Trích nội dung chương
66. Because the causal body is the monadic heart center, the number twelve must be prominently associated with it. All heart centers with which we are familiar are twelvefold. 66. Bởi vì thể nguyên nhân là trung tâm tim của chân thần, con số mười hai phải được liên kết nổi bật với nó. Mọi trung tâm tim mà chúng ta quen thuộc đều là thập nhị phân.
66. Because the causal body is the monadic heart center, the number twelve must be prominently associated with it. All heart centers with which we are familiar are twelvefold.
66. Bởi vì thể nguyên nhân là trung tâm tim của chân thần, con số mười hai phải được liên kết nổi bật với nó. Mọi trung tâm tim mà chúng ta quen thuộc đều là thập nhị phân.
67. Viewing the causal body as twelvefold can be accomplished if the "Jewel in the Lotus" which represents the first aspect and the three units in the atomic triangle representing the third aspect are eliminated.
67. Việc xem thể nguyên nhân là thập nhị phân có thể thực hiện được nếu “Ngọc trong Hoa Sen”, vốn biểu thị phương diện thứ nhất, và ba đơn vị trong tam giác nguyên tử biểu thị phương diện thứ ba, được loại bỏ.
68. Twelve petals would remain and petals always emphasize the second aspect.
68. Khi ấy sẽ còn lại mười hai cánh hoa, và các cánh hoa luôn nhấn mạnh phương diện thứ hai.
In studying the egoic body it should be remembered that the causal body is the correspondence in the monadic manifestation to the heart centre. It is a flaming wheel of fire within the monadic auric egg,
Khi nghiên cứu thể chân ngã, cần nhớ rằng thể nguyên nhân là sự tương ứng trong biểu hiện chân thần với trung tâm tim. Nó là một bánh xe lửa rực cháy trong noãn hào quang chân thần,
69. Again, the causal body is within the periphery of the monadic auric egg, but is not co-substantial (of the same substance) as the monadic auric egg.
69. Một lần nữa, thể nguyên nhân nằm trong chu vi của noãn hào quang chân thần, nhưng không đồng chất liệu (cùng một chất liệu) với noãn hào quang chân thần.
70. In gaining some clear idea about the ‘anatomy’ of man’s inner vehicles, location of a factor within another factor may not depend upon the co-substantiality of the first factor with the second. The members of the atomic triangle are located ‘within’ the causal body but are not co-substantial with any part of it; the causal body is located ‘within’ the monadic auric egg but is not co-substantial with it.
70. Khi đạt được một ý niệm rõ ràng nào đó về “giải phẫu học” của các vận cụ bên trong của con người, vị trí của một yếu tố bên trong một yếu tố khác có thể không tùy thuộc vào sự đồng chất liệu của yếu tố thứ nhất với yếu tố thứ hai. Các thành viên của tam giác nguyên tử nằm “trong” thể nguyên nhân nhưng không đồng chất liệu với bất kỳ phần nào của nó; thể nguyên nhân nằm “trong” noãn hào quang chân thần nhưng không đồng chất liệu với nó.
which embraces the five planes of monadic manifestation;
vốn bao trùm năm cõi của biểu hiện chân thần;
71. The five planes of monadic manifestation are the atmic, buddhic, manasic, astral and etheric-physical.
71. Năm cõi của biểu hiện chân thần là cõi atma, cõi Bồ đề, cõi manas, cõi cảm dục và cõi dĩ thái-hồng trần.
72. The monadic auric egg includes within its periphery the sheaths to be found all the five brahmic planes, including the buddhic and atmic sheaths as they become organized or coordinated.
72. Noãn hào quang chân thần bao gồm trong chu vi của nó các thể được tìm thấy trên cả năm cõi brahmic, kể cả các thể Bồ đề và atma khi chúng trở nên được tổ chức hay phối hợp.
73. On the surface this text statement seems straightforward, but there could be problems associated with it. Much depends on how we read the previous two sections of text.
73. Trên bề mặt, phát biểu này của bản văn có vẻ thẳng thắn, nhưng có thể có những vấn đề gắn liền với nó. Nhiều điều tùy thuộc vào cách chúng ta đọc hai phần văn bản trước đó.
74. We can easily fathom that the monadic auric egg would embrace the five planes of monadic manifestation.
74. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu rằng noãn hào quang chân thần sẽ bao trùm năm cõi của biểu hiện chân thần.
75. It would be much more difficult to justify that the causal body would embrace these five planes, which could be one interpretation (not the best, really)
75. Sẽ khó biện minh hơn nhiều nếu cho rằng thể nguyên nhân bao trùm năm cõi này, điều có thể là một cách diễn giải (thực ra không phải cách tốt nhất)
76. Atmic substance and buddhic substance are not co-substantial with the higher manasic matter out of which the causal body is composed. So in what matter could the causal body embrace the five planes of the monadic plane?
76. Chất liệu atma và chất liệu Bồ đề không đồng chất liệu với vật chất manas cao mà từ đó thể nguyên nhân được cấu thành. Vậy thì trong loại vật chất nào thể nguyên nhân có thể bao trùm năm cõi của cõi chân thần?
77. Perhaps we can say that the force of atma and buddhi makes its way into the causal body via the petals of the causal body. As we can see from Chart VIII, TCF 817, atma influences the three sacrifice petals and buddhi the three love petals. Probably each of them influences one of the synthesizing petals as well.
77. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng mãnh lực của atma và Bồ đề đi vào thể nguyên nhân qua các cánh hoa của thể nguyên nhân. Như chúng ta có thể thấy từ Biểu đồ VIII, TCF 817, atma ảnh hưởng đến ba cánh hoa hi sinh và Bồ đề ảnh hưởng đến ba cánh hoa bác ái. Có lẽ mỗi loại cũng ảnh hưởng đến một trong các cánh hoa tổng hợp.
78. We have sometimes seen within the causal periphery a triangle representing atma, buddhi and manas. Certainly the energy of the spiritual triad is playing through or translated into the egoic lotus.
78. Đôi khi chúng ta đã thấy trong chu vi nhân thể một tam giác biểu thị atma, Bồ đề và manas. Chắc chắn năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần đang vận hành xuyên qua hay được chuyển dịch vào Hoa Sen Chân Ngã.
79. From this perspective, then, it would be possible to say that the causal body embraces or encompasses, (if not the five planes of monadic manifestation, then,) at least three of the brahmic planes (etheric physical, astral and mental planes) and two additional energies pertaining to the two highest planes of monadic manifestation.
79. Từ góc nhìn này, khi ấy có thể nói rằng thể nguyên nhân bao trùm hay bao gồm, (nếu không phải năm cõi của biểu hiện chân thần, thì) ít nhất ba cõi brahmic (cõi dĩ thái hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí) và hai năng lượng bổ sung thuộc về hai cõi cao nhất của biểu hiện chân thần.
80. The preferred reading, however, is that it is the monadic auric egg embraces the five planes of monadic manifestation.
80. Tuy nhiên, cách đọc được ưa chuộng hơn là chính noãn hào quang chân thần bao trùm năm cõi của biểu hiện chân thần.
it is also seen as the twelve-petalled Lotus.
nó cũng được thấy như Hoa sen mười hai cánh.
81. This is the way it is most frequently depicted and preserves its heart-center association.
81. Đây là cách nó được mô tả thường xuyên nhất và bảo tồn sự liên hệ của nó với trung tâm tim.
Of these twelve petals, the innermost three are unrevealed, or are embryonic, and hence the causal body is frequently considered as a nine-petalled Lotus, or as a wheel of fire with only nine spokes or whorls.
Trong mười hai cánh hoa này, ba cánh trong cùng chưa được hiển lộ, hay còn ở trạng thái phôi thai, và vì thế thể nguyên nhân thường được xem là một Hoa sen chín cánh, hay như một bánh xe lửa chỉ có chín nan hay chín vòng xoáy.
82. This is a good explanation and suggests how the lotus can be considered both twelvefold and ninefold.
82. Đây là một lời giải thích tốt và gợi ra cách mà hoa sen có thể được xem là vừa thập nhị phân vừa cửu phân.
83. The innermost three petals are no longer embryonic for one who has begun to tread the Path of Planetary Initiation
83. Ba cánh hoa trong cùng không còn ở trạng thái phôi thai đối với người đã bắt đầu bước trên Con Đường Điểm Đạo Hành Tinh
This is essentially true as regards the evolutionary process, but when a man has succeeded in awakening or unfolding the nine petals, or in arousing the fire of the nine spokes or whorls (which is practically consummated at the three major Initiations) the inner three are revealed.
Điều này về căn bản là đúng đối với tiến trình tiến hoá, nhưng khi một người đã thành công trong việc đánh thức hay khai mở chín cánh hoa, hay trong việc khơi dậy lửa của chín nan hay chín vòng xoáy (điều này thực tế được hoàn tất vào ba lần Điểm Đạo chính) thì ba cánh bên trong được hiển lộ.
84. The majority of the evolutionary process involves nine petals, spokes or whorls.
84. Phần lớn tiến trình tiến hoá liên quan đến chín cánh hoa, chín nan hay chín vòng xoáy.
85. DK tells us that the unfoldment of the nine is “practically consummated at the three major initiations”. Does this mean that the unfoldment of all the nine is completely consummated by the time the third initiation is taken or almost so? It would seem that some small degree of unfoldment of the last tier of the nine remains to be accomplished between the third and fourth initiations.
85. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng sự khai mở của chín cánh là “thực tế được hoàn tất vào ba lần điểm đạo chính”. Điều này có nghĩa là sự khai mở của cả chín cánh được hoàn tất hoàn toàn vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận hay chỉ gần như vậy? Có vẻ như một mức độ khai mở nhỏ nào đó của tầng cuối cùng trong chín cánh vẫn còn phải được hoàn thành giữa lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư.
86. The inner three petals are called synthesis petals and when they are in process of unfoldment, the consciousness of the initiate is in process of achieving a relatively complete synthesis (at least in terms of the human kingdom) in knowledge, love and power. The many items of knowledge he has experienced through his long evolutionary journey are being synthesized into what we might call ‘knowledge of wisdom’; the many loves are being synthesized into the love of the divine; the many skills, faculties or powers are being synthesized into a great adequacy when facing the normal conditions of human living and his ability to wield spiritual will is becoming ‘consummate’—at least with respect to his development within the fourth kingdom (which is rapidly leaving behind).
86. Ba cánh hoa bên trong được gọi là các cánh hoa tổng hợp, và khi chúng đang trong tiến trình khai mở, tâm thức của điểm đạo đồ đang trong tiến trình đạt đến một sự tổng hợp tương đối hoàn chỉnh (ít nhất theo phương diện giới nhân loại) về tri thức, bác ái và quyền năng. Nhiều hạng mục tri thức mà y đã kinh nghiệm qua cuộc hành trình tiến hoá lâu dài của mình đang được tổng hợp thành điều mà chúng ta có thể gọi là ‘tri thức của minh triết’; nhiều tình thương đang được tổng hợp thành tình thương của thiêng liêng; nhiều kỹ năng, năng lực hay quyền năng đang được tổng hợp thành một sự đầy đủ lớn lao khi đối diện với những điều kiện bình thường của đời sống con người, và khả năng vận dụng ý chí tinh thần của y đang trở nên ‘viên mãn’—ít nhất là đối với sự phát triển của y trong giới thứ tư (mà y đang nhanh chóng bỏ lại phía sau).
They respond to the monadic vibration, to the aspect of pure Spirit;
Chúng đáp ứng với rung động chân thần, với phương diện của Tinh thần thuần túy;
87. Since the greatest stimulation of these synthesizing petals occurs at and between the third and fourth initiations, it is reasonable to think of them as stimulated by and responsive to monadic vibration which becomes conscious and focal at and following the third initiation.
