← Commentary_S3_223_340_song ngữ

chapter 001 18

Trích nội dung chương

145. Just as the third cosmic initiation is the “goal” for the Solar Logos (and yet He is destined to take the fourth or fifth cosmic initiation before the conclusion of this solar system—depending upon which reference is credited), so it may be that although the goal for the Planetary Logos is the second cosmic initiation, He may still take a further initiation during the present solar system. 145. Cũng như lần điểm đạo vũ trụ thứ ba là “mục tiêu” đối với Thái dương Thượng đế (và tuy thế Ngài được định sẽ thọ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm trước khi hệ mặt trời này kết thúc—tùy theo tài liệu tham chiếu nào được chấp nhận)…


145. Just as the third cosmic initiation is the “goal” for the Solar Logos (and yet He is destined to take the fourth or fifth cosmic initiation before the conclusion of this solar system—depending upon which reference is credited), so it may be that although the goal for the Planetary Logos is the second cosmic initiation, He may still take a further initiation during the present solar system.

145. Cũng như lần điểm đạo vũ trụ thứ ba là “mục tiêu” đối với Thái dương Thượng đế (và tuy thế Ngài được định sẽ thọ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm trước khi hệ mặt trời này kết thúc—tùy theo tài liệu tham chiếu nào được chấp nhận), thì có thể là mặc dù mục tiêu của Hành Tinh Thượng Đế là lần điểm đạo vũ trụ thứ hai, Ngài vẫn có thể thọ nhận thêm một lần điểm đạo nữa trong hệ mặt trời hiện tại.

When that is done, the result in connection with the human units in incarnation will be threefold:

Khi điều đó được thực hiện, kết quả liên quan đến các đơn vị nhân loại đang lâm phàm sẽ là tam phân:

146. We are speaking of the results to be achieved when the two and half more cycles have elapsed. If we wish to be inclusive, we shall see that such cycles could be:

146. Chúng ta đang nói về những kết quả sẽ đạt được khi hai chu kỳ rưỡi nữa đã trôi qua. Nếu muốn bao gồm, chúng ta sẽ thấy rằng các chu kỳ ấy có thể là:

a. Root race cycles

a. Các chu kỳ giống dân gốc

b. Round cycles (i.e., chain-round cycles).

b. Các chu kỳ cuộc tuần hoàn (tức là các chu kỳ cuộc tuần hoàn của dãy).

c. Chain cycles (which related to ‘scheme rounds’ rather then chain rounds).

c. Các chu kỳ dãy (liên hệ đến các ‘cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh’ hơn là các cuộc tuần hoàn của dãy).

Sex stimulation, as now understood, will be showing a tendency to manifest in creation, not so much on the physical plane, as on the astral and mental, demonstrating in the creations of art and beauty, and the objective work of the scientists.

Sự kích thích tính dục, như hiện nay được hiểu, sẽ cho thấy một khuynh hướng biểu hiện trong sáng tạo, không nhiều trên cõi hồng trần cho bằng trên cõi cảm dục và cõi trí, biểu lộ trong các sáng tạo của nghệ thuật và cái đẹp, và trong công trình khách quan của các nhà khoa học.

147. For such creative work to emerge, the third petal (associated with the throat center) will have to be unfolded—especially if we are dealing with the “objective work of the scientists”. This will not occur for the majority probably until the next round.

147. Để công việc sáng tạo như thế xuất hiện, cánh hoa thứ ba (liên kết với trung tâm cổ họng) sẽ phải được khai mở—đặc biệt nếu chúng ta đang bàn đến “công trình khách quan của các nhà khoa học”. Điều này có lẽ sẽ không xảy ra với đa số cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp.

Lotuses of passion or desire. They are so called because their fundamental nature is embodied love in some one or other form. The bulk of the Monads of Love are among this large group and they are to be seen incarnating in the bulk of the well-to-do, kindly people of the world. They are divided into five groups, of whom three individualised upon this planet, and two were the very latest to individualise upon the moon chain. They have two petals unfolded and the third is for them at this time the object of their attention. Many may succeed in unfolding it before the seventh rootrace of this round but the bulk of them will unfold it in the second rootrace of the next round, and will stand ready before the close of the round to pass on to the probationary path, having unfolded one tier of petals, and organised the second. (TCF 842)

Những Hoa sen của đam mê hay dục vọng. Chúng được gọi như vậy vì bản chất căn bản của chúng là bác ái nhập thể dưới hình thức này hay hình thức khác. Phần lớn các Chân thần Bác Ái thuộc về nhóm lớn này và có thể thấy họ nhập thể trong phần đông những người khá giả, tử tế trên thế giới. Họ được chia thành năm nhóm, trong đó ba nhóm đã biệt ngã hóa trên hành tinh này, và hai nhóm là những nhóm biệt ngã hóa muộn nhất trên Dãy Mặt Trăng. Họ đã khai mở hai cánh hoa và cánh hoa thứ ba hiện nay là đối tượng chú ý của họ. Nhiều người có thể thành công trong việc khai mở nó trước giống dân gốc thứ bảy của cuộc tuần hoàn này nhưng phần lớn họ sẽ khai mở nó trong giống dân gốc thứ hai của cuộc tuần hoàn kế tiếp, và sẽ sẵn sàng trước khi cuộc tuần hoàn kết thúc để bước vào Con Đường Dự Bị, sau khi đã khai mở một tầng cánh hoa và tổ chức tầng thứ hai. (TCF 842)

148. Creative work of some kind can also begin at an earlier stage, before the complete unfoldment of the third petal:

148. Công việc sáng tạo thuộc một loại nào đó cũng có thể bắt đầu ở một giai đoạn sớm hơn, trước khi cánh hoa thứ ba được khai mở hoàn toàn:

Creative work can be carried forward when two of the "knowledge petals" of the egoic lotus are unfolded. The man can produce, through knowledge and creative energy, something upon the physical plane which will be expressive of the soul's creative power. When two of the "love petals" are also unfolded, then a genius makes his appearance. (EA 18)

Công việc sáng tạo có thể được tiếp tục khi hai trong các "cánh hoa tri thức" của Hoa Sen Chân Ngã được khai mở. Con người có thể tạo ra, thông qua tri thức và năng lượng sáng tạo, một điều gì đó trên cõi hồng trần sẽ biểu lộ quyền năng sáng tạo của linh hồn. Khi hai trong các "cánh hoa bác ái" cũng được khai mở, thì một thiên tài xuất hiện. (EA 18)

149. In the matter of true creativity, we are speaking of a significant transference from humanity’s sacral center to its throat center. This requires the treading of the Probationary Path or very nearly so. Will two and a half root races be sufficient to see this accomplished? It may not be so, because the bulk of the Lotuses of Passion and Desire (comprising a large percentage of our humanity) will not even be on the Path until the fifth round, as indicated in the quotation above (TCF 842)

149. Trong vấn đề sáng tạo chân chính, chúng ta đang nói đến một sự chuyển dịch đáng kể từ trung tâm xương cùng của nhân loại lên trung tâm cổ họng. Điều này đòi hỏi phải bước trên Con Đường Dự Bị hoặc rất gần như thế. Liệu hai giống dân gốc rưỡi có đủ để thấy điều này được hoàn thành không? Có thể là không, vì phần lớn các Hoa sen của Đam mê và Dục vọng (chiếm một tỉ lệ lớn trong nhân loại chúng ta) thậm chí sẽ chưa ở trên Đường Đạo cho đến cuộc tuần hoàn thứ năm, như được chỉ ra trong đoạn trích dẫn trên (TCF 842)

150. So perhaps when it comes to looking for great changes in relation to humanity as a whole we shall have to wait until rounds elapse and not just root races.

150. Vì vậy có lẽ khi nói đến việc tìm kiếm những thay đổi lớn liên quan đến toàn thể nhân loại, chúng ta sẽ phải chờ cho các cuộc tuần hoàn trôi qua chứ không chỉ các giống dân gốc.

151. The above discussion is the attempt to establish the nature of the two and a half cycles—whether root race cycles, chain round cycles, or, even, scheme-round cycles.

151. Cuộc thảo luận trên là nỗ lực nhằm xác lập bản chất của hai chu kỳ rưỡi—liệu là các chu kỳ giống dân gốc, các chu kỳ cuộc tuần hoàn của dãy, hay thậm chí các chu kỳ cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh.

152. To wait until other chain periods to see these developments manifest seems, from one perspective, too long a wait.

152. Việc phải chờ đến những thời kỳ dãy khác mới thấy các phát triển này biểu hiện, từ một góc độ nào đó, dường như là một sự chờ đợi quá lâu.

Crime, as now seen, based largely on the sex emotion, [Page 298] will be a thing of the past, and physical plane license, orgy and horror will be reduced seventy-five per cent.

Tội phạm, như hiện nay được thấy, phần lớn dựa trên cảm xúc tính dục, [Page 298] sẽ trở thành chuyện của quá khứ, và sự buông thả, truỵ lạc cùng kinh hoàng trên cõi hồng trần sẽ giảm đi bảy mươi lăm phần trăm.

153. This development will be related to the raising of the energy of the sacral center to the throat center (and, to some extent, of the solar plexus center to the heart).

153. Sự phát triển này sẽ liên hệ đến việc nâng năng lượng của trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng (và, ở một mức độ nào đó, của trung tâm tùng thái dương lên tim).

154. The great majority of humanity is still too undeveloped to accomplish these ends in immediately succeeding root races, though many will. There are some ten million years before the end of the sixth root race and quite a bit longer, one might hypothesize, before the end of the seventh.

154. Đại đa số nhân loại vẫn còn quá kém phát triển để hoàn thành những mục tiêu này trong các giống dân gốc kế tiếp ngay sau đó, dù nhiều người sẽ làm được. Còn khoảng mười triệu năm trước khi giống dân gốc thứ sáu kết thúc và, có thể giả định, còn lâu hơn khá nhiều trước khi giống dân gốc thứ bảy kết thúc.

Later, we shall have a transition period again, analogous to that period wherein kama-manas was developed, and we shall then have the entire race expressing a developed synthesis of intellect-intuition, preparatory to that advanced stage which will come at the close of the next root race, the sixth. This takes us to a period ten million years hence, when the intellect will have in its turn slipped below the threshold of consciousness, as did the instinct. (EP I357)

Về sau, chúng ta sẽ lại có một thời kỳ chuyển tiếp, tương tự với thời kỳ mà kama-manas đã được phát triển, và khi ấy chúng ta sẽ có toàn thể nhân loại biểu lộ một sự tổng hợp đã phát triển của trí năng-trực giác, chuẩn bị cho giai đoạn cao cấp sẽ đến vào lúc kết thúc giống dân gốc kế tiếp, tức giống dân thứ sáu. Điều này đưa chúng ta đến một thời kỳ cách nay mười triệu năm, khi trí năng đến lượt nó sẽ trượt xuống dưới ngưỡng tâm thức, như bản năng đã từng như vậy. (EP I357)

155. But if the work of the Planetary Logos is just in an “embryonic condition”, the cycles of which we are speaking will probably have to be planetary cycles rather than racial cycles. Planetary-chain cycles are rounds. Racial cycles are root races and pertain only to one “world period” (defining a word period as the duration of a chain-round as it affects a particular globe or “world”.

155. Nhưng nếu công việc của Hành Tinh Thượng Đế chỉ mới ở trong một “tình trạng phôi thai”, thì các chu kỳ mà chúng ta đang nói đến có lẽ sẽ phải là các chu kỳ hành tinh hơn là các chu kỳ nhân loại. Các chu kỳ dãy hành tinh là các cuộc tuần hoàn. Các chu kỳ nhân loại là các giống dân gốc và chỉ liên quan đến một “thời kỳ thế giới” mà thôi (định nghĩa một thời kỳ thế giới là thời lượng của một cuộc tuần hoàn của dãy khi nó tác động lên một bầu hành tinh hay “thế giới” cụ thể.

The interplay between the three dense physical planets will be perfected and man will pass at will from one to another.

Sự tương tác giữa ba hành tinh hồng trần đậm đặc sẽ được hoàn thiện và con người sẽ đi qua theo ý muốn từ hành tinh này sang hành tinh khác.

156. Which are the three dense physical planets? Are they the three which are part of the three planetary schemes that we began discussing on TCF 296? These would include the Earth, Mars and Venus, with Pluto and Mercury as additional possibilities. Pluto seems a very remote possibility, when considering travel between planets. Yet the time discussed is a long way into the future, and who knows what might be possible?

156. Ba hành tinh hồng trần đậm đặc ấy là những hành tinh nào? Có phải là ba hành tinh thuộc ba hệ hành tinh mà chúng ta đã bắt đầu bàn đến ở TCF 296 không? Những hành tinh này sẽ gồm Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Kim, với Sao Diêm Vương và Sao Thủy như những khả năng bổ sung. Sao Diêm Vương dường như là một khả năng rất xa vời khi xét đến việc du hành giữa các hành tinh. Tuy nhiên, thời điểm được bàn đến còn rất xa trong tương lai, và ai biết được điều gì có thể xảy ra?

157. Mercury, Earth, Mars and Venus are dense. Other planets are considered physical but are not dense in the same way—some are gaseous giants, relatively.

157. Sao Thủy, Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Kim là đậm đặc. Các hành tinh khác được xem là hồng trần nhưng không đậm đặc theo cùng cách ấy—một cách tương đối, một số là những hành tinh khí khổng lồ.

158. The planets among which the easiest interplay would be established would be Earth, Mars and Venus. The possibility of travel to Pluto now seems remote.

158. Những hành tinh mà giữa chúng sự tương tác dễ dàng nhất sẽ được thiết lập là Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Kim. Khả năng du hành đến Sao Diêm Vương hiện nay dường như xa vời.

159. But, we may be talking about a different mode of travel than we can now imagine. The hint is given in “pass at will” from one to another.

159. Nhưng có thể chúng ta đang nói về một phương thức di chuyển khác với điều mà hiện nay chúng ta có thể hình dung. Gợi ý được đưa ra trong cụm từ “đi qua theo ý muốn” từ hành tinh này sang hành tinh khác.

