← Commentary_S3_223_340_song ngữ

S3S5: TCF 259-269

Trích nội dung chương

486. It may also refer to the vibratory capacity of the substance/matter selected. Such a capacity would have to correspond to the purpose and plan of the Solar Logos. 486. Nó cũng có thể nói đến năng lực rung động của chất liệu/vật chất được chọn. Một năng lực như vậy sẽ phải tương ứng với mục đích và Thiên Cơ của Thái dương Thượng đế.


485. This may refer to the vibratory capacity thus far achieved by the Solar Logos.

485. Điều này có thể nói đến năng lực rung động mà Thái dương Thượng đế đã đạt được cho đến nay.

486. It may also refer to the vibratory capacity of the substance/matter selected. Such a capacity would have to correspond to the purpose and plan of the Solar Logos.

486. Nó cũng có thể nói đến năng lực rung động của chất liệu/vật chất được chọn. Một năng lực như vậy sẽ phải tương ứng với mục đích và Thiên Cơ của Thái dương Thượng đế.

Responsive coloring or quality.

Màu sắc hay phẩm tính đáp ứng.

487. This may refer to both His own coloring and quality and the coloring and quality of the matter to be chosen.

487. Điều này có thể nói đến cả màu sắc và phẩm tính riêng của Ngài lẫn màu sắc và phẩm tính của vật chất được chọn.

488. There is a certain degree of responsiveness built into matter of a certain coloring and quality.

488. Có một mức độ đáp ứng nhất định được xây dựng sẵn trong vật chất có một màu sắc và phẩm tính nhất định.

Numerical factors involved in cosmic mathematics.

Các yếu tố số học liên quan trong toán học vũ trụ.

489. The implication here is that every cosmic Creator must be a cosmic mathematician.

489. Hàm ý ở đây là mọi Đấng Sáng Tạo vũ trụ đều phải là một nhà toán học vũ trụ.

He is the embodiment of cosmic manas, and through the use of this faculty He seeks—by means of animated form—to build into His cosmic causal body, a paralleling quality of love-wisdom.

Ngài là hiện thân của manas vũ trụ, và qua việc sử dụng năng lực này, Ngài tìm cách—bằng phương tiện hình tướng được hoạt hóa—xây dựng vào thể nguyên nhân vũ trụ của Ngài một phẩm tính song hành là Bác Ái – Minh Triết.

490. The Solar Logos has certainly mastered cosmic manas. This means that He has true access to the lowest four subplanes of the cosmic mental plane.

490. Thái dương Thượng đế chắc chắn đã làm chủ manas vũ trụ. Điều này có nghĩa là Ngài thực sự tiếp cận được bốn cõi phụ thấp nhất của cõi trí vũ trụ.

491. He seeks now to work on the higher three subplanes of the cosmic mental plane—the plane of cosmic soul.

491. Hiện nay Ngài tìm cách hoạt động trên ba cõi phụ cao hơn của cõi trí vũ trụ—cõi linh hồn vũ trụ.

492. It may be inferred that aspects of cosmic intelligence were built into His causal body in previous solar systems. Between solar systems, His causal body was not destroyed, just as the causal body of the human being is not destroyed between incarnation.

492. Có thể suy ra rằng các phương diện của trí tuệ vũ trụ đã được xây dựng vào thể nguyên nhân của Ngài trong các hệ mặt trời trước. Giữa các hệ mặt trời, thể nguyên nhân của Ngài không bị hủy diệt, cũng như thể nguyên nhân của con người không bị hủy diệt giữa các lần nhập thể.

493. It would seem that the Solar Logos is working on the sacrifice petals of His egoic lotus during this phase of solar systemic development.

493. Dường như Thái dương Thượng đế đang hoạt động trên các cánh hoa hi sinh của Hoa Sen Chân Ngã của Ngài trong giai đoạn phát triển hệ mặt trời này.

494. VSK suggests that the process is ever the same: the manasic impulse sets into motion the second pole (the material form) animating it, and by its means develops the second, which is the result of Spirit-Matter, Love-Wisdom—a dual result to the “Desire for Duality” of Sons of Necessity.

494. VSK gợi ý rằng tiến trình luôn luôn như nhau: xung lực manas đặt cực thứ hai (hình tướng vật chất) vào chuyển động, hoạt hóa nó, và bằng phương tiện ấy phát triển cực thứ hai, vốn là kết quả của Tinh thần-Vật chất, Bác Ái – Minh Triết—một kết quả nhị phân đối với “Khát vọng về Nhị nguyên tính” của các Con của Tất Yếu.

Third. Ability to progress, to increase vibration, and to gain full self-consciousness on cosmic levels.

Thứ ba. Khả năng tiến bộ, gia tăng rung động, và đạt được ngã thức trọn vẹn trên các cấp độ vũ trụ.

495. Are the “cosmic levels” levels involving the Seven Solar Systems of Which Ours is One?

495. Các “cấp độ vũ trụ” có phải là những cấp độ liên quan đến Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ Của Chúng Ta Là Một không?

496. First would come the attainment of full systemic Self-consciousness.

496. Trước hết sẽ là sự đạt được ngã thức hệ thống trọn vẹn.

497. Then would come the attainment of Self-consciousness in relation to the greater group of the Solar Logos—the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

497. Sau đó sẽ là sự đạt được ngã thức trong tương quan với nhóm lớn hơn của Thái dương Thượng đế—Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ Của Chúng Ta Là Một.

498. Just as man is attempting to develop full self-consciousness in relation to his astral and mental vehicles, so the same can be predicated of a Solar Logos.

498. Cũng như con người đang cố phát triển ngã thức trọn vẹn trong tương quan với các vận cụ cảm dục và trí tuệ của mình, thì điều tương tự cũng có thể được khẳng định về một Thái dương Thượng đế.

d. The solar Logos contains within Himself the three major principles or aspects, and their differentiation into seven principles. These make the ten of His ultimate perfection and are eventually synthesised into the one perfected principle of love-wisdom.

d. Thái dương Thượng đế chứa trong Chính Ngài ba nguyên khí hay phương diện lớn, và sự biến phân của chúng thành bảy nguyên khí. Những điều này tạo nên mười của sự toàn thiện tối hậu của Ngài và cuối cùng được tổng hợp thành một nguyên khí toàn thiện duy nhất của Bác Ái – Minh Triết.

499. The term “ultimate perfection” is the same as that used in relation to the Planetary Logos.

499. Từ “sự toàn thiện tối hậu” cũng giống như từ được dùng trong tương quan với Hành Tinh Thượng Đế.

500. The synthesis of the ten of the Solar Logos yields the oneness of the principle of Love-Wisdom. This is also true of our particular Planetary Logos.

500. Sự tổng hợp mười của Thái dương Thượng đế tạo ra tính nhất thể của nguyên khí Bác Ái – Minh Triết. Điều này cũng đúng với Hành Tinh Thượng Đế đặc thù của chúng ta.

This ultimate principle is His primary coloring.

Nguyên khí tối hậu này là màu sắc chủ yếu của Ngài.

501. This coloring will, at this time in solar systemic history, be blue.

501. Màu sắc này, vào thời điểm này trong lịch sử hệ mặt trời, sẽ là xanh lam.

Each principle is embodied in one of the schemes, and is being worked out through one of the Heavenly Men.

Mỗi nguyên khí được hiện thân trong một trong các hệ hành tinh, và đang được triển khai qua một trong các Đấng Thiên Nhân.

502. Are there seven principles or ten? There are certainly ten schemes with which we are dealing.

502. Có bảy nguyên khí hay mười? Chắc chắn có mười hệ hành tinh mà chúng ta đang bàn đến.

503. If there are ten principles manifesting through ten planetary schemes, then three of the principles will be reiterated.

503. Nếu có mười nguyên khí biểu hiện qua mười hệ hành tinh, thì ba nguyên khí sẽ được lặp lại.

Only four principles are as yet manifested to any extent, for the evolution of the Logos parallels that of the Heavenly Men.

Cho đến nay chỉ có bốn nguyên khí được biểu hiện ở một mức độ nào đó, vì sự tiến hoá của Thượng đế song hành với sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân.

504. This is an important realization. Our Planetary Logos and our Solar Logos are approximately at the same relative degree of unfoldment.

504. Đây là một chứng nghiệm quan trọng. Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và Thái dương Thượng đế của chúng ta xấp xỉ ở cùng một mức độ tương đối của sự khai mở.

505. The manasic or fifth principle of the Solar Logos is not yet fully functioning. We are living in a very astral-buddhic solar system.

505. Nguyên khí manas hay nguyên khí thứ năm của Thái dương Thượng đế vẫn chưa hoạt động trọn vẹn. Chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời rất cảm dục-Bồ đề.

e. The solar Logos is governed by the Law of Synthesis. He holds all in synthetic unity or homogeneity.

e. Thái dương Thượng đế được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp. Ngài giữ mọi sự trong nhất thể tổng hợp hay tính đồng nhất.

506. If we wish to have two equivalent and evocative terms related to synthesis, they are:

506. Nếu chúng ta muốn có hai từ tương đương và gợi cảm liên hệ với tổng hợp, thì đó là:

rr. Synthetic unity

rr. Nhất thể tổng hợp

ss. Homogeneity

ss. Tính đồng nhất

507. These are terms which must be experienced and not just understood mentally.

507. Đây là những từ phải được trải nghiệm chứ không chỉ được thấu hiểu bằng trí tuệ.

His subjective life is governed by the Law of Attraction; His material form is governed by the Law of Economy.

Sự sống chủ quan của Ngài được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn; hình tướng vật chất của Ngài được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm.

508. All three cosmic laws are very powerful in the manifestation of the Solar Logos.

508. Cả ba định luật vũ trụ đều rất mạnh mẽ trong sự biểu hiện của Thái dương Thượng đế.

He is coming under another cosmic law as yet incomprehensible to men, which law is but revealed to the highest initiates.

Ngài đang đi vào dưới một định luật vũ trụ khác mà con người hiện chưa thể hiểu được, một định luật chỉ được mặc khải cho các điểm đạo đồ cao nhất.

509. The Intermediate Law of Karma is said to be a law greater than the three cosmic laws usually discussed: the Law of Economy, the Law of Attraction, the Law of Synthesis.

509. Định luật Trung Gian của Nghiệp Quả được nói là một định luật lớn hơn ba định luật vũ trụ thường được bàn đến: Định luật Tiết Kiệm, Định luật Hấp Dẫn, Định luật Tổng Hợp.

510. VSK says that the Law of Freedom lies behind the primary three.

510. VSK nói rằng Định luật Tự Do nằm phía sau ba định luật sơ yếu.

511. In any case this still higher cosmic law seems related to Sirius.

511. Dù sao đi nữa, định luật vũ trụ còn cao hơn này dường như có liên hệ với Sirius.

512. Who are the “highest initiates”? Perhaps we may say “chohans”.

512. Những “điểm đạo đồ cao nhất” là ai? Có lẽ chúng ta có thể nói là “chohans”.

f. The solar Logos is in process of ascertaining His place within the greater system in which He holds a place analogous to that of a Heavenly Man in a solar system.

f. Thái dương Thượng đế đang trong tiến trình xác định vị trí của Ngài bên trong hệ thống lớn hơn, trong đó Ngài giữ một vị trí tương tự như vị trí của một Đấng Thiên Nhân trong một hệ mặt trời.

513. This “greater system” is the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

513. “Hệ thống lớn hơn” này là Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó.

514. The Solar Logos is also a minor part of the One About Whom Naught May Be Said, but His first task is to determine His place and function within the Cosmic Logos Who manifests through seven solar systems. The One About Whom Naught May Be Said is a Super-Cosmic Logos.

514. Thái dương Thượng đế cũng là một phần nhỏ của Đấng Bất Khả Tư Nghị, nhưng nhiệm vụ đầu tiên của Ngài là xác định vị trí và chức năng của Ngài bên trong Đấng Thượng đế Vũ Trụ biểu hiện qua bảy hệ mặt trời. Đấng Bất Khả Tư Nghị là một Đấng Thượng đế Siêu Vũ Trụ.