87. Vì sự kích thích lớn nhất của các cánh hoa tổng hợp này xảy ra tại và giữa lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, thật hợp lý khi nghĩ về chúng như được kích thích bởi và đáp ứng với rung động chân thần, vốn trở nên hữu thức và có tiêu điểm tại và sau lần điểm đạo thứ ba.
88. Chart VIII (TCF 817) shows a line of monadic power descending to stimulate the "Jewel in the Lotus" and probably, as well, the three synthesizing petals which are drawn around the central jewel.
88. Biểu đồ VIII (TCF 817) cho thấy một đường quyền năng chân thần giáng xuống để kích thích “Ngọc trong Hoa Sen” và có lẽ cả ba cánh hoa tổng hợp được vẽ quanh viên ngọc trung tâm.
89. Each of the three synthesizing petals can be conceived as correlated to one of the aspects of the spiritual triad.
89. Mỗi một trong ba cánh hoa tổng hợp có thể được quan niệm là tương quan với một trong các phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần.
90. The three inner petals as a whole arose as a result of buddhic stimulation. (cf. TCF 709)
90. Ba cánh hoa bên trong như một toàn thể đã phát sinh như kết quả của sự kích thích Bồ đề. (xem TCF 709)
91. The "Jewel in the Lotus" would seem to be directly responsive to the Monad and to atma as the principle of man closest in nature to the monadic nature.
91. “Ngọc trong Hoa Sen” dường như đáp ứng trực tiếp với Chân thần và với atma như nguyên khí của con người gần nhất về bản chất với bản chất chân thần.
it is the stimulation or revelation of these inner petals, by the One Initiator at the third and fourth Initiations which brings about the final conflagration and the blazing up of the causal body with the subsequent liberation of the central positive Life or Fire.
chính là sự kích thích hay mặc khải của các cánh hoa bên trong này, bởi Đấng Điểm đạo Duy Nhất vào lần điểm đạo thứ ba và thứ tư, mang lại cuộc bùng cháy cuối cùng và sự bốc cháy rực rỡ của thể nguyên nhân cùng với sự giải thoát tiếp theo của Sự sống hay Lửa dương tính trung tâm.
92. We are, we will recognize, speaking of the alchemical liberation of the “central positive Life or Fire”.
92. Chúng ta, như sẽ nhận ra, đang nói về sự giải phóng theo thuật luyện kim của “Sự sống hay Lửa dương tính trung tâm”.
93. Between the third and fourth initiation the Jewel is revealed, and it is the opening of the synthesizing petals that reveals the Jewel. As the Jewel is progressively revealed its power is unleashed in the act of destroying the causal body.
93. Giữa lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, Ngọc được hiển lộ, và chính sự mở ra của các cánh hoa tổng hợp làm hiển lộ Ngọc. Khi Ngọc dần dần được hiển lộ, quyền năng của nó được giải phóng trong hành động hủy diệt thể nguyên nhân.
94. The causal body is destroyed in a number of ways and from different agencies. Among them are:
94. Thể nguyên nhân bị hủy diệt theo nhiều cách và từ những tác nhân khác nhau. Trong số đó có:
a. From the touch of the Rod of the Initiator
a. Từ sự chạm của Thần Trượng Điểm đạo của Đấng Điểm đạo
b. From triadal and monadic impulse
b. Từ xung động tam nguyên tinh thần và chân thần
c. From ‘below’ as a result of the intensely heated activity of the atomic triangle
c. Từ “bên dưới” như kết quả của hoạt động nung nóng mãnh liệt của tam giác nguyên tử
95. The stage of synthesis (achieved from the time of the third to the fourth initiation) signals impending destruction.
95. Giai đoạn tổng hợp (đạt được từ lần điểm đạo thứ ba đến lần điểm đạo thứ tư) báo hiệu sự hủy diệt sắp đến.
96. We realize that the Christ as Initiator is not so much involved with the stimulation of these central petals; this is the task of Sanat Kumara as the One Initiator.
96. Chúng ta nhận ra rằng Đức Christ với tư cách Đấng Điểm đạo không can dự nhiều đến sự kích thích các cánh hoa trung tâm này; đây là nhiệm vụ của Đức Sanat Kumara với tư cách Đấng Điểm đạo Duy Nhất.
2. The Twelve-Petalled Egoic Lotus
2. Hoa Sen Chân Ngã Mười Hai Cánh
Solar Fire is dual. It is the fire of matter or substance and the fire of mind blended.
Lửa Thái dương là nhị nguyên. Nó là lửa của vật chất hay chất liệu và lửa của trí tuệ được hòa trộn.
97. This is an interesting statement. Very often solar fire is simply called the fire of mind.
97. Đây là một phát biểu thú vị. Rất thường khi lửa thái dương đơn giản được gọi là lửa của trí tuệ.
98. When we speak here of “matter or substance”, we have to decide whether the lower substances are involved (i.e., the substance-fires of the personality) or only the matter/substance-fires of the higher mental plane.
98. Khi ở đây chúng ta nói về “vật chất hay chất liệu”, chúng ta phải quyết định liệu các chất liệu thấp có được bao hàm hay không (tức các lửa chất liệu của phàm ngã) hay chỉ các lửa vật chất/chất liệu của Cõi thượng trí.
99. It does not seem accurate to consider the matter/substance of the planes of personality when considering solar fire, so we discuss the fires of matter/substance primarily in relation to the higher mental plane.
99. Có vẻ không chính xác khi xét đến vật chất/chất liệu của các cõi của phàm ngã khi xem xét lửa thái dương, vì vậy chúng ta bàn đến các lửa của vật chất/chất liệu chủ yếu trong liên hệ với Cõi thượng trí.
100. Solar fire, however, is also, we have earlier established, active on the triadal levels and so the “substance” there found will also be involved in the expression of solar fire.
100. Tuy nhiên, như trước đây chúng ta đã xác lập, lửa thái dương cũng hoạt động trên các cấp độ tam nguyên tinh thần, và vì vậy “chất liệu” được tìm thấy ở đó cũng sẽ được bao hàm trong sự biểu lộ của lửa thái dương.
Man demonstrates as electric fire on the second plane, or the second cosmic ether; as solar fire on the third, fourth and the three higher subplanes of the fifth plane, and as fire by friction on the lower subplanes of the fifth, on the sixth, and seventh planes. (TCF 521-522)
Con người biểu lộ như Lửa Điện trên cõi thứ hai, hay dĩ thái vũ trụ thứ hai; như Lửa Thái dương trên cõi thứ ba, thứ tư và ba cõi phụ cao hơn của cõi thứ năm, và như Lửa ma sát trên các cõi phụ thấp hơn của cõi thứ năm, trên cõi thứ sáu và thứ bảy. (TCF 521-522)
101. We do not have to address this complication in this context.
101. Chúng ta không cần đề cập đến sự phức tạp này trong bối cảnh hiện tại.
This makes man the six-pointed Star of Light, for each of these fires is triple.
Điều này làm cho con người trở thành Ngôi Sao Ánh Sáng sáu cánh, vì mỗi một trong các lửa này đều là tam phân.
102. DK is telling us that the fire of mind is triple and that the fire of matter/substance is also triple. The two together make the dual solar fire.
102. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng lửa của trí tuệ là tam phân và lửa của vật chất/chất liệu cũng là tam phân. Hai loại cùng nhau tạo thành lửa thái dương nhị nguyên.
103. From one perspective, it is the three fires of matter/substance (fire by friction considered as a triple fire) and the three fires called “the fire of mind” which make the Star of Light.
103. Từ một góc nhìn, chính ba lửa của vật chất/chất liệu (Lửa ma sát được xem như một lửa tam phân) và ba lửa được gọi là “lửa của trí tuệ” tạo nên Ngôi Sao Ánh Sáng.
104. There are number of ways to render the fires of matter/substance into a triplicity. We will try to keep things simple by focusing on the higher mental plane and stating that the three fires of matter/substance here discussed are related to the three higher sub-planes of the mental plane.
104. Có nhiều cách để diễn đạt các lửa của vật chất/chất liệu thành một bộ ba. Chúng ta sẽ cố giữ cho mọi việc đơn giản bằng cách tập trung vào Cõi thượng trí và nói rằng ba lửa của vật chất/chất liệu đang được bàn đến ở đây liên hệ với ba cõi phụ cao hơn của cõi trí.
105. We will also affirm that the fires of matter/substance (even matter/substance of the higher mental plane) are not the same as the fires of mind.
105. Chúng ta cũng sẽ khẳng định rằng các lửa của vật chất/chất liệu (ngay cả vật chất/chất liệu của Cõi thượng trí) không giống với các lửa của trí tuệ.
106. The fires of matter/substance and of mind can also be seen as both dual and triple.
106. Các lửa của vật chất/chất liệu và của trí tuệ cũng có thể được xem là vừa nhị phân vừa tam phân.
107. In fact, we must say of both these kinds of fires—i.e., of matter/substance and of mind
107. Thực ra, chúng ta phải nói về cả hai loại lửa này—tức của vật chất/chất liệu và của trí tuệ
a. They are unitary
a. Chúng là nhất nguyên
b. They express through duality
b. Chúng biểu lộ qua nhị nguyên tính
c. They express through triplicity
c. Chúng biểu lộ qua bộ ba
108. Generally, probably one of the best ways to view the fires of matter/substance as triple is as follows:
108. Nói chung, có lẽ một trong những cách tốt nhất để nhìn các lửa của vật chất/chất liệu như là tam phân là như sau:
The internal fires of the system, of the planet, and of man are threefold:
Các lửa nội tại của hệ thống, của hành tinh, và của con người là tam phân:
1. Interior fire at the centre of the sphere, those inner furnaces which produce warmth. This is latent fire.
1. Lửa bên trong tại trung tâm của khối cầu, những lò lửa bên trong tạo ra hơi ấm. Đây là lửa tiềm tàng.
2. Radiatory fire. This type of fire might be expressed in terms of physical plane electricity, of light rays, and of etheric energy. This is active fire.
2. Lửa bức xạ. Loại lửa này có thể được diễn tả theo điện năng cõi hồng trần, các tia sáng, và năng lượng dĩ thái. Đây là lửa hoạt động.
3. Essential fire, or the fire elementals who are themselves the essence of fire. They are mainly divided into two groups:
3. Lửa bản chất, hay các hành khí của lửa vốn chính là tinh túy của lửa. Chúng chủ yếu được chia thành hai nhóm:
a. Fire devas or evolutionary entities.
a. Các thiên thần lửa hay các thực thể thăng thượng tiến hoá.
b. Fire elementals or involutionary entities. (TCF 52)
b. Các hành khí của lửa hay các thực thể giáng hạ tiến hoá. (TCF 52)
109. This threefold division of fire is usually used in relation to the eighteen lower sub-planes—the planes of the personality.
109. Sự phân chia tam phân này của lửa thường được dùng trong liên hệ với mười tám cõi phụ thấp—các cõi của phàm ngã.
110. If we try to apply the triple division to the three levels of the higher mental plane, then interior fire would be analogically associated with the third sub-plane, radiatory fire with the second and essential fire with the first.
110. Nếu chúng ta cố áp dụng sự phân chia tam phân vào ba cấp độ của Cõi thượng trí, thì theo phép tương đồng, lửa bên trong sẽ được liên kết với cõi phụ thứ ba, lửa bức xạ với cõi phụ thứ hai và lửa bản chất với cõi phụ thứ nhất.
111. It sounds as if solar fire (described above as a dual fire) is formed by the triple fires of mind each blending with one of the three fires of higher mental substance.