160. What will be the vehicles used? Will there be energetic streams along which human beings can pass at will in their subtler vehicles? If so, it would seem that some rounds would have to elapse before this would be possible.

160. Những vận cụ nào sẽ được sử dụng? Liệu sẽ có những dòng năng lượng mà dọc theo đó con người có thể đi qua theo ý muốn trong các vận cụ vi tế hơn của họ chăng? Nếu vậy, có vẻ như một số cuộc tuần hoàn sẽ phải trôi qua trước khi điều này có thể xảy ra.

I would here point out the inadvisability of the method whereby the names of the globes in a chain, just as the names of a chain in a scheme, follow the planetary nomenclature. This has led to confusion,

Ở đây tôi muốn chỉ ra sự không nên của phương pháp theo đó tên các bầu hành tinh trong một dãy, cũng như tên của một dãy trong một hệ hành tinh, lại theo danh pháp hành tinh. Điều này đã dẫn đến sự nhầm lẫn,

161. While this practice of naming may have led to confusion, no alternative is offered, and the old method is put forward even in this book.

161. Dù cách đặt tên này có thể đã dẫn đến sự nhầm lẫn, không có phương án thay thế nào được đưa ra, và phương pháp cũ vẫn được trình bày ngay trong quyển sách này.

A clue tending towards the correct understanding lies hid in the words: "Venus is the Earth's primary." [17: S. D., II, 33. I, 323.]

Một đầu mối hướng đến sự thấu hiểu đúng đắn nằm ẩn trong những lời: "Sao Kim là nguyên mẫu của Trái Đất." [17: S. D., II, 33. I, 323.]

162. The “primary” in this case is the model, archetype, teacher or guide. The technical name for the relationship is “alter ego”; Venus is the alter ego of Earth. “Alter ego” means “other self”.

162. “Nguyên mẫu” trong trường hợp này là mô hình, nguyên mẫu, huấn sư hay người hướng dẫn. Tên kỹ thuật cho mối quan hệ này là “alter ego”; Sao Kim là alter ego của Trái Đất. “Alter ego” có nghĩa là “cái ngã khác”.

163. If Venus is Earth’s primary, then Mars is Pluto’s primary.

163. Nếu Sao Kim là nguyên mẫu của Trái Đất, thì Sao Hỏa là nguyên mẫu của Sao Diêm Vương.

It is not permissible to say much about this mystery, that "Venus is the Earth's alter ego," nor is it advisable, but certain ideas may be suggested which—if brooded on—may result in a wider grasp of the beauty of nature's synthesis, and of the wonderful correlation of all that is in process of evolution.

Không được phép nói nhiều về huyền nhiệm này, rằng "Sao Kim là alter ego của Trái Đất", và cũng không nên làm vậy, nhưng có thể gợi ra một vài ý tưởng mà—nếu được chiêm ngưỡng—có thể dẫn đến một sự nắm bắt rộng hơn về vẻ đẹp của sự tổng hợp của bản chất, và về sự tương quan kỳ diệu của tất cả những gì đang trong tiến trình tiến hoá.

164. One of the purposes of A Treatise on Cosmic Fire is to induce an appreciation of the beauty of nature’s synthesis and of the wonderful correlation of which DK speaks.

164. Một trong những mục đích của Luận về Lửa Vũ Trụ là khơi dậy sự trân trọng đối với vẻ đẹp của sự tổng hợp của bản chất và sự tương quan kỳ diệu mà Chân sư DK nói đến.

165. We see how many things concerning the planetary lore are veiled. Because Venus is the planet most closely related to the Earth, information which is too explicit would probably reveal knowledges easily misused. Because we do not yet know enough, we do not suspect the ways of misuse of abuse, but those who know, foresee.

165. Chúng ta thấy biết bao điều liên quan đến tri thức hành tinh được che giấu. Bởi vì Sao Kim là hành tinh có liên hệ mật thiết nhất với Trái Đất, thông tin quá minh bạch có lẽ sẽ tiết lộ những tri thức rất dễ bị lạm dụng. Bởi vì chúng ta chưa biết đủ, chúng ta không ngờ đến những cách lạm dụng hay sử dụng sai trái, nhưng những ai biết thì thấy trước.

Perhaps some idea may be gained if we remember that, in an occult sense, Venus is to the Earth what the higher Self is to man.

Có lẽ có thể đạt được một vài ý niệm nếu chúng ta nhớ rằng, theo nghĩa huyền bí, Sao Kim đối với Trái Đất cũng như chân ngã đối với con người.

166. What is the “higher Self” to man? Shall we consider the Higher Self as the soul nature of man, consciousness with the egoic lotus/causal body? Shall we consider man as the personality expressing through the eighteen lower sub-planes?

166. “Chân ngã” là gì đối với con người? Chúng ta có nên xem Chân ngã là bản chất linh hồn của con người, là tâm thức cùng với Hoa Sen Chân Ngã/thể nguyên nhân chăng? Chúng ta có nên xem con người là phàm ngã biểu lộ qua mười tám cõi phụ thấp hơn chăng?

167. VSK suggests: “In a way this seems to suggest Venus as the heart, as the heart to base seems correlative of higher Self to man, if we place man in this context as the physical incarnation.”

167. VSK gợi ý: “Theo một nghĩa nào đó, điều này dường như gợi ý Sao Kim là tim, vì tim đối với đáy cột sống dường như tương quan với chân ngã đối với con người, nếu chúng ta đặt con người trong ngữ cảnh này như sự nhập thể hồng trần.”

The coming of the Lords of Flame to the Earth was all under law and not just an accidental and fortunate happening; it was a planetary matter which finds its correspondence in the connection between the mental unit and the manasic permanent atom.

Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa đến Trái Đất đều hoàn toàn theo định luật và không chỉ là một biến cố ngẫu nhiên và may mắn; đó là một vấn đề hành tinh tìm thấy sự tương ứng của nó trong mối liên kết giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas.

168. It was not only the benevolence of the “Hearts of Fiery Love” (the Solar Angels) which caused them to come. Planetary necessity invoked these Solar Angels, who probably had association with our particular Planetary Logos in a past mahakalpa.

168. Không chỉ lòng từ ái của các “Trái Tim của Bác Ái Rực Lửa” (các Thái dương Thiên Thần) đã khiến các Ngài đến. Sự cần thiết hành tinh đã khẩn cầu các Thái dương Thiên Thần này, những Đấng có lẽ đã có liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế đặc thù của chúng ta trong một mahakalpa quá khứ.

169. We are not now speaking only the mental unit and manasic permanent atom of man. We are speaking of these structures as they pertain to the Planetary Logos.

169. Hiện nay chúng ta không chỉ nói về đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas của con người. Chúng ta đang nói về các cấu trúc này trong chừng mực chúng liên hệ đến Hành Tinh Thượng Đế.

170. Of course, the mental unit and manasic permanent atom of man needed to be ‘interventionally’ connected so that a bridge could be made whereby the planetary solar nature (represented by the cosmic etheric planes) could be united with the planetary lunar nature (represented by the eighteen lower sub-planes).

170. Dĩ nhiên, đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas của con người cần phải được kết nối một cách ‘can thiệp’ để một cây cầu có thể được tạo ra, nhờ đó bản chất thái dương hành tinh (được biểu trưng bởi các cõi dĩ thái vũ trụ) có thể được hợp nhất với bản chất thái âm hành tinh (được biểu trưng bởi mười tám cõi phụ thấp hơn).

171. Of all ‘divine interventions” the coming of the Solar Angels was one of the most spectacular (at least in relation to our Planetary Logos and the future of the then animal-man).

171. Trong tất cả những ‘sự can thiệp thiêng liêng’, sự giáng lâm của các Thái dương Thiên Thần là một trong những sự kiện ngoạn mục nhất (ít nhất là liên quan đến Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và tương lai của người thú thời ấy).

Again, as the antaskarana is built by individual man between these two points, so—again in a planetary sense—is a channel being built by collective man on this planet to its primary, Venus.

Lại nữa, cũng như antahkarana được cá nhân con người xây dựng giữa hai điểm này, thì—một lần nữa theo nghĩa hành tinh—một kênh dẫn đang được nhân loại tập thể trên hành tinh này xây dựng đến nguyên mẫu của nó, Sao Kim.

172. Individual man builds an antahkarana between two points in his own esoteric anatomy; the Planetary Logos of Earth is doing the same by utilizing one of its organs, “collective man” as the staging point of a planetary antahkarana to Venus, the Earth’s primary.

172. Cá nhân con người xây dựng một antahkarana giữa hai điểm trong giải phẫu huyền bí của chính mình; Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất cũng đang làm điều tương tự bằng cách sử dụng một trong các cơ quan của Ngài, “nhân loại tập thể”, như điểm trung chuyển của một antahkarana hành tinh đến Sao Kim, nguyên mẫu của Trái Đất.

173. Part of the Path of Sirius may be a Path to Venus for training in the process of reaching Sirius. Some of the planets have “schools” which are related to the treading of the Paths of Higher Evolution.

173. Một phần của Con đường Sirius có thể là một Con đường đến Sao Kim để được huấn luyện trong tiến trình đạt đến Sirius. Một số hành tinh có những “trường học” liên hệ đến việc bước đi trên các Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

In connection with these two planets, it must be remembered that Venus is a sacred planet and the Earth is not.

Liên quan đến hai hành tinh này, cần nhớ rằng Sao Kim là một hành tinh thiêng liêng còn Trái Đất thì không.

174. This is a fundamental distinction between the two, just as the Solar Angel is a sacred entity and the entity man (in general) is not.

174. Đây là một sự phân biệt căn bản giữa hai hành tinh, cũng như Thái dương Thiên Thần là một thực thể thiêng liêng còn thực thể con người (nói chung) thì không.

This means that certain of the planets are to the Logos what the permanent atoms are to man. They embody principles. Certain planets afford only temporary [Page 299] homes to these principles. Others persist throughout the mahamanvantara. Of these Venus is one.

Điều này có nghĩa là một số hành tinh đối với Thượng đế cũng như các nguyên tử trường tồn đối với con người. Chúng nhập thể các nguyên khí. Một số hành tinh chỉ cung cấp những nơi cư ngụ tạm thời [Page 299] cho các nguyên khí này. Những hành tinh khác tồn tại suốt mahamanvantara. Sao Kim là một trong số đó.

175. This is an important paragraph.

175. Đây là một đoạn rất quan trọng.

176. Of Saturn we learn, on TCF 406,

176. Về Sao Thổ, chúng ta học được ở TCF 406,

“Uranus and Neptune are reflections of the logoic astral and mental permanent atoms. Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom. This is an occult mystery and must not be separated from its allied truth in the cosmic scheme. (TCF 406)

“Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là những phản chiếu của các nguyên tử trường tồn cảm dục và trí tuệ của Thượng đế. Thật ra Sao Thổ là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. Đây là một huyền nhiệm huyền bí và không được tách rời khỏi chân lý liên hệ của nó trong hệ thống vũ trụ. (TCF 406)

177. Another important reference in this regard is as follows:

177. Một tài liệu tham chiếu quan trọng khác về phương diện này như sau:

“In the direct alignment of certain planets in the process of systemic evolution, with each other and with the Sun comes Logoic or divine alignment. Think this out, but one word of warning I give. Seek not to work out hypotheses of alignment based on the physical planets. The truth lies not there. Only three of the physical planets (and those three in etheric matter) enter into the final alignment that marks the attainment [7] by the Logos of the cosmic egoic consciousness, which is His goal of attainment. Of these three, the earth is not one, but Venus has her place corresponding to the emotional permanent atom”. (LOM 6-7)

“Trong sự chỉnh hợp trực tiếp của một số hành tinh trong tiến trình tiến hoá hệ thống, với nhau và với Mặt Trời, xuất hiện sự chỉnh hợp của Thượng đế hay thiêng liêng. Hãy suy ngẫm điều này, nhưng tôi đưa ra một lời cảnh báo. Đừng tìm cách xây dựng các giả thuyết chỉnh hợp dựa trên các hành tinh hồng trần. Chân lý không nằm ở đó. Chỉ có ba hành tinh hồng trần (và ba hành tinh ấy ở trong vật chất dĩ thái) đi vào sự chỉnh hợp cuối cùng đánh dấu sự đạt được [7] của Thượng đế đối với tâm thức chân ngã vũ trụ, vốn là mục tiêu thành tựu của Ngài. Trong ba hành tinh ấy, trái đất không phải là một, nhưng Sao Kim có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm xúc”. (LOM 6-7)

178. If Venus “has her place corresponding to the emotional permanent atom”, and Neptune is but a “reflection” of the emotional permanent atom, it must an ‘upward’ reflection, for Neptune is the higher octave of Venus.

178. Nếu Sao Kim “có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm xúc”, và Sao Hải Vương chỉ là một “phản chiếu” của nguyên tử trường tồn cảm xúc, thì đó hẳn phải là một phản chiếu ‘hướng lên’, vì Sao Hải Vương là quãng tám cao hơn của Sao Kim.

179. If we follow the implied analogy, we will look for that planet which is the correspondence of the mental permanent atom; we have learned that Uranus, like Neptune, is but a reflection, in this case, it would seem of the logoic mental permanent atom.

179. Nếu chúng ta theo phép tương đồng được hàm ý, chúng ta sẽ tìm hành tinh là sự tương ứng của nguyên tử trường tồn trí tuệ; chúng ta đã biết rằng Sao Thiên Vương, cũng như Sao Hải Vương, chỉ là một phản chiếu, trong trường hợp này dường như là phản chiếu của nguyên tử trường tồn trí tuệ của Thượng đế.

180. Would Mercury then be the correspondence to the logoic mental permanent atom? We do not know that the Solar Logos has a mental unit, personal se. The mental unit as a structure may be unique to man because of his arrested development on the Moon-chain. But there are so many close analogies between man and the Solar Logos that we should not discount the possibility.

