Trích nội dung chương
815. But we do recall in previous text that the subray of the Monad (i.e., the egoic ray) also had some influence on when the petals would open. 815. Nhưng chúng ta nhớ lại trong đoạn văn trước rằng cung phụ của chân thần (tức cung chân ngã) cũng có một vài ảnh hưởng đối với thời điểm các cánh hoa sẽ khai mở.
815. But we do recall in previous text that the subray of the Monad (i.e., the egoic ray) also had some influence on when the petals would open.
815. Nhưng chúng ta nhớ lại trong đoạn văn trước rằng cung phụ của chân thần (tức cung chân ngã) cũng có một vài ảnh hưởng đối với thời điểm các cánh hoa sẽ khai mở.
For instance, if the Ray of the Monad is the second Ray, the knowledge petal will be the first to open, but the second petal of love will almost parallel its development, being for that particular type of Ego the line of easiest unfoldment; the knowledge petal will be for it the most difficult to open.
Chẳng hạn, nếu cung của chân thần là cung hai, cánh hoa tri thức sẽ là cánh đầu tiên mở ra, nhưng cánh hoa bác ái thứ hai sẽ gần như song hành với sự phát triển của nó, vì đối với loại Chân ngã đặc biệt ấy, đó là đường khai mở dễ dàng nhất; cánh hoa tri thức sẽ là cánh khó mở nhất đối với nó.
816. We have discussed this process in previous Commentaries.
816. Chúng ta đã bàn về tiến trình này trong các Bản Bình Luận trước.
817. One wonders why the Tibetan switches from plural to singular—first discussing the opening of the petals and then of the petal only.
817. Người ta tự hỏi vì sao Chân sư Tây Tạng chuyển từ số nhiều sang số ít—trước hết bàn về sự khai mở của các cánh hoa rồi sau đó chỉ của một cánh hoa mà thôi.
818. In this commentary we have speculated on the relationship between the moment of the application of the Rod and the degree of unfoldment of the seventh, eighth or ninth petal when the Rod is applied. Now we see there is a complication. The Ray of the Monad will also influence the rapidity (or lack thereof) of petal unfoldment and thus will influence the moment when the Rod is to be applied.
818. Trong bản bình luận này, chúng ta đã suy đoán về mối liên hệ giữa thời điểm áp dụng Thần Trượng Điểm đạo và mức độ khai mở của cánh hoa thứ bảy, thứ tám hay thứ chín khi Thần Trượng được áp dụng. Giờ đây chúng ta thấy có một sự phức tạp. Cung của chân thần cũng sẽ ảnh hưởng đến tốc độ (hay sự thiếu tốc độ) của sự khai mở cánh hoa và do đó sẽ ảnh hưởng đến thời điểm khi Thần Trượng được áp dụng.
819. For the first ray type, the love petal is hardest to open and the will type the easiest, even if (due to normal procedure) the knowledge petal will be the first to open. DK tells us how difficult it is for the first ray Monad to be loving.
819. Đối với người cung một, cánh hoa bác ái là khó mở nhất và cánh hoa ý chí là dễ nhất, mặc dù (do thủ tục thông thường) cánh hoa tri thức sẽ là cánh đầu tiên mở ra. Chân sư DK cho chúng ta biết chân thần cung một khó trở nên đầy bác ái đến mức nào.
The Monads of power have a much greater struggle, and hence the fact so often apparent that people on what we term the power Ray, have so often a hard time, and are so frequently unlovable. They have to build in on all the six planes the love aspect, which is not prominent in their development. (TCF 578-579)
Các chân thần của quyền năng có một cuộc đấu tranh lớn hơn nhiều, và do đó có sự kiện thường thấy là những người thuộc điều chúng ta gọi là cung quyền năng thường gặp rất nhiều khó khăn, và rất thường là khó mến. Họ phải xây dựng phương diện bác ái trên cả sáu cõi, phương diện vốn không nổi trội trong sự phát triển của họ. (TCF 578-579)
820. For the second ray type, the knowledge petal is the hardest to open (even though it will be the first to open) and the love petal the easiest.
820. Đối với người cung hai, cánh hoa tri thức là khó mở nhất (dù nó sẽ là cánh đầu tiên mở ra) và cánh hoa bác ái là dễ nhất.
821. For the third ray type, the will petal will be the hardest to open and the knowledge petal the easiest. This is an inference.
821. Đối với người cung ba, cánh hoa ý chí sẽ là khó mở nhất và cánh hoa tri thức là dễ nhất. Đây là một suy luận.
Second, that the effects of one circle of petals opening will be felt within the next circle at an early stage and will cause a vibratory response, hence the greater rapidity of the later stages of unfoldment as compared with the first.
Thứ hai, rằng các hiệu quả của việc một vòng cánh hoa khai mở sẽ được cảm nhận trong vòng kế tiếp ở một giai đoạn sớm và sẽ gây ra một đáp ứng rung động, do đó các giai đoạn khai mở về sau diễn ra nhanh hơn so với giai đoạn đầu.
822. An opening tier will stimulate the next tier and hasten the opening of that stimulated tier.
822. Một tầng đang mở sẽ kích thích tầng kế tiếp và thúc đẩy sự khai mở của tầng được kích thích ấy.
823. We see that the opening of the tiers has an exponential quality.
823. Chúng ta thấy rằng sự khai mở của các tầng có một phẩm tính theo cấp số nhân.
824. Each tier of petals opens faster than the previous tier. The rate of opening of a succeeding tier is actually very much faster.
824. Mỗi tầng cánh hoa mở nhanh hơn tầng trước đó. Tốc độ khai mở của một tầng tiếp theo thực sự nhanh hơn rất nhiều.
Third, that there exist many cases of uneven or unequal unfoldment.
Thứ ba, rằng có nhiều trường hợp khai mở không đồng đều hoặc không cân xứng.
825. Hence the danger of generalization when it comes to specific cases.
825. Do đó có nguy cơ khái quát hóa khi xét đến các trường hợp cụ thể.
Quite frequently people are found with perhaps two petals unfolded in the first circle and one still in latency, while a petal within the central or second ring may be in full development.
Khá thường xuyên người ta thấy có những người có lẽ đã khai mở hai cánh hoa trong vòng thứ nhất và một cánh vẫn còn tiềm ẩn, trong khi một cánh hoa trong vòng trung tâm hay vòng thứ hai có thể đang phát triển đầy đủ.
826. What comes to mind is the unfoldment of the first and second petal with the fifth petal unfolded. This type might be found upon the soft-line rays and might tend to avoid mental development.
826. Điều xuất hiện trong tâm trí là sự khai mở của cánh hoa thứ nhất và thứ hai cùng với cánh hoa thứ năm đã khai mở. Loại này có thể được tìm thấy trên các cung mềm và có thể có khuynh hướng tránh sự phát triển trí tuệ.
This is the explanation frequently of the power in service along [Page 547] certain lines displayed by some, coupled with a comparatively low stage of development or of consciousness (egoically speaking).
Đây thường là lời giải thích cho quyền năng trong phụng sự theo [Page 547] một số đường lối nhất định được một số người biểu lộ, đi kèm với một giai đoạn phát triển hay tâm thức tương đối thấp (xét theo chân ngã).
827. High powers can be accessed by people who are not very well rounded out. They are highly developed along one specific line of expression and have arrested development along more normal lines.
827. Những quyền năng cao có thể được tiếp cận bởi những người không thật sự phát triển cân đối. Họ phát triển cao theo một đường biểu lộ chuyên biệt và bị đình trệ phát triển theo những đường bình thường hơn.
828. Some time for rounding out will probably have to be provided. To perpetuate a lopsided development is ultimately dangerous to the integrity of the individual.
828. Có lẽ sẽ phải dành ra một thời gian để phát triển cho cân đối. Duy trì một sự phát triển lệch lạc rốt cuộc là nguy hiểm đối với tính toàn vẹn của cá nhân.
This is due to varying causes, such as the karma of the Monad itself on its high plane and the strength of the monadic grip upon the ego;
Điều này là do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như nghiệp quả của chính chân thần trên cõi cao của nó và sức mạnh của sự nắm giữ của chân thần đối với chân ngã;
829. DK proposes some rather occult causes for such developments.
829. Chân sư DK nêu ra một số nguyên nhân khá huyền bí cho những sự phát triển như vậy.
830. It is important to note that Monads do, indeed, have karma. Some people think that when they reach the high consciousness of the Monad they will be “beyond karma”.
830. Điều quan trọng là phải lưu ý rằng các chân thần quả thực có nghiệp quả. Một số người nghĩ rằng khi họ đạt đến tâm thức cao của chân thần thì họ sẽ “vượt ngoài nghiệp quả”.
831. These factors are beyond our understanding, but interesting nevertheless.
831. Những yếu tố này vượt ngoài sự thấu hiểu của chúng ta, nhưng dù sao vẫn rất thú vị.
many lives given to a particular line of action, resulting in the setting up of a strong vibration—one so strong that it renders the development of response to subsidiary vibrations difficult of attainment;
nhiều kiếp sống được dành cho một đường hành động đặc biệt, dẫn đến việc thiết lập một rung động mạnh—mạnh đến mức khiến cho sự phát triển khả năng đáp ứng đối với các rung động phụ trở nên khó đạt được;
832. Excessive focus in a particular direction makes a more rounded out development difficult. We all prefer to use a well established function than go through the pain of cultivating an underused function.
832. Sự tập trung quá mức theo một hướng đặc biệt khiến cho sự phát triển cân đối hơn trở nên khó khăn. Tất cả chúng ta đều thích sử dụng một chức năng đã được thiết lập vững chắc hơn là trải qua nỗi đau của việc vun bồi một chức năng ít được dùng đến.
833. It strikes one that the dark brothers have exactly this difficulty. They do not want to go through the pain of developing the vastly underused vibration of love.
833. Người ta cảm thấy rằng các huynh đệ bóng tối có đúng chính khó khăn này. Họ không muốn trải qua nỗi đau của việc phát triển rung động bác ái vốn bị sử dụng quá ít.
certain peculiar conditions hidden in the evolution of any particular Lord of a Ray, and the effect of that condition upon a particular group of cells;
những điều kiện đặc thù nào đó ẩn giấu trong sự tiến hoá của bất kỳ một Đấng Chúa Tể Cung nào, và ảnh hưởng của điều kiện ấy lên một nhóm tế bào đặc biệt;
834. The cause may lie with the “Lord of a Ray” Himself. One might not expect the problem to exist in relation to the more abstract rays which are more inclusive.