111. Có vẻ như Lửa Thái dương (được mô tả ở trên như một lửa kép) được hình thành bởi các lửa tam phân của trí tuệ, mỗi lửa hòa trộn với một trong ba lửa của chất liệu thượng trí.
112. The six-pointed star is a very generic figure in occultism and can be formed in many ways; blending substance and mental fire is one.
112. Ngôi sao sáu cánh là một hình tượng rất tổng quát trong huyền bí học và có thể được tạo thành theo nhiều cách; sự hòa trộn chất liệu và lửa trí tuệ là một trong số đó.
113. When we read all this, we can only agree with the Tibetan when He states:
113. Khi đọc tất cả điều này, chúng ta chỉ có thể đồng ý với Chân sư Tây Tạng khi Ngài phát biểu:
It is, therefore, obvious that this matter of fire is as complex as that of the rays. (TCF 59)
Vì vậy, hiển nhiên là vấn đề lửa này cũng phức tạp như vấn đề các cung. (TCF 59)
The fire of mind is also in essence dual, bringing in another triplicity, thus making the nine.
Lửa của trí tuệ cũng về bản chất là kép, đưa vào một bộ ba khác, do đó tạo thành chín.
114. If the fire of mind is essentially dual, then each member of this duality can be divided into a triplicity.
114. Nếu lửa của trí tuệ về bản chất là kép, thì mỗi thành phần của nhị nguyên tính này có thể được chia thành một bộ ba.
115. Examining the fire demonstration on the higher mental plane we would have:
115. Khi khảo sát sự biểu hiện của lửa trên Cõi thượng trí, chúng ta sẽ có:
a. The threefold fire of substance/matter relating to the three sub-planes of the higher mental plane
a. Lửa tam phân của chất liệu/vật chất liên hệ với ba cõi phụ của Cõi thượng trí
b. The threefold fire of one division of the fire of mind
b. Lửa tam phân của một phân bộ của lửa trí tuệ
c. The threefold division of the other division of the fire of mind
c. Sự phân chia tam phân của phân bộ kia của lửa trí tuệ
116. How shall we understand the duality of the fire of mind?
116. Chúng ta phải hiểu nhị nguyên tính của lửa trí tuệ như thế nào?
117. One easy way is to think of the fire of concrete mind and the fire of higher mind.
117. Một cách dễ dàng là nghĩ đến lửa của trí cụ thể và lửa của thượng trí.
118. But when dealing with solar fire, we are thinking of fire upon the higher mental plane and not of the elemental fires of concrete mind, so our division of the fire of mind into a duality must occur in relation to the higher mental plane.
118. Nhưng khi bàn đến Lửa Thái dương, chúng ta đang nghĩ đến lửa trên Cõi thượng trí chứ không phải các lửa hành khí của trí cụ thể, nên sự phân chia lửa trí tuệ thành một nhị nguyên tính phải xảy ra trong liên hệ với Cõi thượng trí.
119. If we concentrate upon developments upon the higher mental plane and seek to divide the fire of mind there found into a duality, we can have:
119. Nếu chúng ta tập trung vào các phát triển trên Cõi thượng trí và tìm cách chia lửa trí tuệ được tìm thấy ở đó thành một nhị nguyên tính, chúng ta có thể có:
a. The fire which animates the normal nine petals of the egoic lotus
a. Lửa làm sinh động chín cánh hoa bình thường của Hoa Sen Chân Ngã
b. The fire which animates the "Jewel in the Lotus" and the three inner petals of the egoic lotus
b. Lửa làm sinh động “Ngọc trong Hoa Sen” và ba cánh hoa bên trong của Hoa Sen Chân Ngã
120. It would appear that each member of the triplicity of fires which animate the three tiers of petals of the egoic lotus is further divisible into a triplicity, because each tier of the egoic lotus has three petals.
120. Có vẻ như mỗi thành phần trong bộ ba các lửa làm sinh động ba tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã còn có thể chia tiếp thành một bộ ba, bởi vì mỗi tầng của Hoa Sen Chân Ngã có ba cánh hoa.
121. We have to remember that even though the inner petals are buddhically derived and the "Jewel in the Lotus" is monadically (and probably atmically) derived—these energy structures are, nevertheless found upon the higher mental plane, and, thus, are necessarily related to the energy of the higher mental plane. In this case, it is probably the manasic permanent atom which is that particular energy of the higher mental plane which is related to the inner structure of the egoic lotus.
121. Chúng ta phải nhớ rằng mặc dù các cánh hoa bên trong có nguồn gốc Bồ đề và “Ngọc trong Hoa Sen” có nguồn gốc chân thần (và có lẽ là atma)—những cấu trúc năng lượng này tuy nhiên vẫn được tìm thấy trên Cõi thượng trí, và do đó tất yếu có liên hệ với năng lượng của Cõi thượng trí. Trong trường hợp này, có lẽ chính nguyên tử trường tồn manas là năng lượng đặc thù ấy của Cõi thượng trí có liên hệ với cấu trúc bên trong của Hoa Sen Chân Ngã.
122. We can begin to wonder about the ‘substantial positioning’ of the "Jewel in the Lotus" and the inner or synthesis petals. Are they ever located on the third and second sub-planes of the higher mental plane, or are they always to be found upon the first sub-plane even when the other aspects of the egoic lotus may be focussed on the third sub-plane or second sub-plane.
122. Chúng ta có thể bắt đầu tự hỏi về “vị trí theo chất liệu” của “Ngọc trong Hoa Sen” và các cánh hoa bên trong hay cánh hoa tổng hợp. Liệu chúng có bao giờ nằm trên cõi phụ thứ ba và thứ hai của Cõi thượng trí hay không, hay chúng luôn luôn được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất ngay cả khi các phương diện khác của Hoa Sen Chân Ngã có thể được tập trung trên cõi phụ thứ ba hoặc cõi phụ thứ hai.
123. We can see how much intricacy there is in these considerations and how little of a truly technical nature is known.
123. Chúng ta có thể thấy có biết bao nhiêu sự phức tạp trong những xem xét này và biết ít đến mức nào về bản chất thực sự kỹ thuật của chúng.
124. Confining ourselves to the higher mental plane in this discussion of the fires of the egoic lotus, we can suppose (whether correctly or incorrectly remains to be seen) that the essential dualism of the fire of mind mentioned in the section of text above refers to a fire focussed in relation to the third and second sub-planes of the higher mental plane and another fire focused in relation to the first sub-plane.
124. Giới hạn mình trong Cõi thượng trí trong cuộc thảo luận này về các lửa của Hoa Sen Chân Ngã, chúng ta có thể giả định (đúng hay sai còn phải chờ xem) rằng tính nhị nguyên cốt yếu của lửa trí tuệ được nhắc đến trong đoạn văn trên ám chỉ một lửa được tập trung trong liên hệ với cõi phụ thứ ba và thứ hai của Cõi thượng trí, và một lửa khác được tập trung trong liên hệ với cõi phụ thứ nhất.
125. The mental fire focussed in relation to the third and second sub-planes is
125. Lửa trí tuệ được tập trung trong liên hệ với cõi phụ thứ ba và thứ hai là
a. First triple, because it has to animate three tiers of petals of the egoic lotus
a. Trước hết là tam phân, vì nó phải làm sinh động ba tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã
b. And then, ninefold, because each of the tiers is triple
b. Và rồi là cửu phân, vì mỗi tầng là tam phân
126. The higher of the divisions of that portion of the fire of mind confined to the higher mental plane, is the division we will associate with the manasic permanent atom and all that that point of force animates. This fire is, in a way, the representative of the threefold fire of the triad. Since the spiritual triad is expressing within the ‘World of Brahma’, its three fires are, in a way, mental or manasic.
126. Phân bộ cao hơn của phần lửa trí tuệ bị giới hạn trong Cõi thượng trí là phân bộ mà chúng ta sẽ liên kết với nguyên tử trường tồn manas và tất cả những gì điểm mãnh lực ấy làm sinh động. Theo một cách nào đó, lửa này là đại diện của lửa tam phân của Tam Nguyên Tinh Thần. Vì Tam Nguyên Tinh Thần đang biểu lộ trong ‘Thế giới của Brahma’, nên ba lửa của nó, theo một nghĩa nào đó, là trí tuệ hay manas.
127. This whole question of divisions and sub-divisions into dualities and triplicities is not easy to understand. It would be easy to gloss over the inherent difficulties in these first few sentences on “The Twelve-Petalled Egoic Lotus”, but we must not allow ourselves to do so.
127. Toàn bộ vấn đề này về các phân chia và phân chia phụ thành các nhị nguyên tính và bộ ba không dễ hiểu. Sẽ rất dễ lướt qua những khó khăn cố hữu trong vài câu đầu tiên này về “Hoa Sen Chân Ngã Mười Hai Cánh”, nhưng chúng ta không được cho phép mình làm như vậy.
128. Triplicities evolve out of dualities. One member of an original duality divides again, and thus a triplicity is formed.
128. Các bộ ba tiến hoá ra từ các nhị nguyên tính. Một thành phần của một nhị nguyên tính nguyên thủy lại phân chia lần nữa, và như thế một bộ ba được hình thành.
129. From a psychological point of view this method of division can be seen in relation to how from the second type of second ray soul, a third type is created through subdivision, yielding, in all, three major subtypes of second ray soul. (cf. DINA II 518)
129. Từ quan điểm tâm lý học, phương pháp phân chia này có thể được thấy trong liên hệ với cách mà từ loại linh hồn cung hai thứ hai, một loại thứ ba được tạo ra qua sự phân chia phụ, tạo ra tổng cộng ba phân loại phụ chính của linh hồn cung hai. (x. DINA II 518)
When a man has awakened the nine fires, and has unfolded the nine petals,
Khi con người đã đánh thức chín lửa, và đã khai mở chín cánh hoa,
130. If we tabulate the nine fires (at least according to the present hypothesis) we will have:
130. Nếu chúng ta lập bảng chín lửa (ít nhất theo giả thuyết hiện tại), chúng ta sẽ có:
a. Three fires of matter/substance relating to the matter/substance of the three highest sub-planes of the mental plane
a. Ba lửa của vật chất/chất liệu liên hệ với vật chất/chất liệu của ba cõi phụ cao nhất của cõi trí
b. A type of mental fire (in three and nine divisions) which animates the three tiers and nine petals of the egoic lotus
b. Một loại lửa trí tuệ (trong ba và chín phân bộ) làm sinh động ba tầng và chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã
c. A higher type of mental fire which is associated with the three synthesis petals (and, in some manner difficult to determine) with the "Jewel in the Lotus".
c. Một loại lửa trí tuệ cao hơn có liên hệ với ba cánh hoa tổng hợp (và, theo một cách nào đó khó xác định, với “Ngọc trong Hoa Sen”).
131. If we remember that solar fire expresses through the spiritual triad as well as through the higher mental plane, we can relate the three higher mental fires connected with the manasic permanent atom to the spiritual triad. Atma, buddhi and manas are all manasic! They express in the ‘World of Brahma’ and Brahma is manas—from the perspective of the greater Logoi.
131. Nếu chúng ta nhớ rằng Lửa Thái dương biểu lộ qua Tam Nguyên Tinh Thần cũng như qua Cõi thượng trí, chúng ta có thể liên hệ ba lửa thượng trí cao hơn gắn với nguyên tử trường tồn manas với Tam Nguyên Tinh Thần. Atma, Bồ đề và manas đều là manas! Chúng biểu lộ trong ‘Thế giới của Brahma’ và Brahma là manas—từ quan điểm của các Thượng đế lớn hơn.
a. Atma expresses on the third systemic plane and is thus a blend of mind and will
a. Atma biểu lộ trên cõi hệ thống thứ ba và do đó là một sự hòa trộn của trí tuệ và ý chí
b. Buddhi is called “transcendental mind”
b. Bồ đề được gọi là “trí tuệ siêu việt”
c. The fire associated with the manasic permanent atom is obviously manasic
c. Lửa gắn với nguyên tử trường tồn manas hiển nhiên là manas
132. We should be cautious in realizing that the nine fires (which have been discussed) do not have a one-to-one correspondence with each of the nine petals, but that the interplay of these nine fires (three fires each divided into three) ensures that the nine petals will be opened.
