Trích nội dung chương
127. This process can be related to the injunction found in Rule X for Disciples and Initiates: “Let the group widen all the rents within… [the] veils [of maya] and thus let in the light.” 127. Tiến trình này có thể được liên hệ với huấn thị tìm thấy trong Quy luật X dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ: “Hãy để nhóm mở rộng mọi chỗ rách bên trong… các bức màn [của ảo lực] và như thế để ánh sáng đi vào.”
127. This process can be related to the injunction found in Rule X for Disciples and Initiates: “Let the group widen all the rents within… [the] veils [of maya] and thus let in the light.”
127. Tiến trình này có thể được liên hệ với huấn thị tìm thấy trong Quy luật X dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ: “Hãy để nhóm mở rộng mọi chỗ rách bên trong… các bức màn [của ảo lực] và như thế để ánh sáng đi vào.”
128. Each initiation represents a burning through. The higher the initiation the higher the barrier burnt through.
128. Mỗi lần điểm đạo biểu thị một sự đốt xuyên qua. Điểm đạo càng cao thì rào chắn bị đốt xuyên qua càng cao.
129. We could wonder whether there are cells within our own body of manifestation which, in their own manner, are achieving an analogous liberation and thus contributing to our own.
129. Chúng ta có thể tự hỏi liệu có những tế bào trong chính thể biểu hiện của chúng ta, theo cách riêng của chúng, đang đạt được một sự giải thoát tương tự và nhờ đó góp phần vào sự giải thoát của chính chúng ta hay không.
When all the units or cells in His body have achieved, He too is set free from dense manifestation and physically dies.
Khi tất cả các đơn vị hay tế bào trong thân thể của Ngài đã đạt được, chính Ngài cũng được giải thoát khỏi biểu hiện đậm đặc và chết về mặt thể xác.
130. We see that the initiation of a Planetary Logos or Solar Logos depends upon the initiation of the cells within His vehicles of manifestation.
130. Chúng ta thấy rằng điểm đạo của một Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế tùy thuộc vào điểm đạo của các tế bào bên trong các vận cụ biểu hiện của Ngài.
131. We seem to be speaking of the fourth initiation after which point the entity in question is no longer in need of a generated physical body—i.e., He “physically dies”.
131. Dường như chúng ta đang nói đến lần điểm đạo thứ tư, sau đó thực thể được nói đến không còn cần một thể xác được tạo sinh nữa—nghĩa là, Ngài “chết về mặt thể xác”.
132. If we think carefully, we will realize that through our own spiritual progress, we are contributing to the spiritual process of the Planetary Logos in Whom we live and move and have our being.
132. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ nhận ra rằng qua sự tiến bộ tinh thần của chính mình, chúng ta đang góp phần vào tiến trình tinh thần của Hành Tinh Thượng Đế, trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.
133. As our Planetary Logos is undergoing a kind of fourth initiation on our chain and upon our globe, it may be expected (at some point) that from the physical perspective, He will die. Will this ‘death’ be part of the etherealization of the dense physical plane so prominent on this fourth globe of the fourth chain?
133. Vì Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư trên dãy của chúng ta và trên bầu hành tinh của chúng ta, nên có thể chờ đợi (vào một thời điểm nào đó) rằng từ góc nhìn hồng trần, Ngài sẽ chết. Liệu “cái chết” này có phải là một phần của sự dĩ thái hóa cõi hồng trần đậm đặc vốn rất nổi bật trên bầu hành tinh thứ tư của dãy thứ tư này không?
This stage is succeeded by the comparatively brief one of etheric existence (covering the period of planetary obscuration), and then He is liberated from incarnation altogether.
Giai đoạn này được tiếp nối bởi một giai đoạn tương đối ngắn của sự tồn tại dĩ thái (bao trùm thời kỳ hành tinh bị che mờ), rồi sau đó Ngài được giải thoát hoàn toàn khỏi lâm phàm.
134. The process of physical death takes longer to achieve that the succeeding etheric liberation.
134. Tiến trình chết về mặt thể xác mất nhiều thời gian hơn để hoàn tất so với sự giải thoát dĩ thái tiếp theo sau đó.
135. There are three culminating phases which end the incarnation of a planetary or solar Entity: synthesis, obscuration, absorption. It will be useful to remember that the period of obscuration is associated with a comparatively brief stage of “etheric existence”. From this perspective, obscuration is the etherealization of dense physical life. During obscuration, therefore, it will be unlikely to find life manifesting through the dense physical level. This may be a useful perspective when considering those planets in our solar system which are said to be passing through a phase of obscuration.
135. Có ba giai đoạn cao điểm kết thúc sự lâm phàm của một Thực Thể hành tinh hay thái dương: tổng hợp, che mờ, hấp thu. Sẽ hữu ích nếu nhớ rằng thời kỳ che mờ gắn liền với một giai đoạn tương đối ngắn của sự tồn tại “dĩ thái”. Từ góc nhìn này, sự che mờ là sự dĩ thái hóa của sự sống hồng trần đậm đặc. Vì vậy, trong thời kỳ che mờ, khó có khả năng tìm thấy sự sống biểu hiện qua cấp độ hồng trần đậm đặc. Đây có thể là một góc nhìn hữu ích khi xem xét những hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta được nói là đang đi qua một giai đoạn che mờ.
136. When DK tells us that certain planets (like Venus) will be, before long, passing into a state of obscuration, we will have to think of the etheric meaning of this stage. Strangely, however, it is said in the Secret Doctrine that “Mercury is just beginning to get out of a state of obscuration” (SD I 188,189). So it would seem that there are periodical obscurations and final obscurations.
136. Khi Chân sư DK cho chúng ta biết rằng một số hành tinh nào đó (như Sao Kim) chẳng bao lâu nữa sẽ đi vào trạng thái che mờ, chúng ta sẽ phải nghĩ đến ý nghĩa dĩ thái của giai đoạn này. Tuy nhiên, thật lạ là trong Giáo Lý Bí Nhiệm có nói rằng “Sao Thủy chỉ mới bắt đầu thoát ra khỏi một trạng thái che mờ” (SD I 188,189). Vì vậy dường như có những sự che mờ định kỳ và những sự che mờ chung cuộc.
137. The concepts of fire, refinement, buddhi and death go hand in hand.
137. Các khái niệm về lửa, sự tinh luyện, Bồ đề và cái chết đi liền với nhau.
138. Of course, it must be noted that obscuration may apply to a planetary globe, or chain or even to the entire scheme. Each will demonstrate differently.
138. Dĩ nhiên, cần lưu ý rằng sự che mờ có thể áp dụng cho một bầu hành tinh, hay một dãy, hay thậm chí toàn bộ hệ hành tinh. Mỗi trường hợp sẽ biểu hiện khác nhau.
Viewing this process from the standpoint of the Logos, the Brahma aspect passes out, or the life withdraws from the physical permanent atom, leaving later stages on cosmic levels, with which we need not concern ourselves.
Nhìn tiến trình này từ quan điểm của Thượng đế, phương diện Brahma đi ra ngoài, hay sự sống rút khỏi nguyên tử trường tồn hồng trần, để lại các giai đoạn sau đó trên các cấp độ vũ trụ, những điều mà chúng ta không cần bận tâm tới.
139. When this happens the solar system will disappear, but the manifestation of the Logos in question will not be completely abstracted. The abstracting Logos will still be demonstrating on the cosmic astral plane through the His astral permanent atom and on the cosmic mental plane through His correspondence to man’s mental unit (if such exists) or through the manasic permanent atom on the cosmic mental plane.
139. Khi điều này xảy ra, hệ mặt trời sẽ biến mất, nhưng biểu hiện của Thượng đế được nói đến sẽ không bị trừu xuất hoàn toàn. Thượng đế đang trừu xuất ấy vẫn sẽ còn biểu hiện trên cõi cảm dục vũ trụ qua nguyên tử trường tồn cảm dục của Ngài và trên cõi trí vũ trụ qua đối ứng của Ngài với đơn vị hạ trí của con người (nếu điều đó tồn tại) hoặc qua nguyên tử trường tồn manas trên cõi trí vũ trụ.
140. The life passes out and the life withdraws from the physical permanent atom when the short etheric phase is concluded.
140. Sự sống đi ra ngoài và rút khỏi nguyên tử trường tồn hồng trần khi giai đoạn dĩ thái ngắn ngủi kết thúc.
These cover the withdrawal of the logoic life from out of the other two aspects.
Những điều này bao trùm sự rút lui của sự sống logoi ra khỏi hai phương diện kia.
141. There is a close parallel to here to the processes of microcosmic death.
141. Ở đây có một sự song hành chặt chẽ với các tiến trình chết của tiểu thiên địa.
In a solar system, which is a physical incarnation of the Logos, the Brahma aspect is apparently the most important, it being the medium of expression,
Trong một hệ mặt trời, vốn là một sự lâm phàm hồng trần của Thượng đế, phương diện Brahma hiển nhiên là quan trọng nhất, vì nó là môi trường biểu hiện,
142. Since we, as human beings, live and move and have our being within the physical-etheric nature of the Solar Logos, it is naturally His physical-etheric nature which would seem, to us, most important. In fact, we are not yet in a position to contact any other aspect of His nature directly.
142. Vì chúng ta, với tư cách con người, sống, chuyển động và hiện hữu bên trong bản chất hồng trần-dĩ thái của Thái dương Thượng đế, nên dĩ nhiên chính bản chất hồng trần-dĩ thái của Ngài dường như là quan trọng nhất đối với chúng ta. Thật ra, chúng ta chưa ở vào vị thế có thể tiếp xúc trực tiếp với bất kỳ phương diện nào khác trong bản chất của Ngài.
yet it is the subjective aspect, or the life-desire of the Logos which is fundamentally of moment;
nhưng chính phương diện chủ quan, hay sự sống-khát vọng của Thượng đế mới là điều căn bản quan trọng;
143. Both our Planetary Logos and our Solar Logos are (at this time) astrally polarized, and so it is their cosmic astral vehicle which is “fundamentally of moment”. To be “of moment” means to be important now.
143. Cả Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta lẫn Thái dương Thượng đế của chúng ta đều đang (vào lúc này) phân cực cảm dục, và vì vậy vận cụ cảm dục vũ trụ của Các Ngài mới là điều “căn bản quan trọng”. “Quan trọng” ở đây có nghĩa là quan trọng ngay bây giờ.
144. When the term “life” is added to that of “desire”, planes even higher than the cosmic astral plane are suggested.
144. Khi thuật ngữ “sự sống” được thêm vào thuật ngữ “khát vọng”, những cõi còn cao hơn cả cõi cảm dục vũ trụ được gợi ra.
this concerns His endeavour on high levels, and on cosmic planes beyond the ken of the highest Chohan.
điều này liên quan đến nỗ lực của Ngài trên các cấp độ cao và trên những cõi vũ trụ vượt ngoài tầm hiểu biết của vị Chohan cao nhất.
145. How far does the ken of the highest Chohan reach? Do we mean the highest Chohan found within the Fourth Creative Hierarchy? If so, even the cosmic astral plane would be beyond apprehension. The Christ, however, as a Chohan of the seventh degree, is, we may suppose, becoming responsive to energies from the cosmic astral plane as, like the Buddha who touched the cosmic mental plane, He is a “cosmic avatar”. (cf. EP II 278)
145. Tầm hiểu biết của vị Chohan cao nhất vươn xa đến đâu? Có phải chúng ta muốn nói đến vị Chohan cao nhất được tìm thấy trong Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư không? Nếu vậy, ngay cả cõi cảm dục vũ trụ cũng sẽ vượt ngoài sự lĩnh hội. Tuy nhiên, Đức Christ, với tư cách một Chohan cấp bảy, theo chúng ta có thể giả định, đang trở nên đáp ứng với các năng lượng từ cõi cảm dục vũ trụ, cũng như Đức Phật, Đấng đã chạm đến cõi trí vũ trụ, Ngài là một “Đấng Hoá Thân vũ trụ”. (xem EP II 278)
It might be of value here if I pointed out that the Egoic Ray of the human unit67 with which we are concerning [Page 510] ourselves, manifests as regards each ray just as does the logoic manifestation.
