← Commentary_S5_465_567 song ngữ

This is succeeded by obscuration.

Trích nội dung chương

236. Approximation and at-one-ment on the central plane of the seven is succeeded by obscuration. Can we then regard the buddhic plane as the plane of synthesis in the threefold sequence: synthesis, obscuration, absorption? 236. Sau sự tiếp cận và hợp nhất trên cõi trung tâm của bảy cõi là sự che mờ. Vậy chúng ta có thể xem cõi Bồ đề là cõi của tổng hợp trong chuỗi tam phân: tổng hợp, che mờ, hấp thu chăng?


This is succeeded by obscuration.

Tiếp theo đó là sự che mờ.

236. Approximation and at-one-ment on the central plane of the seven is succeeded by obscuration. Can we then regard the buddhic plane as the plane of synthesis in the threefold sequence: synthesis, obscuration, absorption?

236. Sau sự tiếp cận và hợp nhất trên cõi trung tâm của bảy cõi là sự che mờ. Vậy chúng ta có thể xem cõi Bồ đề là cõi của tổng hợp trong chuỗi tam phân: tổng hợp, che mờ, hấp thu chăng?

237. The activity which occurs on the buddhic plane is succeeded by obscuration which may involve the atmic plane.

237. Hoạt động diễn ra trên cõi Bồ đề được tiếp nối bởi sự che mờ, điều này có thể bao hàm cõi atma.

Hence on every plane in the solar system we have a fourth plane whereon the struggle for perfect illumination, and subsequent liberation takes place, the battle ground, the Kurukshetra.

Do đó trên mọi cõi trong hệ mặt trời, chúng ta có một cõi thứ tư nơi diễn ra cuộc đấu tranh để đạt sự soi sáng hoàn hảo, và tiếp theo là giải thoát, bãi chiến trường, Kurukshetra.

238. The number four is always related to battle and, thus, to Kurukshetra.

238. Con số bốn luôn luôn liên hệ với chiến đấu và do đó với Kurukshetra.

239. We remember that in the fivefold sequence of meditation, Scorpio (the premier fourth ray constellation) is related to the meditative phase called “Illumination”.

239. Chúng ta nhớ rằng trong chuỗi tham thiền ngũ phân, Hổ Cáp (chòm sao cung bốn hàng đầu) liên hệ với giai đoạn tham thiền được gọi là “Soi sáng”.

240. Both Taurus and Scorpio (each related to illumination in a different way) are signs through which the fourth ray predominantly expresses.

240. Cả Kim Ngưu lẫn Hổ Cáp (mỗi dấu hiệu liên hệ với sự soi sáng theo một cách khác nhau) đều là những dấu hiệu mà qua đó cung bốn biểu hiện một cách nổi trội.

241. Who was the Krishna Who appeared to Arjuna during that ancient battle some four million years ago? It seems too long ago to have been the One we now call the Christ, and yet, perhaps at that time, He was focussed on the fourth ray in His soul nature.

241. Krishna đã hiện ra với Arjuna trong trận chiến cổ xưa ấy khoảng bốn triệu năm trước là ai? Dường như quá xa xưa để là Đấng mà hiện nay chúng ta gọi là Đức Christ, nhưng có lẽ vào thời đó, Ngài tập trung trên cung bốn trong bản chất linh hồn của Ngài.

242. Illumination is usually considered a mental unfoldment. Here we learn that on the buddhic plane we may “struggle for perfect illumination”. The rulership of the buddhic plane by Mercury makes this seem reasonable. Mercury has been called the “Star of Conflict”. Since Mercury restores sight to the blind, it is clearly a planet to be associated with illumination.

242. Sự soi sáng thường được xem là một sự khai mở trí tuệ. Ở đây chúng ta học rằng trên cõi Bồ đề, chúng ta có thể “đấu tranh để đạt sự soi sáng hoàn hảo”. Việc Sao Thủy cai quản cõi Bồ đề khiến điều này có vẻ hợp lý. Sao Thủy đã được gọi là “Ngôi Sao của Xung Đột”. Vì Sao Thủy phục hồi thị giác cho người mù, rõ ràng đó là một hành tinh cần được liên kết với sự soi sáng.

243. Can we think that the struggle to be found upon the buddhic plane prepares the initiate for that illumination which comes with Mastership at the Initiation of “Revelation”?

243. Chúng ta có thể nghĩ rằng cuộc đấu tranh được tìm thấy trên cõi Bồ đề chuẩn bị cho điểm đạo đồ đạt đến sự soi sáng đến cùng với Chân sư quả ở cuộc Điểm Đạo “Mặc Khải” chăng?

244. DK said that we have this struggle “on every plane in the solar system”. He did not say, ‘on every sub-plane of this solar system”, and yet planes from one perspective are but sub-planes from another.

244. Chân sư DK nói rằng chúng ta có cuộc đấu tranh này “trên mọi cõi trong hệ mặt trời”. Ngài không nói, ‘trên mọi cõi phụ của hệ mặt trời này”, tuy nhiên các cõi từ một viễn cảnh chỉ là các cõi phụ từ một viễn cảnh khác.

245. Is it reasonable to conceive of the fourth sub-plane of every systemic plane to be a sub-plane of struggle? Can we penetrate any deeper? What of struggle within the sub-planes themselves? Our Teaching does not go into sub-plane dynamics so minutely.

245. Có hợp lý không khi quan niệm cõi phụ thứ tư của mọi cõi trong hệ là một cõi phụ của đấu tranh? Chúng ta có thể thâm nhập sâu hơn nữa không? Còn đấu tranh bên trong chính các cõi phụ thì sao? Giáo Huấn của chúng ta không đi vào động lực của cõi phụ một cách chi li đến thế.

246. In all this discussion of the relation of the fourth ray to illumination, we should not forget the following:

246. Trong toàn bộ cuộc thảo luận này về mối liên hệ của cung bốn với sự soi sáng, chúng ta không nên quên điều sau đây:

This has been called the "ray of struggle" for on this ray the qualities of rajas (activity) and tamas (inertia) are so strangely equal in proportion that the nature of the fourth ray man is torn with their combat, and the outcome, when satisfactory, is spoken of as the "Birth of Horus," of the Christ, born from the throes of constant pain and suffering. (EP I 206)

Điều này đã được gọi là "cung của đấu tranh" vì trên cung này các phẩm tính của rajas (hoạt động) và tamas (Quán tính) lại kỳ lạ cân bằng về tỉ lệ đến mức bản chất của người cung bốn bị xé rách bởi cuộc chiến của chúng, và kết quả, khi thỏa đáng, được nói đến như là "Sự Giáng Sinh của Horus," của Đức Christ, được sinh ra từ những cơn quặn thắt của đau đớn và khổ đau liên tục. (EP I 206)

247. Horus is the symbol both of the “Son” and of the “Sun God”.

247. Horus là biểu tượng vừa của “Con” vừa của “Thần Mặt Trời”.

Though for man the fourth plane, the buddhic, is the place of triumph, and the goal of his endeavour, for the Heavenly Man it is the battle-ground, while for the solar Logos it is the burning-ground.

Dù đối với con người, cõi thứ tư, cõi Bồ đề, là nơi chiến thắng, và là mục tiêu của nỗ lực của y, nhưng đối với Đấng Thiên Nhân, đó là bãi chiến trường, còn đối với Thái dương Thượng đế, đó là vùng đất cháy.

248. Man reaches the buddhic plane in triumph. He has become a higher demonstration of the fourth ray planet Mercury. He is illumined by buddhi, the intuition.

248. Con người đạt đến cõi Bồ đề trong chiến thắng. Y đã trở thành một biểu hiện cao hơn của hành tinh cung bốn là Sao Thủy. Y được soi sáng bởi buddhi, trực giác.

249. When DK speaks of the fourth plane, does He speak only of the fourth sub-plane of the cosmic physical plane? This is asked because we are told that the Planetary Logos has been struggling upon the fourth sub-plane of the cosmic astral plane. He is doing this to achieve systemic dispassion, for, compared with some of the other Planetary Logoi, He is ‘passionate’.

249. Khi Chân sư DK nói về cõi thứ tư, Ngài có nói chỉ về cõi phụ thứ tư của cõi hồng trần vũ trụ không? Điều này được hỏi vì chúng ta được cho biết rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế đã đấu tranh trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ. Ngài làm điều này để đạt đến sự vô dục của hệ, vì so với một số Hành Tinh Thượng Đế khác, Ngài là ‘đầy cảm tính’.

250. Is the fourth systemic ether a battle ground for some men and a burning ground for others? We might say so, and thereby be able to save the analogy.

250. Dĩ thái thứ tư của hệ có phải là bãi chiến trường đối với một số người và là vùng đất cháy đối với những người khác không? Chúng ta có thể nói như vậy, và nhờ đó có thể giữ được phép tương đồng.

251. If the fourth ether is a “battle-ground” for some types of men, there is occurring a conflict between the etheric body and physical body of man. Man is attempting to focus etherically and to control the physical elemental, but the physical elemental keeps pulling him back.

251. Nếu dĩ thái thứ tư là một “bãi chiến trường” đối với một số loại người, thì đang diễn ra một xung đột giữa thể dĩ thái và thể xác của con người. Con người đang cố gắng tập trung một cách dĩ thái và kiểm soát tinh linh thể xác, nhưng tinh linh thể xác cứ kéo y trở lại.

252. If the fourth ether is a “burning-ground”, then the man in question is reaching a kind of liberation and is prepared for some degree of continuity of consciousness. He is becoming an initiate of some kind.

252. Nếu dĩ thái thứ tư là một “vùng đất cháy”, thì người được nói đến đang đạt đến một loại giải thoát nào đó và được chuẩn bị cho một mức độ liên tục tâm thức nào đó. Y đang trở thành một điểm đạo đồ thuộc loại nào đó.

253. So let us look at the systemic buddhic plane. For a Planetary Logos (according to the statements above) there is raging a battle, between unprincipled substance and principled substance. He is in danger of being pulled back if He does not win the battle.

253. Vậy hãy nhìn vào cõi Bồ đề của hệ. Đối với một Đức Hành Tinh Thượng Đế (theo các phát biểu trên), đang có một trận chiến dữ dội giữa chất liệu không nguyên khí và chất liệu nguyên khí. Ngài có nguy cơ bị kéo lùi lại nếu Ngài không thắng trận chiến ấy.

254. But what, for a Planetary Logos, is the fourth ether? From one perspective, it is actually the higher mental plane. Yet it does not seem to be the higher mental plane which is here referenced. Rather it is the fourth plane which for a Planetary Logos is the focus of the third aspect.

254. Nhưng đối với một Đức Hành Tinh Thượng Đế, dĩ thái thứ tư là gì? Từ một viễn cảnh, đó thực ra là Cõi thượng trí. Tuy nhiên, dường như không phải Cõi thượng trí được nhắc đến ở đây. Đúng hơn, đó là cõi thứ tư, vốn đối với một Đức Hành Tinh Thượng Đế là tiêu điểm của phương diện thứ ba.

255. Are the Ashrams within the ring-pass-not of the Planetary Logos engaged in battle? So it would seem.

255. Các ashram bên trong vòng-giới-hạn của Đức Hành Tinh Thượng Đế có đang tham dự vào trận chiến không? Có vẻ là như vậy.

256. For the Solar Logos, the buddhic plane is a burning ground, we are told. What type of liberation or initiation is the Solar Logos achieving through the assembled groups to be found upon the buddhic plane? What will be the consequences if the Solar Logos is freed entirely from the backward pull of the three lower sub-planes of the cosmic physical plane—the systemic physical-etheric plane, the systemic astral plane and the entire systemic mental plane? Freed from the backward pull of the energy of the first solar system?

256. Đối với Thái dương Thượng đế, cõi Bồ đề là một vùng đất cháy, như chúng ta được cho biết. Thái dương Thượng đế đang đạt được loại giải thoát hay điểm đạo nào qua các nhóm tập hợp được tìm thấy trên cõi Bồ đề? Hậu quả sẽ là gì nếu Thái dương Thượng đế được giải thoát hoàn toàn khỏi lực kéo lùi của ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần vũ trụ—cõi hồng trần-dĩ thái của hệ, cõi cảm dục của hệ và toàn bộ cõi trí của hệ? Được giải thoát khỏi lực kéo lùi của năng lượng của hệ mặt trời thứ nhất?

257. What is happening to the Ashrams on the buddhic plane as a result of the buddhic burning-ground which the Solar Logos is experiencing? Are they being liberated through a process of group initiation? It would seem so.