834. Nguyên nhân có thể nằm nơi chính “Đấng Chúa Tể của một Cung”. Người ta có thể không mong đợi vấn đề này tồn tại trong liên hệ với các cung trừu tượng hơn, vốn bao gồm hơn.
the group karma of a collection or congery of causal bodies, and their mutual interplay. Every egoic unit or monadic force centre has a definite effect upon the group or community of Egos in which it may have a place, and as the interaction proceeds results are sometimes produced of a temporarily unexpected nature.
nghiệp quả nhóm của một tập hợp hay đám tụ các thể nguyên nhân, và sự tương tác lẫn nhau của chúng. Mỗi đơn vị chân ngã hay trung tâm mãnh lực chân thần đều có một ảnh hưởng xác định lên nhóm hay cộng đồng các Chân ngã mà nó có thể có một vị trí trong đó, và khi sự tương tác tiến hành, đôi khi tạo ra những kết quả có tính chất tạm thời bất ngờ.
835. For the sake of clarity let us tabulate the reasons given for uneven development of the petals in the egoic lotus:
835. Để cho rõ ràng, chúng ta hãy lập bảng các lý do được nêu ra cho sự phát triển không đồng đều của các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã:
a. The karma of the Monad on its own high plane
a. Nghiệp quả của chân thần trên cõi cao riêng của nó
b. The grip of the Monad upon its Ego
b. Sự nắm giữ của chân thần đối với Chân ngã của nó
c. Many lives given along a particular line of action
c. Nhiều kiếp sống được dành cho một đường hành động đặc biệt
d. Peculiar conditions in the evolution of a particular Ray Lord
d. Những điều kiện đặc thù trong sự tiến hoá của một Đấng Chúa Tể Cung đặc biệt
e. The group karma of a collection or congery of causal bodies.
e. Nghiệp quả nhóm của một tập hợp hay đám tụ các thể nguyên nhân.
f. Unexpected results cause by egoic interplay within a community of Egos.
f. Những kết quả bất ngờ do sự tương tác chân ngã trong một cộng đồng các Chân ngã gây ra.
836. It is probably best to reserve judgment on many matters concerning the apparently even or uneven development of those we encounter. We know too little.
836. Có lẽ tốt nhất là nên dè dặt phán đoán về nhiều vấn đề liên quan đến sự phát triển có vẻ đồng đều hay không đồng đều của những người chúng ta gặp. Chúng ta biết quá ít.
These points should be carefully borne in mind by the student of egoic evolution.
Những điểm này nên được đạo sinh nghiên cứu sự tiến hoá chân ngã ghi nhớ cẩn thận.
837. Are we that? Students of “egoic evolution”? One can see what an incredibly fascinating subject it is!
837. Chúng ta có phải là như thế không? Những đạo sinh của “sự tiến hoá chân ngã”? Người ta có thể thấy đây là một chủ đề hấp dẫn đến khó tin như thế nào!
This whole subject is of interest in that it is the next step ahead for the students of occult psychology.
Toàn bộ chủ đề này đáng quan tâm vì đó là bước kế tiếp phía trước dành cho các đạo sinh của tâm lý học huyền bí.
838. We are reminded that A Treatise on Cosmic Fire is essentially a psychology text. I think we can see how much a clear knowledge of the developmental phases of the egoic lotus would add to our understanding of many human beings who might be seeking our assistance.
838. Chúng ta được nhắc rằng Luận về Lửa Vũ Trụ về bản chất là một văn bản tâm lý học. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy tri thức rõ ràng về các giai đoạn phát triển của Hoa Sen Chân Ngã sẽ bổ sung biết bao cho sự thấu hiểu của chúng ta về nhiều con người có thể đang tìm kiếm sự trợ giúp của chúng ta.
Much will be eventually ascertained which will throw new light upon the possibility of work upon the physical plane for man.
Rốt cuộc sẽ xác định được nhiều điều, và những điều ấy sẽ soi rọi ánh sáng mới lên khả năng làm việc trên cõi hồng trần cho con người.
839. We seem to be dealing with an occult form of vocational guidance—finding the right mode of expression for the human being considered as a soul.
839. Dường như chúng ta đang đề cập đến một hình thức hướng nghiệp huyền bí—tìm ra phương thức biểu lộ đúng đắn cho con người được xét như một linh hồn.
The whole secret of success in any endeavour or enterprise is primarily based on two things:
Toàn bộ bí mật của thành công trong bất kỳ nỗ lực hay công việc nào trước hết dựa trên hai điều:
First, the ability of the Ego to work through the personality, using it simply as the medium of expression.
Thứ nhất, khả năng của Chân ngã làm việc thông qua phàm ngã, chỉ sử dụng nó như phương tiện biểu lộ.
840. We recall the recently mentioned importance of the permanent atoms as the instruments through which the Ego can reach and influence the objective planes.
840. Chúng ta nhớ lại tầm quan trọng vừa được nhắc đến của các nguyên tử trường tồn như những công cụ qua đó Chân ngã có thể vươn tới và ảnh hưởng các cõi khách quan.
Second, the karma of the egoic group as it becomes more apparent on the physical plane. Hitherto, much has been said and taught about individual karma. Group karma in the future will slowly assume its rightful place in the thought of students, and this will lead to more intelligent co-operation, to a more sympathetic understanding of group responsibilities, and to a more adequate solution of group problems. [Page 548]
Thứ hai, nghiệp quả của nhóm chân ngã khi nó trở nên hiển nhiên hơn trên cõi hồng trần. Cho đến nay, nhiều điều đã được nói và dạy về nghiệp quả cá nhân. Trong tương lai, nghiệp quả nhóm sẽ từ từ đảm nhận vị trí đúng đắn của nó trong tư tưởng của các đạo sinh, và điều này sẽ dẫn đến sự hợp tác thông minh hơn, đến sự thấu hiểu đầy cảm thông hơn về các trách nhiệm nhóm, và đến một giải pháp thích đáng hơn cho các vấn đề nhóm. [Page 548]
841. Perhaps we do not think as often as we should about the karma of the egoic group to which we belong.
841. Có lẽ chúng ta không nghĩ thường xuyên như đáng lẽ phải nghĩ về nghiệp quả của nhóm chân ngã mà chúng ta thuộc về.
842. Our own individual success is of far less importance than the success of our egoic group.
842. Thành công cá nhân riêng của chúng ta kém quan trọng hơn rất nhiều so với thành công của nhóm chân ngã của chúng ta.
843. Groups, too, can succeed or fail. The dynamics leading to group success or group failure often evade understanding. But this will change as we move into the group Age—the Age of Aquarius.
843. Các nhóm cũng có thể thành công hoặc thất bại. Những động lực dẫn đến thành công hay thất bại của nhóm thường vượt khỏi sự thấu hiểu. Nhưng điều này sẽ thay đổi khi chúng ta tiến vào Kỷ nguyên nhóm—Kỷ nguyên Bảo Bình.
844. Let us tabulate the results of a deeper understanding of group karma:
844. Chúng ta hãy lập bảng các kết quả của sự thấu hiểu sâu hơn về nghiệp quả nhóm:
a. a more intelligent co-operation,
a. sự hợp tác thông minh hơn,
b. a more sympathetic understanding of group responsibilities,
b. sự thấu hiểu đầy cảm thông hơn về các trách nhiệm nhóm,
c. a more adequate solution of group problems
c. một giải pháp thích đáng hơn cho các vấn đề nhóm
The study of occult psychology involves a true conception of the nature of the Ego, or the arousing of the Ego to full activity in manifestation;
Việc nghiên cứu tâm lý học huyền bí bao hàm một quan niệm chân thực về bản chất của Chân ngã, hay sự đánh thức Chân ngã đến hoạt động trọn vẹn trong biểu hiện;
845. How shall the Ego be studied? How shall the Ego be aroused to full activity in manifestation?
845. Chân ngã sẽ được nghiên cứu như thế nào? Chân ngã sẽ được đánh thức đến hoạt động trọn vẹn trong biểu hiện như thế nào?
846. We are speaking of the rightful expression of the Ego upon the physical plane.
846. Chúng ta đang nói về sự biểu lộ đúng đắn của Chân ngã trên cõi hồng trần.
847. The Tibetan has offered us much concerning esoteric psychology in His two books entitled by that name. The energetic underpinnings of the study, however, are given in A Treatise on Cosmic Fire.
847. Chân sư Tây Tạng đã cống hiến cho chúng ta rất nhiều điều về Tâm Lý Học Nội Môn trong hai quyển sách của Ngài mang tên ấy. Tuy nhiên, các nền tảng năng lượng của sự nghiên cứu này lại được trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ.
848. Following are a number of avenues necessary to the study and understanding of true occult psychology.
848. Sau đây là một số con đường cần thiết cho việc nghiên cứu và thấu hiểu tâm lý học huyền bí chân chính.
it will necessitate the sound formulation of the laws of egoic unfoldment, of the methods whereby, petal by petal, the lotus may be brought to perfection, and of the triple nature of its evolution;
nó sẽ đòi hỏi sự phát biểu vững chắc các định luật của sự khai mở chân ngã, của những phương pháp nhờ đó, từng cánh hoa một, hoa sen có thể được đưa đến hoàn thiện, và của bản chất tam phân trong sự tiến hoá của nó;
849. Some of the laws of egoic unfoldment have been presented to us in the Seven Laws of the Soul. Also, the Rules for Inducing Soul Control, also found in Esoteric Psychology Vol. II, will be of value.
849. Một số định luật của sự khai mở chân ngã đã được trình bày cho chúng ta trong Bảy Định luật của Linh hồn. Ngoài ra, các Quy luật để Gây ra Sự Kiểm Soát của Linh hồn, cũng được tìm thấy trong Tâm Lý Học Nội Môn Tập II, sẽ có giá trị.
850. We note that specificity of the proposed methods—“petal by petal”.
850. Chúng ta lưu ý đến tính đặc thù của các phương pháp được đề nghị—“từng cánh hoa một”.
851. Each petal will have its own curriculum and close attention will be paid to the necessary process.
851. Mỗi cánh hoa sẽ có chương trình huấn luyện riêng của nó và sự chú ý sát sao sẽ được dành cho tiến trình cần thiết.
852. We are only in the earliest stages of setting up such a program of achievement.
852. Chúng ta mới chỉ ở trong những giai đoạn sớm nhất của việc thiết lập một chương trình thành tựu như vậy.
it will bring about an eventual apprehension of the true meaning of force, and of energy in its dual aspect—internal vibration and external radiation;
nó sẽ dẫn đến sự nắm bắt rốt cuộc về ý nghĩa chân thực của mãnh lực, và của năng lượng trong phương diện kép của nó—rung động nội tại và bức xạ bên ngoài;
853. Already, in the study of the more subtle forms of psychology, this distinction is meaningful. “Is what I am experiencing coming from within me, or from without?” The question seems easy but discernment is often lacking.
