← Commentary_S5_465_567 song ngữ

chapter 001 15

Trích nội dung chương

141. There is an implication in all this reasoning—namely, that even an initiate of the fifth degree is not demonstrating the “true nature of Spirit”. This would hold for the human initiate, the planetary logoic Initiate and the solar logoic Initiate. 141. Trong toàn bộ lối suy luận này có một hàm ý—đó là ngay cả một điểm đạo đồ bậc năm cũng chưa biểu lộ “bản chất đích thực của tinh thần”. Điều này đúng đối với điểm đạo đồ nhân loại, điểm đạo đồ hành tinh logoic và điểm đạo đồ thái dương logoic.


141. There is an implication in all this reasoning—namely, that even an initiate of the fifth degree is not demonstrating the “true nature of Spirit”. This would hold for the human initiate, the planetary logoic Initiate and the solar logoic Initiate.

141. Trong toàn bộ lối suy luận này có một hàm ý—đó là ngay cả một điểm đạo đồ bậc năm cũng chưa biểu lộ “bản chất đích thực của tinh thần”. Điều này đúng đối với điểm đạo đồ nhân loại, điểm đạo đồ hành tinh logoic và điểm đạo đồ thái dương logoic.

Therefore in man, functioning in the human family, this fact is apparent and the correspondence to be seen. Until he passes out of the three worlds, and until he becomes a Master of the Wisdom, he has this truth concealed in these three aspects.

Vì vậy, nơi con người, hoạt động trong gia đình nhân loại, sự kiện này là hiển nhiên và có thể thấy được sự tương ứng. Cho đến khi y vượt ra khỏi ba cõi giới, và cho đến khi y trở thành một Chân sư Minh triết, chân lý này vẫn bị che giấu đối với y trong ba phương diện này.

142. When shall pure Spirit be revealed? There is no possibility for this revelation until a man becomes a Master of the Wisdom. Even then, He may have to wait for Chohanship before the complete revelation becomes possible. A Master is still, technically considered, a “man”. A Chohan is not.

142. Khi nào tinh thần thuần túy sẽ được mặc khải? Không có khả năng nào cho sự mặc khải này cho đến khi một người trở thành một Chân sư Minh triết. Ngay cả khi ấy, Ngài có thể còn phải chờ đến Chohanship trước khi sự mặc khải trọn vẹn trở nên khả hữu. Về mặt kỹ thuật, một Chân sư vẫn còn được xem là một “con người”. Một Chohan thì không.

The mental [unit] is not a septenary permanent atom, but only responds to four types of force, and not to the entire range of vibrations.

Đơn vị hạ trí [unit] không phải là một nguyên tử trường tồn thất phân, mà chỉ đáp ứng với bốn loại mãnh lực, chứ không phải với toàn bộ phạm vi rung động.

143. DK is speaking of the limitations of the mental unit.

143. Chân sư DK đang nói về những giới hạn của đơn vị hạ trí.

Herein lies a reason for tolerance.

Chính trong đây có một lý do cho sự khoan dung.

144. The limitations of man because he is a member of the fourth kingdom are evident. He cannot possibly respond rightly to the full range of vibrations impinging upon him.

144. Những giới hạn của con người bởi vì y là một thành viên của giới thứ tư là điều hiển nhiên. Y không thể nào đáp ứng đúng đắn với toàn bộ phạm vi rung động tác động vào mình.

Until a man is coming consciously under the control of the Ego and is beginning to sense the vibration of the manasic permanent atom, it is useless to expect him to respond to certain ideals, or to grasp certain aspects of truth.

Cho đến khi một người bắt đầu một cách hữu thức ở dưới sự kiểm soát của Chân ngã và bắt đầu cảm nhận rung động của nguyên tử trường tồn manas, thì thật vô ích khi mong đợi y đáp ứng với một số lý tưởng nào đó, hoặc nắm bắt một số phương diện nào đó của chân lý.

145. The manasic permanent atom, on the other hand, has a much greater responsive capacity than the mental unit.

145. Mặt khác, nguyên tử trường tồn manas có năng lực đáp ứng lớn hơn nhiều so với đơn vị hạ trí.

146. It may be gathered that when a man does begin to come until the control of the Ego in the causal body, he is also in a position to begin sensing the vibration of the manasic permanent atom. Presumably the antahkarana does not have to be fully built before this sensing (at least) becomes possible.

146. Có thể suy ra rằng khi một người thực sự bắt đầu đi đến dưới sự kiểm soát của Chân ngã trong thể nguyên nhân, thì y cũng ở vào vị thế có thể bắt đầu cảm nhận rung động của nguyên tử trường tồn manas. Có lẽ antahkarana không nhất thiết phải được xây dựng hoàn toàn trước khi sự cảm nhận này (ít nhất là ở mức đó) trở nên khả hữu.

147. We remember that the antahkarana is a triangle and not just a line. That line of energy which connects the center of the egoic lotus to the manasic permanent atom is also considered to be part of the antahkarana.

147. Chúng ta nhớ rằng antahkarana là một tam giác chứ không chỉ là một đường thẳng. Đường năng lượng nối trung tâm của hoa sen chân ngã với nguyên tử trường tồn manas cũng được xem là một phần của antahkarana.

148. The line of energy connecting the personality with the egoic lotus (probably, again, the center of the egoic lotus) is also an aspect of the antahkarana.

148. Đường năng lượng nối phàm ngã với hoa sen chân ngã (có lẽ, một lần nữa, là trung tâm của hoa sen chân ngã) cũng là một phương diện của antahkarana.

The mental unit suffices for his need, and no bridge exists between it and the manasic permanent atom.

Đơn vị hạ trí là đủ cho nhu cầu của y, và không có cây cầu nào tồn tại giữa nó với nguyên tử trường tồn manas.

149. DK is speaking of the strictly personality stage of human development. The preliminary bridge to higher possibilities does not yet exist.

149. Chân sư DK đang nói về giai đoạn phát triển nhân loại thuần túy của phàm ngã. Cây cầu sơ khởi dẫn đến những khả năng cao hơn vẫn chưa tồn tại.

150. Let us reemphasize that there are really two bridges and even three.

150. Chúng ta hãy nhấn mạnh lại rằng thực sự có hai cây cầu và thậm chí là ba.

a. One bridge exists between the mental unit and the Ego on the higher mental plane (and Ego usually located at the time of initial bridge-building on the second sub-plane of the higher mental plane).

a. Một cây cầu tồn tại giữa đơn vị hạ trí và Chân ngã trên Cõi thượng trí (và Chân ngã thường tọa lạc vào thời điểm bắt đầu xây cầu trên cõi phụ thứ hai của Cõi thượng trí).

b. Another bridge exists between the mental unit and the manasic permanent atom.

b. Một cây cầu khác tồn tại giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas.

c. Still another gap which must be bridged lies between the causal body on the second sub-plane of the mental plane and the manasic permanent atom which if found upon the first sub-plane. This is built through the growing capacity for abstract thought.

c. Còn một khoảng cách khác phải được bắt cầu nằm giữa thể nguyên nhân trên cõi phụ thứ hai của cõi trí và nguyên tử trường tồn manas vốn được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất. Điều này được xây dựng thông qua năng lực ngày càng tăng đối với tư duy trừu tượng.

Two and a half planes are concerned with the evolution of man, per se, in the fourth kingdom,

Hai cõi rưỡi liên quan đến sự tiến hoá của chính con người trong giới thứ tư,

151. This equates to eighteen sub-planes. From one perspective, eighteen is the number of the Moon.

151. Điều này tương đương với mười tám cõi phụ. Từ một góc nhìn, mười tám là con số của Mặt Trăng.

and he only begins to transcend them as he nears the Path and treads it.

và y chỉ bắt đầu vượt lên trên chúng khi y tiến gần đến Con Đường và bước đi trên đó.

152. The beginning of the process of treading the Path signals the possibility of transcending the eighteen sub-planes.

152. Sự khởi đầu của tiến trình bước đi trên Con Đường báo hiệu khả năng vượt lên trên mười tám cõi phụ.

153. “Let the group see that all the eighteen fires die down…” (Rule IV for Disciples and Initiates).

153. “Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa đều lắng xuống…” (Quy luật IV dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ).

154. The Path is essentially solar and the nineteenth sub-plane (and those sub-planes beyond) are related to solar expressions.

154. Con Đường về bản chất là thái dương và cõi phụ thứ mười chín (cùng những cõi phụ vượt lên trên đó) có liên hệ với các biểu hiện thái dương.

155. We recall the interesting fact that the eighteenth Tarot card is the “Moon” and the nineteenth is the “Sun”.

155. Chúng ta nhớ lại sự kiện thú vị rằng lá bài Tarot thứ mười tám là “Mặt Trăng” và lá thứ mười chín là “Mặt Trời”.

From the standpoint of average man in physical incarnation, the egoic consciousness, within the causal periphery, is as abstract as is the Logos viewed as the Dweller within the system.

Từ quan điểm của con người trung bình đang lâm phàm trên cõi hồng trần, tâm thức chân ngã, bên trong chu vi nhân thể, trừu tượng cũng như Thượng đế được nhìn như Kẻ Chận Ngõ bên trong hệ vậy.

156. This is a sobering thought and reminds us of the limitations under which most human beings labor.

156. Đây là một ý nghĩ khiến người ta tỉnh táo và nhắc chúng ta về những giới hạn mà phần lớn con người phải lao nhọc dưới đó.

157. There are different kinds of dwellers. The kind of “Dweller” here indicated is an inherent, substanding Life which ‘in-dwells’ and pervades lives, forms and substances within the solar system. It is not at all an obstructive Dweller such as the “Dweller on the Threshold”.

157. Có những loại kẻ chận ngõ khác nhau. Loại “Kẻ Chận Ngõ” được chỉ ra ở đây là một Sự sống nội tại, nền tảng, substanding ‘nội trú’ và thấm khắp các sự sống, các hình tướng và các chất liệu bên trong hệ mặt trời. Nó hoàn toàn không phải là một Kẻ Chận Ngõ có tính cản trở như “Kẻ Chận Ngõ”.

158. DK is telling us that the egoic consciousness is something that is just not registered by the average man. He seems to be saying that the average man has as much possibility of registering the Ego as he would of registering the presence of the Solar Logos within His solar system.

158. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng tâm thức chân ngã là điều mà con người trung bình đơn giản không ghi nhận được. Dường như Ngài muốn nói rằng con người trung bình có khả năng ghi nhận Chân ngã cũng ít như khả năng y ghi nhận sự hiện diện của Thái dương Thượng đế bên trong hệ mặt trời của Ngài.

159. Is DK suggesting that for the average man outside of physical incarnation the chance of registering egoic consciousness increases? Perhaps, because unobstructed by the physical brain and body?

159. Liệu Chân sư DK có gợi ý rằng đối với con người trung bình bên ngoài sự lâm phàm trên cõi hồng trần, cơ hội ghi nhận tâm thức chân ngã tăng lên không? Có lẽ vậy, vì không bị bộ não và thể xác hồng trần ngăn trở chăng?

These two and a half planes are of peculiar interest to the Logos, as they embody:

Hai cõi rưỡi này đặc biệt đáng quan tâm đối với Thượng đế, vì chúng thể hiện:

160. Of which Logos is DK speaking? He seemed to be speaking of the Solar Logos but when speaking of two and half planes, perhaps the emphasis is now shifting to the Planetary Logos.

160. Chân sư DK đang nói về Thượng đế nào? Dường như Ngài đang nói về Thái dương Thượng đế nhưng khi nói về hai cõi rưỡi, có lẽ trọng tâm giờ đây đang chuyển sang Hành Tinh Thượng Đế.

That which, for Him, lies below the threshold of consciousness.

Điều mà, đối với Ngài, nằm dưới ngưỡng tâm thức.

161. These eighteen sub-planes function, for the Planetary Logos, unconsciously. He need not attend to them, just as man need not, under normal circumstances, attend to the automatic biological processes which keep his physical body functioning.