257. Điều gì đang xảy ra với các ashram trên cõi Bồ đề do vùng đất cháy Bồ đề mà Thái dương Thượng đế đang trải qua? Có phải chúng đang được giải thoát qua một tiến trình điểm đạo nhóm không? Dường như là như vậy.

258. Following the Law of Analogy in these instances is difficult but revelatory.

258. Theo sát định luật tương đồng trong những trường hợp này là điều khó khăn nhưng đầy mặc khải.

259. If we keep a strict analogy between man and the Solar Logos, then the cosmic buddhic plane is the plane of triumph for the Solar Logos.

259. Nếu chúng ta giữ một phép tương đồng nghiêm ngặt giữa con người và Thái dương Thượng đế, thì cõi Bồ đề vũ trụ là cõi của chiến thắng đối với Thái dương Thượng đế.

260. But what is the place of triumph for the Planetary Logos? Is it the cosmic buddhic plane, or holding strictly to the concept of ‘plane relativity’ is it the higher sub-planes of the cosmic mental plane?

260. Nhưng đâu là nơi chiến thắng đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế? Có phải là cõi Bồ đề vũ trụ không, hay nếu giữ nghiêm ngặt khái niệm ‘tính tương đối của cõi’ thì đó là các cõi phụ cao hơn của cõi trí vũ trụ?

261. More practically, we can ask ourselves whether we (as human beings) are passing through battle-grounds or burning-grounds and what the difference may be.

261. Thực tế hơn, chúng ta có thể tự hỏi liệu chúng ta (với tư cách con người) đang đi qua các bãi chiến trường hay các vùng đất cháy, và sự khác biệt có thể là gì.

262. When the burning really beings, the battle is almost won.

262. Khi sự thiêu đốt thực sự bắt đầu, trận chiến hầu như đã thắng.

This differentiation of the subplanes of the systemic planes into a higher three, a lower three, and a central plane of harmony is only so from the standpoint of electrical phenomena, and not from the standpoint of either pure Spirit, or pure substance, viewed apart from each other. It concerns the mystery of electricity, and the production of light.

Sự biến phân này của các cõi phụ thuộc các cõi của hệ thống thành ba cõi trên, ba cõi dưới, và một cõi trung tâm của sự hài hòa chỉ là như thế từ quan điểm của các hiện tượng điện, chứ không phải từ quan điểm của tinh thần thuần túy hay chất liệu thuần túy, khi được xét tách rời nhau. Điều này liên quan đến huyền nhiệm của điện và sự tạo ra ánh sáng.

263. This section is placed in italics so it must be of considerable importance.

263. Phần này được in nghiêng nên hẳn phải có tầm quan trọng đáng kể.

264. Electrical phenomena depend upon the interplay between dualities. In fact, electricity may be defined as the ‘interplay between dualities’.

264. Các hiện tượng điện tùy thuộc vào sự tương tác giữa các nhị nguyên. Thật vậy, điện có thể được định nghĩa là “sự tương tác giữa các nhị nguyên”.

265. One can wonder whether pure Spirit and pure substance can ever be viewed apart from each other.

265. Người ta có thể tự hỏi liệu tinh thần thuần túy và chất liệu thuần túy có bao giờ có thể được xem xét tách rời nhau hay không.

266. The differentiation of a systemic plane into the divisions 3—1—3 suggest that an interplay between Spirit and matter is in process and that, under the terms of this type of division, they are not to be considered separately.

266. Sự biến phân của một cõi hệ thống thành các phân khu 3—1—3 gợi ý rằng một sự tương tác giữa tinh thần và vật chất đang diễn ra và rằng, theo các điều kiện của loại phân chia này, chúng không được xem là tách biệt.

267. It is clear that, symbolically, the Sun belongs to the buddhic plane because on that plane the light born of the interaction between Spirit and matter appears.

267. Rõ ràng là, về mặt biểu tượng, Mặt Trời thuộc về cõi Bồ đề vì trên cõi ấy xuất hiện ánh sáng sinh ra từ sự tương tác giữa tinh thần và vật chất.

The three higher planes concern the central Forces or Lives, the three lower concern the lesser Forces or Lives.

Ba cõi trên liên quan đến các Mãnh Lực hay các Sự Sống trung tâm, ba cõi dưới liên quan đến các Mãnh Lực hay các Sự Sống nhỏ hơn.

268. We notice that there is very little difference between the terms “higher” and “central”. In occultism, “deep” is “high”.

268. Chúng ta nhận thấy rằng có rất ít khác biệt giữa các thuật ngữ “cao hơn” và “trung tâm”. Trong huyền bí học, “sâu” là “cao”.

We must bear this carefully in mind, remembering that to the occultist there is no such thing as substance, but only Force in varying degrees, only Energy of differentiated quality, only Lives emanating from different sources, each distinctive and apart, and only Consciousness producing intelligent effect through the medium of space.

Chúng ta phải ghi nhớ điều này một cách cẩn trọng, nhớ rằng đối với nhà huyền bí học không hề có cái gọi là chất liệu, mà chỉ có Mãnh lực ở những cấp độ khác nhau, chỉ có Năng lượng với phẩm tính được biến phân, chỉ có các Sự Sống phát xạ từ những nguồn khác nhau, mỗi sự sống đều đặc thù và riêng biệt, và chỉ có Tâm thức tạo ra hiệu quả thông minh qua môi trường của không gian.

269. Let us tabulate that which the occultist understands:

269. Chúng ta hãy lập bảng điều mà nhà huyền bí học hiểu:

a. There is no such thing as substance

a. Không hề có cái gọi là chất liệu

b. There is only Force in varying degrees

b. Chỉ có Mãnh lực ở những cấp độ khác nhau

c. There is only Energy of differentiated quality

c. Chỉ có Năng lượng với phẩm tính được biến phân

d. There are only Lives emanating from different sources

d. Chỉ có các Sự Sống phát xạ từ những nguồn khác nhau

e. There is only Consciousness producing intelligent effect through the medium of space

e. Chỉ có Tâm thức tạo ra hiệu quả thông minh qua môi trường của không gian

270. The occultist is not deceived by the glamor of materiality. He recognizes “substance” as “force”, “energy” and “life”.

270. Nhà huyền bí học không bị đánh lừa bởi ảo cảm của tính vật chất. Y nhận ra “chất liệu” là “mãnh lực”, “năng lượng” và “sự sống”.

271. If the occultist uses the term “substance”, he does not think of it as ‘stuff’.

271. Nếu nhà huyền bí học dùng thuật ngữ “chất liệu”, y không nghĩ về nó như một thứ “vật chất thô”.

272. Force has “varying degrees” of application.

272. Mãnh lực có những “cấp độ khác nhau” của sự ứng dụng.

273. Energies have differentiated qualities but are not necessarily applied forces.

273. Các năng lượng có những phẩm tính được biến phân nhưng không nhất thiết là những mãnh lực được áp dụng.

274. All that we usually call “substance” is defined in a manner most occult: “only Consciousness producing intelligent effect through the medium of space”. If He had said “through the medium of substance” the mind would think the interpretation easier, but “space” is the “medium”.

274. Tất cả những gì chúng ta thường gọi là “chất liệu” được định nghĩa theo một cách hết sức huyền bí: “chỉ có Tâm thức tạo ra hiệu quả thông minh qua môi trường của không gian”. Nếu Ngài đã nói “qua môi trường của chất liệu” thì trí tuệ sẽ nghĩ rằng cách giải thích dễ hơn, nhưng “không gian” mới là “môi trường”.

275. If by “space” we mean the “field of consciousness” or the “field of perception” perhaps we can grasp something of the meaning.

275. Nếu bởi “không gian” chúng ta muốn nói đến “trường tâm thức” hay “trường tri giác” thì có lẽ chúng ta có thể nắm bắt được phần nào ý nghĩa.

276. “Space” and “Consciousness” are inseparable. Without consciousness there would be no space (at least intra-cosmic space). Space is the ‘sphere of consciousness’. Within this sphere there are only forces, energies (i.e., lives) at work.

276. “Không gian” và “Tâm thức” là bất khả phân ly. Không có tâm thức thì sẽ không có không gian (ít nhất là không gian nội vũ trụ). Không gian là “khối cầu của tâm thức”. Trong khối cầu này chỉ có các mãnh lực, các năng lượng (tức là các sự sống) đang hoạt động.

277. There is consciousness; there is the sphere of consciousness; there is the intelligent effect produced within the sphere of consciousness.

277. Có tâm thức; có khối cầu của tâm thức; có hiệu quả thông minh được tạo ra trong khối cầu của tâm thức.

278. Matter is that which is created through an act of Self-perception. Matter/substance isn’t even ‘there’ before there is perception. Matter/substance is the registration of lives that live within ‘One’s-Self’. To fathom this will require deep pondering.

278. Vật chất là cái được tạo ra qua một hành vi tự tri giác. Vật chất/chất liệu thậm chí còn không “ở đó” trước khi có tri giác. Vật chất/chất liệu là sự ghi nhận các sự sống đang sống bên trong “Chính Mình”. Muốn thấu suốt điều này sẽ cần sự suy tư sâu xa.

I would point out that the Lord Agni shows forth His fiery life on the atomic subplane of each plane;

Tôi xin chỉ ra rằng Chúa Agni biểu lộ sự sống rực lửa của Ngài trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi;

279. This links Lord Agni with the first ray.

279. Điều này liên kết Chúa Agni với cung một.

280. Who is Lord Agni? The following will be of value:

280. Chúa Agni là ai? Điều sau đây sẽ có giá trị:

He is not the solar Logos on the cosmic mental plane, for the egoic consciousness of the Logos is more than His physical manifestation, but Agni is the sumtotal of that portion of the logoic Ego which is reflected down into His physical vehicle; He is the life of the logoic Personality, with all that is included in that expression. He is to the solar Logos on His own plane what the coherent personality of a human being is to his Ego in the causal body. (TCF 603)

Ngài không phải là Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, vì tâm thức chân ngã của Thượng đế còn hơn cả sự biểu hiện hồng trần của Ngài, nhưng Agni là tổng thể của phần Chân ngã logoic được phản chiếu xuống hiện thể hồng trần của Ngài; Ngài là sự sống của Phàm ngã logoic, cùng với tất cả những gì bao hàm trong cách diễn đạt ấy. Đối với Thái dương Thượng đế trên cõi riêng của Ngài, Ngài cũng như phàm ngã kết hợp chặt chẽ của một con người đối với chân ngã của y trong thể nguyên nhân. (TCF 603)

281. We find that Lord Agni is a comprehensive Deity, including as His sphere of manifestation eighteen cosmic sub-planes. He demonstrates on all those planes, but in different ways. Fire electric, solar fire and fire by friction are included within Him.

281. Chúng ta thấy rằng Chúa Agni là một Thượng đế bao quát, gồm trong khối cầu biểu hiện của Ngài mười tám cõi phụ vũ trụ. Ngài biểu lộ trên tất cả các cõi ấy, nhưng theo những cách khác nhau. Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát đều được bao hàm trong Ngài.

He shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as 'fire by friction' on the fifth, sixth and seventh.

Ngài biểu lộ như Lửa Thái dương trên cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như “Lửa ma sát” trên cõi thứ năm, thứ sáu và thứ bảy.

282. It has sometimes been enquired—“Where shall solar fire be found?” “Shall it be found in the realm of the triad as well as within the realm of the Ego when that Ego is considered as manifesting on the higher mental plane”?

282. Đôi khi người ta đã hỏi—“Lửa Thái dương sẽ được tìm thấy ở đâu?” “Nó có được tìm thấy trong lĩnh vực của tam nguyên tinh thần cũng như trong lĩnh vực của chân ngã khi chân ngã ấy được xét như đang biểu hiện trên Cõi thượng trí hay không”?

283. Here we have an answer. Solar fire is to be found on the monadic, atmic and buddhic planes. This triplicity represents a triad which is greater than the usual scope of the spiritual triad, for the spiritual triad includes the higher mental plane and the triad given here does not.

283. Ở đây chúng ta có một câu trả lời. Lửa Thái dương được tìm thấy trên các cõi chân thần, atma và Bồ đề. Bộ ba này biểu thị một tam nguyên lớn hơn phạm vi thông thường của Tam Nguyên Tinh Thần, vì Tam Nguyên Tinh Thần bao gồm Cõi thượng trí còn tam nguyên được nêu ở đây thì không.