853. Ngay từ bây giờ, trong việc nghiên cứu những hình thức tâm lý học tinh tế hơn, sự phân biệt này đã có ý nghĩa. “Điều tôi đang trải nghiệm đến từ bên trong tôi, hay từ bên ngoài?” Câu hỏi có vẻ dễ nhưng sự phân biện thường lại thiếu vắng.
it will produce the centering of the attention of all advanced students upon the centres—in this case not the physical centres on etheric levels but upon the psychical centres, such as the Ego in the causal body and egoic groups.
nó sẽ tạo ra sự tập trung chú ý của tất cả các đạo sinh tiến bộ vào các trung tâm—trong trường hợp này không phải các trung tâm hồng trần trên các cấp dĩ thái mà là các trung tâm thông linh, chẳng hạn như Chân ngã trong thể nguyên nhân và các nhóm chân ngã.
854. The instructions are clear: we are to center our attention not so much within the etheric centers as within centers which are etheric for our Planetary Logos or Solar Logos.
854. Chỉ dẫn thì rõ ràng: chúng ta phải tập trung chú ý không nhiều vào các trung tâm dĩ thái cho bằng vào các trung tâm vốn là dĩ thái đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế của chúng ta.
855. If we achieve ashramic focus, the correct activation of our etheric, astral and mental centers will occur correctly.
855. Nếu chúng ta đạt được sự tập trung ashram, sự hoạt hóa đúng đắn các trung tâm dĩ thái, cảm dục và trí tuệ của chúng ta sẽ diễn ra đúng đắn.
This will produce later a better comprehension of the effect of one consciousness upon another consciousness on the physical plane, and this knowledge will be scientifically utilised to produce specific results in group evolution, and thus some of the world problems will find solution.
Điều này về sau sẽ tạo ra một sự thấu hiểu tốt hơn về ảnh hưởng của một tâm thức lên một tâm thức khác trên cõi hồng trần, và tri thức này sẽ được sử dụng một cách khoa học để tạo ra những kết quả chuyên biệt trong sự tiến hoá nhóm, và nhờ đó một số vấn đề của thế giới sẽ tìm được lời giải.
856. How does one consciousness affect another? What type of consciousness could best be brought into relation with another type to produce the best results?
856. Một tâm thức ảnh hưởng đến một tâm thức khác như thế nào? Loại tâm thức nào có thể được đưa vào liên hệ với một loại khác một cách tốt nhất để tạo ra những kết quả tốt nhất?
857. We are dealing here with a form of ‘psychic chemistry’ which presently is little understood in any factual way, though people may have ‘feelings’ about how to handle such influences.
857. Ở đây chúng ta đang đề cập đến một hình thức “hóa học thông linh” mà hiện nay hầu như chưa được hiểu theo bất kỳ cách thức thực chứng nào, dù người ta có thể có những “cảm giác” về cách xử lý các ảnh hưởng như thế.
Finally, the laws of fire will be studied, the nature of heat, of radiation and of flame will be occultly investigated, and the action of one fire upon another fire, the result of radiation from one conscious sphere to another will be realised; the method of arousing consciousness on the different planes by action upon the fires of the causal body and their stimulation will be gradually revealed.
Sau cùng, các định luật của lửa sẽ được nghiên cứu, bản chất của nhiệt, của bức xạ và của ngọn lửa sẽ được khảo sát một cách huyền bí, và tác động của một lửa lên một lửa khác, kết quả của bức xạ từ một khối cầu có tâm thức này sang một khối cầu có tâm thức khác sẽ được chứng nghiệm; phương pháp đánh thức tâm thức trên các cõi khác nhau bằng tác động lên các lửa của thể nguyên nhân và sự kích thích chúng sẽ dần dần được mặc khải.
858. This is a most occult promise. Let us tabulate:
858. Đây là một lời hứa hết sức huyền bí. Chúng ta hãy lập bảng:
a. The laws of fire will be studied
a. Các định luật của lửa sẽ được nghiên cứu
b. The nature of heat will be studied
b. Bản chất của nhiệt sẽ được nghiên cứu
c. The nature of radiation will be occultly investigated
c. Bản chất của bức xạ sẽ được khảo sát một cách huyền bí
d. The nature of flame will be occultly investigated
d. Bản chất của ngọn lửa sẽ được khảo sát một cách huyền bí
e. The action of one fire upon another fire will be realized
e. Tác động của một lửa lên một lửa khác sẽ được chứng nghiệm
f. The result of radiation from one conscious sphere to another will be realized
f. Kết quả của bức xạ từ một khối cầu có tâm thức này sang một khối cầu có tâm thức khác sẽ được chứng nghiệm
g. The methods of arousing consciousness on the different planes by action upon the fires of the causal body and their stimulation will be revealed.
g. Các phương pháp đánh thức tâm thức trên các cõi khác nhau bằng tác động lên các lửa của thể nguyên nhân và sự kích thích chúng sẽ được mặc khải.
859. All these are the technical developments of the future and they hold for humanity presently incredible possibilities.
859. Tất cả những điều này là các phát triển kỹ thuật của tương lai và hiện nay chúng chứa đựng đối với nhân loại những khả năng khó tin.
The whole question is slowly, very slowly, coming to the fore in human thought (even though this is little realised) through the study of vocational education, business efficiency, and the place of the human unit in any trade or enterprise. Men are being spoken of and considered in terms of potential force factors, and this is a step in the right direction.
Toàn bộ vấn đề này đang từ từ, rất từ từ, nổi lên trong tư tưởng nhân loại (dù điều này ít được chứng nghiệm) thông qua việc nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp, hiệu quả kinh doanh, và vị trí của đơn vị con người trong bất kỳ nghề nghiệp hay công việc nào. Con người đang được nói đến và được xem xét theo thuật ngữ của các yếu tố mãnh lực tiềm năng, và đây là một bước đi đúng hướng.
860. Even today occult psychology is making its appearance in rather mundane settings.
860. Ngay cả ngày nay tâm lý học huyền bí cũng đang xuất hiện trong những bối cảnh khá thế tục.
861. People are being understood in terms of energy and force and this is the correct approach.
861. Con người đang được thấu hiểu theo thuật ngữ của năng lượng và mãnh lực, và đó là cách tiếp cận đúng đắn.
862. We can feel the hand of the Manu in all this, seeking that individual human units (and group units) will find themselves doing the right thing (for which they are ideally suited) in the right place and at the right time.
862. Chúng ta có thể cảm nhận bàn tay của Đức Manu trong tất cả điều này, tìm cách để các đơn vị con người cá nhân (và các đơn vị nhóm) thấy mình đang làm đúng việc (điều mà họ đặc biệt thích hợp) ở đúng chỗ và đúng lúc.
Approaching the same question from the personality standpoint and not the egoic, the time is fast approaching when the emphasis will be laid in education upon [Page 549] how best the young can be taught to contact their own ego or higher energy; how best they can be led to appropriate the knowledge and ability of their higher self for use on the physical plane; how best they can ascertain their group formation, and thus work along with their group, and in unison with the total energy of that group; how best their threefold lower self—physical, astral, and mental—can be brought into direct alignment with their higher centre of force, and thus draw down a continuous supply of energy for the strengthening of their three vehicles, and their wise manipulation; how best the various spirillae can be awakened and the energy within their own cells released for action.
Tiếp cận cùng một vấn đề từ quan điểm của phàm ngã chứ không phải của chân ngã, thời điểm đang nhanh chóng đến khi trọng tâm trong giáo dục sẽ được đặt vào [Page 549] cách tốt nhất để người trẻ được dạy tiếp xúc với chân ngã hay năng lượng cao hơn của chính họ; cách tốt nhất để họ có thể được dẫn dắt chiếm hữu tri thức và khả năng của bản ngã cao siêu của họ để sử dụng trên cõi hồng trần; cách tốt nhất để họ có thể xác định sự hình thành nhóm của mình, và nhờ đó làm việc cùng với nhóm của mình, và đồng nhất với tổng năng lượng của nhóm ấy; cách tốt nhất để phàm ngã tam phân của họ—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—có thể được đưa vào chỉnh hợp trực tiếp với trung tâm mãnh lực cao hơn của họ, và nhờ đó kéo xuống một nguồn cung năng lượng liên tục để tăng cường ba vận cụ của họ, và sự vận dụng khôn ngoan chúng; cách tốt nhất để các loa tuyến khác nhau có thể được đánh thức và năng lượng trong chính các tế bào của họ được giải phóng cho hành động.
863. Here are promising possibilities. Some of them have already been developed.
863. Ở đây có những khả năng đầy hứa hẹn. Một số trong đó đã được phát triển rồi.
864. Some of these unfolding possibilities are quite technical, but others have been the very substance of the modern human-potential movement.
864. Một số khả năng đang khai mở này khá kỹ thuật, nhưng những khả năng khác lại chính là thực chất của phong trào hiện đại về tiềm năng con người.
865. Let us tabulate. The education of the future will emphasize:
865. Chúng ta hãy lập bảng. Nền giáo dục của tương lai sẽ nhấn mạnh:
a. Contact with one’s own Ego or higher energy
a. Sự tiếp xúc với Chân ngã hay năng lượng cao hơn của chính mình
b. Appropriation of the knowledge of the Higher Self for use upon the physical plane
b. Sự chiếm hữu tri thức của Bản Ngã Cao Siêu để sử dụng trên cõi hồng trần
c. The ascertainment of one’s group formation
c. Sự xác định sự hình thành nhóm của mình
d. How best to work along with one’s group
d. Cách tốt nhất để làm việc cùng với nhóm của mình
e. How best to work with the total energy of one’s group
e. Cách tốt nhất để làm việc với tổng năng lượng của nhóm mình
f. How best to create alignment of the threefold lower self with the higher center of force
f. Cách tốt nhất để tạo ra sự chỉnh hợp của phàm ngã tam phân với trung tâm mãnh lực cao hơn
g. How best to draw down a continuous supply of egoic force for the strengthening of the three lower vehicles and their wise manipulation
g. Cách tốt nhất để kéo xuống một nguồn cung mãnh lực chân ngã liên tục nhằm tăng cường ba vận cụ thấp và sự vận dụng khôn ngoan chúng
h. How best the various spirillae can be awakened and their energy best released
h. Cách tốt nhất để các loa tuyến khác nhau có thể được đánh thức và năng lượng của chúng được giải phóng một cách tốt nhất
866. There is an all-powerful source of energy within every one of us; it is the true source of our nourishment, strength and confidence. It is imperative that we learn how it may be contacted and utilized.