Ở đây sẽ có giá trị nếu tôi chỉ ra rằng Cung Chân Ngã của đơn vị nhân loại67 mà chúng ta đang bàn đến [Page 510] biểu hiện nơi mỗi cung cũng giống như biểu hiện logoi.
146. The parallel between human and logoic manifestation is often quite exact, especially when the human being is being compared with the Solar Logos.
146. Sự song hành giữa biểu hiện nhân loại và biểu hiện logoi thường khá chính xác, đặc biệt khi con người được so sánh với Thái dương Thượng đế.
FOOTNOTE 67: The human Ray. "Each human centre is a crystallised ray of the Absolute One that has worked through processes of evolution into what is known as a human being."—Some Thoughts on the Gita.
CHÚ THÍCH 67: Cung nhân loại. “Mỗi trung tâm nhân loại là một cung kết tinh của Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất đã vận hành qua các tiến trình tiến hoá để trở thành điều được biết là một con người.”—Some Thoughts on the Gita.
147. It is arresting to read that the “divine center of consciousness” in a human being is a “crystallised ray of the Absolute One”. By the term “crystallized” a process of precipitation and densification must be indicated.
147. Thật đáng chú ý khi đọc rằng “trung tâm tâm thức thiêng liêng” trong một con người là một cung “kết tinh của Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất”. Bởi thuật ngữ “kết tinh”, hẳn phải chỉ ra một tiến trình ngưng tụ và làm đậm đặc.
148. We are being told that we are crystalline precipitations of the “Absolute One”.
148. Chúng ta đang được cho biết rằng chúng ta là những sự ngưng tụ kết tinh của “Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất”.
149. From another perspective, all lives are crystallised rays.
149. Từ một góc nhìn khác, mọi sự sống đều là những cung kết tinh.
Each of the seven Rays, viewed in connection with the causal bodies of men, demonstrates as a unity on the first subplane, as a triplicity on the second and as seven on the third, forming there the forty-nine groups which most concern evolving man.
Mỗi một trong bảy cung, khi được xem xét trong liên hệ với các thể nguyên nhân của con người, biểu hiện như một hợp nhất trên cõi phụ thứ nhất, như một bộ ba trên cõi phụ thứ hai và như bảy trên cõi phụ thứ ba, tại đó hình thành bốn mươi chín nhóm liên hệ nhiều nhất đến con người đang tiến hoá.
150. The sequence 1—3—7 is constantly found and is closely related to the appearance and disappearance of planetary chains in a planetary scheme.
150. Chuỗi 1—3—7 liên tục được tìm thấy và có liên hệ chặt chẽ với sự xuất hiện và biến mất của các dãy hành tinh trong một hệ hành tinh.
151. Although the causal body of men are usually found upon the third and second sub-planes of the mental plane, the text reference above suggests that their association with the first sub-plane cannot be dismissed.
151. Mặc dù các thể nguyên nhân của con người thường được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba và thứ hai của cõi trí, đoạn văn trên cho thấy rằng không thể bác bỏ mối liên hệ của chúng với cõi phụ thứ nhất.
152. It has long been a vexed question whether the causal bodies of men ever focus entirely on the atomic sub-plane of the mental plane, or whether, up until the destruction of the causal body, the focus remains upon the second sub-plane.
152. Từ lâu đã có một câu hỏi gây tranh luận là liệu các thể nguyên nhân của con người có bao giờ tập trung hoàn toàn trên cõi phụ nguyên tử của cõi trí hay không, hay là cho đến khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, tiêu điểm vẫn còn ở cõi phụ thứ hai.
153. The numbering (1—3—7) presents a most important piece of occult information and is to be correlated with the following from LOM:
153. Cách đánh số (1—3—7) trình bày một mẩu thông tin huyền bí cực kỳ quan trọng và cần được đối chiếu với đoạn sau đây trong LOM:
On the third subplane of the mental plane egos are separated into groups—individual separation exists not, but group separation can be felt, incidental to ray and point in evolution.
Trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, các chân ngã được phân chia thành các nhóm—không có sự tách biệt cá nhân, nhưng có thể cảm nhận được sự tách biệt nhóm, tùy thuộc vào cung và điểm tiến hoá.
154. This touches on the manner in which unity is experienced on the higher mental plane. Group separation, at least, is perceived, if not individual separation.
154. Điều này chạm đến cách mà sự hợp nhất được trải nghiệm trên Cõi thượng trí. Ít nhất, sự tách biệt nhóm được nhận biết, dù không phải sự tách biệt cá nhân.
On the second subplane the groups become merged and blend, and from their forty-nine groups are formed (by merging) forty-two. The process of synthesis might be tabulated as follows:
Trên cõi phụ thứ hai, các nhóm trở nên hòa nhập và dung hợp, và từ bốn mươi chín nhóm của chúng hình thành (qua sự hòa nhập) bốn mươi hai. Tiến trình tổng hợp có thể được lập bảng như sau:
(1st subplane 35 groups, 7 x 5
(cõi phụ 1 35 nhóm, 7 x 5
Mental plane (2nd subplane 42 groups, 7 x 6
Cõi trí (cõi phụ 2 42 nhóm, 7 x 6
(3rd subplane 49 groups, 7 x 7 (LOM 38)
(cõi phụ 3 49 nhóm, 7 x 7 (LOM 38)
155. The unity correlates with the 35 groups; the triplicity with the 42 groups and the septenate with the 49 groups.
155. Sự hợp nhất tương ứng với 35 nhóm; bộ ba tương ứng với 42 nhóm và bộ bảy tương ứng với 49 nhóm.
156. In this same reference there are groupings to be found on the buddhic, atmic and monadic planes (sevenfoldness finally being achieved on the monadic plane). Such groupings may be considered as groupings of “Egos” (at least on triadal levels) but not of causal bodies.
156. Trong cùng tài liệu tham chiếu này, có những nhóm được tìm thấy trên các cõi Bồ đề, atma và chân thần (tính thất phân cuối cùng đạt được trên cõi chân thần). Những nhóm như vậy có thể được xem là các nhóm của “các Chân ngã” (ít nhất trên các cấp độ tam nguyên) nhưng không phải của các thể nguyên nhân.
157. It is easy to see how the septenate on the third sub-plane multiplied by seven produces the requisite 49 groups.
157. Thật dễ thấy cách bộ bảy trên cõi phụ thứ ba nhân với bảy tạo ra 49 nhóm cần thiết.
158. On the second sub-plane, the triad must be multiplied by 14 to produce the requisite 42.
158. Trên cõi phụ thứ hai, tam nguyên phải được nhân với 14 để tạo ra 42 cần thiết.
159. It is not easy to relate the ray-unity on the first subplane to the requisite 35 groups.
159. Không dễ liên hệ sự hợp nhất-cung trên cõi phụ thứ nhất với 35 nhóm cần thiết.
160. The different kinds of human beings manifesting on the physical plane have their essential differentiation in these carefully numbered groupings.
160. Những loại người khác nhau biểu hiện trên cõi hồng trần có sự biến phân cốt yếu trong các nhóm được đánh số cẩn thận này.
According to the angle of vision, this numbering of groups may be increased or lessened, but for purposes of studying the aspects of mind, the above enumeration suffices.
Tùy theo góc độ tầm nhìn, cách đánh số các nhóm này có thể tăng lên hoặc giảm xuống, nhưng vì mục đích nghiên cứu các phương diện của trí tuệ, sự liệt kê trên là đủ.
161. Such potential increases we have seen in studying LOM.
161. Những khả năng gia tăng như thế chúng ta đã thấy khi nghiên cứu LOM.
162. DK calls the numbering “this numbering of groups” obviously meaning groups of causal bodies.
162. Chân sư DK gọi cách đánh số ấy là “cách đánh số các nhóm này”, hiển nhiên muốn nói đến các nhóm thể nguyên nhân.
163. There are probably different ways of deriving numberings to be found on various sub-planes.
163. Có lẽ có những cách khác nhau để suy ra các cách đánh số được tìm thấy trên các cõi phụ khác nhau.
164. One of the most important realizations, however, is that causal bodies (so it appears) are to be found upon the first sub-plane of the systemic mental plane. This is surprising as the causal bodies of initiates are found upon second sub-plane and even the fourth initiation (so it seems from certain references) occurs on the second sub-plane.
164. Tuy nhiên, một trong những chứng nghiệm quan trọng nhất là các thể nguyên nhân (dường như vậy) được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí của hệ. Điều này thật đáng ngạc nhiên vì các thể nguyên nhân của các điểm đạo đồ được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai và ngay cả lần điểm đạo thứ tư (dường như theo một số tài liệu tham chiếu) cũng xảy ra trên cõi phụ thứ hai.
165. Yet, it is impossible to refuse the inference here given that each of the seven rays demonstrates (in relation to causal bodies) as a unity on the highest sub-plane.
165. Tuy vậy, không thể từ chối suy luận được đưa ra ở đây rằng mỗi một trong bảy cung biểu hiện (trong liên hệ với các thể nguyên nhân) như một hợp nhất trên cõi phụ cao nhất.
166. We will have to defer judgment concerning the meaning of this apparent discrepancy until further information or insight is gathered.
166. Chúng ta sẽ phải hoãn phán đoán về ý nghĩa của sự bất nhất biểu kiến này cho đến khi có thêm thông tin hay linh thị.
In the course of his many septenary lives, and as the cyclic sevens pass over him, man passes under the influence of the seven sub-rays of his own Ray. Then he begins to synthesise and merge the seven into the major three sub-rays, returning thus to unity on his own egoic Ray.
Trong tiến trình của nhiều kiếp sống thất phân của mình, và khi các chu kỳ bảy đi qua y, con người đi vào dưới ảnh hưởng của bảy cung phụ của chính cung của mình. Rồi y bắt đầu tổng hợp và dung hợp bảy cung ấy vào ba cung phụ chính, nhờ đó trở về hợp nhất trên cung chân ngã của chính mình.
167. What is meant by “his many septenary lives”? Does the phrase refer to personality cycles or to soul cycles?
167. “Nhiều kiếp sống thất phân của mình” có nghĩa là gì? Cụm từ này có chỉ đến các chu kỳ phàm ngã hay các chu kỳ linh hồn không?
168. When we read of the “cyclic sevens” which “pass over him”, do we mean egoic cycles of seven or personality cycles of seven? Either could be the case.
168. Khi chúng ta đọc về “các chu kỳ bảy” “đi qua y”, có phải chúng ta muốn nói đến các chu kỳ chân ngã gồm bảy hay các chu kỳ phàm ngã gồm bảy không? Cả hai đều có thể đúng.
169. Could we also mean (when referring to “many septenary lives”) that each incarnation is sevenfold (as in considering the “seven ages of man)?
169. Liệu chúng ta cũng có thể hiểu (khi nói đến “nhiều kiếp sống thất phân”) rằng mỗi kiếp lâm phàm đều là thất phân (như khi xét đến “bảy thời kỳ của con người”) không?
170. When we read the phrase “his own Ray” we could think that this indicated the monadic ray, and yet in the next sentence it becomes clear that the “egoic Ray” is meant.
170. Khi đọc cụm từ “chính cung của mình”, chúng ta có thể nghĩ rằng điều này chỉ cung chân thần, nhưng ở câu kế tiếp lại trở nên rõ ràng rằng “cung chân ngã” mới là điều được nói đến.
171. In any case, if a man passes “under the influence of the seven sub-rays of his own Ray”, it would seem that he passes upon all the seven types of personality rays (perhaps even the same personality ray as the ray upon which his Ego is found).
171. Dù sao đi nữa, nếu một người đi “dưới ảnh hưởng của bảy cung phụ của chính cung của mình”, dường như y đi qua cả bảy loại cung phàm ngã (có lẽ ngay cả cùng một cung phàm ngã với cung mà Chân ngã của y hiện diện trên đó).