284. In any case, the egoic ray manifesting through solar fire will certainly be found active on the buddhic and atmic planes as well as on the three sub-planes of higher mind. Further, are we to find the egoic ray also active on the level of the Monad, the second plane? This must be questioned.

284. Dù sao đi nữa, cung chân ngã biểu hiện qua Lửa Thái dương chắc chắn sẽ được thấy hoạt động trên các cõi Bồ đề và atma cũng như trên ba cõi phụ của thượng trí. Hơn nữa, liệu chúng ta có thấy cung chân ngã cũng hoạt động ở cấp độ của chân thần, cõi thứ hai hay không? Điều này cần được đặt thành câu hỏi.

285. When considering solar fire in relation to the Monad, it must be a solar fire that embraces the monadic ray. Is the monadic ray an expression only of electric fire? Probably not, as in our solar system and on the cosmic physical plane, electric fire is to be considered a sub-category of a larger type of solar fire—the solar fire which is more purely an expression of our particular Solar Logos.

285. Khi xét Lửa Thái dương trong liên hệ với chân thần, đó phải là một Lửa Thái dương bao gồm cung chân thần. Cung chân thần có phải chỉ là một biểu hiện của Lửa Điện hay không? Có lẽ không, vì trong hệ mặt trời của chúng ta và trên cõi hồng trần vũ trụ, Lửa Điện phải được xem là một phân loại phụ của một loại Lửa Thái dương lớn hơn—Lửa Thái dương vốn thuần túy hơn như một biểu hiện của Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta.

286. What we begin to see is that with solar fire manifesting on such high levels, the ray which represents solar fire must not simply disappear when the causal body disappears.

286. Điều chúng ta bắt đầu thấy là khi Lửa Thái dương biểu hiện trên những cấp độ cao như thế, cung biểu thị Lửa Thái dương không thể đơn giản biến mất khi thể nguyên nhân biến mất.

287. If the spiritual triad remains, then solar fire remains.

287. Nếu Tam Nguyên Tinh Thần còn tồn tại, thì Lửa Thái dương còn tồn tại.

288. If the Monad remains expressive on the monadic plane (for it could be expressive in a less encumbered form on the logoic plane) then a higher form of solar fire remains.

288. Nếu chân thần vẫn còn biểu hiện trên cõi chân thần (vì nó có thể biểu hiện dưới một hình thức ít bị cản trở hơn trên cõi logoic) thì một hình thức cao hơn của Lửa Thái dương vẫn còn tồn tại.

289. Really, the solar fire of our second ray Solar Logos pervades His expression on the twenty-one lower cosmic sub-planes.

289. Thật ra, Lửa Thái dương của Thái dương Thượng đế cung hai của chúng ta thấm khắp biểu hiện của Ngài trên hai mươi mốt cõi phụ vũ trụ thấp hơn.

290. We must think in terms of greater and lesser intensities of solar fire.

290. Chúng ta phải suy nghĩ theo những mức độ cường độ lớn hơn và nhỏ hơn của Lửa Thái dương.

From the point of view of the microcosm, the Spark in the Flame,

Từ quan điểm của tiểu thiên địa, Tia Lửa trong Ngọn Lửa,

291. The Monad is the “Spark in the Flame” and the human Monad is (in this context) the microcosm.

291. Chân thần là “Tia Lửa trong Ngọn Lửa” và chân thần nhân loại là (trong bối cảnh này) tiểu thiên địa.

man demonstrates as electric fire on the second plane, or the second cosmic ether;

con người biểu lộ như Lửa Điện trên cõi thứ hai, hay dĩ thái vũ trụ thứ hai;

292. The Monad is, for practical purposes, a demonstration of electric fire, but the showing forth of Agni as solar fire on the second, third and fourth systemic planes brings the solar fire effect to the human Monad as suggested above.

292. Chân thần, trên thực tế, là một biểu hiện của Lửa Điện, nhưng sự biểu lộ của Agni như Lửa Thái dương trên các cõi hệ thống thứ hai, thứ ba và thứ tư mang hiệu quả của Lửa Thái dương đến cho chân thần nhân loại như đã gợi ý ở trên.

as solar fire on the third, fourth and the three higher subplanes of the fifth [Page 522] plane, and as fire by friction on the lower subplanes of the fifth, on the sixth, and seventh planes.

như Lửa Thái dương trên cõi thứ ba, thứ tư và ba cõi phụ cao hơn của cõi thứ năm [Page 522], và như Lửa ma sát trên các cõi phụ thấp hơn của cõi thứ năm, trên cõi thứ sáu và thứ bảy.

293. Here is the confirmation that upon all planes of the spiritual triad, an expression of solar fire is to be found. The importance of this is that the true (unsheathed, unshrouded) soul is the Ego or spiritual triad on the atmic, buddhic and higher manasic levels and that the soul ray expresses through the true Ego or spiritual triad.

293. Đây là sự xác nhận rằng trên mọi cõi của Tam Nguyên Tinh Thần đều có thể tìm thấy một biểu hiện của Lửa Thái dương. Tầm quan trọng của điều này là linh hồn đích thực (không vỏ bọc, không màn che) là chân ngã hay Tam Nguyên Tinh Thần trên các cấp độ atma, Bồ đề và manas cao, và cung linh hồn biểu hiện qua chân ngã đích thực hay Tam Nguyên Tinh Thần.

294. Between Agni (as the personality of the Solar Logos) and the human Monad, we would find the Planetary Logos. How does He demonstrate? There seems no ‘room’ to interpolate this great Entity in this discussion of the demonstration of the fires on various planes and sub-planes.

294. Giữa Agni (như phàm ngã của Thái dương Thượng đế) và chân thần nhân loại, chúng ta sẽ thấy Đức Hành Tinh Thượng Đế. Ngài biểu lộ như thế nào? Dường như không có “chỗ” nào để xen Thực Thể vĩ đại này vào trong cuộc bàn luận về sự biểu lộ của các ngọn lửa trên những cõi và cõi phụ khác nhau.

c. The Planes and the Three Fires. On every plane we have, relatively speaking:

c. Các Cõi và Ba Ngọn Lửa. Trên mỗi cõi, nói một cách tương đối, chúng ta có:

295. We note the term “relatively speaking”, as there are many ways to divide planes: 1—6; 1—1—5; 2—5; 4—3; 3—4; 3—1—3; 5—2; 6—1; etc.

295. Chúng ta lưu ý cụm từ “nói một cách tương đối”, vì có nhiều cách để phân chia các cõi: 1—6; 1—1—5; 2—5; 4—3; 3—4; 3—1—3; 5—2; 6—1; v.v.

a. Electric fire demonstrating as the prime condition on the higher three.

a. Lửa Điện biểu lộ như điều kiện chủ yếu trên ba cõi trên.

b. Fire by friction as the most significant factor on the lower three.

b. Lửa ma sát như yếu tố có ý nghĩa nhất trên ba cõi dưới.

c. Solar fire, showing forth as the blaze produced by union on the central plane.

c. Lửa Thái dương, biểu lộ như ngọn lửa rực sinh ra bởi sự hợp nhất trên cõi trung tâm.

296. Solar fire always shows forth as a central blaze, so much depends upon what is considered to be “central”.

296. Lửa Thái dương luôn biểu lộ như một ngọn lửa rực trung tâm, nên rất nhiều điều tùy thuộc vào cái gì được xem là “trung tâm”.

In the solar system this is to be seen in connection with a Heavenly Man on the buddhic plane, where They blaze forth through Their etheric centres.

Trong hệ mặt trời, điều này được thấy liên hệ với một Đấng Thiên Nhân trên cõi Bồ đề, nơi Các Ngài bừng cháy qua các trung tâm dĩ thái của Các Ngài.

297. For a Heavenly Man the central plane is considered to be the buddhic. Yet for a Solar Logos, the central plane would also be considered the buddhic.

297. Đối với một Đấng Thiên Nhân, cõi trung tâm được xem là cõi Bồ đề. Tuy nhiên đối với một Thái dương Thượng đế, cõi trung tâm cũng sẽ được xem là cõi Bồ đề.

298. From another perspective, the higher mental plane could be considered, for a Heavenly Man, the central plane. Before the majority of Ashrams refocused on the buddhic plane, the higher mental plane was of greater or more “central” importance to the Planetary Logos.

298. Từ một góc nhìn khác, Cõi thượng trí có thể được xem là, đối với một Đấng Thiên Nhân, cõi trung tâm. Trước khi đa số các ashram tái tập trung trên cõi Bồ đề, Cõi thượng trí có tầm quan trọng lớn hơn hay “trung tâm” hơn đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế.

299. We remember above that the “esoteric planets” were found on the buddhic plane along with the “Sun”. Here we read that the Heavenly Men, in general, blaze forth on the buddhic plane.

299. Chúng ta nhớ ở trên rằng các “hành tinh huyền bí” được tìm thấy trên cõi Bồ đề cùng với “Mặt Trời”. Ở đây chúng ta đọc thấy rằng các Đấng Thiên Nhân, nói chung, bừng cháy trên cõi Bồ đề.

300. Perhaps the term “esoteric planets” suggests a certain subjective way of considering the normal planets.

300. Có lẽ thuật ngữ “các hành tinh huyền bí” gợi ý một cách xem xét chủ quan nào đó đối với các hành tinh thông thường.

In connection with man on the mental plane, we have a similar condition: the three higher subplanes concern the Spirit aspect in the causal body,

Liên hệ với con người trên cõi trí, chúng ta có một điều kiện tương tự: ba cõi phụ cao hơn liên quan đến phương diện tinh thần trong thể nguyên nhân,

301. This “Spirit aspect” is represented by the "Jewel in the Lotus".

301. “Phương diện tinh thần” này được biểu thị bởi “Ngọc trong Hoa Sen”.

302. Again, we have the implication that the causal body can be found on the highest of the sub-planes of the mental plane, whereas other references point to its destruction on the second sub-plane of the higher mental plane.

302. Một lần nữa, chúng ta có hàm ý rằng thể nguyên nhân có thể được tìm thấy trên cõi phụ cao nhất của cõi trí, trong khi những dẫn chiếu khác lại chỉ đến sự hủy diệt của nó trên cõi phụ thứ hai của Cõi thượng trí.

the three lower subplanes concern primarily the mental sheath, or fire by friction;

ba cõi phụ thấp hơn chủ yếu liên quan đến thể trí, hay Lửa ma sát;

303. This is reasonable.

303. Điều này là hợp lý.

the fourth subplane is that on which the force centres of the mental body are to be found.

cõi phụ thứ tư là cõi trên đó các trung tâm mãnh lực của thể trí được tìm thấy.

304. There are four force centers portrayed in the diagram on TCF 815. The higher centers (head, heart and throat—such as are found on the higher three astral and etheric sub-planes) are expressed probably as ‘tier structures’ in the causal body.

304. Có bốn trung tâm mãnh lực được mô tả trong biểu đồ ở TCF 815. Các trung tâm cao hơn (đầu, tim và cổ họng—như được thấy trên ba cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục và cõi dĩ thái) có lẽ được biểu hiện như những “cấu trúc tầng bậc” trong thể nguyên nhân.

305. As a Master has thirty-five force vortices, one wonder whether after the fourth initiation is taken, three chakric vortices establish themselves on the higher mental plane.

305. Vì một Chân sư có ba mươi lăm xoáy mãnh lực, người ta tự hỏi liệu sau khi lần điểm đạo thứ tư được tiếp nhận, ba xoáy luân xa có tự thiết lập trên Cõi thượng trí hay không.

306. There is a very big question about what happens to the manasic vehicle (presumably built around the manasic permanent atom) after the fourth initiation.

306. Có một câu hỏi rất lớn về điều gì xảy ra với vận cụ manas (có lẽ được xây dựng quanh nguyên tử trường tồn manas) sau lần điểm đạo thứ tư.

So it is on the physical plane for man—his etheric centres being located in matter of the fourth ether.

Cũng vậy trên cõi hồng trần đối với con người—các trung tâm dĩ thái của y được định vị trong vật chất của dĩ thái thứ tư.

307. It seems only partially true that the etheric centers of man are located in the fourth ether. Some of them are, but the charts seem to contradict this (cf. Chart VIII, TCF, 817). In this chart the throat, heart and head centers are located on the third, second and first ethers respectively.