132. Chúng ta nên thận trọng khi chứng nghiệm rằng chín lửa (đã được bàn đến) không có sự tương ứng một-một với từng cánh hoa trong chín cánh hoa, mà chính sự tương tác của chín lửa này (ba lửa, mỗi lửa chia thành ba) bảo đảm rằng chín cánh hoa sẽ được mở ra.
and when he has received the stimulus which is imparted at initiation, through being brought into conscious contact with the electric spark of his own particular Heavenly Man, they all blend and merge.
và khi y đã nhận được sự kích thích được truyền đạt vào lúc điểm đạo, qua việc được đưa vào tiếp xúc hữu thức với tia lửa điện của chính Đấng Thiên Nhân riêng biệt của y, tất cả chúng đều hòa trộn và hợp nhất.
133. The human Monad is an electric spark of a particular Heavenly Man.
133. Chân thần con người là một tia lửa điện của một Đấng Thiên Nhân riêng biệt nào đó.
134. In one way we are speaking of the Heavenly Man of the Earth-scheme, but in another, each Monad may be particularly related to one of the other Heavenly Men—a Heavenly Man Who expresses through a different planetary scheme.
134. Theo một cách, chúng ta đang nói về Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Địa Cầu, nhưng theo một cách khác, mỗi chân thần có thể đặc biệt có liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân khác—một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh khác.
135. Because the manasic permanent atom is the highest structure to be found upon the mental plane, it will be analogically related to the Monad (considering the Monad as the highest of the three aspects of man’s constitution).
135. Bởi vì nguyên tử trường tồn manas là cấu trúc cao nhất được tìm thấy trên cõi trí, nên theo phép tương đồng nó sẽ có liên hệ với chân thần (xét chân thần như là phương diện cao nhất trong ba phương diện của cấu tạo con người).
136. One analogy would be as follows: Monad, soul and personality correspond respectively to manasic permanent atom, the fires which animate the nine petals of the egoic lotus, and, then, the mental unit.
136. Một sự tương đồng sẽ như sau: chân thần, linh hồn và phàm ngã lần lượt tương ứng với nguyên tử trường tồn manas, các lửa làm sinh động chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và rồi đơn vị hạ trí.
137. We are being told that at the third initiation the initiate is brought into conscious contact with the electric spark of his own particular Heavenly Man.
137. Chúng ta được cho biết rằng vào lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ được đưa vào tiếp xúc hữu thức với tia lửa điện của chính Đấng Thiên Nhân riêng biệt của y.
138. The third initiation, therefore, is one in which electric fire is definitely involved. Some references tell us that the third initiation is taken on the ray of the Monad.
138. Vì vậy, lần điểm đạo thứ ba là một lần điểm đạo trong đó Lửa Điện chắc chắn có liên quan. Một số trích dẫn cho chúng ta biết rằng lần điểm đạo thứ ba được thực hiện trên cung của chân thần.
139. At the moment of climax (in this case the third degree) there is a blending and merging of nine fires, with the energy of the “electric spark” via the "Jewel in the Lotus"—though not the entirety of that energy, for still more is released at the fourth initiation.
139. Vào thời điểm cao trào (trong trường hợp này là bậc thứ ba) có một sự hòa trộn và hợp nhất của chín lửa, với năng lượng của “tia lửa điện” qua “Ngọc trong Hoa Sen”—dù không phải toàn bộ năng lượng ấy, vì còn nhiều hơn nữa được giải phóng ở lần điểm đạo thứ tư.
140. In this respect, the third initiation is characterized by the number ten. To the degree that the energy of the three synthesizing petals are involved in the fusion of the nine-fires of the egoic lotus at the third initiation, such energy is considered one with the energy of the "Jewel in the Lotus" through which the energy of the “electric spark of his own particular Heavenly Man” reaches the initiate.
140. Về phương diện này, lần điểm đạo thứ ba được đặc trưng bởi con số mười. Trong chừng mực năng lượng của ba cánh hoa tổng hợp có liên quan đến sự dung hợp của chín lửa của Hoa Sen Chân Ngã ở lần điểm đạo thứ ba, năng lượng ấy được xem là một với năng lượng của “Ngọc trong Hoa Sen”, qua đó năng lượng của “tia lửa điện của chính Đấng Thiên Nhân riêng biệt của y” đến với điểm đạo đồ.
141. The number ten is appropriate in the context of the third initiation, considering that the tenth sign, Capricorn, is the sign archetypally associated with the third initiation.
141. Con số mười là thích hợp trong bối cảnh của lần điểm đạo thứ ba, xét rằng dấu hiệu hoàng đạo thứ mười, Ma Kết, là dấu hiệu được liên kết nguyên mẫu với lần điểm đạo thứ ba.
142. Another enumeration of ten can be conceived in relation to the fourth initiation:
142. Một cách liệt kê khác thành mười có thể được hình dung trong liên hệ với lần điểm đạo thứ tư:
a. The destruction of the three members of the atomic triangle
a. Sự hủy diệt của ba thành phần của tam giác nguyên tử
b. The destruction of the three tiers of petals (each of them threefold)
b. Sự hủy diệt của ba tầng cánh hoa (mỗi tầng đều tam phân)
c. The destruction of the three inner or synthesis petals
c. Sự hủy diệt của ba cánh hoa bên trong hay cánh hoa tổng hợp
d. The destruction or translation of the one "Jewel in the Lotus"
d. Sự hủy diệt hay chuyển dịch của một “Ngọc trong Hoa Sen”
143. It would seem that the manasic aspect of the “electric spark” (of the Monad) reaches the third degree initiate (via the "Jewel in the Lotus"), and the aspect related to love-wisdom at the fourth degree.
143. Có vẻ như phương diện manas của “tia lửa điện” (của chân thần) đến với điểm đạo đồ bậc ba (qua “Ngọc trong Hoa Sen”), và phương diện liên hệ với Bác Ái – Minh Triết đến ở bậc bốn.
The [Page 539] inner three [petals] which complete the twelve, and which are concerned with the final, and essentially spiritual stages, of his evolution, are really related more intimately to the evolution of the Heavenly Man,
Ba [Page 539] [petals] bên trong hoàn tất số mười hai, và có liên hệ với các giai đoạn cuối cùng, và về bản chất là tinh thần, trong tiến hoá của y, thực sự có liên hệ mật thiết hơn với sự tiến hoá của Đấng Thiên Nhân,
144. That which is “spiritual” pertains to the spiritual triad. In the initiation process, the initiations which specifically pertain to the focal influence spiritual triad begin at the third.
144. Điều được gọi là “tinh thần” thuộc về Tam Nguyên Tinh Thần. Trong tiến trình điểm đạo, các lần điểm đạo đặc biệt thuộc về ảnh hưởng tiêu điểm của Tam Nguyên Tinh Thần bắt đầu từ lần thứ ba.
145. Once the third initiation is reached one has entered more consciously, more intimately, into the evolution of the Heavenly Man.
145. Một khi lần điểm đạo thứ ba đạt được, người ta đã đi vào một cách hữu thức hơn, mật thiết hơn, trong sự tiến hoá của Đấng Thiên Nhân.
and are connected with the stimulus which He receives Himself in contacting the logoic electric spark, or the pure Spirit aspect of the Logos.
và được nối kết với sự kích thích mà chính Ngài nhận được khi tiếp xúc với tia lửa điện logoic, hay phương diện Tinh thần thuần túy của Logos.
146. When the term “Logos” is used here, it suggests the Solar Logos.
146. Khi thuật ngữ “Logos” được dùng ở đây, nó gợi ý Thái dương Thượng đế.
147. We have a parallel process. The human being when reaching the third initiation contacts the “electric spark” of his own particular Heavenly Man, and when the synthesis petals of the man are stimulated it reflects the stimulation which the Heavenly Man receives from contacting the Spirit aspect or “electric spark” of the Solar Logos.
147. Chúng ta có một tiến trình song hành. Con người khi đạt đến lần điểm đạo thứ ba tiếp xúc với “tia lửa điện” của chính Đấng Thiên Nhân riêng biệt của mình, và khi các cánh hoa tổng hợp của con người được kích thích thì điều đó phản ánh sự kích thích mà Đấng Thiên Nhân nhận được từ việc tiếp xúc với phương diện Tinh thần hay “tia lửa điện” của Thái dương Thượng đế.
148. We could question to what degree different Heavenly Men contact the Spirit aspect of the Logos, as some of them are not even cosmic initiates of the second degree, but apparently it does happen.
148. Chúng ta có thể đặt câu hỏi các Đấng Thiên Nhân khác nhau tiếp xúc với phương diện Tinh thần của Logos đến mức nào, vì một số trong Các Ngài thậm chí còn chưa là điểm đạo đồ vũ trụ bậc hai, nhưng hiển nhiên điều đó vẫn xảy ra.
It should here be noted that this ninefold development is hinted at in the Secret Doctrine in the various places where H. P. B. deals with the Kumaras77 or the Heavenly Men, of Whom the microcosm is a reflection.
Cần lưu ý rằng sự phát triển cửu phân này được gợi ý trong Giáo Lý Bí Nhiệm ở nhiều chỗ khác nhau nơi H. P. B. bàn đến các Kumara77 hay các Đấng Thiên Nhân, mà tiểu thiên địa là một phản ánh của Các Ngài.
149. The term “Heavenly Men” can mean many things. Here the Kumaras are called “Heavenly Men”. If They are the systemic Kumaras, one can understand this, for the systemic Kumaras are Planetary Logoi. There are also intra-planetary Kumaras, and perhaps They are to be called Heavenly Men as well.
149. Thuật ngữ “các Đấng Thiên Nhân” có thể mang nhiều nghĩa. Ở đây các Kumara được gọi là “các Đấng Thiên Nhân”. Nếu Các Ngài là các Kumara hệ thống, người ta có thể hiểu điều này, vì các Kumara hệ thống là các Hành Tinh Thượng Đế. Cũng có các Kumara nội hành tinh, và có lẽ Các Ngài cũng phải được gọi là các Đấng Thiên Nhân.
150. In any case, we can say that the microcosm, man, is a reflection of a Heavenly Man. Perhaps it is even more true to say that the microcosm is a reflection of the Solar Logos.
150. Dù sao đi nữa, chúng ta có thể nói rằng tiểu thiên địa, con người, là một phản ánh của một Đấng Thiên Nhân. Có lẽ còn đúng hơn khi nói rằng tiểu thiên địa là một phản ánh của Thái dương Thượng đế.
She calls Them the Lords of Knowledge, the Lords of Love and the Lords of Sacrifice.
Bà gọi Các Ngài là các Đấng Chúa Tể của Tri Thức, các Đấng Chúa Tể của Bác Ái và các Đấng Chúa Tể của Hi Sinh.
151. It appears that the Heavenly Men considered as Kumaras (according to HPB) come in three categories: Lords of Knowledge, Love and Sacrifice.
151. Có vẻ như các Đấng Thiên Nhân được xét như các Kumara (theo HPB) thuộc ba loại: các Đấng Chúa Tể của Tri Thức, Bác Ái và Hi Sinh.
152. The categorization may well depend upon not only on Their rays, but on the degree of unfoldment of the tiers of their egoic lotus. Some of these Lords are more “sacred” than others. Their degree of spiritual maturity and of unfoldment is unequal.