180. Vậy thì Sao Thủy có phải là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn trí tuệ của Thượng đế không? Chúng ta không biết Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí, chính nó, hay không. Đơn vị hạ trí như một cấu trúc có thể là độc nhất nơi con người vì sự phát triển bị đình trệ của y trên Dãy Mặt Trăng. Nhưng có quá nhiều phép tương đồng gần gũi giữa con người và Thái dương Thượng đế đến mức chúng ta không nên loại trừ khả năng ấy.

181. Since Earth is in a process of arrested development, just as man is, it may be wondered whether the Planetary Logos of Earth also has a mental unit just as man has.

181. Vì Trái Đất đang trong một tiến trình phát triển bị đình trệ, cũng như con người, nên có thể tự hỏi liệu Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất cũng có một đơn vị hạ trí giống như con người hay không.

182. The term “reflection” may be misleading, because, as stated the reflection is, it seems, an ‘upward’ reflection. We might infer that Uranus would be the correspondence to the logoic atmic permanent atom and Neptune the correspondence of the logoic buddhic permanent atom. This would stand to reason as no human being coordinates the buddhic vehicle unless Neptune is prominent in his astrological chart. Yet, Neptune is also said to be a planet which is not a true member of our solar system.

182. Thuật ngữ “phản chiếu” có thể gây hiểu lầm, bởi vì, như đã nói, phản chiếu ấy dường như là một phản chiếu ‘hướng lên’. Chúng ta có thể suy ra rằng Sao Thiên Vương sẽ là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn atma của Thượng đế và Sao Hải Vương là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn Bồ đề của Thượng đế. Điều này có vẻ hợp lý vì không một con người nào phối hợp vận cụ Bồ đề trừ phi Sao Hải Vương nổi bật trong lá số chiêm tinh của ông. Tuy nhiên, Sao Hải Vương cũng được nói là một hành tinh không phải là thành viên đích thực của hệ mặt trời chúng ta.

183. We have Jupiter and Vulcan to account for. Jupiter can be related to the buddhic level and Vulcan to either the physical or the atmic levels (though it has a mysterious relation to the “heart of the sun” (EA 393).

183. Chúng ta còn phải tính đến Sao Mộc và Vulcan. Sao Mộc có thể liên hệ với cấp độ Bồ đề và Vulcan với các cấp độ hồng trần hoặc atma (dù nó có một liên hệ huyền nhiệm với “trái tim của mặt trời” (EA 393).

184. Saturn is a very sacred planet, but there is also an esoteric Saturn. It would be strange if the three synthesizing planets were not related to the permanent atoms within the spiritual triad of the Solar Logos, and thus essentially related to His three major principle. The three planets associated with the three “super-principles” (Saturn, Jupiter and Venus) may be, two of them, only temporary representatives of the three major logoic principles).

184. Sao Thổ là một hành tinh rất thiêng liêng, nhưng cũng có một esoteric Sao Thổ. Sẽ là điều lạ nếu ba hành tinh tổng hợp không liên hệ với các nguyên tử trường tồn bên trong Tam Nguyên Tinh Thần của Thái dương Thượng đế, và do đó về bản chất liên hệ với ba nguyên khí chính của Ngài. Ba hành tinh gắn với ba “siêu-nguyên khí” (Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim) có thể, trong đó hai hành tinh, chỉ là những đại diện tạm thời của ba nguyên khí chính của Thượng đế).

185. We cannot be dogmatic about these matters; we can only gather the indications.

185. Chúng ta không thể giáo điều về những vấn đề này; chúng ta chỉ có thể thu thập các dấu hiệu.

186. The implication in the excerpt under discussion is that the Earth, not being a sacred planet, affords only a temporary home to a solar logoic principle. This may also be the case with other non-sacred planets such as Mars and Pluto, and the two non-sacred and presently unknown planets veiled by the Sun and Moon.

186. Hàm ý trong đoạn trích đang được bàn đến là Trái Đất, vì không phải là một hành tinh thiêng liêng, chỉ cung cấp một nơi cư ngụ tạm thời cho một nguyên khí của Thái dương Thượng đế. Điều này cũng có thể đúng với các hành tinh không thiêng liêng khác như Sao Hỏa và Sao Diêm Vương, và hai hành tinh không thiêng liêng hiện chưa được biết đến bị Mặt Trời và Mặt Trăng che giấu.

187. Venus, we learn, lasts throughout the mahamanvantara. If we consult the Secret Doctrine, it would seem that Martanda (the Sun) and His seven Brothers all precipitate into objectivity at one moment in cosmic time. May it be that only the sacred planets accompany Martanda into objective manifestation, but that the Earth, Mars, Pluto and others, do not? Modern science may have something to say of this, but will it be occultly definitive?

187. Chúng ta biết rằng Sao Kim tồn tại suốt mahamanvantara. Nếu tham khảo Giáo Lý Bí Nhiệm, có vẻ như Martanda (Mặt Trời) và bảy Huynh Đệ của Ngài đều cùng ngưng tụ vào tính khách quan trong một khoảnh khắc của thời gian vũ trụ. Có thể chăng chỉ các hành tinh thiêng liêng đi cùng Martanda vào biểu hiện khách quan, còn Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Diêm Vương và các hành tinh khác thì không? Khoa học hiện đại có thể có điều gì đó để nói về việc này, nhưng liệu nó có mang tính quyết định theo huyền bí học không?

188. Martanda only has seven Brothers accompanying Him into manifestation. There is no room for all the ten planets (and even far more, according to the Tibetan), at the outset of solar systemic manifestation—unless the Secret Doctrine only discussed the seven.

188. Chỉ có bảy Huynh Đệ đi cùng Martanda vào biểu hiện. Không có chỗ cho cả mười hành tinh (và thậm chí còn nhiều hơn nữa, theo Chân sư Tây Tạng), vào lúc khởi đầu biểu hiện của hệ mặt trời—trừ phi Giáo Lý Bí Nhiệm chỉ bàn đến bảy hành tinh.

189. Even if all planets came into manifestation with Martanda, some of them would have to fade from manifestation sooner than others which, like Venus, endure throughout the mahakalpa.

189. Ngay cả nếu tất cả các hành tinh đều đi vào biểu hiện cùng với Martanda, một số trong chúng cũng sẽ phải mờ dần khỏi biểu hiện sớm hơn những hành tinh khác, những hành tinh mà, như Sao Kim, tồn tại suốt mahakalpa.

190. There is an implication that Venus lasts throughout the mahamanvantara and Earth does not. We might assume that Mercury, which is “far older than the Earth) (SD I. 180), and probably “older” in certain ways than Venus, also endures throughout the mahamanvantara.

190. Có một hàm ý rằng Sao Kim tồn tại suốt mahamanvantara còn Trái Đất thì không. Chúng ta có thể giả định rằng Sao Thủy, hành tinh “cổ xưa hơn nhiều so với Trái Đất” (SD I. 180), và có lẽ “cổ xưa hơn” theo một số phương diện nào đó so với Sao Kim, cũng tồn tại suốt mahamanvantara.

191. We are told that our Solar Logos will take His fourth initiation in this solar system and, in some references, we are told that He will take his fifth.

191. Chúng ta được cho biết rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ thọ nhận lần điểm đạo thứ tư của Ngài trong hệ mặt trời này và, trong một số tài liệu tham chiếu, chúng ta được cho biết rằng Ngài sẽ thọ nhận lần điểm đạo thứ năm của Ngài.

Then, in a dual synthesis, they will pass on into the third system, that in which the Power aspect is developed, and the head centres will be complete. This achieved, our Logos has triumphed, and measured up to the sixth cosmic Initiation, just as He should measure up in this system to the fourth. (TCF 590)

Rồi, trong một sự tổng hợp nhị phân, các Ngài sẽ đi vào hệ thống thứ ba, hệ thống trong đó phương diện Quyền năng được phát triển, và các trung tâm đầu sẽ hoàn tất. Khi điều này đạt được, Thượng đế của chúng ta đã chiến thắng, và đạt đến lần Điểm đạo vũ trụ thứ sáu, cũng như Ngài phải đạt đến lần thứ tư trong hệ thống này. (TCF 590)

The 5th Mahamanvantara (or solar system) The solar Logos achieves His fifth major Initiation. (TCF 605)

Đại giai kỳ sinh hóa thứ 5 (hay hệ mặt trời) Thái dương Thượng đế đạt được lần Điểm đạo lớn thứ năm của Ngài. (TCF 605)

192. Our solar system is the fifth from one perspective detailed on the pages indicated.

192. Hệ mặt trời của chúng ta là hệ thứ năm theo một góc nhìn được trình bày chi tiết ở các trang đã nêu.

193. Now if some planets represent His physical, and astral permanent atoms (forgetting for the moment the possibility of a solar logoic mental unit), what will happen to them at the fourth initiation? They should be destroyed (or absorbed) just as the atomic triangle of man is destroyed at the fourth initiation.

193. Bây giờ nếu một số hành tinh đại diện cho các nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục của Ngài (tạm quên đi khả năng có một đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế), thì điều gì sẽ xảy ra với chúng ở lần điểm đạo thứ tư? Chúng phải bị hủy diệt (hoặc được hấp thu) cũng như tam giác nguyên tử của con người bị hủy diệt ở lần điểm đạo thứ tư.

194. Venus, being (hypothetically) correlated with the emotional permanent atom would then have to be destroyed/absorbed at the fourth major initiation. Yet it is said that Venus that it persists throughout the mahamanvantara. If this is the case, the mahamanvantara would have to end at the fourth initiation of the Solar Logos and could not go on to the fifth, as Venus would be absorbed and would not, therefore, persist throughout the mahamanvantara.

194. Khi ấy Sao Kim, vì (theo giả thuyết) tương quan với nguyên tử trường tồn cảm xúc, sẽ phải bị hủy diệt/hấp thu ở lần điểm đạo lớn thứ tư. Tuy nhiên, người ta nói về Sao Kim rằng nó tồn tại suốt mahamanvantara. Nếu đúng như vậy, thì mahamanvantara sẽ phải kết thúc ở lần điểm đạo thứ tư của Thái dương Thượng đế và không thể tiếp tục đến lần thứ năm, vì Sao Kim sẽ bị hấp thu và do đó sẽ không tồn tại suốt mahamanvantara.

195. The one means of escaping from this contradiction might be found in the words from LOM 6:

195. Phương cách duy nhất để thoát khỏi mâu thuẫn này có thể được tìm thấy trong những lời ở LOM 6:

“Seek not to work out hypotheses of alignment based on the physical planets. The truth lies not there.”

“Đừng tìm cách xây dựng các giả thuyết chỉnh hợp dựa trên các hành tinh hồng trần. Chân lý không nằm ở đó.”

196. Yet the section above speaks of the attainment by the Logos of “cosmic egoic consciousness”, which means only the third initiation and not the end of the solar system. (cf. LOM 6-7)

196. Tuy nhiên, đoạn trên nói về sự đạt được của Thượng đế đối với “tâm thức chân ngã vũ trụ”, điều này chỉ có nghĩa là lần điểm đạo thứ ba chứ không phải sự kết thúc của hệ mặt trời. (xem LOM 6-7)

“Only three of the physical planets (and those three in etheric matter) enter into the final alignment that marks the attainment [7] by the Logos of the cosmic egoic consciousness, which is His goal of attainment. Of these three, the earth is not one, but Venus has her place corresponding to the emotional permanent atom.”

“Chỉ có ba hành tinh hồng trần (và ba hành tinh ấy ở trong vật chất dĩ thái) đi vào sự chỉnh hợp cuối cùng đánh dấu sự đạt được [7] của Thượng đế đối với tâm thức chân ngã vũ trụ, vốn là mục tiêu thành tựu của Ngài. Trong ba hành tinh ấy, trái đất không phải là một, nhưng Sao Kim có vị trí của nó tương ứng với nguyên tử trường tồn cảm xúc.”

197. So the alignment here discussed immediately above is not really the final alignment planned for this solar system, because the final alignment must relate to either the fourth or the fifth cosmic initiation for the Solar Logos.

197. Vì vậy sự chỉnh hợp được bàn đến ngay trên đây thực ra không phải là sự chỉnh hợp cuối cùng được hoạch định cho hệ mặt trời này, bởi vì sự chỉnh hợp cuối cùng phải liên hệ đến hoặc lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm của Thái dương Thượng đế.

198. VSK wonders: “Or if earth is the mental unit to Venus mental permanent atom, then is Vulcan the base/physical permanent atom?

198. VSK tự hỏi: “Hay nếu Trái Đất là đơn vị hạ trí đối với nguyên tử trường tồn trí tuệ của Sao Kim, thì Vulcan có phải là nguyên tử trường tồn đáy/hồng trần không?

199. The following reference will put us in the correct context to address VSK’s question:

199. Tài liệu tham chiếu sau đây sẽ đặt chúng ta vào đúng ngữ cảnh để giải đáp câu hỏi của VSK:

The coming of the Lords of Flame to the Earth was all under law and not just an accidental and fortunate happening; it was a planetary matter which finds its correspondence in the connection between the mental unit and the manasic permanent atom. Again, as the antaskarana is built by individual man between these two points, so—again in a planetary sense—is a channel being built by collective man on this planet to its primary, Venus. (TCF 298)

Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa đến Trái Đất đều hoàn toàn theo định luật và không chỉ là một biến cố ngẫu nhiên và may mắn; đó là một vấn đề hành tinh tìm thấy sự tương ứng của nó trong mối liên kết giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. Lại nữa, cũng như antaskarana được cá nhân con người xây dựng giữa hai điểm này, thì—một lần nữa theo nghĩa hành tinh—một kênh dẫn đang được nhân loại tập thể trên hành tinh này xây dựng đến nguyên mẫu của nó, Sao Kim. (TCF 298)

200. In relation to what VSK asks, I would suggest that the relationship between Venus and the Earth as these two relate to the permanent atom and the mental unit, must be conceived as an intra-terrestrial matter. We are not, then, speaking of the manasic permanent atom and the mental unit of the Solar Logos (because we are not even sure whether the Solar Logos has a manasic permanent atom). I would suggest that the manasic permanent atom and mental unit of which we are speaking pertain to the constitution of the Earth itself and that with the awakening of the planetary heart (of Earth), the time came for the union of the manasic permanent atom and mental unit of the Planetary Logos of Earth. Since Earth was arrested in its development as was man (by reflection) it is quite reasonable that Earth would have a mental unit as well as a manasic permanent atom.