172. As he advances, he tends to take a personality upon the major three sub-rays of his “egoic Ray” (probably not the same personality ray as his soul ray).
172. Khi tiến bộ, y có khuynh hướng nhận lấy một phàm ngã trên ba cung phụ chính của “cung chân ngã” của mình (có lẽ không phải cùng một cung phàm ngã với cung linh hồn của y).
173. From other references, it is less likely that he will choose a personality upon the same ray as his “egoic Ray”. It is possible that this can be done, but a high degree of balance must be achieved before the Ego (when choosing the personality ray) will deem it wise to choose the ray upon which it finds itself.
173. Từ những tài liệu tham chiếu khác, có vẻ ít khả năng hơn rằng y sẽ chọn một phàm ngã trên cùng một cung với “cung chân ngã” của mình. Điều đó có thể thực hiện được, nhưng phải đạt đến một mức quân bình cao trước khi Chân ngã (khi chọn cung phàm ngã) cho là khôn ngoan để chọn cung mà chính nó đang hiện diện trên đó.
174. What will it mean to “return to unity on his own “egoic Ray”? Perhaps in this return to unity the personality ray chosen will be the same as the “egoic Ray”.
174. “Trở về hợp nhất trên ‘cung chân ngã’ của mình” sẽ có nghĩa là gì? Có lẽ trong sự trở về hợp nhất này, cung phàm ngã được chọn sẽ là cùng một cung với “cung chân ngã”.
175. We could also be dealing with sub-rays of the Ego upon the plane of soul (for thus the Ashrams are divided). It may be that not only a personality ray is chosen which is the same as the egoic ray, but that the same sub-ray as the “egoic Ray” is eventually chosen on soul levels.
175. Chúng ta cũng có thể đang bàn đến các cung phụ của Chân ngã trên cõi linh hồn (vì các ashram được phân chia như thế). Có thể không chỉ một cung phàm ngã được chọn trùng với cung chân ngã, mà cuối cùng cùng một cung phụ như “cung chân ngã” cũng được chọn trên các cấp độ linh hồn.
176. If the soul is on rays four, five, six or seven, then the return to unity (if it signifies choosing the same sub-ray (i.e., personality ray) as the soul ray, will signify a choice of one of the Rays of Attribute and not one of the three major sub-rays.
176. Nếu linh hồn ở trên cung bốn, năm, sáu hay bảy, thì sự trở về hợp nhất (nếu điều đó có nghĩa là chọn cùng một cung phụ (tức cung phàm ngã) như cung linh hồn) sẽ biểu thị sự chọn một trong Các Cung Thuộc Tính chứ không phải một trong ba cung phụ chính.
177. When we speak of “returning thus to unity on his own egoic ray” we must recall the teaching given on TCF 177. The true Ego is the spiritual triad. One focus in the triad (whether atmic, buddhic, or manasic) is strictly monadic, but another, secondary, focus also exists. Secondarily, every triad is either atmic, buddhic or manasic and the “return…to unity” may be a reference to a return to one of these three secondary triadal aspects.
177. Khi nói về việc “nhờ đó trở về hợp nhất trên cung chân ngã của chính mình”, chúng ta phải nhớ lại giáo huấn được đưa ra trong TCF 177. Chân ngã đích thực là Tam Nguyên Tinh Thần. Một tiêu điểm trong tam nguyên (dù là atma, Bồ đề hay manas) thì hoàn toàn là chân thần, nhưng một tiêu điểm khác, thứ yếu, cũng tồn tại. Theo nghĩa thứ yếu, mỗi tam nguyên hoặc là atma, hoặc là Bồ đề, hoặc là manas, và “sự trở về… với hợp nhất” có thể là một quy chiếu đến sự trở về với một trong ba phương diện tam nguyên thứ yếu này.
178. May it be, ultimately, that the return to unity on a man’s egoic Ray is a return to monadic unity, and that the “egoic Ray” is used as the means of this return? This requires amplification.
178. Cuối cùng, có thể chăng sự trở về hợp nhất trên cung chân ngã của một người là sự trở về với sự hợp nhất chân thần, và “cung chân ngã” được dùng như phương tiện của sự trở về này? Điều này cần được khai triển thêm.
179. When speaking of the merging of the seven into one of the major three—there may be a tendency for highly developed people to work through personalities which are on one of the three rays of aspect, but this is certainly not invariably the case.
179. Khi nói về việc dung hợp bảy vào một trong ba cung chính—có thể có một khuynh hướng nơi những người phát triển cao hoạt động qua các phàm ngã thuộc một trong ba cung trạng thái, nhưng điều này chắc chắn không phải luôn luôn như vậy.
180. There is definitely an implication that through the use of one of the major three subrays, a man may return to unity on his own egoic ray. We remember that the major three rays (as personality rays) can only exist when a man is, firstly, intelligent (ray three) and later, approaching the first initiation (rays two and one).
180. Chắc chắn có một hàm ý rằng qua việc sử dụng một trong ba cung phụ chính, con người có thể trở về hợp nhất trên cung chân ngã của chính mình. Chúng ta nhớ rằng ba cung chính (với tư cách các cung phàm ngã) chỉ có thể tồn tại khi con người trước hết là thông minh (cung ba) và về sau đang tiến gần lần điểm đạo thứ nhất (cung hai và cung một).
181. Please review the ninefold choice of rays for the Ego—i.e., for the man as spiritual triad.
181. Xin hãy xem lại sự lựa chọn chín phân của các cung cho Chân ngã—tức cho con người như tam nguyên tinh thần.
182. We can see how little is actually known of the process and how much occult research will be required in the future.
182. Chúng ta có thể thấy rằng thực sự người ta biết rất ít về tiến trình này và trong tương lai sẽ cần rất nhiều nghiên cứu huyền bí học.
183. The movement in this process is from seven to three to one, and from the third sub-plane to the second and thence (so it would seem, eventually) to the first. We will reserve judgment on this last possibility.
183. Sự chuyển động trong tiến trình này là từ bảy đến ba đến một, và từ cõi phụ thứ ba đến cõi phụ thứ hai rồi từ đó (dường như cuối cùng) đến cõi phụ thứ nhất. Chúng ta sẽ tạm giữ phán đoán về khả năng cuối cùng này.
184. We can see that the trend is ever towards simplification and synthesis.
184. Chúng ta có thể thấy rằng xu hướng luôn luôn hướng đến sự đơn giản hóa và tổng hợp.
First. The septenary status governs the time from individualisation till he enters upon the Path.
Thứ nhất. Trạng thái thất phân chi phối khoảng thời gian từ biệt ngã hóa cho đến khi y bước vào Con Đường.
185. Man enters the Path at the first degree.
185. Con người bước vào Con Đường ở cấp độ thứ nhất.
186. DK is suggesting that the rotation on seven sub-rays is the case until the man enters upon the Path.
186. Chân sư DK đang gợi ý rằng sự luân chuyển trên bảy cung phụ là trường hợp xảy ra cho đến khi con người bước vào Con Đường.
187. Yet, it must be remembered that newly individualized man can only individualize on the fourth, fifth, sixth or seventh rays and, similarly, only have personalities upon those rays.
187. Tuy nhiên, phải nhớ rằng con người mới được biệt ngã hóa chỉ có thể biệt ngã hóa trên các cung bốn, năm, sáu hay bảy và tương tự, chỉ có thể có các phàm ngã trên những cung ấy.
188. It is not until one is approaching the stage of intelligent humanity that one can have a personality upon the third ray, and not until one is approaching the first initiation that one can have a personality upon the first or second ray.
188. Chỉ khi một người đang tiến gần giai đoạn nhân loại thông minh thì mới có thể có một phàm ngã trên cung ba, và chỉ khi một người đang tiến gần lần điểm đạo thứ nhất thì mới có thể có một phàm ngã trên cung một hay cung hai.
189. So these factors have to be considered when thinking about a “septenary status that governs from the time of individualization” until entry upon the Path.
189. Vì vậy những yếu tố này phải được xét đến khi suy nghĩ về một “trạng thái thất phân chi phối từ thời điểm biệt ngã hóa” cho đến khi bước vào Con Đường.
190. From another perspective, the septenary status suggests the cycles of the personality rays (cycles of fours and sevens). During this time (the time preceding entry upon the Path at the first initiation) the causal body is focussed on the third level of the mental plane where the number seven prevails. The number three prevails upon the second plane and the number one upon the first.
190. Từ một góc nhìn khác, trạng thái thất phân gợi ý các chu kỳ của các cung phàm ngã (các chu kỳ của bốn và bảy). Trong thời gian này (thời gian trước khi bước vào Con Đường ở lần điểm đạo thứ nhất), thể nguyên nhân được tập trung trên cấp độ thứ ba của cõi trí, nơi con số bảy chiếm ưu thế. Con số ba chiếm ưu thế trên cõi phụ thứ hai và con số một trên cõi phụ thứ nhất.
Second. The threefold status governs the time up till the third Initiation.
Thứ hai. Trạng thái tam phân chi phối khoảng thời gian cho đến lần điểm đạo thứ ba.
191. Again, if we are speaking of the sub-rays as personality rays, this statement will present a problem when compared with other aspects of the Teaching.
191. Một lần nữa, nếu chúng ta đang nói về các cung phụ như các cung phàm ngã, phát biểu này sẽ gây ra một vấn đề khi so sánh với các phương diện khác của Giáo Huấn.
192. It is clear that between the first and third initiation there are many disciples who have personality rays which are not on the three major sub-rays, if by “three major sub-rays” we mean rays one, two and three.
192. Rõ ràng là giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ ba có nhiều đệ tử có các cung phàm ngã không nằm trên ba cung phụ chính, nếu bởi “ba cung phụ chính” chúng ta muốn nói đến cung một, hai và ba.
193. There may, however, be a tendency for the greater number of personalities during the period between the first and third initiations to be upon the major three sub-rays.
193. Tuy nhiên, có thể có một khuynh hướng là phần lớn các phàm ngã trong giai đoạn giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ ba sẽ nằm trên ba cung phụ chính.
194. Only statistical research done at a time when one can be sure of rays and sub-rays will confirm or deny the possibility.
194. Chỉ có nghiên cứu thống kê được thực hiện vào lúc người ta có thể chắc chắn về các cung và cung phụ mới xác nhận hay phủ nhận khả năng này.
195. In any case, from the first to the third initiations, the causal body is focussed on the second sub-plane of the mental, which sub-plane is correlated with the number three, as given above.
195. Dù sao đi nữa, từ lần điểm đạo thứ nhất đến lần điểm đạo thứ ba, thể nguyên nhân được tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi trí, cõi phụ này tương ứng với con số ba, như đã nêu ở trên.
Third. He achieves the unity of his Ray by the fifth Initiation, and is then consciously a part of the body of the Heavenly Man.
Thứ ba. Y đạt được sự hợp nhất của cung mình vào lần điểm đạo thứ năm, và khi đó một cách hữu thức là một phần của thân thể của Đấng Thiên Nhân.
196. This is a most interesting statement and could cause us to re-evaluate the meaning of “his Ray”, as we would suspect that by the time the fifth initiation is taken, the monadic ray would be very important and prominent.
196. Đây là một phát biểu rất thú vị và có thể khiến chúng ta đánh giá lại ý nghĩa của “cung của y”, vì chúng ta sẽ nghi ngờ rằng vào lúc lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, cung chân thần hẳn sẽ rất quan trọng và nổi bật.
197. Yet it cannot be denied that the fourth and fifth degree initiates are focussed within the spiritual triad and that the spiritual triad is the true Ego and thus continues to express the “egoic Ray”—perhaps until the fifth initiation.
197. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các điểm đạo đồ cấp bốn và cấp năm được tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần và Tam Nguyên Tinh Thần là Chân ngã đích thực, do đó tiếp tục biểu lộ “cung chân ngã”—có lẽ cho đến lần điểm đạo thứ năm.