307. Điều này dường như chỉ đúng một phần rằng các trung tâm dĩ thái của con người được định vị trong dĩ thái thứ tư. Một số trong đó là như vậy, nhưng các biểu đồ dường như mâu thuẫn với điều này (xem Biểu đồ VIII, TCF, 817). Trong biểu đồ này, các trung tâm cổ họng, tim và đầu lần lượt được định vị trên dĩ thái thứ ba, thứ hai và thứ nhất.

Each of the three Persons of the Trinity manifests equally as does a man, as Spirit, Soul or Ego, and Substance.

Mỗi một trong Ba Ngôi/Tam Vị đều biểu hiện bình đẳng như con người, như tinh thần, linh hồn hay chân ngã, và chất liệu.

308. All E/entities seem to have this threefold mode of manifestation. The question is: “Upon which plane or planes does this manifestation occur?”

308. Mọi Thực thể dường như đều có phương thức biểu hiện tam phân này. Câu hỏi là: “Sự biểu hiện này xảy ra trên cõi hay các cõi nào?”

309. Do the Three Persons of the Logoic Trinity manifest on the same cosmic physical sub-planes as does the Solar Logos (considered as a whole)? Perhaps the answer is, “yes”, as the causal bodies of these Three Persons are, like the causal body of the Solar Logos, found upon the highest sub-plane of the cosmic mental plane.

309. Ba Ngôi/Tam Vị của Tam Vị Logoic có biểu hiện trên cùng các cõi phụ hồng trần vũ trụ như Thái dương Thượng đế (được xét như một toàn thể) hay không? Có lẽ câu trả lời là “có”, vì các thể nguyên nhân của Ba Ngôi này, cũng như thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế, đều được tìm thấy trên cõi phụ cao nhất của cõi trí vũ trụ.

In connection with Brahma, we have the Spirit aspect animating the three higher subplanes of every plane, or the first fire aspect. His soul aspect is found on the fourth subplane of each plane whereon are situated the etheric centres of all manifested entities.

Liên hệ với Brahma, chúng ta có phương diện tinh thần làm sinh động ba cõi phụ cao hơn của mỗi cõi, hay phương diện lửa thứ nhất. Phương diện linh hồn của Ngài được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi, nơi tọa lạc các trung tâm dĩ thái của mọi thực thể biểu hiện.

310. We may consider Brahma as the third aspect of the Solar Logos, but to interpret accurately the section above, we must know with certainty what the Tibetan means by “Brahma”.

310. Chúng ta có thể xem Brahma như phương diện thứ ba của Thái dương Thượng đế, nhưng để giải thích chính xác đoạn trên, chúng ta phải biết chắc Chân sư Tây Tạng muốn nói gì bởi “Brahma”.

311. It is difficult to know why DK continues to repeat the thought that the fourth sub-plane is that on which “are situated the etheric centres of all manifested entities”. From other things that He has said, this assertion can only be partially correct.

311. Thật khó hiểu vì sao Chân sư DK tiếp tục lặp lại ý tưởng rằng cõi phụ thứ tư là cõi trên đó “tọa lạc các trung tâm dĩ thái của mọi thực thể biểu hiện”. Từ những điều khác Ngài đã nói, khẳng định này chỉ có thể đúng một phần.

312. If that Person (called Brahma) of the Logoic Trinity is thus situated, what of Vishnu and Shiva (the other Persons of that Trinity)?

312. Nếu Ngôi Vị ấy (được gọi là Brahma) của Tam Vị Logoic được định vị như vậy, thì Vishnu và Shiva (hai Ngôi Vị kia của Tam Vị ấy) ra sao?

313. Or are we referring to Brahma (and not Vishnu or Shiva) because we are speaking primarily of expression upon the cosmic physical plane?

313. Hay chúng ta đang nói đến Brahma (chứ không phải Vishnu hay Shiva) vì chúng ta đang nói chủ yếu về sự biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ?

His substance aspect is primarily contacted on the three lower subplanes.

Phương diện chất liệu của Ngài chủ yếu được tiếp xúc trên ba cõi phụ thấp hơn.

314. Yet, according to His positioning, He still works through the middle and higher sub-planes of the cosmic physical plane.

314. Tuy vậy, theo vị trí của Ngài, Ngài vẫn hoạt động qua các cõi phụ trung gian và cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ.

315. Still, it does make sense that the substance aspect of Brahma would primarily be contacted on the three lower sub-planes.

315. Tuy nhiên, quả thật hợp lý khi phương diện chất liệu của Brahma chủ yếu được tiếp xúc trên ba cõi phụ thấp hơn.

316. Since, Brahma, is a great God, He naturally has a soul and Spirit aspect—even though He is primarily associated with materiality and intelligence.

316. Vì Brahma là một Thượng đế vĩ đại, nên dĩ nhiên Ngài có phương diện linh hồn và tinh thần—dù Ngài chủ yếu được liên kết với tính vật chất và trí tuệ.

Hence we have the forty-nine fires of matter,

Do đó chúng ta có bốn mươi chín ngọn lửa của vật chất,

317. Presumably, we would have one fire for each of the forty-nine sub-planes.

317. Có lẽ chúng ta sẽ có một ngọn lửa cho mỗi một trong bốn mươi chín cõi phụ.

318. There are “Seven Sons of Fohat”. Each of these “Seven Sons” can be divided into seven. Fohat is, from one point of view, Brahma.

318. Có “Bảy Con của Fohat”. Mỗi một trong “Bảy Con” này có thể được chia thành bảy. Fohat, từ một quan điểm, là Brahma.

or the seven fires of each plane,

hay bảy ngọn lửa của mỗi cõi,

319. Again—one on each sub-plane…

319. Một lần nữa—một ngọn trên mỗi cõi phụ…

the union of the higher three and the lower three producing that blaze which we call the wheels of fire or the centres on the fourth subplane of each plane.

sự hợp nhất của ba cõi trên và ba cõi dưới tạo ra ngọn lửa rực mà chúng ta gọi là các bánh xe lửa hay các trung tâm trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi.

320. Here we have the fires of Brahma implicated in producing the chakric blaze found on the fourth sub-plane of each plane.

320. Ở đây chúng ta có các ngọn lửa của Brahma được hàm ý là tham gia vào việc tạo ra ngọn lửa luân xa được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi.

321. This is particularly true in relation to the cosmic physical plane. Would Vishnu be implicated in the production of ‘etheric’ chakras on the cosmic astral plane, and Shiva in producing the set of chakras which must, by analogical necessity, be found upon the fourth level of the cosmic mental plane?

321. Điều này đặc biệt đúng trong liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ. Liệu Vishnu có tham gia vào việc tạo ra các luân xa “dĩ thái” trên cõi cảm dục vũ trụ, và Shiva trong việc tạo ra tập hợp luân xa mà, theo sự tất yếu của định luật tương đồng, phải được tìm thấy trên cấp độ thứ tư của cõi trí vũ trụ hay không?

322. Presumably this blaze is to be found on every fourth sub-plane of each of the seven planes. The inference is that chakras of some kind are to be found on each of the seven systemic planes.

322. Có lẽ ngọn lửa rực này được tìm thấy trên mọi cõi phụ thứ tư của mỗi một trong bảy cõi. Suy luận là các luân xa thuộc một loại nào đó được tìm thấy trên mỗi một trong bảy cõi hệ thống.

In connection with the second aspect there is a similar [Page 523] condition.

Liên hệ với phương diện thứ hai cũng có một [Page 523] điều kiện tương tự.

323. Is the distribution similar—3—1—3?

323. Sự phân bố có tương tự—3—1—3 hay không?

324. Below there seem to be some modifications.

324. Ở dưới dường như có một vài sửa đổi.

325. It would seem that we are now dealing with the Vishnu aspect just as in the previous example, it was the Brahma aspect.

325. Dường như giờ đây chúng ta đang bàn đến phương diện Vishnu cũng như trong ví dụ trước đó là phương diện Brahma.

Solar fire blazes forth in its electrical aspect on the second plane, and demonstrates thus also on the third and fourth planes,

Lửa Thái dương bừng cháy trong phương diện điện của nó trên cõi thứ hai, và do đó cũng biểu lộ trên cõi thứ ba và thứ tư,

326. The same idea has been stated above:

326. Cùng một ý tưởng này đã được nêu ở trên:

I would point out that the Lord Agni shows forth His fiery life on the atomic subplane of each plane; He shows forth as solar fire on the second, third and fourth,…

Tôi xin chỉ ra rằng Chúa Agni biểu lộ sự sống rực lửa của Ngài trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi; Ngài biểu lộ như Lửa Thái dương trên cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư,…

327. We should note that the second plane is a combination of the expression of the first and second rays. The second ray is primary and the first ray secondary.

327. Chúng ta nên lưu ý rằng cõi thứ hai là một sự kết hợp của biểu hiện cung một và cung hai. Cung hai là chính yếu và cung một là thứ yếu.

328. In what is stated below, it should be remembered that Lord Brahma is ‘older’ (in terms of manifestation) than Lord Vishnu.

328. Trong điều được nêu dưới đây, cần nhớ rằng Chúa Brahma “cổ xưa” hơn (xét theo biểu hiện) Chúa Vishnu.

329. For Brahma, electric fire blazed forth on the first three systemic sub-planes.

329. Đối với Brahma, Lửa Điện bừng cháy trên ba cõi phụ hệ thống đầu tiên.

330. For the second aspect or Vishnu aspect, the electrical aspect of solar fire blazed forth principally on the second plane but also on the third and fourth.

330. Đối với phương diện thứ hai hay phương diện Vishnu, phương diện điện của Lửa Thái dương bừng cháy chủ yếu trên cõi thứ hai nhưng cũng trên cõi thứ ba và thứ tư.

but finds its central demonstration on manasic levels,

nhưng tìm thấy sự biểu lộ trung tâm của nó trên các cấp độ manas,

331. Whereas the central demonstration for Brahma was on the buddhic plane, the central demonstration for the second aspect (let us call it the “Vishnu aspect”) demonstrates on the higher mental plane.

331. Trong khi sự biểu lộ trung tâm của Brahma là trên cõi Bồ đề, thì sự biểu lộ trung tâm của phương diện thứ hai (chúng ta hãy gọi là “phương diện Vishnu”) biểu lộ trên Cõi thượng trí.

332. This is reasonable as the demonstration of the Vishnu aspect began one plane lower than that of the Brahma aspect.

332. Điều này là hợp lý vì sự biểu lộ của phương diện Vishnu bắt đầu thấp hơn một cõi so với phương diện Brahma.

333. Why should the Brahma aspect be more elevated than the second or Vishnu aspect? Perhaps because Vishnu began the process later than Brahma, and because the Primordial Ray is ‘older’ than the Divine Ray.

333. Tại sao phương diện Brahma lại cao hơn phương diện thứ hai hay phương diện Vishnu? Có lẽ vì Vishnu bắt đầu tiến trình muộn hơn Brahma, và vì Cung Nguyên Sơ “cổ xưa” hơn Cung Thiêng Liêng.

shining through the causal vehicles of the egoic groups.

chiếu sáng qua các vận cụ nguyên nhân của các nhóm chân ngã.

334. The relation of the second aspect to the causal groups is given. The Vishnu aspect shines through the causal vehicles of the egoic groups.

334. Mối liên hệ của phương diện thứ hai với các nhóm nguyên nhân đã được nêu ra. Phương diện Vishnu chiếu sáng qua các vận cụ nguyên nhân của các nhóm chân ngã.

335. We could wonder whether the Solar Angels can be considered aspects of the Vishnu aspect.

335. Chúng ta có thể tự hỏi liệu các Thái dương Thiên Thần có thể được xem là các phương diện của phương diện Vishnu hay không.

336. We must bear in mind that all Three Persons of the Logoic Trinity have three aspects. There is a tendency to think of them mono-dimensionally instead of ‘tri-dimensionally’.

336. Chúng ta phải ghi nhớ rằng cả Ba Ngôi/Tam Vị của Tam Vị Logoic đều có ba phương diện. Có một khuynh hướng nghĩ về Các Ngài theo một chiều thay vì theo “ba chiều”.

Only two and a half planes then remain through which the fire by friction aspect may manifest,

Khi ấy chỉ còn lại hai cõi rưỡi mà qua đó phương diện Lửa ma sát có thể biểu lộ,

337. The fire by friction aspect of the Vishnu aspect is meant. Each of the major divine aspect has its electric fire, solar fire and fire by friction aspects.