He seeks first to find the secret of His own existence, and to achieve full Self-Consciousness;

Trước hết, Ngài tìm cách khám phá bí mật của chính sự tồn tại của Ngài, và đạt đến trọn vẹn Ngã Thức;

515. All beings must fulfill the ancient dictum “Know Thyself”, no matter what may be the levels upon which they are focussed.

515. Mọi hữu thể đều phải hoàn thành châm ngôn cổ xưa “Hãy biết chính mình”, bất kể họ được tập trung trên những cấp độ nào.

secondly to ascertain the position and place of His polar opposite;

thứ hai, xác định vị trí và chỗ đứng của cực đối nghịch phân cực của Ngài;

516. This particular Solar Logos will be, it would see, a member of the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

516. Có vẻ như Thái dương Thượng đế đặc thù này sẽ là một thành viên của Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó.

517. It is suggested that either the Solar Logos of Sirius or the Solar Logos of Alpha Centauri may be good candidates for the polar opposite of our Solar Logos.

517. Có ý kiến cho rằng hoặc Thái dương Thượng đế của Sirius hoặc Thái dương Thượng đế của Alpha Centauri có thể là những ứng viên thích hợp cho cực đối nghịch phân cực của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

518. The suggestion is that the orbit and place in space of this polar opposite must be ascertained, probably so that the methods of closer interplay may be established.

518. Gợi ý ở đây là quỹ đạo và vị trí trong không gian của cực đối nghịch phân cực này phải được xác định, có lẽ để các phương pháp tương tác chặt chẽ hơn có thể được thiết lập.

thirdly to [Page 258] merge and blend with that polar opposite. This is the cosmic marriage of the Logos.

thứ ba, [Page 258] hòa nhập và dung hợp với cực đối nghịch phân cực ấy. Đây là cuộc hôn phối vũ trụ của Thượng đế.

519. The “cosmic marriage” is discussed only in relation to the Solar Logos and His polar opposite, but the process must in some way relate to the entities functioning through the other three types of atoms (the atom of substance/matter, man-as-atom, the Planetary Logos as an atom).

519. “Cuộc hôn phối vũ trụ” này chỉ được bàn đến trong liên hệ với Thái dương Thượng đế và cực đối nghịch phân cực của Ngài, nhưng tiến trình ấy hẳn phải bằng cách nào đó liên hệ đến các thực thể đang hoạt động qua ba loại nguyên tử khác (nguyên tử của chất liệu/vật chất, con người-như-nguyên-tử, Đức Hành Tinh Thượng Đế như một nguyên tử).

520. This “cosmic marriage” occurs as part of the process of obscuration of the Seven Solar Systems of Which Ours is One. Let us remember that our solar system represents a heart center within a Cosmic Logos.

520. “Cuộc hôn phối vũ trụ” này xảy ra như một phần của tiến trình lu mờ của Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó. Chúng ta hãy nhớ rằng hệ mặt trời của chúng ta tượng trưng cho một trung tâm tim bên trong một Đấng Thượng đế Vũ Trụ.

521. With what, might we infer, would the heart center merge? With the solar plexus below? With the head center above?

521. Chúng ta có thể suy ra rằng trung tâm tim sẽ hòa nhập với điều gì? Với tùng thái dương ở dưới chăng? Với trung tâm đầu ở trên chăng?

522. When considering the transference of energy from one chakra to another, the solar plexus and the heart will definitely be related. Will these two centers also merge?

522. Khi xét đến sự chuyển dịch năng lượng từ luân xa này sang luân xa khác, tùng thái dương và tim chắc chắn sẽ có liên hệ. Hai trung tâm này cũng sẽ hòa nhập chăng?

523. Yet, Sirius will not be the solar plexus within the Seven Solar Systems of Which Ours is One and the relationship between our Solar Logos and the Logos of Sirius cannot be denied. They seem to form a cosmic ‘pair’ just as Earth and Venus form a planetary pair.

523. Tuy nhiên, Sirius sẽ không là tùng thái dương bên trong Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó, và mối liên hệ giữa Thái dương Thượng đế của chúng ta với Thượng đế của Sirius không thể bị phủ nhận. Các Ngài dường như tạo thành một “cặp” vũ trụ cũng như Trái Đất và Sao Kim tạo thành một cặp hành tinh.

g. A solar Logos is distinguished by His responsiveness to outer stimulation. This concerns itself with:

g. Một Thái dương Thượng đế được phân biệt bởi khả năng đáp ứng của Ngài đối với kích thích bên ngoài. Điều này liên quan đến:

524. We remember that the outer stimulation as it affected the Planetary Logos was beyond the possibility of our minds to grasp. This must certainly be so should the mind of man attempt to grasp the nature of the “outer stimulation” to which the Solar Logos is subjected.

524. Chúng ta nhớ rằng kích thích bên ngoài, khi tác động đến Đức Hành Tinh Thượng Đế, vượt ngoài khả năng nắm bắt của trí tuệ chúng ta. Điều này hẳn càng đúng hơn nếu trí tuệ con người cố gắng nắm bắt bản chất của “kích thích bên ngoài” mà Thái dương Thượng đế phải chịu.

Electrical stimulation or His response to electrical fohatic force emanating from other stellar centres, and controlling largely the action of our system and its movements in space in relation to other constellations.

Kích thích điện, hay sự đáp ứng của Ngài đối với lực fohat điện phát ra từ các trung tâm tinh tú khác, và phần lớn chi phối hoạt động của hệ chúng ta cùng các chuyển động của nó trong không gian trong tương quan với các chòm sao khác.

525. This is the strictly physical stimulation.

525. Đây là kích thích thuần túy hồng trần.

526. We thus far have very little idea of what may be the movements of our solar system relative to other solar systems. Such movements are only now in process of slow revelation.

526. Cho đến nay chúng ta vẫn có rất ít ý niệm về những chuyển động của hệ mặt trời chúng ta tương quan với các hệ mặt trời khác có thể là gì. Những chuyển động như thế chỉ mới đang trong tiến trình được mặc khải chậm rãi.

527. What may be the “other stellar centres” is very hard to discern? Would Sirius be implicated? What of the stars of the Great Bear? What of the principal stars of the Pleiades?

527. “Các trung tâm tinh tú khác” có thể là gì thì rất khó phân biện? Sirius có dính líu chăng? Còn các ngôi sao của Đại Hùng Tinh thì sao? Còn các ngôi sao chính của Thất Nữ Tinh thì sao?

528. Just as the Sun controls the movement of the planets, so some greater Suns (perhaps singly or perhaps in combination) control the movements of our Solar Logos.

528. Cũng như Mặt Trời chi phối chuyển động của các hành tinh, thì một số Mặt Trời lớn hơn (có lẽ riêng lẻ hoặc có lẽ kết hợp) chi phối các chuyển động của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

529. We are told that our solar system is traveling towards Vega. We are also told that the system is moving towards a point in the constellation Hercules.

529. Chúng ta được cho biết rằng hệ mặt trời của chúng ta đang di chuyển về phía Vega. Chúng ta cũng được cho biết rằng hệ này đang di chuyển về phía một điểm trong chòm Hercules.

Magnetic stimulation, acting upon His subjective Life, and emanating from certain cosmic centres hinted at in the Secret Doctrine. These find their source on cosmic buddhic levels.

Kích thích từ tính, tác động lên Sự sống chủ quan của Ngài, và phát ra từ một số trung tâm vũ trụ được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng có nguồn gốc trên các cấp độ Bồ đề vũ trụ.

530. We will study TCF 1162. to gain hints concerning these “cosmic centers”.

530. Chúng ta sẽ nghiên cứu TCF 1162. để tìm những gợi ý liên quan đến các “trung tâm vũ trụ” này.

531. The magnetic stimulation almost certainly involves the Pleiades—a stellar system said to have its focus upon the cosmic buddhic plane.

531. Kích thích từ tính gần như chắc chắn có liên quan đến Thất Nữ Tinh—một hệ tinh tú được nói là có tiêu điểm trên cõi Bồ đề vũ trụ.

It is their united effect which induces steady development.

Chính hiệu quả hợp nhất của chúng gây ra sự phát triển ổn định.

532. We are speaking of the united effect of the sources which determine the place and position in space of our solar scheme. We are also speaking of those stellar sources which apply magnetic stimulation to the subjective nature of our Solar Logos.

532. Chúng ta đang nói đến hiệu quả hợp nhất của các nguồn quyết định vị trí và chỗ đứng trong không gian của hệ hành tinh mặt trời của chúng ta. Chúng ta cũng đang nói đến những nguồn tinh tú áp dụng kích thích từ tính lên bản chất chủ quan của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

The solar Logos is distinguished

Thái dương Thượng đế được phân biệt

1. By the spheroidicity of His manifesting existence. His solar ring-pass-not is definite and seen.

1. Bởi tính cầu thể của sự tồn tại biểu hiện của Ngài. Vòng-giới-hạn mặt trời của Ngài là xác định và có thể thấy được.

533. Again, one must be a seer of great penetration to see it.

533. Một lần nữa, phải là một nhà thông nhãn có sự xuyên thấu lớn mới thấy được điều đó.

This can only be demonstrated as yet by the endeavour to ascertain the extent of the subjective control, by the measure of the solar sphere of influence, or the magnetic attraction of the Sun to other lesser bodies which it holds in circular motion around itself.

Điều này hiện nay chỉ có thể được chứng minh bằng nỗ lực xác định mức độ kiểm soát chủ quan, bằng thước đo khối cầu ảnh hưởng của mặt trời, hay sức hút từ tính của Mặt Trời đối với các thiên thể nhỏ hơn khác mà nó giữ cho chuyển động theo quỹ đạo tròn quanh chính nó.

534. The spheroidal nature of the Solar Logos and His ring-pass-not is demonstrated in several ways:

534. Bản chất hình cầu của Thái dương Thượng đế và vòng-giới-hạn của Ngài được chứng minh theo nhiều cách:

tt. By the measure of the solar sphere of influence

tt. Bằng thước đo khối cầu ảnh hưởng của mặt trời

uu. By the magnetic attraction of the Sun to the other lesser bodies which are held in circular motion around the Sun.

uu. Bằng sức hút từ tính của Mặt Trời đối với các thiên thể nhỏ hơn khác được giữ trong chuyển động tròn quanh Mặt Trời.

2. By the activity of the life animating the ten schemes.

2. Bởi hoạt động của sự sống làm sinh động mười hệ hành tinh.

535. The Solar Logos is the life animating the ten schemes.

535. Thái dương Thượng đế là sự sống làm sinh động mười hệ hành tinh.

536. The process of determining the ten is, as stated, complicated and presently inconclusive.

536. Tiến trình xác định mười hệ ấy, như đã nói, là phức tạp và hiện nay chưa có kết luận.

537. The ten schemes comprise His major “sphere of influence” in the same manner that the planetary chains comprised the sphere of influence of the Planetary Logos and the internal arrangements of both man and atom comprise the major spheres of influence of the central life controlling each.

537. Mười hệ hành tinh cấu thành “khối cầu ảnh hưởng” chính của Ngài cũng như các dãy hành tinh cấu thành khối cầu ảnh hưởng của Đức Hành Tinh Thượng Đế, và các sắp xếp nội tại của cả con người lẫn nguyên tử cấu thành những khối cầu ảnh hưởng chính của sự sống trung tâm kiểm soát mỗi bên.

538. The “internal arrangement” of the Solar Logos consists of the interrelation between the ten schemes and the interrelations of all lives contained within them.

538. “Sắp xếp nội tại” của Thái dương Thượng đế gồm sự tương liên giữa mười hệ hành tinh và các tương liên của mọi sự sống được chứa trong chúng.

3. By the extent of the control exerted by the Logos at any given period.

3. Bởi mức độ kiểm soát do Thượng đế vận dụng trong bất kỳ thời kỳ nào.

539. Who could determine the degree of logoic control? How would this control be evidence? Perhaps by the degree of unfoldment of certain of the planetary schemes.

539. Ai có thể xác định mức độ kiểm soát của Thượng đế? Sự kiểm soát này sẽ là bằng chứng như thế nào? Có lẽ qua mức độ khai mở của một số hệ hành tinh nào đó.

540. It seems apparent from a study of TCF that logoic control is presently being exerted in relation to the Earth-scheme, one of its major present points of focus.