198. By the time the fifth initiation is taken, the Master is capable of producing a mayavirupa, and the achievement of unity on His Ray could simply mean that the mayavirupa is colored by the same ray as the Ego (i.e., the spiritual triad). We have never considered the ‘ray’ of the mayavirupa but there is no reason to think that it should not have one or be expressive mainly of one.
198. Vào lúc lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, Chân sư có khả năng tạo ra một mayavirupa, và việc đạt được sự hợp nhất trên Cung của Ngài có thể đơn giản chỉ có nghĩa là mayavirupa được nhuốm màu bởi cùng một cung như Chân ngã (tức Tam Nguyên Tinh Thần). Chúng ta chưa bao giờ xem xét “cung” của mayavirupa, nhưng không có lý do gì để nghĩ rằng nó không nên có một cung hay không biểu lộ chủ yếu một cung nào đó.
199. On the way to unity, it would be likely that the ray choice would change from threefold to twofold.
199. Trên đường đi đến hợp nhất, có khả năng là sự lựa chọn cung sẽ thay đổi từ tam phân sang nhị phân.
200. We gather the inference that before the fifth initiation the initiate is not consciously a part of the body of the Heavenly Man. And yet, to be consciously a part of such a body, the monadic ray is indispensable, for a man is cell within a center of His Heavenly Man according to His monadic ray.
200. Chúng ta rút ra suy luận rằng trước lần điểm đạo thứ năm, điểm đạo đồ không hữu thức là một phần của thân thể của Đấng Thiên Nhân. Tuy nhiên, để hữu thức là một phần của một thể như thế, cung chân thần là điều không thể thiếu, vì con người là một tế bào bên trong một trung tâm của Đấng Thiên Nhân của Ngài tùy theo cung chân thần của mình.
201. It becomes clear also that there is ‘something’ on the first subplane of the higher mental plane when the fifth initiation is taken. Can this something (that we must hesitate to call a causal body) be a higher mental vehicle built around the manasic permanent atom? Can it be, then, that each ray has one group of such higher mental bodies manifesting on the atomic sub-plane of the higher mental plane? It seems to be the only way to get round the necessity that there be no integrated causal body after the fourth initiation is taken.
201. Cũng trở nên rõ ràng rằng có một “điều gì đó” trên cõi phụ thứ nhất của Cõi thượng trí khi lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận. Điều gì đó này (mà chúng ta phải ngần ngại mới gọi là thể nguyên nhân) có thể là một vận cụ thượng trí được xây dựng quanh nguyên tử trường tồn manas chăng? Vậy thì, có thể chăng mỗi cung có một nhóm những thể thượng trí như thế biểu hiện trên cõi phụ nguyên tử của Cõi thượng trí? Dường như đó là cách duy nhất để vượt qua sự cần thiết rằng không thể có một thể nguyên nhân tích hợp sau khi lần điểm đạo thứ tư được tiếp nhận.
202. The return “to unity on his own egoic Ray” may also indicate that the “egoic Ray” is fully and expressively a subray of his monadic ray.
202. Sự trở về “với hợp nhất trên cung chân ngã của chính y” cũng có thể chỉ ra rằng “cung chân ngã” hoàn toàn và một cách biểu đạt là một cung phụ của cung chân thần của y.
203. Let us recall the manner in which the idea of the seven, three, one was presented above:
203. Hãy nhớ lại cách mà ý tưởng về bảy, ba, một đã được trình bày ở trên:
Each of the seven Rays, viewed in connection with the causal bodies of men, demonstrates as a unity on the first subplane, as a triplicity on the second and as seven on the third, forming there the forty-nine groups which most concern evolving man. (TCF 510)
Mỗi một trong bảy cung, khi được xem xét trong liên hệ với các thể nguyên nhân của con người, biểu lộ như một hợp nhất trên cõi phụ thứ nhất, như một bộ ba trên cõi phụ thứ hai và như bảy trên cõi phụ thứ ba, tại đó hình thành bốn mươi chín nhóm liên quan nhiều nhất đến con người đang tiến hoá. (TCF 510)
204. When we speak of achieving unity upon a ray, we will find that it is possible to—
204. Khi chúng ta nói về việc đạt được hợp nhất trên một cung, chúng ta sẽ thấy rằng có thể—
a. Achieve unity upon one’s egoic ray
a. Đạt được hợp nhất trên cung chân ngã của mình
b. Achieve unity upon one’s monadic ray
b. Đạt được hợp nhất trên cung chân thần của mình
205. We must remember that soul cycles occur in sevens and threes. These two numbers correlate with the manner in which “each of the seven Rays” demonstrates—as seven on the third sub-plane of the mental plane and as a triplicity upon the second.
205. Chúng ta phải nhớ rằng các chu kỳ linh hồn diễn ra theo bảy và ba. Hai con số này tương quan với cách mà “mỗi một trong bảy cung” biểu lộ—như bảy trên cõi phụ thứ ba của cõi trí và như một bộ ba trên cõi phụ thứ hai.
206. It would be well to remember that the causal body is build upon the manasic permanent atom and its ray. The demonstration of a Ray “as a unity on the first subplane” may relate to this fact.
206. Nên nhớ rằng thể nguyên nhân được xây dựng trên nguyên tử trường tồn manas và cung của nó. Sự biểu lộ của một cung “như một hợp nhất trên cõi phụ thứ nhất” có thể liên hệ với sự kiện này.
207. By the time of the fifth initiation, the ray of the Ego (which is the same as the ray of the causal body) is fully the expressively a subray of the Monad.
207. Vào thời điểm lần điểm đạo thứ năm, cung của Chân ngã (cũng là cung của thể nguyên nhân) hoàn toàn, một cách biểu đạt, là một cung phụ của Chân thần.
The same idea can be worked out in connection with the awakening of the life forces within the permanent atoms, viewing each atom as the seventh principle in each of the three aspects of the personality.
Cùng một ý tưởng có thể được triển khai liên hệ với sự thức tỉnh của các mãnh lực sự sống bên trong các nguyên tử trường tồn, xem mỗi nguyên tử như nguyên khí thứ bảy trong mỗi một của ba phương diện của phàm ngã.
208. When we speak of the “life forces” and their “awakening” we are speaking of the spirillae in the atoms.
208. Khi chúng ta nói về các “mãnh lực sự sống” và “sự thức tỉnh” của chúng, chúng ta đang nói về các loa tuyến trong các nguyên tử.
209. We may, in fact, be dealing with seven lesser spirillae which are active in earlier days of atomic expression and three higher spirillae which become active as the atom advances in development. Perhaps, at the end of the developmental process, the central life of the atom is represented only by one spirilla which has absorbed all the others.
209. Thật ra, chúng ta có thể đang đề cập đến bảy loa tuyến thấp hơn hoạt động trong những ngày đầu của sự biểu lộ nguyên tử và ba loa tuyến cao hơn trở nên hoạt động khi nguyên tử tiến triển trong sự phát triển. Có lẽ, vào cuối tiến trình phát triển, sự sống trung tâm của nguyên tử chỉ được biểu hiện bởi một loa tuyến đã hấp thụ tất cả các loa tuyến khác.
210. If the process within the permanent atoms proceeds in this manner (especially within the full permanent atoms and not the quite partial mental unit), then there will be a time when the first three of the greater spirillae are active, and then only two and finally only one—the absorption process having occurred. The process of absorption will proceed from seven, through three, to one.
210. Nếu tiến trình bên trong các nguyên tử trường tồn diễn ra theo cách này (đặc biệt là bên trong các nguyên tử trường tồn đầy đủ chứ không phải đơn vị hạ trí chỉ khá là bộ phận), thì sẽ có một thời kỳ khi ba loa tuyến đầu tiên trong các loa tuyến lớn hơn hoạt động, rồi sau đó chỉ còn hai và cuối cùng chỉ còn một—tiến trình hấp thụ đã xảy ra. Tiến trình hấp thụ sẽ diễn ra từ bảy, qua ba, đến một.
211. We could ask about groupings of permanent atoms. On the highest vibratory level, unity is achieved and there will be seven groupings of permanent atoms according with the seven rays. On the next lowest vibratory level the permanent atoms vibrating to each ray will be divided into three groupings and on the third vibratory level into seven groupings.
211. Chúng ta có thể đặt câu hỏi về các nhóm nguyên tử trường tồn. Ở cấp độ rung động cao nhất, hợp nhất được đạt tới và sẽ có bảy nhóm nguyên tử trường tồn tương ứng với bảy cung. Ở cấp độ rung động thấp hơn kế tiếp, các nguyên tử trường tồn rung động theo mỗi cung sẽ được chia thành ba nhóm và ở cấp độ rung động thứ ba thành bảy nhóm.
212. It should be remembered that each permanent atom will vibrate principally to one type of ray (i.e., if the correspondence between permanent atoms and causal bodies is to be upheld).
212. Cần nhớ rằng mỗi nguyên tử trường tồn sẽ rung động chủ yếu theo một loại cung (tức là, nếu sự tương ứng giữa các nguyên tử trường tồn và các thể nguyên nhân được duy trì).
213. Of course, the principal vibration of a permanent atom could change from life to life, depending upon the influence of the Ego. This introduces a complication.
213. Dĩ nhiên, rung động chính của một nguyên tử trường tồn có thể thay đổi từ kiếp này sang kiếp khác, tùy thuộc vào ảnh hưởng của Chân ngã. Điều này đưa vào một sự phức tạp.
214. Our problem was simply to find some analogy between the relation of the rays, sub-planes and causal bodies (on the one hand) and the rays, permanent atoms and their groupings according to numbers of spirillae active. The matter is complex and we are simply engaged in analogical speculation.
214. Vấn đề của chúng ta chỉ đơn giản là tìm một sự tương đồng nào đó giữa mối liên hệ của các cung, các cõi phụ và các thể nguyên nhân (một bên) với các cung, các nguyên tử trường tồn và các nhóm của chúng theo số lượng loa tuyến hoạt động. Vấn đề này phức tạp và chúng ta chỉ đang tham gia vào sự suy đoán theo tương đồng.
215. We always will be faced with the issue of the 10—7—3—1 and the manner in which they ‘nest’ or do not.
215. Chúng ta sẽ luôn phải đối diện với vấn đề của 10—7—3—1 và cách chúng ‘lồng vào nhau’ hay không.
2. Their Place In the Egoic Body.
2. Vị Trí của Chúng Trong Thể Chân Ngã.
a. The importance of the astral permanent atom. There is one fact to be grasped in connection with the place of the permanent atom within the causal periphery and its evolution, that needs to be emphasised with care, and that is that the astral permanent atom in this solar system is the recipient of a great flow of force or energy, and receives more stimulation and energising than any of the others, and this for the following reasons: [Page 511]
a. Tầm quan trọng của nguyên tử trường tồn cảm dục. Có một sự kiện cần được nắm bắt liên hệ với vị trí của nguyên tử trường tồn bên trong chu vi nhân thể và sự tiến hoá của nó, cần phải được nhấn mạnh một cách cẩn trọng, và đó là nguyên tử trường tồn cảm dục trong hệ mặt trời này là nơi tiếp nhận một dòng mãnh lực hay năng lượng lớn, và nhận được nhiều kích thích và tiếp sinh lực hơn bất kỳ nguyên tử nào khác, và điều này là vì các lý do sau đây: [Page 511]
216. We are exploring the reasons why, in this solar system, the astral permanent atom receives more stimulation and energizing than any other permanent atom.
216. Chúng ta đang khảo sát các lý do vì sao, trong hệ mặt trời này, nguyên tử trường tồn cảm dục nhận được nhiều kích thích và tiếp sinh lực hơn bất kỳ nguyên tử trường tồn nào khác.
217. We live in an astral-buddhic solar system and the polarization of our Solar Logos is still definitely astral (though there is movement towards mental polarization).
217. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề và sự phân cực của Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn rõ rệt là cảm dục (dù đang có sự chuyển động hướng tới sự phân cực trí tuệ).
218. The astral permanent atom in humanity also (at this time) receives more stimulation than any other. The astral body is the most powerful vehicle because it is undivided (whereas the mental plane and the physical plane are both divided).