337. Ở đây muốn nói đến phương diện Lửa ma sát của phương diện Vishnu. Mỗi phương diện thiêng liêng lớn đều có các phương diện Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát của riêng nó.

eighteen subplanes in all which concern the third aspect of the second Person of the logoic Trinity.

tổng cộng là mười tám cõi phụ liên quan đến phương diện thứ ba của Ngôi Vị thứ hai của Tam Vị logoic.

338. We are definitely speaking of the “second Person of the logoic Trinity”.

338. Chúng ta rõ ràng đang nói về “Ngôi Vị thứ hai của Tam Vị logoic”.

339. Eighteen systemic sub-planes represent the “second Person of the logoic Trinity” whereas twenty-one sub-planes represent the “third Person of the logoic Trinity”, Brahma—the oldest in terms of manifestation.

339. Mười tám cõi phụ hệ thống biểu thị “Ngôi Vị thứ hai của Tam Vị logoic”, trong khi hai mươi mốt cõi phụ biểu thị “Ngôi Vị thứ ba của Tam Vị logoic”, Brahma—Đấng cổ xưa nhất xét theo biểu hiện.

340. Given the different ways of expression for Brahma and Vishnu, it is easy to associate Brahma closely with the Solar Logos (as a whole) and Vishnu with the Planetary Logoi Who are Dragons of Wisdom—‘Dragons of Love’.

340. Với những cách biểu hiện khác nhau của Brahma và Vishnu, thật dễ liên kết Brahma chặt chẽ với Thái dương Thượng đế (như một toàn thể) và Vishnu với các Hành Tinh Thượng Đế là những Rồng Minh Triết—“Rồng Bác Ái”.

341. Yet, of course, from another perspective, the Solar Logos, as a whole, is Vishnu in a larger context—so identified is He with the principle of Love.

341. Tuy nhiên, dĩ nhiên, từ một góc nhìn khác, Thái dương Thượng đế, như một toàn thể, là Vishnu trong một bối cảnh lớn hơn—Ngài đồng hoá với nguyên khí Bác ái đến mức như thế.

For man, the microcosm, a similar differentiation is possible;

Đối với con người, tiểu thiên địa, một sự biến phân tương tự cũng có thể có;

342. DK has apparently skipped the planar manifestation of the Shiva aspect.

342. Chân sư DK dường như đã bỏ qua sự biểu hiện theo cõi của phương diện Shiva.

343. We can question whether that Person of the Logoic Trinity is even manifesting, as yet, in any way noticeable.

343. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu Ngôi Vị ấy của Tam Vị Logoic có đang biểu hiện, cho đến nay, theo bất kỳ cách nào đáng chú ý hay không.

344. It He were, His central point of manifestation might be even ‘lower’ than that of Vishnu. Would it be upon the systemic astral plane, as Shiva carries the Trident (Neptune) and Neptune is the premier planet of the astral plane—Neptune, “God of the Waters”.

344. Nếu Ngài có, điểm trung tâm biểu hiện của Ngài có thể còn “thấp” hơn cả của Vishnu. Liệu nó có ở trên cõi cảm dục hệ thống hay không, vì Shiva mang Cây Đinh Ba (Sao Hải Vương) và Sao Hải Vương là hành tinh hàng đầu của cõi cảm dục—Sao Hải Vương, “Thượng đế của Nước”.

His Monad can be studied in its threefold essence on its own plane,

Chân thần của y có thể được nghiên cứu trong tinh túy tam phân của nó trên cõi riêng của nó,

345. We are speaking of Will, Wisdom and Activity represented conventionally by an equilateral triangle on some charts.

345. Chúng ta đang nói đến Ý Chí, Minh triết và Hoạt động, được biểu thị theo quy ước bằng một tam giác đều trên một số biểu đồ.

his egoic aspect likewise,

phương diện chân ngã của y cũng vậy,

346. Here we speak of two triplicities:

346. Ở đây chúng ta nói đến hai bộ ba:

a. If the “egoic aspect” is considered the spiritual triad, we have atma, buddhi and manas

a. Nếu “phương diện chân ngã” được xem là Tam Nguyên Tinh Thần, chúng ta có atma, Bồ đề và manas

b. If the “egoic aspect” is more confined and considered to occupy only the sub-planes of the higher mental plane, we shall have the sacrifice petals, the love petals and the knowledge petals

b. Nếu “phương diện chân ngã” bị giới hạn hơn và được xem là chỉ chiếm các cõi phụ của Cõi thượng trí, chúng ta sẽ có các cánh hoa hi sinh, các cánh hoa bác ái và các cánh hoa tri thức

and the Brahma aspect of the Ego is found within the permanent atoms.

và phương diện Brahma của chân ngã được tìm thấy trong các nguyên tử trường tồn.

347. We are speaking of the lower permanent atoms or the two lowest permanent atom and the mental unit.

347. Chúng ta đang nói đến các nguyên tử trường tồn thấp hơn hay hai nguyên tử trường tồn thấp nhất và đơn vị hạ trí.

348. We always seem to witness a sevenfold or ninefold demonstration of any E/entity.

348. Chúng ta dường như luôn chứng kiến một sự biểu lộ thất phân hay cửu phân của bất kỳ Thực thể nào.

349. We should be aware that a wonderful exposition of the planar expression of the Grand Heavenly Man, the Heavenly Man and man has been offered in the foregoing sections of text.

349. Chúng ta nên nhận thức rằng một sự trình bày tuyệt vời về biểu hiện theo cõi của Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, Đấng Thiên Nhân và con người đã được cống hiến trong các phần văn bản vừa qua.

Students should therefore study with care:

Vì vậy, các đạo sinh nên nghiên cứu cẩn trọng:

1. The Planes. The manifestation of Brahma, the third or substance aspect, and should apply to this Entity the same triple constitution as is apparent in the other two.

1. Các Cõi. Sự biểu hiện của Brahma, phương diện thứ ba hay phương diện chất liệu, và nên áp dụng cho Thực thể này cùng một cấu tạo tam phân như điều hiển nhiên nơi hai Ngôi Vị kia.

350. The importance of the nine when considering the Three Persons of the Logoic Trinity is suggested.

350. Tầm quan trọng của con số chín khi xét Ba Ngôi/Tam Vị của Tam Vị Logoic được gợi ra.

The planes of electric fire, the planes of his lower nature, and the point of blazing forth or conflagration for him (the etheric centres) must be carefully studied. Brahma is the positive life of matter; He is the revelation of substance and the blaze that can be seen.

Các cõi của Lửa Điện, các cõi của bản chất thấp của ngài, và điểm bừng cháy hay bốc lửa của ngài (các trung tâm dĩ thái) phải được nghiên cứu cẩn trọng. Brahma là sự sống dương của vật chất; Ngài là sự mặc khải của chất liệu và ngọn lửa rực có thể được nhìn thấy.

351. Brahma has a “triple constitution” as do the other two Persons of the Logoic Trinity.

351. Brahma có một “cấu tạo tam phân” như hai Ngôi Vị kia của Tam Vị Logoic.

352. His three planes of electric fire are the logoic, monadic and atmic sub-planes.

352. Ba cõi Lửa Điện của Ngài là các cõi phụ logoic, chân thần và atma.

353. The lower three planes are the planes of His lower nature

353. Ba cõi thấp hơn là các cõi của bản chất thấp của Ngài

354. The buddhic plane is the plane of His blazing forth as a conflagration.

354. Cõi Bồ đề là cõi của sự bùng phát rực cháy của Ngài như một đám đại hỏa hoạn.

355. Here are excellent and unusual definitions of Brahma:

355. Ở đây có những định nghĩa tuyệt hảo và khác thường về Brahma:

a. Brahma is the positive life of matter

a. Brahma là sự sống dương của vật chất

b. Brahma is the revelation of substance

b. Brahma là sự mặc khải của chất liệu

c. Brahma is the blaze that can be seen

c. Brahma là ngọn lửa rực có thể được nhìn thấy

356. Light is associated not only with the second aspect of divinity but with the third. In this case, Brahma is the blaze of light.

356. Ánh sáng không chỉ liên kết với phương diện thứ hai của thiên tính mà còn với phương diện thứ ba. Trong trường hợp này, Brahma là ngọn lửa rực của ánh sáng.

357. We note that Brahma is not matter per se, but is the positive “life of matter”. The Holy Spirit is the “positive life of matter”.

357. Chúng ta lưu ý rằng Brahma không phải là vật chất per se, mà là “sự sống dương của vật chất”. Chúa Thánh Thần là “sự sống dương của vật chất”.

358. Brahma’s life may be particularly connected with the seven or forty-nine planes but Vishnu (or the second Person) also manifests through the planes—through beginning with a lower plane.

358. Sự sống của Brahma có thể đặc biệt liên hệ với bảy hay bốn mươi chín cõi, nhưng Vishnu (hay Ngôi thứ hai) cũng biểu hiện qua các cõi—khởi đầu qua một cõi thấp hơn.

2. Vibration. The manifestation of the second aspect.

2. Rung động. Sự biểu hiện của phương diện thứ hai.

359. How interesting that the second aspect or Person of the Logoic Trinity should be associated with vibration! In every vibration there is an oscillation and hence, a duality corresponding to the number two of the second aspect.

359. Thật thú vị biết bao khi phương diện hay Ngôi thứ hai của Tam Vị Logoic lại được liên kết với rung động! Trong mọi rung động đều có một sự dao động và do đó, có một nhị nguyên tính tương ứng với số hai của phương diện thứ hai.

360. That Fundamental of the Secret Doctrine called the Law of Periodicity is, if we think about it, akin to the Law of Vibration.

360. Điều Căn Bản trong Giáo Lý Bí Nhiệm được gọi là Định luật Chu Kỳ, nếu chúng ta suy nghĩ về nó, thì tương cận với Định luật Rung Động.

361. Vulcan is connected with the Law of Vibration. Vulcan is not only a first ray planet, but still more deeply may be connected with the second ray and with the “Heart of the Sun”.

361. Vulcan có liên hệ với Định luật Rung Động. Vulcan không chỉ là một hành tinh cung một, mà sâu xa hơn nữa còn có thể liên hệ với cung hai và với “Trái Tim của Mặt Trời”.

These vibrations of consciousness are the major three words which are the sumtotal of egoic life, the minor three which govern the third aspect of the Ego, and the chord of at-one-ment which is that which is sounding forth now.

Những rung động của tâm thức này là ba linh từ chính yếu, là tổng thể của sự sống chân ngã, ba linh từ phụ chi phối phương diện thứ ba của Chân ngã, và hợp âm của sự hợp nhất, tức điều hiện đang được xướng lên.

362. That which is given above is again of a very occult nature.

362. Điều được nêu ở trên lại mang bản chất rất huyền bí.

363. Always the second aspect is associated with the Word or with words in general (although the speaking of words is associated with the third aspect). We have been told of six words (three which are major and three minor). They all seem to be confined within the Ego—even the final “chord of at-one-ment”.

363. Phương diện thứ hai luôn luôn được liên kết với Linh từ hay với các từ nói chung (mặc dù việc nói ra các từ lại liên hệ với phương diện thứ ba). Chúng ta đã được cho biết về sáu từ (ba từ chính yếu và ba từ phụ). Tất cả dường như đều bị giới hạn trong Chân ngã—ngay cả “hợp âm của sự hợp nhất” sau cùng.

364. The “chord of at-one-ment” sounding forth in the Ego is a reflection of the buddhic energy, for the buddhic plane is the “plane of harmony”, and buddhi is the at-one-ing energy.

364. “Hợp âm của sự hợp nhất” đang vang lên trong Chân ngã là một phản ánh của năng lượng Bồ đề, vì cõi Bồ đề là “cõi của hòa điệu”, và buddhi là năng lượng hợp nhất.

365. What really, are “vibrations of consciousness”? Does consciousness vibrate? Or do vibrations within the substance aspect of divinity provide for the reception of different kinds of consciousness?

365. Thực sự thì “rung động của tâm thức” là gì? Tâm thức có rung động chăng? Hay các rung động bên trong phương diện chất liệu của thiên tính tạo điều kiện cho việc tiếp nhận những loại tâm thức khác nhau?

366. Words, of course, are formed of differing kinds of vibrations and have a profound effect within substance. Different words open portals for the reception of various qualities and into spheres of consciousness.

366. Dĩ nhiên, các từ được cấu thành từ những loại rung động khác nhau và có một tác động sâu xa bên trong chất liệu. Những từ khác nhau mở ra các cánh cổng để tiếp nhận những phẩm tính khác nhau và đi vào các khối cầu tâm thức.