866. Có một nguồn năng lượng toàn năng trong mỗi chúng ta; đó là nguồn đích thực của sự nuôi dưỡng, sức mạnh và sự tự tin của chúng ta. Điều tối quan trọng là chúng ta phải học cách tiếp xúc và sử dụng nó.
867. In occult psychology lies one of the great hopes for humanity.
867. Trong tâm lý học huyền bí có một trong những niềm hy vọng lớn lao của nhân loại.
All this will be a thing of gradual evolution, but I have here outlined the trend of the future study, as in the formulation of possibility lies its eventual realisation. Such a process must necessarily be slow. The powers of the ego are stupendous and if released now through the agency of an unready personality would lead to dire disaster.
Tất cả điều này sẽ là một việc của sự tiến hoá dần dần, nhưng ở đây tôi đã phác họa xu hướng của sự nghiên cứu tương lai, vì chính trong sự phát biểu khả năng có sự chứng nghiệm rốt cuộc của nó. Một tiến trình như thế tất yếu phải chậm. Các quyền năng của chân ngã là vô cùng to lớn và nếu được giải phóng ngay bây giờ qua trung gian của một phàm ngã chưa sẵn sàng thì sẽ dẫn đến thảm họa nghiêm trọng.
868. By this we may mean the powers of man himself (upon the higher mental plane) and stimulated by the power of the Solar Angel.
868. Qua điều này, chúng ta có thể muốn nói đến các quyền năng của chính con người (trên Cõi thượng trí) và được kích thích bởi quyền năng của Thái dương Thiên Thần.
869. Or we may mean, the powers of the Solar Angel considered as the Ego.
869. Hoặc chúng ta có thể muốn nói đến các quyền năng của Thái dương Thiên Thần được xét như Chân ngã.
870. We can see the need for personality preparation. Humanity must enter a great period of purification leading to the building of bodies which can withstand the “powers of the ego”.
870. Chúng ta có thể thấy nhu cầu chuẩn bị phàm ngã. Nhân loại phải bước vào một thời kỳ thanh luyện lớn lao dẫn đến việc xây dựng những thể có thể chịu đựng được “các quyền năng của chân ngã”.
But the time will come, and in the meantime a due apprehension of inherent capacity will profit all who have the intuition to recognise the goal.
Nhưng thời điểm ấy sẽ đến, và trong lúc này, một sự nắm bắt thích đáng về năng lực cố hữu sẽ mang lại lợi ích cho tất cả những ai có trực giác để nhận ra mục tiêu.
871. There is tremendous optimism in the thought that within our very natures we have that which will strengthen, sustain and lead to undreamt achievements.
871. Có một sự lạc quan to lớn trong ý nghĩ rằng ngay trong chính bản chất của chúng ta, chúng ta có điều sẽ tăng cường, nâng đỡ và dẫn đến những thành tựu chưa từng mơ tưởng.
872. In dark times we need constantly to remind ourselves of our inherent possibilities.
872. Trong những thời kỳ đen tối, chúng ta cần liên tục nhắc nhở mình về những khả năng cố hữu của mình.
TCF 550-563: S5S11
28 August 2007 – 12 September 2007
28 tháng 8 năm 2007 – 12 tháng 9 năm 2007
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.
Người ta gợi ý rằng Bản Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.
1. We now begin Division D of Section Two, the Fire of Mind, Solar Fire.
1. Giờ đây chúng ta bắt đầu Phân khu D của Phần Hai, Lửa của Trí Tuệ, Lửa Thái dương.
2. Semester 5; Section 10 was a review section.
2. Học kỳ 5; Phần 10 là phần ôn tập.
DIVISION D - THOUGHT ELEMENTALS AND FIRE ELEMENTALS [Page 550]
PHÂN KHU D - CÁC HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ CÁC HÀNH KHÍ CỦA LỬA [Page 550]
I. THOUGHT FORMS
I. CÁC HÌNH TƯ TƯỞNG
3. It seems of importance to bear in mind the function of something we create and use every day—thoughtforms.
3. Dường như điều quan trọng là phải ghi nhớ chức năng của một điều gì đó mà chúng ta tạo ra và sử dụng mỗi ngày—các hình tư tưởng.
1. Their function.
1. Chức năng của chúng.
a. To respond to vibration.
a. Đáp ứng với rung động.
b. To provide the vehicle for an idea.
b. Cung cấp vận cụ cho một ý tưởng.
4. This is a thought of critical importance.
4. Đây là một tư tưởng có tầm quan trọng then chốt.
c. To carry out specific purpose.
c. Thực hiện mục đích cụ thể.
2. The Laws of Thought.
2. Các Định luật của Tư tưởng.
a. Three cosmic laws.
a. Ba định luật vũ trụ.
b. Seven systemic laws.
b. Bảy định luật hệ thống.
II. THOUGHT ELEMENTALS AND DEVAS
II. CÁC HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ THIÊN THẦN
1. The Ruler of Fire... Agni.
1. Đấng cai quản Lửa... Agni.
5. We will have under discussion a Being to Whom many meanings have been assigned. We shall have to understand Him in relation to occultism and not so much in relation to popular Hindu Mythology.
5. Chúng ta sẽ bàn đến một Đấng mà nhiều ý nghĩa đã được gán cho Ngài. Chúng ta sẽ phải thấu hiểu Ngài trong liên hệ với huyền bí học chứ không quá nhiều trong liên hệ với thần thoại Ấn Độ phổ thông.
6. The varied meanings are somewhat intricate. Agni seems to appear in many guises.
6. Những ý nghĩa đa dạng ấy phần nào phức tạp. Agni dường như xuất hiện dưới nhiều dạng thức.
a. Agni and the solar Logos.
a. Agni và Thái dương Thượng đế.
b. Agni and the mental plane.
b. Agni và cõi trí.
c. Agni and the three Fires.
c. Agni và ba Lửa.
2. The Fire Devas... the Greater Builders.
2. Các thiên thần Lửa... các đấng đại kiến tạo.
a. Introductory statements.
a. Những phát biểu nhập đề.
b. The functions of the devas.
b. Các chức năng của thiên thần.
c. The devas and the planes.
c. Thiên thần và các cõi.
3. The Solar Angels... the Agnishvattas.
3. Các Thái dương Thiên Thần... các Agnishvatta.
7. It is clear that we are discriminating the Greater Builders from the Agnishvattas (presumably the Solar Angels), though the Fifth Creative Hierarchy is a dual Hierarchy and this problem must be solved.
7. Rõ ràng là chúng ta đang phân biện các đấng đại kiến tạo với các Agnishvatta (có lẽ là các Thái dương Thiên Thần), dù Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm là một Huyền Giai Kép và vấn đề này phải được giải quyết.
8. Yet, as will be seen, there are contexts in which the Solar Angels are precisely called “Greater Builders”, which they are when compared with the unconscious devas and elemental lives.
8. Tuy nhiên, như sẽ thấy, có những ngữ cảnh trong đó các Thái dương Thiên Thần chính xác được gọi là “các đấng đại kiến tạo”, điều mà các vị ấy là như vậy khi so với các thiên thần vô thức và các sự sống hành khí.
Introductory remarks.
Nhận xét nhập đề.
a. On the fifth Principle.
a. Về nguyên khí thứ năm.
b. On Individualisation.
b. Về biệt ngã hóa.
c. On Incarnation.
c. Về sự lâm phàm.
d. On the Building of the Causal Body.
d. Về việc xây dựng thể nguyên nhân.
4. The Fire Elementals... the Lesser Builders.
4. Các hành khí của lửa... các vị tiểu kiến tạo.
a. Introductory.
a. Nhập đề.
b. Physical plane elementals.
b. Các hành khí cõi hồng trần.
c. Elementals of the ethers.
c. Các hành khí của các dĩ thái.
d. Elementals and the Microcosm. [Page 551]
d. Các hành khí và Tiểu thiên địa. [Page 551]
III. MAN, AS A CREATOR IN MENTAL MATTER
III. CON NGƯỜI, NHƯ MỘT ĐẤNG SÁNG TẠO TRONG CHẤT LIỆU TRÍ TUỆ
1. The creation of thought forms.
1. Sự tạo ra các hình tư tưởng.
2. The process of thought form building.
2. Tiến trình xây dựng hình tư tưởng.
IV. MAN AND THE FIRE SPIRITS
IV. CON NGƯỜI VÀ CÁC TINH LINH CỦA LỬA
1. The Will aspect and creation.
1. Phương diện Ý chí và sự sáng tạo.
a. The condition of the magician.
a. Tình trạng của nhà huyền thuật.
b. Construction of thought forms.
b. Sự kiến tạo các hình tư tưởng.
c. The occult significance of speech.
c. Ý nghĩa huyền bí của lời nói.
2. The nature of Magic.
2. Bản chất của huyền thuật.
9. Here we will have the root material on which A Treatise on White Magic was formulated. Both presentations are necessary and supplementary. The Tibetan did not repeat Himself when writing TWM.
9. Ở đây chúng ta sẽ có chất liệu gốc trên đó Luận về Chánh Thuật đã được hình thành. Cả hai cách trình bày đều cần thiết và bổ sung cho nhau. Chân sư Tây Tạng đã không lặp lại chính mình khi viết TWM.
a. Black magicians and white.
a. Các nhà hắc thuật và các nhà huyền thuật chánh đạo.
b. The source of black magic.
b. Nguồn gốc của Hắc thuật.
c. Conditions for white magic.
c. Các điều kiện cho Chánh Thuật.
3. Fifteen rules for Magic.
3. Mười lăm quy luật cho huyền thuật.
10. These are always worth memorizing and pondering. They cannot yet be fully lived because the ancient formulas have not been restored to the consciousness of the average student (and far less so to the average human consciousness).
10. Những điều này luôn đáng để ghi nhớ và suy ngẫm. Chúng chưa thể được sống trọn vẹn, vì các công thức cổ xưa chưa được phục hồi vào tâm thức của đạo sinh trung bình (và càng ít hơn nữa vào tâm thức nhân loại trung bình).
a. Six rules for the mental plane.
a. Sáu quy luật cho cõi trí.
b. Five rules for the astral plane.
b. Năm quy luật cho cõi cảm dục.
c. Four rules for the physical plane.
c. Bốn quy luật cho cõi hồng trần.
Under this division we shall briefly give an outline of the study which we will undertake upon this vast and stupendous subject, for, as it definitely concerns the evolution of man and his power eventually to create, it will be wise for us to take up the matter in some detail.