200. Liên quan đến điều VSK hỏi, tôi xin gợi ý rằng mối quan hệ giữa Sao Kim và Trái Đất khi hai hành tinh này liên hệ với nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí phải được quan niệm như một vấn đề nội tại của Trái Đất. Như vậy, chúng ta không nói về nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế (vì chúng ta thậm chí còn không chắc liệu Thái dương Thượng đế có có một nguyên tử trường tồn manas hay không). Tôi xin gợi ý rằng nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí mà chúng ta đang nói đến thuộc về cấu tạo của chính Trái Đất và rằng cùng với sự thức tỉnh của tim hành tinh (của Trái Đất), thời điểm đã đến cho sự hợp nhất của nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí của Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất. Vì Trái Đất bị đình trệ trong sự phát triển của nó cũng như con người (theo phản chiếu), nên hoàn toàn hợp lý khi Trái Đất sẽ có một đơn vị hạ trí cũng như một nguyên tử trường tồn manas.

201. There is one line of thought which may point to the possibility that a Solar Logos has a mental unit as well as a manasic permanent atom. In the following reference we learn that a Solar Logos has a Solar Angel of which the Solar Angel of man is a dim reflection. May it be that the purpose of the Solar Angel of the Solar Logos is to unite the manasic permanent atom and the mental unit of the Solar Logos?

201. Có một đường tư tưởng có thể chỉ ra khả năng rằng một Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí cũng như một nguyên tử trường tồn manas. Trong tài liệu tham chiếu sau đây, chúng ta biết rằng một Thái dương Thượng đế có một Thái dương Thiên Thần mà Thái dương Thiên Thần của con người chỉ là một phản chiếu mờ nhạt. Có thể chăng mục đích của Thái dương Thiên Thần của Thái dương Thượng đế là hợp nhất nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế?

202. Or perhaps, there are other purposes for the Solar Angel than to unite those two units. Obviously, to know such things is far beyond human possibility.

202. Hoặc có lẽ Thái dương Thiên Thần còn có những mục đích khác ngoài việc hợp nhất hai đơn vị ấy. Hiển nhiên, biết được những điều như thế vượt xa khả năng của con người.

Three of the sacred planets, it should be remembered, are the home of the three major Rays, of the embodied forms of the three logoic aspects or principles. Other planets are embodiments of the four minor rays. We might consider—from the standpoint of the present—that Venus, Jupiter and Saturn might be considered as the vehicles of the three super-principles at this time.

Cần nhớ rằng ba hành tinh thiêng liêng là nơi cư ngụ của ba Cung chính, của các hình tướng nhập thể của ba phương diện hay nguyên khí của Thượng đế. Các hành tinh khác là sự nhập thể của bốn cung phụ. Chúng ta có thể xem xét—từ quan điểm hiện tại—rằng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ có thể được xem là các vận cụ của ba siêu-nguyên khí vào lúc này.

203. We are now discussing which of the rays and principles are embodied in (or express through) various of the planets.

203. Hiện nay chúng ta đang bàn đến việc những cung và nguyên khí nào được nhập thể trong (hay biểu lộ qua) các hành tinh khác nhau.

204. We are told that Venus, Jupiter and Saturn represent the three “super-principles” at this time, which is probably the same as saying the three rays of aspect, or the principles of atma (first ray), buddhi (second ray) and manas (third ray) express through these three (at this time).

204. Chúng ta được cho biết rằng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ đại diện cho ba “siêu-nguyên khí” vào lúc này, điều này có lẽ cũng tương đương với việc nói rằng ba Cung Trạng Thái, hay các nguyên khí atma (cung một), Bồ đề (cung hai) và manas (cung ba) biểu lộ qua ba hành tinh này (vào lúc này).

205. It is not likely that these three planets represent any super-Entity (as do Saturn/Mars/Earth and Uranus/Venus/Jupiter—cf. EP II 99).

205. Khó có khả năng ba hành tinh này đại diện cho bất kỳ siêu-Thực Thể nào (như Sao Thổ/Sao Hỏa/Trái Đất và Sao Thiên Vương/Sao Kim/Sao Mộc—xem EP II 99).

206. It is also probable that the order in which the three are presented is significant. You will notice that their order is the order in which they are found as one moves ‘outward’ from the Sun and so, is, a conventional order.

206. Cũng có thể trật tự mà ba hành tinh này được trình bày là có ý nghĩa. Các bạn sẽ nhận thấy rằng trật tự của chúng là trật tự theo đó chúng được tìm thấy khi người ta di chuyển “ra ngoài” từ Mặt Trời và vì thế, đó là một trật tự quy ước.

207. If these planets were to be assigned (and only from the standpoint of the present) as representatives of the three super-principles, one could reason as follows:

207. Nếu các hành tinh này được gán (và chỉ từ quan điểm của hiện nay) như những đại diện của ba siêu-nguyên khí, người ta có thể lý luận như sau:

a. Saturn is clearly connected with both the third and first ray. It may be inferred with reason that the personality ray of Saturn is ray one.

a. Sao Thổ rõ ràng liên hệ với cả cung ba lẫn cung một. Có thể suy ra một cách hợp lý rằng cung phàm ngã của Sao Thổ là cung một.

b. Venus is clearly connected with the fifth, second and sixth rays. It may be inferred with reason that the personality ray of Venus is the second ray and perhaps its major monadic ray.

b. Sao Kim rõ ràng liên hệ với các cung năm, hai và sáu. Có thể suy ra một cách hợp lý rằng cung phàm ngã của Sao Kim là cung hai và có lẽ là cung chân thần chính của nó.

c. Jupiter is clearly connected with the second and seventh rays. Some ray six may be possible, and as Jupiter/Zeus is the King of the Gods who hurls thunderbolts, there may be some ray one. From the astronomical perspective, Jupiter does have a “red eye”, red being the esoteric color of the first ray. If Jupiter has a seventh ray Monad, one day it will be a first ray Monad (as seventh ray souls when transferring onto one of the Rays of Aspect, transfer to the first ray).

c. Sao Mộc rõ ràng liên hệ với các cung hai và bảy. Có thể có một ít cung sáu, và vì Sao Mộc/Zeus là Vua của các Thượng đế phóng ra những tia sét, nên có thể có một ít cung một. Từ góc độ thiên văn học, Sao Mộc quả thật có một “con mắt đỏ”, màu đỏ là màu sắc huyền bí của cung một. Nếu Sao Mộc có một chân thần cung bảy, thì một ngày nào đó nó sẽ là một chân thần cung một (vì các linh hồn cung bảy khi chuyển sang một trong Các Cung Trạng Thái thì chuyển sang cung một).

208. In the present, our second solar system is still under the rulership of Brahma (the third aspect) for which Entity, Saturn stands the “head”. Our Solar Logos (on His own level) is not yet a sacred Solar Logos.

208. Hiện nay, hệ mặt trời thứ hai của chúng ta vẫn còn dưới sự cai quản của Brahma (phương diện thứ ba), mà đối với Thực Thể ấy, Sao Thổ là “đầu”. Thái dương Thượng đế của chúng ta (trên cấp độ riêng của Ngài) vẫn chưa là một Thái dương Thượng đế thiêng liêng.

209. According to present reasoning, one would not assign Venus in either the first or third position (regarding “super-principles”). The natural placement for Venus is as the expression of the second great principle. Indeed, we are told (in a blinded manner, I think) that Venus is the “heart centre” of the Solar Logos.

209. Theo lối lý luận hiện nay, người ta sẽ không đặt Sao Kim vào vị trí thứ nhất hay thứ ba (xét về các “siêu-nguyên khí”). Vị trí tự nhiên của Sao Kim là như biểu hiện của nguyên khí vĩ đại thứ hai. Thật vậy, chúng ta được cho biết (theo một cách che giấu, tôi nghĩ vậy) rằng Sao Kim là “trung tâm tim” của Thái dương Thượng đế.

“Venus corresponds to the heart centre in the body logoic, and has an inter-relationship therefore with all the other centres in the solar system wherein the heart aspect is the one of greater prominence.” (TCF 182).

“Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thân thể của Thượng đế, và do đó có một mối tương liên với tất cả các trung tâm khác trong hệ mặt trời, nơi phương diện tim là phương diện nổi trội hơn cả.” (TCF 182).

210. Because of its sixth ray monadic nature, Venus is naturally connected to the solar plexus, and thus, again to the astral nature.

210. Vì bản chất chân thần cung sáu của nó, Sao Kim tự nhiên liên hệ với tùng thái dương, và do đó, một lần nữa, với bản chất cảm dục.

“It is the home of the planetary Logos of the sixth Ray. This may sound like a contradiction, but it is not so really; we must remember the interlocking, the gradual shifting and changing, that takes place in time on all [Page 596] the Rays. In the same way the Earth chain is the third if viewed from one aspect and the fifth viewed from another”. (TCF 595-596)

“Đó là nơi cư ngụ của Hành Tinh Thượng Đế thuộc cung sáu. Điều này có thể nghe như một mâu thuẫn, nhưng thật ra không phải vậy; chúng ta phải nhớ đến sự đan xen, sự chuyển dịch và thay đổi dần dần, diễn ra theo thời gian trên mọi [Page 596] cung. Cũng theo cách ấy, Dãy Địa Cầu là dãy thứ ba nếu nhìn từ một phương diện và là dãy thứ năm nếu nhìn từ một phương diện khác”. (TCF 595-596)

211. Admittedly, Venus could embody the mental principle because of its fifth ray soul, but this would mean that Venus (the most unfolded of the planets) was the distributor of the fifth ray coming through the solar logoic mind, which is most unlikely in our astral-buddhic solar system wherein the Solar Logos has not yet achieved cosmic mental polarization.

211. Phải thừa nhận rằng Sao Kim có thể hiện thân cho nguyên khí trí tuệ vì linh hồn cung năm của nó, nhưng điều này sẽ có nghĩa rằng Sao Kim (hành tinh khai mở nhất) là đấng phân phối cung năm đi qua trí tuệ của Thái dương Thượng đế, điều này rất khó có khả năng trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta, nơi Thái dương Thượng đế vẫn chưa đạt được sự phân cực trí tuệ vũ trụ.

We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing [53] cosmic mind. (LOM 52-53)

Chúng ta đã được cho biết rằng Thái dương Thượng đế, trên các cõi vũ trụ, đang làm việc với vấn đề của trí tuệ vũ trụ; rằng Ngài hoạt động trong hệ mặt trời hồng trần của Ngài, được phân cực trong thể cảm dục, hay thể cảm xúc vũ trụ của Ngài, và đang phát triển [53] trí tuệ vũ trụ. (LOM 52-53)

212. Further, since Venus is the most unfolded planet in our solar system (though not the most spiritually advanced), it is unlikely that a planet so unfolded would represent a principle which is not yet much unfolded in our solar system.

212. Hơn nữa, vì Sao Kim là hành tinh khai mở nhất trong hệ mặt trời của chúng ta (dù không phải là hành tinh tiến bộ tinh thần nhất), nên khó có khả năng một hành tinh khai mở như vậy lại đại diện cho một nguyên khí chưa được khai mở nhiều trong hệ mặt trời của chúng ta.

213. Further we are told that Venus corresponds to the heart center in the body logoic, so it would be strange to list it as representing a mental super-principle.

213. Hơn nữa, chúng ta được cho biết rằng Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thân thể của Thượng đế, nên sẽ là điều lạ nếu liệt kê nó như đại diện cho một siêu-nguyên khí trí tuệ.

214. Further, the mental super-principle should express through a planet which was harmonious with the third ray. Venus is not, unless we deem its fifth ray expression to be a lower octave of the fifth ray.

214. Hơn nữa, siêu-nguyên khí trí tuệ phải biểu lộ qua một hành tinh hài hòa với cung ba. Sao Kim thì không như vậy, trừ phi chúng ta xem biểu hiện cung năm của nó là một quãng tám thấp của cung năm.

215. If, despite these objections, we were to assign Venus to the mental super-principle (representing the third ray), then we would have to find a placement for Saturn and Jupiter.

215. Nếu, bất chấp những phản đối này, chúng ta gán Sao Kim cho siêu-nguyên khí trí tuệ (đại diện cho cung ba), thì chúng ta sẽ phải tìm vị trí cho Sao Thổ và Sao Mộc.

216. Since it is not conceivable that Saturn represents buddhi and the second ray, the order would have to be Saturn representing atma and the first ray; Jupiter representing buddhi and the second ray and Venus representing manas and the third ray.

216. Vì không thể hình dung rằng Sao Thổ đại diện cho Bồ đề và cung hai, nên trật tự sẽ phải là: Sao Thổ đại diện cho atma và cung một; Sao Mộc đại diện cho Bồ đề và cung hai; và Sao Kim đại diện cho manas và cung ba.

217. As stated above, however, there are problems with this assignment.

217. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, có những vấn đề với cách gán này.

218. If, however, we determine that Venus should be held in relation to the second super-principle, buddhi, then it seems we would have to distribute Saturn and Jupiter in relation to the first and third super-principles.

218. Tuy nhiên, nếu chúng ta xác định rằng Sao Kim nên được giữ trong mối liên hệ với siêu-nguyên khí thứ hai, Bồ đề, thì dường như chúng ta sẽ phải phân phối Sao Thổ và Sao Mộc theo siêu-nguyên khí thứ nhất và thứ ba.

219. Saturn has an easy fit to principle one or three, since it expresses both the first and third rays and can be as easily understood as atmic or manasic.