152. Sự phân loại này rất có thể không chỉ tùy thuộc vào các cung của Các Ngài, mà còn vào mức độ khai mở của các tầng trong Hoa Sen Chân Ngã của Các Ngài. Một số các Đấng Chúa Tể này “thiêng liêng” hơn những vị khác. Mức độ trưởng thành tinh thần và khai mở của Các Ngài không đồng đều.
Each of Them is a nine-petalled Lotus in the logoic body.
Mỗi Vị trong Các Ngài là một Hoa sen chín cánh trong thể logoic.
153. As in the case of man, perhaps they are nine-petalled from one perspective and twelve-petalled from a more advanced perspective.
153. Cũng như trong trường hợp con người, có lẽ từ một góc nhìn chúng là chín cánh, và từ một góc nhìn tiến bộ hơn chúng là mười hai cánh.
154. We have another issue which surfaces. In the human being each chakra has a different number of petals. The Planetary Logoi (as Kumaras) are chakras within the energy system of the Solar Logos. Here it would seem that they each can be represented as a nine-petalled lotus and perhaps a twelve-petalled lotus. Why do each of Them not have a distinctive number of petals? Or do They, when viewed from a different perspective?
154. Chúng ta có một vấn đề khác nổi lên. Trong con người, mỗi luân xa có một số cánh hoa khác nhau. Các Hành Tinh Thượng Đế (với tư cách các Kumara) là các luân xa trong hệ thống năng lượng của Thái dương Thượng đế. Ở đây có vẻ như mỗi Vị có thể được biểu hiện như một hoa sen chín cánh và có lẽ là một hoa sen mười hai cánh. Tại sao mỗi Vị lại không có một số cánh hoa đặc thù? Hay có, khi được nhìn từ một góc nhìn khác?
155. Perhaps we can solve this question by thinking of Their causal nature as numerically uniform (consisting of nine, three and one), even though the numbers of petals in Their Chakras (found upon the cosmic ethers, as well as upon that part of the cosmic astral and cosmic mental planes which accord with the cosmic ethers) may vary.
155. Có lẽ chúng ta có thể giải quyết câu hỏi này bằng cách nghĩ đến bản chất nguyên nhân của Các Ngài như đồng nhất về mặt số lượng (gồm chín, ba và một), mặc dù số cánh hoa trong các Luân xa của Các Ngài (được tìm thấy trên các dĩ thái vũ trụ, cũng như trên phần của cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ tương ứng với các dĩ thái vũ trụ) có thể thay đổi.
156. In any case, we seem to be given a hint concerning the structure of the egoic lotuses of the Planetary Logoi.
156. Dù sao đi nữa, dường như chúng ta được trao cho một gợi ý liên quan đến cấu trúc của các Hoa Sen Chân Ngã của các Hành Tinh Thượng Đế.
They are the flaming Wheels,
Chúng là các Bánh Xe rực lửa,
157. The “Wheel” is the other way of viewing chakras. So these great Kumaras are lotuses, wheels and (may it be said?) Angels—in fact “Archangels”.
157. “Bánh Xe” là cách khác để nhìn các luân xa. Vì vậy các Kumara vĩ đại này là các hoa sen, các bánh xe và (có thể nói chăng?) các Thiên Thần—thực ra là “Tổng Thiên Thần”.
158. It is important to realize that not only are Planetary Logoi called “Heavenly Men”, but, according to HPB, They are Angels (Archangels) as well.
158. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng không chỉ các Hành Tinh Thượng Đế được gọi là “các Đấng Thiên Nhân”, mà theo HPB, Các Ngài còn là các Thiên Thần (Tổng Thiên Thần) nữa.
159. The causal body of man upon the higher mental plane can also be seen as a lotus, a wheel and an Angel (in this case the Solar Angel). (cf. IHS 115-116)
159. Thể nguyên nhân của con người trên Cõi thượng trí cũng có thể được xem như một hoa sen, một bánh xe và một Thiên Thần (trong trường hợp này là Thái dương Thiên Thần). (x. IHS 115-116)
160. It is as if the Solar Angel associated with a human being is a reflection of a Heavenly Man (Who is an Archangel). But, perhaps, it is in their soul nature that the Planetary Logoi are Archangels.
160. Dường như Thái dương Thiên Thần gắn với một con người là một phản ánh của một Đấng Thiên Nhân (Đấng là một Tổng Thiên Thần). Nhưng có lẽ chính trong bản chất linh hồn của Các Ngài mà các Hành Tinh Thượng Đế là các Tổng Thiên Thần.
161. We can infer that just as there are great Solar Angels associated with the causal bodies of the Solar Logos, so this must be the case in relation to the causal bodies of the Planetary Logoi.
161. Chúng ta có thể suy ra rằng cũng như có những Thái dương Thiên Thần vĩ đại gắn với các thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế, thì điều này hẳn cũng đúng trong liên hệ với các thể nguyên nhân của các Hành Tinh Thượng Đế.
162. Along this line of thought, we do know that Solar Angels (in groups) endeavor to become Heavenly Men.
162. Theo đường lối tư tưởng này, chúng ta biết rằng các Thái dương Thiên Thần (theo nhóm) nỗ lực trở thành các Đấng Thiên Nhân.
and in Their various names, as found in the Secret Doctrine, may be discovered the clue to the mystery.
và trong các danh xưng khác nhau của Các Ngài, như được tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm, có thể khám phá ra đầu mối cho huyền nhiệm.
163. Of what “names” are we speaking? Here are a number of them which should reveal some “clue to the mystery”.
163. Chúng ta đang nói đến những “danh xưng” nào? Dưới đây là một số danh xưng trong đó hẳn sẽ bộc lộ một vài “đầu mối cho huyền nhiệm”.
1. The seven Rays,
1. Bảy cung,
2. The seven Spirits before the Throne,
2. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai,
3. The seven planetary Logoi,
3. Bảy Hành Tinh Thượng Đế,
4. The seven great Lords,
4. Bảy Đấng Chúa Tể vĩ đại,
5. The seven Aeons,
5. Bảy Aeon,
6. The seven Emanations,
6. Bảy Xuất lộ,
7. The seven Prajapatis, (LOS 268)
7. Bảy Prajapati, (LOS 268)
a. The seven planetary Logoi or Spirits.
a. Bảy Hành Tinh Thượng Đế hay các Thánh Linh.
b. The Prajapatis.
b. Các Prajapati.
c. The seven Lords of the Rays.
c. Bảy Đấng Chúa Tể của các cung.
d. The Dhyan Chohans.
d. Các Dhyan Chohan.
e. The seven Spirits before the Throne.
e. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.
f. The seven Archangels.
f. Bảy Tổng Thiên Thần.
g. The seven Logoi.
g. Bảy Thượng đế.
h. The seven Builders. (TCF 233, note)
h. Bảy đấng kiến tạo. (TCF 233, note)
The Divine Manasaputras
Các Manasaputra Thiêng liêng
"The Manasaputras, the Prajapatis, the Kumaras, the Primordial Seven, the Rudras, the Heavenly Men, the Rishis, the Spirits before the Throne. (TCF 270)
“Các Manasaputra, các Prajapati, các Kumara, Bảy Đấng Nguyên Sơ, các Rudra, các Đấng Thiên Nhân, các Rishi, các Thánh Linh trước Thánh Ngai. (TCF 270)
164. Sometimes They are said to be seven, but sometimes ten. They are also called the Rishis. (cf. TCF 743)
164. Đôi khi Các Ngài được nói là bảy, nhưng đôi khi là mười. Các Ngài cũng được gọi là các Rishi. (x. TCF 743)
165. With so many names given to the Heavenly Men, a number of valuable hints regarding Their nature can be gathered.
165. Với rất nhiều danh xưng được trao cho các Đấng Thiên Nhân, có thể thu thập được một số gợi ý quý giá liên quan đến bản chất của Các Ngài.
Let us realise this clearly, nevertheless, as regards the microcosm, and later extend the idea to the Heavenly Men.
Tuy nhiên, chúng ta hãy chứng nghiệm điều này một cách rõ ràng đối với tiểu thiên địa trước, rồi sau đó mở rộng ý tưởng ấy đến các Đấng Thiên Nhân.
166. That which is now stated pertains to man, the microcosm.
166. Điều hiện đang được phát biểu liên quan đến con người, tiểu thiên địa.
Let us picture the nine-petalled egoic lotus, the heart centre in the monadic consciousness,
Hãy hình dung Hoa Sen Chân Ngã chín cánh, trung tâm tim trong tâm thức chân thần,
167. DK speaks of the egoic lotus as a nine-petalled lotus, even though it is a heart center in the monadic consciousness. Behind this thought, as previously stated, is that fact that it is also, more essentially, a twelve-petalled lotus.
167. Chân sư DK nói về Hoa Sen Chân Ngã như một hoa sen chín cánh, mặc dù nó là một trung tâm tim trong tâm thức chân thần. Đằng sau tư tưởng này, như đã nói trước đây, là sự kiện rằng về bản chất hơn, nó cũng là một hoa sen mười hai cánh.
unfolding each of its petals in groups of three upon the three subplanes of the higher mental.
khai mở từng cánh hoa của nó thành các nhóm ba trên ba cõi phụ của cõi thượng trí.
168. This statement is one to which we have carefully to attend. Usually, it is conceived that the causal body is located only on subplanes three and two of the higher mental plane. But here the unfoldment of the petals seems to occur on all three subplanes.
168. Đây là một phát biểu mà chúng ta phải hết sức chú ý. Thông thường, người ta quan niệm rằng thể nguyên nhân chỉ nằm trên cõi phụ thứ ba và thứ hai của Cõi thượng trí. Nhưng ở đây sự khai mở của các cánh hoa dường như xảy ra trên cả ba cõi phụ.
169. It is hard to imagine when this would occur, as there is reason to believe that so advanced an initiation as the fourth is taken with the causal body still upon the second sub-plane.
169. Thật khó hình dung khi nào điều này sẽ xảy ra, vì có lý do để tin rằng một lần điểm đạo cao như lần thứ tư được thực hiện khi thể nguyên nhân vẫn còn ở trên cõi phụ thứ hai.
170. The following makes this clear:
170. Điều sau đây làm rõ điều này:
The causal body of the average man is on the third subplane, and as a man becomes fit for the merging into the Triad, that causal body has to be discarded and done away with. Under the Law of Sacrifice and Death, the disintegration is begun on the third level and is consummated on the second, when the man merges with the Triad, preparatory to the final merging with the Monad. (TCF 581-582)
Thể nguyên nhân của người trung bình ở cõi phụ thứ ba, và khi một người trở nên thích hợp để hòa nhập vào Tam nguyên tinh thần, thể nguyên nhân ấy phải bị loại bỏ và tiêu tan. Dưới Định luật Hi Sinh và Chết, sự tan rã bắt đầu trên cấp độ thứ ba và được hoàn tất trên cấp độ thứ hai, khi con người hòa nhập với Tam nguyên tinh thần, để chuẩn bị cho sự hòa nhập cuối cùng với chân thần. (TCF 581-582)
171. We may recall a question posed a little earlier in this commentary: “Might the synthesis petals of the egoic lotus and the ‘Jewel in the Lotus’ be ‘located’ on the highest mental sub-plane regardless of where the rest of the causal body was focussed”?
171. Chúng ta có thể nhớ lại một câu hỏi được nêu ra sớm hơn một chút trong phần bình giải này: “Liệu các cánh hoa tổng hợp của Hoa Sen Chân Ngã và ‘Ngọc trong Hoa Sen’ có thể được ‘định vị’ trên cõi phụ trí tuệ cao nhất bất kể phần còn lại của thể nguyên nhân được tập trung ở đâu chăng”?