218. Nguyên tử trường tồn cảm dục trong nhân loại cũng vậy (vào lúc này) nhận được nhiều kích thích hơn bất kỳ nguyên tử nào khác. Thể cảm dục là vận cụ mạnh nhất vì nó không bị phân chia (trong khi cõi trí và cõi hồng trần đều bị phân chia).
219. The following four reasons are given to explain why the astral permanent atom (in relation to our Solar Logos an His solar system, but especially in relation to humanity) receives more stimulation than the other two members of the solar logoic atomic triangle.
219. Bốn lý do sau đây được nêu ra để giải thích vì sao nguyên tử trường tồn cảm dục (liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài, nhưng đặc biệt liên hệ với nhân loại) nhận được nhiều kích thích hơn hai thành viên kia của tam giác nguyên tử thái dương thượng đế.
220. Presumably this stimulation (as regards the solar logoic personality) comes from the egoic nature of the Solar Logos, just as in man, the microcosm, his permanent atoms are stimulated by his egoic nature.
220. Có lẽ sự kích thích này (xét theo phàm ngã thái dương thượng đế) đến từ bản chất chân ngã của Thái dương Thượng đế, cũng như nơi con người, tiểu thiên địa, các nguyên tử trường tồn của y được kích thích bởi bản chất chân ngã của y.
First. The centre of polarisation for the fourth, or human kingdom, is in the astral consciousness viewing this kingdom as a unity in expression.
Thứ nhất. Trung tâm phân cực của giới thứ tư, hay giới nhân loại, nằm trong tâm thức cảm dục xem giới này như một hợp nhất trong biểu lộ.
221. The human kingdom is not (yet fully) a “unity in expression” as there are many different kinds of human beings working at different stages of development.
221. Giới nhân loại chưa (hoàn toàn) là một “hợp nhất trong biểu lộ”, vì có nhiều loại người khác nhau đang hoạt động ở những giai đoạn phát triển khác nhau.
222. But the majority of humanity upon our globe is Earth-chain humanity and closely related to the number four (the number of our chain). Four is a number which correlates not only with the buddhic plane but with the astral plane (the reflections of the buddhic). As an example of the correlation of the number four with the astral plane, the very astral Atlantean root race was the fourth root race.
222. Nhưng đa số nhân loại trên bầu hành tinh của chúng ta là nhân loại Dãy Địa Cầu và có liên hệ chặt chẽ với con số bốn (con số của dãy chúng ta). Bốn là một con số tương quan không chỉ với cõi Bồ đề mà còn với cõi cảm dục (sự phản chiếu của cõi Bồ đề). Như một ví dụ về sự tương quan của số bốn với cõi cảm dục, giống dân gốc Atlantis rất cảm dục chính là giống dân gốc thứ tư.
223. Humanity, as a whole and on all the planets, must be important within this particular solar system and its condition may be supposed to contribute to the degree of influence upon the cosmic physical plane of the astral permanent atom of the Solar Logos
223. Nhân loại, xét như một toàn thể và trên mọi hành tinh, hẳn phải quan trọng trong hệ mặt trời đặc thù này và có thể giả định rằng tình trạng của nó góp phần vào mức độ ảnh hưởng trên cõi hồng trần vũ trụ của nguyên tử trường tồn cảm dục của Thái dương Thượng đế
From the astral, and through the desire nature, the majority of men inevitably direct and control the physical vehicle.
Từ cõi cảm dục, và thông qua bản chất dục vọng, đa số người nam và nữ tất yếu định hướng và kiểm soát vận cụ hồng trần.
224. This means that for the majority of men desire controls the physical vehicle. This means that the majority of men do that which they want to do rather than that which they think they should do or will to do.
224. Điều này có nghĩa là đối với đa số người nam và nữ, dục vọng kiểm soát vận cụ hồng trần. Điều này có nghĩa là đa số người nam và nữ thực sự làm điều mà họ muốn làm hơn là điều mà họ nghĩ mình nên làm hay quyết chí làm.
The astral body is in the direct line of force via the buddhic from monadic levels, 2-4-6.
Thể cảm dục nằm trên đường truyền mãnh lực trực tiếp, qua cõi Bồ đề, từ các cấp độ chân thần, 2-4-6.
225. The 2-4-6 line is the abstract line or the life line. It is not the line of form.
225. Đường 2-4-6 là đường trừu tượng hay đường của sự sống. Đó không phải là đường của hình tướng.
226. The colors involved are, sequentially, indigo, yellow and blue/rose.
226. Các màu sắc liên hệ, theo thứ tự, là chàm, vàng và lam/hồng.
Second. The goal set before humanity is that of becoming Masters of the Wisdom, or conscious units in the Body of the Dragon of Wisdom or of Love.
Thứ hai. Mục tiêu đặt ra trước nhân loại là trở thành các Chân sư của minh triết, hay những đơn vị hữu thức trong Thể của Rồng Minh Triết hay của Bác ái.
227. In occultism, dragons are (for the most part) beings of love.
227. Trong huyền bí học, rồng (phần lớn) là những hữu thể của bác ái.
228. A great number of human beings will also become Lords of Compassion Who are Masters in Whom the love aspect is even more strongly accentuated than in the Masters of Wisdom, per se.
228. Một số lượng lớn nhân loại cũng sẽ trở thành các Đấng Chúa Tể của Lòng Từ Bi, là những Chân sư nơi Các Ngài phương diện bác ái còn được nhấn mạnh mạnh mẽ hơn cả nơi chính các Chân sư của minh triết.
229. The term “Masters of the Wisdom” is generic, but can be differentiated from the term “Lords of Compassion”. In these terms two different times of Masters are discussed.
229. Thuật ngữ “các Chân sư của minh triết” là thuật ngữ tổng quát, nhưng có thể được phân biệt với thuật ngữ “các Đấng Chúa Tể của Lòng Từ Bi”. Trong các thuật ngữ này, hai loại Chân sư khác nhau đang được bàn đến.
This a man achieves when he can function consciously in the buddhic vehicle, or when the astral permanent atom is superseded by the buddhic permanent atom.
Con người đạt được điều này khi y có thể hoạt động một cách hữu thức trong vận cụ Bồ đề, hay khi nguyên tử trường tồn cảm dục được thay thế bởi nguyên tử trường tồn Bồ đề.
230. This functioning in the buddhic vehicle begins at the fourth initiation but is firmly established by the fifth.
230. Sự hoạt động này trong vận cụ Bồ đề bắt đầu từ lần điểm đạo thứ tư nhưng được thiết lập vững chắc vào lần điểm đạo thứ năm.
231. The Master of the fifth degree is also focussed quite strongly on the fifth or atmic plane (the fifth counting from below).
231. Chân sư ở cấp độ thứ năm cũng được tập trung khá mạnh trên cõi thứ năm hay cõi atma (cõi thứ năm tính từ dưới lên).
232. We could say that we do not have to wait for the fifth initiation to see the astral permanent atom superseded by the buddhic permanent atom. This does happen at the fourth degree. In fact by the time of the fifth initiation, the astral permanent atom has been destroyed and its energy sublimated into buddhi.
232. Chúng ta có thể nói rằng không cần phải chờ đến lần điểm đạo thứ năm mới thấy nguyên tử trường tồn cảm dục được thay thế bởi nguyên tử trường tồn Bồ đề. Điều này xảy ra ở cấp độ thứ tư. Thật ra, vào thời điểm lần điểm đạo thứ năm, nguyên tử trường tồn cảm dục đã bị hủy diệt và năng lượng của nó được thăng hoa vào Bồ đề.
233. A careful reading of the following, however, will reveal that the fourth and fifth initiations have a close connection with the buddhic plane and that the atmic plane becomes the focal point for initiation only during the sixth and seventh initiations.
233. Tuy nhiên, việc đọc cẩn thận đoạn sau sẽ cho thấy rằng lần điểm đạo thứ tư và thứ năm có liên hệ chặt chẽ với cõi Bồ đề và rằng cõi atma chỉ trở thành tiêu điểm cho điểm đạo trong lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy.
The five-pointed star at the initiations on the mental plane flashes out above the head of the initiate. This concerns the first three initiations which are undergone in the causal vehicle. It has been said that the first two initiations take place upon the astral plane and this is correct, but has given rise to a misunderstanding. They are felt profoundly in connection with the astral and physical bodies and with the lower mental, and effect their control. The chief effect being felt in those bodies, the initiate may interpret them as having taken place on the planes concerned, for the vividness of the effect, and the stimulation works out largely in the astral body. But it must ever be remembered that the major initiations are taken in the causal body or—dissociated from that body—on the buddhic plane. At the final two initiations, which set a man free from the three worlds and enable him to function in the logoic body of vitality and to wield the force which animates that logoic vehicle, the initiate becomes the five-pointed star, and it descends upon him, merges in him, and he is seen at its very centre. This descent is brought about through the action of the Initiator, wielding the Rod of Power, and puts a man in touch with the centre in the Body of the planetary Logos of which he is a part; this is consciously effected. The two initiations, called the sixth and seventh, take place on the atmic plane; the five-pointed star "blazes forth from within itself" as the esoteric phrase has it, and becomes the seven-pointed star; it descends upon the man and he enters into the Flame. (TCF 696-697)
Ngôi sao năm cánh tại các lần điểm đạo trên cõi trí lóe sáng phía trên đầu điểm đạo đồ. Điều này liên quan đến ba lần điểm đạo đầu tiên được trải qua trong vận cụ nguyên nhân. Đã có nói rằng hai lần điểm đạo đầu tiên diễn ra trên cõi cảm dục và điều này là đúng, nhưng đã làm nảy sinh một sự hiểu lầm. Chúng được cảm nhận sâu sắc trong liên hệ với thể cảm dục và thể xác cùng với hạ trí, và tạo ra sự kiểm soát đối với chúng. Vì tác động chính được cảm nhận trong những thể ấy, điểm đạo đồ có thể diễn giải rằng chúng đã diễn ra trên các cõi liên hệ, do tính sống động của tác động, và sự kích thích phần lớn biểu lộ trong thể cảm dục. Nhưng phải luôn nhớ rằng các lần điểm đạo chính yếu được tiếp nhận trong thể nguyên nhân hoặc—khi tách rời khỏi thể ấy—trên cõi Bồ đề. Trong hai lần điểm đạo cuối cùng, giải thoát con người khỏi ba cõi thấp và giúp y hoạt động trong thể sinh lực của Thượng đế và vận dụng mãnh lực làm sinh động vận cụ thượng đế ấy, điểm đạo đồ trở thành ngôi sao năm cánh, và nó giáng xuống trên y, hòa nhập vào y, và y được thấy ở chính trung tâm của nó. Sự giáng xuống này được tạo ra nhờ hành động của Đấng Điểm đạo, vận dụng Thần Trượng Điểm đạo, và đặt con người vào tiếp xúc với trung tâm trong Thể của Đức Hành Tinh Thượng Đế mà y là một phần của nó; điều này được thực hiện một cách hữu thức. Hai lần điểm đạo, được gọi là lần thứ sáu và thứ bảy, diễn ra trên cõi atma; ngôi sao năm cánh “bừng cháy từ bên trong chính nó” như cụm từ thần bí đã nói, và trở thành ngôi sao bảy cánh; nó giáng xuống trên con người và y đi vào Ngọn Lửa. (TCF 696-697)
Third. The next reason is that the second aspect of the Logos (that of love or the manifestation of the love nature of the Logos through the medium of the Son) is the one demonstrated in this system.
Thứ ba. Lý do kế tiếp là phương diện thứ hai của Thượng đế (đó là bác ái hay sự biểu lộ bản chất bác ái của Thượng đế qua trung gian của Con) là phương diện được biểu lộ trong hệ này.
234. Again, this is correlated with the fact that we live in an astral-buddhic solar system.
234. Một lần nữa, điều này tương quan với sự kiện rằng chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề.
This system is:
Hệ này là:
a. A Son of Necessity, or of desire
a. Một Con của Tất Yếu, hay của dục vọng
235. Necessity is a Saturnian term and is most related to the will and to the first aspect. Yet desire and will are (at times) virtually interchangeable terms.