540. Qua việc nghiên cứu TCF, có vẻ hiển nhiên rằng sự kiểm soát của Thượng đế hiện đang được vận dụng liên hệ đến hệ Địa Cầu, một trong những điểm tập trung chính hiện nay của nó.

4. By the ultimate synthesis of the seven schemes into three and thence into one. This covers the obscuration of the schemes and the unification of the seven principles which they embody.

4. Bởi sự tổng hợp tối hậu của bảy hệ hành tinh thành ba rồi thành một. Điều này bao gồm sự lu mờ của các hệ hành tinh và sự hợp nhất của bảy nguyên khí mà chúng thể hiện.

541. This is the process identical to that which takes place in the three lesser types of atoms.

541. Đây là tiến trình giống hệt tiến trình diễn ra trong ba loại nguyên tử thấp hơn.

542. The time required for this obscuration and eventual ultimate synthesis is extensive.

542. Thời gian cần thiết cho sự lu mờ này và sự tổng hợp tối hậu cuối cùng là rất dài.

5. By His subjection to the Law of His Being.

5. Bởi sự phục tùng của Ngài đối với Định luật của Bản thể Ngài.

543. This sentence tells us that the Solar Logos is subject to the Law of His Monad.

543. Câu này cho chúng ta biết rằng Thái dương Thượng đế phục tùng Định luật của Chân thần của Ngài.

6. By His group relation.

6. Bởi liên hệ nhóm của Ngài.

544. The Solar Logos is attempting to relate Himself to the members of the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

544. Thái dương Thượng đế đang cố gắng liên hệ chính Ngài với các thành viên của Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó.

545. He also has a kind of lesser group relation to the Planetary Logoi within His field of expression, and through Whom He expresses.

545. Ngài cũng có một loại liên hệ nhóm nhỏ hơn với các Hành Tinh Thượng Đế bên trong trường biểu lộ của Ngài, và qua Các Ngài mà Ngài biểu lộ.

7. By His unfoldment of Consciousness, the time factor [Page 259] being controlled by the measure of the unfoldment of all the conscious units in His body.

7. Bởi sự khai mở Tâm thức của Ngài, yếu tố thời gian [Page 259] được kiểm soát bởi mức độ khai mở của tất cả các đơn vị có tâm thức trong thể Ngài.

546. The Solar Logos is dependent for the unfoldment of His Consciousness upon the lesser conscious units in His body.

546. Thái dương Thượng đế phụ thuộc vào các đơn vị có tâm thức nhỏ hơn trong thể Ngài để khai mở Tâm thức của Ngài.

Here we have traced very briefly some of the analogies between the four factors earlier mentioned, and have in a cursory way answered the question.

Ở đây chúng ta đã lần theo rất vắn tắt một số tương đồng giữa bốn yếu tố đã được nhắc đến trước đó, và đã một cách khái lược trả lời câu hỏi.

547. However cursory may have been the approach, from the human perspective, it appeared exhaustive.

547. Dù cách tiếp cận có khái lược đến đâu, từ góc nhìn con người, nó vẫn có vẻ bao quát.

These points, if dwelt upon, will be found of real assistance in developing the mental appreciation of the student,

Những điểm này, nếu được suy ngẫm, sẽ được thấy là thực sự hữu ích trong việc phát triển sự lĩnh hội trí tuệ của đạo sinh,

548. Mental appreciation represents some kind of Venusian development.

548. Sự lĩnh hội trí tuệ tượng trưng cho một loại phát triển thuộc Sao Kim nào đó.

549. We have not fully registered the value of mental appreciation. It is a doorway from higher manas into buddhi.

549. Chúng ta chưa ghi nhận đầy đủ giá trị của sự lĩnh hội trí tuệ. Nó là một cánh cửa từ thượng manas đi vào Bồ đề.

and in increasing his apprehension of the beauty of the entire solar scheme.

và trong việc gia tăng sự nắm bắt của y về vẻ đẹp của toàn bộ hệ hành tinh mặt trời.

550. Note the term used—Solar Scheme, it is indicative of a scheme-like structure which characterizes the Solar Logos in relation to the Being Who embodies the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

550. Hãy lưu ý thuật ngữ được dùng—Hệ Hành Tinh Mặt Trời; nó cho thấy một cấu trúc giống như hệ hành tinh, đặc trưng cho Thái dương Thượng đế trong tương quan với Hữu thể thể hiện Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó.

551. VSK remarks: “Ah, mental appreciation and apprehension of beauty in the same sentence. Everyone enjoys a happy ending …”

551. VSK nhận xét: “À, sự lĩnh hội trí tuệ và sự nắm bắt vẻ đẹp trong cùng một câu. Ai cũng thích một kết thúc có hậu…”

S3S5: TCF 259-269

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Cước chú và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Có gợi ý rằng nên đọc phần Bình Luận này với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục mạch văn. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.

VI. WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE? WHO ARE THE MANASAPUTRAS?

VI. PHƯƠNG DIỆN TRÍ TUỆ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ? CÁC MANASAPUTRA LÀ AI?

1. These are huge questions. It is almost as if the entire A Treatise on Cosmic Fire was written on this subject.

1. Đây là những câu hỏi rất lớn. Gần như thể toàn bộ Luận về Lửa Vũ Trụ đã được viết về chủ đề này.

We are now to touch upon the profoundest mystery of the whole manifested solar system—the mystery spoken of by H. P. B. as the mystery of electricity.5: [S. D., I, 439, 221, 107.]

Giờ đây chúng ta sẽ chạm đến huyền nhiệm sâu xa nhất của toàn bộ hệ mặt trời biểu hiện—huyền nhiệm được H. P. B. nói đến như huyền nhiệm của điện.5: [S. D., I, 439, 221, 107.]

2. We note that DK speaks of the whole manifested solar system. There are presumably other and equally profound mysteries concerning those aspects of the Solar Logos which are considered to be out of manifestation—His cosmic astral and cosmic mental natures, for instance.

2. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về toàn bộ hệ mặt trời biểu hiện. Có lẽ còn có những huyền nhiệm khác cũng sâu xa không kém liên quan đến những phương diện của Thái dương Thượng đế được xem là ở ngoài biểu hiện—chẳng hạn như bản chất cảm dục vũ trụ và trí tuệ vũ trụ của Ngài.

3. The “mystery of electricity” is particularly connected with the creation, sustainment and dissolution of the cosmic physical plane.

3. “Huyền nhiệm của điện” đặc biệt liên hệ với sự sáng tạo, duy trì và tan rã của cõi hồng trần vũ trụ.

It is intimately connected with the life of God as demonstrated through His seven Centres, the seven Heavenly Men, the Divine Manasaputras.

Nó liên hệ mật thiết với sự sống của Thượng đế như được biểu lộ qua bảy Trung tâm của Ngài, bảy Đấng Thiên Nhân, các Manasaputra thiêng liêng.

4. We remember the connection of the seven Heavenly Man to the Pleiades. The Pleiades (an aspect of which relates intimately to the physical-etheric nature of the Solar Logos) are often considered the source, within our cosmosystem, of all electrical phenomena.

4. Chúng ta nhớ mối liên hệ của bảy Đấng Thiên Nhân với Thất Nữ Tinh. Thất Nữ Tinh (một phương diện của nó liên hệ mật thiết với bản chất hồng trần-dĩ thái của Thái dương Thượng đế) thường được xem là nguồn gốc, bên trong cosmosystem của chúng ta, của mọi hiện tượng điện.

5. “God” in this case is the Solar Logos, having for His centers, the seven Heavenly Men.

5. “Thượng đế” trong trường hợp này là Thái dương Thượng đế, với bảy Đấng Thiên Nhân là các trung tâm của Ngài.

6. Whenever the term “electricity” is mentioned, some intimate connection with the life aspect of divinity is also suggested. The first and third aspects of divinity are closely interrelated.

6. Bất cứ khi nào thuật ngữ “điện” được nhắc đến, một mối liên hệ mật thiết nào đó với phương diện sự sống của thiên tính cũng được gợi ra. Phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính có liên hệ chặt chẽ với nhau.

This problem is not soluble as yet exoterically and but little can be revealed to the general public.

Vấn đề này hiện chưa thể giải quyết một cách ngoại môn và chỉ rất ít điều có thể được tiết lộ cho công chúng nói chung.

7. We use electricity widely in our contemporary civilization and it has become indispensable. Yet, do we know what it really is?

7. Chúng ta sử dụng điện rộng rãi trong nền văn minh đương đại của mình và nó đã trở nên không thể thiếu. Tuy nhiên, chúng ta có biết nó thực sự là gì không?

8. We are part of the general public; the true initiates are not.

8. Chúng ta là một phần của công chúng nói chung; các điểm đạo đồ chân chính thì không phải.

This is for three reasons:

Điều này là vì ba lý do:

First, the stage reached by man does not permit of his correct apprehension of these abstractions.

Thứ nhất, giai đoạn mà con người đã đạt đến không cho phép y nắm bắt đúng đắn những trừu tượng này.

9. It is hard to admit that the present development of the human mind finds certain subjects and their true presentation unfathomable, but so it is.

9. Thật khó chấp nhận rằng sự phát triển hiện nay của trí tuệ con người thấy một số chủ đề và cách trình bày chân thực của chúng là không thể dò thấu, nhưng đúng là như vậy.

10. Perhaps at the cutting edge of the various sciences, this is realized.

10. Có lẽ ở tuyến đầu của các ngành khoa học khác nhau, điều này được nhận ra.

11. Some feel it is not necessary to grasp the nature of such “abstractions”. If we are of this opinion, we are simply willingly prolonging the state of ignorance in which presently find ourselves.

11. Một số người cảm thấy không cần thiết phải nắm bắt bản chất của những “trừu tượng” như thế. Nếu chúng ta có quan điểm này, chúng ta đơn giản chỉ là tự nguyện kéo dài tình trạng vô minh mà hiện nay chúng ta đang ở trong đó.

Second, the greater part of the possible explanation is only revealed to initiates who have passed the third Initiation, and even to them in a carefully guarded manner.

Thứ hai, phần lớn lời giải thích khả dĩ chỉ được tiết lộ cho các điểm đạo đồ đã vượt qua lần điểm đạo thứ ba, và ngay cả với họ cũng theo một cách được canh giữ cẩn mật.

12. Such initiates have had their first practical contact with electric fire.

12. Những điểm đạo đồ như thế đã có tiếp xúc thực tiễn đầu tiên của họ với Lửa Điện.

13. We are reminded that the third degree represents only the beginning of the process of revealing the life aspect of divinity.

13. Chúng ta được nhắc rằng cấp độ thứ ba chỉ tượng trưng cho sự khởi đầu của tiến trình mặc khải phương diện sự sống của thiên tính.

Third, the revelation of the close connection between mind and fohat or energy, or between thought power and electrical phenomena—the effect of fohatic impulse on matter—is fraught with peril, and the missing link (if so it might be termed) in the chain of reasoning from phenomena to its initiatory impulse, can only be safely imparted when the bridge between higher and lower mind, is adequately constructed.

Thứ ba, sự mặc khải về mối liên hệ chặt chẽ giữa trí tuệ và fohat hay năng lượng, hay giữa quyền năng tư tưởng và các hiện tượng điện—tác động của xung lực fohat lên vật chất—chứa đầy hiểm nguy, và mắt xích còn thiếu (nếu có thể gọi như vậy) trong chuỗi lý luận từ hiện tượng đến xung lực khởi phát của nó, chỉ có thể được truyền đạt một cách an toàn khi cây cầu giữa thượng trí và hạ trí được xây dựng đầy đủ.

14. This extract is discussing scientific magic or the secrets of manifestation.

14. Đoạn trích này đang bàn đến huyền thuật khoa học hay các bí mật của sự biểu hiện.

15. The well-informed magician can make his thoughts appear as forms in the lower worlds.

15. Nhà huyền thuật được thông tin đầy đủ có thể làm cho các tư tưởng của mình xuất hiện như những hình tướng trong các cõi thấp.

16. Fohat is here considered as the energy working upon matter and as electrical phenomena.

16. Ở đây fohat được xem như năng lượng tác động lên vật chất và như các hiện tượng điện.