161. Mười tám cõi phụ này vận hành, đối với Hành Tinh Thượng Đế, một cách vô thức. Ngài không cần chú ý đến chúng, cũng như con người, trong những hoàn cảnh bình thường, không cần chú ý đến các tiến trình sinh học tự động giữ cho thể xác của mình hoạt động.

162. For the Solar Logos, twenty-one sub-planes lie below the threshold of consciousness.

162. Đối với Thái dương Thượng đế, hai mươi mốt cõi phụ nằm dưới ngưỡng tâm thức.

Those centres from which logoic kundalini is turning.

Những trung tâm mà từ đó kundalini logoic đang quay đi.

163. Kundalini is poised to animate other and higher aspects of the planetary logoic nature.

163. Kundalini đang sẵn sàng tiếp sinh lực cho những phương diện khác và cao hơn của bản chất hành tinh logoic.

164. Solar logoic kundalini is also turning from certain centers.

164. Kundalini thái dương logoic cũng đang quay khỏi một số trung tâm nhất định.

That which is not considered a principle.

Điều không được xem là một nguyên khí.

165. These eighteen sub-planes relate to the previous solar system. They are not among the energy-patterns which the Planetary Logos is presently cultivating.

165. Mười tám cõi phụ này liên hệ với hệ mặt trời trước. Chúng không nằm trong số những mô hình năng lượng mà Hành Tinh Thượng Đế hiện đang vun bồi.

166. For the Solar Logos, twenty-one sub-planes are not considered as embodying a principle. For Him they are strictly physical sub-planes—not etheric.

166. Đối với Thái dương Thượng đế, hai mươi mốt cõi phụ không được xem là thể hiện một nguyên khí. Đối với Ngài, chúng hoàn toàn là các cõi phụ hồng trần—không phải dĩ thái.

That which is gradually passing into obscuration.

Điều đang dần dần đi vào sự che khuất.

167. Etherealization is slowly in process. The attention of the Planetary Logos has turned from the eighteen lower sub-planes and with this turning, these sub-planes will gradually no longer remain in incarnation.

167. Tiến trình dĩ thái hóa đang chậm rãi diễn ra. Sự chú ý của Hành Tinh Thượng Đế đã quay khỏi mười tám cõi phụ thấp, và cùng với sự quay đi này, các cõi phụ ấy sẽ dần dần không còn tiếp tục lâm phàm nữa.

It is impossible to enlarge further upon this mystery.

Không thể khai triển thêm về huyền nhiệm này.

168. If is has not been apparent (due to the abstruseness of the material) we are dealing with a “mystery”.

168. Nếu điều đó chưa rõ ràng (do tính khó hiểu của tài liệu), thì chúng ta đang xử lý một “huyền nhiệm”.

169. The mystery concerns the relationship between that which is principled and unprincipled in the life demonstration of any E/entity.

169. Huyền nhiệm này liên quan đến mối liên hệ giữa điều có nguyên khí và điều không có nguyên khí trong sự biểu lộ sự sống của bất kỳ Thực thể/thực thể nào.

4. Summary.

4. Tóm tắt.

Before proceeding further, however, it might be well to sum up some of the facts anent the spirillae and the atom, and then we can take up the subject of the causal body and man, the individual. [Page 531]

Tuy nhiên, trước khi đi xa hơn, có lẽ nên tóm lược một số sự kiện liên quan đến các loa tuyến và nguyên tử, rồi sau đó chúng ta có thể bàn đến chủ đề thể nguyên nhân và con người, cá nhân biệt ngã. [Page 531]

170. This will be a most important section to be used in stabilizing our understanding of the subject of the permanent atoms and the spirillae.

170. Đây sẽ là một phần hết sức quan trọng để dùng vào việc ổn định sự thấu hiểu của chúng ta về chủ đề các nguyên tử trường tồn và các loa tuyến.

1. The four lower spirillae are definitely under the influence of the personality Ray.

1. Bốn loa tuyến thấp chắc chắn ở dưới ảnh hưởng của cung phàm ngã.

171. This is predictable numerologically. The fourth spirilla is correlated specifically with the fourth, or human, kingdom.

171. Điều này có thể dự đoán được về mặt số học huyền bí. Loa tuyến thứ tư được tương quan đặc biệt với giới thứ tư, hay giới nhân loại.

172. Since the mental unit has only four spirillae, this entire center of force refers only to the personality or to what has been called the “lower quaternary”.

172. Vì đơn vị hạ trí chỉ có bốn loa tuyến, nên toàn bộ trung tâm mãnh lực này chỉ quy chiếu đến phàm ngã hoặc đến điều đã được gọi là “bộ tứ thấp”.

2. The fifth and sixth spirillae are more specifically under the egoic Ray, whatever that Ray may be.

2. Loa tuyến thứ năm và thứ sáu đặc biệt hơn ở dưới cung chân ngã, bất kể cung ấy là cung nào.

173. We might expect that only the fifth spirilla would be connected with the “egoic Ray”. The fifth kingdom is that in which the egoic ray principally demonstrates. We would then expect the sixth spirilla to be connected with the sixth kingdom of Planetary Lives. Yet, it must be as the Tibetan so definitively states, and for this there must be a reason.

173. Chúng ta có thể mong đợi rằng chỉ loa tuyến thứ năm mới được nối kết với “cung chân ngã”. Giới thứ năm là giới trong đó cung chân ngã biểu lộ chủ yếu. Khi ấy chúng ta sẽ mong đợi loa tuyến thứ sáu được nối kết với giới thứ sáu của Các Sự Sống Hành tinh. Tuy nhiên, sự việc hẳn phải như Chân sư Tây Tạng đã khẳng định dứt khoát, và hẳn phải có một lý do cho điều đó.

174. Perhaps the sixth spirilla is connected specifically with the functioning of the spiritual triad—the three of the triad and the six of the spirilla being arithmetically related.

174. Có lẽ loa tuyến thứ sáu được nối kết đặc biệt với sự hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần—ba của tam nguyên và sáu của loa tuyến có liên hệ với nhau về mặt số học.

175. Both the Ego within the causal body and the Ego liberated and demonstrating as the spiritual triad are associated with the egoic ray. The rays of the permanent atoms of the spiritual triad are the same as the rays of the Ego within the causal body.

175. Cả Chân ngã trong thể nguyên nhân lẫn Chân ngã đã được giải thoát và biểu lộ như Tam Nguyên Tinh Thần đều gắn liền với cung chân ngã. Các cung của những nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần cũng giống như các cung của Chân ngã trong thể nguyên nhân.

176. We note that no matter what the egoic ray may be, it influences both the fifth and sixth spirillae.

176. Chúng ta lưu ý rằng bất kể cung chân ngã là cung nào, nó đều ảnh hưởng đến cả loa tuyến thứ năm lẫn thứ sáu.

3. The fifth spirilla has a peculiar value inasmuch as it synthesises the lower four.

3. Loa tuyến thứ năm có một giá trị đặc biệt vì nó synthesises bốn loa tuyến thấp.

177. In this respect the fifth spirilla has a brahmic function—the fifth as the one synthesizing the lower four (just as the Brahma Aspect synthesizes the Rays of Attribute_.

177. Về phương diện này, loa tuyến thứ năm có một chức năng brahmic—thứ năm là cái tổng hợp bốn cái thấp (cũng như Phương diện Brahma tổng hợp Các Cung Thuộc Tính_.

178. We are now at the point of human evolution when the fifth spirilla is undergoing wide stimulation. Humanity is preparing to enter the fifth kingdom.

178. Hiện nay chúng ta đang ở vào điểm của tiến hoá nhân loại khi loa tuyến thứ năm đang chịu một sự kích thích rộng khắp. Nhân loại đang chuẩn bị bước vào giới thứ năm.

It is the third when counting the streams of spiral force from the standpoint of the atomic pole. It vibrates to five types of force.

Nó là thứ ba khi đếm các dòng mãnh lực xoắn ốc từ quan điểm của cực nguyên tử. Nó rung động với năm loại mãnh lực.

179. From what is said, it seems that every spirilla vibrates to a certain number of forces, the same number as the number of the spirilla.

179. Từ điều được nói ra, có vẻ như mỗi loa tuyến rung động với một số lượng mãnh lực nhất định, con số ấy trùng với số của loa tuyến.

180. This would mean that the fifth spirilla would vibrate to five types of force, the fourth to four, the third to three, etc.

180. Điều này có nghĩa là loa tuyến thứ năm sẽ rung động với năm loại mãnh lực, loa tuyến thứ tư với bốn loại, loa tuyến thứ ba với ba loại, v.v.

181. For seven spirillae we would have: 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 =28. We will recognize 28 as an important number—the number of the OM.

181. Với bảy loa tuyến, chúng ta sẽ có: 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 = 28. Chúng ta sẽ nhận ra 28 là một con số quan trọng—con số của OM.

4. The spirillae are literally ten in number, three major and seven minor. But from the unity point of view, they are the four and the major three, the remaining lesser three being counted as one with their major, inasmuch as they are direct reflections.

4. Các loa tuyến theo nghĩa đen có số lượng là mười, ba lớn và bảy nhỏ. Nhưng từ quan điểm hợp nhất, chúng là bốn và ba lớn, ba nhỏ còn lại được tính là một với cái lớn của chúng, vì chúng là những phản chiếu trực tiếp.

182. The literal perspective is important: 3 + 7. This is a perspective which correlates with the pattern of the Tree of Life and with the structure of the planetary schemes (three synthesizing schemes and seven others, including three non-sacred schemes). One wonders if the three non-sacred planets are, in some manner, reflections of the three synthesizing planets.

182. Quan điểm theo nghĩa đen là quan trọng: 3 + 7. Đây là một quan điểm tương quan với mô hình của Cây Sự Sống và với cấu trúc của các hệ hành tinh (ba hệ tổng hợp và bảy hệ khác, kể cả ba hệ không thiêng liêng). Người ta tự hỏi liệu ba hành tinh không thiêng liêng có phải, theo một cách nào đó, là những phản chiếu của ba hành tinh tổng hợp hay không.

183. We find the lower spirillae not even counted as they directly reflect the higher three.

183. Chúng ta thấy các loa tuyến thấp thậm chí không được tính đến vì chúng phản chiếu trực tiếp ba loa tuyến cao hơn.

184. Could there be a kind of absorption of the lower three into the higher three similarly to the way the lower ethers are absorbed into or subsumed by the higher?

184. Liệu có thể có một loại hấp thụ ba loa tuyến thấp vào ba loa tuyến cao theo cách tương tự như các dĩ thái thấp được hấp thụ vào hay được bao hàm trong các dĩ thái cao hơn chăng?

185. This way of treating the ten so they become a seven has applicability in other contexts.

185. Cách xử lý mười để chúng trở thành bảy này có thể áp dụng trong những bối cảnh khác.

5. The permanent atoms are not heart-shaped as portrayed in certain books. A certain number of atoms are of that type but they are not the permanent atoms which are more definitely spheroidal and are slightly flattened at the top, where the correspondence to the polar depression may be found, and equally flattened at the under surface.

5. Các nguyên tử trường tồn không có hình trái tim như được mô tả trong một số sách. Một số nguyên tử nhất định thuộc loại đó nhưng chúng không phải là các nguyên tử trường tồn, vốn có hình cầu rõ rệt hơn và hơi dẹt ở phía trên, nơi có thể tìm thấy sự tương ứng với chỗ lõm cực, và cũng dẹt tương tự ở mặt dưới.

186. DK has to correct certain misconceptions.

186. Chân sư DK phải sửa lại một số ngộ nhận.

187. The general picture of permanent atoms is as spheroidal and somewhat flattened at both poles.

187. Hình ảnh tổng quát của các nguyên tử trường tồn là hình cầu và hơi dẹt ở cả hai cực.

6. The arrangement of the spirillae within the permanent atoms varies on each plane and the ones most frequently described are those of the physical plane.

6. Sự sắp xếp của các loa tuyến bên trong các nguyên tử trường tồn thay đổi trên mỗi cõi, và những loại được mô tả thường xuyên nhất là những loại của cõi hồng trần.