367. The soul has sixteen potencies. Sixteen reduces to seven and so these sixteen may be expressed as seven words. The number sixteen relates to the throat center (of sixteen petals) through which words are sounded—with magical effect (hence the seven).

367. Linh hồn có mười sáu tiềm năng. Mười sáu quy về bảy, và vì thế mười sáu tiềm năng này có thể được biểu đạt thành bảy từ. Số mười sáu liên hệ với trung tâm cổ họng (gồm mười sáu cánh hoa), qua đó các từ được xướng lên—với hiệu quả huyền thuật (do đó là số bảy).

The three aspects of Spirit as they are seen can only be expressed in terms of the other two in this solar system, and of their nature extra-systemically nought can profitably be said at this stage of cognition.

Ba phương diện của tinh thần như chúng được thấy chỉ có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ của hai phương diện kia trong hệ mặt trời này, và về bản chất của chúng ngoài hệ thì ở giai đoạn nhận thức này không thể nói gì một cách hữu ích.

368. We might have wondered about the planar expression of the “first Person of the Logoic Trinity”, but DK tells us that we cannot locate that expression, since the first aspect expresses, at this time, through the other two.

368. Chúng ta có thể đã tự hỏi về sự biểu đạt theo cõi của “Ngôi thứ nhất của Tam Vị Logoic”, nhưng Chân sư DK cho chúng ta biết rằng chúng ta không thể định vị sự biểu đạt đó, vì phương diện thứ nhất hiện nay biểu hiện qua hai phương diện kia.

369. If we look for the extra-systemic source of the highest aspect we shall also not detect it. Perhaps one of the great constellations in the One About Whom Naught May Be Said would be the source. It is not important to have these answers at this point in our development.

369. Nếu chúng ta tìm kiếm nguồn gốc ngoài hệ của phương diện cao nhất, chúng ta cũng sẽ không phát hiện được nó. Có lẽ một trong những chòm sao lớn trong Đấng Bất Khả Tư Nghị sẽ là nguồn gốc. Ở điểm này trong sự phát triển của chúng ta, có được những câu trả lời ấy không phải là điều quan trọng.

370. However, two possible Sources of this Spirit or Shiva energy are that particular Solar Logos in the Seven Solar Systems of Which Ours is One, Who expresses the first ray, and that constellation in the One About Whom Naught May Be Said through which the first ray expresses—probably the Great Bear, considered in its entirety.

370. Tuy nhiên, hai Nguồn có thể có của năng lượng Tinh thần hay Shiva này là Thái dương Thượng đế đặc biệt ấy trong Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một, Đấng biểu hiện cung một, và chòm sao trong Đấng Bất Khả Tư Nghị qua đó cung một biểu hiện—có lẽ là Đại Hùng Tinh, được xét trong toàn thể của nó.

The above thoughts upon the planes, and the ninefold nature of all that is, take one into regions as yet almost beyond the grasp of man;

Những tư tưởng trên về các cõi, và về bản chất cửu phân của mọi sự hiện hữu, đưa con người vào những miền mà hiện còn gần như vượt ngoài tầm nắm bắt của con người;

371. With this we can agree!

371. Về điều này chúng ta có thể đồng ý!

372. We have taken note, have we not, of the Tibetan’s attempt to clarify the “ninefold nature of all that it”? Every triplicity is subdivisible into three sections of threes. The matter is complicated (especially as we begin to sense the relativity of planes and sub-planes through which the nine divisions may express), but there is no use evading acknowledgment of the complexity.

372. Chúng ta đã lưu ý, phải không, đến nỗ lực của Chân sư Tây Tạng nhằm làm sáng tỏ “bản chất cửu phân của mọi sự hiện hữu”? Mỗi bộ ba đều có thể được phân chia thành ba phần của ba. Vấn đề này phức tạp (đặc biệt khi chúng ta bắt đầu cảm nhận tính tương đối của các cõi và cõi phụ qua đó chín phân bộ có thể biểu hiện), nhưng không ích gì khi né tránh việc thừa nhận sự phức tạp ấy.

373. The Three Persons of the Logoic Trinity are ever active and it would be well for us to understand the fields or dimensions through which they express, affecting as they do the microcosm.

373. Ba Ngôi của Tam Vị Logoic luôn luôn hoạt động, và sẽ là điều tốt cho chúng ta nếu thấu hiểu các trường hay các chiều kích qua đó các Ngài biểu hiện, vì các Ngài tác động đến tiểu thiên địa.

yet only when the substance [Page 524] aspect is studied by the scientist in its triple nature will truth be approximated, and the true nature of electrical phenomena be comprehended;

nhưng chỉ khi phương diện [Page 524] chất liệu được nhà khoa học nghiên cứu trong bản chất tam phân của nó thì chân lý mới được tiếp cận, và bản chất đích thực của các hiện tượng điện mới được thấu hiểu;

374. We recall that in order to understand electrical phenomena, the seven planes must be subdivided into three parts according to the model, 3—1—3.

374. Chúng ta nhớ rằng để hiểu các hiện tượng điện, bảy cõi phải được phân chia thành ba phần theo mô hình 3—1—3.

375. Electrical phenomena arise from an essential cosmic division which is in process of attempting to reunite. This attempted reunion is the cause of all electrical interplay.

375. Các hiện tượng điện phát sinh từ một sự phân chia vũ trụ cốt yếu đang trong tiến trình cố gắng tái hợp nhất. Chính nỗ lực tái hợp này là nguyên nhân của mọi tương tác điện.

376. It is quite astonishing to realize how closely electrical phenomena are related to the second ray—the ray which under the Law of Attraction reunites the apparently separated poles.

376. Thật hết sức đáng kinh ngạc khi nhận ra các hiện tượng điện liên hệ chặt chẽ đến mức nào với cung hai—cung mà dưới Định luật Hấp Dẫn tái hợp nhất các cực dường như bị tách rời.

then and only then will electricity be harnessed and utilised by man as a unity, and not just in one of its aspects as at present;

khi đó và chỉ khi đó điện mới được con người chế ngự và sử dụng như một nhất thể, chứ không chỉ trong một phương diện của nó như hiện nay;

377. The aspect presently utilized is the third aspect related to fire by friction.

377. Phương diện hiện đang được sử dụng là phương diện thứ ba liên hệ với lửa ma sát.

the negative electricity of the planet is all that is as yet contacted for commercial purposes.

điện âm của hành tinh là tất cả những gì cho đến nay được tiếp xúc vì các mục đích thương mại.

378. We see how far we have to go. However, developments concerning radioactive substances have begun to make the result of positive electricity available for commercial use. The many atomic power plants which generate electricity have expanded man’s use of electricity.

378. Chúng ta thấy mình còn phải đi xa đến đâu. Tuy nhiên, những phát triển liên quan đến các chất phóng xạ đã bắt đầu làm cho kết quả của điện dương trở nên khả dụng cho việc sử dụng thương mại. Nhiều nhà máy điện nguyên tử phát điện đã mở rộng việc sử dụng điện của con người.

379. As the Tibetan has stated however, that aspect of electricity which relates to solar fire or “mental fire” is still not understood or utilized, nor will it be for a long time.

379. Tuy nhiên, như Chân sư Tây Tạng đã nói, phương diện điện liên hệ với Lửa Thái dương hay “lửa của trí tuệ” vẫn chưa được hiểu hay sử dụng, và còn lâu nữa mới được như vậy.

It must be remembered that this term is used in the sense of negative in relation to solar electricity.

Cần nhớ rằng thuật ngữ này được dùng theo nghĩa âm tính trong tương quan với điện mặt trời.

380. There is, apparently a type of electricity based on solar fire about which DK has said just a little. With the emergence of the soul of humanity some fuller idea of this type of electricity will probably also emerge.

380. Hiển nhiên có một loại điện dựa trên Lửa Thái dương mà Chân sư DK chỉ nói rất ít. Cùng với sự xuất hiện của linh hồn của nhân loại, có lẽ một ý niệm đầy đủ hơn về loại điện này cũng sẽ xuất hiện.

When man has found out how to contact and utilise positive solar electricity in combination with negative planetary electricity, we shall have a very dangerous condition brought about, and one of the factors which will eventually manifest in the destruction of the fifth root race by fire.

Khi con người đã khám phá ra cách tiếp xúc và sử dụng điện mặt trời dương kết hợp với điện hành tinh âm, chúng ta sẽ có một tình trạng hết sức nguy hiểm được tạo ra, và đó sẽ là một trong những yếu tố cuối cùng biểu hiện trong sự hủy diệt giống dân gốc thứ năm bằng lửa.

381. At one point we are told that there will be an “attempt” to destroy the fifth root race by fire:

381. Ở một chỗ chúng ta được cho biết rằng sẽ có một “nỗ lực” nhằm hủy diệt giống dân gốc thứ năm bằng lửa:

Those who seek to evoke the Shamballa force are approaching close to the energy of fire. Fire is the symbol and the quality of the mental plane. Fire is an aspect of the divine nature. Fire was an outstanding aspect [Page 587] of the war. Fire is produced by physical means and the aid of the mineral kingdom and this was the great menacing and chosen means of destruction in this war. This is a fulfilment of the ancient prophecy that the attempt to destroy the Aryan race will be by means of fire, just as ancient Atlantis was destroyed by water. But, fiery goodwill and the conscious focussed use of the Shamballa force can counter fire by fire and this must be done. (TCF 586-587)

Những ai tìm cách gợi lên lực Shamballa đang tiến rất gần đến năng lượng của lửa. Lửa là biểu tượng và phẩm tính của cõi trí. Lửa là một phương diện của bản chất thiêng liêng. Lửa là một phương diện nổi bật [Page 587] của chiến tranh. Lửa được tạo ra bằng các phương tiện hồng trần và với sự trợ giúp của giới kim thạch, và đây là phương tiện hủy diệt lớn lao, đe dọa và được chọn trong cuộc chiến này. Đây là sự ứng nghiệm của lời tiên tri cổ xưa rằng nỗ lực hủy diệt nhân loại Arya sẽ được thực hiện bằng lửa, cũng như Atlantis xưa đã bị hủy diệt bởi nước. Nhưng, thiện chí rực lửa và việc sử dụng có ý thức, tập trung lực Shamballa có thể lấy lửa chống lửa, và điều này phải được thực hiện. (TCF 586-587)

382. We must determine whether this “attempt” has already occurred in relation to the combined first and second world wars or whether a further “attempt” is yet to come. We must realize that as TCF was published in 1925, the reference, “in this war” must have signified the First World War.

382. Chúng ta phải xác định xem “nỗ lực” này đã xảy ra rồi liên hệ đến sự kết hợp của Thế chiến thứ nhất và thứ hai hay chưa, hay một “nỗ lực” khác vẫn còn ở phía trước. Chúng ta phải nhận ra rằng vì TCF được xuất bản năm 1925, nên lời dẫn chiếu “trong cuộc chiến này” hẳn phải có nghĩa là Thế chiến thứ nhất.

383. It would obviously be better for humanity if the “attempt” had already passed—unsuccessfully.

383. Hiển nhiên sẽ tốt hơn cho nhân loại nếu “nỗ lực” ấy đã qua đi—mà không thành công.

384. Will the fifth root race be destroyed by fire? From the statements above it certainly seems so. Will this occur any time soon? It is probable that the sixth root race must be well into its development before any such destruction will occur.

384. Giống dân gốc thứ năm có bị hủy diệt bởi lửa không? Từ những phát biểu trên, điều đó chắc chắn dường như là vậy. Điều này có xảy ra sớm không? Có lẽ giống dân gốc thứ sáu phải tiến khá xa trong sự phát triển của nó trước khi bất kỳ sự hủy diệt nào như thế xảy ra.

385. In relation to this destruction we cannot be talking about the "Judgment Day" because that is to occur in the middle of the next round which will possess an entirely new root race structure.

385. Liên hệ đến sự hủy diệt này, chúng ta không thể đang nói về “Ngày Phán Xét”, vì điều đó sẽ xảy ra vào giữa cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn sẽ có một cấu trúc giống dân gốc hoàn toàn mới.

386. What is the nature of “positive solar electricity”? It does not seem that DK means solar fire. Could He mean a type of solar fire by friction which relates to the prana and the etheric planes? Would we tend to call this “positive solar electricity” by the name “electric fire”? Clearly there is some obscurity around the matter and we are in no position to lift the veil.