17. There is a secret link between thought power and electrical phenomena. Phenomena have their “initiatory impulse”.

17. Có một mối liên kết bí mật giữa quyền năng tư tưởng và các hiện tượng điện. Các hiện tượng có “xung lực khởi phát” của chúng.

18. The secrets of creative manifestation are here hinted.

18. Các bí mật của sự biểu hiện sáng tạo được ám chỉ ở đây.

19. Man must not hold the secret of the creative process until he is informed by the Divine Plan, which can only occur when the antahkarana is adequately constructed.

19. Con người không được nắm giữ bí mật của tiến trình sáng tạo cho đến khi y được Thiên Cơ thấm nhuần, điều chỉ có thể xảy ra khi antahkarana được xây dựng đầy đủ.

20. The construction of the antahkarana antidotes the usual distortions which occur when consciousness is confined to levels lower than the spiritual triad.

20. Việc xây dựng antahkarana hóa giải những bóp méo thông thường xảy ra khi tâm thức bị giới hạn ở các cấp độ thấp hơn Tam Nguyên Tinh Thần.

21. VSK queries: Could this have been related to the atomic energy, and to the fact that it was not intended that the secrets of atomic energy be revealed until the Age of Capricorn?

21. VSK nêu câu hỏi: Điều này có thể đã liên quan đến năng lượng nguyên tử, và đến sự kiện rằng các bí mật của năng lượng nguyên tử không được dự định tiết lộ cho đến Kỷ Nguyên Ma Kết chăng?

When the lower is under the control of the higher, or when the quaternary is merging into the triad, then man can be trusted with the remaining [Page 260] four fundamentals.

Khi cái thấp ở dưới sự kiểm soát của cái cao, hay khi bộ tứ đang hòa nhập vào tam nguyên tinh thần, khi đó con người có thể được tin cậy để nắm giữ bốn nền tảng [Page 260] còn lại.

22. Yes, the whole matter is one of trust. That which is unworthy cannot be allowed to manifest in a wholesale manner. There is already more than sufficient manifestation of the unworthy.

22. Đúng vậy, toàn bộ vấn đề là vấn đề về sự tin cậy. Điều không xứng đáng không thể được phép biểu hiện một cách đại trà. Đã có quá đủ sự biểu hiện của điều không xứng đáng rồi.

23. The Secret Doctrine has, apparently, seven Fundamentals.

23. Giáo Lý Bí Nhiệm, dường như, có bảy Nền Tảng.

24. Three Fundamentals of the Secret Doctrine have been imparted. The first Fundamental cannot be comprehended by the mind of man.

24. Ba Nền Tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm đã được truyền đạt. Nền Tảng thứ nhất không thể được trí tuệ con người hiểu thấu.

Three of these fundamentals are laid down for us in the Proem of the Secret Doctrine, [6: S. D., I, 42-44]. and with the evolving concept of psychology, make the revealed three and the dawning fourth.

Ba nền tảng trong số này được nêu ra cho chúng ta trong Lời Mở Đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm, [6: S. D., I, 42-44]. và cùng với khái niệm đang tiến hóa về tâm lý học, tạo thành ba điều đã được mặc khải và điều thứ tư đang hé rạng.

25. From one perspective the “Law of Freedom”, as a fourth cosmic law, can be considered related to the emerging Fourth Fundamental of the Secret Doctrine.

25. Từ một góc nhìn, “Định luật Tự do”, như một định luật vũ trụ thứ tư, có thể được xem là liên hệ với Nền Tảng thứ Tư đang xuất hiện của Giáo Lý Bí Nhiệm.

26. This law is doubtlessly related to the Law of Karma as discussed below:

26. Định luật này hẳn là có liên hệ với Định luật Nghiệp quả như được bàn đến dưới đây:

“The Intermediate Law of Karma. —There is also an intermediate law, which is the synthetic law of the system [Page 570] of Sirius. This law is called by the generic term, the Law of Karma, and really predicates the effect the Sirian system has on our solar system. Each of the two systems, as regards its internal economy, is independent in time and space, or (in other words), in manifestation. We have practically no effect on our parent system, the reflex action is so slight as to be negligible, but very definite effects are felt in our system through causes arising in Sirius. These causes, when experienced as effects, are called by us the Law of Karma, and at the beginning they started systemic Karma which, once in effect, constitutes that which is called Karma in our occult and oriental literature.” (TCF 569-570)

“Định luật Trung gian của Nghiệp quả. —Cũng có một định luật trung gian, là định luật tổng hợp của hệ [Page 570] Sirius. Định luật này được gọi bằng thuật ngữ tổng quát là Định luật Nghiệp quả, và thực sự xác định trước hiệu quả mà hệ Sirius có trên hệ mặt trời của chúng ta. Mỗi hệ trong hai hệ này, xét về cơ cấu nội tại của nó, đều độc lập trong thời gian và không gian, hay (nói cách khác), trong biểu hiện. Chúng ta thực tế hầu như không có ảnh hưởng nào lên hệ mẹ của mình, phản tác động quá nhỏ đến mức có thể bỏ qua, nhưng những hiệu quả rất xác định lại được cảm nhận trong hệ của chúng ta qua các nguyên nhân phát sinh trong Sirius. Những nguyên nhân này, khi được trải nghiệm như các hiệu quả, được chúng ta gọi là Định luật Nghiệp quả, và ngay từ lúc khởi đầu chúng đã phát động Nghiệp quả hệ thống mà, một khi đã có hiệu lực, cấu thành điều được gọi là Nghiệp quả trong văn học huyền bí và phương Đông của chúng ta.” (TCF 569-570)

27. The Fourth Fundamental will relate to psychology and (it is thought by some) to esoteric astrology.

27. Nền Tảng thứ Tư sẽ liên hệ đến tâm lý học và (theo suy nghĩ của một số người) đến chiêm tinh học nội môn.

28. How can we combine the ideas of the Fourth Law, of Freedom/Karma; the fourth plane, the buddhic; the sciences of esoteric psychology and astrology; Sirius and the Fourth Path which leads thereto?

28. Làm sao chúng ta có thể kết hợp các ý tưởng về Định luật thứ Tư, của Tự do/Nghiệp quả; cõi thứ tư, cõi Bồ đề; các khoa học về Tâm Lý Học Nội Môn và chiêm tinh học; Sirius và Con Đường thứ Tư dẫn đến đó?

29. The principle of Love-Wisdom (buddhi, the sixth principle) found upon the buddhic plane is that principle which contributes to the karmic harmonizing of all discord, and reveals the truth of the Divine Archetype, which revelation sets man free. Sirius, as one expression of the Cosmic Christ, promotes the acquisition of this freedom through Pure Reason, Love and Wisdom. True psychological understanding is related to the number four and to the utilization of buddhi. Interestingly, it is the Master P. on the fourth ray who (we are told) stimulates the science of psychology in the modern world.

29. Nguyên khí Bác Ái – Minh Triết (Bồ đề, nguyên khí thứ sáu) được tìm thấy trên cõi Bồ đề là nguyên khí góp phần vào sự điều hòa nghiệp quả của mọi bất hòa, và mặc khải chân lý của Nguyên Mẫu thiêng liêng, mà sự mặc khải ấy giải thoát con người. Sirius, như một biểu hiện của Đức Christ Vũ Trụ, thúc đẩy việc đạt được sự tự do này qua Lý Trí Thuần Khiết, Bác ái và minh triết. Sự thấu hiểu tâm lý học chân thực liên hệ với con số bốn và với việc sử dụng Bồ đề. Điều thú vị là chính Chân sư P. trên cung bốn (như chúng ta được cho biết) kích thích khoa học tâm lý học trong thế giới hiện đại.

30. VSK queries: “How is this related to the three cosmic laws, and the emerging fourth; i.e., Law of Synthesis relating to the Boundless Immutable Principle; the Law of Attraction to Law of Periodicity; the Law of Economy to the fact that All Souls are Identical with the Oversoul? So then, the emerging Law of Freedom [R&I p. 417], would correlate with the dawning Fourth Fundamental of the Secret Doctrine/ fundamental? The factor of numerical resonance is important here.

30. VSK nêu câu hỏi: “Điều này liên hệ thế nào với ba định luật vũ trụ, và định luật thứ tư đang xuất hiện; tức là, Định luật Tổng Hợp liên hệ với Nguyên Khí Vô Biên Bất Biến; Định luật Hấp Dẫn với Định luật Chu Kỳ; Định luật Tiết Kiệm với sự kiện rằng Mọi Linh Hồn Đồng Nhất với đại hồn? Vậy thì, Định luật Tự do đang xuất hiện [R&I tr. 417], sẽ tương ứng với Nền Tảng thứ Tư đang hé rạng của Giáo Lý Bí Nhiệm/nền tảng? Yếu tố cộng hưởng số học là quan trọng ở đây.”

The other three are esoteric and must remain so until each man has for himself worked at his spiritual development, built the bridge between the higher and the lower mind, prepared the shrine in the temple of Solomon for the Light of God, and turned his activities into altruistic helping of the evolutionary plans of the Logos.

Ba điều còn lại là huyền bí và phải vẫn như vậy cho đến khi mỗi người tự mình nỗ lực cho sự phát triển tinh thần của mình, xây dựng cây cầu giữa thượng trí và hạ trí, chuẩn bị điện thờ trong đền Solomon cho Ánh Sáng của Thượng đế, và chuyển các hoạt động của mình thành sự trợ giúp vị tha cho các kế hoạch tiến hoá của Thượng đế.

31. We are being told when there may be access to the other three Fundamentals of the Secret Doctrine. Let us tabulate:

31. Chúng ta đang được cho biết khi nào có thể tiếp cận ba Nền Tảng còn lại của Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng ta hãy lập bảng:

a. When man has for himself worked at his spiritual development

a. Khi con người tự mình nỗ lực cho sự phát triển tinh thần của mình

b. When man has built the bridge between the higher and the lower mind

b. Khi con người đã xây dựng cây cầu giữa thượng trí và hạ trí

c. When man has prepared the shrine in the temple of Solomon for the Light of God

c. Khi con người đã chuẩn bị điện thờ trong đền Solomon cho Ánh Sáng của Thượng đế

d. When man has turned his activities into altruistic helping of the evolutionary planes of Logos

d. Khi con người đã chuyển các hoạt động của mình thành sự trợ giúp vị tha cho các kế hoạch tiến hoá của Thượng đế

32. It would seem that for the revelation of these esoteric Fundamentals to dawn upon human consciousness, man must minimally be an initiate of the third degree.

32. Có vẻ như để sự mặc khải của các Nền Tảng huyền bí này hé rạng trong tâm thức con người, con người ít nhất phải là một điểm đạo đồ cấp ba.

33. The fourth ether and the buddhic plane are both in process of revelation to human consciousness. This revelation corresponds to the slowly emerging revelation of the Fourth Fundamental of the Secret Doctrine. It is also no surprise that the Science of Psychology will be that through which occultism is brought into human consciousness.

33. Dĩ thái thứ tư và cõi Bồ đề đều đang trong tiến trình được mặc khải cho tâm thức con người. Sự mặc khải này tương ứng với sự mặc khải đang chậm rãi xuất hiện của Nền Tảng thứ Tư của Giáo Lý Bí Nhiệm. Cũng không có gì ngạc nhiên khi Khoa Học Tâm Lý Học sẽ là phương tiện qua đó huyền bí học được đưa vào tâm thức con người.

34. There may be a relation to the fact that three of the Fundamentals of the Secret Doctrine are concealed, and three of the intra-planetary Kumaras are concealed.

34. Có thể có một liên hệ với sự kiện rằng ba Nền Tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm bị che giấu, và ba Kumaras nội hành tinh cũng bị che giấu.

When these qualities are assuming a foremost place and when man has demonstrated the thoroughness of his will to serve, then the clue will be put into his hands and he will find the method whereby electrical impulse, demonstrating as heat, light and motion, is controlled and utilised;

Khi những phẩm tính này đang giữ vị trí hàng đầu và khi con người đã chứng tỏ tính triệt để của ý chí phụng sự của mình, khi đó đầu mối sẽ được đặt vào tay y và y sẽ tìm ra phương pháp nhờ đó xung lực điện, biểu hiện như nhiệt, ánh sáng và chuyển động, được kiểm soát và sử dụng;

35. We learn that although there are always clues to the next possible revelation, certain requirements must be fulfilled before the clue can be evoked—in due course.