188. The best known atom, occultly described, is “Babbitt’s Atom” which is clearly an etheric atom. Is it a permanent atom? This has not been specified.

188. Nguyên tử được biết đến nhiều nhất, được mô tả theo huyền bí học, là “Nguyên tử của Babbitt”, rõ ràng là một nguyên tử dĩ thái. Liệu nó có phải là một nguyên tử trường tồn không? Điều này chưa được xác định.

The arrangement of these tiny force vortices

Sự sắp xếp của những xoáy mãnh lực nhỏ bé này

189. Here we are speaking of spirillae…

189. Ở đây chúng ta đang nói về các loa tuyến…

and their internal economy

và sự kinh tế nội tại của chúng

190. By this, we mean the manner in which force is expressed through them and distributed by them…

190. Bởi điều này, chúng ta muốn nói đến cách thức mà mãnh lực được biểu lộ qua chúng và được chúng phân phối…

on each plane is one of the secrets of initiation and may not be revealed.

trên mỗi cõi là một trong những bí mật của điểm đạo và không thể được tiết lộ.

191. Probably for each type of atom there is a different arrangement.

191. Có lẽ đối với mỗi loại nguyên tử lại có một sự sắp xếp khác nhau.

One hint only may be given to guide the student: The astral permanent atom has its internal streams of force arranged so that the spirals do approach quite closely the conformation of a heart, though the pointed end is eliminated.

Chỉ có thể đưa ra một gợi ý để hướng dẫn đạo sinh: Nguyên tử trường tồn cảm dục có các dòng mãnh lực nội tại được sắp xếp sao cho các đường xoắn tiến đến khá gần cấu dạng của một trái tim, dù đầu nhọn đã bị loại bỏ.

192. We presume that the where one would expect a pointed end, there is a polar flattening.

192. Chúng ta giả định rằng ở chỗ người ta mong đợi có một đầu nhọn, lại có một sự dẹt cực.

193. The astral plane is ruled by the systemic Law of Love. As well, it is on the 2—4—6 line of force. The shape of a heart seems somehow appropriate.

193. Cõi cảm dục được cai quản bởi Định luật Tình thương của hệ. Đồng thời, nó nằm trên tuyến mãnh lực 2—4—6. Hình dạng trái tim dường như bằng cách nào đó là thích hợp.

The buddhic permanent atom has its spirillae arranged so as to form approximately a figure eight with a central stream bisecting the double spiral.

Nguyên tử trường tồn Bồ đề có các loa tuyến được sắp xếp sao cho hình thành gần đúng một hình số tám với một dòng trung tâm chia đôi đường xoắn kép.

194. The buddhic plane is related to Mercury Who is the “Guardian at the Eighth Gate”. The antahkarana, which is a Mercurial structure, is also said to be composed of lines of force arranged in figure eights.

194. Cõi Bồ đề có liên hệ với Sao Thủy, Đấng là “Người Canh Giữ tại Cổng Thứ Tám”. Antahkarana, vốn là một cấu trúc thuộc Sao Thủy, cũng được nói là được cấu tạo bằng những đường mãnh lực sắp xếp theo hình số tám.

195. We are alerted to the possibility that the permanent atoms of the various planes may be arranged in symbolic form. The heart is symbolically related to the love and desire of the astral level, and the figure eight to the buddhic plane. What other types of symbols could serve in relation to the mental plane, for instance, or to the atmic? We would expect a distinctive geometry.

195. Chúng ta được cảnh báo về khả năng rằng các nguyên tử trường tồn của những cõi khác nhau có thể được sắp xếp theo hình thức biểu tượng. Trái tim có liên hệ biểu tượng với tình thương và dục vọng của cấp độ cảm dục, còn hình số tám với cõi Bồ đề. Chẳng hạn, những loại biểu tượng nào khác có thể dùng trong liên hệ với cõi trí, hoặc với cõi atma? Chúng ta sẽ mong đợi một hình học đặc thù.

7. The closer the approach to reality the simpler will be found the arrangement of the spirilla.

7. Càng tiến gần đến thực tại, sự sắp xếp của các loa tuyến càng được thấy là đơn giản hơn.

196. Is it possible that as we approach the atmic plane, some threefold arrangement would emerge? Would monadic permanent atoms (as they must necessarily exist for certain higher beings—cf. TCF 533-534) have a twofold structure, and would logoic permanent atoms be unitary?

196. Liệu có thể chăng rằng khi chúng ta tiến gần đến cõi atma, một sự sắp xếp tam phân nào đó sẽ xuất hiện? Liệu các nguyên tử trường tồn chân thần (vì chúng hẳn phải tất yếu tồn tại đối với một số hữu thể cao hơn—xem TCF 533-534) có một cấu trúc nhị phân, và liệu các nguyên tử trường tồn logoic có tính đơn nhất chăng?

These streams of force show a septenary arrangement in the [Page 532] lower three permanent atoms of man, while the higher three contain but three spirillae—the major three.

Các dòng mãnh lực này cho thấy một sự sắp xếp thất phân trong [Page 532] ba nguyên tử trường tồn thấp của con người, trong khi ba nguyên tử cao hơn chỉ chứa ba loa tuyến—ba loa tuyến lớn.

197. We recall from TCF 177 the ninefold choice of rays for the “Ego” considered as the spiritual triad. The three permanent atoms times three spirillae would give the requisite nine.

197. Chúng ta nhớ từ TCF 177 sự lựa chọn cung cửu phân dành cho “Chân ngã” được xét như Tam Nguyên Tinh Thần. Ba nguyên tử trường tồn nhân với ba loa tuyến sẽ cho ra con số chín cần thiết.

198. If we look closely, however, we will find an apparent contraction in the section of text just reviewed.

198. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, chúng ta sẽ thấy có một sự co rút biểu kiến trong phần văn bản vừa được khảo sát.

199. The lower two permanent atoms may well have a septenary arrangement, but what of the mental unit? That has only four spirillae we are told.

199. Hai nguyên tử trường tồn thấp thì có thể có một sự sắp xếp thất phân, nhưng còn đơn vị hạ trí thì sao? Chúng ta được bảo rằng nó chỉ có bốn loa tuyến.

200. And is not the manasic permanent atom one of the higher three permanent atoms of man? From what has been said, we would expect the manasic permanent atom, the buddhic permanent atom and he atmic permanent atom each to have a threefold structure.

200. Và chẳng phải nguyên tử trường tồn manas là một trong ba nguyên tử trường tồn cao hơn của con người sao? Từ những gì đã được nói, chúng ta sẽ mong đợi nguyên tử trường tồn manas, nguyên tử trường tồn Bồ đề và nguyên tử trường tồn atma mỗi cái đều có một cấu trúc tam phân.

201. Which atoms, really, are the lower three and the higher three?

201. Thực sự thì những nguyên tử nào là ba thấp và ba cao?

202. Perhaps we could say of the mental unit that it would have a sevenfold structure if it were complete.

202. Có lẽ chúng ta có thể nói về đơn vị hạ trí rằng nó sẽ có một cấu trúc thất phân nếu nó hoàn chỉnh.

203. May we expect that there are actually ten spirillae in the physical and astral permanent atoms, but only three (the major three) in the permanent atoms of the spiritual triad?

203. Liệu chúng ta có thể mong đợi rằng thực sự có mười loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục, nhưng chỉ có ba (ba loa tuyến lớn) trong các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần chăng?

204. If the spirillae structure of the physical and astral permanent atoms is really tenfold, will the mental unit remain only fourfold?

204. Nếu cấu trúc loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục thực sự là thập phân, liệu đơn vị hạ trí có vẫn chỉ là tứ phân không?

205. For the moment we will have to leave the mental unit out of consideration as its case is indeterminate.

205. Tạm thời chúng ta sẽ phải gác đơn vị hạ trí ra ngoài sự xem xét vì trường hợp của nó chưa xác định.

8. It should be noted that there are but six permanent atoms connected with human evolution, while a Heavenly Man has but five, and even then only one in the solar system.

8. Cần lưu ý rằng chỉ có sáu nguyên tử trường tồn liên hệ với sự tiến hoá của con người, trong khi một Đấng Thiên Nhân chỉ có năm, và ngay cả khi ấy cũng chỉ một cái trong hệ mặt trời.

206. This point is of real importance. Among the six so-called permanent atoms of the human being, it would seem that the mental unit (which is not a full permanent atom) is counted. Yet if the two lower permanent atoms have seven spirillae (or ten) and the three higher have three, then the number of permanent atoms in the mental unit can be considered transitional between seven (or ten) and three.

206. Điểm này thực sự quan trọng. Trong số sáu cái gọi là nguyên tử trường tồn của con người, có vẻ như đơn vị hạ trí (vốn không phải là một nguyên tử trường tồn trọn vẹn) được tính vào. Tuy nhiên, nếu hai nguyên tử trường tồn thấp có bảy loa tuyến (hoặc mười) và ba nguyên tử cao có ba loa tuyến, thì số lượng nguyên tử trường tồn trong đơn vị hạ trí có thể được xem là chuyển tiếp giữa bảy (hoặc mười) và ba.

207. But what of the monadic auric egg? As a sheath (for it is a sheath) it is not ‘created’ by a permanent atom? Is not every vehicle created by a permanent atom (except the causal body which was created by the divine intervention of the Solar Angels)?

207. Nhưng còn noãn hào quang chân thần thì sao? Với tư cách là một vỏ bọc (vì nó là một vỏ bọc) nó không được ‘tạo ra’ bởi một nguyên tử trường tồn sao? Chẳng phải mọi vận cụ đều được tạo ra bởi một nguyên tử trường tồn sao (ngoại trừ thể nguyên nhân vốn được tạo ra bởi sự can thiệp thiêng liêng của các Thái dương Thiên Thần)?

208. It has long been questioned whether a Heavenly Man has a mental unit? Or whether our particular Heavenly Man has a mental unit? From what is here said it would seem that there is no room for a mental unit in the compliment of permanent atoms in the energy system of a Heavenly Man.

208. Từ lâu người ta đã đặt câu hỏi liệu một Đấng Thiên Nhân có một đơn vị hạ trí hay không? Hoặc liệu Đấng Thiên Nhân riêng biệt của chúng ta có một đơn vị hạ trí hay không? Từ điều được nói ở đây, có vẻ như không có chỗ cho một đơn vị hạ trí trong tổng số các nguyên tử trường tồn trong hệ thống năng lượng của một Đấng Thiên Nhân.

209. Again, the solar system exists only on the cosmic physical plane, and so we see that the Heavenly Man has only one permanent atom on the cosmic physical plane.

209. Một lần nữa, hệ mặt trời chỉ tồn tại trên cõi hồng trần vũ trụ, và vì thế chúng ta thấy rằng Đấng Thiên Nhân chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ.

(The mystery of a planet and its central life has not yet been revealed. It is connected with another manifestation of which as yet nought is known.)

(Huyền nhiệm của một hành tinh và sự sống trung tâm của nó vẫn chưa được mặc khải. Nó có liên hệ với một biểu hiện khác mà hiện nay chưa biết gì cả.)

210. We may question whether our Planetary Logos is like all others or whether some special case has existed upon which provides its Logos with a mental unit?

210. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta có giống tất cả các vị khác hay không, hay đã có một trường hợp đặc biệt nào đó khiến Thượng đế của Ngài có một đơn vị hạ trí?

211. Perhaps even our Solar Logos has within it the correspondence to a mental unit?

211. Có lẽ ngay cả Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng có trong chính Ngài sự tương ứng với một đơn vị hạ trí?