386. Bản chất của “điện mặt trời dương” là gì? Dường như Chân sư DK không có ý nói Lửa Thái dương. Liệu Ngài có thể muốn nói đến một loại lửa ma sát mặt trời liên hệ với prana và các cõi dĩ thái chăng? Chúng ta có xu hướng gọi “điện mặt trời dương” này bằng tên “Lửa Điện” chăng? Rõ ràng có một sự mơ hồ nào đó quanh vấn đề này và chúng ta không ở vị thế để vén màn.

387. Is the danger DK is referring to related to the harnessing of ever greater power from the Sun?

387. Mối nguy mà Chân sư DK đang nói đến có liên hệ với việc khai thác ngày càng nhiều quyền năng từ Mặt Trời chăng?

388. We might think of the role of “fiery goodwill” in relation to the dangerous union of “positive solar fire” and “negative planetary electricity”.

388. Chúng ta có thể nghĩ đến vai trò của “thiện chí rực lửa” liên hệ với sự kết hợp nguy hiểm giữa “lửa mặt trời dương” và “điện hành tinh âm”.

At that great cataclysm—as the Bible says "the Heavens will melt with fervent heat."70 [Bible. II Peter, 3:10.]

Vào đại biến động ấy—như Kinh Thánh nói “các tầng trời sẽ tan chảy vì sức nóng dữ dội.”70 [Bible. II Peter, 3:10.]

389. We learn from what follows that this melting will occur at the end of the fifth root race of the present round.

389. Từ điều tiếp theo, chúng ta biết rằng sự tan chảy này sẽ xảy ra vào cuối giống dân gốc thứ năm của cuộc tuần hoàn hiện tại.

This will be seen in a still greater degree in the next round, and will cause that destruction by fire of the forms of the men who have failed, which will liberate the lives on a stupendous scale, and thus temporarily 'purify' the Earth from elements which would tend to hinder the evolutionary process.

Điều này sẽ còn được thấy ở một mức độ lớn hơn nữa trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, và sẽ gây ra sự hủy diệt bằng lửa đối với các hình tướng của những người đã thất bại, điều sẽ giải thoát các sự sống trên một quy mô khổng lồ, và như thế tạm thời “thanh lọc” Trái Đất khỏi những yếu tố có xu hướng cản trở tiến trình tiến hoá.

390. We have been told that two-fifths of humanity will go into a temporary pralaya at that time and later be transferred to another planet.

390. Chúng ta đã được cho biết rằng hai phần năm nhân loại sẽ đi vào một giai kỳ qui nguyên tạm thời vào lúc đó và sau này được chuyển sang một hành tinh khác.

391. Here we hear that the destruction of their forms will facilitate that entry into pralaya.

391. Ở đây chúng ta nghe rằng sự hủy diệt các hình tướng của họ sẽ tạo điều kiện cho việc đi vào giai kỳ qui nguyên ấy.

392. The lesser destruction at the end of the fifth root race of this fourth round will be the anticipatory prelude to a far greater destruction of forms at the "Judgment Day".

392. Sự hủy diệt nhỏ hơn vào cuối giống dân gốc thứ năm của cuộc tuần hoàn thứ tư này sẽ là khúc dạo đầu báo trước cho một sự hủy diệt hình tướng lớn lao hơn nhiều vào “Ngày Phán Xét”.

393. Those who are not “on the Path” at the time of the "Judgment Day" in the next round will have failed.

393. Những ai không “ở trên Con Đường” vào thời điểm “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn kế tiếp sẽ là những kẻ đã thất bại.

As the cycles pass away, the balancing of these fiery currents will be gradually brought about, and will result in a planetary condition of harmony, and of esoteric equality, which will provide ideal environment for harmonious man.

Khi các chu kỳ trôi qua, sự quân bình của các dòng lửa này sẽ dần dần được thực hiện, và sẽ dẫn đến một tình trạng hành tinh của hòa điệu, và của sự bình đẳng huyền bí, điều sẽ cung cấp môi trường lý tưởng cho con người hài hòa.

394. We have been told of the great development in humanity which will occur following the "Judgment Day". It would seem that the buddhic quality will emerge in strength bringing with it the quality of harmony.

394. Chúng ta đã được cho biết về sự phát triển lớn lao trong nhân loại sẽ xảy ra sau “Ngày Phán Xét”. Dường như phẩm tính Bồ đề sẽ xuất hiện mạnh mẽ, mang theo phẩm tính hòa điệu.

395. It is important to realize the connection of the number five with fire. Usually it is the first ray which is associated with fire, but the fifth ray is a primary conduit into the first ray.

395. Điều quan trọng là nhận ra mối liên hệ của số năm với lửa. Thông thường cung một được liên kết với lửa, nhưng cung năm là một kênh dẫn chính yếu đi vào cung một.

396. The production of “harmonious man” would seem to relate to the emergence in power of the buddhic principle (the sixth principle) after the "Judgment Day" in the fifth round.

396. Việc tạo ra “con người hài hòa” dường như liên hệ với sự xuất hiện đầy quyền năng của nguyên khí Bồ đề (nguyên khí thứ sáu) sau “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm.

397. Yet, even in our fourth round (and before so very long, due to the coming in the fourth ray in its monadic aspect) a period of planetary “peace” is predicted. This will be a anticipatory ‘reflection’ of the greater peace to follow the "Judgment Day" in the fifth round.

397. Tuy nhiên, ngay cả trong cuộc tuần hoàn thứ tư của chúng ta (và không còn quá lâu nữa, do sự xuất hiện của cung bốn trong phương diện chân thần của nó), một thời kỳ “hòa bình” hành tinh đã được tiên đoán. Đây sẽ là một “phản ánh” báo trước của nền hòa bình lớn hơn sẽ theo sau “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm.

Only when the soul aspect is studied by the psychologist in its threefold essential nature will the mystery of consciousness become apparent, and the nature of the three magnetic groups, in their various subdivisions with their consequent effectual radiation become a factor in the public life.

Chỉ khi phương diện linh hồn được nhà tâm lý học nghiên cứu trong bản chất cốt yếu tam phân của nó thì huyền nhiệm của tâm thức mới trở nên hiển nhiên, và bản chất của ba nhóm từ tính, trong các phân bộ khác nhau của chúng cùng với sự bức xạ hữu hiệu kéo theo, mới trở thành một yếu tố trong đời sống công cộng.

398. We have turned our focus to man’s psyche. DK seems to be speaking of the study of three main groups of human beings characterized by the three Rays of Aspect. These, it would seem, are the three magnetic groups.

398. Chúng ta đã chuyển trọng tâm sang tâm lý con người. Chân sư DK dường như đang nói về việc nghiên cứu ba nhóm người chính được đặc trưng bởi Ba Cung Trạng Thái. Dường như đây là ba nhóm từ tính.

399. This section deals with the necessity for the balancing of forces and for the union of three types of electricity: positive, negative and neutral.

399. Phần này bàn đến sự cần thiết của việc quân bình các mãnh lực và sự hợp nhất của ba loại điện: dương, âm và trung hòa.

400. Obviously, when considering electricity in terms of microcosmic development, an understanding of the three major types of human being and the magnetic conditions which characterize them will be of great value.

400. Hiển nhiên, khi xem xét điện theo phương diện phát triển tiểu thiên địa, sự thấu hiểu ba loại người chính và các điều kiện từ tính đặc trưng cho họ sẽ có giá trị lớn.

This concerns itself with the definite development of the psyche under law, with the scientific expansion of the consciousness, and will eventually bring about conditions wherein the work, preliminary to the first initiation, will be purely exoteric, and no longer[Page 525] part of an esoteric process.

Điều này liên quan đến sự phát triển xác định của tâm lý dưới định luật, đến sự mở rộng tâm thức một cách khoa học, và cuối cùng sẽ mang lại những điều kiện trong đó công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất sẽ hoàn toàn là ngoại môn, và không còn[Page 525] là một phần của tiến trình nội môn nữa.

401. We are moving into just such a period—one in which the work preliminary to the first initiation is on the verge of becoming exoterically revealed.

401. Chúng ta đang tiến vào đúng một thời kỳ như thế—một thời kỳ trong đó công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất đang ở ngưỡng được tiết lộ một cách ngoại môn.

402. This possibility will represent a considerable deepening in humanity’s understanding of the human psyche, especially in relation to its potential spiritual dimensions.

402. Khả năng này sẽ biểu thị một sự đào sâu đáng kể trong sự hiểu biết của nhân loại về tâm lý con người, đặc biệt liên hệ đến các chiều kích tinh thần tiềm tàng của nó.

403. Yet, we could question here, whether by the term “first initiation” DK really means the third, for the work preceding the third initiation is really an “esoteric process” and that preceding the planetary first initiation may not be considered truly esoteric.

403. Tuy nhiên, ở đây chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu với thuật ngữ “lần điểm đạo thứ nhất”, Chân sư DK có thực sự muốn nói đến lần điểm đạo thứ ba hay không, vì công việc đi trước lần điểm đạo thứ ba thực sự là một “tiến trình nội môn”, còn công việc đi trước lần điểm đạo thứ nhất của hành tinh có thể không được xem là thực sự nội môn.

404. Of course there is all manner of subjective work preceding even the first planetary initiation, and it may be to such work that DK is referring.

404. Dĩ nhiên có đủ mọi loại công việc chủ quan đi trước ngay cả lần điểm đạo thứ nhất của hành tinh, và có thể Chân sư DK đang nói đến chính loại công việc ấy.

In due course of time, it will be found that the self-induced efforts whereby a man consciously prepares his centres for the application of the Rod of Initiation at the first Initiation, will be the subject of books, and of lectures, and form part of the ordinary thought of the masses.

Đến đúng thời điểm, người ta sẽ phát hiện rằng những nỗ lực do chính mình khởi phát, nhờ đó một người chuẩn bị các trung tâm của mình một cách có ý thức cho việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo vào lần điểm đạo thứ nhất, sẽ là đề tài của sách vở, của các bài giảng, và sẽ trở thành một phần của tư tưởng thông thường của quần chúng.

405. Here, the inference is that the “first initiation” under discussion is, indeed, the planetary first initiation.

405. Ở đây, hàm ý là “lần điểm đạo thứ nhất” đang được bàn đến quả thực là lần điểm đạo thứ nhất của hành tinh.

406. May we expect that this will occur during the Aquarian Age? The possibility seems definite, as the intensifying Aquarian and seventh ray energies may well put the Christ (Who is the Initiator for the first two initiations) in a position to administer these initiations exoterically.

406. Chúng ta có thể mong đợi điều này xảy ra trong Kỷ Nguyên Bảo Bình chăng? Khả năng ấy dường như rõ rệt, vì các năng lượng Bảo Bình và cung bảy đang tăng cường rất có thể đặt Đức Christ (Đấng là Đấng Điểm đạo cho hai lần điểm đạo đầu) vào vị thế có thể ban các lần điểm đạo này một cách ngoại môn.

407. We note again that the necessary preparations are to be “self-induced”. This puts the whole matter of preparation in the hands of the potential candidate and reduces the attitude of spiritual dependency.

407. Chúng ta lại lưu ý rằng những chuẩn bị cần thiết phải là “do chính mình khởi phát”. Điều này đặt toàn bộ vấn đề chuẩn bị vào tay ứng viên tiềm năng và làm giảm thái độ lệ thuộc tinh thần.

This again will eventuate in a cleavage between the two groups in the middle of the fifth round.

Điều này một lần nữa sẽ dẫn đến một sự phân rẽ giữa hai nhóm vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm.

408. Now, we have jumped very far head—as if millions of years in the space between two sentences.

408. Giờ đây, chúng ta đã nhảy vọt rất xa về phía trước—như thể hàng triệu năm nằm trong khoảng giữa hai câu.

409. We do know that a major line of demarcation in the fifth round will concern the attitude of the members of these two groups to the Path.

409. Chúng ta quả thật biết rằng một ranh giới phân định lớn trong cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ liên quan đến thái độ của các thành viên thuộc hai nhóm này đối với Con Đường.

It must be remembered that this cleavage will be part of a natural process, and not a drastic ruling, imposed upon an unwilling people.

Cần nhớ rằng sự phân rẽ này sẽ là một phần của một tiến trình tự nhiên, chứ không phải một phán quyết khắc nghiệt áp đặt lên một dân chúng không tự nguyện.

410. Such a ruling would never work. Only that which grows out of man in a natural manner has any chance of enduring. Arbitrary rulings, even if they are well intended, are often overthrown.