172. This may not be as strange as it seems when we think of the fact that the chakras in the human etheric system are located on different etheric sub-planes. Four chakras on the lowest ether, the throat center on the super-etheric, the heart chakra on the sub-atomic and the head chakra on the atomic etheric level. Yet they are all part of the same chakra system and they all work together simultaneously even though expressing through different etheric levels.
172. Điều này có thể không lạ như có vẻ khi chúng ta nghĩ đến sự kiện rằng các luân xa trong hệ dĩ thái của con người được định vị trên các cõi phụ dĩ thái khác nhau. Bốn luân xa trên dĩ thái thấp nhất, trung tâm cổ họng trên siêu dĩ thái, luân xa tim trên cõi phụ nguyên tử và luân xa đầu trên cấp độ dĩ thái nguyên tử. Tuy vậy, tất cả chúng đều là một phần của cùng một hệ thống luân xa và tất cả cùng hoạt động đồng thời mặc dù biểu lộ qua các cấp độ dĩ thái khác nhau.
173. Analogously, various parts of the egoic lotus could be focussed on different sub-planes of the higher mental plane and, nevertheless, still be part of the same egoic lotus system.
173. Theo phép tương đồng, các phần khác nhau của Hoa Sen Chân Ngã có thể được tập trung trên các cõi phụ khác nhau của Cõi thượng trí và, tuy nhiên, vẫn là một phần của cùng một hệ thống Hoa Sen Chân Ngã.
174. So we are asking, “are all parts of the causal body/egoic lotus always focussed together on the same sub-plane of the higher mental plane?”, or “are there parts of the causal body (the synthesis petals and "Jewel in the Lotus", for instance) which may be focussed, for instance, on the highest of the sub-planes of the higher mental plane while other parts (the knowledge petals, for instance) may be focussed simultaneously on the lowest of the three sub-planes of the higher mental plane”?
174. Vì vậy, chúng ta đang hỏi, “phải chăng mọi phần của thể nguyên nhân/Hoa Sen Chân Ngã luôn luôn được tập trung cùng nhau trên cùng một cõi phụ của Cõi thượng trí?”, hay “có những phần của thể nguyên nhân (chẳng hạn như các cánh hoa tổng hợp và ‘Ngọc trong Hoa Sen’) có thể được tập trung, chẳng hạn, trên cõi phụ cao nhất của Cõi thượng trí trong khi những phần khác (chẳng hạn như các cánh hoa tri thức) đồng thời có thể được tập trung trên cõi phụ thấp nhất trong ba cõi phụ của Cõi thượng trí hay không”?
175. This brings us to a very fundamental question: “What does it really mean that a causal body is focussed on one sub-plane or another?”
175. Điều này đưa chúng ta đến một câu hỏi rất căn bản: “Thực sự có nghĩa là gì khi nói một thể nguyên nhân được tập trung trên cõi phụ này hay cõi phụ khác?”
Their unfoldment [i.e., the unfoldment of the petals] is worked out through the evolutionary process, undergone on the three planes in the three worlds, or within the three Halls of Ignorance, of Learning, and of Wisdom.
Sự khai mở của chúng [tức là, sự khai mở của các cánh hoa] được thực hiện qua tiến trình tiến hoá, diễn ra trên ba cõi trong ba cõi thấp, hay trong ba Phòng Vô Minh, Phòng Hiểu Biết và Phòng Minh triết.
176. We are speaking of a very gradual unfoldment.
176. Chúng ta đang nói đến một sự khai mở hết sức tiệm tiến.
177. We might say that the Hall of Ignorance is associated with the tier of knowledge petals; the Hall of Learning with the love petals; and the Hall of Wisdom with the sacrifice petals.
177. Chúng ta có thể nói rằng Phòng Vô Minh gắn liền với tầng các cánh hoa tri thức; Phòng Hiểu Biết gắn liền với các cánh hoa bác ái; và Phòng Minh triết gắn liền với các cánh hoa hi sinh.
178. Of course, there is some degree of overlap, nor is experience within the Hall of Wisdom consummated when all the nine petals are unfolded. We might say that a Master is still very much in the Hall of Wisdom and a Master has dropped (or ‘translated’) the energy of causal body and its petals.
178. Dĩ nhiên, có một mức độ chồng lấn nào đó, và kinh nghiệm trong Phòng Minh triết cũng chưa viên mãn khi cả chín cánh hoa đều đã khai mở. Chúng ta có thể nói rằng một Chân sư vẫn còn rất nhiều ở trong Phòng Minh triết, và một Chân sư đã buông bỏ (hay ‘chuyển dịch’) năng lượng của thể nguyên nhân và các cánh hoa của nó.
179. The following material will be linked with that found from TCF 820-823. Taken together we will have much information on the meaning of the petals in the egoic lotus and their process of unfoldment.
179. Tài liệu sau đây sẽ được liên kết với phần tìm thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ 820-823. Gộp lại, chúng ta sẽ có nhiều thông tin về ý nghĩa của các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã và tiến trình khai mở của chúng.
180. For now quite a bit of rayological and astrological information will be given along with information touching on psychological processes.
180. Hiện giờ, khá nhiều thông tin về cung học và chiêm tinh học sẽ được trình bày cùng với thông tin liên quan đến các tiến trình tâm lý học.
a. First Group of Petals—Knowledge Petals:
a. Nhóm Cánh Hoa Thứ Nhất—Các Cánh Hoa Tri Thức:
1. The Petal of Knowledge for the physical plane.
1. Cánh Hoa Tri Thức cho cõi hồng trần.
181. This can be viewed as the first petal in the knowledge tier.
181. Có thể xem đây là cánh hoa thứ nhất trong tầng tri thức.
182. Since there are twelve petals the twelve signs of the zodiac are naturally related to them.
182. Vì có mười hai cánh hoa nên mười hai dấu hiệu hoàng đạo tự nhiên có liên hệ với chúng.
183. We can associate this petal with the astrological sign Aries or possibly with Pisces (if we choose to use the method of travelling clockwise through the zodiac.
183. Chúng ta có thể liên kết cánh hoa này với dấu hiệu chiêm tinh Aries hoặc có thể với Pisces (nếu chúng ta chọn dùng phương pháp di chuyển theo chiều kim đồng hồ qua vòng hoàng đạo).
184. Much can be learned by choosing Pisces (“Go forth into matter”) as the first petal, but it is preferable to choose Aries because the clockwise method of proceeding would not correlate optimally with those petals involved in the initiation process (presumably after the “reversal of the wheel”. The anti-clockwise method of progression is truly progressive and leading to the initiation process.
184. Có thể học được nhiều điều khi chọn Pisces (“Hãy đi vào vật chất”) làm cánh hoa thứ nhất, nhưng tốt hơn nên chọn Aries vì phương pháp tiến hành theo chiều kim đồng hồ sẽ không tương ứng tối ưu với những cánh hoa liên quan đến tiến trình điểm đạo (có lẽ là sau “sự đảo ngược bánh xe”). Phương pháp tiến triển ngược chiều kim đồng hồ mới thực sự là tiến bộ và dẫn đến tiến trình điểm đạo.
185. Laying the zodiac out on the petals can work for either assignment (beginning counter-clockwise with Aries or clock-wise with Pisces) as there are advanced and more primitive ways of interpreting all signs. The interpretation related to primitive response to the zodiacal energies can be used in relation to the earlier petals and the more advanced modes of interpreting the zodiacal energies to the later petals.
185. Việc đặt vòng hoàng đạo lên các cánh hoa có thể hiệu quả với cả hai cách gán (bắt đầu ngược chiều kim đồng hồ với Aries hoặc theo chiều kim đồng hồ với Pisces), vì có những cách diễn giải cao hơn và nguyên sơ hơn đối với mọi dấu hiệu. Cách diễn giải liên hệ với sự đáp ứng nguyên sơ đối với các năng lượng hoàng đạo có thể được dùng cho các cánh hoa đầu, còn những phương thức diễn giải cao hơn về các năng lượng hoàng đạo thì dành cho các cánh hoa sau.
186. It is also possible to start with Aries, and move counter-clockwise as DK seem to be in His Esoteric Astrology book.
186. Cũng có thể bắt đầu với Aries, rồi di chuyển ngược chiều kim đồng hồ như Chân sư DK dường như đã làm trong sách Chiêm Tinh Học Nội Môn của Ngài.
187. When different signs are assigned to various petals much is learned about the potential of the petals.
187. Khi các dấu hiệu khác nhau được gán cho những cánh hoa khác nhau, người ta học được nhiều điều về tiềm năng của các cánh hoa.
188. This first petal of the knowledge tier of petals represents the third subdivision or aspect of the third aspect. It is the most deeply material petal.
188. Cánh hoa đầu tiên này của tầng cánh hoa tri thức tượng trưng cho phân bộ thứ ba hay phương diện thứ ba của phương diện thứ ba. Đây là cánh hoa vật chất sâu đậm nhất.
Through the breaking of the Law and the ensuing suffering the price of ignorance is paid and knowledge is achieved.
Qua việc phá vỡ Định luật và nỗi đau khổ tiếp theo, cái giá của vô minh được trả và tri thức đạt được.
189. Zodiacally, the breaking of the Law comes under Aries (in which the planet of law, Saturn, falls) and the ensuing suffering under the sign Pisces. We can begin either way.
189. Về mặt hoàng đạo, việc phá vỡ Định luật thuộc về Aries (trong đó hành tinh của định luật là Saturn bị suy yếu) và nỗi đau khổ tiếp theo thuộc về dấu hiệu Pisces. Chúng ta có thể bắt đầu theo cách nào cũng được.
190. The earliest human experiences are lived under this petal. The mantrams “Go forth into matter”, and “Let form again be sought” are both apt.
190. Những kinh nghiệm sớm nhất của con người được sống dưới cánh hoa này. Hai mantram “Hãy đi vào vật chất”, và “Hãy lại tìm kiếm hình tướng” đều thích hợp.
191. It is also possible to assign the different elements to the three tiers of petals. Earth signs could be assigned to the knowledge tier; water signs to the love tier; fire signs to the sacrifice tier; and air signs to the synthesis tier (remembering that this inner tier was produced by buddhic energy and that the element of “air” is associated with the buddhic plane.
191. Cũng có thể gán các nguyên tố khác nhau cho ba tầng cánh hoa. Các dấu hiệu hành thổ có thể được gán cho tầng tri thức; các dấu hiệu hành thủy cho tầng bác ái; các dấu hiệu hành hỏa cho tầng hi sinh; và các dấu hiệu hành khí cho tầng tổng hợp (ghi nhớ rằng tầng bên trong này được tạo ra bởi năng lượng Bồ đề và nguyên tố “khí” gắn với cõi Bồ đề).
192. From this perspective, we would be dealing with the three earth signs of the knowledge tier—Capricorn, Taurus and Virgo, in that order (which is the natural order—Cardinal, Fixed and Mutable—the order in which occurs progress through the signs beginning with Aries).
192. Từ góc nhìn này, chúng ta sẽ đề cập đến ba dấu hiệu hành thổ của tầng tri thức—Capricorn, Taurus và Virgo, theo thứ tự đó (đó là trật tự tự nhiên—Chủ Yếu, Cố Định và Biến đổi—trật tự trong đó sự tiến triển qua các dấu hiệu diễn ra khi bắt đầu với Aries).
193. We will assign Capricorn (a strongly karmic sign) to the first petal.
193. Chúng ta sẽ gán Capricorn (một dấu hiệu mang tính nghiệp quả mạnh) cho cánh hoa thứ nhất.
194. Capricorn, we have been told, represents the best and worst in human nature. It represents sublime heights and supernal light as well as the depths of matter. We can see how the idea of the ‘depths of matter’ would correlate with the first petal.