212. The following quotation directs our thought to such a speculation:

212. Đoạn trích dẫn sau đây hướng tư tưởng của chúng ta đến một sự suy đoán như thế:

The coming of the Lords of Flame to the Earth was all under law and not just an accidental and fortunate happening; it was a planetary matter which finds its correspondence in the connection between the mental unit and the manasic permanent atom. [Notice, it is not said, in relation to what type of B/being.] Again, as the antaskarana is built by individual man between these two points, so—again in a planetary sense—is a channel being built by collective man on this planet to its primary, Venus. (TCF 297)

Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa đến Trái Đất hoàn toàn ở dưới định luật chứ không chỉ là một biến cố ngẫu nhiên và may mắn; đó là một vấn đề hành tinh, tìm thấy sự tương ứng của nó trong mối liên hệ giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. [Lưu ý, không nói rằng, trong liên hệ với loại Hữu thể/hữu thể nào.] Một lần nữa, cũng như antaskarana được con người cá nhân xây dựng giữa hai điểm này, thì—một lần nữa theo ý nghĩa hành tinh—một kênh dẫn đang được con người tập thể trên hành tinh này xây dựng đến nguyên mẫu chính của nó là Sao Kim. (TCF 297)

213. As for the “central life” of a planet, we may assume it to be its monadic nature. Of such things we know very little if anything.

213. Còn về “sự sống trung tâm” của một hành tinh, chúng ta có thể giả định đó là bản chất chân thần của nó. Về những điều như thế, chúng ta biết rất ít, nếu không muốn nói là không biết gì.

214. We only know that Heavenly Men are Monads, that these Monads have a ray, and that the Monads of some Heavenly Men are occultly ineffective because the Heavenly Men are not yet “sacred”.

214. Chúng ta chỉ biết rằng các Đấng Thiên Nhân là các Chân thần, rằng các Chân thần này có một cung, và rằng các Chân thần của một số Đấng Thiên Nhân thì không hữu hiệu về mặt huyền bí vì các Đấng Thiên Nhân ấy chưa “thiêng liêng”.

215. We can perhaps relate the section of text above to the idea that the Solar Logos has a mental unit. Earth would stand for this mental unit and Venus (at this time) for the manasic permanent atom of the Solar Logos.

215. Có lẽ chúng ta có thể liên hệ phần văn bản trên với ý tưởng rằng Thái dương Thượng đế có một đơn vị hạ trí. Trái Đất sẽ tượng trưng cho đơn vị hạ trí này và Sao Kim (vào thời điểm này) tượng trưng cho nguyên tử trường tồn manas của Thái dương Thượng đế.

216. There is much occultism to be learned from the relation between the six and the five. Usually we are told that the six must be transformed into the five. We can understand this in relation to the permanent atoms of man, for his six permanent atoms (including the mental unit) must become five. The mental unit does not last, yet neither do the physical permanent atom and the astral permanent atom. However, when a mayavirupa is made, the points of force around which physical substance can be gathered in the lower three worlds are provided by some extension of the higher three permanent atoms. A point of force equivalent to the mental unit is not generated. The mental body in a mayavirupa is an wholeness and is not subdivided as in the case of unliberated man.

216. Có nhiều huyền bí học cần được học từ mối liên hệ giữa sáu và năm. Thông thường chúng ta được bảo rằng sáu phải được chuyển hoá thành năm. Chúng ta có thể hiểu điều này trong liên hệ với các nguyên tử trường tồn của con người, vì sáu nguyên tử trường tồn của y (kể cả đơn vị hạ trí) phải trở thành năm. Đơn vị hạ trí không tồn tại lâu dài, nhưng nguyên tử trường tồn hồng trần và nguyên tử trường tồn cảm dục cũng vậy. Tuy nhiên, khi một mayavirupa được tạo ra, những điểm mãnh lực mà quanh đó chất liệu hồng trần có thể được tập hợp trong ba cõi thấp được cung cấp bởi một sự mở rộng nào đó của ba nguyên tử trường tồn cao hơn. Một điểm mãnh lực tương đương với đơn vị hạ trí không được tạo ra. Thể trí trong một mayavirupa là một toàn thể và không bị phân chia nhỏ như trong trường hợp con người chưa được giải thoát.

9. It should be remembered that we are dealing with a physical incarnation of these great Entities and that Their permanent atoms, with the exception of the physical, are extra-systemic.

9. Cần nhớ rằng chúng ta đang xử lý một sự lâm phàm hồng trần của các Thực Thể vĩ đại này và rằng các nguyên tử trường tồn của Các Ngài, ngoại trừ nguyên tử hồng trần, đều ở ngoài hệ.

217. By “extra-systemic”, in this context, we mean ‘above the cosmic physical plane’. The permanent atoms of the various Planetary Logoi will be found upon the highest levels of the cosmic astral plane, the cosmic mental plane, and on cosmic planes still higher.

217. Bởi “ngoài hệ”, trong bối cảnh này, chúng ta muốn nói là ‘ở trên cõi hồng trần vũ trụ’. Các nguyên tử trường tồn của những Hành Tinh Thượng Đế khác nhau sẽ được tìm thấy trên những cấp độ cao nhất của cõi cảm dục vũ trụ, cõi trí vũ trụ, và trên những cõi vũ trụ còn cao hơn nữa.

10. The causal body of the Heavenly Men is upon the third subplane of the cosmic mental plane, while that of the solar Logos and those of the three Persons of the logoic Trinity are upon the first subplane.

10. Thể nguyên nhân của các Đấng Thiên Nhân ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, trong khi thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế và của ba Ngôi Vị của Tam Vị logoic thì ở trên cõi phụ thứ nhất.

218. We are told the causal bodies of the Heavenly Men are to be found on the third sub-plane of the cosmic mental plane, but one wonders if this statement refers to all Planetary Logoi or, principally, the non-sacred Planetary Logoi.

218. Chúng ta được bảo rằng các thể nguyên nhân của các Đấng Thiên Nhân được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, nhưng người ta tự hỏi liệu phát biểu này có quy chiếu đến tất cả các Hành Tinh Thượng Đế hay chủ yếu là các Hành Tinh Thượng Đế không thiêng liêng.

219. There appears to be a gap. Is there no great Entity Whose causal body is to be found on the second sub-plane of the cosmic mental plane, for instance, just as human beings who are advanced or initiate have causal bodies upon the second sub-plane of the systemic mental plane?

219. Dường như có một khoảng trống. Chẳng lẽ không có một Thực Thể vĩ đại nào mà thể nguyên nhân của Ngài được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai của cõi trí vũ trụ, chẳng hạn, cũng như những con người đã tiến bộ hay các điểm đạo đồ có các thể nguyên nhân trên cõi phụ thứ hai của cõi trí hệ thống hay sao?

220. A proposal may be offered (later to be verified or refuted) that the causal bodies of the Logoi of sacred planets will be found on the second sub-plane of the cosmic mental plane while those of the non-sacred Planetary Logoi will remain on the third.

220. Có thể đưa ra một giả thuyết (để sau này được kiểm chứng hoặc bác bỏ) rằng các thể nguyên nhân của các Thượng đế của những hành tinh thiêng liêng sẽ được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai của cõi trí vũ trụ, trong khi các thể nguyên nhân của các Đức Hành Tinh Thượng Đế không thiêng liêng sẽ vẫn ở trên cõi phụ thứ ba.

221. As well, there are Entities Who form a part of the Heavenly Men. They are called Chain Lords and Globe Lords and may, under certain circumstances, be called “Heavenly Men.” May it be that Their causal bodies are also found on the third sub-plane of the cosmic mental plane?

221. Ngoài ra, còn có những Thực Thể tạo thành một phần của các Đấng Thiên Nhân. Các Ngài được gọi là các Chúa Tể của Dãy và các Chúa Tể của bầu hành tinh, và trong một số hoàn cảnh nhất định, có thể được gọi là “Đấng Thiên Nhân”. Có thể chăng các thể nguyên nhân của Các Ngài cũng được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ?

222. Nature does not tolerate such discontinuities and we must find the way to bridge them. Wherever (when studying the Teaching) a discontinuity appears, we may suppose ourselves to be in the presence of an “occult blind” or that certain information has been deliberately excluded.

222. Bản chất không dung thứ những sự gián đoạn như thế, và chúng ta phải tìm ra cách bắt cầu chúng. Bất cứ nơi nào (khi nghiên cứu Giáo Huấn) một sự gián đoạn xuất hiện, chúng ta có thể giả định rằng mình đang đứng trước một “bức màn huyền bí”, hoặc rằng một số thông tin nào đó đã bị cố ý loại bỏ.

11. The permanent atoms of men are upon the atomic subplane of each plane, with the one exception of the mental unit.

11. Các nguyên tử trường tồn của con người nằm trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi, ngoại trừ duy nhất đơn vị hạ trí.

223. The implication here is that the mental unit is considered as a kind of permanent atom.

223. Hàm ý ở đây là đơn vị hạ trí được xem như một loại nguyên tử trường tồn.

Those of the animal groups are upon the second subplane; those of the vegetable groups are upon the third subplane; those of the mineral groups are upon the fourth subplane.

Các nguyên tử trường tồn của các nhóm động vật nằm trên cõi phụ thứ hai; của các nhóm thực vật nằm trên cõi phụ thứ ba; của các nhóm khoáng vật nằm trên cõi phụ thứ tư.

224. These correspondences are important and should be held in mind when seeking to link the lower kingdoms to the human.

224. Những tương ứng này rất quan trọng và cần được ghi nhớ khi tìm cách liên kết các giới thấp với giới nhân loại.

225. It is also important to realize that the lives in the lower kingdoms all have permanent atoms.

225. Cũng quan trọng không kém là phải chứng nghiệm rằng các sự sống trong các giới thấp đều có các nguyên tử trường tồn.

226. Through this distribution the following emerges:

226. Qua sự phân bố này, điều sau đây xuất hiện:

a. The fourth kingdom is linked to the number one

a. giới thứ tư được liên kết với số một

b. The third kingdom is linked to the number two

b. giới thứ ba được liên kết với số hai

c. The second kingdom is linked to the number three

c. giới thứ hai được liên kết với số ba

d. The first kingdom is linked to the number four

d. giới thứ nhất được liên kết với số bốn

227. It becomes clear that the mental unit of the human being has some link with the mineral kingdom since both it and the permanent atom in the mineral group are found upon a fourth sub-plane.

227. Rõ ràng là đơn vị hạ trí của con người có một mối liên hệ nào đó với giới kim thạch, vì cả nó lẫn nguyên tử trường tồn trong nhóm khoáng vật đều được tìm thấy trên một cõi phụ thứ tư.

There is, therefore, a close analogy between these focal points of force of the group—human or otherwise—and a chain, a globe, and a round, and in their due application comes enlightenment.

Do đó, có một sự tương đồng chặt chẽ giữa những tiêu điểm mãnh lực này của nhóm—nhân loại hay nhóm khác—với một dãy, một bầu hành tinh và một cuộc tuần hoàn, và trong sự áp dụng đúng đắn của chúng có sự giác ngộ.

228. We are being given some potential analogies to expand.

228. Chúng ta đang được trao cho một số tương đồng tiềm năng để mở rộng.

229. The permanent atoms are names “focal points of force”.

229. Các nguyên tử trường tồn được gọi là những “tiêu điểm mãnh lực”.

230. The chains, globes and rounds are numbered and the permanent atoms are numbered. DK seems to be suggesting the correlating of these numbers.

230. Các dãy, các bầu hành tinh và các cuộc tuần hoàn được đánh số, và các nguyên tử trường tồn cũng được đánh số. Chân sư DK dường như đang gợi ý việc đối chiếu các con số này.

231. The first kingdom can be, for instance correlated with the first chain, globe or round; the second kingdom with the second chain, globe or round; etc.

231. Chẳng hạn, giới thứ nhất có thể được tương liên với dãy, bầu hành tinh hay cuộc tuần hoàn thứ nhất; giới thứ hai với dãy, bầu hành tinh hay cuộc tuần hoàn thứ hai; v.v.

232. For the mineral in relation to the first chain, globe or round, the fourth sub-plane will be focal through the mineral permanent atom. For the vegetable in relation to the second chain, globe or round the third sub-plane will be focal through the vegetable permanent atom. And so, correspondingly, for the animal, and later man.

