. Bảy loại mãnh lực.

1. These are the seven Shaktis or the seven types of energy/force emanating from the source—i.e., the Monad.

1. Đây là bảy Shaktis hay bảy loại năng lượng/mãnh lực phát xuất từ nguồn cội—tức là chân thần.

e. The seven Initiations and many other septenates.

e. Bảy lần điểm đạo và nhiều bộ bảy khác.

1. The seven initiations give entrée into the seven states of consciousness which are fully expressed upon the seven systemic or solar planes.

1. Bảy lần điểm đạo cho phép đi vào bảy trạng thái tâm thức được biểu lộ đầy đủ trên bảy cõi hệ thống hay thái dương.

The Gnosis, the hidden knowledge, is the seventh Principle, the six schools of Indian philosophy are the six principles. —S. D., I, 299.

Minh triết, tri thức ẩn tàng, là Nguyên khí thứ bảy; sáu trường phái triết học Ấn Độ là sáu nguyên khí. —S. D., I, 299.

1. The six surround the one making the seven. Similarly, twelve surround the one making the thirteen as in the case of Christ and His twelve disciples.

1. Sáu cái bao quanh một cái, tạo thành bảy. Tương tự như vậy, mười hai cái bao quanh một cái, tạo thành mười ba, như trong trường hợp của Đức Christ và mười hai đệ tử của Ngài.

2. If the seventh principle is atma, then the Gnosis corresponds with atmic knowledge which is considered “hidden knowledge”. The Gnosis does not correspond to the Monad.

2. Nếu nguyên khí thứ bảy là atma, thì Gnosis tương ứng với tri thức atma, vốn được xem là “tri thức ẩn tàng”. Gnosis không tương ứng với chân thần.

3. If, however, the “Atman” is considered the seventh principle (and the “Atman” is not atma but the Spirit) and then the Gnosis would correspondence to the Monad.

3. Tuy nhiên, nếu “Atman” được xem là nguyên khí thứ bảy (và “Atman” không phải là atma mà là tinh thần) thì Gnosis sẽ tương ứng với chân thần.

These six schools are:—

Sáu trường phái này là:—

a. The school of Logic.. Proof of right perception.

a. Trường phái Luận lý.. Chứng minh về tri giác đúng đắn.

1. This can be considered a school in which correct thinking is pursued.

1. Điều này có thể được xem là một trường phái trong đó tư duy đúng đắn được theo đuổi.

2. The senses can mislead, and common thoughts can bewilder. Perceptions must be verified through the powers of logical thought.

2. Các giác quan có thể đánh lừa, và những tư tưởng thông thường có thể làm rối trí. Các tri giác phải được kiểm chứng qua các năng lực của tư duy luận lý.

3. The rays involved are especially the third and the fifth.

3. Các cung liên hệ đặc biệt là cung ba và cung năm.

4. Planets concerned are Saturn (the planet of logic), Mercury (the planet of thought) and Venus (the planet of lucidity).

4. Các hành tinh liên quan là Sao Thổ (hành tinh của luận lý), Sao Thủy (hành tinh của tư tưởng) và Sao Kim (hành tinh của sự minh triệt).

5. The plane involved is especially the mental plane.

5. Cõi liên hệ đặc biệt là cõi trí.

6. We may infer that the initiation concerned is the third.

6. Chúng ta có thể suy ra rằng lần điểm đạo liên hệ là lần điểm đạo thứ ba.

b. The atomic school... System of particulars. Elements.

b. Trường phái nguyên tử... Hệ thống các biệt thể. Các nguyên tố.

Alchemy and chemistry.

Thuật luyện kim và hóa học.

1. This can be considered the school in which matter is scientifically investigated and transmuted.

1. Điều này có thể được xem là trường phái trong đó vật chất được khảo cứu một cách khoa học và được chuyển hoá.

2. Alchemy is found upon the seventh ray and chemistry upon the fifth. Both the fifth and seventh rays (concrete rays) pursue an understanding of particulars. An understanding of “elements” or essences is reached through analysis—again upon the fifth ray.

2. Thuật luyện kim thuộc cung bảy và hóa học thuộc cung năm. Cả cung năm lẫn cung bảy (các cung cụ thể) đều theo đuổi sự thấu hiểu về các biệt thể. Sự thấu hiểu về các “nguyên tố” hay tinh túy đạt được qua phân tích—một lần nữa, trên cung năm.

3. The planets involved are Uranus (seventh ray) and Venus (fifth ray). Both of these are involved in the alchemical process.

3. Các hành tinh liên hệ là Sao Thiên Vương (cung bảy) và Sao Kim (cung năm). Cả hai đều tham dự vào tiến trình luyện kim.

4. The plane specifically involved is the seventh, though higher planes may also be studied as regards their particulars, their elements, and the transmutative process.

4. Cõi đặc biệt liên hệ là cõi thứ bảy, mặc dù các cõi cao hơn cũng có thể được nghiên cứu xét về các biệt thể, các nguyên tố và tiến trình chuyển hoá của chúng.

5. We may infer that the initiation concerned is especially the first, involving the act of transmutation.

5. Chúng ta có thể suy ra rằng lần điểm đạo liên hệ đặc biệt là lần điểm đạo thứ nhất, bao hàm hành vi chuyển hoá.

6. As suggested above, there will not be a neat, one-to-one correspondence between the septenates given in the excerpt above, and the six or seven approaches to philosophical understanding.