Dưới phần này, chúng ta sẽ vắn tắt phác ra đề cương của cuộc nghiên cứu mà chúng ta sẽ thực hiện về chủ đề bao la và kỳ vĩ này, vì, như nó rõ ràng liên quan đến sự tiến hoá của con người và quyền năng cuối cùng của y để sáng tạo, nên sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta khảo sát vấn đề này với một mức độ chi tiết nào đó.
11. Man, coming largely under the fourth ray, is, essentially a Creator animated by the fourth Rule for Inducing Soul Control—the “urge to creative life through the divine faculty of imagination”
11. Con người, phần lớn thuộc cung bốn, về bản chất là một Đấng Sáng Tạo được sinh động bởi Quy luật thứ tư để Gây ra Sự Kiểm Soát của Linh Hồn—“thúc lực hướng đến đời sống sáng tạo qua năng lực thiêng liêng của sự tưởng tượng”
This section is not intended to give interesting bits of information anent the devas;
Phần này không nhằm đưa ra những mẩu thông tin thú vị liên quan đến các thiên thần;
12. DK knows too well the tendency of the untrained and irresponsible human mind.
12. Chân sư DK biết quá rõ khuynh hướng của trí tuệ nhân loại chưa được huấn luyện và vô trách nhiệm.
I only seek to deal with the matter in its practical application to man, and to give as much of the necessary knowledge as will enable a man to control and build his own system, to understand the method of creation and to comprehend somewhat the lesser lives and the paralleling deva evolution with which he may be concerned.
Tôi chỉ tìm cách đề cập đến vấn đề này trong sự áp dụng thực tiễn của nó đối với con người, và trao càng nhiều tri thức cần thiết càng tốt để giúp con người kiểm soát và xây dựng hệ thống riêng của mình, thấu hiểu phương pháp sáng tạo và phần nào hiểu được các sự sống nhỏ hơn cùng sự tiến hoá song hành của thiên thần mà y có thể liên hệ đến.
13. In these many pages, DK intends to do the following.
13. Trong nhiều trang này, Chân sư DK dự định làm những điều sau.
a. Give man knowledge so that he can control his system
a. Trao cho con người tri thức để y có thể kiểm soát hệ thống của mình
b. Give man knowledge so that he can build his system
b. Trao cho con người tri thức để y có thể xây dựng hệ thống của mình
c. Give man knowledge so that he can understand the method of creation
c. Trao cho con người tri thức để y có thể thấu hiểu phương pháp sáng tạo
d. Give man knowledge so that he can comprehend somewhat the lesser lives and paralleling deva evolution
d. Trao cho con người tri thức để y có thể phần nào hiểu được các sự sống nhỏ hơn và sự tiến hoá song hành của thiên thần
14. Obviously, the process will be a long one and many details will not be presented. For all the voluminosity of His writings, DK has presented only the ABC’s of scientific occultism.
14. Hiển nhiên, tiến trình này sẽ kéo dài và nhiều chi tiết sẽ không được trình bày. Dù các trước tác của Ngài đồ sộ đến đâu, Chân sư DK cũng chỉ trình bày những ABC của huyền bí học khoa học mà thôi.
I. THOUGHT FORMS
I. CÁC HÌNH TƯ TƯỞNG
1. Their Function.
1. Chức năng của chúng.
It will be noted that in studying this matter we have not started with that which is most apparent, the exoteric form in mental matter, but with the inner life or Idea within the form and with the Laws that govern the creative [Page 552] aspect.
Cần lưu ý rằng khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta đã không bắt đầu với điều hiển nhiên nhất, tức hình tướng ngoại môn trong chất liệu trí tuệ, mà với sự sống bên trong hay Ý tưởng ở trong hình tướng và với các Định luật chi phối phương diện sáng tạo [Page 552].
15. DK is calling our attention to the fact that His initial approach is not concrete and strictly exoteric
15. Chân sư DK đang thu hút sự chú ý của chúng ta đến sự kiện rằng cách tiếp cận ban đầu của Ngài không cụ thể và không hoàn toàn ngoại môn
16. We begin with:
16. Chúng ta bắt đầu với:
b. The inner life or idea within the thoughtform
b. Sự sống bên trong hay ý tưởng ở trong hình tư tưởng
c. The Laws that govern the creative aspect
c. Các Định luật chi phối phương diện sáng tạo
17. Increasingly, it will be necessary for us to discriminate between thoughtforms and their impelling, living idea.
17. Ngày càng nhiều, chúng ta sẽ cần phân biện giữa các hình tư tưởng và ý tưởng sống động, thúc đẩy chúng.
This function of every thought form is threefold:
Chức năng này của mọi hình tư tưởng là tam phân:
To respond to vibration
Đáp ứng với rung động
18. This will render the thoughtform a medium of reception.
18. Điều này sẽ khiến hình tư tưởng trở thành một trung gian tiếp nhận.
19. The human being, itself, is a thoughtform and responds to a wide range of vibrations.
19. Bản thân con người cũng là một hình tư tưởng và đáp ứng với một phạm vi rộng lớn các rung động.
To provide a body for an idea
Cung cấp một thể cho một ý tưởng
20. This will make of the thoughtform a medium for the implementation of the creative process and an instrument for communication between the higher and lower planes.
20. Điều này sẽ khiến hình tư tưởng trở thành một trung gian cho việc thực thi tiến trình sáng tạo và một công cụ truyền thông giữa các cõi cao và thấp.
21. The Divine Purpose is to be embodied; this occurs via thoughtforms.
21. Thiên Ý phải được nhập thể; điều này xảy ra thông qua các hình tư tưởng.
To carry out specific purpose.
Thực hiện mục đích cụ thể.
22. This will render the thoughtform an agent of its creator. Presumably, we are speaking of thoughtforms which have beneficent intent.
22. Điều này sẽ khiến hình tư tưởng trở thành một tác nhân của đấng sáng tạo ra nó. Có lẽ chúng ta đang nói đến những hình tư tưởng có ý định thiện lành.
Let us first study the logoic thought form and then turn our attention to the thought forms fabricated by the Thinker from the systemic mental planes and in mental matter.
Trước hết, chúng ta hãy nghiên cứu hình tư tưởng logoic rồi sau đó hướng sự chú ý đến các hình tư tưởng do Đấng Tư Tưởng chế tạo từ các cõi trí của hệ thống và trong chất liệu trí tuệ.
23. Our method is the occult one, beginning from a large and encompassing perspective and moving to a more confined and specific point of view.
23. Phương pháp của chúng ta là phương pháp huyền bí, bắt đầu từ một viễn cảnh lớn lao và bao quát rồi chuyển đến một quan điểm hạn hẹp và chuyên biệt hơn.
24. The “logoic thoughtform” is fabricated by a Thinker on the cosmic mental plane.
24. “Hình tư tưởng logoic” được chế tạo bởi một Đấng Tư Tưởng trên cõi trí vũ trụ.
We have to note that, in the case of the Logos, all upon which we have to base our conclusions are His physical manifestation, and His quality, psychic nature, aroma, emanation or magnetism, as we see it working out through the form. Hence we are very much handicapped.
Chúng ta phải lưu ý rằng, trong trường hợp của Thượng đế, tất cả những gì chúng ta phải dựa vào để rút ra kết luận là biểu hiện hồng trần của Ngài, và phẩm tính, bản chất thông linh, hương thơm, phát xạ hay từ điện của Ngài, như chúng ta thấy nó biểu lộ qua hình tướng. Vì thế chúng ta bị hạn chế rất nhiều.
18. We do not come into contact with very much of our Logos’ true nature. We only contact that which is confined to the cosmic physical plane.
18. Chúng ta không tiếp xúc được bao nhiêu với bản chất chân thực của Thượng đế của chúng ta. Chúng ta chỉ tiếp xúc với điều bị giới hạn trong cõi hồng trần vũ trụ.
19. Even His quality is not contacted directly, but only through its physical expression.
19. Ngay cả phẩm tính của Ngài cũng không được tiếp xúc trực tiếp, mà chỉ qua biểu hiện hồng trần của nó.
20. This is even true for those great souls who are known as Chohans.
20. Điều này thậm chí cũng đúng đối với những linh hồn vĩ đại được biết đến như các Chohan.
21. DK lists that which we can contact, albeit through the physical-etheric form:
21. Chân sư DK liệt kê những gì chúng ta có thể tiếp xúc, dù là qua hình tướng hồng trần-dĩ thái:
a. The quality of the Logos
a. Phẩm tính của Thượng đế
b. The psychic nature of the Logos
b. Bản chất thông linh của Thượng đế
c. The aroma of the Logos
c. Hương thơm của Thượng đế
d. The emanation of the Logos
d. Phát xạ của Thượng đế
e. The magnetism of the Logos
e. Từ điện của Thượng đế
22. Contact, we realize, is made through the five senses and their numerous extensions, which we studied earlier in TCF.
22. Chúng ta nhận ra rằng sự tiếp xúc được thực hiện qua năm giác quan và nhiều phần mở rộng của chúng, mà trước đây chúng ta đã nghiên cứu trong TCF.
23. Do we have some idea concerning all of these logoic expressions or only some? Or any?
23. Chúng ta có một ý niệm nào đó về tất cả những biểu hiện logoic này hay chỉ về một số? Hay có gì chăng?
24. At least we gather that our Logos is an unfathomably (to us) stupendous Life.
24. Ít nhất chúng ta cũng hiểu rằng Thượng đế của chúng ta là một Sự sống kỳ vĩ, lớn lao đến mức chúng ta không thể dò thấu.
a. Response to Vibration. It is always recognised in occult circles that the whole object of human evolution is to enable the Thinker to respond to every contact fully and consciously, and thus to utilise his material sheath, or sheaths, as adequate transmitter of such contact.
a. Đáp ứng với Rung động. Trong các giới huyền bí, người ta luôn thừa nhận rằng toàn bộ mục tiêu của sự tiến hoá nhân loại là giúp Đấng Tư Tưởng đáp ứng trọn vẹn và hữu thức với mọi tiếp xúc, và nhờ đó sử dụng vỏ bọc vật chất hay các vỏ bọc của mình như những bộ truyền dẫn thích đáng cho sự tiếp xúc ấy.
25. There is no occultism without sensitive and accurate response to vibration.
25. Không có huyền bí học nếu không có sự đáp ứng nhạy bén và chính xác với rung động.
26. The condition of our sheaths, however, veils many possible contacts. This is all part of the “veiling” process as it is discussed in esoteric astrology.
26. Tuy nhiên, tình trạng của các vỏ bọc của chúng ta che khuất nhiều tiếp xúc khả hữu. Tất cả điều này đều là một phần của tiến trình “che phủ” như được bàn đến trong Chiêm Tinh Học Nội Môn.