232. Đối với giới kim thạch trong liên hệ với dãy, bầu hành tinh hay cuộc tuần hoàn thứ nhất, cõi phụ thứ tư sẽ là tiêu điểm thông qua nguyên tử trường tồn khoáng vật. Đối với giới thực vật trong liên hệ với dãy, bầu hành tinh hay cuộc tuần hoàn thứ hai, cõi phụ thứ ba sẽ là tiêu điểm thông qua nguyên tử trường tồn thực vật. Và tương ứng như vậy đối với động vật, và sau đó là con người.

233. As the chains, globes or rounds increase in number, the sub-planes on which the permanent atoms are found decrease in number.

233. Khi số lượng các dãy, các bầu hành tinh hay các cuộc tuần hoàn tăng lên, thì số thứ tự của các cõi phụ nơi các nguyên tử trường tồn được tìm thấy lại giảm xuống.

234. What of permanent atoms for the members of the fifth, sixth and seventh kingdoms. We can go no higher than the atomic sub-plane.

234. Còn các nguyên tử trường tồn của các thành viên thuộc giới thứ năm, thứ sáu và thứ bảy thì sao? Chúng ta không thể đi cao hơn cõi phụ nguyên tử.

235. Since, however, this is the fourth round, we have been told that the present human physical form is adequate for the expression of the higher kingdoms. In other words, one can be expressing through the fifth, sixth or even seventh kingdoms of nature and still be utilizing a human form—generated by permanent atoms on the atomic levels of the various systemic planes involved.

235. Tuy nhiên, vì đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, chúng ta đã được cho biết rằng hình thể hồng trần hiện nay của con người là thích hợp cho sự biểu lộ của các giới cao hơn. Nói cách khác, người ta có thể đang biểu lộ qua giới thứ năm, thứ sáu hay thậm chí thứ bảy của bản chất mà vẫn sử dụng một hình thể người—được tạo ra bởi các nguyên tử trường tồn trên các mức nguyên tử của những cõi hệ thống liên quan.

236. It would be an intricate study, but I think we see how it could be pursued and DK promises enlightenment after “due application”.

236. Đây sẽ là một nghiên cứu phức tạp, nhưng tôi nghĩ chúng ta thấy được cách nó có thể được theo đuổi, và Chân sư DK hứa hẹn sự giác ngộ sau “sự áp dụng đúng đắn”.

The sumtotal of the permanent atoms of any particular kingdom form the streams of force or spirillae in the greater atoms of solar entities or of lunar entities,

Tổng số các nguyên tử trường tồn của bất kỳ giới đặc thù nào tạo thành các dòng mãnh lực hay các loa tuyến trong các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương hoặc của các thực thể thái âm,

237. Many permanent atoms (within any of the three lower kingdoms) form spirillae or streams of force in the greater atoms of solar and lunar entities.

237. Nhiều nguyên tử trường tồn (trong bất kỳ giới nào thuộc ba giới thấp) tạo thành các loa tuyến hay các dòng mãnh lực trong các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương và thái âm.

238. Lesser entities are as forces in the energy-economy of greater Entities.

238. Các thực thể nhỏ hơn là những mãnh lực trong nền kinh tế năng lượng của các Thực Thể lớn hơn.

239. It is possible that the fourth kingdom as a strictly human kingdom may be included in this enumeration (as in the next text reference, the “spiritual kingdom” is mentioned).

239. Có thể giới thứ tư với tư cách là một giới thuần nhân loại được bao gồm trong sự liệt kê này (vì trong đoạn tham chiếu kế tiếp, “giới tinh thần” được nhắc đến).

240. The Lords of the Kingdoms of Nature are solar entities. We do not know of what “lunar entities” DK could be speaking, but it might be well to remind ourselves that Jehovah (a god related to the Moon-chain) was/is a lunar Entity.

240. Các Chúa Tể của các Giới trong Thiên Nhiên là các thực thể thái dương. Chúng ta không biết Chân sư DK có thể đang nói đến những “thực thể thái âm” nào, nhưng có lẽ nên tự nhắc mình rằng Jehovah (một vị thần liên hệ với Dãy Mặt Trăng) đã/đang là một Thực Thể thái âm.

241. Permanent atoms are focal points of force so it is not difficult to see how the combination of many of them could form “streams of force” or spirillae.

241. Các nguyên tử trường tồn là những tiêu điểm mãnh lực, vì thế không khó để thấy rằng sự kết hợp của nhiều nguyên tử như vậy có thể tạo thành các “dòng mãnh lực” hay các loa tuyến.

242. There is analogy: just as the bubbles in the koilon or utterly simple points of force (simple from the perspective of the cosmic physical plane) are gathered together to form spirillae in the tiny atoms of substance, so the permanent atoms themselves can be gathered together to form spirillae or streams of force in much greater atoms—the “greater atoms of solar entities or of lunar entities”.

242. Có một sự tương đồng: cũng như các bọt trong koilon hay những điểm mãnh lực hoàn toàn đơn giản (đơn giản theo quan điểm của cõi hồng trần vũ trụ) được tập hợp lại để tạo thành các loa tuyến trong những nguyên tử cực nhỏ của chất liệu, thì chính các nguyên tử trường tồn cũng có thể được tập hợp lại để tạo thành các loa tuyến hay các dòng mãnh lực trong những nguyên tử lớn hơn rất nhiều—“các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương hoặc của các thực thể thái âm”.

while the sumtotal of the permanent atoms of man in the spiritual kingdom (the three triadal atoms, atma-buddhi-manas) form the spiral streams of force within certain centres.

trong khi tổng số các nguyên tử trường tồn của con người trong giới tinh thần (ba nguyên tử tam nguyên tinh thần, atma-buddhi-manas) tạo thành các dòng xoắn ốc của mãnh lực bên trong một số trung tâm nhất định.

243. Again—a most occult and veiled reference. We are not told which centers they are, but they are likely to be in Entities/Centers higher than those formed by the permanent atoms of the lower kingdoms.

243. Một lần nữa—đây là một tham chiếu hết sức huyền bí và che giấu. Chúng ta không được cho biết đó là những trung tâm nào, nhưng có lẽ chúng nằm trong các Thực Thể/Trung tâm cao hơn những trung tâm được hình thành bởi các nguyên tử trường tồn của các giới thấp.

244. If we check TCF 844 we shall see that the type of Life listed as immediately superior to the Lives which inform the kingdoms of nature are “the informing [lives] of a planetary globe”. Is it possible that that the permanent atoms of “man in the spiritual kingdom” (thus the higher permanent atoms to be found in the triad) form the spirillae of the Globe Lords considered as planetary centers?

244. Nếu chúng ta kiểm tra TCF 844, chúng ta sẽ thấy rằng loại Sự sống được liệt kê là cao hơn trực tiếp các Sự sống phú linh cho các giới trong thiên nhiên là “các [sự sống] phú linh của một bầu hành tinh”. Có thể chăng các nguyên tử trường tồn của “con người trong giới tinh thần” (do đó là các nguyên tử trường tồn cao hơn được tìm thấy trong tam nguyên tinh thần) tạo thành các loa tuyến của các Chúa Tể bầu hành tinh được xem như các trung tâm hành tinh?

245. We do note another of those discontinuities in the tabulation on TCF 844, for the ‘Informing Lives of a Planetary Chain” are not discussed

245. Chúng ta lại lưu ý một sự gián đoạn khác trong bảng liệt kê ở TCF 844, vì “Các Sự sống Phú linh của một Dãy Hành Tinh” không được bàn đến

246. The permanent atoms of man-as-man should be contrasted, I think, with the permanent atoms of “man in the spiritual kingdom”. The two sets of permanent atoms will be different.

246. Theo tôi nghĩ, các nguyên tử trường tồn của con người-với-tư-cách-con-người nên được đối chiếu với các nguyên tử trường tồn của “con người trong giới tinh thần”. Hai bộ nguyên tử trường tồn này sẽ khác nhau.

12. As the permanent atoms become radioactive in due course of evolution, the result within the centre is a marked increase of vibration.

12. Khi các nguyên tử trường tồn trở nên phóng xạ theo tiến trình tiến hoá thích đáng, kết quả bên trong trung tâm là một sự gia tăng rung động rõ rệt.

247. Centers are chakras are E/entities and they evolve. The time for the initiation of a particular center, chakra or E/entity coincides with the growing radioactivity of the permanent atoms found within that center, chakra or E/entity.

247. Các trung tâm là các luân xa, là các thực thể, và chúng tiến hoá. Thời điểm điểm đạo của một trung tâm, luân xa hay thực thể đặc thù trùng hợp với tính phóng xạ ngày càng tăng của các nguyên tử trường tồn được tìm thấy bên trong trung tâm, luân xa hay thực thể ấy.

248. Each chakra or center is multilayered and has a number of vehicles comprising it. Each one of these vehicles has its own permanent atom.

248. Mỗi luân xa hay trung tâm đều có nhiều lớp và gồm một số vận cụ cấu thành nó. Mỗi vận cụ trong số này đều có nguyên tử trường tồn riêng của nó.

249. As man becomes radioactive (and this indicates that his permanent atoms are becoming radioactive), the greater centers of which he and his permanent atoms are a part show a “marked increase of vibration”.

249. Khi con người trở nên phóng xạ (và điều này cho thấy rằng các nguyên tử trường tồn của y đang trở nên phóng xạ), thì các trung tâm lớn hơn mà y và các nguyên tử trường tồn của y là một phần trong đó biểu lộ một “sự gia tăng rung động rõ rệt”.

250. The radioactivity of the permanent atoms begins to occur when a certain number of spirillae have been activated.

250. Tính phóng xạ của các nguyên tử trường tồn bắt đầu xuất hiện khi một số lượng nhất định các loa tuyến đã được hoạt hóa.

251. The lower permanent atoms of man cannot become radioactive when only four spirillae are activated, but when the fifth spirilla is activated, a state of radioactivity is in process. This is even more the case when the higher, major or permanent spirillae are activated.

251. Các nguyên tử trường tồn thấp của con người không thể trở nên phóng xạ khi chỉ có bốn loa tuyến được hoạt hóa, nhưng khi loa tuyến thứ năm được hoạt hóa, một trạng thái phóng xạ đang diễn ra. Điều này càng đúng hơn nữa khi các loa tuyến cao hơn, chính yếu hay trường tồn được hoạt hóa.

13. The permanent atoms concern solar entities when they are found on or above the higher mental. They [Page 533] concern lunar entities on the lower mental, the astral and the physical planes.

13. Các nguyên tử trường tồn liên quan đến các thực thể thái dương khi chúng được tìm thấy trên hoặc cao hơn cõi thượng trí. Chúng [Page 533] liên quan đến các thực thể thái âm trên cõi hạ trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần.

252. This is a really important statement.

252. Đây thực sự là một phát biểu rất quan trọng.

253. We have just read:

253. Chúng ta vừa đọc:

The sumtotal of the permanent atoms of any particular kingdom form the streams of force or spirillae in the greater atoms of solar entities or of lunar entities.

Tổng số các nguyên tử trường tồn của bất kỳ giới đặc thù nào tạo thành các dòng mãnh lực hay các loa tuyến trong các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương hoặc của các thực thể thái âm.

254. Now we discover the occult ‘location’ of those permanent atoms which concern solar entities and those which concern lunar entities.

254. Giờ đây chúng ta khám phá ra “vị trí” huyền bí của những nguyên tử trường tồn liên quan đến các thực thể thái dương và những nguyên tử liên quan đến các thực thể thái âm.

255. It is also suggested that solar entities work through the higher permanent atoms and lunar entities through the lower.

255. Điều này cũng gợi ý rằng các thực thể thái dương hoạt động thông qua các nguyên tử trường tồn cao hơn và các thực thể thái âm thông qua các nguyên tử thấp hơn.

256. It becomes clear that through various aspects of our constitution we participate in the lives of various kinds of Entities greater than ourselves (some solar and some lunar).

256. Rõ ràng là thông qua nhiều phương diện khác nhau của cấu tạo chúng ta, chúng ta tham dự vào sự sống của nhiều loại Thực Thể lớn hơn chính mình (một số là thái dương và một số là thái âm).