35. Chúng ta học được rằng mặc dù luôn có những đầu mối cho sự mặc khải khả dĩ kế tiếp, một số điều kiện nhất định phải được hoàn tất trước khi đầu mối có thể được gợi lên—đúng thời điểm.

36. The phrase “thoroughness of his will to serve” is arresting in its implications. Obviously, all of us are moved by the will to serve, but that will may not be thorough-going, persistently permeating every dimension of our lives in the three worlds.

36. Cụm từ “tính triệt để của ý chí phụng sự của mình” thật đáng chú ý trong các hàm ý của nó. Hiển nhiên tất cả chúng ta đều được thúc đẩy bởi ý chí phụng sự, nhưng ý chí ấy có thể chưa triệt để, chưa bền bỉ thấm nhuần mọi chiều kích của đời sống chúng ta trong ba cõi thấp.

37. The threefold manner in which electrical impulse demonstrates is worth noting.

37. Cách thức tam phân mà xung lực điện biểu hiện là điều đáng lưu ý.

38. The control and utilization of this impulse will be through the power of thought, reinforced by will.

38. Sự kiểm soát và sử dụng xung lực này sẽ thông qua quyền năng của tư tưởng, được củng cố bởi ý chí.

39. Thought will control electricity.

39. Tư tưởng sẽ kiểm soát điện.

40. In the practice of white magic, we will find the third, fifth and seventh rays allied.

40. Trong việc thực hành Chánh Thuật, chúng ta sẽ thấy cung ba, cung năm và cung bảy liên kết với nhau.

he will discover the source of the initial impulse from extra-systemic centres, and discover the basic rhythm.

y sẽ khám phá nguồn của xung lực ban đầu từ các trung tâm ngoài hệ, và khám phá nhịp điệu căn bản.

41. The initial impulse behind electrical impulse has an origin which is extra-systemic, i.e., originating from a source outside our solar system.

41. Xung lực ban đầu đứng sau xung lực điện có một nguồn gốc ngoài hệ, tức là phát sinh từ một nguồn bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta.

42. From what is generally taught, we can reasonably conceive of this source (as regards our local cosmosystem) as the Pleiades.

42. Từ những gì thường được giảng dạy, chúng ta có thể hợp lý hình dung nguồn này (xét theo cosmosystem cục bộ của chúng ta) là Thất Nữ Tinh.

43. It may be that all the seven major (to us) Pleiades are involved, because DK speaks of “extra-systemic centres” (plural). Probably each of the major Pleiades is the source of a particular coloration of the electrical impulse, and stands behind one of the Seven Brothers of Fohat. Probably there are seven divisions of the Law of Electricity.

43. Có thể là cả bảy ngôi sao chính (đối với chúng ta) của Thất Nữ Tinh đều có liên quan, vì Chân sư DK nói đến “các trung tâm ngoài hệ” (số nhiều). Có lẽ mỗi ngôi sao chính của Thất Nữ Tinh là nguồn của một sắc thái đặc thù của xung lực điện, và đứng sau một trong Bảy Huynh Đệ của Fohat. Có lẽ có bảy phân bộ của Định luật Điện.

44. It is hinted that there is a “basic rhythm” behind all electrical phenomena. One of new sciences will focus on the ways in which the many rhythms (or frequencies) are derived from a basic rhythm (or frequency). We have to discover what in music is called the “fundamental tone”, and derive from it the entire range of related vibrations.

44. Có gợi ý rằng có một “nhịp điệu căn bản” đứng sau mọi hiện tượng điện. Một trong những khoa học mới sẽ tập trung vào những cách thức mà nhiều nhịp điệu (hay tần số) được rút ra từ một nhịp điệu căn bản (hay tần số). Chúng ta phải khám phá điều mà trong âm nhạc được gọi là “âm cơ bản”, và từ đó rút ra toàn bộ dải rung động liên hệ.

45. It may be that each subsidiary rhythm is derived from a fundamental rhythm. The method of derivation may be related to the harmonics of the fundamental.

45. Có thể mỗi nhịp điệu phụ thuộc đều được rút ra từ một nhịp điệu nền tảng. Phương pháp rút ra ấy có thể liên hệ với các họa âm của âm nền tảng.

Then, and only then, will he be a truly intelligent co-operator, and (escaping from the control of the Law in the three worlds) wield the law himself within the lower spheres.

Khi đó, và chỉ khi đó, y mới là một cộng tác viên thực sự thông minh, và (thoát khỏi sự kiểm soát của Định luật trong ba cõi thấp) tự mình vận dụng định luật trong các khối cầu thấp hơn.

46. DK is telling us how a disciple becomes a Master. For a Master is a Master in the three worlds.

46. Chân sư DK đang cho chúng ta biết một đệ tử trở thành một Chân sư như thế nào. Vì một Chân sư là Chân sư trong ba cõi thấp.

47. We are understanding that a Master is a Master of electrical phenomena. A Master is the product of the first solar system, and is master of the electrical phenomena related to that solar system (in which was developed what we now call the third or electrical aspect of divinity).

47. Chúng ta đang hiểu rằng một Chân sư là bậc làm chủ các hiện tượng điện. Một Chân sư là sản phẩm của hệ mặt trời thứ nhất, và là bậc làm chủ các hiện tượng điện liên hệ với hệ mặt trời ấy (trong đó điều mà nay chúng ta gọi là phương diện thứ ba hay phương diện điện của thiên tính đã được phát triển).

48. Those who focus upon the fifth ray have a special ability to understand, wield and master electrical phenomena. We are understanding what is involved technically in the making of a Master of the Wisdom. The making of a Lord of Compassion (who is also a Master) may not involve a grasp of such technicalities.

48. Những ai tập trung vào cung năm có một khả năng đặc biệt để thấu hiểu, vận dụng và làm chủ các hiện tượng điện. Chúng ta đang hiểu điều gì liên quan về mặt kỹ thuật trong việc tạo nên một Chân sư Minh triết. Việc tạo nên một Chúa Tể của Lòng Từ Bi (cũng là một Chân sư) có thể không bao gồm sự nắm bắt những chi tiết kỹ thuật như thế.

1. The Nature of Manifestation.

1. Bản Chất của Sự Biểu Hiện.

Here are three important questions to be dealt with as one, all bearing on the same subject, and all concerned with the fact of intelligent objectivity itself.

Ở đây có ba câu hỏi quan trọng cần được bàn đến như một, tất cả đều liên quan đến cùng một chủ đề, và tất cả đều gắn với chính sự kiện khách quan tính thông minh.

49. Objectivity is produced particularly by the intelligence aspect, the third aspect.

49. Khách quan tính được tạo ra đặc biệt bởi phương diện trí tuệ, phương diện thứ ba.

Perhaps if we paraphrased the threefold query, and brought it down to microcosmic objectivity, the problem might not appear so complex.

Có lẽ nếu chúng ta diễn giải lại câu hỏi tam phân này, và đưa nó xuống mức khách quan tính của tiểu thiên địa, thì vấn đề có thể sẽ không có vẻ phức tạp đến thế.

50. The principle is: reduce to clarify. It is also at times true that one may expand to clarify.

50. Nguyên tắc là: giảm xuống để làm sáng tỏ. Đôi khi cũng đúng rằng người ta có thể mở rộng ra để làm sáng tỏ.

We might express it thus:

Chúng ta có thể diễn đạt như sau:

What is the thought aspect of a human being? Why is his mind and mental process of such importance? Who is the Thinker?

Phương diện tư tưởng của một con người là gì? Tại sao trí tuệ và tiến trình trí tuệ của y lại quan trọng đến thế? Ai là Kẻ Tư Tưởng?

51. VSK suggests that we may see the questions immediately above as the direct lower corollaries to the opening series of questions i.e., WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE? WHO ARE THE MANASAPUTRAS?

51. VSK gợi ý rằng chúng ta có thể xem các câu hỏi ngay bên trên như những hệ luận trực tiếp thấp hơn của loạt câu hỏi mở đầu, tức là, PHƯƠNG DIỆN TRÍ TUỆ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ? CÁC MANASAPUTRA LÀ AI?

52. These questions are of real importance in these days when the Atlantean tendencies in human consciousness are experiencing a reawakening in the approach of so many spiritually-inclined people whose impression it is that “the mind is the slayer of the real”—and this, before having fully developed the mind.

52. Những câu hỏi này thực sự quan trọng trong những ngày này khi các khuynh hướng Atlantis trong tâm thức nhân loại đang trải qua một sự thức dậy trở lại, trong lúc rất nhiều người có khuynh hướng tinh thần tiến gần đến quan niệm rằng “trí tuệ là kẻ sát hại cái thực”—và điều này xảy ra trước khi trí tuệ được phát triển đầy đủ.

Man, in essential essence, is the higher triad demonstrating through a gradually evolving form, the egoic or causal body, and utilising the lower threefold personality [Page 261] as a means to contact the lower three planes.

Con người, trong tinh túy cốt yếu, là tam nguyên cao đang biểu lộ qua một hình tướng tiến hóa dần dần, thể chân ngã hay thể nguyên nhân, và sử dụng phàm ngã tam phân thấp hơn [Page 261] như một phương tiện để tiếp xúc với ba cõi thấp hơn.

53. This is a highly essentialized definition of the nature of man, and a very useful one.

53. Đây là một định nghĩa được tinh yếu hóa cao độ về bản chất của con người, và là một định nghĩa rất hữu ích.

54. We notice that man, “in essential essence”, is not defined as the Monad, which may seem a little surprising. But then, the triad is the threefold expression of the Monad and, in all things occult, the three are the one and the one is the three.

54. Chúng ta lưu ý rằng con người, “trong tinh túy cốt yếu”, không được định nghĩa là chân thần, điều này có thể có vẻ hơi đáng ngạc nhiên. Nhưng tam nguyên là biểu hiện tam phân của chân thần, và trong mọi điều huyền bí, ba là một và một là ba.

55. The personality is (spiritually considered) a means of focalizing the Spirit. Without it, man, the Monad/triad, could not contact the lower three planes.

55. Phàm ngã là (xét về mặt tinh thần) một phương tiện để hội tụ Tinh thần. Không có nó, con người, chân thần/tam nguyên, không thể tiếp xúc với ba cõi thấp hơn.

All this has for purpose the development of perfect self-consciousness.

Tất cả điều này nhằm mục đích phát triển ngã thức hoàn hảo.

56. Man’s Self-consciousness may be quite perfect on monadic levels, but the perfection lacks in those levels of prakritic immersion we call the five planes of human and super-human evolution.

56. Ngã thức của con người có thể khá hoàn hảo trên các cấp độ chân thần, nhưng sự hoàn hảo ấy còn thiếu trên những cấp độ chìm đắm trong prakriti mà chúng ta gọi là năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại.

57. The whole subject of monadic awareness is one of intense interest. It is reasonable to think that such awareness is far more universal than individual (“Lead us from the individual to the universal”) and yet retains the perception of distinct identity which we may think of as allied to individuality.

57. Toàn bộ chủ đề về nhận biết chân thần là một chủ đề cực kỳ đáng quan tâm. Thật hợp lý khi nghĩ rằng sự nhận biết như vậy mang tính phổ quát hơn là cá biệt (“Hãy dẫn dắt chúng con từ cái cá biệt đến cái phổ quát”) nhưng vẫn giữ lại sự tri nhận về bản sắc riêng biệt mà chúng ta có thể xem là gần với tính cá thể.

Above the triad stands the Monad or the Father in Heaven—a point of abstraction to man as he views the subject from the physical plane.

Bên trên tam nguyên là chân thần hay Cha trên Trời—một điểm trừu tượng đối với con người khi y nhìn chủ đề này từ cõi hồng trần.

58. We must agree with the Tibetan’s assessment. Is the Monad also a ‘point of incomprehensibility’, or is something of its nature beginning to impress the human consciousness?