219. Sao Thổ rất dễ phù hợp với nguyên khí một hoặc ba, vì nó biểu hiện cả cung một lẫn cung ba và có thể được hiểu dễ dàng như atma hoặc manas.

220. Jupiter is “King of the Gods”, hence its relation to the first ray; and because of its seventh ray (whether this seventh ray represents its monadic or personality nature), it is related naturally to ray three (since, materially, ray seven is a lower octave of ray three)

220. Sao Mộc là “Vua của các Thượng đế”, do đó có liên hệ với cung một; và vì cung bảy của nó (dù cung bảy này đại diện cho bản chất chân thần hay phàm ngã của nó), nó tự nhiên liên hệ với cung ba (vì, về mặt vật chất, cung bảy là một quãng tám thấp của cung ba)

221. Jupiter rules all vehicles which are expressions for indwelling powers—such as the causal vehicle and the monadic vehicle. Vehicles always can be related to the third aspect of divinity.

221. Sao Mộc cai quản mọi vận cụ là những biểu hiện cho các quyền năng ngự bên trong—chẳng hạn như vận cụ nguyên nhân và vận cụ chân thần. Các vận cụ luôn có thể được liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

222. Jupiter is also connected with the Monad which is King, at least temporarily. And Jupiter certainly represents the Sun, who is certainly King.

222. Sao Mộc cũng liên hệ với Chân thần là Vua, ít nhất là tạm thời. Và Sao Mộc chắc chắn đại diện cho Mặt Trời, vốn chắc chắn là Vua.

223. We have three principle possibilities for assigning these three planets to “super-principles”:

223. Chúng ta có ba khả năng nguyên tắc để gán ba hành tinh này cho các “siêu-nguyên khí”:

[table 4]

Option 1

Option 2

Option 3

Jupiter-R1

Saturn-R1. atma

Saturn-R1. atma

Venus-R2

Venus-R2.

Jupiter-R2. buddhi

Saturn-R3

Jupiter-R3. (from R7)

Venus—R3. manas

224. Each of these three arrangements has something to recommend it.

224. Mỗi một trong ba cách sắp xếp này đều có điều gì đó đáng để ủng hộ.

225. We note that we do not place Venus as the embodiment of the first principle as it would not make sense; for the same reason (that it would not make sense), Saturn is not placed as the embodiment of the second principle

225. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta không đặt Sao Kim như hiện thân của nguyên khí thứ nhất vì điều đó sẽ không hợp lý; cũng vì lý do ấy (rằng điều đó sẽ không hợp lý), Sao Thổ không được đặt như hiện thân của nguyên khí thứ hai

226. Much depends on whether we consider that Jupiter or Saturn should represent the first principle. Saturn, of course, has a perfect fit with the atmic plane which, in fact, it rules.

226. Nhiều điều tùy thuộc vào việc chúng ta có xem Sao Mộc hay Sao Thổ nên đại diện cho nguyên khí thứ nhất hay không. Dĩ nhiên, Sao Thổ hoàn toàn phù hợp với cõi atma mà thật ra nó cai quản.

227. While Jupiter could be understood as embodying (monadically—eventually) the first aspect, it does not fit well with atma, per se. It is more in relation to the Monad that Jupiter finds its place, and the Monad is a great first ray center, though placed upon the second subplane of any of the cosmic planes.

227. Dù Sao Mộc có thể được hiểu là hiện thân (về mặt chân thần—về sau) của phương diện thứ nhất, nó không thật sự phù hợp với atma, chính nó. Sao Mộc tìm được vị trí của mình nhiều hơn trong mối liên hệ với Chân thần, và Chân thần là một trung tâm cung một vĩ đại, dù được đặt trên cõi phụ thứ hai của bất kỳ cõi vũ trụ nào.

228. How then can a choice be made? The only place where Jupiter is completely resonant is in relation to buddhi, for Jupiter is now expressing the second ray through its soul nature.

228. Vậy thì làm sao có thể đưa ra lựa chọn? Nơi duy nhất mà Sao Mộc hoàn toàn cộng hưởng là trong mối liên hệ với Bồ đề, vì hiện nay Sao Mộc đang biểu hiện cung hai qua bản chất linh hồn của nó.

229. Saturn is completely resonant in relation to the first or third super-principle.

229. Sao Thổ hoàn toàn cộng hưởng trong mối liên hệ với siêu-nguyên khí thứ nhất hoặc thứ ba.

230. Venus is most resonant in relation to the second super-principle, and somewhat, through its fifth ray soul, to the third principle—but its emphasis in the solar system does not seem to be primarily mental (as the heart center is so often emphasized in relation to it). Venus cannot represent the first principle.

230. Sao Kim cộng hưởng mạnh nhất trong mối liên hệ với siêu-nguyên khí thứ hai, và phần nào đó, qua linh hồn cung năm của nó, với nguyên khí thứ ba—nhưng trọng tâm của nó trong hệ mặt trời dường như không chủ yếu là trí tuệ (vì trung tâm tim thường được nhấn mạnh rất nhiều khi nói về nó). Sao Kim không thể đại diện cho nguyên khí thứ nhất.

231. If we choose an option with Venus in the second position, we should remember that our system is primarily an astral-buddhic system. If our Solar Logos has not yet achieved cosmic mind, He certainly has not achieved the fullness of cosmic buddhi, but His astral body may reflect buddhi. Venus, in fact, represents the emotional permanent atom of the Solar Logos, and thus (through its relation to buddhic Neptune) is a good conduit for buddhic energy, especially in an astral-buddhic system.

231. Nếu chúng ta chọn một phương án với Sao Kim ở vị trí thứ hai, chúng ta nên nhớ rằng hệ của chúng ta chủ yếu là một hệ cảm dục-Bồ đề. Nếu Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa đạt được trí tuệ vũ trụ, thì chắc chắn Ngài cũng chưa đạt được sự viên mãn của Bồ đề vũ trụ, nhưng thể cảm dục của Ngài có thể phản chiếu Bồ đề. Thật vậy, Sao Kim đại diện cho nguyên tử trường tồn cảm xúc của Thái dương Thượng đế, và do đó (qua mối liên hệ của nó với Sao Hải Vương Bồ đề) là một ống dẫn tốt cho năng lượng Bồ đề, đặc biệt trong một hệ cảm dục-Bồ đề.

232. Thus Venus would not have to convey the fullness of the second principle, but only as much of it as could be focussed in the solar logoic solar plexus center which Venus, reasonably, represents (as argued earlier).

232. Vì vậy Sao Kim sẽ không phải chuyển tải trọn vẹn nguyên khí thứ hai, mà chỉ nhiều đến mức có thể được tập trung trong trung tâm tùng thái dương của Thái dương Thượng đế mà Sao Kim, một cách hợp lý, đại diện (như đã lập luận trước đó).

233. Then we would have Jupiter and Saturn to divide between the first and third principles. Do we feel more comfortable with Jupiter as representing atma and the first ray or manas and the third ray. Like Venus, there is not much suggestion of the third ray in Jupiter (though there is much suggestion of the seventh, relating Jupiter to all manner of vehicles).

233. Khi đó chúng ta sẽ có Sao Mộc và Sao Thổ để phân chia giữa nguyên khí thứ nhất và thứ ba. Chúng ta cảm thấy thoải mái hơn khi xem Sao Mộc đại diện cho atma và cung một hay manas và cung ba? Giống như Sao Kim, không có nhiều gợi ý về cung ba trong Sao Mộc (dù có rất nhiều gợi ý về cung bảy, liên hệ Sao Mộc với mọi loại vận cụ).

234. One more point concerning the possibility of Venus representing manas, the third principle. It is clear that our Solar Logos has not yet taken the third cosmic initiation. To activate buddhi, He would have to take the fourth. To activate atma, He would have to take the fifth. Obviously, as He is working towards the third, a planet represented the third principle would be more unfolded that the planets representing the second and first principles. In fact, Venus is far more unfolded than either Jupiter or Saturn (each of which is focussed in their third chain, whereas Venus is focussed in its fifth). Such reasoning as this would make Venus a candidate for the embodiment of the third super-principle.

234. Thêm một điểm nữa liên quan đến khả năng Sao Kim đại diện cho manas, nguyên khí thứ ba. Rõ ràng là Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ ba. Để hoạt hóa Bồ đề, Ngài sẽ phải nhận lần điểm đạo thứ tư. Để hoạt hóa atma, Ngài sẽ phải nhận lần điểm đạo thứ năm. Hiển nhiên, vì Ngài đang hướng tới lần điểm đạo thứ ba, nên một hành tinh đại diện cho nguyên khí thứ ba sẽ khai mở hơn các hành tinh đại diện cho nguyên khí thứ hai và thứ nhất. Thật vậy, Sao Kim khai mở hơn rất nhiều so với cả Sao Mộc lẫn Sao Thổ (mỗi hành tinh này đều tập trung trong dãy thứ ba của chúng, trong khi Sao Kim tập trung trong dãy thứ năm của nó). Lối lý luận như thế này sẽ khiến Sao Kim trở thành một ứng viên cho hiện thân của siêu-nguyên khí thứ ba.

235. Were we to make Venus the representative of manas, then Jupiter would quite naturally represent buddhi and Saturn, atma.

235. Nếu chúng ta xem Sao Kim là đại diện của manas, thì Sao Mộc sẽ khá tự nhiên đại diện cho Bồ đề và Sao Thổ đại diện cho atma.

236. In this section we have been told of the relationship between Venus and Earth in relation to the manasic permanent atom and mental unit. We do not know whether the Solar Logos has a mental unit, but if so, the Earth could be a good candidate. The symbol for the Earth (the even-armed cross within the circle) is the symbol which can be used of the fourfold mental unit even as it is appropriate for the fourfold base of the spine center.

236. Trong phần này, chúng ta đã được cho biết về mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất liên quan đến nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí. Chúng ta không biết liệu Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí hay không, nhưng nếu có, Trái Đất có thể là một ứng viên tốt. Biểu tượng của Trái Đất (thập giá có bốn cánh bằng nhau bên trong vòng tròn) là biểu tượng có thể dùng cho đơn vị hạ trí tứ phân cũng như nó thích hợp cho đáy cột sống tứ phân.

237. Should we conceive that the presence of the logoic Solar Angel indicates the need for a mental unit as well as a manasic permanent atom, then the Earth, the incarnation of which does not last throughout the mahamanvantara, may be a good candidate, playing that role to its primary Venus, which does last throughout the mahamanvantara.

237. Nếu chúng ta hình dung rằng sự hiện diện của Thái dương Thiên Thần của Thượng đế cho thấy nhu cầu về một đơn vị hạ trí cũng như một nguyên tử trường tồn manas, thì Trái Đất, sự lâm phàm của nó không kéo dài suốt mahamanvantara, có thể là một ứng viên tốt, đóng vai trò đó đối với Sao Kim nguyên thủy của nó, hành tinh quả thật kéo dài suốt mahamanvantara.

238. Should we choose to think of Earth as a mental unit (even though its relations to the spleen, sacral center and base of the spine center can be reasonably established) it would go far to suggesting the primacy of the order of the super-principles as follows: Saturn, atma: Jupiter, buddhi; Venus, manas.

238. Nếu chúng ta chọn nghĩ về Trái Đất như một đơn vị hạ trí (dù các mối liên hệ của nó với lá lách, trung tâm xương cùng và đáy cột sống có thể được xác lập một cách hợp lý) thì điều đó sẽ góp phần lớn vào việc gợi ý tính ưu tiên của trật tự các siêu-nguyên khí như sau: Sao Thổ, atma; Sao Mộc, Bồ đề; Sao Kim, manas.

239. Reasoning, however, will only take us so far. Intuitive conviction is necessary and until such conviction dawns with certitude, it may be best to leave the conclusion unresolved. It will be necessary for thinkers on these matters to make their own choice. Nothing definitive can be stated here.

239. Tuy nhiên, lý luận chỉ có thể đưa chúng ta đi đến một mức nào đó. Cần có sự xác tín trực giác, và cho đến khi sự xác tín ấy lóe lên với tính chắc chắn, có lẽ tốt hơn là để kết luận ở trạng thái chưa giải quyết. Những nhà tư tưởng về các vấn đề này sẽ cần tự đưa ra lựa chọn của mình. Không thể phát biểu điều gì dứt khoát ở đây.

240. All three options have something reasonable about them—unfortunately.

240. Cả ba phương án đều có điều gì đó hợp lý—thật không may.

241. My preference would be the first column with Jupiter, temporarily representing the first super-principle.

241. Sở thích của tôi là cột thứ nhất với Sao Mộc tạm thời đại diện cho siêu-nguyên khí thứ nhất.

Mercury, the Earth and Mars are closely allied to these three, but a hidden mystery lies here.

Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa liên kết chặt chẽ với ba hành tinh này, nhưng ở đây có một huyền nhiệm ẩn giấu.

242. We have two sets of three planets, of which the ones immediately above must be in some way a lower correspondence to Saturn, Jupiter and Venus.

242. Chúng ta có hai bộ ba hành tinh, trong đó những hành tinh vừa nêu trên hẳn phải theo một cách nào đó là sự tương ứng thấp hơn với Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim.

243. In the triangle Mercury, Earth and Mars, we have one sacred and two non-sacred planets.

243. Trong tam giác Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa, chúng ta có một hành tinh thiêng liêng và hai hành tinh không thiêng liêng.

244. If the planets Saturn, Jupiter and Venus rule for the moment the three “super-principles” then these three may perhaps be associated with lower principles—i.e., those to be found in relation to the lower vehicles and chakras.

244. Nếu các hành tinh Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim hiện thời cai quản ba “siêu-nguyên khí” thì có lẽ ba hành tinh này có thể được liên kết với các nguyên khí thấp hơn—tức là những nguyên khí được tìm thấy liên quan đến các vận cụ thấp và các luân xa.

245. Conventional wisdom concerning these three planets lists Mercury as a mental planet, Mars as strongly emotional/idealistic, and Earth as a physical planet.