257. As man evolves, the lower permanent atoms (so it may be conjectured) become increasingly responsive to solar entities. This would occur as the substance of the sheaths controlled by the permanent atoms becomes increasingly atomic.

257. Khi con người tiến hoá, các nguyên tử trường tồn thấp hơn (có thể phỏng đoán như vậy) ngày càng đáp ứng với các thực thể thái dương. Điều này sẽ xảy ra khi chất liệu của các thể do các nguyên tử trường tồn kiểm soát ngày càng trở nên nguyên tử.

258. Man (and his permanent atoms), then, would participate less and less in the life of Entities that are lunar—for there are great lunar Entities as well as great solar Entities. Eventually, man will participate not at all in the life of lunar Entities.

258. Khi ấy, con người (và các nguyên tử trường tồn của y) sẽ ngày càng ít tham dự vào sự sống của những Thực Thể là thái âm—vì có những Thực Thể thái âm vĩ đại cũng như những Thực Thể thái dương vĩ đại. Cuối cùng, con người sẽ hoàn toàn không còn tham dự vào sự sống của các Thực Thể thái âm nữa.

14. It should be noted that in this solar system the following entities manifest through:

14. Cần lưu ý rằng trong hệ mặt trời này, các thực thể sau đây biểu lộ thông qua:

I. One permanent atom... the physical.

I. Một nguyên tử trường tồn... nguyên tử hồng trần.

1. A solar Logos.

1. Một Thái dương Thượng đế.

2. The three major Rays, or Lords of Aspect.

2. Ba Cung chính yếu, hay các Chúa Tể của Các Cung Trạng Thái.

259. These Beings can be called the Three Persons of the Logoic Trinity.

259. Những Đấng này có thể được gọi là Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế.

3. The seven Heavenly Men.

3. Bảy Đấng Thiên Nhân.

260. Presumably, all the Heavenly Men would be in this category as even Chain Lords have but one permanent atom on the cosmic physical plane.

260. Có lẽ tất cả các Đấng Thiên Nhân đều thuộc loại này, vì ngay cả các Chúa Tể của Dãy cũng chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ.

4. The forty-nine Regents of the planetary chains.

4. Bốn mươi chín Đấng Nhiếp Chính của các dãy hành tinh.

261. There is a great difference between the scope of these Beings.

261. Có một sự khác biệt lớn giữa phạm vi của những Đấng này.

262. They all share a similarity—having but one permanent atom on the cosmic physical plane.

262. Tất cả các Ngài đều có chung một điểm tương đồng—chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ.

263. Permanent atoms are, in the case of man, found on the highest or atomic level of the plane to which they belong. Do we have any assurance that, though these Beings have a permanent atom probably on the logoic plane, that it in all cases it is found on the same sub-plane of the logoic plane?

263. Trong trường hợp con người, các nguyên tử trường tồn được tìm thấy trên mức cao nhất hay mức nguyên tử của cõi mà chúng thuộc về. Liệu chúng ta có bất kỳ bảo đảm nào rằng, dù những Đấng này có một nguyên tử trường tồn có lẽ trên cõi logoic, thì trong mọi trường hợp nó đều được tìm thấy trên cùng một cõi phụ của cõi logoic hay không?

264. Just as we were told that man has his permanent atoms on the atomic level, animals on the sub-atomic level, plants on the super-etheric level and minerals on the etheric level, could it be so with respect to these four types of Beings (Who are listed in descending order of potency and consciousness—Solar Logoi, the Lord of the Three Major Rays, the seven Heavenly Men and the Forty-Nine Regents of the Planetary Chains)?

264. Cũng như chúng ta đã được cho biết rằng con người có các nguyên tử trường tồn của mình trên mức nguyên tử, động vật trên mức dưới nguyên tử, thực vật trên mức siêu dĩ thái và khoáng vật trên mức dĩ thái, liệu điều đó có thể cũng đúng đối với bốn loại Đấng này chăng (những Đấng được liệt kê theo thứ tự giảm dần về quyền năng và tâm thức—các Thái dương Thượng đế, Chúa Tể của Ba Cung Chính Yếu, bảy Đấng Thiên Nhân và Bốn Mươi Chín Đấng Nhiếp Chính của các Dãy Hành Tinh)?

265. Such questions would point towards details which are probably secrets of initiation which cannot be conferred upon us.

265. Những câu hỏi như thế sẽ hướng đến những chi tiết có lẽ là các bí mật của điểm đạo, những điều không thể được truyền cho chúng ta.

II. Two permanent atoms... the physical and the astral.

II. Hai nguyên tử trường tồn... hồng trần và cảm dục.

266. When there are two permanent atoms on the cosmic physical plane, it can be assumed that the physical permanent atom for the Entity concerned is located on a plane lower than the astral permanent atom.

266. Khi có hai nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ, có thể giả định rằng nguyên tử trường tồn hồng trần của Thực Thể liên hệ nằm trên một cõi thấp hơn nguyên tử trường tồn cảm dục.

267. We cannot reasonably descend, however, to that which man calls the physical plane or the astral plane to locate the physical and astral permanent atom of the four beings listed below.

267. Tuy nhiên, chúng ta không thể hợp lý mà hạ xuống đến điều mà con người gọi là cõi hồng trần hay cõi cảm dục để xác định vị trí nguyên tử trường tồn hồng trần và cảm dục của bốn đấng được liệt kê dưới đây.

268. We shall perhaps find that physical permanent atom on the systemic monadic plane and the astral permanent atom on the systemic logoic plane. While this is, perhaps, a reasonable hypothesis, we cannot know for certain the point on the cosmic physical plane at which such permanent atoms are positioned. We have a number of sub-planes to choose from.

268. Có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy nguyên tử trường tồn hồng trần ấy trên cõi chân thần hệ thống và nguyên tử trường tồn cảm dục trên cõi logoic hệ thống. Tuy đây có lẽ là một giả thuyết hợp lý, chúng ta không thể biết chắc điểm nào trên cõi hồng trần vũ trụ mà các nguyên tử trường tồn như thế được đặt vào. Chúng ta có một số cõi phụ để lựa chọn.

269. If this is true (that, for a given E/entity, when two or more permanent atoms exist on the cosmic physical plane, they will be found numbered from the logoic plane), it opens up some far-reading speculations. It means that what a plane is (in relation to the constitution of any E/entity) depends not so much on what a plane is inherently, but on what a plane means in relation to the E/entity demonstrating through it.

269. Nếu điều này là đúng (rằng, đối với một thực thể nhất định, khi có hai hay nhiều nguyên tử trường tồn tồn tại trên cõi hồng trần vũ trụ, chúng sẽ được tìm thấy được đánh số từ cõi logoic), thì điều đó mở ra một số suy đoán sâu rộng. Điều đó có nghĩa là một cõi là gì (trong liên hệ với cấu tạo của bất kỳ thực thể nào) không phụ thuộc nhiều vào việc một cõi là gì một cách cố hữu, mà phụ thuộc vào điều một cõi hàm ý trong liên hệ với thực thể đang biểu lộ qua nó.

270. An example of this is the contrast between the meanings of the systemic buddhic plane to a man and to a Solar Logos. To a Solar Logos the buddhic plane is almost material—His densest etheric level. To a man, it represents his spiritual goal and is far from what he considers materiality.

270. Một ví dụ về điều này là sự tương phản giữa ý nghĩa của cõi Bồ đề hệ thống đối với con người và đối với một Thái dương Thượng đế. Đối với một Thái dương Thượng đế, cõi Bồ đề gần như là vật chất—mức dĩ thái đậm đặc nhất của Ngài. Đối với con người, nó tượng trưng cho mục tiêu tinh thần của y và rất xa với điều y xem là tính vật chất.

1. The seven Lords of the globes in every chain.

1. Bảy Chúa Tể của các bầu hành tinh trong mỗi dãy.

271. It is important to realize that the Chain-Lords were grouped with the Solar Logoi and Planetary Logoi, but that the Globe-Lords are not.

271. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng các Chúa Tể của Dãy đã được xếp cùng nhóm với các Thái dương Thượng đế và các Đức Hành Tinh Thượng Đế, nhưng các Chúa Tể bầu hành tinh thì không.

272. We remember that there may be more than seven globes in a chain depending upon the mode of counting and the time of counting. The same of course is true of planetary chains.

272. Chúng ta nhớ rằng có thể có hơn bảy bầu hành tinh trong một dãy tùy theo cách đếm và thời điểm đếm. Dĩ nhiên điều tương tự cũng đúng đối với các dãy hành tinh.

2. The forty-nine Root Manus.

2. Bốn mươi chín Đức Manu Gốc.

273. Considering Manus as they are usually considered (as Initiates one stage beyond a Master), then presumably such Manus must be at least Chohans. There would be one Manu for each root race found on each of the seven globes.

273. Xét các Đức Manu theo cách chúng ta thường xét (như các Điểm đạo đồ ở một giai đoạn vượt quá một Chân sư), thì có lẽ các Đức Manu như thế ít nhất phải là các Chohan. Sẽ có một Đức Manu cho mỗi giống dân gốc được tìm thấy trên mỗi một trong bảy bầu hành tinh.

274. But perhaps we are speaking of still greater Manus—one Manu for each of forty-nine globes in a planetary scheme. This could make more sense.

274. Nhưng có lẽ chúng ta đang nói đến những Đức Manu còn vĩ đại hơn—một Đức Manu cho mỗi một trong bốn mươi chín bầu hành tinh trong một hệ hành tinh. Điều này có thể hợp lý hơn.

275. Such a Manu would be (in rank) just below a Globe Lord (and hence, such a Being would fit well in this tabulation).

275. Một Đức Manu như thế sẽ ở ngay dưới một Chúa Tể bầu hành tinh về cấp bậc (và do đó, một Đấng như thế sẽ phù hợp với bảng liệt kê này).

276. If, however, the Root Manu were more like a human-like Chohan and related to root races rather than to an entire globe, then at the sixth initiation it would seem that that Chohan would have to drop His lesser permanent atoms—from the atmic permanent atom to those below. Will He, however, adopt other permanent atoms before this occurs? And if so, how so? In order to fit into the category under discussion, He would have to have two permanent atoms on the cosmic physical plane, presumably on the monadic and logoic systemic planes. Is it reasonable to assume that the status of His permanent atoms would change so dramatically as He becomes a Chohan capable of being a Manu?

276. Tuy nhiên, nếu Đức Manu Gốc giống một Chohan mang tính nhân loại hơn và liên hệ với các giống dân gốc hơn là với toàn bộ một bầu hành tinh, thì ở lần điểm đạo thứ sáu, dường như Chohan ấy sẽ phải từ bỏ các nguyên tử trường tồn thấp hơn của Ngài—từ nguyên tử trường tồn atma trở xuống. Tuy nhiên, liệu Ngài có tiếp nhận các nguyên tử trường tồn khác trước khi điều này xảy ra không? Và nếu có, bằng cách nào? Để phù hợp với loại đang được bàn đến, Ngài sẽ phải có hai nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ, có lẽ là trên các cõi chân thần và logoic hệ thống. Có hợp lý không khi giả định rằng trạng thái các nguyên tử trường tồn của Ngài sẽ thay đổi mạnh mẽ đến thế khi Ngài trở thành một Chohan có khả năng là một Đức Manu?

277. It begins to look more and more as if we are speaking of Manus of globes and not of root races.

277. Càng lúc càng có vẻ như chúng ta đang nói về các Đức Manu của các bầu hành tinh chứ không phải của các giống dân gốc.

3. The seventy-seven Embodiers of form—a group of solar Lords Who are concerned with form building, working primarily on the first ray.

3. Bảy mươi bảy Đấng Hiện Thân của hình tướng—một nhóm các Chúa Tể thái dương quan tâm đến việc xây dựng hình tướng, hoạt động chủ yếu trên cung một.

278. This category of Beings is important simply as a notification to us that They exist!

278. Loại Đấng này quan trọng đơn giản vì như một thông báo cho chúng ta rằng Các Ngài hiện hữu!

279. Why seventy-seven? The number reminds us of 777. The first and more material cycle of 700 would be dropped and only seventy-seven remain.