58. Chúng ta phải đồng ý với nhận định của Chân sư Tây Tạng. Chân thần cũng có phải là một “điểm bất khả lĩnh hội” hay chăng, hay một điều gì đó thuộc bản chất của nó đang bắt đầu gây ấn tượng lên tâm thức con người?

The Monad stands to him in the position of the Absolute, in the same sense as the undifferentiated Logos stands to the threefold Trinity, to the three Persons of logoic manifestation. The parallel is exact.

Chân thần đứng đối với y ở vị trí của Tuyệt Đối, theo cùng ý nghĩa như Thượng đế chưa phân hóa đứng đối với Ba Ngôi tam phân, đối với ba Ngôi vị của biểu lộ logoi. Sự song hành này là chính xác.

59. The Absolute/Monad = the Undifferentiated Logos/the Logoic Trinity

59. Tuyệt Đối/Chân thần = Thượng đế Chưa Phân Hóa/Ba Ngôi Logoi

60. Indeed, the essential Monad is a Ray of the ABSOLUTE. Human conceptions, of course, fail to do justice to these most abstract of themes.

60. Thật vậy, về bản chất chân thần là một cung của TUYỆT ĐỐI. Dĩ nhiên, các quan niệm của con người không thể diễn đạt thỏa đáng những chủ đề trừu tượng nhất này.

61. We see that the term “Absolute”, as here used, is not absolute at all. But if the term “Absolute” means, ‘that beyond which one may not go’ (at least, not yet), then the analogy is significant.

61. Chúng ta thấy rằng thuật ngữ “Tuyệt Đối”, như được dùng ở đây, hoàn toàn không tuyệt đối chút nào. Nhưng nếu thuật ngữ “Tuyệt Đối” có nghĩa là ‘điều vượt quá đó người ta không thể đi xa hơn’ (ít nhất là, chưa thể), thì phép loại suy này thật có ý nghĩa.

62. Who are the “three Persons of logoic manifestation”? It would be legitimate to call them Brahma, Vishnu and Shiva. They are depicted on the Chart on TCF 1238, as the three circles closest to the Solar Logos.

62. “Ba Ngôi vị của biểu lộ logoi” là ai? Hoàn toàn chính đáng khi gọi Các Ngài là Brahma, Vishnu và Shiva. Các Ngài được mô tả trên Biểu đồ ở TCF 1238, như ba vòng tròn gần Thái dương Thượng đế nhất.

63. It is possible that these Three Persons also, each of them, express through three planets. (cf. EP II 99), thus requiring nine planets to express the Three Persons considered as a unit.

63. Có thể là ba Ngôi vị này cũng vậy, mỗi vị trong Các Ngài, biểu lộ qua ba hành tinh. (xem EP II 99), do đó cần đến chín hành tinh để biểu lộ Ba Ngôi vị được xét như một đơn vị.

64. The constant use of relativity in the task of elucidating the Ageless Wisdom is something with which we all must reckon.

64. Việc sử dụng liên tục tính tương đối trong nhiệm vụ làm sáng tỏ Minh Triết Ngàn Đời là điều mà tất cả chúng ta đều phải tính đến.

1. The Monad.

1. Chân thần.

2. The threefold Triad, Atma-Buddhi-Manas, or spiritual will, intuition, and higher mind.

2. Tam nguyên tam phân, Atma-Buddhi-Manas, hay ý chí tinh thần, trực giác, và thượng trí.

3. The body egoic or the causal body, the shrine for the buddhic principle. This body is to be built by the power of the mind. It is the manifestation of the three.

3. Thể chân ngã hay thể nguyên nhân, điện thờ của nguyên khí Bồ đề. Thể này phải được xây dựng bằng quyền năng của trí tuệ. Nó là biểu hiện của bộ ba.

65. These are some important thoughts. We may remember that the three synthesis petals arise due to buddhic impulse.

65. Đây là một số tư tưởng quan trọng. Chúng ta có thể nhớ rằng ba cánh hoa tổng hợp phát sinh do xung lực Bồ đề.

“A downflow of buddhi takes place along the line of the manasic triangle until it reaches a point at the very centre of the lotus. There, by the power of its own vibration, it causes a change in the appearance of the lotus. At the very heart of the lotus, three more petals appear which close in on the central flame, covering it closely, and remaining closed until the time comes for the revelation of the “jewel in the Lotus.” (TCF 709)

“Một dòng tuôn đổ của Bồ đề diễn ra dọc theo đường của tam giác manas cho đến khi nó đạt tới một điểm ngay tại trung tâm của hoa sen. Ở đó, bằng quyền năng của chính rung động của nó, nó gây ra một sự thay đổi trong sắc tướng của hoa sen. Ngay tại trái tim của hoa sen, ba cánh hoa nữa xuất hiện khép lại quanh ngọn lửa trung tâm, che phủ nó sát kín, và vẫn khép kín cho đến khi thời điểm đến để mặc khải “ngọc trong Hoa Sen.” (TCF 709)

66. Thus we may see how the causal body can be considered the “shrine for the buddhic principle”. The three synthesizing petals can been called “enshrining petals” (cf. IHS 141).

66. Như vậy chúng ta có thể thấy thể nguyên nhân có thể được xem là “điện thờ của nguyên khí Bồ đề” như thế nào. Ba cánh hoa tổng hợp có thể được gọi là “các cánh hoa bao thờ” (xem IHS 141).

67. The buddhic petals are considered to be ‘petals of revelation’—they reveal life.

67. Các cánh hoa Bồ đề được xem là ‘các cánh hoa mặc khải’—chúng mặc khải sự sống.

68. The causal body is (for the majority of man’s evolution) the principle vehicle of expression for the second aspect of divinity. Buddhi is the principle which expresses this second aspect.

68. Thể nguyên nhân là (đối với phần lớn tiến hóa của con người) vận cụ biểu lộ chính yếu cho phương diện thứ hai của thiên tính. Bồ đề là nguyên khí biểu lộ phương diện thứ hai này.

69. It is significant to say that the causal body is built by the power of mind. This is certainly so in the case of the Solar Angels who created it on the third subplane of the higher mental plane (by utilizing the powers inherent in the first subplane). It is also true of man, who, through a growing mentality, chooses and ‘buys’ his experience in the lower worlds. The extract of that experience is built into the causal body as value.

69. Thật có ý nghĩa khi nói rằng thể nguyên nhân được xây dựng bằng quyền năng của trí tuệ. Điều này chắc chắn đúng trong trường hợp các Thái dương Thiên Thần, những Đấng đã tạo ra nó trên cõi phụ thứ ba của Cõi thượng trí (bằng cách sử dụng các quyền năng vốn có trong cõi phụ thứ nhất). Điều này cũng đúng với con người, là kẻ, thông qua một trí tuệ đang tăng trưởng, chọn lựa và ‘mua’ kinh nghiệm của mình trong các cõi thấp. Tinh chất rút ra từ kinh nghiệm đó được xây dựng vào thể nguyên nhân như giá trị.

70. The planet Venus, ruler of the ‘Sign of Choice’, Libra, is involved in this choice of experience. According to the principle of attraction (desire/love—Venus) so we experience. Saturn, another ruler of Libra is also deeply involved.

70. Hành tinh Sao Kim, chủ tinh của ‘Dấu Hiệu của Sự Chọn Lựa’, Thiên Bình, có liên quan đến sự chọn lựa kinh nghiệm này. Theo nguyên khí hấp dẫn (ham muốn/bác ái—Sao Kim), chúng ta trải nghiệm như vậy. Sao Thổ, một chủ tinh khác của Thiên Bình, cũng liên quan sâu sắc.

71. The causal body is really a vehicle of manifestation for Atma-Buddhi-Manas, but is most connected with buddhi because the soul principle is the second principle in the trinity of Spirit, soul and ‘body’/ i.e., personality, and because the causal body is the soul body.

71. Thể nguyên nhân thực sự là một vận cụ biểu lộ cho Atma-Buddhi-Manas, nhưng gắn bó nhất với Bồ đề vì nguyên khí linh hồn là nguyên khí thứ hai trong bộ ba Tinh thần, linh hồn và ‘thể’/ tức là, phàm ngã, và vì thể nguyên nhân là thể linh hồn.

4. The threefold lower nature, the points of densest objectivity.

4. Bản chất thấp tam phân, những điểm của tính khách quan đậm đặc nhất.

72. It is not that we consider the dense physical body alone to the point of densest objectivity—which, in a way, it is. Dense objectivity is shared by all the lower three vehicles—hence the use of the word “points” (plural).

72. Không phải là chúng ta chỉ xem thể xác đậm đặc là điểm của tính khách quan đậm đặc nhất—dù theo một nghĩa nào đó, đúng là như vậy. Tính khách quan đậm đặc được chia sẻ bởi tất cả ba vận cụ thấp hơn—do đó mới dùng từ “những điểm” (số nhiều).

73. We have to alter our perspective on the supposed subjectivity of our etheric, astral and lower mental natures.

73. Chúng ta phải thay đổi quan điểm của mình về tính chủ quan được giả định của bản chất dĩ thái, cảm dục và hạ trí của mình.

5. This threefold lower nature is in essence a quaternary—the etheric vehicle, animating life or prana, kama-manas, and lower mind.

5. Bản chất thấp tam phân này về thực chất là một bộ bốn—vận cụ dĩ thái, sự sống hoạt hóa hay prana, kama-manas, và hạ trí.

74. We note that the dense physical vehicle is not included in this quaternary.

74. Chúng ta lưu ý rằng vận cụ hồng trần đậm đặc không được bao gồm trong bộ bốn này.

75. Of course, it can be disputed whether kama-manas is really a principle, or actually a combination of two principle—manas and kama, but for practical purposes, since so many human beings are under its sway, kama-manas can be considered a principle.

75. Dĩ nhiên, có thể tranh luận rằng kama-manas có thực sự là một nguyên khí hay không, hay thực ra là sự kết hợp của hai nguyên khí—manas và kama, nhưng vì mục đích thực tiễn, bởi rất nhiều con người đang ở dưới sự chi phối của nó, kama-manas có thể được xem là một nguyên khí.

76. Notice (because it will be important later) that the “quaternary” refers to the lower principles of the human being, or of any atom (such as the Planetary Logos or Solar Logos).

76. Hãy lưu ý (vì điều này sẽ quan trọng về sau) rằng “bộ bốn” ám chỉ các nguyên khí thấp hơn của con người, hay của bất kỳ nguyên tử nào (chẳng hạn như Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế).

Manas or the fifth principle, forms the link between the lower and the higher. [7: S. D., I, 107.]

Manas hay nguyên khí thứ năm, tạo thành mối liên kết giữa cái thấp và cái cao. [7: S. D., I, 107.]

77. VSK queries: “What are the systemic and cosmic parallels of the causal body being built by the mind?”

77. VSK nêu câu hỏi: “Những song hành hệ thống và vũ trụ nào tương ứng với việc thể nguyên nhân được xây dựng bởi trí tuệ?”

78. Probably these parallels are rather exact in the case of the building of the causal bodies of both our Planetary Logos and Solar Logos. Whether Constellational Logoi have causal bodies, can only be analogically inferred (cf. TCF 293)

78. Có lẽ những song hành này khá chính xác trong trường hợp xây dựng các thể nguyên nhân của cả Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế của chúng ta. Còn việc các Thượng đế Chòm sao có thể nguyên nhân hay không, chỉ có thể được suy ra bằng loại suy (xem TCF 293)

79. In this case the “lower” is represented by the quaternary named above. The “higher” may be considered Atma-Buddhi-Manas.

79. Trong trường hợp này, cái “thấp” được biểu thị bởi bộ bốn được nêu ở trên. Cái “cao” có thể được xem là Atma-Buddhi-Manas.

We have, therefore, our lower four, our higher three, and the relation between them, the principle of mind.

Do đó, chúng ta có bốn thấp hơn, ba cao hơn, và mối liên hệ giữa chúng, nguyên khí trí tuệ.

80. Thus, in this enumeration, we have eight in all.

80. Như vậy, trong cách liệt kê này, chúng ta có tất cả là tám.

81. In the section under study, a number of different ways of dividing or enumerating man will be given. It will be necessary for us constantly to change our point of view in order to see the rationale for the division or numbering.