235. Tất yếu là một thuật ngữ thuộc Sao Thổ và liên hệ nhiều nhất với ý chí và phương diện thứ nhất. Tuy nhiên, dục vọng và ý chí (đôi khi) hầu như là những thuật ngữ có thể thay thế cho nhau.
236. Great Desire has brought our particular solar system into being. The solar system is a product of the irresistible desire of our Solar Logos for expression and for the redemption of lesser lives.
236. Đại Dục Vọng đã đưa hệ mặt trời đặc thù của chúng ta vào hiện hữu. Hệ mặt trời là sản phẩm của dục vọng không thể cưỡng lại của Thái dương Thượng đế của chúng ta đối với sự biểu lộ và đối với sự cứu chuộc các sự sống nhỏ hơn.
b. Vibrant to the key of the cosmic Ray of Love
b. Rung động theo chủ âm của Cung Bác Ái vũ trụ
237. This key is the key of “G”.
237. Chủ âm này là chủ âm “G”.
238. Note in this case the Ray of our solar system has not been called the Ray of Love-Wisdom, but the Ray of Love.
238. Lưu ý rằng trong trường hợp này cung của hệ mặt trời chúng ta không được gọi là Cung của Bác Ái – Minh Triết, mà là Cung của Bác Ái.
c. The form through which this ray of cosmic Love (shown in the inter-relation between the Self and the Not-Self, or through duality) is expressing itself
c. Hình tướng mà qua đó cung Bác Ái vũ trụ này (được biểu lộ trong mối tương quan giữa Ngã và Phi-Ngã, hay qua nhị nguyên tính) đang tự biểu lộ
239. Our solar system is a vehicle for the Ray of Cosmic Love. Love is especially the energy which relates the Self and the not-Self.
239. Hệ mặt trời của chúng ta là một vận cụ cho Cung Bác Ái Vũ Trụ. Bác ái đặc biệt là năng lượng liên kết Ngã và phi-Ngã.
d. Governed by the cosmic Law of Attraction. The monads of love are the dominating quality. (I choose this word 'quality' specifically.)
d. Được cai quản bởi Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Các chân thần bác ái là phẩm tính chi phối. (Tôi chọn từ “phẩm tính” này một cách đặc biệt.)
240. In our solar system there are said to be 35 billion Monads of Love, 20 billion Monads of Intelligence and 5 billion Monads of Power.
240. Trong hệ mặt trời của chúng ta được nói là có 35 tỷ Chân thần Bác ái, 20 tỷ Chân thần Trí tuệ và 5 tỷ Chân thần Quyền năng.
241. This would be a small number of Monads for the entire solar system, and so it must be asked whether this figure of 60 billion applies only to those Monads which are in incarnation at any one time. Remembering that only one seventh of all units are actually in incarnation and six sevenths are not we could hypothesize a figure of approximately 420 billion Monads in totality (not just in incarnation)—an interesting figure, and yet we cannot be at all assured that this is a worthy hypothesis, for other reasons.
241. Đây sẽ là một số lượng Chân thần nhỏ đối với toàn bộ hệ mặt trời, và vì vậy phải đặt câu hỏi liệu con số 60 tỷ này chỉ áp dụng cho những Chân thần đang lâm phàm tại bất kỳ một thời điểm nào hay không. Nhớ rằng chỉ một phần bảy của mọi đơn vị thực sự đang lâm phàm và sáu phần bảy thì không, chúng ta có thể giả thuyết một con số xấp xỉ 420 tỷ Chân thần trong toàn thể (không chỉ đang lâm phàm)—một con số thú vị, tuy nhiên chúng ta hoàn toàn không thể chắc chắn rằng đây là một giả thuyết xứng đáng, vì những lý do khác.
242. The hypothesis would be contradicted by the following. We have been told that the first solar system had 100 billion Monads of a dominant type; in the second solar system 200 billion human and deva Monads; and the third solar system will have 300 billion Monads—Monad, perhaps, which are not differentiated as either human or devic. No mentioned is made of whether these Monads are or are not in incarnation, and the numbers seem to indicate totalities.
242. Giả thuyết này sẽ bị mâu thuẫn bởi điều sau đây. Chúng ta đã được cho biết rằng hệ mặt trời thứ nhất có 100 tỷ Chân thần thuộc một loại chi phối; trong hệ mặt trời thứ hai có 200 tỷ Chân thần người và thiên thần; và hệ mặt trời thứ ba sẽ có 300 tỷ Chân thần—có lẽ là Chân thần không được phân biệt là người hay thiên thần. Không có đề cập nào về việc những Chân thần này có hay không đang lâm phàm, và các con số dường như chỉ các toàn thể.
1. In the first solar system there was one dominant evolution, and it consisted of one hundred thousand million monads.
1. Trong hệ mặt trời thứ nhất có một tiến hoá chi phối, và nó gồm một trăm ngàn triệu chân thần.
2. In the present system, the second, there are two dominant evolutions, the human and the deva; there are—as earlier stated—sixty thousand million human monads. Add to this the feminine evolution of the devas, consisting of 140 thousand million, and you have the necessary two hundred thousand million. This elucidates my statement anent this being a feminine system.
2. Trong hệ hiện tại, hệ thứ hai, có hai tiến hoá chi phối, nhân loại và thiên thần; có—như đã nói trước đó—sáu mươi ngàn triệu chân thần người. Cộng thêm vào đó tiến hoá nữ tính của các thiên thần, gồm 140 ngàn triệu, và các bạn có con số hai trăm ngàn triệu cần thiết. Điều này làm sáng tỏ phát biểu của tôi liên quan đến việc đây là một hệ nữ tính.
3. In the third solar system, the total number in evolution will be the needed three hundred thousand million that perfection requires of the threefold Logos. (EH 109-110)
3. Trong hệ mặt trời thứ ba, tổng số đang tiến hoá sẽ là ba trăm ngàn triệu cần thiết mà sự toàn thiện đòi hỏi nơi Thượng đế tam phân. (EH 109-110)
243. The figure 420 billion (which would arise if the 60 billion human units are considered only those who are in incarnation) does not correlate with the figure of 200 billion human and deva Monads. 140 billion are said to be deva Monads.
243. Con số 420 tỷ (sẽ phát sinh nếu 60 tỷ đơn vị người được xem chỉ là những đơn vị đang lâm phàm) không tương quan với con số 200 tỷ Chân thần người và thiên thần. 140 tỷ được nói là các Chân thần thiên thần.
244. What does it mean that the Monads of Love are the “dominating quality”? The term “quality” is always related to the second aspect, the soul aspect, for the “soul is the quality of life”.
244. Điều đó có nghĩa gì khi các Chân thần Bác ái là “phẩm tính chi phối”? Thuật ngữ “phẩm tính” luôn liên hệ với phương diện thứ hai, phương diện linh hồn, vì “linh hồn là phẩm tính của sự sống”.
245. In addition, when Monads of a particular ray predominate, then the quality of those Monads is the predominating quality. Monads are here considered in relation to the quality of energy which they bring to solar systemic expression.
245. Ngoài ra, khi các Chân thần của một cung đặc thù chiếm ưu thế, thì phẩm tính của những Chân thần ấy là phẩm tính chiếm ưu thế. Ở đây các Chân thần được xét trong liên hệ với phẩm tính năng lượng mà chúng mang đến cho sự biểu lộ của hệ mặt trời.
246. The majority of these Monads was emanated in this solar system and may not have participated in the previous solar system. This is an abstruse matter, however, about which there can be no certainty for us.
246. Đa số những Chân thần này đã được phát xạ trong hệ mặt trời này và có thể đã không tham dự vào hệ mặt trời trước. Tuy nhiên, đây là một vấn đề thâm áo mà về đó chúng ta không thể có sự chắc chắn nào.
Fourth. The centre in the cosmic body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID of which our solar Logos is the embodied force is the heart centre.
Thứ tư. Trung tâm trong thể vũ trụ của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là mãnh lực nhập thể của trung tâm ấy chính là trung tâm tim.
247. There is a great blind surrounding the words “One About Whom Naught May Be Said”. It is a title which can be used to denote a number of entities. In this case, it is hypothesized that the words refer to a Cosmic Logos (a Logos in Whom Solar Logoi are as chakras).
247. Có một bức màn che lớn bao quanh những lời “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. Đây là một tước hiệu có thể được dùng để chỉ một số thực thể. Trong trường hợp này, giả thuyết là những lời ấy chỉ một Thượng đế Vũ Trụ (một Thượng đế trong Ngài các Thái dương Thượng đế là những luân xa).
248. The title can also refer to a Super-Cosmic Logos, in Whom sevenfold solar systems are as chakras. In fact, this is usually they way in which this title is used.
248. Tước hiệu này cũng có thể chỉ một Thượng đế Siêu Vũ Trụ, trong Ngài các hệ mặt trời thất phân là những luân xa. Thật ra, đây thường là cách mà tước hiệu này được dùng.
249. The heart center is, of course the fourth chakra and has a particular resonance with the astral plane.
249. Trung tâm tim, dĩ nhiên, là luân xa thứ tư và có một sự cộng hưởng đặc biệt với cõi cảm dục.
Here we have one of the clues to the mystery of electricity.
Ở đây chúng ta có một trong những đầu mối của huyền nhiệm điện lực.
250. We may gather that the One About Whom Naught May Be Said and the position of our solar system within that Super-Cosmic Logos are related to the “mystery of electricity”.
250. Chúng ta có thể suy ra rằng Đấng Bất Khả Tư Nghị và vị trí của hệ mặt trời chúng ta bên trong Thượng đế Siêu Vũ Trụ ấy có liên hệ với “huyền nhiệm điện lực”.
251. The phenomenon of electricity is fundamentally based upon bi-polarity, of which our solar system is a great example.
251. Hiện tượng điện lực về căn bản dựa trên lưỡng cực tính, mà hệ mặt trời của chúng ta là một ví dụ lớn.
252. There are ways in which it can be hypothesized is inevitably related to the second ray and to the Law of Attraction. Without a division into positive and negative polarities, that which we call electricity could not exist.
252. Có những cách để giả thuyết rằng nó tất yếu liên hệ với cung hai và với Định luật Hấp Dẫn. Nếu không có sự phân chia thành cực dương và cực âm, điều mà chúng ta gọi là điện lực không thể tồn tại.
The sacred planets, with certain allied etheric spheres within the ring-pass-not,
Các hành tinh thiêng liêng, cùng với một số khối cầu dĩ thái liên kết bên trong vòng-giới-hạn,
253. The ring-pass-not must be our solar system…
253. Vòng-giới-hạn hẳn phải là hệ mặt trời của chúng ta…
254. We have been told elsewhere that there are a number of etheric planets within the ring-pass-not of our solar system. (cf. TCF 793-794)
254. Ở nơi khác chúng ta đã được cho biết rằng có một số hành tinh dĩ thái bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời chúng ta. (x. TCF 793-794)
255. Could the number of allied spheres be five which, with the seven sacred planets, would sum to the twelve of the twelve-petalled heart center?
255. Liệu số lượng các khối cầu liên kết có thể là năm, mà cùng với bảy hành tinh thiêng liêng sẽ thành mười hai của trung tâm tim mười hai cánh chăng?
256. Usually the synthesizing planets are included among the sacred planets and probably are so in this instance. Yet, we must reserve judgment on the question of whether they are to be included.
256. Thông thường các hành tinh tổng hợp được kể vào trong các hành tinh thiêng liêng và có lẽ cũng vậy trong trường hợp này. Tuy nhiên, chúng ta phải tạm giữ phán đoán về câu hỏi liệu chúng có được tính vào hay không.
257. It would seem that the non-sacred planets of our solar system are not being included as ‘petals in the Lotus’ discussed immediately below.