279. Tại sao lại là bảy mươi bảy? Con số này gợi cho chúng ta nhớ đến 777. Chu kỳ đầu tiên và vật chất hơn là 700 sẽ bị loại bỏ và chỉ còn lại bảy mươi bảy.

280. We might arrive at seventy-seven by considering a sevenfold activity on every one of ten globes, with an overarching seven for synthesis.

280. Chúng ta có thể đi đến con số bảy mươi bảy bằng cách xét một hoạt động thất phân trên mỗi một trong mười bầu hành tinh, với một số bảy bao trùm để tổng hợp.

281. We note that these Beings are still called “solar Lords”.

281. Chúng ta lưu ý rằng những Đấng này vẫn được gọi là các Chúa Tể “thái dương”.

282. We note also that, although on the Ray of the Destroyer, these Lords are working constructively at “form building”. We remember that the Manu’s department works no only with the destruction of forms but with their construction.

282. Chúng ta cũng lưu ý rằng, mặc dù ở trên Cung của Đấng Hủy Diệt, các Chúa Tể này đang hoạt động một cách xây dựng trong việc “xây dựng hình tướng”. Chúng ta nhớ rằng ban của Đức Manu không chỉ hoạt động với sự hủy diệt các hình tướng mà còn với việc kiến tạo chúng.

283. The first ray (under Vulcan) does have a constructive side to its nature and is a planet closely connected with the Manu’s Department (He Who superintends the building, preservation and destruction of human racial forms).

283. Cung một (dưới Vulcan) quả thực có một phương diện xây dựng trong bản chất của nó và là một hành tinh gắn bó chặt chẽ với Ban của Đức Manu (Đấng giám sát việc xây dựng, bảo tồn và hủy diệt các hình tướng chủng tộc nhân loại).

4. Certain of the Avatars, Who are selected by the Logos to carry a certain type of force at stated intervals and thus further the evolution of the psyche.

4. Một số Đấng Hoá Thân nhất định, được Thượng đế tuyển chọn để mang một loại mãnh lực nào đó vào những chu kỳ đã định và nhờ đó thúc đẩy sự tiến hoá của tâm thần.

284. These are Beings Who are greater than “Racial Avatars”

284. Đây là những Đấng vĩ đại hơn các “Đấng Hoá Thân Chủng Tộc”

285. As well, They seem to work in connection with the consciousness aspect.

285. Ngoài ra, Các Ngài dường như hoạt động trong liên hệ với phương diện tâm thức.

286. The interplanetary Avatars (of Whom the Avatar of Synthesis is one) would seem to be greater than the Avatars here mentioned.

286. Các Đấng Hoá Thân liên hành tinh (mà Đấng Hoá Thân Tổng Hợp là một trong số đó) dường như vĩ đại hơn các Đấng Hoá Thân được nhắc đến ở đây.

287. Those Beings referenced as having only one permanent atom on the cosmic physical plane may be hypothesized as upholding a generically first ray function on the cosmic physical plane, and those with two permanent atoms on the cosmic physical plane, a second ray function.

287. Có thể giả định rằng những Đấng được nói đến như chỉ có một nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ đang duy trì một chức năng cung một có tính tổng quát trên cõi hồng trần vũ trụ, còn những Đấng có hai nguyên tử trường tồn trên cõi hồng trần vũ trụ thì duy trì một chức năng cung hai.

III. Three permanent atoms... physical, astral, and mental.

III. Ba nguyên tử trường tồn... hồng trần, cảm dục và trí tuệ.

288. We could continue our method of distributing the atoms, with the highest atom hypothesized as being on the logoic plane and the other permanent atoms ‘below’ it, descending in position systematically through the planes.

288. Chúng ta có thể tiếp tục phương pháp phân bố các nguyên tử của mình, với nguyên tử cao nhất được giả định là ở trên cõi logoic và các nguyên tử trường tồn khác ở “bên dưới” nó, hạ dần vị trí một cách có hệ thống qua các cõi.

289. In this case the manasic permanent atom would be upon the logoic plane, the astral permanent atom upon the monadic and the physical permanent atom upon the atmic.

289. Trong trường hợp này, nguyên tử trường tồn manas sẽ ở trên cõi logoic, nguyên tử trường tồn cảm dục ở trên cõi chân thần và nguyên tử trường tồn hồng trần ở trên cõi atma.

290. We can have no definite idea whether this is actually the case. We could start the manasic permanent atom at the monadic plane or the atmic with the others position still farther ‘below’, but this would present a problem, because the Beings we are talking about definitely live on planes greater than the cosmic physical plane, and usually, in the apportioning of permanent atoms, such atoms are found continuously, progressing up or down from plane to plane.

290. Chúng ta không thể có một ý niệm xác định nào về việc liệu điều này thực sự có đúng hay không. Chúng ta có thể bắt đầu nguyên tử trường tồn manas ở cõi chân thần hoặc cõi atma, với các nguyên tử khác vẫn ở những vị trí “thấp hơn” nữa, nhưng điều này sẽ tạo ra một vấn đề, bởi vì những Đấng mà chúng ta đang nói đến chắc chắn sống trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ, và thông thường, trong việc phân bố các nguyên tử trường tồn, những nguyên tử như thế được tìm thấy một cách liên tục, tiến lên hay đi xuống từ cõi này sang cõi khác.

291. Think of the case of man. In the positioning of his permanent atoms, no plane on which man functions is skipped.

291. Hãy nghĩ đến trường hợp của con người. Trong việc định vị các nguyên tử trường tồn của y, không có cõi nào mà con người hoạt động trên đó bị bỏ qua.

292. I think we cannot understand the exact permanent atom ‘map’ for any of these Beings. What we can do is try to understand who and/or what They are, and how They might function relative to the cosmic physical plane.

292. Tôi nghĩ chúng ta không thể hiểu được chính xác “bản đồ” nguyên tử trường tồn của bất kỳ Đấng nào trong số này. Điều chúng ta có thể làm là cố gắng hiểu Các Ngài là ai và/hoặc là gì, và Các Ngài có thể hoạt động như thế nào trong tương quan với cõi hồng trần vũ trụ.

1. The Lords of the third Kingdom, the animal. They are seven Entities whose bodies are made up of animal souls just as the Heavenly Men embody for man the Buddhic principle, so these lords embody for the animal kingdom the manasic principle, which is the goal of the evolutionary process for them.

1. Các Chúa Tể của giới thứ ba, giới động vật. Các Ngài là bảy Thực Thể mà các thể của Các Ngài được cấu thành bởi các hồn động vật; cũng như các Đấng Thiên Nhân hiện thân nguyên khí Bồ đề cho con người, thì các chúa tể này hiện thân nguyên khí manas cho giới động vật, vốn là mục tiêu của tiến trình tiến hoá đối với chúng.

293. The number three fits well with the animal or third kingdom.

293. Con số ba rất phù hợp với giới động vật hay giới thứ ba.

294. It would seem that the Heavenly Men supply human beings with the presence of buddhic energy. Similarly, these “seven Entities” related to the animal kingdom could supply animals with what manas they can access and will develop. Although self-consciousness is absent from the members of the animal kingdom, manas is not.

294. Dường như các Đấng Thiên Nhân cung cấp cho con người sự hiện diện của năng lượng Bồ đề. Tương tự như vậy, bảy “Thực Thể” này liên hệ với giới động vật có thể cung cấp cho động vật phần manas mà chúng có thể tiếp cận và sẽ phát triển. Dù ngã thức vắng mặt nơi các thành viên của giới động vật, manas thì không.

295. These Beings are apparently not that Being Who informs the entire animal kingdom. He would be called the “Lord” (singular) of the animal kingdom. Could we say that They inform seven great divisions of the animal kingdom?

295. Những Đấng này rõ ràng không phải là Đấng phú linh cho toàn bộ giới động vật. Ngài sẽ được gọi là “Chúa Tể” (số ít) của giới động vật. Chúng ta có thể nói rằng Các Ngài phú linh cho bảy phân bộ lớn của giới động vật chăng?

296. When there is a goal, the energy for the achievement of that goal must be ‘held’. As the Heavenly Men hold or embody buddhi for the human beings who strive after it, so do these “seven Entities” hold or embody manas for the animals who, albeit unconsciously, strive after it.

296. Khi có một mục tiêu, năng lượng để đạt được mục tiêu ấy phải được “giữ”. Cũng như các Đấng Thiên Nhân giữ hay hiện thân buddhi cho những con người đang phấn đấu hướng đến nó, thì bảy “Thực Thể” này cũng giữ hay hiện thân manas cho các loài động vật, dù vô thức, vẫn đang phấn đấu hướng đến nó.

2. Certain great entities who embody a whole range of existences upon five of the planets, of which the earth is not one, but who in due course of time will come to be recognised as having a powerful effect upon man on the earth, via the three Buddhas of Activity.

2. Một số thực thể vĩ đại nhất định hiện thân cho cả một phạm vi hiện hữu trên năm hành tinh, trong đó Trái Đất không phải là một, nhưng theo thời gian sẽ được nhận biết là có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên con người trên Trái Đất, thông qua ba Đức Phật Hoạt Động.

297. The number five is brought forth and it is a brahmic number.

297. Con số năm được nêu ra, và đó là một con số brahmic.

298. If Earth is not one of these planets, one may surmise that they are sacred planets.

298. Nếu Trái Đất không phải là một trong những hành tinh này, người ta có thể suy đoán rằng chúng là những hành tinh thiêng liêng.

299. The implication to be gathered is that, eventually, Earth will host these type of existences—probably when it becomes a sacred planet.

299. Hàm ý cần rút ra là, cuối cùng, Trái Đất sẽ là nơi tiếp nhận loại hiện hữu này—có lẽ khi nó trở thành một hành tinh thiêng liêng.

300. In line with this section of text, we must remember that according to our present hypothesis, the atmic plane would hold the physical permanent atom of such Beings.

300. Phù hợp với phần văn bản này, chúng ta phải nhớ rằng theo giả thuyết hiện tại của chúng ta, cõi atma sẽ giữ nguyên tử trường tồn hồng trần của những Đấng như thế.

301. These must be rather great Entities if they work through or via the Three Buddhas of Activity. We may remember that the Buddhas of Activity usually referenced are active with respect to our Earth-globe and not in relation to the entire chain or the entire scheme. This would be a significant consideration when comparing the descending scale of these E/entities listed according the number of permanent atoms through which they express on the cosmic physical plane.

301. Đây hẳn phải là những Thực Thể khá vĩ đại nếu Các Ngài hoạt động qua hay thông qua Ba Đức Phật Hoạt Động. Chúng ta có thể nhớ rằng các Đức Phật Hoạt Động thường được nhắc đến là hoạt động đối với bầu Địa Cầu của chúng ta chứ không phải trong liên hệ với toàn bộ dãy hay toàn bộ hệ hành tinh. Đây sẽ là một cân nhắc quan trọng khi so sánh thang bậc đi xuống của các thực thể này được liệt kê theo số lượng nguyên tử trường tồn mà qua đó chúng biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ.

A hint as to this esoteric influence comes to man in the close connection existing between the Earth and Mercury. As yet it is not possible to enlarge further.

Một gợi ý về ảnh hưởng huyền bí này đến với con người trong mối liên hệ chặt chẽ hiện hữu giữa Trái Đất và Sao Thủy. Hiện nay chưa thể nói rộng thêm.

302. The number three is strongly involved. There are three Buddhas of Activity and the third ray may well be the major monadic ray of Mercury (with the fifth as the sub-monadic ray). The third ray is, we know, important for the Earth as its personality ray.

302. Con số ba được liên hệ rất mạnh. Có ba Đức Phật Hoạt Động, và cung ba rất có thể là cung chân thần chính yếu của Sao Thủy (với cung năm là cung dưới chân thần). Như chúng ta biết, cung ba rất quan trọng đối với Trái Đất với tư cách là cung phàm ngã của nó.