410. Một phán quyết như thế sẽ không bao giờ có hiệu quả. Chỉ điều gì phát triển ra từ con người một cách tự nhiên mới có cơ may bền vững. Những phán quyết độc đoán, dù có thiện ý, thường vẫn bị lật đổ.

411. The Masters cannot impose salvation upon man.

411. Các Chân sư không thể áp đặt sự cứu rỗi lên con người.

The KNOWERS and the students of the Knowledge—actuated by group consciousness, and working consciously—will separate themselves in group formation from those who know not, and from those who care not.

Các THỨC GIẢ và các đạo sinh của Minh triết—được thúc đẩy bởi tâm thức nhóm và làm việc một cách có ý thức—sẽ tự tách mình ra trong sự hình thành nhóm khỏi những người không biết, và khỏi những người không quan tâm.

412. In the fifth round group consciousness will be a factual demonstration—not just a theory as so often it is today.

412. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, tâm thức nhóm sẽ là một sự chứng minh thực tế—chứ không chỉ là một lý thuyết như ngày nay thường vẫn vậy.

413. Here, more is said than elsewhere about the consciousness and psychological attitude of those who will go into pralaya in the middle of the fifth round

413. Ở đây, nhiều điều được nói hơn ở nơi khác về tâm thức và thái độ tâm lý của những người sẽ đi vào giai kỳ qui nguyên vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm

This cleavage will be self-induced, and a natural outgrowth of the group life;

Sự phân rẽ này sẽ do chính họ tạo ra, và là một sự tăng trưởng tự nhiên của đời sống nhóm;

414. We are speaking of an emerging discriminative cleavage. We must remember that the fifth ray rules the Law of Cleavages.

414. Chúng ta đang nói về một sự phân rẽ phân biện đang nổi lên. Chúng ta phải nhớ rằng cung năm cai quản Định luật của các Sự Phân Rẽ.

415. During the fifth round the fifth ray will naturally be extremely potent.

415. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, cung năm đương nhiên sẽ cực kỳ mạnh.

416. May we judge that the “middle of the fifth round” (at which time the "Judgment Day" is to occur) will refer to some kind of fifth root race extant on our globe at that time?

416. Chúng ta có thể phán đoán rằng “giữa cuộc tuần hoàn thứ năm” (thời điểm “Ngày Phán Xét” sẽ xảy ra) sẽ chỉ đến một loại giống dân gốc thứ năm nào đó đang hiện hữu trên bầu hành tinh của chúng ta vào lúc ấy chăng?

it will in itself be of a temporary nature for the fundamental aim in view will be the bringing about of an eventual closer merging;

bản thân nó sẽ chỉ có tính chất tạm thời vì mục tiêu căn bản được nhắm đến sẽ là việc cuối cùng đưa đến một sự hòa nhập gần gũi hơn;

417. Those who through developed group process will promote this cleavage will have no selfishness in them. They would be glad for the opportunity to bridge the cleavage that will be caused (to the extent that it would be possible). Yet, we know from the prophecies, that it will not be fully possible.

417. Những ai, thông qua tiến trình nhóm đã phát triển, sẽ thúc đẩy sự phân rẽ này sẽ không có chút ích kỷ nào trong họ. Họ sẽ vui mừng vì có cơ hội bắt cầu qua sự phân rẽ sẽ được gây ra (trong chừng mực điều đó có thể). Tuy nhiên, chúng ta biết từ các lời tiên tri rằng điều đó sẽ không thể hoàn toàn thực hiện được.

418. Those units who cannot respond to the soul impulse and who are not even incipiently group conscious will not have the opportunity to endure on Earth in perpetuity. The destruction of their forms (so we are told) will come about and they will be transferred—into pralaya and eventually to another planet for continued development.

418. Những đơn vị không thể đáp ứng với xung lực linh hồn và thậm chí chưa có tâm thức nhóm ở giai đoạn sơ khởi sẽ không có cơ hội tồn tại trên Trái Đất vĩnh viễn. Sự hủy diệt các hình tướng của họ (như chúng ta được cho biết) sẽ xảy ra và họ sẽ được chuyển đi—vào giai kỳ qui nguyên và cuối cùng đến một hành tinh khác để tiếp tục phát triển.

it will mark primarily the line of demarcation between the lower four Rays of consciousness, and the higher three.

trước hết nó sẽ đánh dấu ranh giới phân định giữa bốn Cung tâm thức thấp hơn và ba Cung cao hơn.

419. This is a very interesting statement. We understand that the higher three rays are closer to the soul state and the lower four rays closer to the states of form.

419. Đây là một phát biểu rất thú vị. Chúng ta hiểu rằng ba cung cao hơn gần với trạng thái linh hồn hơn và bốn cung thấp hơn gần với các trạng thái của hình tướng hơn.

420. Those who will be retained upon the Earth will be merging into the state of soul, characteristic of those upon the Path. Some of the others (some of the remaining two fifths) may be intelligent, but they will not be spiritual.

420. Những ai sẽ được giữ lại trên Trái Đất sẽ đang hòa nhập vào trạng thái linh hồn, đặc trưng cho những người ở trên Con Đường. Một số người khác (một số trong hai phần năm còn lại) có thể thông minh, nhưng họ sẽ không tinh thần.

421. DK has told us elsewhere that the cleavage and the destruction will be considered at that time a great disaster by those who do not know better.

421. Chân sư DK đã nói với chúng ta ở nơi khác rằng sự phân rẽ và sự hủy diệt ấy vào lúc đó sẽ bị những người không hiểu biết xem là một đại thảm họa.

It is also a mystery hid in the relationship between the four exoteric Kumaras,71 [S. D., I, 116, 493; II, 112, 149] and the esoteric three, and from the point of view of man separates those who are developing the consciousness of the Triad from those who as yet are living the life of the Quaternary.

Đó cũng là một huyền nhiệm ẩn giấu trong mối liên hệ giữa bốn Kumaras ngoại môn,71 [S. D., I, 116, 493; II, 112, 149] và ba Kumaras nội môn, và từ quan điểm của con người, phân tách những ai đang phát triển tâm thức của Tam nguyên tinh thần khỏi những ai cho đến nay vẫn đang sống đời sống của Bộ Tứ.

422. Right now only the four exoteric Kumaras are active in relation to the world process (at least in any ways we can hope to understand). All this may change by the time the middle of the fifth round arrives.

422. Hiện nay chỉ có bốn Kumaras ngoại môn là đang hoạt động liên hệ đến tiến trình thế giới (ít nhất theo bất kỳ cách nào mà chúng ta có thể hy vọng hiểu được). Tất cả điều này có thể thay đổi vào lúc giữa cuộc tuần hoàn thứ năm đến nơi.

423. We have yet to establish whether the three esoteric Kumaras are really ‘higher’ than the four exoteric Kumaras, or whether the positions of the exoteric and esoteric kumaras constantly rotate depending upon which rays are to be drawn forth into expression in our planetary scheme or parts of it.

423. Chúng ta vẫn còn phải xác lập xem ba Kumaras nội môn có thực sự “cao hơn” bốn Kumaras ngoại môn hay không, hay các vị trí của các Kumaras ngoại môn và nội môn liên tục xoay vòng tùy theo những cung nào sẽ được rút ra để biểu hiện trong hệ hành tinh của chúng ta hay trong các phần của nó.

424. Here we do seem to be speaking of planetary Kumaras rather than systemic Kumaras manifesting as Planetary Logoi.

424. Ở đây quả thực dường như chúng ta đang nói về các Kumaras hành tinh hơn là các Kumaras hệ thống biểu hiện như các Hành Tinh Thượng Đế.

425. Above we are given the basis on which the great cleavage shall occur. Those who are developing responsiveness to the life of the spiritual triad will be cloven from those who are still thoroughly invested in the quaternary.

425. Ở trên, chúng ta được cho cơ sở trên đó sự phân rẽ lớn sẽ xảy ra. Những ai đang phát triển khả năng đáp ứng với đời sống của Tam Nguyên Tinh Thần sẽ được tách ra khỏi những ai vẫn còn hoàn toàn gắn chặt vào bộ tứ.

426. The three Rays of Aspect naturally correlate with triadal responsiveness and the four Rays of Attribute with the “life of the Quaternary”.

426. Ba Cung Trạng Thái tự nhiên tương quan với khả năng đáp ứng tam nguyên, còn bốn Cung Thuộc Tính thì tương quan với “đời sống của Bộ Tứ”.

It concerns those who respond to the solar Lords, distinguishing them from those who recognise as yet only the control of the lunar Lords.

Điều này liên quan đến những ai đáp ứng với các nhật tinh quân, phân biệt họ với những ai chỉ mới nhận biết sự kiểm soát của các nguyệt tinh quân.

427. The distinction is clear. “Let the applicant see to it that the solar angel dims the light of the lunar angels remaining the sole luminary in the microcosmic sky.” (Rule V for Applicants—IHS)

427. Sự phân biệt này rất rõ. “Hãy để người thỉnh cầu bảo đảm rằng thái dương Thiên Thần làm mờ ánh sáng của các thiên thần thái âm, và vẫn là nguồn sáng duy nhất trên bầu trời tiểu thiên địa.” (Quy luật V cho Người Thỉnh Cầu—IHS)

In terms of Fire: those who warm themselves by means of fire by friction and respond not to the heat of solar fire remain within the cavern, thus living in the dark; whilst those whose being is irradiated by the Sun of Wisdom, and who bask in the rays of solar heat dwell in the light, and enjoy an ever increasing freedom, and vital existence.

Xét theo Lửa: những ai tự sưởi ấmbằng lửa ma sát và không đáp ứng với nhiệt của Lửa Thái dương thì vẫn ở trong hang động, do đó sống trong bóng tối; còn những ai mà bản thể được Mặt Trời Minh Triết chiếu rọi, và tắm mình trong các tia của nhiệt mặt trời thì sống trong ánh sáng, và hưởng một tự do cùng sự sống thiết yếu ngày càng tăng.

428. These words have the ring of the Old Commentary. When thinking of “positive solar electricity” perhaps we do have to think in terms of solar fire!

428. Những lời này mang âm hưởng của Cổ Luận. Khi nghĩ về “điện mặt trời dương”, có lẽ chúng ta quả thật phải nghĩ theo thuật ngữ của Lửa Thái dương!

429. We must determine whether “solar electricity” and “solar fire” are the same.

429. Chúng ta phải xác định xem “điện mặt trời” và “Lửa Thái dương” có phải là một hay không.

430. The great and coming battle (first in the fourth round—and probably, imminently—and later in the fifth) concerns the ongoing conflict between the Sun and the Moon. This will discriminate the developing white magicians from the ‘black’ (even if the ‘black magicians’ are unconsciously black).

430. Trận chiến lớn lao và sắp đến (trước hết trong cuộc tuần hoàn thứ tư—và có lẽ là sắp xảy ra—và sau đó trong cuộc tuần hoàn thứ năm) liên quan đến cuộc xung đột đang tiếp diễn giữa Mặt Trời và Mặt Trăng. Điều này sẽ phân biệt các nhà huyền thuật chánh đạo đang phát triển với những kẻ ‘đen’ (ngay cả nếu các “nhà hắc thuật” ấy là đen một cách vô thức).

431. It would seem that by the time the middle of the fifth round is reached, the Black Lodge will suffer a considerable defeat upon our planet—with three fifths of humanity upon the Path, and only those three fifths remaining for development on our planet.

431. Dường như đến lúc giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, Hắc đoàn sẽ chịu một thất bại đáng kể trên hành tinh chúng ta—với ba phần năm nhân loại ở trên Con Đường, và chỉ ba phần năm ấy còn lại để phát triển trên hành tinh chúng ta.

The true significance of the three aspects of Spirit is only becoming apparent to the initiate of high degree,

Ý nghĩa đích thực của ba phương diện của tinh thần chỉ mới trở nên hiển nhiên đối với điểm đạo đồ cấp cao,

432. By the “three aspects of Spirit” do we mean, Will, Wisdom and Activity?

432. Bởi “ba phương diện của tinh thần”, chúng ta có ý nói Ý Chí, Minh Triết và Hoạt Động chăng?

[Page 526] and cannot be expressed in words, nor comprehended by man before he has passed out of the human kingdom into the spiritual.

[Page 526] và không thể được diễn tả bằng lời, cũng không thể được con người thấu hiểu trước khi y đã vượt ra khỏi giới nhân loại để đi vào giới tinh thần.