257. Dường như các hành tinh không thiêng liêng của hệ mặt trời chúng ta không được tính như những ‘cánh hoa trong Hoa sen’ được bàn đến ngay bên dưới.
are parts of that heart centre, and are 'petals in the Lotus,' or in the heart centre of that great unknown Existence Who stands to the solar Logos as He in His turn stands to the Heavenly [Page 512] Men Who are His centres, and specially as He stands to the particular Heavenly Man Who is the embodied force of the logoic Heart centre.
là những phần của trung tâm tim ấy, và là ‘những cánh hoa trong Hoa sen’, hay trong trung tâm tim của Đấng Hiện Hữu vĩ đại vô danh ấy, Đấng đứng đối với Thái dương Thượng đế cũng như đến lượt Ngài đứng đối với các Đấng Thiên Nhân [Page 512] là những trung tâm của Ngài, và đặc biệt như Ngài đứng đối với Đấng Thiên Nhân đặc thù là mãnh lực nhập thể của trung tâm Tim thượng đế.
258. Who is this “great unknown Existence”? It simply has to be a Cosmic Logos rather than a Super-Cosmic Logos for this Existence stands to the Solar Logos as the Solar Logos stands to the Heavenly Men. The Heavenly Man are chakras in the Solar Logos so the “Existence”, in this case, has to be one in which the Solar Logoi can be considered as chakras. Only a Cosmic Logos is suitable.
258. “Đấng Hiện Hữu vĩ đại vô danh” này là ai? Đơn giản là phải là một Thượng đế Vũ Trụ chứ không phải một Thượng đế Siêu Vũ Trụ vì Đấng Hiện Hữu này đứng đối với Thái dương Thượng đế như Thái dương Thượng đế đứng đối với các Đấng Thiên Nhân. Các Đấng Thiên Nhân là các luân xa trong Thái dương Thượng đế, vì vậy “Đấng Hiện Hữu” trong trường hợp này phải là một Đấng trong đó các Thái dương Thượng đế có thể được xem như các luân xa. Chỉ một Thượng đế Vũ Trụ mới thích hợp.
259. It may be suggested that just as there are seven sacred planets plus a number of etheric planets (perhaps five) which are parts of the heart center of the “great unknown Existence”, so there may be seven sacred Solar Logoi plus a certain number of additional etheric Solar Logoi (summing together to ten?) which may be part of the solar plexus center of a still greater Existence—a Super-Cosmic Logos. It is hypothesized that our Cosmic Logos is a solar plexus center in the One usually denotes as the One About Whom Naught May Be Said—a Super-Cosmic Logos. We are also analogizing, and thus hypothesizing that ten is the number of petals for the solar plexus center—not only for the human being, but for greater Entities. We may not be justified in doing this, but the number twelve does seem to hold in relation to heart centers of greater and lesser E/entities.
259. Có thể gợi ý rằng cũng như có bảy hành tinh thiêng liêng cộng với một số hành tinh dĩ thái (có lẽ là năm) là những phần của trung tâm tim của “Đấng Hiện Hữu vĩ đại vô danh”, thì cũng có thể có bảy Thái dương Thượng đế thiêng liêng cộng với một số Thái dương Thượng đế dĩ thái bổ sung (cộng lại thành mười?) có thể là một phần của trung tâm tùng thái dương của một Đấng Hiện Hữu còn lớn lao hơn nữa—một Thượng đế Siêu Vũ Trụ. Giả thuyết là Thượng đế Vũ Trụ của chúng ta là một trung tâm tùng thái dương trong Đấng thường được gọi là Đấng Bất Khả Tư Nghị—một Thượng đế Siêu Vũ Trụ. Chúng ta cũng đang suy luận theo tương đồng, và do đó giả thuyết rằng mười là số cánh hoa của trung tâm tùng thái dương—không chỉ đối với con người, mà còn đối với các Thực Thể lớn hơn. Chúng ta có thể không có cơ sở để làm điều này, nhưng con số mười hai dường như vẫn đúng trong liên hệ với các trung tâm tim của các thực thể lớn hơn và nhỏ hơn.
260. We note that there is a Heavenly Man “Who is the embodied force of the logoic Heart centre”, but that this Heavenly Man is not the logoic “Heart center”, itself. This is interesting and an important fact to remember.
260. Chúng ta lưu ý rằng có một Đấng Thiên Nhân “là mãnh lực nhập thể của trung tâm Tim thượng đế”, nhưng Đấng Thiên Nhân này không phải chính là “trung tâm Tim” thượng đế. Điều này thú vị và là một sự kiện quan trọng cần nhớ.
261. From what is said in certain sections of the text, Venus would seem to be the particular Heavenly Man Who is embodying the force of the logoic “Heart center”, and yet, we should not dismiss Jupiter which, microcosmically, stands for the heart center in the lives of disciples.
261. Từ những gì được nói trong một số phần của bản văn, Sao Kim dường như là Đấng Thiên Nhân đặc thù đang nhập thể mãnh lực của “trung tâm Tim” thượng đế, tuy nhiên chúng ta không nên loại bỏ Sao Mộc, hành tinh ở cấp độ tiểu thiên địa tượng trưng cho trung tâm tim trong đời sống của các đệ tử.
262. What is evident is that our Solar Logos has a special relationship with one of our Planetary Logoi and it is a ‘heart-to-heart’ relationship.
262. Điều hiển nhiên là Thái dương Thượng đế của chúng ta có một mối liên hệ đặc biệt với một trong các Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và đó là một mối liên hệ ‘tim với tim’.
263. The equation could be as following: One About Whom Naught May Be Said/Solar Logos = Solar Logos/Jupiter or Venus.
263. Phương trình có thể như sau: Đấng Bất Khả Tư Nghị/Thái dương Thượng đế = Thái dương Thượng đế/Sao Mộc hay Sao Kim.
264. The section of text immediately above is actually obscure. We are dealing with a Cosmic Logos in whom our Solar Logos is the embodied force of the heart center. Yet every center has petals, and the seven sacred Planetary Logoi of our solar system plus five other etheric planets (not named) serve the function of the twelve petals in the that cosmic logoic heart center (of which our Solar Logos is the totality). One must think carefully here, in order not to become confused.
264. Đoạn bản văn ngay bên trên thực sự tối nghĩa. Chúng ta đang đề cập đến một Thượng đế Vũ Trụ trong Ngài Thái dương Thượng đế của chúng ta là mãnh lực nhập thể của trung tâm tim. Tuy nhiên, mỗi trung tâm đều có các cánh hoa, và bảy Hành Tinh Thượng Đế thiêng liêng của hệ mặt trời chúng ta cộng với năm hành tinh dĩ thái khác (không được nêu tên) đảm nhiệm chức năng của mười hai cánh hoa trong trung tâm tim của Thượng đế Vũ Trụ ấy (mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là toàn thể của nó). Ở đây người ta phải suy nghĩ cẩn thận để không trở nên lẫn lộn.
Therefore, it will be apparent to the careful student that the entire force and energy of the system and its life quality will be that which we call (having perforce to use handicapping, misleading words) LOVE.
Do đó, điều sẽ hiển nhiên đối với đạo sinh cẩn trọng là toàn bộ mãnh lực và năng lượng của hệ cùng phẩm tính sự sống của nó sẽ là điều mà chúng ta gọi là (vì buộc phải dùng những từ ngữ hạn hẹp, gây hiểu lầm) BÁC ÁI.
265. We have had this conclusion substantiated for us in many ways.
265. Kết luận này đã được xác chứng cho chúng ta bằng nhiều cách.
266. The word love is represented as “LOVE”, signifying, perhaps, its cosmic quality. Our Solar Logos is, indeed, a cosmic Being.
266. Từ bác ái được trình bày là “BÁC ÁI”, có lẽ biểu thị phẩm tính vũ trụ của nó. Quả thật, Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Hữu thể vũ trụ.
267. We note that the Tibetan senses that the word “LOVE” is inadequate to describe the Energy for which it stands.
267. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng cảm thấy từ “BÁC ÁI” là không đầy đủ để mô tả Năng Lượng mà nó biểu thị.
268. Knowing so much of the true quality of the various planetary, systemic and cosmic energies, the Tibetan feels handicapped by the unexpressive human words He is compelled to use if He would communicate with us.
268. Biết quá nhiều về phẩm tính chân thực của các năng lượng hành tinh, hệ thống và vũ trụ khác nhau, Chân sư Tây Tạng cảm thấy bị hạn chế bởi những từ ngữ nhân loại thiếu sức biểu đạt mà Ngài buộc phải dùng nếu Ngài muốn truyền đạt với chúng ta.
This will account for the fact that the force that plays through that cosmic heart centre will be the paramount force found in the manifestation of a solar Logos,
Điều này sẽ giải thích sự kiện rằng mãnh lực vận hành xuyên qua trung tâm tim vũ trụ ấy sẽ là mãnh lực tối thượng được tìm thấy trong sự biểu lộ của một Thái dương Thượng đế,
269. Our Solar Logos is a cosmic heart center.
269. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tim vũ trụ.
270. Because He is a heart center, the force which plays through Him predominantly is the force or energy of Love.
270. Bởi vì Ngài là một trung tâm tim, nên mãnh lực vận hành xuyên qua Ngài một cách nổi trội là mãnh lực hay năng lượng của Bác ái.
271. Our Solar Logos has a “Heart of the Sun” as well as a planet which is the embodied force of His heart expression—whether that planet be Venus or Jupiter. The distinction between the “Heart of the Sun” and the planet which most expresses the energy of the “Heart of the Sun” should be kept distinct.
271. Thái dương Thượng đế của chúng ta có một “Trái Tim của Mặt Trời” cũng như một hành tinh là mãnh lực nhập thể của biểu hiện tim của Ngài—dù hành tinh đó là Sao Kim hay Sao Mộc. Cần giữ sự phân biệt rõ ràng giữa “Trái Tim của Mặt Trời” và hành tinh biểu lộ mạnh mẽ nhất năng lượng của “Trái Tim của Mặt Trời”.
and of a Heavenly Man;
và của một Đấng Thiên Nhân;
272. The Heavenly Men are part of the expression of the Solar Logos and so, if for the Solar Logos, the heart center is the primary center, that heart influence will work through the Heavenly Men regardless of their particular ray.
272. Các Đấng Thiên Nhân là một phần trong biểu hiện của Thái dương Thượng đế, và vì vậy, nếu đối với Thái dương Thượng đế, trung tâm tim là trung tâm chính yếu, thì ảnh hưởng tim đó sẽ vận hành xuyên qua các Đấng Thiên Nhân bất kể cung riêng biệt của Các Ngài là gì.
it will likewise produce its microcosmic analogy, and reflective reactions;
điều đó cũng sẽ tạo ra sự tương đồng tiểu thiên địa của nó, và các phản ứng phản chiếu;
273. Even the human being will have the heart emphasized, because the human being, too, is a tiny aspect of the Solar Logos (Who is a great heart center).
273. Ngay cả con người cũng sẽ có tim được nhấn mạnh, bởi vì con người cũng là một phương diện nhỏ bé của Thái dương Thượng đế (Đấng là một trung tâm tim vĩ đại).
274. The heart center is (or will be) the most important chakra in this particular solar system.
274. Trung tâm tim là (hoặc sẽ là) luân xa quan trọng nhất trong hệ mặt trời đặc thù này.
hence the relative importance of the astral permanent atom within the causal periphery.
do đó có tầm quan trọng tương đối của nguyên tử trường tồn cảm dục bên trong chu vi nhân thể.
275. The astral permanent atom is on the “heart line”. That line contains the second, fourth and sixth energies, and any of them could stimulate this type of atom (though for different reasons).
275. Nguyên tử trường tồn cảm dục nằm trên “đường tim”. Đường đó chứa các năng lượng thứ hai, thứ tư và thứ sáu, và bất kỳ năng lượng nào trong số đó cũng có thể kích thích loại nguyên tử này (dù vì những lý do khác nhau).
276. We note that DK has offered us some impressive explanations concerning why the astral permanent atom is of such importance in our particular solar system.
276. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đã cống hiến cho chúng ta một số giải thích đầy ấn tượng về lý do tại sao nguyên tử trường tồn cảm dục lại có tầm quan trọng lớn lao như thế trong hệ mặt trời đặc thù của chúng ta.