27. Contact received is to be appropriately transmitted; this, too, depends upon the condition and conditioning of the sheaths.
27. Sự tiếp xúc đã nhận được phải được truyền đạt một cách thích đáng; điều này cũng tùy thuộc vào tình trạng và sự tác động định hình của các vỏ bọc.
The most easily studied human thought-form is the one the Ego creates through which to function. He builds his sheaths by the power of thought, and the dense physical body is the best sheath that—at any particular stage of evolution—he can at the time manufacture.
Hình tư tưởng của con người dễ nghiên cứu nhất là hình tư tưởng mà chân ngã tạo ra để hoạt động qua đó. Y xây dựng các vỏ bọc của mình bằng quyền năng của tư tưởng, và thể xác đậm đặc là vỏ bọc tốt nhất mà—ở bất kỳ giai đoạn tiến hoá đặc thù nào—y có thể chế tạo vào lúc ấy.
28. We are speaking of the creative process as it concerns the creation of man’s vehicles of expression. The Ego creates them all through the agency of the permanent atoms.
28. Chúng ta đang nói về tiến trình sáng tạo trong chừng mực nó liên quan đến việc tạo ra các vận cụ biểu lộ của con người. Chân ngã tạo ra tất cả chúng qua trung gian của các Nguyên tử trường tồn.
29. We may be saying that any creator does as well as he can at any particular point in the evolutionary process to manufacture a physical body which is as responsive as possible.
29. Có thể chúng ta đang nói rằng bất kỳ đấng sáng tạo nào cũng làm tốt nhất có thể ở bất kỳ điểm đặc thù nào trong tiến trình tiến hoá để chế tạo một thể xác đáp ứng được nhiều nhất có thể.
30. Obviously, the physical bodies of human beings will show increasing refinement as the soul grows in experience and maturity. The creating Ego is limited in His creation by the vibratory potential that is stored in the permanent atoms and also by the karma which previous personalities have incurred.
30. Hiển nhiên, thể xác của con người sẽ cho thấy sự tinh luyện ngày càng tăng khi linh hồn lớn lên trong kinh nghiệm và sự trưởng thành. Chân ngã sáng tạo bị giới hạn trong sự sáng tạo của mình bởi tiềm năng rung động được tích trữ trong các Nguyên tử trường tồn và cả bởi nghiệp quả mà các phàm ngã trước đây đã tạo ra.
The same can be predicated of the solar Logos. He builds by the power of thought a body which can respond to that group of vibrations which are concerned with the cosmic physical plane (the only one we can study). It is not yet adequate, and does not fully express the logoic Thinker.
Điều tương tự cũng có thể được nói về Thái dương Thượng đế. Ngài xây dựng bằng quyền năng của tư tưởng một thể có thể đáp ứng với nhóm rung động liên quan đến cõi hồng trần vũ trụ (cõi duy nhất chúng ta có thể nghiên cứu). Nó chưa thích đáng, và không biểu lộ trọn vẹn Đấng Tư Tưởng logoic.
25. Just as the logoic physical body (including the etheric, presumably) is not yet adequate to fully “express the logoic Thinker”, the same can be said of the physical-etheric body manufactured by the human Ego, who is as the Logos to his own microcosmic system.
25. Cũng như thể hồng trần logoic (có lẽ bao gồm cả dĩ thái) chưa đủ thích đáng để biểu lộ trọn vẹn “Đấng Tư Tưởng logoic”, điều tương tự có thể nói về thể hồng trần-dĩ thái do chân ngã con người chế tạo, chân ngã ấy đối với hệ thống vi mô của riêng mình cũng như Thượng đế đối với hệ thống của Ngài.
26. We might say (for both the macrocosm and microcosm) that the physical-etheric body built is inadequate in both response and expression.
26. Chúng ta có thể nói (đối với cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa) rằng thể hồng trần-dĩ thái được xây dựng là không thích đáng trong cả đáp ứng lẫn biểu lộ.
27. If the physical-etheric is, thus far, the best sheath that the Thinker can create, and it is inadequate to express the intention of the Thinker, this must be even more the case for the astral and lower mental vehicles.
27. Nếu hồng trần-dĩ thái, cho đến nay, là vỏ bọc tốt nhất mà Đấng Tư Tưởng có thể tạo ra, và nó lại không thích đáng để biểu lộ ý định của Đấng Tư Tưởng, thì điều này hẳn còn đúng hơn nữa đối với các vận cụ cảm dục và hạ trí.
The vibrations to which the systemic thought-form must respond are many in number, but for our purposes might be enumerated as mainly seven:
Các rung động mà hình tư tưởng hệ thống phải đáp ứng thì rất nhiều, nhưng vì mục đích của chúng ta có thể được liệt kê chủ yếu là bảy:
31. Master DK knows much more than He has time to express, nor would a complete compendium of all He knows serve His limited educational objectives. A Master, though above time/space in his consciousness, is still subject to time and space when attempting to do His part in manifesting the Divine Plan.
31. Chân sư DK biết nhiều hơn rất nhiều so với những gì Ngài có thời gian để diễn đạt, và một bản tổng tập đầy đủ mọi điều Ngài biết cũng sẽ không phục vụ các mục tiêu giáo dục hữu hạn của Ngài. Một Chân sư, dù vượt lên trên thời gian/không gian trong tâm thức của mình, vẫn còn chịu sự chi phối của thời gian và không gian khi cố gắng thực hiện phần việc của Ngài trong việc biểu lộ Thiên Cơ.
1. The vibrations of the cosmic physical plane, viewing it as all the matter of that plane which exists [Page 553] outside the logoic ring-pass-not. It concerns the pranic and akashic fluids and currents.
1. Các rung động của cõi hồng trần vũ trụ, xét nó như toàn bộ vật chất của cõi ấy hiện hữu [Page 553] bên ngoài vòng-giới-hạn logoic. Điều này liên quan đến các lưu chất và dòng prana cùng akasha.
28. The physical-etheric ring-pass-not of the Solar Logos exists within the vast cosmic etheric-physical plane. These influences (pranic and akashic) flow throughout the cosmic etheric-physical plane (i.e., simply, the cosmic physical plane) and encounter that portion of the cosmic physical plane which has been appropriated by the Solar Logos as His etheric-physical vehicle.
28. Vòng-giới-hạn hồng trần-dĩ thái của Thái dương Thượng đế tồn tại bên trong cõi dĩ thái-hồng trần vũ trụ bao la. Những ảnh hưởng này (prana và akasha) lưu chuyển khắp cõi dĩ thái-hồng trần vũ trụ (tức đơn giản là cõi hồng trần vũ trụ) và gặp phần cõi hồng trần vũ trụ đã được Thái dương Thượng đế chiếm dụng làm vận cụ dĩ thái-hồng trần của Ngài.
29. Obviously our relatively tiny Logos does not respond to all vibrations transmitted through the universal cosmic etheric planes. Limitations apply.
29. Hiển nhiên, Thượng đế tương đối nhỏ bé của chúng ta không đáp ứng với mọi rung động được truyền qua các cõi dĩ thái vũ trụ phổ quát. Những giới hạn vẫn áp dụng.
30. This type of vibration is strictly cosmic etheric? As well as a type of vibration is it also an order or vibration?
30. Loại rung động này hoàn toàn là dĩ thái vũ trụ chăng? Ngoài việc là một loại rung động, nó cũng là một cấp bậc rung động chăng?
2. The vibrations of the cosmic astral plane as they affect the physical form of divine manifestation. This involves cosmically the action upon our solar Logos of the emotional quality of other cosmic entities, and concerns the magnetic effect upon Him of their psychic emanation. This, in view of the fact that His dense physical body is not a principle, is of a more potent nature than the first set of vibrations, as is the case also in man's evolution.
2. Các rung động của cõi cảm dục vũ trụ khi chúng tác động đến hình tướng hồng trần của biểu hiện thiêng liêng. Về mặt vũ trụ, điều này bao hàm tác động lên Thái dương Thượng đế của chúng ta bởi phẩm tính cảm xúc của các thực thể vũ trụ khác, và liên quan đến hiệu quả từ tính tác động lên Ngài bởi phát xạ thông linh của họ. Xét theo sự kiện rằng thể xác đậm đặc của Ngài không phải là một nguyên khí, điều này có bản chất mạnh mẽ hơn nhóm rung động thứ nhất, cũng như trường hợp trong sự tiến hoá của con người.
31. Here we are discussing cosmic astral vibrations. Not only does the Logos respond to the energies and forces of His own astral body, but to the “emotional quality of other cosmic entities”. He is magnetically and psychically affected by other great Beings, just as man is affected by the emotional quality, magnetism and psychic emanation of others of his kind—i.e., other human individuals.
31. Ở đây chúng ta đang bàn về các rung động cảm dục vũ trụ. Thượng đế không chỉ đáp ứng với các năng lượng và mãnh lực của chính thể cảm dục của Ngài, mà còn với “phẩm tính cảm xúc của các thực thể vũ trụ khác”. Ngài bị tác động về mặt từ tính và thông linh bởi các Đấng vĩ đại khác, cũng như con người bị tác động bởi phẩm tính cảm xúc, từ điện và phát xạ thông linh của những kẻ cùng loại với mình—tức các cá nhân nhân loại khác.
32. We live in an astral-buddhic solar system. Our Solar Logos is largely astrally polarized (we are told) hence the importance of this kind of cosmic influence.
32. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề. Thái dương Thượng đế của chúng ta phần lớn phân cực cảm xúc (như chúng ta được cho biết), do đó tầm quan trọng của loại ảnh hưởng vũ trụ này.
33. Man, too, is largely astrally polarized (even though he represents the throat center of Sanat Kumara), and so the emotional impacts from other human beings are more important than the strictly physical impacts.
33. Con người cũng phần lớn phân cực cảm xúc (dù y đại diện cho trung tâm cổ họng của Đức Sanat Kumara), và vì thế các tác động cảm xúc từ những con người khác quan trọng hơn các tác động thuần hồng trần.
34. Some of the cosmic entities which most affect our Solar Logos (whether etherically or emotionally) are the six other major members of the Seven Solar Systems of Which Ours is One, and also the quality of the twelve zodiacal constellations. All these interchanges are occurring within the energy system of the Great Being known as the One About Whom Naught May Be Said.
34. Một số thực thể vũ trụ ảnh hưởng nhiều nhất đến Thái dương Thượng đế của chúng ta (dù theo cách dĩ thái hay cảm xúc) là sáu thành viên lớn khác của Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó, và cả phẩm tính của mười hai chòm sao hoàng đạo. Tất cả những trao đổi này đang diễn ra trong hệ thống năng lượng của Đấng Vĩ Đại được biết đến như Đấng Bất Khả Tư Nghị.