81. Trong phần đang được nghiên cứu, sẽ có một số cách phân chia hay liệt kê con người khác nhau được đưa ra. Chúng ta sẽ cần liên tục thay đổi điểm nhìn của mình để thấy được cơ sở hợp lý cho sự phân chia hay đánh số ấy.

82. The number eight is of importance, because it both represents the Christ Principle and that which fights most intelligently against it—the lower mind in a condition of willful separation and known as the “eighth sphere”.

82. Con số tám là quan trọng, vì nó vừa biểu thị Nguyên khí Christ vừa biểu thị điều chống lại nó một cách thông minh nhất—hạ trí trong tình trạng phân ly cố ý và được biết đến như “khối cầu thứ tám”.

Here we have the seven formed by the union of the three and the four, and another factor, making eight. The ultimate seven will be seen when buddhi and manas are merged.

Ở đây chúng ta có số bảy được hình thành bởi sự hợp nhất của ba và bốn, và một yếu tố khác, làm thành tám. Số bảy tối hậu sẽ được thấy khi Bồ đề và manas được dung hợp.

83. This is certainly of interest. Let us tabulate the numbering of man when this merging has occurred:

83. Điều này chắc chắn đáng quan tâm. Chúng ta hãy lập bảng cách đánh số con người khi sự dung hợp này đã xảy ra:

1. Atma

1. Atma

2. Buddhi-Manas

2. Buddhi-Manas

3. The principle of mind (Manas)—considered as solar fire

3. Nguyên khí trí tuệ (Manas)—được xem như Lửa Thái dương

4. Lower mind

4. Hạ trí

5. Kama-manas

5. Kama-manas

6. Prana

6. Prana

7. Etheric Vehicle

7. Vận cụ dĩ thái

84. If we examine the list closely, we will see that not all the factors enumerated are really principles. The etheric vehicle is, precisely, a vehicle—not a principle.

84. Nếu xem xét kỹ danh sách này, chúng ta sẽ thấy rằng không phải mọi yếu tố được liệt kê đều thực sự là nguyên khí. Vận cụ dĩ thái, chính xác mà nói, là một vận cụ—không phải một nguyên khí.

85. VSK suggests we consider the term ‘another factor’ as the principle of mind being the relation between, and a separate factor. There is a necessity that manas being ‘under the direction’ of the soul or buddhic sphere.

85. VSK gợi ý rằng chúng ta xem thuật ngữ ‘một yếu tố khác’ như nguyên khí trí tuệ là mối liên hệ giữa, và là một yếu tố riêng biệt. Có một sự cần thiết là manas phải ở ‘dưới sự chỉ đạo’ của linh hồn hay khối cầu Bồ đề.

86. In relation to VSK’s thought, I think we have to discriminate between “manas” and “lower mind”. “Manas” is that aspect of the mind infused by solar fire and is a true linking energy. The “lower mind” is the sphere which eventually becomes a separated unit in those who are dedicated to material selfishness, and forms, thereby, a barrier to communication between that which is high and that which is low.

86. Liên hệ với tư tưởng của VSK, tôi nghĩ chúng ta phải phân biện giữa “manas” và “hạ trí”. “Manas” là phương diện của trí tuệ được Lửa Thái dương thấm nhuần và là một năng lượng liên kết đích thực. “Hạ trí” là khối cầu cuối cùng trở thành một đơn vị tách biệt nơi những kẻ tận hiến cho tính ích kỷ vật chất, và do đó tạo thành một rào cản đối với sự giao tiếp giữa cái cao và cái thấp.

87. We have studied the division to be found on the mental plane involving solar fire and the elemental thoughtform-making tendency characteristic of the lower mind.

87. Chúng ta đã nghiên cứu sự phân chia được tìm thấy trên cõi trí liên quan đến Lửa Thái dương và khuynh hướng tạo hình tư tưởng hành khí đặc trưng của hạ trí.

88. VSK suggests: Note that these, buddhi and manas, are associated with the Scorpio and Capricorn Creative Hierarchies, the two which marry—human soul and human personality. (We also see the ajna reflection, yellow rose of Scorpio right eye of buddhic soul, and the left eye of personality through Capricorn’s blue and violet, manasic and physical vibratory.)

88. VSK gợi ý: Lưu ý rằng hai điều này, Bồ đề và manas, được liên kết với các Huyền Giai Sáng Tạo Hổ Cáp và Ma Kết, hai Huyền Giai kết hôn—linh hồn con người và phàm ngã con người. (Chúng ta cũng thấy sự phản chiếu ajna, hoa hồng vàng của Hổ Cáp là mắt phải của linh hồn Bồ đề, và mắt trái của phàm ngã qua màu lam và tím của rung động manas và hồng trần của Ma Kết.)

89. As may have been noted in an earlier commentary, there seems to be some question about whether the rose and yellow are to found on the right of the ajna center or the left. Naturally, the blue and violet would also reverse positions, depending on which perspective we use. Reasonable justifications can be found for both. Sources may differ or mistakes may simply have been made in printing. The best way is to see for ourselves!

89. Như có thể đã được lưu ý trong một phần bình luận trước, dường như có một số nghi vấn về việc màu hồng và màu vàng nằm ở bên phải hay bên trái của trung tâm ajna. Đương nhiên, màu lam và tím cũng sẽ đảo vị trí, tùy theo quan điểm chúng ta sử dụng. Có thể tìm thấy những biện minh hợp lý cho cả hai. Các nguồn có thể khác nhau hoặc đơn giản là đã có sai sót trong in ấn. Cách tốt nhất là tự chúng ta nhìn thấy!

Much has been hinted at in certain of our occult books about the eighth sphere. I would suggest that in this linking factor of intelligent mind, we have a clue to the mystery. When mind becomes unduly developed and ceases to unite the higher and the lower, it forms a sphere of its own. This is the greatest disaster that can overtake the human unit.

Nhiều điều đã được ám chỉ trong một số sách huyền bí của chúng ta về khối cầu thứ tám. Tôi muốn gợi ý rằng trong yếu tố liên kết này của trí tuệ thông minh, chúng ta có một đầu mối cho huyền nhiệm ấy. Khi trí tuệ trở nên phát triển quá mức và không còn hợp nhất cái cao với cái thấp nữa, nó hình thành một khối cầu của riêng nó. Đây là tai họa lớn nhất có thể giáng xuống đơn vị con người.

90. We note that “lower mind” is not considered (in this enumeration of chakras) the fifth principle.

90. Chúng ta lưu ý rằng “hạ trí” không được xem là nguyên khí thứ năm (trong cách liệt kê các luân xa này).

91. In the excerpt above, mind as the fifth principle ceases to link and instead separates, perhaps joining what is called in the enumeration, “lower mind”.

91. Trong đoạn trích trên, trí tuệ với tư cách nguyên khí thứ năm không còn liên kết nữa mà thay vào đó phân ly, có lẽ nhập vào điều được gọi trong cách liệt kê là “hạ trí”.

92. It is possible for the powers of the causal body to be prostituted to the desires of the form nature.

92. Có thể các quyền năng của thể nguyên nhân bị lạm dụng để phục vụ các ham muốn của bản chất hình tướng.

93. Manas ceases to be united to love and the five-pointed star is inverted.

93. Manas không còn hợp nhất với bác ái và ngôi sao năm cánh bị đảo ngược.

94. An inverted Venus becomes, symbolically, Mars—in this case, the “Beast”.

94. Một Sao Kim đảo ngược trở thành, về mặt biểu tượng, Sao Hỏa—trong trường hợp này, là “Con Thú”.

[Page 262]

[Page 262]

Therefore we have:

Do đó chúng ta có:

Monad, the microcosmic absolute.

Chân thần, cái tuyệt đối vi mô.

Pure Spirit.

Tinh thần Thuần khiết.

The one and only.

Một và duy nhất.

95. The Monad is “Pure Spirit” in essence. The auric vehicle of the Monad is not Pure Spirit per se.

95. Chân thần là “Tinh thần Thuần khiết” về bản chất. Noãn hào quang của chân thần không phải là Tinh thần Thuần khiết chính nó.

96. Monadic awareness is that which hides all difference and blots out all form. In that type of awareness, the reality of multiplicity is negated.

96. Nhận biết chân thần là điều che giấu mọi khác biệt và xóa mờ mọi hình tướng. Trong loại nhận biết đó, thực tại của tính đa tạp bị phủ nhận.

The monadic trinity.

Ba Ngôi chân thần.

First aspect....... Atma or spiritual will.

Phương diện thứ nhất....... Atma hay ý chí tinh thần.

Second aspect...... Buddhi, the Christ principle.

Phương diện thứ hai...... Bồ đề, nguyên khí Christ.

Third aspect....... Manas, or higher mind.

Phương diện thứ ba....... Manas, hay thượng trí.

97. It is arresting and illuminating to think, of the spiritual triad under the term “monadic trinity”. One who is achieving triadal consciousness is, in a sense, achieving differentiated monadic consciousness.

97. Thật gây chú ý và soi sáng khi nghĩ về Tam Nguyên Tinh Thần dưới thuật ngữ “Ba Ngôi chân thần”. Người đang đạt được tâm thức tam nguyên, theo một nghĩa nào đó, đang đạt được tâm thức chân thần đã được biến phân.

98. The spiritual triad has an analogy to the Three Buddhas of Activity and also to the Logoic Trinity which surround the Solar Logos.

98. Tam Nguyên Tinh Thần có một phép loại suy với Ba Đức Phật Hoạt Động và cũng với Ba Ngôi Logoi bao quanh Thái dương Thượng đế.

99. We note the identification of buddhi with the Christ Principle. The Reappearance of the Christ will mean a new relation of man to his buddhic principle.

99. Chúng ta lưu ý sự đồng nhất Bồ đề với Nguyên khí Christ. Sự Tái Lâm của Đức Christ sẽ có nghĩa là một mối liên hệ mới của con người với nguyên khí Bồ đề của mình.

The Son aspect in objectivity.

Phương diện Con trong tính khách quan.

The body egoic or causal body.

Thể chân ngã hay thể nguyên nhân.

100. The wording here suggests that there is an objective Son and a subjective Son. The subjective Son functions through the buddhic vehicle within the spiritual triad. The objective Son (objective from the perspective of the Solar Logos) is found on the higher mental plane which, to the Solar Logos is a plane of objectivity.

100. Cách diễn đạt ở đây gợi ý rằng có một Con khách quan và một Con chủ quan. Con chủ quan hoạt động qua vận cụ Bồ đề trong Tam Nguyên Tinh Thần. Con khách quan (khách quan từ quan điểm của Thái dương Thượng đế) được tìm thấy trên Cõi thượng trí, cõi mà đối với Thái dương Thượng đế là một cõi khách quan.

The lower quaternary.

Bộ bốn thấp hơn.

1. The mental body.

1. Thể trí.

2. The astral or emotional body.8

2. Thể cảm dục hay cảm xúc.8

3. Prana, or vital energy.

3. Prana, hay năng lượng sinh lực.

4. Etheric body.

4. Thể dĩ thái.

101. We are now discussing another enumeration. We note that four vehicles are included in this enumeration.

101. Giờ đây chúng ta đang bàn đến một cách liệt kê khác. Chúng ta lưu ý rằng bốn vận cụ được bao gồm trong cách liệt kê này.

a. The causal body and not manas

a. Thể nguyên nhân chứ không phải manas

b. The mental body and not lower mind

b. Thể trí chứ không phải hạ trí

c. The astral body and not kama-manas

c. Thể cảm dục chứ không phải kama-manas

102. With respect to Atma-Buddhi-Manas, we do not find in this enumeration

102. Đối với Atma-Buddhi-Manas, chúng ta không thấy trong cách liệt kê này

a. The atmic vehicle

a. Vận cụ atma

b. The buddhic vehicle

b. Vận cụ Bồ đề

c. The manasic vehicle

c. Vận cụ manas

Footnote 8:

Chú thích 8:

Kamamanas—That blending of the mental and desire element that forms the personality or common brain-intelligence of the man.

Kamamanas—Sự pha trộn của yếu tố trí tuệ và yếu tố ham muốn tạo thành phàm ngã hay trí thông minh não bộ thông thường của con người.