194. Như chúng ta đã được cho biết, Capricorn tượng trưng cho điều tốt đẹp nhất và tệ hại nhất trong bản chất con người. Nó tượng trưng cho những đỉnh cao siêu tuyệt và ánh sáng thiên thượng cũng như những vực sâu của vật chất. Chúng ta có thể thấy ý niệm về ‘những vực sâu của vật chất’ tương ứng như thế nào với cánh hoa thứ nhất.
195. Capricorn also represents the Law which is broken during first petal processes.
195. Capricorn cũng tượng trưng cho Định luật vốn bị phá vỡ trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất.
196. Interestingly, the two planets most associated with the first petal (Mars and Saturn) are, respectively, exalted in Capricorn and the exoteric ruler of Capricorn.
196. Điều thú vị là hai hành tinh gắn nhiều nhất với cánh hoa thứ nhất (Mars và Saturn) lần lượt được tôn vinh trong Capricorn và là chủ tinh ngoại môn của Capricorn.
197. Capricorn is the hardest and most materialistic of the signs—again fitting with first petal processes. The hardness of ignorance must be broken. The depths of lightless gloom must be penetrated by some degree of knowledge.
197. Capricorn là dấu hiệu cứng rắn nhất và duy vật nhất trong các dấu hiệu—một lần nữa phù hợp với các tiến trình của cánh hoa thứ nhất. Sự cứng rắn của vô minh phải bị phá vỡ. Những vực sâu tăm tối không ánh sáng phải được xuyên thấu bằng một mức độ tri thức nào đó.
198. Capricorn represents the “earthbound soul”, a perfect description to the individual who is still limited by first petal possibilities.
198. Capricorn tượng trưng cho “linh hồn bị trói buộc vào đất”, một mô tả hoàn hảo về cá nhân vẫn còn bị giới hạn bởi các khả năng của cánh hoa thứ nhất.
199. One more sign should be considered—Libra, the sign of karma and the sign opposite to Aries. In as much as some knowledge of karma is gained during the development of the first petal and, to a small degree, consequences of actions are understood, Libra can be seen as related or involved.
199. Cần xét thêm một dấu hiệu nữa—Libra, dấu hiệu của nghiệp quả và là dấu hiệu đối diện với Aries. Vì trong quá trình phát triển của cánh hoa thứ nhất có đạt được một ít hiểu biết về nghiệp quả và ở một mức nhỏ nào đó các hậu quả của hành động được hiểu ra, nên Libra có thể được xem là có liên hệ hay có tham dự.
200. Saturn is also very strong in Libra and Saturn, as will be seen, is very prominent at the opening of this first petal.
200. Saturn cũng rất mạnh trong Libra, và Saturn, như sẽ thấy, rất nổi bật vào lúc cánh hoa thứ nhất này mở ra.
201. The sign opposite Capricorn is Cancer and it rules the very first incarnation of the human being and probably is extremely prominent. Man lived in a ‘darkened house’ which Cancer initially rules even as it rules the “lighted house” which appears when man begins to awaken.
201. Dấu hiệu đối diện Capricorn là Cancer và nó cai quản lần lâm phàm đầu tiên của con người và có lẽ cực kỳ nổi bật. Con người sống trong một ‘ngôi nhà tối tăm’ mà Cancer ban đầu cai quản, cũng như nó cai quản “ngôi nhà được soi sáng” xuất hiện khi con người bắt đầu thức tỉnh.
202. Cancer distributes the third and seventh rays, which are described below as important to first petal processes.
202. Cancer phân phối cung ba và cung bảy, là những cung được mô tả dưới đây là quan trọng đối với các tiến trình của cánh hoa thứ nhất.
203. Cancer, as well, is a deeply instinctual sign (the Moon, its ruler, represents instinct), and rules, from one perspective, the deepest immersion of the Spirit. It shares this rulership with Capricorn.
203. Cancer cũng là một dấu hiệu mang tính bản năng sâu đậm (Mặt Trăng, chủ tinh của nó, tượng trưng cho bản năng), và từ một góc nhìn nào đó, cai quản sự chìm đắm sâu nhất của tinh thần. Nó chia sẻ quyền cai quản này với Capricorn.
204. Cancer probably has much to do with the strictly physical elemental as this elemental is so closely associated with the Moon. The Moon, we are told in Esoteric Astrology, rules the dense physical body.
204. Có lẽ Cancer liên hệ rất nhiều với tinh linh thể xác thuần túy vì tinh linh này gắn bó rất chặt với Mặt Trăng. Như chúng ta được cho biết trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, Mặt Trăng cai quản thể xác đậm đặc.
205. The Law is broken because the primitive human being is blind. Cancer produces a groping kind of behavior impulsed by instinct but not by conscious intelligence. Of the primitive Cancer individual it is said: “The blind unit is lost.” The Leo influence will have to grow stronger before intelligence begins to show itself noticeably.
205. Định luật bị phá vỡ vì con người nguyên thủy thì mù quáng. Cancer tạo ra một loại hành vi dò dẫm được thúc đẩy bởi bản năng chứ không phải bởi trí tuệ hữu thức. Về cá nhân Cancer nguyên thủy, người ta nói: “Đơn vị mù quáng bị lạc lối.” Ảnh hưởng của Leo sẽ phải mạnh lên trước khi trí tuệ bắt đầu biểu lộ rõ rệt.
206. During the immense period of time during which the first petal is stimulated, organized, unfolded and fully opened, the man will be born over and over again in all the signs of the zodiac and under them all. Each of the twelve signs will have something of significance to contribute to the development of the human being at the first petal stage, and the same could be said for development undertaken as a number of the petals unfold (though perhaps not the final two petals of the nine).
206. Trong khoảng thời gian mênh mông mà trong đó cánh hoa thứ nhất được kích thích, tổ chức, khai mở và mở hoàn toàn, con người sẽ tái sinh hết lần này đến lần khác trong mọi dấu hiệu hoàng đạo và dưới tất cả các dấu hiệu ấy. Mỗi một trong mười hai dấu hiệu sẽ có điều gì đó mang thâm nghĩa để đóng góp cho sự phát triển của con người ở giai đoạn cánh hoa thứ nhất, và điều tương tự cũng có thể nói về sự phát triển được đảm nhận khi một số cánh hoa khai mở (dù có lẽ không phải hai cánh hoa cuối trong chín cánh).
207. There may arise an opportunity to develop the idea of how each sign of the zodiac contributes to the opening of each petal. The study of the earliest petals in this regard may prove interesting historically, while the study of petals four to nine may hold much interest for the student who is focussed on understanding the manner in which he presently expresses.
207. Có thể sẽ xuất hiện cơ hội để phát triển ý tưởng về cách mỗi dấu hiệu hoàng đạo đóng góp vào việc mở ra mỗi cánh hoa. Việc nghiên cứu các cánh hoa sớm nhất theo phương diện này có thể tỏ ra thú vị về mặt lịch sử, trong khi việc nghiên cứu các cánh hoa từ bốn đến chín có thể rất đáng quan tâm đối với đạo sinh đang tập trung vào việc thấu hiểu cách y hiện đang biểu lộ.
208. Mars (with Earth, for Earth is one of the ‘planet of rebellion’) is, in early days, a ‘lawbreaker’. Mars particularly rules the physical body to which this most material petal of the knowledge tier refers.
208. Mars (cùng với Earth, vì Earth là một trong những ‘hành tinh của sự phản loạn’) trong thời kỳ đầu là một ‘kẻ phá luật’. Mars đặc biệt cai quản thể xác mà cánh hoa vật chất nhất này của tầng tri thức đề cập đến.
209. The Law comes under Saturn (the ‘planet of Law and karma’) and paying the price of ignorance is definitely Saturnian.
209. Định luật thuộc về Saturn (hành tinh của Định luật và nghiệp quả) và việc trả cái giá của vô minh chắc chắn mang tính Saturn.
210. Some degree of knowledge of the consequences of action is learned under the regime of this first petal knowledge petal.
210. Một mức độ hiểu biết nào đó về hậu quả của hành động được học dưới sự chi phối của cánh hoa tri thức thứ nhất này.
211. Saturn is also a manasic plane associated very much with the third ray, and should be associated with the “knowledge achieved” as a result of paying the price of ignorance.
211. Saturn cũng là một hành tinh manas gắn rất nhiều với cung ba, và nên được liên kết với “tri thức đạt được” như là kết quả của việc trả cái giá của vô minh.
212. The fifth ray is new to the newly individualized man, and this petal is concerned with overcoming the densest ignorance.
212. Cung năm là điều mới mẻ đối với con người vừa được biệt ngã hóa, và cánh hoa này liên quan đến việc vượt qua sự vô minh đậm đặc nhất.
213. Mars is associated with the fifth ray because it rules the five senses as well as concrete science, and hence the crudest aspects of the concrete mind.
213. Mars gắn với cung năm vì nó cai quản năm giác quan cũng như khoa học cụ thể, và do đó cai quản những phương diện thô sơ nhất của trí cụ thể.
214. So we have both Mars and Saturn as planets of concrete manas. They are called the two “malefic” planets (though, really, they are not. They simply rule the “school of hard knocks” and, certainly, this first petal is involved in hard experience. We recall the ‘hardness’ of Capricorn with which we are hypothetically associating this petal.
214. Vì vậy, chúng ta có cả Mars lẫn Saturn như những hành tinh của manas cụ thể. Chúng được gọi là hai hành tinh “hung” (dù thật ra không phải vậy. Chúng chỉ đơn giản cai quản “trường học của những va đập đau đớn”, và chắc chắn cánh hoa thứ nhất này có liên quan đến kinh nghiệm khắc nghiệt. Chúng ta nhớ đến sự ‘cứng rắn’ của Capricorn mà chúng ta đang giả định liên kết với cánh hoa này.
215. Interestingly, both Saturn and Mars are closely associated with dense physical plane on which this petal focuses.
215. Điều thú vị là cả Saturn lẫn Mars đều gắn chặt với cõi hồng trần đậm đặc mà cánh hoa này tập trung vào.
216. From the chakric perspective, both the base of the spine and sacral center are involved. The sacral center is Martian, for Mars rules sex and the physical body. Mars also rules “kundalini latent” which is the basic heat at the based of spine involved in warming the physical frame. Mars, however, is closely related to the “fight or flight” response of the adrenal glands (which are the glands which are the external, physical expressions of the base of the spine).
216. Từ góc nhìn luân xa, cả đáy cột sống lẫn trung tâm xương cùng đều có liên quan. Trung tâm xương cùng mang tính Martian, vì Mars cai quản tính dục và thể xác. Mars cũng cai quản “kundalini tiềm ẩn”, tức nhiệt cơ bản ở đáy cột sống liên quan đến việc làm ấm khung thể xác. Tuy nhiên, Mars cũng liên hệ chặt với phản ứng “chiến đấu hay bỏ chạy” của các tuyến thượng thận (là những tuyến vốn là biểu hiện hồng trần bên ngoài của đáy cột sống).
217. As for Saturn, it is also a planet of physical survival and survival, and the intelligence needed for survival is one of the main issues concerning the process of three-world living which go to the opening of the first petal.
217. Còn về Saturn, nó cũng là một hành tinh của sự sinh tồn hồng trần, và trí tuệ cần thiết cho sự sinh tồn là một trong những vấn đề chính liên quan đến tiến trình sống trong ba cõi giới, vốn góp phần vào việc mở cánh hoa thứ nhất.
218. Saturn is also a very material planet involved in ‘grounding’ the primitive man. For this reason it is associated with the base of the spine and the first petal.