35. This second type of vibration to which the Solar Logos responds has its origin on the cosmic astral plane? Is this second type also a second order of vibration, indicating that the orders of vibration to which the Solar Logos responds relate to a pattern of ascent from one cosmic plane to the next?
35. Loại rung động thứ hai mà Thái dương Thượng đế đáp ứng có nguồn gốc trên cõi cảm dục vũ trụ chăng? Loại thứ hai này cũng là cấp bậc rung động thứ hai chăng, cho thấy rằng các cấp bậc rung động mà Thái dương Thượng đế đáp ứng liên hệ đến một mô hình thăng lên từ cõi vũ trụ này sang cõi vũ trụ kế tiếp?
3. Vibrations from that which, within the logoic consciousness, is recognised as the logoic Higher Self, or His emanating source. This brings the solar system within the vibratory radius of certain constellations which have a position of profound importance in the general evolution of the system.
3. Các rung động từ điều mà, trong tâm thức logoic, được nhận biết như là Bản Ngã Cao Siêu logoic, hay nguồn phát xạ của Ngài. Điều này đưa hệ mặt trời vào trong bán kính rung động của một số chòm sao có vị trí vô cùng quan trọng trong sự tiến hoá tổng quát của hệ thống.
36. Here we speak of the “logoic Higher Self”, focussed, presumably, on the first level of the cosmic higher mental plane. This would be the Egoic Lotus or causal body of the Solar Logos.
36. Ở đây chúng ta nói đến “Bản Ngã Cao Siêu logoic”, có lẽ được tập chú trên cấp độ thứ nhất của cõi thượng trí vũ trụ. Đây sẽ là Hoa Sen Chân Ngã hay thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế.
37. This vibration may also involve Solar Angels of a cosmic order just as the vibrations of the Higher Self of man involves the influence of the Solar Angel Who is training that man.
37. Rung động này cũng có thể bao hàm các Thái dương Thiên Thần thuộc một cấp vũ trụ, cũng như các rung động của Bản Ngã Cao Siêu của con người bao hàm ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần đang huấn luyện con người ấy.
38. Interestingly, in this tabulations of influences to which a Solar Logos must respond, the influence of the lower sub-planes of the cosmic mental plane is not mentioned.
38. Điều đáng chú ý là, trong bảng liệt kê các ảnh hưởng mà một Thái dương Thượng đế phải đáp ứng này, ảnh hưởng của các cõi phụ thấp của cõi trí vũ trụ không được nhắc đến.
39. DK speaks of the influence of “certain constellations” which are profoundly important to the general evolution of the system (presumably our system). This influence may be mentioned in a section discussing the solar logoic causal body because the influences are mediated via that causal body.
39. Chân sư DK nói đến ảnh hưởng của “một số chòm sao” vốn vô cùng quan trọng đối với sự tiến hoá tổng quát của hệ thống (có lẽ là hệ của chúng ta). Ảnh hưởng này có thể được nhắc đến trong một phần bàn về thể nguyên nhân thái dương logoic vì các ảnh hưởng ấy được trung giới qua thể nguyên nhân đó.
40. There are three great constellations about which we read in Esoteric Astrology. Certainly the Great Bear, the Pleiades, Sirius, Capricorn, Draco, etc., have a profound influence on the evolution of our Solar Logos and His solar system.
40. Có ba chòm sao lớn mà chúng ta đọc thấy trong Chiêm Tinh Học Nội Môn. Chắc chắn Đại Hùng Tinh, Pleiades, Sirius, Ma Kết, Draco, v.v. có ảnh hưởng sâu xa lên sự tiến hoá của Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài.
41. We have read in Esoteric Astrology that the soul nature of man is very receptive to the twelve zodiacal constellations as is his monadic nature. No doubt there are parallels when dealing with the causal body of the Solar Logos.
41. Chúng ta đã đọc trong Chiêm Tinh Học Nội Môn rằng bản chất linh hồn của con người rất dễ tiếp nhận mười hai chòm sao hoàng đạo, cũng như bản chất chân thần của y. Hẳn là có những tương đồng khi bàn đến thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế.
42. There are certain systemic influences which influence the causal body of man (affecting primarily the man’s soul nature) and are meditated to his physical body through the general causal influence.
42. Có những ảnh hưởng hệ thống nhất định tác động đến thể nguyên nhân của con người (chủ yếu ảnh hưởng đến bản chất linh hồn của con người) và được trung giới đến thể xác của y qua ảnh hưởng nguyên nhân tổng quát.
43. This third type of vibration to which the Solar Logos responds relates to the cosmic mental plane, for that is where the logoic Higher Self is located.
43. Loại rung động thứ ba mà Thái dương Thượng đế đáp ứng liên hệ đến cõi trí vũ trụ, vì đó là nơi Bản Ngã Cao Siêu logoic tọa lạc.
44. So far, in discussing types of vibrations to which the Solar Logos responds in His etheric body, we have been ascending through the cosmic planes.
44. Cho đến nay, khi bàn về các loại rung động mà Thái dương Thượng đế đáp ứng trong thể dĩ thái của Ngài, chúng ta đã đi lên qua các cõi vũ trụ.
4. Vibrations from Sirius via the cosmic mental plane.
4. Các rung động từ Sirius qua cõi trí vũ trụ.
45. The Sirian vibration is largely cosmic mental. The causal body of the Solar Logos is focussed on the cosmic mental plane.
45. Rung động Sirian phần lớn là trí tuệ vũ trụ. Thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế được tập chú trên cõi trí vũ trụ.
46. DK seems to be saying that the Sirian influence reaches our solar system (the etheric-physical body of our Solar Logos) via the Egoic Lotus of the Solar Logos on the cosmic mental plane.
46. Chân sư DK dường như đang nói rằng ảnh hưởng Sirian đến hệ mặt trời của chúng ta (thể dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế của chúng ta) qua Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ.
47. The cosmic astral of the Sirian Logos cannot be overlooked.
47. Cõi cảm dục vũ trụ của Sirian Logos không thể bị bỏ qua.
48. This is the fourth type of vibration to which our Logos responds, but our ascent through the cosmic planes has stopped. The third type of vibration also related to the cosmic mental plane. If this fourth type of vibration is the same as a fourth order of vibration, then the third type/order and the fourth/type order both relate to the same cosmic plane.
48. Đây là loại rung động thứ tư mà Thượng đế của chúng ta đáp ứng, nhưng sự đi lên của chúng ta qua các cõi vũ trụ đã dừng lại. Loại rung động thứ ba cũng liên hệ đến cõi trí vũ trụ. Nếu loại rung động thứ tư này cũng là cấp bậc rung động thứ tư, thì loại/cấp thứ ba và loại/cấp thứ tư đều liên hệ đến cùng một cõi vũ trụ.
5. Vibrations from the seven Rishis of the Great Bear, and primarily from those two Who are the Prototypes of the Lords of the seventh and fifth Rays. This is a most important point, and finds its microcosmic correspondence in the place which the seventh Ray has in the building of a thoughtform, and the use of the fifth Ray in the work of concretion.
5. Các rung động từ bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, và chủ yếu từ hai Đấng là các Nguyên Mẫu của các Đấng Chúa Tể cung bảy và cung năm. Đây là một điểm vô cùng quan trọng, và tìm thấy sự tương ứng vi mô của nó trong vị trí mà cung bảy giữ trong việc xây dựng một hình tư tưởng, và việc sử dụng cung năm trong công việc làm cho cụ thể.
32. It would seem that all the energies of the Seven Rishis reach our Solar Logos, but the ones which have the most important influence on His etheric-physical vehicle are the energies of the fifth and seventh rays because these rays are most in line with the ethero-physicality of our Solar Logos.
32. Có vẻ như mọi năng lượng của Bảy Rishi đều đến với Thái dương Thượng đế của chúng ta, nhưng những năng lượng có ảnh hưởng quan trọng nhất lên vận cụ dĩ thái-hồng trần của Ngài là các năng lượng của cung năm và cung bảy vì các cung này phù hợp nhất với tính dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế của chúng ta.
33. The seventh ray is the most etheric and physical of the seven and is also the “builder”—in this case the builder of the logoic thoughtform we call the solar system. The fifth ray deals with that factor of organization which produces the relationship we call “concretion”.
33. Cung bảy là cung dĩ thái và hồng trần nhất trong bảy cung và cũng là “đấng kiến tạo”—trong trường hợp này là đấng kiến tạo hình tư tưởng logoic mà chúng ta gọi là hệ mặt trời. Cung năm xử lý yếu tố tổ chức tạo ra mối liên hệ mà chúng ta gọi là “sự cụ thể hóa”.
34. We have been alerted to the fact that the fifth and seventh rays often work closely with each other as do the representatives of these rays.
34. Chúng ta đã được báo trước về sự kiện rằng cung năm và cung bảy thường làm việc chặt chẽ với nhau, cũng như các đại diện của các cung này.
35. When we speak of the fifth and seventh rays we immediately think of the planet Uranus and its influence. We also think of Masters R. and H. and Their etheric-physical skill and effectiveness.
35. Khi nói đến cung năm và cung bảy, chúng ta lập tức nghĩ đến hành tinh Uranus và ảnh hưởng của nó. Chúng ta cũng nghĩ đến các Chân sư R. và H. cùng kỹ năng và hiệu quả dĩ thái-hồng trần của Các Ngài.
36. All the extra-systemic influences tabulated above, whether specifically etheric or originating on higher planes, eventually reach the etheric level on which our Solar Logos functions.
36. Tất cả các ảnh hưởng ngoài hệ thống được liệt kê ở trên, dù đặc biệt là dĩ thái hay phát sinh trên các cõi cao hơn, cuối cùng đều đến cấp độ dĩ thái nơi Thái dương Thượng đế của chúng ta hoạt động.
37. This fifth type of vibration may relate to the cosmic buddhic plane. In Chart V we notice that the Seven Rishis are portrayed upon the cosmic buddhic plane. However, there is reason to believe that they really belong on the cosmic atmic plane, in which case the fifth type of vibration would correspond to a fifth order or vibration.
37. Loại rung động thứ năm này có thể liên hệ đến cõi Bồ đề vũ trụ. Trong Biểu đồ V, chúng ta nhận thấy Bảy Rishi được mô tả trên cõi Bồ đề vũ trụ. Tuy nhiên, có lý do để tin rằng các Ngài thực sự thuộc về cõi atma vũ trụ, trong trường hợp đó loại rung động thứ năm sẽ tương ứng với cấp bậc rung động thứ năm.