245. Minh triết quy ước liên quan đến ba hành tinh này liệt kê Sao Thủy như một hành tinh trí tuệ, Sao Hỏa như một hành tinh cảm xúc/lý tưởng mạnh mẽ, và Trái Đất như một hành tinh hồng trần.

246. Of course, something other than the conventional approach may be involved in this listing.

246. Dĩ nhiên, có thể có điều gì đó khác với cách tiếp cận quy ước được bao hàm trong cách liệt kê này.

247. As regards the effect of these three on humanity, Mercury certainly influences the human mind, and in fact, rules the entire Fourth Creative Hierarchy. Mars strongly affects humanity’s astral functioning and the condition of its solar plexus. Earth represents the “field of experience” and is associated with the physical nature.

247. Xét về ảnh hưởng của ba hành tinh này lên nhân loại, Sao Thủy chắc chắn ảnh hưởng đến trí tuệ con người, và thật ra cai quản toàn bộ Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư. Sao Hỏa ảnh hưởng mạnh đến hoạt động cảm dục của nhân loại và tình trạng của tùng thái dương của nó. Trái Đất đại diện cho “trường kinh nghiệm” và được liên kết với bản chất hồng trần.

248. Relations of Mercury:

248. Các mối liên hệ của Sao Thủy:

a. Mercury is related to Saturn because they both transmit the third ray—Mercury through its personality (and probably major monadic ray) and Saturn through its soul and certainly through its Monad.

a. Sao Thủy liên hệ với Sao Thổ vì cả hai đều truyền dẫn cung ba—Sao Thủy qua phàm ngã của nó (và có lẽ là cung chân thần chính) và Sao Thổ qua linh hồn của nó và chắc chắn qua Chân thần của nó.

b. Mercury and Saturn are both planets of mentality, and they rule, respectively, the higher and lower antahkarana.

b. Sao Thủy và Sao Thổ đều là những hành tinh của trí tuệ, và lần lượt cai quản antahkarana cao và thấp.

c. Mercury and Jupiter are the rulers of the Mutable Cross.

c. Sao Thủy và Sao Mộc là các chủ tinh của Thập Giá Biến đổi.

d. On a higher turn of the spiral, they can both relate to the abstract mind.

d. Trên một vòng xoắn cao hơn của chu kỳ, cả hai đều có thể liên hệ với trí trừu tượng.

e. Mercury and Venus are a natural pair, Mercury being the inspiration of the Buddha and Venus the inspiration of the Christ.

e. Sao Thủy và Sao Kim là một cặp tự nhiên, Sao Thủy là nguồn cảm hứng của Đức Phật và Sao Kim là nguồn cảm hứng của Đức Christ.

f. Mercury and Venus together represent the mental nature of the Divine Hermaphrodite.

f. Sao Thủy và Sao Kim cùng nhau đại diện cho bản chất trí tuệ của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng.

249. Relations of Earth:

249. Các mối liên hệ của Trái Đất:

a. The Earth is naturally related to Saturn, as Saturn represents the mental nature and Earth, the physical, of a great Entity on the third ray. (EP II 99)

a. Trái Đất tự nhiên liên hệ với Sao Thổ, vì Sao Thổ đại diện cho bản chất trí tuệ và Trái Đất đại diện cho bản chất hồng trần của một Thực Thể vĩ đại trên cung ba. (EP II 99)

b. Saturn and Earth together rule the throat center of the disciple and average man respectively.

b. Sao Thổ và Trái Đất cùng nhau lần lượt cai quản trung tâm cổ họng của đệ tử và của người trung bình.

c. Saturn and Earth are both related to materiality.

c. Sao Thổ và Trái Đất đều liên hệ với tính vật chất.

d. Earth and Venus are closely related, as Venus is the Earth’s alter ego.

d. Trái Đất và Sao Kim liên hệ chặt chẽ với nhau, vì Sao Kim là đối phần của Trái Đất.

e. Earth and Jupiter are less related, even though Jupiter/Zeus presides as King of the Gods on Earth. Further Earth and Jupiter are co-rulers of Sagittarius (along with Mars in the hierarchical position).

e. Trái Đất và Sao Mộc ít liên hệ hơn, dù Sao Mộc/Zeus ngự trị như Vua của các Thượng đế trên Trái Đất. Hơn nữa, Trái Đất và Sao Mộc là các đồng chủ tinh của Nhân Mã (cùng với Sao Hỏa ở vị trí huyền giai).

f. In the same way that Saturn cannot easily be related to the buddhic or astral levels, neither can the Earth (yet), though its second ray soul may one day make such a relationship possible.

f. Cũng như Sao Thổ không thể dễ dàng được liên hệ với các cấp độ Bồ đề hay cảm dục, Trái Đất cũng vậy (chưa thể), dù linh hồn cung hai của nó một ngày nào đó có thể làm cho mối liên hệ ấy trở nên khả hữu.

250. Relations of Mars:

250. Các mối liên hệ của Sao Hỏa:

a. Mars is related to Saturn just as is the Earth, because Mars represents the astral nature of the great Entity upon the third ray for whom Saturn is as the mental body. (cf. EP II 99)

a. Sao Hỏa liên hệ với Sao Thổ cũng như Trái Đất, vì Sao Hỏa đại diện cho bản chất cảm dục của Thực Thể vĩ đại trên cung ba mà đối với Thực Thể ấy, Sao Thổ giống như thể trí. (xem EP II 99)

b. Mars is related to Jupiter as the solar plexus is to the heart. They share the rulership of Sagittarius (along with the Earth).

b. Sao Hỏa liên hệ với Sao Mộc như tùng thái dương liên hệ với tim. Chúng cùng chia sẻ quyền cai quản Nhân Mã (cùng với Trái Đất).

c. Mars has a great deal of sixth ray and Jupiter may have some as well, as the planet related to uplift and enthusiasm, as well as to faith and vision. If the sixth ray were located anywhere in Jupiter’s system it would be as the personality.

c. Sao Hỏa có rất nhiều cung sáu và Sao Mộc cũng có thể có một ít, như hành tinh liên hệ với sự nâng cao và nhiệt thành, cũng như với đức tin và tầm nhìn. Nếu cung sáu được đặt ở đâu đó trong hệ của Sao Mộc thì đó sẽ là ở phàm ngã.

d. Mars and Venus are another natural pair, with Venus representing the Higher Self and Mars the personality (all aspects of the personality).

d. Sao Hỏa và Sao Kim là một cặp tự nhiên khác, với Sao Kim đại diện cho Bản Ngã Cao Siêu và Sao Hỏa đại diện cho phàm nhân (mọi phương diện của phàm nhân).

e. Just as male and female are related so are Mars and Venus.

e. Cũng như nam và nữ có liên hệ với nhau, Sao Hỏa và Sao Kim cũng vậy.

251. On the globe level, Mars, Earth and Mercury form a sequence, in which Mars rules the third globe, Earth and fourth and Mercury the fifth globe in the Earth chain. At least, at present, the globes are named in this manner.

251. Trên cấp độ bầu hành tinh, Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy tạo thành một chuỗi, trong đó Sao Hỏa cai quản bầu hành tinh thứ ba, Trái Đất bầu hành tinh thứ tư và Sao Thủy bầu hành tinh thứ năm trong Dãy Địa Cầu. Ít nhất, hiện nay các bầu hành tinh được gọi tên theo cách này.

252. Our problem would be to discover how Mercury, Mars and Earth would correspond to Saturn, Jupiter and Venus. Along with this, we would wish to locate the lesser principles to which Mercury, Mars and Earth relate.

252. Vấn đề của chúng ta là khám phá xem Sao Thủy, Sao Hỏa và Trái Đất sẽ tương ứng với Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim như thế nào. Cùng với điều này, chúng ta sẽ muốn xác định các nguyên khí thấp hơn mà Sao Thủy, Sao Hỏa và Trái Đất liên hệ tới.

253. One method of relationship would have Earth representing the mental unit to the representation of the manasic permanent atom by Venus. Mars would represent the astral permanent atom (and the principle of kama), opposing Jupiter as the representative of buddhi. The Mercury would relate to the base of the spine center (not its only relation, to be sure) but one which would make sense in this configuration. Vulcan would have strong relation to the physical permanent atom.

253. Một phương pháp liên hệ sẽ là để Trái Đất đại diện cho đơn vị hạ trí đối với sự đại diện của nguyên tử trường tồn manas bởi Sao Kim. Sao Hỏa sẽ đại diện cho nguyên tử trường tồn cảm dục (và nguyên khí kama), đối ứng với Sao Mộc như đại diện của Bồ đề. Khi đó Sao Thủy sẽ liên hệ với đáy cột sống (dĩ nhiên không phải là mối liên hệ duy nhất của nó) nhưng là một mối liên hệ có ý nghĩa trong cấu hình này. Vulcan sẽ có liên hệ mạnh với nguyên tử trường tồn hồng trần.

254. Gemini has much to do with the rulership of the etheric body, and Mercury rules Gemini. Mercury is related to the “kundalini active” and to the ‘Caduceus power’ as the base of the spine. Further, the base of the spine is definitely related to the etheric body (as has been established by DK in a earlier section of this book).

254. Song Tử có rất nhiều liên hệ với quyền cai quản thể dĩ thái, và Sao Thủy cai quản Song Tử. Sao Thủy liên hệ với “kundalini hoạt động” và với “quyền năng Caduceus” như đáy cột sống. Hơn nữa, đáy cột sống chắc chắn liên hệ với thể dĩ thái (như đã được Chân sư DK xác lập trong một phần trước của cuốn sách này).

255. It must be clear that a number of different planets can carry a significant role in relation to a number or the different chakras and permanent atoms.

255. Hẳn phải rõ rằng một số hành tinh khác nhau có thể giữ một vai trò quan trọng liên hệ với một số luân xa và nguyên tử trường tồn khác nhau.

a. Saturn can relate to the atmic permanent atom, the manasic permanent atom and the mental unit. It also has a natural rulership of the throat center.

a. Sao Thổ có thể liên hệ với nguyên tử trường tồn atma, nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí. Nó cũng có quyền cai quản tự nhiên đối với trung tâm cổ họng.

b. Jupiter can be understood as relating to the buddhic permanent atom and to the heart center.

b. Sao Mộc có thể được hiểu là liên hệ với nguyên tử trường tồn Bồ đề và với trung tâm tim.

c. Venus can be understood as relating to the buddhic permanent atom (by reflection) and to the logoic solar plexus. The question we have been entertaining is whether Venus should also be related to the manasic permanent atom of the Solar Logos. Certainly, the energies which Venus sponsors do relate do the manasic permanent atom of our Planetary Logos. Within man its natural place is in relation to the ajna center.

c. Sao Kim có thể được hiểu là liên hệ với nguyên tử trường tồn Bồ đề (qua phản chiếu) và với tùng thái dương của Thượng đế. Câu hỏi mà chúng ta đang xem xét là liệu Sao Kim cũng nên được liên hệ với nguyên tử trường tồn manas của Thái dương Thượng đế hay không. Chắc chắn, các năng lượng mà Sao Kim bảo trợ quả thật liên hệ với nguyên tử trường tồn manas của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Trong con người, vị trí tự nhiên của nó là liên hệ với trung tâm ajna.

d. Mercury can be understood as related to buddhi and, therefore, to the buddhic permanent atom. It is a versatile planet with additional relations to the abstract mind and hence to the manasic permanent atom. It also has a natural relation to the ajna center and base of the spine center in man.

d. Sao Thủy có thể được hiểu là liên hệ với Bồ đề và do đó với nguyên tử trường tồn Bồ đề. Đó là một hành tinh đa năng với những mối liên hệ bổ sung tới trí trừu tượng và vì thế tới nguyên tử trường tồn manas. Nó cũng có một mối liên hệ tự nhiên với trung tâm ajna và đáy cột sống trong con người.

e. Mars can be understood in relation to the entire atomic triangle in man, consisting of mental unit, astral permanent atom, and physical permanent atom. Mars is a natural ruler of the solar plexus center in average man, and when considering the two points within the solar plexus center, Mars is reasonably associated with the lower of the two. Since Mars rules “kundalini latent”, it, too, is reasonably associated with the base of the spine center.

e. Sao Hỏa có thể được hiểu trong mối liên hệ với toàn bộ tam giác nguyên tử trong con người, gồm đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần. Sao Hỏa là chủ tinh tự nhiên của trung tâm tùng thái dương ở người trung bình, và khi xét hai điểm bên trong trung tâm tùng thái dương, Sao Hỏa được liên kết một cách hợp lý với điểm thấp hơn trong hai điểm ấy. Vì Sao Hỏa cai quản “kundalini tiềm ẩn”, nó cũng được liên kết một cách hợp lý với đáy cột sống.

f. The Earth, as stated, may be hypothetically associated with the mental unit of the Solar Logos, and, to a degree with the mental unit in man. It has a natural connection with the vitality of the spleen; related to this idea is the fact that, heliocentrically, the Earth is found in the sign opposite the Sun. Earth is a fertile planet and thus naturally related to the sacral center which can as easily be considered ruled by the fertile third ray as by the seventh. Earth, we remember, has a third ray personality. In relation to the future, Earth will have a place as the base of the spine center of the Solar Logos or as one of the planets related.

f. Trái Đất, như đã nói, có thể được liên kết theo giả thuyết với đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế, và ở một mức độ nào đó với đơn vị hạ trí trong con người. Nó có một mối liên hệ tự nhiên với sinh lực của lá lách; liên hệ với ý tưởng này là sự kiện rằng, theo nhật tâm, Trái Đất được tìm thấy trong dấu hiệu đối diện với Mặt Trời. Trái Đất là một hành tinh phì nhiêu và do đó tự nhiên liên hệ với trung tâm xương cùng, trung tâm này có thể được xem là do cung ba phì nhiêu cai quản cũng dễ dàng như do cung bảy. Chúng ta nhớ rằng Trái Đất có phàm ngã cung ba. Liên hệ với tương lai, Trái Đất sẽ có một vị trí như đáy cột sống của Thái dương Thượng đế hoặc như một trong những hành tinh liên hệ.