218. Saturn cũng là một hành tinh rất vật chất, liên quan đến việc ‘neo’ con người nguyên thủy xuống đất. Vì lý do này, nó được liên kết với đáy cột sống và cánh hoa thứ nhất.
219. In a strange way, it may also be associated with the sacral center, because it is the action of this center which produces the concrete (Saturn) physical (Saturn) form (Saturn).
219. Theo một cách kỳ lạ, nó cũng có thể được liên kết với trung tâm xương cùng, vì chính hoạt động của trung tâm này tạo ra hình tướng hồng trần cụ thể (Saturn) (Saturn) (Saturn).
220. We cannot forget the influence of the Earth itself. In all the first three petals, especially petals one and two, Earth will be prominent.
220. Chúng ta không thể quên ảnh hưởng của chính Trái Đất. Trong cả ba cánh hoa đầu tiên, đặc biệt là cánh hoa một và hai, Earth sẽ nổi bật.
221. Earth also is found ruling the base of the spine center which is so important for the first petal.
221. Earth cũng được thấy là cai quản trung tâm đáy cột sống vốn rất quan trọng đối với cánh hoa thứ nhất.
222. Earth represents physical weight and earthiness and captivation by instinctual life.
222. Earth tượng trưng cho sức nặng hồng trần, tính chất đất và sự bị cuốn hút bởi đời sống bản năng.
223. Some degree of etheric response will begin to come through here. We are told that the first initiation for humanity involved the union of the etheric and physical body. It is not the case that initiates would be produced during first petal processes, but the struggle to unite etheric and physical nature would have its rudimentary beginnings.
223. Một mức độ đáp ứng dĩ thái nào đó sẽ bắt đầu xuất hiện ở đây. Chúng ta được cho biết rằng lần điểm đạo thứ nhất đối với nhân loại liên quan đến sự hợp nhất của thể dĩ thái và thể xác. Không phải là các điểm đạo đồ sẽ được tạo ra trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất, nhưng cuộc đấu tranh để hợp nhất bản chất dĩ thái và hồng trần sẽ có những khởi đầu sơ khai của nó.
224. The planet Vulcan, although a sacred planet, also has its place in first petal processes. Vulcan represents the ‘stubborn’ obduracy of matter and its ‘instinctual insistence’. It is, in a way, the ‘will of matter’ to be exactly what it is and do what it is instinctually inclined to do.
224. Hành tinh Vulcan, dù là một hành tinh thiêng liêng, cũng có vị trí của nó trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất. Vulcan tượng trưng cho sự ngoan cố ‘cứng đầu’ của vật chất và ‘sự khăng khăng theo bản năng’ của nó. Theo một nghĩa nào đó, đó là ‘ý chí của vật chất’ muốn đúng là cái nó là và làm điều mà theo bản năng nó có khuynh hướng làm.
225. Vulcan (with Capricorn) signal the ‘hardness’ of this lengthy period and the strictly earthbound physical processes which characterize it.
225. Vulcan (cùng với Capricorn) báo hiệu sự ‘cứng rắn’ của giai đoạn dài lâu này và những tiến trình hồng trần thuần túy gắn chặt với đất vốn đặc trưng cho nó.
226. The Moon which rules the physical body and which corresponds to the influence of Cancer must also be mentioned as inevitably prominent. The Moon was a great power in those early, primitive, physical days. The rhythms of the Moon correlate with a number of aspects of the instinctual nature which was so prominent at the time.
226. Mặt Trăng, vốn cai quản thể xác và tương ứng với ảnh hưởng của Cancer, cũng phải được nhắc đến như một yếu tố tất yếu nổi bật. Mặt Trăng là một quyền lực lớn trong những ngày đầu nguyên thủy và hồng trần ấy. Các nhịp điệu của Mặt Trăng tương ứng với một số phương diện của bản chất bản năng vốn rất nổi bật vào thời đó.
227. From the ray perspective, the first, third, fifth, and seventh rays would all be prominent.
227. Từ góc nhìn cung, cung một, cung ba, cung năm và cung bảy đều sẽ nổi bật.
228. The first and third rays can only be involved astrologically because at this stage of development, none of the Rays of Aspect can form a part of ‘ray chart’ (such as it might be) for the primitive man.
228. Cung một và cung ba chỉ có thể tham dự về mặt chiêm tinh học vì ở giai đoạn phát triển này, không Cung Trạng Thái nào có thể tạo thành một phần của ‘biểu đồ cung’ (nếu có thể gọi như vậy) của con người nguyên thủy.
229. Ray one has to with survival and the base of the spine. The instinct to prevail over adversaries will be highly developed, and there will be an inherent, instinctual selfishness which can only be associated with ray one.
229. Cung một liên quan đến sự sinh tồn và đáy cột sống. Bản năng thắng vượt đối thủ sẽ rất phát triển, và sẽ có một tính ích kỷ cố hữu, mang tính bản năng, chỉ có thể gắn với cung một.
230. The third ray will show itself as animal cunning and the ability to begin to learn about the environment, circumstance and consequence. This ray is associated with both Capricorn and Libra (both of which have a role to play in first petal processes). We must also remember the numerology—this first petal of the knowledge tier represents the third aspect of a tier representing the third aspect. The number three (though hardly related to abstract thought) is inescapable.
230. Cung ba sẽ biểu lộ như sự xảo quyệt của loài vật và khả năng bắt đầu học hỏi về môi trường, hoàn cảnh và hậu quả. Cung này gắn với cả Capricorn lẫn Libra (cả hai đều có vai trò trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất). Chúng ta cũng phải nhớ đến số học—cánh hoa thứ nhất này của tầng tri thức tượng trưng cho phương diện thứ ba của một tầng tượng trưng cho phương diện thứ ba. Con số ba (dù hầu như không liên hệ với tư duy trừu tượng) là điều không thể tránh khỏi.
231. The fifth ray is that of concrete mind, and we have during first petal processes the gradual unfoldment of intelligence, as instinct slowly gives way to dim mental realization—very dim.
231. Cung năm là cung của trí cụ thể, và trong các tiến trình của cánh hoa thứ nhất, chúng ta có sự khai mở dần dần của trí tuệ, khi bản năng chậm chạp nhường chỗ cho sự chứng nghiệm trí tuệ mờ nhạt—rất mờ nhạt.
232. This is the period of early Lemurian man. The third root race is connected with the third ray, obviously, but also with the fifth, as individualization has occurred under Leo, Venus (a fifth ray planet) and the fifth ray in general—and under the supervision of the Fifth Creative Hierarchy. So many fives necessarily make first petal processes very dependent upon the nascent development of the fifth ray which reveals, among other things, the true nature of cause and effect, and hence the consequences of actions. Libra (a karmic sign, which teaches consequences) has for its exoteric ruler Venus which transmits the fifth ray and sheds light upon the results of actions (initiated blindly in Aries and in relation to Mars).
232. Đây là thời kỳ của con người Lemuria sơ khai. Giống dân gốc thứ ba hiển nhiên gắn với cung ba, nhưng cũng gắn với cung năm, vì sự biệt ngã hóa đã xảy ra dưới Leo, Venus (một hành tinh cung năm) và cung năm nói chung—và dưới sự giám sát của Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Năm. Quá nhiều số năm như thế tất yếu khiến các tiến trình của cánh hoa thứ nhất phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển mới chớm của cung năm, vốn mặc khải, trong những điều khác, bản chất thật của nhân và quả, và do đó là hậu quả của các hành động. Libra (một dấu hiệu nghiệp quả, dạy về hậu quả) có chủ tinh ngoại môn là Venus, hành tinh truyền dẫn cung năm và soi sáng kết quả của các hành động (được khởi phát một cách mù quáng trong Aries và liên hệ với Mars).
233. As for the seventh ray, the primitive rituals of the bodily cycles control the man. Natural rhythms (the seventh ray rules rhythms) are expressed, and life is lived to fulfill the cravings of rhythmic appetites—the appetites for food and procreativity being paramount.
233. Còn về cung bảy, các nghi thức nguyên thủy của những chu kỳ thể xác kiểm soát con người. Những nhịp điệu tự nhiên (cung bảy cai quản các nhịp điệu) được biểu lộ, và đời sống được sống để thỏa mãn những ham muốn có tính nhịp điệu—trong đó ham muốn ăn uống và sinh sản là tối quan trọng.
234. Again, these petals of the first tier open up over such a long period of time that all the rays (either working out in the ray chart of the individual or, at this stage, almost exclusively through astrological influences, would have their part to play).
234. Một lần nữa, những cánh hoa của tầng thứ nhất này mở ra trong một khoảng thời gian dài đến mức mọi cung (hoặc biểu hiện trong biểu đồ cung của cá nhân, hoặc ở giai đoạn này gần như hoàn toàn qua các ảnh hưởng chiêm tinh) đều có phần của mình để đóng góp).
235. Rays two, four and six, however are related to subjective life and particularly to the development (at first) of the astral plane. There is not much astral development during the unfoldment of the first petal. Man is pretty much a physical being and such emotion as there might be is very much tied up with physical processes. So the emphasis is not on the soft line of development.
235. Tuy nhiên, cung hai, cung bốn và cung sáu liên hệ với đời sống chủ quan và đặc biệt với sự phát triển (lúc đầu) của cõi cảm dục. Không có nhiều sự phát triển cảm dục trong thời gian khai mở cánh hoa thứ nhất. Con người phần lớn là một hữu thể hồng trần và cảm xúc nào có thể có thì cũng gắn chặt với các tiến trình hồng trần. Vì vậy, trọng tâm không nằm trên đường phát triển mềm mại.
236. We will discuss the color references to these petals some three hundred pages further into the book.
236. Chúng ta sẽ bàn đến các tham chiếu màu sắc của những cánh hoa này ở khoảng ba trăm trang sau trong sách.
This unfoldment is brought about through physical plane experience.
Sự khai mở này được mang lại qua kinh nghiệm cõi hồng trần.
237. This sentence of text supports what has just been discussed. There is no petal more associated with physical plane experience and instinctive living.
237. Câu này trong bản văn xác nhận điều vừa được bàn đến. Không có cánh hoa nào gắn với kinh nghiệm cõi hồng trần và đời sống bản năng nhiều hơn cánh hoa này.
238. For the processes of this petal, the desires of Mars are tied to physical plane instincts and appetites. The life of desire does not have a life independent of the promptings of the physical body. We will have to wait until the Atlantean period for this independence to arise.
238. Đối với các tiến trình của cánh hoa này, những ham muốn của Mars gắn với các bản năng và dục vọng của cõi hồng trần. Đời sống ham muốn không có một đời sống độc lập với những thúc đẩy của thể xác. Chúng ta sẽ phải chờ đến thời Atlantis thì sự độc lập này mới xuất hiện.
239. Those egoic lotuses with one petal unfolded are said to be “Brahmic lotuses”, and those in whom “the second petal is showing signs of opening” are called “Lotuses of Brahman”.
239. Những Hoa Sen Chân Ngã có một cánh hoa đã khai mở được gọi là “Hoa sen Brahmic”, và những hoa sen nơi đó “cánh hoa thứ hai đang cho thấy dấu hiệu mở ra” được gọi là “Hoa Sen của Brahman”.
240. There is so much that could be said of each petal. A book is planned to include what can be said (given the scope of our present knowledge). What is said here will go to the content of the book and will give indications of how the subject can be developed.
240. Có quá nhiều điều có thể nói về mỗi cánh hoa. Một cuốn sách đang được dự định để bao gồm những gì có thể nói ra (xét theo phạm vi tri thức hiện nay của chúng ta). Những gì được nói ở đây sẽ góp phần vào nội dung của cuốn sách ấy và sẽ đưa ra những chỉ dẫn về cách chủ đề này có thể được phát triển.