303. Mercury (whose number, monadically, is also thought to be five) must be very involved in sponsoring this type of Entity and with transferring the influence of such Entities to the Earth.

303. Sao Thủy (mà con số của nó, xét theo chân thần, cũng được cho là năm) hẳn phải rất liên quan trong việc bảo trợ loại Thực Thể này và trong việc chuyển giao ảnh hưởng của các Thực Thể như thế đến Trái Đất.

3. The entities who are the sumtotal of those group souls who contain definite permanent triads. Nine triads constitute the body of one of these entities.

3. Những thực thể là tổng thể của những hồn nhóm ấy, những hồn nhóm chứa đựng những tam nguyên trường tồn xác định. Chín tam nguyên cấu thành thể của một trong các thực thể này.

304. Are “permanent triads” different from “higher triads”?

304. “Tam nguyên trường tồn” có khác với “Tam Nguyên Tinh Thần” không?

305. Perhaps the following reference will throw light on this question:

305. Có lẽ đoạn tham chiếu sau đây sẽ soi sáng cho câu hỏi này:

"A Group-soul is a collection of permanent Triads in a triple envelope of monadic essence. The permanent Triads are a reflection upon the lower planes of the spiritual Triads on the higher. This description is true of all group-souls functioning on the physical plane, but gives no idea of the extreme complexity of the subject."—From A Study in Consciousness, by Annie Besant. (TCF 335)

“Một Hồn nhóm là một tập hợp các Tam nguyên trường tồn trong một lớp bao bọc tam phân bằng tinh chất chân thần. Các Tam nguyên trường tồn là một sự phản chiếu trên các cõi thấp của các Tam Nguyên Tinh Thần ở các cõi cao. Mô tả này đúng với mọi hồn nhóm hoạt động trên cõi hồng trần, nhưng không cho thấy được tính cực kỳ phức tạp của đề tài này.” — Trích A Study in Consciousness, của Annie Besant. (TCF 335)

306. We may judge that a permanent triad consists of three factors—the physical permanent atom, the astral permanent atom and the mental unit. Even a mineral would have such a triad, though the astral permanent atom or mental unit would latent and not active. A vegetable would have a physical permanent atom and some astral permanent atom activation, but no activation of the mental unit. There is a question of when and how the mental unit appears from within the animal kingdom. It may be a factor in the more intelligent animals but much less so (though perhaps present) in animals of lesser intelligence.

306. Chúng ta có thể phán đoán rằng một tam nguyên trường tồn gồm ba yếu tố—nguyên tử trường tồn hồng trần, nguyên tử trường tồn cảm dục và đơn vị hạ trí. Ngay cả một khoáng vật cũng sẽ có một tam nguyên như thế, dù nguyên tử trường tồn cảm dục hay đơn vị hạ trí sẽ tiềm ẩn chứ không hoạt động. Một thực vật sẽ có nguyên tử trường tồn hồng trần và một mức hoạt hóa nào đó của nguyên tử trường tồn cảm dục, nhưng không có sự hoạt hóa của đơn vị hạ trí. Có một câu hỏi về việc khi nào và bằng cách nào đơn vị hạ trí xuất hiện từ bên trong giới động vật. Nó có thể là một yếu tố nơi những động vật thông minh hơn nhưng ít hơn nhiều (dù có lẽ vẫn hiện diện) nơi những động vật kém thông minh hơn.

307. Are we speaking of animal group souls or also of the group soul phenomenon as it affects the two still lower kingdoms? Entities connected with the vegetable kingdom are listed below in the fourth point under Category V.

307. Chúng ta đang nói về các hồn nhóm động vật hay cũng nói về hiện tượng hồn nhóm khi nó ảnh hưởng đến hai giới còn thấp hơn? Các thực thể liên hệ với giới thực vật được liệt kê bên dưới ở điểm thứ tư trong Loại V.

308. If there is connection specifically to the animal kingdom, we find an amazing example of how members of the animal kingdom work in groups of nine. Occult groups of human beings are also to work in nines. We might also take this ninefoldness down into the vegetable and mineral kingdoms, but it would be very difficult to imagine such life forms expressing in groups of nine.

308. Nếu có sự liên hệ đặc biệt với giới động vật, chúng ta thấy một ví dụ đáng kinh ngạc về cách các thành viên của giới động vật hoạt động theo những nhóm chín. Các nhóm huyền bí của con người cũng phải hoạt động theo những nhóm chín. Chúng ta cũng có thể đưa tính cửu phân này xuống giới thực vật và giới kim thạch, nhưng sẽ rất khó hình dung những hình thái sự sống như thế biểu lộ trong các nhóm chín.

309. We remember that nine is the number of the third ray, and we are speaking of the third kingdom.

309. Chúng ta nhớ rằng chín là con số của cung ba, và chúng ta đang nói về giới thứ ba.

310. We may often have asked ourselves, ‘How big is an animal group soul?’ This section of text seems to set a limit upon the size of such a group-soul organism. Many, many of these Beings (each containing nine triads) would be required to service the entire animal kingdom (and even more to service the vegetable and mineral kingdoms).

310. Chúng ta có lẽ thường tự hỏi, ‘Một hồn nhóm động vật lớn đến mức nào?’ Đoạn văn này dường như đặt ra một giới hạn cho quy mô của một cơ thể hồn nhóm như thế. Rất nhiều, rất nhiều Hữu thể này (mỗi hữu thể chứa chín tam nguyên) sẽ cần thiết để phục vụ toàn bộ giới động vật (và còn nhiều hơn nữa để phục vụ giới thực vật và giới kim thạch).

311. It is nevertheless important to assure ourselves that in speaking of “definite permanent triads” we are not speaking of spiritual triads.

311. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tự bảo đảm rằng khi nói đến “những tam nguyên trường tồn xác định”, chúng ta không nói đến các tam nguyên tinh thần.

312. Here (in this third heading of our tabulation) we do not have four types of entities but rather, three.

312. Ở đây (trong tiêu đề thứ ba này của bảng liệt kê của chúng ta), chúng ta không có bốn loại thực thể mà đúng hơn là ba.

IV. Through four permanent atoms... physical, astral, mental and buddhic.

IV. Qua bốn nguyên tử trường tồn... hồng trần, cảm dục, trí tuệ và Bồ đề.

313. Following the pattern we have been using, we can propose the buddhic permanent atom of these Entities would be found on logoic levels, the manasic permanent atom on monadic levels, the astral permanent atom on atmic levels and the physical permanent atom on buddhic levels.

313. Theo mô hình chúng ta đã sử dụng, chúng ta có thể đề nghị rằng nguyên tử trường tồn Bồ đề của các Thực thể này sẽ được tìm thấy trên các cấp độ logoic, nguyên tử trường tồn manas trên các cấp độ chân thần, nguyên tử trường tồn cảm dục trên các cấp độ atma và nguyên tử trường tồn hồng trần trên các cấp độ Bồ đề.

314. Of course other possibilities exist, but we have no way of entering into them.

314. Dĩ nhiên còn có những khả thể khác, nhưng chúng ta không có cách nào đi vào chúng.

315. This peculiar method of distributing permanent atoms on planes which are not usually correlated with the type of permanent atom demonstrating, stems from the idea that the one permanent atom of, for instance, the Solar Logos, will not be found on the systemic physical level. Nor will the physical permanent atom of one of the Three Persons, nor of a Planetary Logos, nor of a Chain Lord.

315. Phương pháp đặc biệt này trong việc phân bố các nguyên tử trường tồn trên những cõi vốn thường không tương ứng với loại nguyên tử trường tồn đang biểu lộ, bắt nguồn từ ý tưởng rằng nguyên tử trường tồn duy nhất của, chẳng hạn, Thái dương Thượng đế sẽ không được tìm thấy trên cấp độ hệ thống hồng trần. Nguyên tử trường tồn hồng trần của một trong Ba Ngôi, hay của một Đức Hành Tinh Thượng Đế, hay của một Chúa Tể Dãy cũng sẽ không như vậy.

316. This can probably be said of the next lower category of Entity in this tabulation—which though lesser than the first four is still very great when compared to man.

316. Điều này có lẽ cũng có thể được nói về loại Thực thể thấp hơn kế tiếp trong bảng liệt kê này—loại tuy thấp hơn bốn loại đầu nhưng vẫn rất vĩ đại khi so với con người.

317. Then, at what point would the permanent atoms begin to accord with the plane usually associated with them. In other words, as what point does the apportionment of the permanent atoms to planes become systemic rather than cosmic?

317. Vậy thì, ở điểm nào các nguyên tử trường tồn sẽ bắt đầu phù hợp với cõi thường gắn liền với chúng? Nói cách khác, ở điểm nào sự phân bổ các nguyên tử trường tồn cho các cõi trở thành hệ thống thay vì vũ trụ?

318. There is no easy way to know this. Perhaps it happens when the Monads of such Entities begin to belong to the cosmic physical plane rather than to higher planes. In other words, when the Monads of an Entity are on the cosmic physical plane, we will assign the permanent atoms to the plane for which these permanent atoms are named, but not otherwise.

318. Không có cách dễ dàng nào để biết điều này. Có lẽ điều đó xảy ra khi các chân thần của những Thực thể như thế bắt đầu thuộc về cõi hồng trần vũ trụ thay vì các cõi cao hơn. Nói cách khác, khi các chân thần của một Thực thể ở trên cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta sẽ gán các nguyên tử trường tồn cho cõi mà các nguyên tử trường tồn ấy được gọi tên, còn nếu không thì không.

319. We know that by the time we reach man, the atmic permanent atom is found on the atmic plane, the buddhic permanent atom on the buddhic, and so forth. The apportionment has definitely become systemic rather than cosmic.

319. Chúng ta biết rằng vào lúc đạt đến con người, nguyên tử trường tồn atma được tìm thấy trên cõi atma, nguyên tử trường tồn Bồ đề trên cõi Bồ đề, v.v. Sự phân bổ ấy rõ ràng đã trở thành hệ thống chứ không phải vũ trụ.

320. This problem of assigning permanent atoms to their proper planar level (whether systemic or cosmic) is involved in what we might call the ‘relativity of the planes’. Buddhic means buddhic for man, but for greater Beings buddhic might mean something different and indicate some other plane.

320. Vấn đề gán các nguyên tử trường tồn cho cấp độ cõi thích hợp của chúng (dù là hệ thống hay vũ trụ) có liên quan đến điều mà chúng ta có thể gọi là “tính tương đối của các cõi”. Bồ đề có nghĩa là Bồ đề đối với con người, nhưng đối với các Hữu thể lớn hơn, Bồ đề có thể mang một ý nghĩa khác và chỉ một cõi khác.

321. So, then, do these Beings who have four permanent atoms demonstrating on the cosmic physical plane have a systemic apportionment or one that is more cosmic?

321. Vậy thì, những Hữu thể có bốn nguyên tử trường tồn biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ này có một sự phân bổ hệ thống hay một sự phân bổ mang tính vũ trụ hơn?

1. Eight groups of solar Entities Who form the subjective life of the seven centres in the body of Brahma, viewing Him as a separate cosmic Entity, [Page 534] dissociated from His two brothers. They are the seven Sons of Fohat, with the eighth Son included, and They are the final differentiation of the forty-nine fires, prior to Their union with the fire of Eros. Thus is it expressed by H. P. B.74

1. Tám nhóm Thực thể thái dương tạo thành sự sống chủ quan của bảy trung tâm trong thể của Brahma, khi xem Ngài như một Thực thể vũ trụ riêng biệt, [Page 534] tách rời khỏi hai Huynh đệ của Ngài. Họ là bảy Con của Fohat, kể cả người Con thứ tám, và Họ là sự biến phân cuối cùng của bốn mươi chín ngọn lửa, trước khi Họ hợp nhất với lửa của Eros. H. P. B. đã diễn đạt như thế.74

S. D., I, 139, 144.

S. D., I, 139, 144.

322. The occultism gets deeper and deeper.

322. Huyền bí học ngày càng sâu hơn.