It [the astral permanent atom] is in the direct line of active force emanating from the cosmic existence, and passing to it in ever lessening degree, via the solar Logos in His system of love, and the planetary Logos within a scheme, the Dragon of Wisdom-Love.
Nó [nguyên tử trường tồn cảm dục] nằm trên đường trực tiếp của mãnh lực hoạt động phát xạ từ sự tồn tại vũ trụ, và truyền đến nó với mức độ ngày càng giảm dần, qua Thái dương Thượng đế trong hệ bác ái của Ngài, và Hành Tinh Thượng Đế bên trong một hệ hành tinh, Con Rồng của Minh Triết-Bác Ái.
277. There is a profound hint buried in this section—namely, that the “cosmic existence” (greater than the Solar Logos) is also on a line of force resonant with the astral permanent atom. Thus, the line of force on which the “cosmic existence” finds itself will be a “soft line”. This tells us something very important about the quality of the Cosmic Logos (i.e., the “cosmic existence”.
277. Có một gợi ý sâu xa được chôn giấu trong phần này—cụ thể là, “sự tồn tại vũ trụ” (lớn hơn Thái dương Thượng đế) cũng nằm trên một đường mãnh lực cộng hưởng với nguyên tử trường tồn cảm dục. Vì vậy, đường mãnh lực mà “sự tồn tại vũ trụ” tự thấy mình ở trên đó sẽ là một “đường mềm”. Điều này cho chúng ta biết một điều rất quan trọng về phẩm tính của Vũ Trụ Thượng đế (tức là “sự tồn tại vũ trụ”.
278. The line of passage is as follows: Cosmic Logos→Solar Logos→Planetary Logos→(other steps)→astral permanent atom.
278. Đường truyền dẫn như sau: Vũ Trụ Thượng đế→Thái dương Thượng đế→Hành Tinh Thượng Đế→(các bước khác)→nguyên tử trường tồn cảm dục.
279. Among thinkers pondering the Cosmic System in which our Solar Logos is a chakric part, it has been speculated that our Cosmic Logos is a solar plexus center in a still greater Super-Cosmic Logos. If this were the case, its line of energy would easily stimulate the astral permanent atom of the Solar Logos, the Planetary Logos or of a man.
279. Trong số các nhà tư tưởng suy ngẫm về Hệ Vũ Trụ mà trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta là một phần luân xa, đã có suy đoán rằng Vũ Trụ Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tùng thái dương trong một Siêu-Vũ Trụ Thượng đế còn vĩ đại hơn nữa. Nếu đúng như vậy, đường năng lượng của Ngài sẽ dễ dàng kích thích nguyên tử trường tồn cảm dục của Thái dương Thượng đế, của Hành Tinh Thượng Đế hay của con người.
280. The section above makes it much less likely that the Cosmic Logos is on a hard-line ray or represents a ‘hard-line’ chakra.
280. Phần trên khiến khả năng Vũ Trụ Thượng đế ở trên một cung đường cứng hay đại diện cho một luân xa ‘đường cứng’ trở nên ít có khả năng hơn nhiều.
This force when rightly directed and properly controlled is the great transmuting agency, which eventually will make of the human unit a Master of the Wisdom, a Lord of Love, a Dragon of Wisdom in lesser degree.
Mãnh lực này khi được định hướng đúng đắn và kiểm soát thích đáng là tác nhân chuyển hoá vĩ đại, rốt cuộc sẽ làm cho đơn vị nhân loại trở thành một Chân sư Minh triết, một Chúa Tể của Bác ái, một Con Rồng của Minh Triết ở mức độ thấp hơn.
281. When we studied alchemy during the last two sections of Semester Five, we learned that solar fire or love is the key agent of transmutation. That thought is here reemphasized.
281. Khi chúng ta nghiên cứu thuật luyện kim trong hai phần cuối của Học kỳ Năm, chúng ta đã học rằng lửa thái dương hay bác ái là tác nhân chủ chốt của sự chuyển hoá. Tư tưởng ấy ở đây lại được nhấn mạnh thêm.
282. We should combine this thought with the thought that Venus is an important transmuting agency. Venus, we realize, correlates with higher mental fire (solar fire) and with the second ray (on some very deep level of its existence).
282. Chúng ta nên kết hợp tư tưởng này với tư tưởng rằng Sao Kim là một tác nhân chuyển hoá quan trọng. Chúng ta nhận ra rằng Sao Kim tương quan với lửa thượng trí (lửa thái dương) và với cung hai (ở một cấp độ rất sâu trong sự tồn tại của nó).
283. The great learning here is that if we wish to succeed in the transmutative process, the energy of love must be utilized.
283. Bài học lớn ở đây là nếu chúng ta muốn thành công trong tiến trình chuyển hoá, thì năng lượng của bác ái phải được sử dụng.
284. It is love that elevates and refines matter and arranges for the liberation of Spirit from matter.
284. Chính bác ái nâng vật chất lên, tinh luyện vật chất, và sắp đặt cho sự giải thoát của tinh thần khỏi vật chất.
285. We should note that the Masters are Dragons of Wisdom “in lesser degree”. A close reading of the material concerning the Path of Earth Service will reveal much about the ‘Dragon status’ of such Initiates.
285. Chúng ta nên lưu ý rằng các Chân sư là những Con Rồng của Minh Triết “ở mức độ thấp hơn”. Việc đọc kỹ tài liệu liên quan đến Con Đường Phụng Sự Địa Cầu sẽ tiết lộ nhiều điều về ‘địa vị Rồng’ của các Điểm đạo đồ như thế.
Finally: this solar system, the objective physical manifestation of the Logos, is interpenetrated by His astral body, as is the case with the human manifestation.
Sau cùng: hệ mặt trời này, sự biểu hiện hồng trần khách quan của Thượng đế, được thể cảm dục của Ngài thâm nhập xuyên suốt, cũng như trường hợp của biểu hiện nhân loại.
286. The astral body of any entity is of greater extent or expanse than its physical body.
286. Thể cảm dục của bất kỳ thực thể nào cũng có phạm vi hay độ rộng lớn hơn thể xác của nó.
287. Where is the cosmic astral plane? Certainly not ‘above’ the cosmic physical plane as is portrayed in highly stratified yet necessarily artificial diagrams.
287. Cõi cảm dục vũ trụ ở đâu? Chắc chắn không phải ở ‘phía trên’ cõi hồng trần vũ trụ như được mô tả trong những sơ đồ phân tầng cao độ nhưng tất yếu mang tính nhân tạo.
288. In fact the cosmic astral plane is right ‘here’, thoroughly interpenetrating all aspects of the solar system (gross and more subtle).
288. Thật ra, cõi cảm dục vũ trụ ở ngay ‘đây’, thâm nhập hoàn toàn mọi phương diện của hệ mặt trời (thô trọng và tinh tế hơn).
289. All the other planes and the vehicles made of their particular substances are also right ‘here’. In this respect, there is no ‘elsewhere’ in relation to any of the vehicles of the Solar Logos.
289. Tất cả các cõi khác và các vận cụ được tạo nên từ chất liệu riêng của chúng cũng đều ở ngay ‘đây’. Về phương diện này, không có ‘nơi nào khác’ liên hệ đến bất kỳ vận cụ nào của Thái dương Thượng đế.
290. This idea could be extended with some amazing implications.
290. Ý tưởng này có thể được mở rộng với một số hàm ý đáng kinh ngạc.
As the Logos is polarised in His cosmic astral sheath and has not yet attained cosmic mental polarisation His force or desire nature is the main incentive for the subjective Life and lives that underlie the form.
Vì Thượng đế được phân cực trong thể cảm dục vũ trụ của Ngài và chưa đạt đến sự phân cực trí tuệ vũ trụ nên mãnh lực hay bản chất dục vọng của Ngài là động lực chính cho Sự sống và các sự sống chủ quan nằm bên dưới hình tướng.
291. We learn something important concerning the present polarization of the Solar Logos. It must be compared however with the following which indicates the future trend:
291. Chúng ta học được điều gì đó quan trọng liên quan đến sự phân cực hiện tại của Thái dương Thượng đế. Tuy nhiên, điều này phải được so sánh với đoạn sau đây, vốn chỉ ra xu hướng tương lai:
Not till the seventh cycle of the greater cycle, not till the calling of the system into obscuration and out of manifestation will the cosmic mental atom in the body of the Logos achieve polarisation. (LOM 25)
Chỉ đến chu kỳ thứ bảy của đại chu kỳ, chỉ đến khi hệ được gọi vào sự che khuất và ra khỏi biểu hiện thì nguyên tử trí tuệ vũ trụ trong thân thể của Thượng đế mới đạt được sự phân cực. (LOM 25)
292. From certain references it would appear that the achievement of mental polarisation is still a long way off for the Solar Logos, yet from other references, we realize that He is called a “Lion of Cosmic Will” and, further, that He will achieve either the fourth or fifth cosmic initiation during this solar system. These discrepant indications must be held for resolution by the intuition.
292. Từ một số dẫn chiếu nhất định, dường như việc đạt được sự phân cực trí tuệ vẫn còn rất xa đối với Thái dương Thượng đế; tuy nhiên, từ những dẫn chiếu khác, chúng ta nhận ra rằng Ngài được gọi là một “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ” và hơn nữa, Ngài sẽ đạt hoặc lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm trong hệ mặt trời này. Những chỉ dấu bất nhất này phải được giữ lại để trực giác giải quyết.
If the student will ponder with care these five facts, he will get a clue to the problems of existence as realised around us, to the causes of the heat of the solar system,
Nếu đạo sinh suy ngẫm cẩn trọng về năm sự kiện này, y sẽ có được một đầu mối cho các vấn đề của sự tồn tại như được chứng nghiệm quanh chúng ta, cho các nguyên nhân của sức nóng của hệ mặt trời,
293. “Heat” is an astral factor. Since the Solar Logos’ astral permanent atom is so powerfully stimulated, the “heat” factor in our solar system must be considerable.
293. “Sức nóng” là một yếu tố cảm dục. Vì nguyên tử trường tồn cảm dục của Thái dương Thượng đế được kích thích mạnh mẽ đến thế, nên yếu tố “sức nóng” trong hệ mặt trời của chúng ta hẳn phải rất đáng kể.
294. Mars is the planet of heat. It would seem that Mars (with its strong astral polarization) must be a planet highly stimulated in our particular solar system.
294. Sao Hỏa là hành tinh của sức nóng. Dường như Sao Hỏa (với sự phân cực cảm dục mạnh mẽ của nó) hẳn là một hành tinh được kích thích cao độ trong hệ mặt trời đặc thù của chúng ta.
295. Extending the idea, that particular ‘Brother’ of our Solar Logos Who represents the solar plexus center in our Cosmic Logos, must be very influential in relation to our Solar Logos and His system.
295. Mở rộng ý tưởng này, ‘Huynh Đệ’ đặc thù của Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng đại diện cho trung tâm tùng thái dương trong Vũ Trụ Thượng đế của chúng ta, hẳn phải có ảnh hưởng rất lớn liên hệ đến Thái dương Thượng đế và hệ của Ngài.
296. It has been speculated that this particular Solar Logos in the Seven Solar Systems of Which Ours is One might be Fomalhaut, but there is no way to confirm this speculation.
296. Đã có suy đoán rằng Thái dương Thượng đế đặc thù này trong Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của chúng ta là một có thể là Fomalhaut, nhưng không có cách nào xác nhận suy đoán này.
297. It must also be clear that our Solar Logos is passing through a rajasic phase of existence rather than a sattvic phase. Rajas is associated with heat and with desire.
297. Cũng phải rõ ràng rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta đang trải qua một giai đoạn tồn tại rajas hơn là một giai đoạn sattva. Rajas gắn liền với sức nóng và với dục vọng.
to the method of the cosmic Law of Attraction and Repulsion, which governs all atomic forms,
đối với phương pháp của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vũ trụ, vốn cai quản mọi hình tướng nguyên tử,