38. We are looking to see whether there is a correspondence between: the seven types of vibrations here listed; seven orders of vibration; and seven cosmic planes. We shall not find such an easy fit.
38. Chúng ta đang tìm xem liệu có một sự tương ứng giữa: bảy loại rung động được liệt kê ở đây; bảy cấp bậc rung động; và bảy cõi vũ trụ hay không. Chúng ta sẽ không tìm thấy một sự khớp nối dễ dàng như thế.
All magicians who work with matter and who are occupied with form-building (either consciously or unconsciously) call in these two types of force or energy.
Mọi nhà huyền thuật làm việc với vật chất và bận tâm đến việc xây dựng hình tướng (dù hữu thức hay vô thức) đều gọi vào hai loại mãnh lực hay năng lượng này.
49. DK is telling us something important about energies which, in the future, will be necessary to engage in magical processes and produce magical results.
49. Chân sư DK đang nói với chúng ta điều gì đó quan trọng về các năng lượng mà trong tương lai sẽ cần thiết để tham gia vào các tiến trình huyền thuật và tạo ra các kết quả huyền thuật.
50. Magicians call in the energies and forces of the fifth and seventh rays.
50. Các nhà huyền thuật gọi vào các năng lượng và mãnh lực của cung năm và cung bảy.
6. Certain very remote vibrations, as yet no more appreciable in the logoic Body than is monadic influence in that of average man, from the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, that cosmic [Page 554] Existence Who is expressing Himself through seven centres of force, of which our solar system is one.
6. Một số rung động rất xa xôi, hiện vẫn chưa được cảm nhận rõ trong Thể của Thượng đế như ảnh hưởng chân thần trong thân thể của con người trung bình, phát ra từ ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, Đấng Hiện Hữu vũ trụ ấy được cảm nhận [Page 554] đang biểu lộ Chính Ngài qua bảy trung tâm mãnh lực, trong đó hệ mặt trời của chúng ta là một.
51. We are given some scale for greater understanding. The One About Whom Naught May Be Said is as remote from the consciousness of the Solar Logos as the Monad is from the consciousness of man. This, at least, gives a sense of proportion.
51. Chúng ta được cho một thước đo nào đó để thấu hiểu nhiều hơn. Đấng Bất Khả Tư Nghị xa đối với tâm thức của Thái dương Thượng đế cũng như chân thần xa đối với tâm thức của con người. Ít nhất, điều này đem lại Ý thức về tỉ lệ.
52. We gather from this that no human being (no matter how exalted his consciousness relatively) will be registering impressions from this Super-Constellational Logos.
52. Từ đây chúng ta rút ra rằng không một con người nào (dù tâm thức của y có cao siêu đến đâu về mặt tương đối) sẽ ghi nhận được các ấn tượng từ Thượng đế Siêu Chòm Sao này.
53. We have to question, however, what type of One About Whom Naught May Be Said is meant? There is a kind of One About Whom Naught May Be Said Who has solar systems for chakras. There is another and greater kind of One About Whom Naught May Be Said (the One, I think, most often referenced) Who has constellations for chakras.
53. Tuy nhiên, chúng ta phải đặt câu hỏi: loại Đấng Bất Khả Tư Nghị nào được hàm ý ở đây? Có một loại Đấng Bất Khả Tư Nghị lấy các hệ mặt trời làm các luân xa. Có một loại Đấng Bất Khả Tư Nghị khác và vĩ đại hơn (theo tôi nghĩ, là Đấng thường được nhắc đến nhất) lấy các chòm sao làm các luân xa.
54. We may remember that the term “solar system” can be a generic blind. It can refer simply to a normal solar system (which has one or two suns at its center—for most systems are actually binaries), OR it can refer to a system of stars—i.e., to a constellation. If the latter reference is meant, the “our solar system” is really the system of a Cosmic Logos (a great Being for Whom suns are chakras).
54. Chúng ta có thể nhớ rằng thuật ngữ “hệ mặt trời” có thể là một màn che khái quát. Nó có thể chỉ đơn giản một hệ mặt trời thông thường (có một hay hai mặt trời ở trung tâm—vì phần lớn các hệ thực ra là hệ đôi), HOẶC nó có thể chỉ một hệ sao—tức là, một chòm sao. Nếu cách quy chiếu sau được hàm ý, thì “hệ mặt trời của chúng ta” thực ra là hệ của một Thượng đế Vũ trụ (một Hữu Thể Vĩ Đại mà đối với Ngài, các mặt trời là các luân xa).
55. Whichever One About Whom Naught May Be Said is meant, we can understand that it is remote from the consciousness of our Solar Logos and incredibly remote from the consciousness of man.
55. Dù Đấng Bất Khả Tư Nghị nào được hàm ý, chúng ta vẫn có thể hiểu rằng Đấng ấy xa đối với tâm thức của Thái dương Thượng đế của chúng ta, và xa đến mức khó thể tưởng tượng đối với tâm thức con người.
56. Continuing our search for the possible correlation between types of vibration, orders of vibration and cosmic planes correlated to the number of these types and orders, it is interesting to note that (one Chart V, TCF 344) that which we call a One About Whom Naught May Be Said, is hypothetically ‘located’ on the sixth cosmic plane—the cosmic monadic plane—so this category of vibration does, indeed, correlate with ascent through the cosmic planes.
56. Tiếp tục tìm kiếm mối tương quan khả hữu giữa các loại rung động, các cấp bậc rung động và các cõi vũ trụ tương ứng với số lượng các loại và cấp bậc ấy, thật thú vị khi lưu ý rằng (trong một Biểu đồ V, TCF 344), điều mà chúng ta gọi là một Đấng Bất Khả Tư Nghị, theo giả thuyết, được “định vị” trên cõi vũ trụ thứ sáu—cõi chân thần vũ trụ—vì vậy loại rung động này quả thực có tương quan với sự thăng lên qua các cõi vũ trụ.
57. After this, however, the correlation breaks down when considering the seventh type of vibration to which the Solar Logos responds in His etheric body.
57. Tuy nhiên, sau điểm này, mối tương quan ấy không còn đứng vững khi xét đến loại rung động thứ bảy mà Thái dương Thượng đế đáp ứng trong thể dĩ thái của Ngài.
7. A series of vibrations which will become more potent as our Logos nears that period which is occultly called "Divine Maturity," which emanate from that constellation in the Heavens which embodies His polar opposite. This is a deep mystery and concerns the cosmic marriage of the Logos.
7. Một chuỗi rung động sẽ trở nên mạnh hơn khi Thượng đế của chúng ta tiến gần đến giai đoạn mà huyền bí học gọi là “Sự Trưởng Thành Thiêng Liêng”, phát ra từ chòm sao trên trời vốn là hiện thân của cực đối nghịch của Ngài. Đây là một huyền nhiệm sâu xa và liên quan đến cuộc hôn phối vũ trụ của Thượng đế.
58. We are considering the solar system as a logoic thoughtform and we are considering the receptive capacity of that thoughtform.
58. Chúng ta đang xét hệ mặt trời như một Hình tư tưởng của Thượng đế và đang xét năng lực tiếp nhận của hình tư tưởng ấy.
59. The term “constellation” can also be blinded. It may not mean a group of stars, but is sometimes used to indicate only that which we call a solar system.
59. Thuật ngữ “chòm sao” cũng có thể được dùng như một màn che. Nó có thể không có nghĩa là một nhóm sao, mà đôi khi chỉ được dùng để chỉ điều mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời.
60. We can imagine that the polar opposite of our Logos is also a Solar Logos. Is it the Logos of Sirius? Is the Logos of a star still closer than Sirius—namely Alpha Centauri?
60. Chúng ta có thể hình dung rằng cực đối nghịch của Thượng đế của chúng ta cũng là một Thái dương Thượng đế. Đó có phải là Thượng đế của Sirius chăng? Hay là Thượng đế của một ngôi sao còn gần hơn Sirius—tức Alpha Centauri?
61. It is that the there a “constellation in the Heavens which embodies His polar opposite”. Does this mean that that constellation contains the Solar Logos Who is His polar opposite, or that the entire constellation is the embodiment of the Logos Who is the polar opposite of our Logos? Perhaps the latter. But it is not reasonably conceivable that an entire constellation should be the polar opposite of a single star. So we have an issue of proportion. If we wish to evade the difficulty, we must imagine that the word “constellation” is used in a blinded manner and indicates a solar system rather than a constellation of stars.
61. Có nói rằng có một “chòm sao trên trời vốn là hiện thân của cực đối nghịch của Ngài”. Điều này có nghĩa là chòm sao ấy chứa Thái dương Thượng đế là cực đối nghịch của Ngài, hay toàn bộ chòm sao ấy là hiện thân của Thượng đế vốn là cực đối nghịch của Thượng đế chúng ta? Có lẽ là trường hợp sau. Nhưng khó có thể quan niệm hợp lý rằng toàn bộ một chòm sao lại là cực đối nghịch của một ngôi sao đơn lẻ. Vì vậy, ở đây có một vấn đề về tỉ lệ. Nếu muốn tránh khó khăn này, chúng ta phải hình dung rằng từ “chòm sao” được dùng theo lối che giấu và chỉ một hệ mặt trời hơn là một chòm sao.
62. Sometime the star Sirius (because it has a companion star and also, probably, a dark star called Sirius “C”) may be called a constellation. But influences from Sirius have already been mentioned in this listing, so why mention them again?
62. Đôi khi sao Sirius (vì nó có một sao đồng hành và cũng có lẽ có một sao tối gọi là Sirius “C”) có thể được gọi là một chòm sao. Nhưng các ảnh hưởng từ Sirius đã được nhắc đến trong bảng liệt kê này rồi, vậy tại sao lại nhắc lại nữa?
63. If our solar system is as a heart center, what is the polar opposite of a heart center? Is it a solar plexus center, in which case we might have to consider a star such as Fomalhaut (which some have assigned to the solar plexus center of the Seven Solar Systems of Which Ours is One).
63. Nếu hệ mặt trời của chúng ta giống như một trung tâm tim, thì cực đối nghịch của trung tâm tim là gì? Có phải là một trung tâm tùng thái dương không, trong trường hợp đó chúng ta có thể phải xét đến một ngôi sao như Fomalhaut (mà một số người đã gán cho trung tâm tùng thái dương của Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó).
64. Or is the opposite of the heart center the head center, in which case Sirius might be suitable.
64. Hay cực đối nghịch của trung tâm tim là trung tâm đầu, trong trường hợp đó Sirius có thể thích hợp.