256. When we look at the three planets Mercury, Mars and the Earth, we see that they are all to be related to the base of the spine center.

256. Khi chúng ta nhìn vào ba hành tinh Sao Thủy, Sao Hỏa và Trái Đất, chúng ta thấy rằng cả ba đều phải được liên hệ với đáy cột sống.

257. A reasonable assignment of Mercury, Mars and the Earth to the atomic triangle, seems to be Earth as the mental unit, Mars as the astral permanent atom, and Mercury in relation to the base of the spine center. It would be hard to assign Mercury to the physical permanent atom.

257. Một cách gán hợp lý Sao Thủy, Sao Hỏa và Trái Đất cho tam giác nguyên tử dường như là: Trái Đất như đơn vị hạ trí, Sao Hỏa như nguyên tử trường tồn cảm dục, và Sao Thủy liên hệ với đáy cột sống. Sẽ khó mà gán Sao Thủy cho nguyên tử trường tồn hồng trần.

258. Another reasonable rearrangement would be: Mercury as the mental unit, Mars as the astral permanent atom, and the Earth as the physical permanent atom.

258. Một cách sắp xếp lại hợp lý khác sẽ là: Sao Thủy như đơn vị hạ trí, Sao Hỏa như nguyên tử trường tồn cảm dục, và Trái Đất như nguyên tử trường tồn hồng trần.

259. Mercury certainly has a relationship to the concrete mind of man and hence, its connection with the mental unit is not unreasonable. The only difficulty with this arrangement is that Mercury is a planet older and more occult than Venus, and so it would be hard to imagine Venus in the superior position of manasic permanent atom and Mercury in the inferior position of mental unit.

259. Sao Thủy chắc chắn có một mối liên hệ với trí cụ thể của con người và do đó, mối liên hệ của nó với đơn vị hạ trí không phải là vô lý. Khó khăn duy nhất với cách sắp xếp này là Sao Thủy là một hành tinh cổ xưa hơn và huyền bí hơn Sao Kim, nên sẽ khó hình dung Sao Kim ở vị trí cao hơn là nguyên tử trường tồn manas và Sao Thủy ở vị trí thấp hơn là đơn vị hạ trí.

260. If we wish to look at the lower quaternary of the Solar Logos as composed of lower manas, kama-manas, kama and the etheric-physical nature, then a natural assignment of the planets is as follows:

260. Nếu chúng ta muốn nhìn bộ tứ thấp của Thái dương Thượng đế như được cấu thành bởi hạ trí, trí-cảm, kama và bản chất dĩ thái-hồng trần, thì một cách gán tự nhiên cho các hành tinh là như sau:

a. Mercury, lower manas

a. Sao Thủy, hạ trí

b. Venus, kama-manas

b. Sao Kim, trí-cảm

c. Mars, kama and the lower part of kama-manas.

c. Sao Hỏa, kama và phần thấp của trí-cảm.

d. Earth, the etheric-physical nature. Earth is related to both the etheric and physical body.

d. Trái Đất, bản chất dĩ thái-hồng trần. Trái Đất liên hệ với cả thể dĩ thái lẫn thể xác.

261. So, we see that nothing is exactly straightforward. The relationships are intricate. By examining them closely, however, as we have here, we are preparing the mind for the receipt of the confirmatory intuition—one fine day!

261. Vì vậy, chúng ta thấy rằng không có gì hoàn toàn thẳng tắp. Các mối liên hệ rất phức tạp. Tuy nhiên, bằng cách khảo sát chúng kỹ lưỡng, như chúng ta đã làm ở đây, chúng ta đang chuẩn bị trí tuệ để tiếp nhận trực giác xác nhận—vào một ngày đẹp trời nào đó!

262. When comparing the three super-principles and the planets which today represent them, with the other three planets given as associated with the higher three, one proposed line-up, from top to bottom is:

262. Khi so sánh ba siêu-nguyên khí và các hành tinh ngày nay đại diện cho chúng, với ba hành tinh khác được nêu là liên kết với ba nguyên khí cao hơn, một cách sắp hàng được đề nghị, từ trên xuống dưới là:

a. Saturn

a. Sao Thổ

b. Jupiter

b. Sao Mộc

c. Venus

c. Sao Kim

d. Earth

d. Trái Đất

e. Mars

e. Sao Hỏa

f. Mercury

f. Sao Thủy

263. Probably Pluto should be here, at the base of the spine center, and Mercury, ever wandering, ubiquitous, should be related, ultimately to the ajna center, a center which does not seem to have a relationship to the five permanent atoms (plus the mental unit).

263. Có lẽ Sao Diêm Vương nên ở đây, tại đáy cột sống, và Sao Thủy, luôn lang thang, hiện diện khắp nơi, rốt cuộc nên được liên hệ với trung tâm ajna, một trung tâm dường như không có mối liên hệ với năm nguyên tử trường tồn (cộng với đơn vị hạ trí).

264. Interestingly, the ajna center and the sacral center are not related to permanent atoms. Mobile Mercury is easily related to the ajna center (just as it is in man after the third initiation); it is also easily relation to the personality nature of man (ruled by the number four, the number of the soul ray of Mercury).

264. Điều thú vị là trung tâm ajna và trung tâm xương cùng không liên hệ với các nguyên tử trường tồn. Sao Thủy linh động dễ dàng được liên hệ với trung tâm ajna (cũng như trong con người sau lần điểm đạo thứ ba); nó cũng dễ dàng liên hệ với bản chất phàm ngã của con người (được cai quản bởi con số bốn, con số của cung linh hồn của Sao Thủy).

265. In relation to man, the alignment of Mercury, Venus, Mars and Earth relates to personality, mind, astral nature and etheric-physical nature.

265. Liên hệ với con người, sự chỉnh hợp của Sao Thủy, Sao Kim, Sao Hỏa và Trái Đất liên hệ với phàm ngã, trí tuệ, bản chất cảm dục và bản chất dĩ thái-hồng trần.

266. Or alternatively, Mercury, Venus, Mars and Earth could relate to the mind, the kama-manasic nature, the astral nature and the etheric-physical nature.

266. Hoặc theo cách khác, Sao Thủy, Sao Kim, Sao Hỏa và Trái Đất có thể liên hệ với trí tuệ, bản chất trí-cảm, bản chất cảm dục và bản chất dĩ thái-hồng trần.

267. The sacral center is said to relate to the dense physical nature, and hence to the Moon veiling Uranus. Since Mars rules the physical body rather than the etheric body, it too accords with the sacral center.

267. Trung tâm xương cùng được nói là liên hệ với bản chất hồng trần đậm đặc, và do đó với Mặt Trăng che giấu Sao Thiên Vương. Vì Sao Hỏa cai quản thể xác hơn là thể dĩ thái, nó cũng phù hợp với trung tâm xương cùng.

The evolution of the inner round has a close connection with this problem.

Sự tiến hoá của cuộc tuần hoàn nội tại có một mối liên hệ chặt chẽ với vấn đề này.

268. There is not much to say about this here. The “inner round” is a specialized study, in relation to which a number of things have been hinted, but nothing conclusively given.

268. Không có nhiều điều để nói về việc này ở đây. “Cuộc tuần hoàn nội tại” là một nghiên cứu chuyên biệt, liên hệ với nó đã có một số điều được gợi ý, nhưng không có gì được đưa ra một cách kết luận.

269. Mercury (so close to the Sun) is a planet closely connected with the “inner round”. We will take up the exploration of the inner round when more substantive references appear.

269. Sao Thủy (ở rất gần Mặt Trời) là một hành tinh liên hệ chặt chẽ với “cuộc tuần hoàn nội tại”. Chúng ta sẽ tiếp tục việc khảo sát cuộc tuần hoàn nội tại khi xuất hiện thêm những dẫn chiếu có nội dung thực chất hơn.

Perhaps some light may be thrown upon the obscurity of the matter by the realisation that just as the Logos has (in the non-sacred planets) the correspondence to the permanent atoms in the human being,

Có lẽ một ít ánh sáng có thể được rọi vào sự tối nghĩa của vấn đề này nhờ sự chứng nghiệm rằng cũng như Thượng đế có (trong các hành tinh không thiêng liêng) sự tương ứng với các nguyên tử trường tồn trong con người,

270. There are three non-sacred planets usually listed—Earth, Mars and Pluto. At the time TCF was written, Pluto had not been written and Esoteric Astrology, too, had not been written.

270. Thường có ba hành tinh không thiêng liêng được liệt kê—Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương. Vào thời điểm TCF được viết, Sao Diêm Vương chưa được viết đến và Chiêm Tinh Học Nội Môn, cũng vậy, chưa được viết.

271. Since there are five permanent atoms in the human being, the Tibetan is suggesting non-sacred planets. As we are not sure of the names and nature of the non-sacred planets veiled by the Sun and Moon, it would be difficult to assign them to the five logoic permanent atoms as we know them (not including the mental unit).

271. Vì có năm nguyên tử trường tồn trong con người, Chân sư Tây Tạng đang gợi ý các hành tinh không thiêng liêng. Vì chúng ta không chắc về tên gọi và bản chất của các hành tinh không thiêng liêng bị Mặt Trời và Mặt Trăng che giấu, nên sẽ khó gán chúng cho năm nguyên tử trường tồn của Thượng đế như chúng ta biết (không kể đơn vị hạ trí).

272. Further, we are also given correspondences through which some sacred planets are associated as correspondences to the logoic permanent atoms—Saturn to the physical permanent atom, Venus to the emotional permanent atom, and Neptune and Uranus tenuously to the astral and manasic permanent atoms respectively.

272. Hơn nữa, chúng ta cũng được cho những sự tương ứng qua đó một số hành tinh thiêng liêng được liên kết như những tương ứng với các nguyên tử trường tồn của Thượng đế—Sao Thổ với nguyên tử trường tồn hồng trần, Sao Kim với nguyên tử trường tồn cảm xúc, và Sao Hải Vương cùng Sao Thiên Vương một cách mong manh với các nguyên tử trường tồn cảm dục và manas tương ứng.

273. It may be that DK is not talking about all five of the permanent atoms, but only those which relate to the development of the human part of the human being—i.e., his personality nature.

273. Có thể Chân sư DK không nói về cả năm nguyên tử trường tồn, mà chỉ nói về những nguyên tử liên hệ với sự phát triển của phần người trong con người—tức là bản chất phàm ngã của y.

274. If so, we would only be dealing with the Earth, Mars and Pluto schemes (even though Pluto had not yet been discovered at the time of the writing).

274. Nếu vậy, chúng ta sẽ chỉ xử lý các hệ hành tinh Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương (dù Sao Diêm Vương vẫn chưa được khám phá vào thời điểm bản văn được viết).

275. Earth, Mars and Pluto are all related to the base of the spine center, and also the sacral center. Mars and Pluto are easily related to the solar plexus center.

275. Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương đều liên hệ với đáy cột sống, và cả trung tâm xương cùng nữa. Sao Hỏa và Sao Diêm Vương dễ dàng liên hệ với trung tâm tùng thái dương.

2. Two of the other non-sacred planets—Mars and Pluto—function in connection with the sacral centre (Mars) and the solar plexus (Pluto). This latter planet becomes active in the life of the man who is "becoming alive in the higher sense, his lower nature passes into the smoke and darkness of Pluto, who governs the lesser burning ground, in order that the man may live in truth in the higher land of light." (EA 78)

2. Hai trong số các hành tinh không thiêng liêng khác—Sao Hỏa và Sao Diêm Vương—hoạt động liên hệ với trung tâm xương cùng (Sao Hỏa) và tùng thái dương (Sao Diêm Vương). Hành tinh sau này trở nên hoạt động trong đời sống của con người đang “trở nên sống động theo nghĩa cao hơn, bản chất thấp của y đi vào khói và bóng tối của Sao Diêm Vương, đấng cai quản vùng đất cháy nhỏ hơn, để con người có thể sống chân thật trong miền ánh sáng cao hơn.” (EA 78)

276. The three lower permanent atoms in the atomic triangle are two permanent atoms and one “unit”—the mental unit.

276. Ba nguyên tử trường tồn thấp trong tam giác nguyên tử là hai nguyên tử trường tồn và một “đơn vị”—đơn vị hạ trí.

277. Interestingly, not only are all three planets reasonably related to the base of the spine center, they are also reasonably related to the concrete mind, with its center, presumably, as the mental unit. Earth plays the role of mental unit to Venus’ manasic permanent atom; Mars rules the five senses and the concrete mind and would thus be associated with the mental unit; Pluto, is naturally a mental planet involved in the penetrative, investigative mind.

277. Điều đáng chú ý là không những cả ba hành tinh đều có liên hệ hợp lý với trung tâm đáy cột sống, mà chúng còn đều có liên hệ hợp lý với trí cụ thể, với trung tâm của nó, có lẽ, là đơn vị hạ trí. Trái Đất đóng vai trò đơn vị hạ trí đối với nguyên tử trường tồn manas của Sao Kim; Sao Hỏa cai quản năm giác quan và trí cụ thể nên vì thế sẽ được liên kết với đơn vị hạ trí; Sao Diêm Vương, một cách tự nhiên, là một hành tinh trí tuệ liên quan đến trí tuệ xuyên thấu, khảo sát.

278. How then to assign the three of these planetary schemes at least to the members of the atomic triangle?

278. Vậy thì làm thế nào để gán ba hệ hành tinh này ít nhất cho các thành viên của tam giác nguyên tử?

279. The non-scared planets are said to relate to the personality of man, and in this we may gather hints: the Moon relates to the dense physical body; the Earth to the etheric body; Mars, reasonably to the astral; Pluto to the mental and the Sun to the integrated personality.