103. How they are blended is a technical matter. We speak of the fact that they function together, but we have little idea of how, technically, this really happens.

103. Việc chúng được pha trộn như thế nào là một vấn đề kỹ thuật. Chúng ta nói về sự kiện rằng chúng hoạt động cùng nhau, nhưng chúng ta ít có ý niệm về việc, về mặt kỹ thuật, điều này thực sự xảy ra như thế nào.

"The energies that express themselves through the lower kinds of mental matter are so changed by it into slower vibrations that are responded to by astral matter that the two bodies are continually vibrating together, and become very closely interwoven."—The Ancient Wisdom by Mrs. Besant.

“Các năng lượng biểu lộ qua những loại vật chất trí tuệ thấp hơn bị chúng biến đổi thành những rung động chậm hơn mà vật chất cảm dục đáp ứng được, đến nỗi hai thể liên tục rung động cùng nhau, và trở nên đan xen rất chặt chẽ.”—Minh Triết Cổ Xưa của bà Besant.

104. Annie Besant’s explanation is a good one, however. She had, I think, a fifth ray mind, and it shows.

104. Tuy nhiên, lời giải thích của Annie Besant là một lời giải thích tốt. Theo tôi, bà có một trí tuệ cung năm, và điều đó thể hiện rõ.

105. We see that there is a necessary slowing down of mental vibration so that it approximates the vibration of astral matter. The astral nature and the lower mental nature thus vibrate together with the result that every thought has a feeling associated with it and vice versa.

105. Chúng ta thấy rằng có một sự chậm lại cần thiết của rung động trí tuệ để nó gần với rung động của vật chất cảm dục. Bản chất cảm dục và bản chất hạ trí do đó rung động cùng nhau, với kết quả là mọi tư tưởng đều gắn liền với một cảm giác và ngược lại.

106. When thought tends to become the servant of desire, its vibration slows.

106. Khi tư tưởng có xu hướng trở thành kẻ phục vụ cho ham muốn, rung động của nó chậm lại.

107. What may be the process of interweaving is another matter for technical analysis. It is as if the two bodies begin to interpenetrate, so that the border of distinction between the two is not easy to apprehend.

107. Tiến trình đan xen có thể là gì lại là một vấn đề khác dành cho phân tích kỹ thuật. Dường như hai thể bắt đầu xuyên nhập lẫn nhau, đến mức ranh giới phân biệt giữa chúng không dễ nắm bắt.

The microcosm reproduces the solar system in miniature.

Tiểu thiên địa tái tạo hệ mặt trời trong hình thức thu nhỏ.

108. Can it be said as well that the microcosm reproduces the planetary system in miniature, or is the correspondence not quite as exact?

108. Có thể cũng nói rằng tiểu thiên địa tái tạo hệ hành tinh trong hình thức thu nhỏ hay không, hay sự tương ứng không hoàn toàn chính xác?

The above deals with the objective forms, corresponding to the sun and the seven sacred planets.

Điều trên đây bàn đến các hình tướng khách quan, tương ứng với mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng.

109. As stated, in the two listings thus far given there has been mixture of principles and vehicles. Because the tabulation ended with the etheric body (the etheric body, being considered a physical form), we might understand why DK thinks of it as an objective tabulation.

109. Như đã nói, trong hai danh sách được đưa ra cho đến nay đã có sự pha trộn giữa các nguyên khí và các vận cụ. Bởi vì bảng liệt kê kết thúc với thể dĩ thái (thể dĩ thái, được xem là một hình tướng hồng trần), chúng ta có thể hiểu tại sao Chân sư DK nghĩ về nó như một bảng liệt kê khách quan.

But the exoteric form is paralleled by a psychic development which we call the seven principles.

Nhưng hình thức ngoại môn được song hành bởi một sự phát triển thông linh mà chúng ta gọi là bảy nguyên khí.

110. Yet, some principles have already been listed in the previous tabulations.

110. Tuy nhiên, một số nguyên khí đã được liệt kê trong các bảng trước đó.

111. Here the flow of text is interrupted to consider the content of some footnotes.

111. Ở đây dòng văn bản bị ngắt quãng để xem xét nội dung của một số chú thích.

Footnote 9:

Chú thích 9:

1. There are two main cosmic principles in nature: —

1. Có hai nguyên khí vũ trụ chính trong bản chất: —

a. Active and passive, male and female. —S. D., II, 556. I, 46.

a. Chủ động và thụ động, nam và nữ. —S. D., II, 556. I, 46.

112. Whatever can be said of man, the microcosm, can be said of the cosmos in general. The fundamental principles in cosmos are the great dualities of positive and receptive, active and passive, male and female.

112. Điều gì có thể nói về con người, tiểu thiên địa, thì cũng có thể nói về vũ trụ nói chung. Các nguyên khí căn bản trong vũ trụ là những nhị nguyên lớn của tích cực và tiếp nhận, chủ động và thụ động, nam và nữ.

b. Buddhi and mahat. See also S. D., I, 357. II, 649. III, 273.

b. Bồ đề và mahat. Xem thêm S. D., I, 357. II, 649. III, 273.

113. If we separate these according to ray lines, it is reasonable to consider Mahat in relation to the activity and buddhi in relation to passivity.

113. Nếu chúng ta tách chúng theo các tuyến cung, thì hợp lý khi xem Mahat liên hệ với tính hoạt động và Bồ đề liên hệ với tính thụ động.

114. VSK suggests: “Here we see mahat equated to manasic energy; highlighting the danger and necessity of mentation, as bridge or prison, and the pervasiveness of mahat ‘as well as’ buddhi.

114. VSK gợi ý: “Ở đây chúng ta thấy mahat được đồng nhất với năng lượng manas; làm nổi bật sự nguy hiểm và sự cần thiết của hoạt động trí tuệ, như cây cầu hay nhà tù, và tính thấm khắp của mahat ‘cũng như’ Bồ đề.

115. VSK suggests an alternative point of view substantiated by the functions of two Creative Hierarchies: “Note buddhi and mahat in terms of masculine and feminine. In the tabulation of Creative Hierarchies we have Scorpio as the masculine and Capricorn as feminine. This suggests buddhi active male and mahat as passive female”.

115. VSK gợi ý một quan điểm thay thế được củng cố bởi các chức năng của hai Huyền Giai Sáng Tạo: “Lưu ý Bồ đề và mahat theo nghĩa nam tính và nữ tính. Trong bảng liệt kê các Huyền Giai Sáng Tạo, chúng ta có Hổ Cáp là nam tính và Ma Kết là nữ tính. Điều này gợi ý Bồ đề là nam chủ động và mahat là nữ thụ động”.

116. This point of view is reasonable.

116. Quan điểm này là hợp lý.

2. These higher principles united produce the three and the seven. —S. D., I, 46.

2. Những nguyên khí cao hơn này hợp nhất tạo ra bộ ba và bộ bảy. —S. D., I, 46.

117. In this cosmic enumeration we have a twelve. Or if buddhi and mahat are considered as a single entity once united, then an eleven.

117. Trong cách liệt kê vũ trụ này, chúng ta có một số mười hai. Hoặc nếu Bồ đề và mahat được xem là một thực thể duy nhất khi đã hợp nhất, thì là một số mười một.

a. They are called the three Rays of Essence and the four Aspects. —S. D., I, 147.

a. Chúng được gọi là ba Cung Bản Chất và bốn Phương diện. —S. D., I, 147.

118. We are discussing a cosmic enumeration. Does its applicability extend beyond the solar system? Does it apply to the Universal Whole?

118. Chúng ta đang bàn đến một cách liệt kê vũ trụ. Tính áp dụng của nó có vượt ra ngoài hệ mặt trời không? Nó có áp dụng cho Toàn Thể Vũ Trụ không?

119. We are being given another name of the Rays of Aspect—the three “Rays of Essence”. A trinity is always essential to any creative process involving wider manifestation through seven aspects. This makes the perfect ten.

119. Chúng ta đang được cho một tên gọi khác của Các Cung Trạng Thái—ba “Cung Bản Chất”. Một bộ ba luôn luôn là điều cốt yếu đối với bất kỳ tiến trình sáng tạo nào liên quan đến biểu lộ rộng lớn hơn qua bảy phương diện. Điều này tạo thành số mười hoàn hảo.

120. As well, given a system of seven, the trinity is essential in relation to the lower four or quaternary.

120. Hơn nữa, với một hệ thống bảy, bộ ba là điều cốt yếu trong tương quan với bốn thấp hơn hay bộ bốn.

b. They can be called the three Vehicles with their three Aspects and Atma. —S. D., I, 182.

b. Chúng có thể được gọi là ba Vận cụ với ba Phương diện của chúng và Atma. —S. D., I, 182.

121. These words suggest the “point within the triangle”.

121. Những lời này gợi ý “điểm bên trong tam giác”.

122. The word “Atma” must be watched closely. Sometimes it does not mean the principle of “spiritual will”, but rather the essential One within the Three, or the “Atman”. This is the possible meaning here.

122. Từ “Atma” phải được theo dõi cẩn thận. Đôi khi nó không có nghĩa là nguyên khí “ý chí tinh thần”, mà đúng hơn là Đấng Duy Nhất cốt yếu bên trong Bộ Ba, hay “Atman”. Đây có thể là ý nghĩa ở đây.

c. They are also called the three-tongued Flame of the Four Wicks. —S. D., I, 257.

c. Chúng cũng được gọi là Ngọn Lửa ba lưỡi của Bốn Tim Đèn. —S. D., I, 257.

123. The “three-tongued Flame” is another name for the triadal nature. The Creative Hierarchy (number three or eight) is called the “Triple Flowers” and are analogically related to the “three-tongued Flame”.

123. “Ngọn Lửa ba lưỡi” là một tên gọi khác của bản chất tam nguyên. Huyền Giai Sáng Tạo (số ba hay tám) được gọi là “Ba Hoa” và có liên hệ loại suy với “Ngọn Lửa ba lưỡi”.

124. The term “three-tongued Flame” could also be correlated with the triple nature of the Monad considered as a Divine Flame.

124. Thuật ngữ “Ngọn Lửa ba lưỡi” cũng có thể được tương liên với bản chất tam phân của chân thần được xem như một Ngọn Lửa thiêng liêng.

125. The “Four Wicks” represent the lower four Rays of Attribute as well as the lower quaternary.

125. “Bốn Tim Đèn” biểu thị bốn Các Cung Thuộc Tính thấp hơn cũng như bộ bốn thấp hơn.

This is true cosmically and humanly.

Điều này đúng cả về mặt vũ trụ lẫn con người.

126. The analogy is made. Anything said in this cosmic enumeration applies also to man.

126. Phép loại suy đã được nêu ra. Bất cứ điều gì được nói trong cách liệt kê vũ trụ này cũng áp dụng cho con người.

- The Principles of the Logos the seven Planetary Logoi. —S. D., I, 358, 365.

- Các Nguyên khí của Thượng đế bảy Hành Tinh Thượng Đế. —S. D., I, 358, 365.

- The Principles of the planetary Logos The vehicle called a chain. —S. D., I, 194, 196. II, 626.

- Các Nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế Vận cụ được gọi là một Dãy. —S. D., I, 194, 196. II, 626.

- The Principles of man The different vehicles.

- Các Nguyên khí của con người Các vận cụ khác nhau.

127. We have an extensive analogy above.

127. Chúng ta có một phép loại suy rộng lớn ở trên.

a. The seven Principles of the Solar Logos are represented by those qualified systemic (yet cosmic) Lives we call Planetary Logoi.

a. Bảy Nguyên khí của Thái dương Thượng đế được biểu thị bởi những Sự Sống có phẩm tính hệ thống (nhưng vẫn là vũ trụ) mà chúng ta gọi là các Hành Tinh Thượng Đế.

b. One wonders about the other Planetary Logoi within our solar system (and there are many such Logoi)—to what logoic principles are they related?

b. Người ta tự hỏi về những Hành Tinh Thượng Đế khác trong hệ mặt trời của chúng ta (và có rất nhiều Thượng đế như vậy)—chúng liên hệ với những nguyên khí logoi nào?