6. Như đã gợi ý ở trên, sẽ không có một sự tương ứng gọn ghẽ, một-một giữa các bộ bảy được nêu trong đoạn trích trên và sáu hay bảy cách tiếp cận đối với sự thấu hiểu triết học.

c. The Sankhya school... System of numbers. The materialistic school. The theory of the seven states of matter or prakriti.

c. Trường phái Sankhya... Hệ thống các con số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về bảy trạng thái của vật chất hay prakriti.

1. The rays most concerned with mathematics are the second, third, fourth and fifth.

1. Các cung liên hệ nhiều nhất với toán học là cung hai, cung ba, cung bốn và cung năm.

2. Since the “Sankhya school” is to be considered the “materialistic school” we can pretty well eliminate the second and fourth rays (which are rays of subjectivity rather than of form when considering form from the material perspective).

2. Vì “trường phái Sankhya” được xem là “trường phái duy vật”, chúng ta khá có thể loại bỏ cung hai và cung bốn (vốn là các cung của tính chủ quan hơn là của hình tướng khi xét hình tướng từ quan điểm vật chất).

3. The seventh ray must also be included because the “seven states of matter” are studied in this school.

3. Cung bảy cũng phải được bao gồm vì “bảy trạng thái của vật chất” được nghiên cứu trong trường phái này.

4. Thus, rays three, five and seven are representative of this school.

4. Do đó, cung ba, cung năm và cung bảy là tiêu biểu cho trường phái này.

5. There is probably also a strong relation to the deva kingdom as the Raja Deva Lords are the beings who inform the seven planes or seven states of matter.

5. Có lẽ cũng có một liên hệ mạnh mẽ với giới thiên thần vì các Raja Deva Lords là những hữu thể thấm nhuần bảy cõi hay bảy trạng thái của vật chất.

6. This school would also be concerned with the principles of form building—considering form as the foundation through which the second aspect of divinity must learn to express.

6. Trường phái này cũng sẽ quan tâm đến các nguyên khí của việc xây dựng hình tướng—xem hình tướng như nền tảng qua đó phương diện thứ hai của thiên tính phải học cách biểu lộ.

7. How does the second school differ from the third, as there seem to be a number of states in common? Perhaps we might say that the third school deals with the planes as a whole and the second school with the particular atoms to be found upon those planes.

7. Trường phái thứ hai khác với trường phái thứ ba như thế nào, khi dường như có một số trạng thái chung? Có lẽ chúng ta có thể nói rằng trường phái thứ ba bàn đến các cõi như những toàn thể, còn trường phái thứ hai bàn đến các nguyên tử biệt thể được tìm thấy trên các cõi ấy.

8. The numerical relationship of the many forms of vibration would be pursued and understood in this school.

8. Mối liên hệ số học của nhiều hình thức rung động sẽ được theo đuổi và thấu hiểu trong trường phái này.

9. A mastery of numbers would also be related to the mastery of mantra, achieved upon the third and seventh rays (both of which during different developmental stages, rule the throat center and both of which are rays of magic).

9. Sự làm chủ các con số cũng sẽ liên hệ với sự làm chủ mantram, đạt được trên cung ba và cung bảy (cả hai, trong những giai đoạn phát triển khác nhau, đều cai quản trung tâm cổ họng và đều là các cung của huyền thuật).

10. The adherents in this school would understand the sound formulas through which the matter of any plane could be manipulated. There is more third ray in this approach, and more fifth ray to be found in the “atomic school”. Both share the seventh ray.

10. Những người theo trường phái này sẽ hiểu các công thức âm thanh qua đó vật chất của bất kỳ cõi nào cũng có thể được thao tác. Có nhiều cung ba hơn trong cách tiếp cận này, và nhiều cung năm hơn trong “trường phái nguyên tử”. Cả hai cùng chia sẻ cung bảy.

11. It is difficult to infer that the Sankhya school has a relation to any particular initiation.

11. Thật khó suy ra rằng trường phái Sankhya có liên hệ với bất kỳ lần điểm đạo đặc thù nào.

d. The school of Yoga... Union. The rule of daily life. Mysticism.

d. Trường phái Yoga... Hợp nhất. Quy luật của đời sống hằng ngày. Thần bí học.

1. A number of rays are suggested in the procedures of the “school of Yoga”. It is the fourth school and, to a degree, correlates with the fourth ray, which always tends to promote at-one-ment or union.

1. Một số cung được gợi ra trong các thủ tục của “trường phái Yoga”. Đây là trường phái thứ tư và, ở một mức độ nào đó, tương quan với cung bốn, vốn luôn có khuynh hướng thúc đẩy sự hợp nhất hay hiệp nhất.

2. The concept of the “rule of daily life”, however, suggests the seventh ray—the Ray of Law and Order. The mystical factor in this school suggests the sixth ray.

2. Tuy nhiên, khái niệm “quy luật của đời sống hằng ngày” gợi ra cung bảy—Cung của Định luật và Trật tự. Yếu tố thần bí trong trường phái này gợi ra cung sáu.

3. Of course there are many different kinds of yoga, each of them coming forth on one or two rays in particular.

3. Dĩ nhiên có nhiều loại yoga khác nhau, mỗi loại trong số đó xuất hiện đặc biệt trên một hay hai cung.

a Karma Yoga—principally the third and seventh rays

a Karma Yoga—chủ yếu là cung ba và cung bảy

b Laya Yoga—principally the seventh ray

b Laya Yoga—chủ yếu là cung bảy

c Hatha Yoga—principally the fourth ray (according to the Tibetan), though it would be difficult to exclude the seventh ray.

c Hatha Yoga—chủ yếu là cung bốn (theo Chân sư Tây Tạng), mặc dù khó có thể loại trừ cung bảy.

d Bhakti Yoga—principally the sixth ray

d Bhakti Yoga—chủ yếu là cung sáu

e Gnani Yoga—principally the third and fifth rays

e Gnani Yoga—chủ yếu là cung ba và cung năm

f Raja Yoga—principally the second and fifth rays

f Raja Yoga—chủ yếu là cung hai và cung năm

g Agni Yoga—principally the first ray, but the second ray should not be ignored because Agni Yoga is the “Yoga of Synthesis” and synthesis is the second aspect of the will.

g Agni Yoga—chủ yếu là Cung một, nhưng không nên bỏ qua cung hai vì Agni Yoga là “Yoga của Tổng Hợp” và tổng hợp là phương diện thứ hai của ý chí.

1. The idea in relation to Yoga—that two things which are separated must be joined—suggests the general need for the fourth ray, which links and fuses factors which are separated. The second ray does something of the same.

1. Ý tưởng liên hệ với Yoga—rằng hai điều bị tách rời phải được kết hợp—gợi ra nhu cầu tổng quát về cung bốn, vốn nối kết và dung hợp các yếu tố bị tách rời. Cung hai cũng làm điều tương tự ở một mức độ nào đó.

2. Yoga is found related to all planes, all states of consciousness and all initiations.

2. Yoga được thấy là liên hệ với mọi cõi, mọi trạng thái tâm thức và mọi lần điểm đạo.

e. The school of Ceremonial religion... Ritual. Worship of the devas or Gods.

e. Trường phái Tôn giáo nghi lễ... Nghi thức. Sự thờ phụng các thiên thần hay các Thượng đế.

1. This is in many ways a Jupiterian school.

1. Đây theo nhiều phương diện là một trường phái thuộc Sao Mộc.

2. The religious factor suggests the importance of the sixth ray.

2. Yếu tố tôn giáo gợi ra tầm quan trọng của cung sáu.

3. The fact that the religion is “ceremonial” suggests the presence of the seventh ray.

3. Việc tôn giáo này mang tính “nghi lễ” gợi ra sự hiện diện của cung bảy.

4. The “worship of the devas” suggests the presence of both the sixth and seventh rays. The sixth ray is the ‘ray of worship’, and connection with the devas is particular the province of the seventh ray—though all ray types can connect with the devas who are to be found on all rays.

4. “Sự thờ phụng các thiên thần” gợi ra sự hiện diện của cả cung sáu lẫn cung bảy. Cung sáu là ‘cung của sự thờ phụng’, và sự kết nối với các thiên thần đặc biệt thuộc phạm vi của cung bảy—mặc dù mọi loại cung đều có thể kết nối với các thiên thần hiện diện trên mọi cung.

5. In this context the devas are considered as “gods” or shining ones.

5. Trong bối cảnh này, các thiên thần được xem là các “thượng đế” hay các đấng sáng chói.

6. The two parallel evolutions (man and deva) are especially linked upon the seventh and fourth rays.

6. Hai tiến trình tiến hoá song song (con người và thiên thần) được nối kết đặc biệt trên cung bảy và cung bốn.

7. Both the astral and physical planes are especially involved in this school. Right practices and right ritual must be combined with right desire and aspiration.

7. Cả cõi cảm dục lẫn cõi hồng trần đều đặc biệt liên hệ trong trường phái này. Những thực hành đúng đắn và nghi lễ đúng đắn phải được kết hợp với dục vọng và khát vọng đúng đắn.

8. We may infer that the initiations involved are the first and second, especially—both, initiations of the threshold.

8. Chúng ta có thể suy ra rằng các lần điểm đạo liên hệ đặc biệt là lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai—cả hai đều là những lần điểm đạo của ngưỡng cửa.

9. On a higher turn of the spiral, the buddhic plane must be involved for we are dealing with that which religion hopes to invoke—i.e., the unitive sense which is characteristic of buddhi.

9. Trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, cõi Bồ đề phải được bao gồm vì chúng ta đang bàn đến điều mà tôn giáo hy vọng khẩn cầu—tức là cảm thức hợp nhất vốn là đặc trưng của Bồ đề.

f. The Vedanta school... Has to do with non-duality. Deals with the relation of Atma in man to the Logos.

f. Trường phái Vedanta... Liên quan đến phi nhị nguyên. Bàn đến mối liên hệ của Atma trong con người với Logos.

1. This is the highest school of the six schools.

1. Đây là trường phái cao nhất trong sáu trường phái.

2. It is the Divine Will (related to the first ray) that resolves duality into unity and synthesis.

2. Chính Ý Chí thiêng liêng (liên hệ với Cung một) giải quyết nhị nguyên tính thành hợp nhất và tổng hợp.

3. The first ray is the ray of non-duality.

3. Cung một là cung của phi nhị nguyên.

4. We note that the school deals with the “Atma” and not the “Atman”. The “Atman” is pure Spirit. The “Atma” is related to the atmic plane (the “nirvanic plane”) and the spiritual will which emanates from that plane.

4. Chúng ta lưu ý rằng trường phái này bàn đến “Atma” chứ không phải “Atman”. “Atman” là Tinh thần thuần túy. “Atma” liên hệ với cõi atma (cõi “Niết Bàn”) và ý chí tinh thần phát xuất từ cõi đó.

5. It may be questioned whether the atmic plane is a plane of completed non-dualism. It may by hypothesized that monadic identification (achieved on the sixth plane/or second) is required for the full realization of non-dualism.

5. Có thể đặt câu hỏi liệu cõi atma có phải là một cõi của phi nhị nguyên hoàn toàn hay không. Có thể giả định rằng sự đồng hoá chân thần (đạt được trên cõi thứ sáu/hay thứ hai) là cần thiết cho sự chứng nghiệm trọn vẹn về phi nhị nguyên.

6. There is the possibility, however, that when the term “Atma” is used, the “Atman” may be meant, in which case monadic identification would be sought in this school.

6. Tuy nhiên, cũng có khả năng là khi thuật ngữ “Atma” được dùng, người ta thực sự muốn nói đến “Atman”, trong trường hợp đó sự đồng hoá chân thần sẽ được tìm kiếm trong trường phái này.

7. The initiations involved are the fifth and the sixth, and the planes corresponding to these initiations are respectively the fifth and sixth (numbering from below).

7. Các lần điểm đạo liên hệ là lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu, và các cõi tương ứng với các lần điểm đạo này lần lượt là cõi thứ năm và thứ sáu (đếm từ dưới lên).

8. Which “Logos” is here meant? The Planetary Logos? The Solar Logos?

8. “Logos” ở đây được hiểu là Logos nào? Hành Tinh Thượng Đế? Thái dương Thượng đế?

9. It would seem more proper to say that this school must deal with the relation of the Monad to the Planetary Logos or Solar Logos. Such a relationship is often mentioned, whereas the relationship of “Atma” to the Planetary Logos or Solar Logos is not often mentioned (unless, of course, the “Atma” really means the “Atman” or immortal Spirit.

9. Có vẻ thích đáng hơn khi nói rằng trường phái này phải bàn đến mối liên hệ của chân thần với Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế. Một mối liên hệ như vậy thường được nhắc đến, trong khi mối liên hệ của “Atma” với Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế lại không thường được nhắc đến (trừ phi, dĩ nhiên, “Atma” thực sự có nghĩa là “Atman” hay Tinh thần bất tử.

10. We can successfully relate the “Atma” to the Monad: atma or the “Atma” usually means the spiritual will(associated with the first aspect of divinity) and the first expression of pure being (Monad) is the will.

10. Chúng ta có thể liên hệ thành công “Atma” với chân thần: atma hay “Atma” thường có nghĩa là ý chí tinh thần (gắn với phương diện thứ nhất của thiên tính) và sự biểu lộ đầu tiên của bản thể thuần túy (chân thần) là ý chí.

The Gnosis or hidden knowledge is the same as Atma vidya, or Theosophy, and includes the other six.

Gnosis hay tri thức ẩn tàng cũng chính là Atma vidya, hay Thông Thiên Học, và bao gồm sáu trường phái kia.

1. The seventh school works through “Atma Vidya” or Divine Wisdom (Theosophy).

1. Trường phái thứ bảy hoạt động qua “Atma Vidya” hay Minh Triết Thiêng Liêng (Thông Thiên Học).

2. It is, in a way, the synthesis of all the other schools and draws from them.

2. Theo một nghĩa nào đó, đây là sự tổng hợp của tất cả các trường phái khác và rút ra từ chúng.

3. The synthetic ray in our solar system is the second ray of Love-Wisdom—the ray of the pure “Gnosis”.

3. Cung tổng hợp trong hệ mặt trời của chúng ta là cung hai của Bác Ái – Minh Triết—cung của “Gnosis” thuần túy.

4. The plane concerned would be especially the monadic plane—a plane of synthesis.

4. Cõi liên hệ đặc biệt sẽ là cõi chân thần—một cõi của tổng hợp.

5. The “Vedantic school” could be considered a reflection of states and processes on the logoic plane, though the atmic plane is involved, as plane one (logoic) is easily reflected in planet three (atmic)

5. “Trường phái Vedanta” có thể được xem là một phản ánh của các trạng thái và tiến trình trên cõi logoic, mặc dù cõi atma cũng được bao gồm, vì cõi một (logoic) dễ dàng được phản ánh trong cõi ba (atma)

6. We may infer that the initiation concerned would the seventh which is synthetic and ruled by the second ray. The sixth initiation, the initiation which leads to the retraction of the extended consciousness into the Monad, may also be involved.

6. Chúng ta có thể suy ra rằng lần điểm đạo liên hệ sẽ là lần thứ bảy, vốn có tính tổng hợp và được cung hai cai quản. Lần điểm đạo thứ sáu, lần điểm đạo dẫn đến sự rút lại tâm thức mở rộng vào trong chân thần, cũng có thể được bao gồm.

7. The planes involved may be considered the sixth and seventh (or the second and first, numbering from above), whereas, in relation to the “Vedanta school” the planes involved include the atmic, as well as the monadic and logoic.

7. Các cõi liên hệ có thể được xem là cõi thứ sáu và thứ bảy (hay cõi thứ hai và thứ nhất, nếu đếm từ trên xuống), trong khi, liên hệ với “trường phái Vedanta”, các cõi liên hệ bao gồm cõi atma cũng như cõi chân thần và cõi logoic.

We can now take up the question next in order, which was worded: "Why do we consider certain aspects of knowledge esoteric and other aspects as exoteric?"

Giờ đây chúng ta có thể xét đến câu hỏi kế tiếp theo thứ tự, được nêu như sau: "Tại sao chúng ta xem một số phương diện của tri thức là huyền bí và những phương diện khác là ngoại môn?"

1. We are restating the initial question.

1. Chúng ta đang phát biểu lại câu hỏi ban đầu.

The answer to this practically involves the realisation that some knowledge deals with the subjective side of life, and the other type of knowledge with the objective side;

Câu trả lời cho điều này trên thực tế bao hàm sự chứng nghiệm rằng một loại tri thức bàn đến mặt chủ quan của sự sống, còn loại tri thức kia bàn đến mặt khách quan;

1. It will be our task to carefully define “subjective” and “objective”. From the strictly human perspective, subjectivity seems to begin upon the astral level, but this is not true subjectivity which, in relation to the Planetary Logos begins with the higher mental plane and, in relation to the Solar Logos begins with the buddhic plane.

1. Nhiệm vụ của chúng ta sẽ là xác định cẩn thận “chủ quan” và “khách quan”. Từ quan điểm thuần túy nhân loại, tính chủ quan dường như bắt đầu ở mức cảm dục, nhưng đó không phải là tính chủ quan đích thực; tính chủ quan đích thực, liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế, bắt đầu từ Cõi thượng trí, và liên hệ với Thái dương Thượng đế, bắt đầu từ cõi Bồ đề.

2. This would mean that when we, as human beings, enter the etheric body of the Planetary Logos or Solar Logos, we enter that which for them is principled substance, thus directly related to their monadic identity, and thus subjective to a degree.

2. Điều này có nghĩa là khi chúng ta, với tư cách con người, đi vào thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế, chúng ta đi vào điều mà đối với Các Ngài là chất liệu nguyên khí, do đó trực tiếp liên hệ với bản sắc chân thần của Các Ngài, và vì vậy ở một mức độ nào đó là chủ quan đối với Các Ngài.

3. If we follow the law of analogy and determine that true subjectivity begins no lower than the systemic higher mental plane where the human causal body is found, then, as regards the consciousness of the Planetary Logos or Solar Logos, subjectivity for these great beings does not begin until we reach the higher levels of the cosmic mental plane where their causal bodies are located—so we are told.

3. Nếu chúng ta theo định luật tương đồng và xác định rằng tính chủ quan đích thực không bắt đầu thấp hơn cõi thượng trí của hệ thống, nơi thể nguyên nhân của con người được tìm thấy, thì xét về tâm thức của Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế, tính chủ quan đối với các Hữu Thể Vĩ Đại này chỉ bắt đầu khi chúng ta đạt đến các mức cao hơn của cõi trí vũ trụ, nơi các thể nguyên nhân của Các Ngài tọa lạc—ít nhất là như chúng ta được cho biết.

that one type of knowledge is concerned with energy and force (hence the danger of undue hasty revelation) and another with that which is energised.

rằng một loại tri thức liên hệ với năng lượng và mãnh lực (do đó có sự nguy hiểm của việc mặc khải quá sớm một cách thiếu thận trọng) và loại kia liên hệ với điều được tiếp năng lượng.

1. All is energy or force or some combination of the two; even matter is force.

1. Mọi sự đều là năng lượng hay mãnh lực hay một sự kết hợp nào đó của cả hai; ngay cả vật chất cũng là mãnh lực.

2. From one perspective, forces are those factors which are energized. Forces are played upon by higher forces we call energies.

2. Từ một góc nhìn, các mãnh lực là những yếu tố được tiếp năng lượng. Các mãnh lực chịu tác động của những mãnh lực cao hơn mà chúng ta gọi là năng lượng.

3. DK is telling us that if knowledge comes too early in the developmental process, too much power will be put into the hands of those who, literally, do not know what they are doing.

3. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng nếu tri thức đến quá sớm trong tiến trình phát triển, quá nhiều quyền năng sẽ được đặt vào tay những kẻ, theo nghĩa đen, không biết mình đang làm gì.

4. Every factor in cosmos is both energized (or forced), and energizing (and forcing).

4. Mọi yếu tố trong vũ trụ vừa được tiếp năng lượng (hay bị tác động bằng mãnh lực), vừa tiếp năng lượng cho cái khác (và tác động bằng mãnh lực).

5. Energy is a higher force; force is a lower energy.

5. Năng lượng là một mãnh lực cao hơn; mãnh lực là một năng lượng thấp hơn.

6. Often the dividing line between energy and force is considered the higher mental plane. All dynamic factors focused below the higher mental plane (the soul plane) are considered forces; all dynamic factors pertaining to the higher mental plane and above are considered energies.

6. Thông thường, ranh giới phân chia giữa năng lượng và mãnh lực được xem là Cõi thượng trí. Mọi yếu tố động lực tập trung bên dưới Cõi thượng trí (cõi linh hồn) đều được xem là các mãnh lực; mọi yếu tố động lực thuộc về Cõi thượng trí và cao hơn đều được xem là các năng lượng.

Therefore it will be apparent that until the faculty of ascertaining subjective information is achieved, whole ranges of facts will remain outside the scope of the consciousness of the majority.

Do đó sẽ hiển nhiên rằng cho đến khi đạt được năng lực xác định thông tin chủ quan, toàn bộ những phạm vi sự kiện sẽ vẫn nằm ngoài tầm với của tâm thức của đa số.

1. VSK suggests that “subjective knowledge then is dealing with energy and force; objective knowledge with that which is energized (unless the order of the reference is reversed.)”

1. VSK gợi ý rằng “tri thức chủ quan khi ấy bàn đến năng lượng và mãnh lực; tri thức khách quan bàn đến điều được tiếp năng lượng (trừ phi trật tự quy chiếu bị đảo ngược).”

2. It becomes clear that the majority of human begins is not subjectively aware. Since many in this majority are aware of the feelings, emotions and mental states, true subjectivity must lie beyond these.

2. Rõ ràng là đa số nhân loại không nhận biết một cách chủ quan. Vì nhiều người trong số đông này nhận biết được cảm giác, cảm xúc và các trạng thái trí tuệ, nên tính chủ quan đích thực phải nằm vượt ra ngoài những điều ấy.

3. We realized how imprisoned we are by the factor of nescience—“unknowing”.

3. Chúng ta nhận ra mình bị giam hãm biết bao bởi yếu tố vô minh—“không biết”.

As we have been told, the goal of evolution is the attainment of consciousness on all planes;

Như chúng ta đã được bảo, mục tiêu của tiến hoá là đạt được tâm thức trên mọi cõi;

4. For practical purposes and in relation to humanity, this means the attainment of consciousness on all levels of the cosmic physical plane.

4. Vì những mục đích thực tiễn và liên hệ với nhân loại, điều này có nghĩa là đạt được tâm thức trên mọi mức của cõi hồng trần vũ trụ.

5. We note that the thought that man can transcend consciousness when he enters the triadal realms is more a heuristic device than a statement of fact. At a certain point the life aspect may emerge insistently, but the pursuit of consciousness continues, even well beyond the cosmic physical plane.

5. Chúng ta lưu ý rằng ý tưởng cho rằng con người có thể vượt lên trên tâm thức khi y đi vào các cõi tam nguyên tinh thần mang tính phương tiện gợi mở hơn là một phát biểu sự kiện. Ở một điểm nào đó, phương diện sự sống có thể xuất hiện một cách mạnh mẽ, nhưng việc theo đuổi tâm thức vẫn tiếp tục, ngay cả vượt xa ngoài cõi hồng trần vũ trụ.

owing to the small evolutionary attainment of the race only the physical plane is as yet in any way brought under conscious control.

do thành tựu tiến hoá còn ít ỏi của nhân loại nên cho đến nay chỉ có cõi hồng trần phần nào được đặt dưới sự kiểm soát có ý thức.

6. From a Master’s perspective man’s degree of attainment is small, even tiny. We are principally focussed on the very lowest levels of the cosmic physical plane. This is not a flattering fact.

6. Từ quan điểm của một Chân sư, mức độ thành tựu của con người là nhỏ bé, thậm chí rất nhỏ. Chúng ta chủ yếu tập trung trên những mức thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ. Đây không phải là một sự thật đáng tự hào.

The knowledge which deals with that plane, [Page 286] the information which is concerned with densest objectivity, the sumtotal of facts connected with the five lower subplanes of the physical plane are (from the occult standpoint) considered exoteric.

Tri thức bàn đến cõi đó, [Page 286] thông tin liên hệ với tính khách quan đậm đặc nhất, tổng thể các sự kiện gắn với năm cõi phụ thấp của cõi hồng trần đều được xem là ngoại môn theo quan điểm huyền bí.

7. The five lower subplanes of the systemic physical plane are considered exoteric. They correspond to the Brahmic subplanes of the cosmic physical plane.

7. Năm cõi phụ thấp của cõi hồng trần hệ thống được xem là ngoại môn. Chúng tương ứng với các cõi phụ Brahmic của cõi hồng trần vũ trụ.

8. That which is Brahmic pertains to the first solar system and to the material aspect ruled by Saturn.

8. Điều thuộc Brahmic liên hệ với hệ mặt trời thứ nhất và với phương diện vật chất do Sao Thổ cai quản.

9. Yet, humanity is only now in process of discovering that which is to be found upon the fourth ether, the lowest etheric subplane. Though here listed as exoteric, the facts and phenomena of the third etheric sub-plane are, for man, still quite esoteric.

9. Tuy nhiên, nhân loại chỉ mới đang trong tiến trình khám phá điều được tìm thấy trên dĩ thái thứ tư, cõi phụ dĩ thái thấp nhất. Dù ở đây được liệt kê là ngoại môn, các sự kiện và hiện tượng của cõi phụ dĩ thái thứ ba, đối với con người, vẫn còn khá huyền bí.

10. When we remember that the human throat center expresses through the third ether, and that the throat center is, relatively, an exoteric center representing the mind and the personality, we can understand a little better why the third ether is considered exoteric.

10. Khi nhớ rằng trung tâm cổ họng của con người biểu lộ qua dĩ thái thứ ba, và rằng trung tâm cổ họng, xét tương đối, là một trung tâm ngoại môn đại diện cho trí tuệ và phàm ngã, chúng ta có thể hiểu rõ hơn đôi chút vì sao dĩ thái thứ ba được xem là ngoại môn.

11. Still, we would be hard-pressed to discuss the knowledge and phenomena associated with the third systemic ether.

11. Tuy vậy, chúng ta vẫn sẽ rất khó bàn đến tri thức và các hiện tượng gắn với dĩ thái thứ ba của hệ thống.

During the next two races the other two subplanes will be mastered,

Trong hai nhân loại kế tiếp, hai cõi phụ còn lại sẽ được làm chủ,

12. This means that the sub-atomic and atomic etheric sub-planes will be mastered.

12. Điều này có nghĩa là các cõi phụ dĩ thái hạ nguyên tử và nguyên tử sẽ được làm chủ.

13. This tells us that the heart center will be powerfully developed during the sixth root race and that the head center will be powerfully developed during the seventh.

13. Điều này cho chúng ta biết rằng trung tâm tim sẽ được phát triển mạnh mẽ trong giống dân gốc thứ sáu và trung tâm đầu sẽ được phát triển mạnh mẽ trong giống dân gốc thứ bảy.

14. The heart center expresses on the sub-atomic etheric plane (the second sub-plane) and the head center upon the atomic etheric plane (the first sub-plane).

14. Trung tâm tim biểu lộ trên cõi dĩ thái hạ nguyên tử (cõi phụ thứ hai) và trung tâm đầu trên cõi dĩ thái nguyên tử (cõi phụ thứ nhất).

15. In our Aryan civilization, the throat center is the center of greatest moment.

15. Trong nền văn minh Arya của chúng ta, trung tâm cổ họng là trung tâm quan trọng nhất.

and the entire mass of knowledge concerned with physical and etheric matter, with energy, form and experience on the physical plane, will be easily available to man, and concern only his five physical senses.

và toàn bộ khối tri thức liên hệ với vật chất hồng trần và dĩ thái, với năng lượng, hình tướng và kinh nghiệm trên cõi hồng trần, sẽ dễ dàng sẵn có cho con người, và chỉ liên hệ đến năm giác quan hồng trần của y.

16. DK is predicting the type of knowledge which will be available to man once the sixth and seventh sub-races have run their course.

16. Chân sư DK đang tiên đoán loại tri thức sẽ sẵn có cho con người một khi giống dân phụ thứ sáu và thứ bảy đã hoàn tất tiến trình của chúng.

17. Everything in relation to physical and etheric matter will be known and will be apprehended directly through one or other of his five physical senses—hearing, touch, sight, taste and smell.

17. Mọi điều liên hệ với vật chất hồng trần và dĩ thái sẽ được biết đến và sẽ được lĩnh hội trực tiếp qua một hay nhiều trong năm giác quan hồng trần của y—thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác và khứu giác.

18. We will presume that taste and smell will undergo a great development in the sixth and seventh root races respectively.

18. Chúng ta sẽ giả định rằng vị giác và khứu giác sẽ trải qua một sự phát triển lớn lao lần lượt trong giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy.

19. From this perspective the sense of taste must be related to the heart center and the sense of smell to the head center.

19. Từ góc nhìn này, vị giác phải liên hệ với trung tâm tim và khứu giác với trung tâm đầu.

20. DK is predicting that during the next two races we will hear, touch, see, taste and smell etherically—i.e., (at the end of the seventh root race) on all the etheric sub-planes of the systemic etheric-physical plane).

20. Chân sư DK đang tiên đoán rằng trong hai nhân loại kế tiếp, chúng ta sẽ nghe, chạm, thấy, nếm và ngửi một cách dĩ thái—tức là (vào cuối giống dân gốc thứ bảy) trên mọi cõi phụ dĩ thái của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống).

Information and knowledge of the life evolving through the forms will for a considerably longer time be considered esoteric, as also will the apprehension and comprehension of the matter aspect, and the laws governing energy on the astral and the mental planes. This is stated in connection with average man, the rank and file of humanity.

Thông tin và tri thức về sự sống tiến hoá qua các hình tướng sẽ trong một thời gian còn khá dài nữa được xem là huyền bí, cũng như sự lĩnh hội và thấu hiểu phương diện vật chất, và các định luật chi phối năng lượng trên cõi cảm dục và cõi trí. Điều này được phát biểu liên hệ với con người trung bình, hàng ngũ đông đảo của nhân loại.

21. Knowledge of life (which is a far more esoteric factor than form) will remain esoteric. Knowledge of energy, form and experience upon the physical plane is almost completely exoteric.

21. Tri thức về sự sống (vốn là một yếu tố huyền bí hơn hình tướng rất nhiều) sẽ vẫn còn huyền bí. Tri thức về năng lượng, hình tướng và kinh nghiệm trên cõi hồng trần hầu như hoàn toàn là ngoại môn.

22. The astral and mental planes have a type of matter associated with them; knowledge of this type of matter will remain esoteric for yet a while as will knowledge of the laws governing energy of the astral and mental planes.

22. Cõi cảm dục và cõi trí có một loại vật chất gắn với chúng; tri thức về loại vật chất này sẽ còn huyền bí thêm một thời gian nữa, cũng như tri thức về các định luật chi phối năng lượng của cõi cảm dục và cõi trí.

23. What is stated here relates to the consciousness of the average human being which cannot yet penetrate into the etheric, astral and mental planes. Even a true comprehension of the matter aspect will evade the understanding of the average individual.

23. Điều được nêu ở đây liên hệ với tâm thức của con người trung bình, vốn chưa thể xuyên nhập vào các cõi dĩ thái, cảm dục và trí. Ngay cả một sự thấu hiểu đích thực về phương diện vật chất cũng sẽ vượt khỏi khả năng hiểu biết của cá nhân trung bình.

24. To the true disciple, however, knowledge of the astral and mental planes is already becoming exoteric and the etheric plane is rapidly being disclosed.

24. Tuy nhiên, đối với đệ tử chân chính, tri thức về cõi cảm dục và cõi trí đã đang trở nên ngoại môn, và cõi dĩ thái đang nhanh chóng được khai lộ.

Objective or exoteric information is largely that obtained or ascertained by men in the Hall of Learning by means of the five senses, and by experiment.

Thông tin khách quan hay ngoại môn phần lớn là điều được những người nam và nữ thu nhận hay xác định trong Phòng Hiểu Biết bằng năm giác quan và bằng thực nghiệm.

25. There are three major “halls”:

25. Có ba “phòng” chính:

a The Hall of Ignorance

a Phòng Vô Minh

b The Hall of Learning

b Phòng Hiểu Biết

c The Hall of Wisdom

c Phòng Minh triết

26. The Hall of Learning is obviously principally rules by the germinating mind, for the five senses and experiment are the means of learning within that Hall.

26. Phòng Hiểu Biết hiển nhiên chủ yếu được cai quản bởi trí tuệ đang nảy mầm, vì năm giác quan và thực nghiệm là những phương tiện học hỏi trong Phòng ấy.

27. We can see that the Hall of Learning is largely a Brahmic experience.

27. Chúng ta có thể thấy rằng Phòng Hiểu Biết phần lớn là một kinh nghiệm Brahmic.

Experiment in due course of time and after many cycles of incarnation is transmuted into experience, and this produces eventually that which we call instinct, or the habitual reaction of some type of consciousness to a given set of circumstances, or of environment.

Thực nghiệm, theo thời gian và sau nhiều chu kỳ lâm phàm, được chuyển hoá thành kinh nghiệm, và điều này cuối cùng tạo ra cái mà chúng ta gọi là bản năng, hay phản ứng theo thói quen của một loại tâm thức nào đó trước một tập hợp hoàn cảnh hay môi trường nhất định.

28. The sequence to bear in mind in the mind is that experiment leads to experience which, when repeated, leads to the development of instinct.

28. Trình tự cần ghi nhớ là thực nghiệm dẫn đến kinh nghiệm, và kinh nghiệm khi được lặp lại sẽ dẫn đến sự phát triển của bản năng.

29. We must note that instinct is a reaction of consciousness and that it is a habitual reaction. This means it is automatic and does not require the participation of a reflective consciousness.

29. Chúng ta phải lưu ý rằng bản năng là một phản ứng của tâm thức và đó là một phản ứng theo thói quen. Điều này có nghĩa là nó mang tính tự động và không đòi hỏi sự tham gia của một tâm thức phản tỉnh.

These two factors of the senses and of experimental contact can be seen working out in the animal and human kingdoms;

Hai yếu tố này của các giác quan và sự tiếp xúc bằng thực nghiệm có thể được thấy đang vận hành trong giới động vật và giới nhân loại;

30. This is a factor which humans and animals share.

30. Đây là một yếu tố mà con người và động vật cùng chia sẻ.

the difference between the two exists in the ability of the man consciously to remember, apprehend, anticipate, and utilise the fruits of past experience, and thus influence the present and prepare for the future.

sự khác biệt giữa hai giới nằm ở khả năng của con người trong việc nhớ lại một cách có ý thức, lĩnh hội, dự liệu và sử dụng các thành quả của kinh nghiệm quá khứ, và do đó ảnh hưởng đến hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.

31. Let us tabulate wherein man differs from the animal in his use of the senses and experimental contact:

31. Chúng ta hãy lập bảng những điểm trong đó con người khác với động vật trong việc sử dụng các giác quan và sự tiếp xúc bằng thực nghiệm:

a Man consciously remembers

a Con người nhớ lại một cách có ý thức

b Man consciously apprehends

b Con người một cách hữu thức lĩnh hội

c Man consciously anticipates

c Con người một cách hữu thức dự liệu

d Man consciously utilizes the fruits of past experience

d Con người một cách hữu thức sử dụng những thành quả của kinh nghiệm quá khứ

e By doing this, man influences the present and prepares of the future.

e Khi làm như vậy, con người ảnh hưởng đến hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.

32. Perhaps the important and operative work here is “consciously”. The animal also remembers, apprehends, anticipates, etc., but all at an instinctual level. The animal does not consciously recognize that it is engaged in such acts.

32. Có lẽ từ quan trọng và có tác dụng ở đây là “một cách hữu thức”. Con vật cũng nhớ, lĩnh hội, dự liệu, v.v., nhưng tất cả đều ở cấp độ bản năng. Con vật không nhận biết một cách hữu thức rằng nó đang tham gia vào những hành vi như thế.

He employs the physical brain for this purpose. An animal likewise has an instinctual memory, apprehension, and an embryo anticipation,

Y sử dụng bộ não hồng trần cho mục đích này. Con vật cũng có ký ức bản năng, sự lĩnh hội và một mầm mống dự liệu,

33. Here we see that the animal shares with man the following:

33. Ở đây chúng ta thấy rằng con vật chia sẻ với con người những điều sau đây:

a Memory (not conscious but instinctual)

a Ký ức (không hữu thức mà là bản năng)

b Apprehension (grasp of recognition)

b Sự lĩnh hội (nắm bắt bằng nhận biết)

c Anticipation (of an embryonic variety)

c Sự dự liệu (thuộc loại phôi thai)

but (lacking mind) he is unable to adjust them to circumstances in the sense of prearrangement, and lacks the capacity consciously to utilise, and thus reap, the benefit of past events, and to learn from experience in the manner which a man does.

nhưng (do thiếu trí tuệ) nó không thể điều chỉnh chúng theo hoàn cảnh theo nghĩa sắp đặt trước, và thiếu khả năng một cách hữu thức sử dụng, và nhờ đó gặt hái, lợi ích của các biến cố quá khứ, cũng như học hỏi từ kinh nghiệm theo cách mà con người làm được.

34. Let us tabulate what an animal cannot do because it lacks mind:

34. Hãy lập bảng những điều con vật không thể làm vì nó thiếu trí tuệ:

a The animal cannot adjust its memory, apprehension and embryonic anticipation to circumstances

a Con vật không thể điều chỉnh ký ức, sự lĩnh hội và sự dự liệu phôi thai của nó theo hoàn cảnh