279. Các hành tinh không thiêng liêng được nói là liên hệ với phàm ngã của con người, và từ đó chúng ta có thể thu thập những gợi ý: Mặt Trăng liên hệ với thể xác đậm đặc; Trái Đất với thể dĩ thái; Sao Hỏa, một cách hợp lý, với thể cảm dục; Sao Diêm Vương với thể trí và Mặt Trời với Phàm ngã tích hợp.

280. In some ways, Mars and Pluto could be interchangeable, as Pluto rules Hades, the “underworld” of lower astral plane, which is the domain of the solar plexus center. Mars is a mental planet also and we can reverse them, relating Mars to concrete mind, the five senses and orthodox science which utilizes the concrete mind.

280. Theo một số phương diện, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương có thể hoán đổi cho nhau, vì Sao Diêm Vương cai quản Hades, “âm giới” của cõi cảm dục thấp, vốn là lãnh vực của trung tâm tùng thái dương. Sao Hỏa cũng là một hành tinh trí tuệ và chúng ta có thể đảo ngược chúng, liên hệ Sao Hỏa với trí cụ thể, năm giác quan và khoa học chính thống vốn sử dụng trí cụ thể.

281. With this in mind, we could assign Pluto to the mental unit, Mars to the astral permanent atom and the Earth to the physical permanent atom. IF we wish to reverse the positions of Mars and Pluto, this too is possible.

281. Với điều này trong tâm trí, chúng ta có thể gán Sao Diêm Vương cho đơn vị hạ trí, Sao Hỏa cho nguyên tử trường tồn cảm dục và Trái Đất cho nguyên tử trường tồn hồng trần. NẾU chúng ta muốn đảo vị trí của Sao Hỏa và Sao Diêm Vương, điều này cũng có thể.

282. We can see what we might call a ‘justifiable fluidity of assignments’.

282. Chúng ta có thể thấy điều mà ta có thể gọi là một “tính linh động có thể biện minh được của các sự gán định”.

so the middle evolution between these two (God and man) is the Heavenly Man, whose body is made up of human and deva monads, and Who has likewise His permanent atoms.

vì vậy, sự tiến hoá trung gian giữa hai Đấng này (Thượng đế và con người) là Đấng Thiên Nhân, mà thân thể của Ngài được cấu thành bởi các chân thần người và thiên thần, và Đấng ấy cũng có các nguyên tử trường tồn của Ngài.

283. The Heavenly Man is the middle evolution between the Solar Logos and man.

283. Đấng Thiên Nhân là sự tiến hoá trung gian giữa Thái dương Thượng đế và con người.

284. Human and deva Monads constitute the centers of the Heavenly Man. What constitutes the permanent atoms of the Heavenly Man?

284. Các chân thần người và thiên thần cấu thành các trung tâm của Đấng Thiên Nhân. Điều gì cấu thành các nguyên tử trường tồn của Đấng Thiên Nhân?

285. The Heavenly Man, we remember, works on the levels of the spiritual triad at the mastery, especially, of the fourth and fifth planes.

285. Chúng ta nhớ rằng Đấng Thiên Nhân hoạt động trên các cấp độ của Tam nguyên tinh thần trong địa vị chân sư, đặc biệt là của cõi thứ tư và thứ năm.

286. On TCF 533. we learn that the Solar Logos works through only one permanent atom and the Planetary Logos through two. This probably tells us something about where these permanent atoms are located.

286. Trong TCF 533. chúng ta biết rằng Thái dương Thượng đế chỉ hoạt động qua một nguyên tử trường tồn và Hành Tinh Thượng Đế qua hai. Điều này có lẽ cho chúng ta biết điều gì đó về nơi các nguyên tử trường tồn này tọa lạc.

287. It may be that with regard to the cosmic physical plane, the Solar Logos works only through one permanent atom and the Planetary Logos through two.

287. Có thể là xét theo cõi hồng trần vũ trụ, Thái dương Thượng đế chỉ hoạt động qua một nguyên tử trường tồn và Hành Tinh Thượng Đế qua hai.

288. The principles of the Planetary Logos seem strangely spread across the planes, and there is probably a much closer analogy to the manner in which the permanent atoms of the Solar Logos are apportioned to planes than the manner in which the permanent atoms of the Planetary Logos are apportioned.

288. Các nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế dường như được trải ra một cách kỳ lạ trên các cõi, và có lẽ có một sự tương đồng gần gũi hơn nhiều với cách các nguyên tử trường tồn của Thái dương Thượng đế được phân bổ cho các cõi hơn là cách các nguyên tử trường tồn của Hành Tinh Thượng Đế được phân bổ.

289. It can be inferred that the physical permanent atom of the Solar Logos is to be found on the systemic logoic plane. Are the two permanent atoms of the Planetary Logos (the two which, hypothetically, are to be found on the cosmic physical plane) to be found on the atmic and buddhic planes? This is not easy to solve.

289. Có thể suy ra rằng nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế được tìm thấy trên cõi logoi hệ thống. Hai nguyên tử trường tồn của Hành Tinh Thượng Đế (hai nguyên tử mà, theo giả thuyết, được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ) có được tìm thấy trên cõi atma và cõi Bồ đề không? Điều này không dễ giải quyết.

290. Or is the physical permanent atom of the Planetary Logos to be found on the atmic plane and the emotional permanent atom on the monadic level?

290. Hay nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng Đế được tìm thấy trên cõi atma và nguyên tử trường tồn cảm xúc trên cấp độ chân thần?

Always the three higher principles can be distinguished in importance from the four lower.

Ba nguyên khí cao hơn luôn có thể được phân biệt về tầm quan trọng với bốn nguyên khí thấp hơn.

291. Saturn, Jupiter and Venus (at this time) correspond to three higher; DK, however, has given us only three lower planets (Mercury, Earth and Mars) and four lower principles.

291. Sao Thổ, Sao Mộc và Sao Kim (vào lúc này) tương ứng với ba nguyên khí cao hơn; tuy nhiên, Chân sư DK chỉ cho chúng ta ba hành tinh thấp hơn (Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa) và bốn nguyên khí thấp hơn.

292. We found that when we were attempting to assign Mercury, Earth and Mars to the four lower principles, that we were in need of Pluto.

292. Chúng ta nhận thấy rằng khi cố gắng gán Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa cho bốn nguyên khí thấp hơn, chúng ta cần đến Sao Diêm Vương.

293. There are so many different ways of numbering the principles that there is no one definitive assignment of planets to principles.

293. Có quá nhiều cách khác nhau để đánh số các nguyên khí đến nỗi không có một sự gán định dứt khoát duy nhất nào của các hành tinh cho các nguyên khí.

The key is hidden in the fact that between the number of a globe in a chain and its corresponding chain lies a method of communication.

Chìa khóa được ẩn giấu trong sự kiện rằng giữa số của một bầu hành tinh trong một Dãy và Dãy tương ứng của nó có một phương pháp giao tiếp.

294. This method of communication occurs through the principle of ‘numerical resonance’.

294. Phương pháp giao tiếp này xảy ra thông qua nguyên lý “cộng hưởng số học”.

295. We are dealing with wholes within wholes: a globe is a whole contained within a greater whole called a chain; a chain is a whole contained within a greater whole called a scheme.

295. Chúng ta đang bàn đến những toàn thể nằm trong những toàn thể: một bầu hành tinh là một toàn thể được chứa trong một toàn thể lớn hơn gọi là một Dãy; một Dãy là một toàn thể được chứa trong một toàn thể lớn hơn gọi là một hệ hành tinh.

296. Man is contained with the Heavenly Man, Who is contained within the Solar Logos.

296. Con người được chứa trong Đấng Thiên Nhân, Đấng được chứa trong Thái dương Thượng đế.

297. Aggregations of permanent atoms are contained within a permanent atom of a higher nature; aggregations of the permanent atoms of a higher nature are contained within a permanent atom of a still higher nature.

297. Những tập hợp các nguyên tử trường tồn được chứa trong một nguyên tử trường tồn có bản chất cao hơn; những tập hợp các nguyên tử trường tồn có bản chất cao hơn được chứa trong một nguyên tử trường tồn có bản chất còn cao hơn nữa.

298. For some Entities globes are as permanent atoms; for Entities greater still (like the Planetary Logos) chains are as permanent atoms.

298. Đối với một số Thực Thể, các bầu hành tinh giống như các nguyên tử trường tồn; đối với các Thực Thể còn lớn hơn nữa (như Hành Tinh Thượng Đế), các Dãy giống như các nguyên tử trường tồn.

299. For the Solar Logos, some planetary schemes are as permanent atoms.

299. Đối với Thái dương Thượng đế, một số hệ hành tinh giống như các nguyên tử trường tồn.

300. For the Solar Logos the non-sacred schemes are as the permanent atoms (even though some of the permanent atoms, when viewed in other contexts, are associated with sacred planets).

300. Đối với Thái dương Thượng đế, các hệ hành tinh không thiêng liêng giống như các nguyên tử trường tồn (dù rằng một số nguyên tử trường tồn, khi được nhìn trong những bối cảnh khác, lại được liên kết với các hành tinh thiêng liêng).

301. Is it not possible that there may be sacred and non-sacred globes, the non-sacred globes associated with lower permanent atoms?

301. Chẳng phải có thể có các bầu hành tinh thiêng liêng và không thiêng liêng sao, trong đó các bầu hành tinh không thiêng liêng được liên kết với các nguyên tử trường tồn thấp hơn?

302. Also, may there not be sacred and non-sacred chains, the lower of the planetary chains to be associated with the lower permanent atoms?

302. Ngoài ra, chẳng phải cũng có thể có các Dãy thiêng liêng và không thiêng liêng sao, trong đó các Dãy hành tinh thấp hơn được liên kết với các nguyên tử trường tồn thấp hơn?

303. We recognize that there are times when a unit of life is considered to correspond to a chakra and others when it is considered to correspond to a permanent atom.

303. Chúng ta nhận ra rằng có những lúc một đơn vị sự sống được xem là tương ứng với một luân xa và những lúc khác lại được xem là tương ứng với một nguyên tử trường tồn.

304. A permanent atom generates a vehicle; a chakra animates a vehicles and sustains it with life energy.

304. Một nguyên tử trường tồn tạo ra một vận cụ; một luân xa làm sinh động một vận cụ và duy trì nó bằng năng lượng sự sống.

305. It is no easy matter to sort out when a unit of life is to be considered a permanent atom (and thus related to the matter aspect—though attached to the life aspect) and when a chakra, and thus related direction to the life aspect, for all chakras are vortices sustained by monadic fire.

305. Không dễ gì phân định khi nào một đơn vị sự sống phải được xem là một nguyên tử trường tồn (và do đó liên hệ với phương diện vật chất—dù gắn với phương diện sự sống) và khi nào là một luân xa, và do đó liên hệ trực tiếp với phương diện sự sống, vì mọi luân xa đều là những xoáy lực được duy trì bởi lửa chân thần.

306. Permanent atoms, however, are also related to principles.

306. Tuy nhiên, các nguyên tử trường tồn cũng liên hệ với các nguyên khí.

The same is true likewise of the correspondence between a chain of globes and a scheme of analogous number.

Điều tương tự cũng đúng đối với sự tương ứng giữa một Dãy các bầu hành tinh và một hệ hành tinh có số tương tự.

307. The methods of communication between wholes within whole (according to the principle of numerical resonance) are clear.

307. Các phương pháp giao tiếp giữa những toàn thể nằm trong toàn thể (theo nguyên lý cộng hưởng số học) là rõ ràng.

308. The Earth globe (the fourth globe) has a special mode of connection with the Earth-chain (the fourth chain in the Earth-scheme) and the Earth-chain with the Earth-scheme (which is the fourth scheme in the solar system).

308. Bầu hành tinh Trái Đất (bầu thứ tư) có một phương thức liên kết đặc biệt với Dãy Địa Cầu (Dãy thứ tư trong hệ Địa Cầu) và Dãy Địa Cầu với hệ Địa Cầu (là hệ thứ tư trong hệ mặt trời).

309. The Mercury-globe (the fifth) of the Earth-chain, has special communication with the Mercury-chain of the Earth-scheme, and with the Mercury chain with the Mercury-scheme of the solar system, and of course, with the Mercury-scheme, etc.

309. Bầu hành tinh Sao Thủy (bầu thứ năm) của Dãy Địa Cầu có sự giao tiếp đặc biệt với Dãy Sao Thủy của hệ Địa Cầu, và Dãy Sao Thủy với hệ Sao Thủy của hệ mặt trời, và dĩ nhiên, với hệ Sao Thủy, v.v.

The connection between Venus and the Earth lies hid in number, and it took a moment of mysterious alignment between a globe, its corresponding chain and the scheme of allied number to effect the momentous occurrence known as the coming of the Lords of Flame.

Mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất được ẩn giấu trong con số, và cần đến một khoảnh khắc chỉnh hợp huyền nhiệm giữa một bầu hành tinh, Dãy tương ứng của nó và hệ hành tinh có số liên hệ để tạo nên biến cố trọng đại được biết đến như sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa.

310. The coming of the Lord of the Flame (the Solar Angels, Prometheus) was, from the cosmological perspective, a numerological event.

310. Sự giáng lâm của Chúa Tể của Lửa (các Thái dương Thiên Thần, Prometheus), xét từ quan điểm vũ trụ luận, là một biến cố số học huyền bí.

311. The Earth-globe was the recipient. From one perspective, the Venus-globe of the Venus-chain aligned with that chain, and the Venus-chain with the Venus-scheme. The operative numbers are two and six. At least there are charts which show this connection.

311. Bầu hành tinh Trái Đất là bên tiếp nhận. Từ một góc nhìn, bầu hành tinh Sao Kim của Dãy Sao Kim đã chỉnh hợp với Dãy ấy, và Dãy Sao Kim với hệ Sao Kim. Các con số tác động là hai và sáu. Ít nhất cũng có những biểu đồ cho thấy mối liên hệ này.

312. However, the numbering is different below.

312. Tuy nhiên, cách đánh số ở dưới lại khác.

It occurred in the third rootrace in the fourth round.

Điều đó xảy ra trong giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư.