Trích nội dung chương
65. Or if Sirius is not the head center of the seven systems, might the star Vega be? We are told that our solar system is moving in the direction of Vega. 65. Hoặc nếu Sirius không phải là trung tâm đầu của bảy hệ, thì có thể sao Vega là như vậy chăng? Chúng ta được cho biết rằng hệ mặt trời của chúng ta đang chuyển động theo hướng Vega.
65. Or if Sirius is not the head center of the seven systems, might the star Vega be? We are told that our solar system is moving in the direction of Vega.
65. Hoặc nếu Sirius không phải là trung tâm đầu của bảy hệ, thì có thể sao Vega là như vậy chăng? Chúng ta được cho biết rằng hệ mặt trời của chúng ta đang chuyển động theo hướng Vega.
66. It would seem that a star which was a solar plexus center or a head center would be most suitable for a “marriage” with out Solar Logos, but there can be no certainty about how to assign relatively local stars to the chakric system of the Logos of the Seven Solar Systems.
66. Có vẻ như một ngôi sao là trung tâm tùng thái dương hay trung tâm đầu sẽ thích hợp nhất cho một “cuộc hôn phối” với Thái dương Thượng đế của chúng ta, nhưng không thể có sự chắc chắn nào về cách gán các ngôi sao tương đối gần vào hệ thống luân xa của Thượng đế của Bảy Hệ Mặt Trời.
67. We can see why the Tibetan said this is a very deep mystery.
67. Chúng ta có thể thấy vì sao Chân sư Tây Tạng nói rằng đây là một huyền nhiệm rất sâu xa.
It will be apparent, therefore, how little can as yet be predicated anent the future of the solar system until the vibrations of the sixth and seventh order become more powerful, and their effects can consequently be studied more easily.
Do đó, hiển nhiên là hiện nay rất ít điều có thể được tiên đoán liên quan đến tương lai của hệ mặt trời cho đến khi các rung động của cấp thứ sáu và thứ bảy trở nên mạnh hơn, và vì thế các hiệu quả của chúng có thể được nghiên cứu dễ dàng hơn.
68. We are told that vibrations of the sixth and seventh order have to become more powerful, but more powerful for whom? For man? So that he can fathom these great mysteries?
68. Chúng ta được bảo rằng các rung động của cấp thứ sáu và thứ bảy phải trở nên mạnh hơn, nhưng mạnh hơn đối với ai? Đối với con người chăng? Để y có thể dò thấu những huyền nhiệm lớn lao này chăng?
69. Vibrations of the sixth and seventh order may refer to solar logoic spirillae and, thus, indicate the vibrations of the monadic and logoic planes—the sixth and seventh systemic planes, respectively.
69. Các rung động của cấp thứ sáu và thứ bảy có thể chỉ các loa tuyến của Thượng đế mặt trời và do đó chỉ các rung động của cõi chân thần và cõi thượng đế—tương ứng là cõi hệ thống thứ sáu và thứ bảy.
70. If the fourth or fifth cosmic initiations are taken by our Solar Logos in this our major second (or fifth) solar system, then the next solar system will concern the solar logoic Monad and will naturally involve the sixth and seventh planes—the plane which is presently the plane of the Monad and the plane which may be home to the ‘disembodied Monad’—the ‘liberated’ Monad.
70. Nếu lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hay thứ năm được Thái dương Thượng đế của chúng ta tiếp nhận trong hệ mặt trời lớn thứ hai (hay thứ năm) này của chúng ta, thì hệ mặt trời kế tiếp sẽ liên quan đến chân thần của Thượng đế mặt trời và tự nhiên sẽ bao hàm cõi thứ sáu và thứ bảy—cõi hiện nay là cõi của chân thần và cõi có thể là nơi cư ngụ của “chân thần không nhập thể”—chân thần “được giải thoát”.
71. If we wish to expand the vision, we could say that vibrations of the sixth and seventh order pertain to the cosmic monadic plane and the cosmic logoic, and would be reflected in the physical vehicle of the Solar Logos through the sixth and seventh systemic planes.
71. Nếu muốn mở rộng tầm nhìn, chúng ta có thể nói rằng các rung động của cấp thứ sáu và thứ bảy liên quan đến cõi chân thần vũ trụ và cõi thượng đế vũ trụ, và sẽ được phản chiếu trong vận cụ hồng trần của Thái dương Thượng đế qua cõi hệ thống thứ sáu và thứ bảy.
72. Our Solar Logos is a Logos of the “fourth order”, so could the Tibetan be speaking of the reception of vibrations from stars of the sixth and seventh order which are related to our Logos?
72. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Thượng đế thuộc “cấp thứ tư”, vậy có thể Chân sư Tây Tạng đang nói đến việc tiếp nhận các rung động từ những ngôi sao thuộc cấp thứ sáu và thứ bảy có liên hệ với Thượng đế của chúng ta chăng?
73. However, the term “order” seems to be used differently in this context than when describing the status of our Logos.
73. Tuy nhiên, thuật ngữ “cấp” dường như được dùng khác đi trong ngữ cảnh này so với khi mô tả địa vị của Thượng đế chúng ta.
74. In this context, types of vibrations seem to be orders of vibrations.
74. Trong ngữ cảnh này, các loại rung động dường như là các cấp của rung động.
It is not possible here to do more than indicate the seven types of vibrations to which our solar Logos (functioning in a material body) will in due course of time consciously, and fully, respond. He responds to vibrations of the first, second, third and fourth order quite fully at this time,
Ở đây không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra bảy loại rung động mà Thái dương Thượng đế của chúng ta (đang hoạt động trong một thể vật chất) theo thời gian sẽ đáp ứng một cách hữu thức và trọn vẹn. Hiện nay Ngài đáp ứng khá trọn vẹn với các rung động của cấp thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư,
75. This response pattern probably indicates the development of His spirillae. That He is an astral-buddhic Logos probably has something to do with the fact that he responds to four orders of vibration.
75. Mô hình đáp ứng này có lẽ cho thấy sự phát triển các loa tuyến của Ngài. Việc Ngài là một Thượng đế cảm dục-Bồ đề có lẽ có liên hệ nào đó với sự kiện Ngài đáp ứng với bốn cấp rung động.
76. From a larger perspective, responses of the first, second, third and fourth orders would include cosmic buddhic responses.
76. Từ một viễn tượng rộng lớn hơn, các đáp ứng của cấp thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư sẽ bao gồm các đáp ứng Bồ đề vũ trụ.
77. Is it then possible that the seven types of vibrations to which our Solar Logos is either now responding or to which He will respond are, in fact, orders of vibrations. A close study of the seven sources indicates that something of this nature may be operative, but there is an unevenness in the tabulation which seems to cause problems with this interpretation. For instance, the sixth type of vibration to which He responds is the incredibly elevated vibration of the One About Whom Naught May Be Said. The seventh type, however, is merely the vibration of His polar opposite.
77. Vậy có thể chăng rằng bảy loại rung động mà Thái dương Thượng đế của chúng ta hiện đang đáp ứng hoặc sẽ đáp ứng thực ra là các cấp rung động. Một nghiên cứu kỹ bảy nguồn cho thấy điều gì đó thuộc loại này có thể đang vận hành, nhưng có một sự không đồng đều trong bảng liệt kê dường như gây khó khăn cho cách giải thích này. Chẳng hạn, loại rung động thứ sáu mà Ngài đáp ứng là rung động vô cùng cao siêu của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Tuy nhiên, loại thứ bảy chỉ đơn thuần là rung động của cực đối nghịch của Ngài.
but as yet (though responding) cannot fully, and consciously, utilise these types of energy.
nhưng hiện nay (dù đang đáp ứng) Ngài vẫn chưa thể một cách trọn vẹn và hữu thức sử dụng các loại năng lượng này.
78. Response is not the same as utilization. If the orders simply related to the first four systemic planes, a very limited range of energies would be indicated and there would be no reason why the Solar Logos could not “utilise these types of energy”.
78. Đáp ứng không đồng nghĩa với sử dụng. Nếu các cấp chỉ đơn giản liên hệ đến bốn cõi hệ thống đầu tiên, thì một phạm vi năng lượng rất hạn hẹp sẽ được chỉ ra và sẽ không có lý do gì khiến Thái dương Thượng đế không thể “sử dụng các loại năng lượng này”.
79. So perhaps, it is best to think of the term “orders” as related to the vibrations of the various cosmic planes.
79. Vì vậy, có lẽ tốt nhất là nghĩ rằng thuật ngữ “cấp” liên hệ đến các rung động của các cõi vũ trụ khác nhau.
80. There might be other ways to count cosmic “orders” other than one order per cosmic plane. Perhaps the orders relate to cosmic principles, and therefore the first four orders might only concern the personality levels of Beings who express upon the cosmic planes.
80. Có thể có những cách khác để đếm các “cấp” vũ trụ ngoài cách một cấp cho mỗi cõi vũ trụ. Có lẽ các cấp liên hệ đến các nguyên khí vũ trụ, và do đó bốn cấp đầu tiên có thể chỉ liên quan đến các cấp độ phàm ngã của những Hữu thể biểu lộ trên các cõi vũ trụ.
81. We have explored the matter from several perspectives.
81. Chúng ta đã khảo sát vấn đề này từ nhiều góc độ.
The vibration of the fifth order is recognised by Him, particularly in three of His centres, but is not as yet fully under His control.
Rung động của cấp thứ năm được nhận biết bởi Ngài, đặc biệt trong ba trung tâm của Ngài, nhưng hiện chưa hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Ngài.
82. It may be that the Logos of Sirius is of the fifth order, counting from below, because Sirius, we are often told, is focussed on the cosmic mental plane. Also Sirius is involved with the wielding of the cosmic fifth principle.
82. Có thể Thượng đế của Sirius thuộc cấp thứ năm, tính từ dưới lên, bởi vì Sirius, như chúng ta thường được cho biết, được tập trung trên cõi trí vũ trụ. Ngoài ra Sirius còn liên hệ đến việc vận dụng nguyên khí vũ trụ thứ năm.
83. We might question which three of His “centres” or planetary schemes respond to vibrations of the fifth order. Would it be the three synthesizing schemes? Or would a planet such as Venus which has so much of the fifth principle involve in its expression, be a likely candidate? If so, perhaps, Mercury would also be involved.
83. Chúng ta có thể đặt câu hỏi ba “trung tâm” hay ba hệ hành tinh nào của Ngài đáp ứng với các rung động của cấp thứ năm. Có phải là ba hệ tổng hợp chăng? Hay một hành tinh như Sao Kim, vốn có rất nhiều nguyên khí thứ năm tham dự vào sự biểu lộ của nó, sẽ là một ứng viên có khả năng? Nếu vậy, có lẽ Sao Thủy cũng sẽ liên quan.
84. We may infer but we cannot yet know.
84. Chúng ta có thể suy ra nhưng chưa thể biết.
85. In any case “the vibration of the fifth order” seems to correlate well with a Sirian vibration.
85. Dù sao đi nữa, “rung động của cấp thứ năm” dường như tương quan khá tốt với một rung động Sirian.
86. However, Sirius is definitely not located on the fifth cosmic plane counting from below, so if we decide to correlate Sirius with vibrations of the fifth order, we will have to abandon the idea of ascent through the cosmic planes as indicating “orders” of vibration.
86. Tuy nhiên, Sirius chắc chắn không nằm trên cõi vũ trụ thứ năm nếu tính từ dưới lên, vì thế nếu chúng ta quyết định tương quan Sirius với các rung động của cấp thứ năm, chúng ta sẽ phải từ bỏ ý niệm về sự thăng lên qua các cõi vũ trụ như là dấu hiệu của các “cấp” rung động.
87. On the other hand, it might be well to consider the vibrations relating to the Great Bear, and especially to two of the stars, as being of the fifth order. We have already discussed the possible relationship of the Great Bear to the fifth cosmic plane, the cosmic atmic plane.
87. Mặt khác, có lẽ nên xét các rung động liên hệ đến Đại Hùng Tinh, và đặc biệt đến hai ngôi sao trong đó, như thuộc cấp thứ năm. Chúng ta đã bàn về mối liên hệ khả hữu của Đại Hùng Tinh với cõi vũ trụ thứ năm, cõi atma vũ trụ.
88. Further Sirius is already mentioned in relation to the cosmic mental plane.
88. Hơn nữa Sirius đã được nhắc đến liên hệ với cõi trí vũ trụ.
89. Interestingly, the Pleiades as transmitters of cosmic buddhi, are not mentioned.
89. Điều thú vị là Pleiades, với tư cách là các đấng truyền dẫn Bồ đề vũ trụ, lại không được nhắc đến.
The other two are sensed, and felt, but so remotely as to be almost outside the range of His consciousness.
Hai loại còn lại được cảm nhận và cảm thấy, nhưng xa đến mức gần như nằm ngoài phạm vi tâm thức của Ngài.
90. We human beings are beginning to come in touch with influences of the lower fifth order through the Solar Angels and through the fifth kingdom. When it comes to finding rapport with members of the sixth and seventh kingdoms, it can be said of us that such vibrations are “almost outside the range of [our] consciousness”.
90. Chúng ta, những con người, đang bắt đầu tiếp xúc với các ảnh hưởng của cấp thứ năm thấp hơn qua các Thái dương Thiên Thần và qua giới thứ năm. Khi nói đến việc tìm sự tương thông với các thành viên của giới thứ sáu và thứ bảy, có thể nói về chúng ta rằng các rung động ấy “gần như nằm ngoài phạm vi tâm thức [của chúng ta]”.
91. Just as there are systemic kingdoms so there are cosmic kingdoms. Perhaps the orders we are here discussing represent a kind of ascent through cosmic kingdoms.
91. Cũng như có các giới hệ thống thì cũng có các giới vũ trụ. Có lẽ các cấp mà chúng ta đang bàn ở đây biểu thị một loại thăng tiến qua các giới vũ trụ.
92. The term “order” is definitely used in different ways. In the present context, vibrations of the second order are lower than vibrations of the fourth or fifth. But elsewhere in the book, Betelgeuse is said to be a Logos the “second order”, and Sol (our Logos) a Logos of the fourth order. Betelgeuse is, obviously, a much greater Logos than Sol! So the lower the number or the order (in this way of using the term) the higher the Being.
92. Thuật ngữ “cấp” chắc chắn được dùng theo những cách khác nhau. Trong ngữ cảnh hiện tại, các rung động của cấp thứ hai thấp hơn các rung động của cấp thứ tư hay thứ năm. Nhưng ở nơi khác trong sách, Betelgeuse được nói là một Thượng đế thuộc “cấp thứ hai”, còn Sol (Thượng đế của chúng ta) là một Thượng đế thuộc cấp thứ tư. Hiển nhiên Betelgeuse là một Thượng đế vĩ đại hơn Sol rất nhiều! Vì vậy, số hay cấp càng thấp (theo cách dùng thuật ngữ này) thì Hữu thể càng cao.
93. In the present context, the higher the order the higher the vibration.
93. Trong ngữ cảnh hiện tại, cấp càng cao thì rung động càng cao.
In carrying out these ideas in connection with man and the thought forms which he fabricates (such as his material sheaths),
Khi triển khai các ý tưởng này liên hệ với con người và các hình tư tưởng mà y tạo ra (chẳng hạn như các vỏ bọc vật chất của y),
94. Man as a soul or Ego fabricates his sheaths. In this context, sheaths are called thoughtforms.
94. Con người như một linh hồn hay chân ngã tạo ra các vỏ bọc của mình. Trong ngữ cảnh này, các vỏ bọc được gọi là các hình tư tưởng.
the correspondence can be worked out within the system, and from the point of view of the planetary schemes in which man has his place. The work of man as he builds in mental thought matter and constructs forms extraneous to himself, we shall deal with later.
sự tương ứng có thể được triển khai trong hệ thống, và từ quan điểm của các hệ hành tinh mà trong đó con người có vị trí của mình. Công việc của con người khi y kiến tạo trong chất liệu tư tưởng trí tuệ và cấu tạo các hình tướng ở ngoài chính mình, chúng ta sẽ bàn đến sau.
95. Thus far we are dealing with the fundamental forms of Creation—the vehicles of the Solar Logos, the Planetary Logos and man. We are not yet focussed on the construction of extraneous thoughtforms—the thoughtforms which are not vehicles for the principles of these B/beings.
95. Cho đến nay chúng ta đang bàn đến các hình tướng căn bản của Sáng Tạo—các vận cụ của Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế và con người. Chúng ta chưa tập trung vào việc cấu tạo các hình tư tưởng ngoại tại—những hình tư tưởng không phải là vận cụ cho các nguyên khí của các H/hữu thể này.
The methods whereby vibratory response is brought about might be enumerated as follows:
Các phương pháp nhờ đó sự đáp ứng rung động được tạo ra có thể được liệt kê như sau:
[Page 555]
[Page 555]
Through the factor of time in evolution.
Qua yếu tố thời gian trong tiến hoá.
96. Over time during the evolutionary process, responsiveness increases. Vehicles are refined over time.
96. Theo thời gian trong tiến trình tiến hoá, tính đáp ứng gia tăng. Các vận cụ được tinh luyện theo thời gian.
Through extra-systemic stimulation and intensive training, whether for a Logos or a man.
Qua sự kích thích ngoài hệ thống và sự huấn luyện chuyên sâu, dù là đối với một Thượng đế hay một con người.
97. The impacts of vibrations from without any system, and training in the manner of reception, will bring about increasing response to vibration.
97. Các tác động của những rung động từ bên ngoài bất kỳ hệ thống nào, và sự huấn luyện về cách tiếp nhận, sẽ tạo ra sự đáp ứng ngày càng tăng đối với rung động.
Through the process of Initiation, and the application of the Rods of Initiation.
Qua tiến trình Điểm đạo, và việc áp dụng các Thần Trượng Điểm đạo.
98. The application of the rod is intended to increase sensitivity and response capacity. Heightened vibration leads to heightened response-ability. The Rod of Initiation definitely heightens vibration.
98. Việc áp dụng thần trượng nhằm gia tăng tính nhạy cảm và năng lực đáp ứng. Rung động được nâng cao dẫn đến khả năng đáp ứng được nâng cao. Thần Trượng Điểm đạo chắc chắn nâng cao rung động.
99. We have listed four means of enhancing vibratory response:
99. Chúng ta đã liệt kê bốn phương tiện để tăng cường sự đáp ứng rung động:
a. The factor of time
a. Yếu tố thời gian
b. Extra-systemic stimulation, including:
b. Sự kích thích ngoài hệ thống, bao gồm:
i. Group stimulation (listed below)
i. Sự kích thích nhóm (liệt kê bên dưới)
ii. Stimulation from a more advanced “Kingdom in Nature” (listed below)
ii. Sự kích thích từ một “Giới trong Thiên Nhiên” tiến hoá hơn (liệt kê bên dưới)
c. Intensive training
c. Sự huấn luyện chuyên sâu
d. The process of initiation and, with it, the application of the Rod of Initiation.
d. Tiến trình điểm đạo và cùng với nó là việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo.
The factor of evolution is recognised and studied by many schools of thought, esoteric or exoteric.
Yếu tố tiến hoá được nhận biết và nghiên cứu bởi nhiều trường phái tư tưởng, huyền bí hay ngoại môn.
100. The key thought is that the processes of evolution promote sensitization and, thus, response to vibration.
100. Tư tưởng chủ chốt là các tiến trình tiến hoá thúc đẩy sự nhạy cảm hóa và do đó thúc đẩy sự đáp ứng với rung động.
The extra-systemic stimulation involves a large number of factors, but the main two to be remembered are that this stimulation will be applied:
Sự kích thích ngoài hệ thống bao hàm một số lượng lớn các yếu tố, nhưng hai yếu tố chính cần ghi nhớ là sự kích thích này sẽ được áp dụng:
Through the group to the unit.
Qua nhóm đến đơn vị.
Through a more evolved "Kingdom of Nature" to a less evolved.
Qua một “Giới trong Thiên Nhiên” tiến hoá hơn đến một giới kém tiến hoá hơn.
101. The group in which a unit finds itself can be considered a source of stimulation. The Ashram is an example of such a group. It stimulates those who form part of it. The group of Solar Logoi to which our Solar Logos belongs will also be such a group—though on a cosmic level.
101. Nhóm mà trong đó một đơn vị thấy mình hiện diện có thể được xem là một nguồn kích thích. Ashram là một ví dụ về loại nhóm như vậy. Nó kích thích những ai tạo thành một phần của nó. Nhóm các Thái dương Thượng đế mà Thái dương Thượng đế của chúng ta thuộc về cũng sẽ là một nhóm như thế—dù ở cấp độ vũ trụ.
102. The influence of a superior “Kingdom of Nature” will, of course, promote sensitization and increasing responsiveness.
102. Ảnh hưởng của một “Giới trong Thiên Nhiên” cao hơn dĩ nhiên sẽ thúc đẩy sự nhạy cảm hóa và tính đáp ứng ngày càng tăng.
As regards the third factor of Initiation, it must be borne in mind that we are here considering only the great initiations, and not the numerous expansions of consciousness which can be traced through all kingdoms and all manifestations.
Về yếu tố thứ ba là Điểm đạo, cần ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ đang xét các cuộc điểm đạo lớn, chứ không phải vô số sự mở rộng tâm thức có thể được truy ra qua mọi giới và mọi biểu lộ.
103. Expansion of consciousness occurs continuously, but DK is speaking (as regards humanity) of the “great manasic initiations” administered by the Hierophant with Members of the Hierarchy in attendance.
103. Sự mở rộng tâm thức diễn ra liên tục, nhưng Chân sư DK đang nói (liên quan đến nhân loại) về các “cuộc điểm đạo manas lớn” do Đấng Điểm đạo chủ trì với các Thành viên của Thánh đoàn hiện diện.
In connection with what we have considered above, anent the primary function of a thought-form (the power to respond to vibration)
Liên hệ với điều chúng ta đã xét ở trên, về chức năng sơ yếu của một hình tư tưởng (quyền năng đáp ứng với rung động)
104. We note that DK has given a few functions of a thoughtform but considers as primary the thoughtform’s ability to respond to vibration.
104. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đã nêu ra một vài chức năng của hình tư tưởng nhưng xem là sơ yếu khả năng đáp ứng với rung động của hình tư tưởng.
I would emphasise the necessity of remembering that, and that it will then through a complex reflex action, bring about response from the material sheath which veils it.
Tôi muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải ghi nhớ điều đó, và rằng khi ấy nó sẽ, qua một tác động phản xạ phức tạp, tạo ra sự đáp ứng từ vỏ bọc vật chất che phủ nó.
105. From one perspective a thoughtform is veiled by a material sheath and the response of that material sheath is brought about by means of the responsiveness of the thoughtform which the material sheath veils.
105. Từ một góc nhìn, một hình tư tưởng được che phủ bởi một vỏ bọc vật chất, và sự đáp ứng của vỏ bọc vật chất ấy được tạo ra nhờ tính đáp ứng của hình tư tưởng mà vỏ bọc vật chất che phủ.
106. But another question arises: Is it the thoughtform, per se, which responds or the “inner embodied idea” which responds?
106. Nhưng một câu hỏi khác nảy sinh: có phải chính hình tư tưởng đáp ứng, hay “ý tưởng nội tại được hiện thân” đáp ứng?
107. DK indicates that it is the “inner embodied idea that must respond”. Man, himself, or any being is an “inner embodied idea”.
107. Chân sư DK chỉ ra rằng chính “ý tưởng nội tại được hiện thân phải đáp ứng”. Bản thân con người, hay bất kỳ hữu thể nào, đều là một “ý tưởng nội tại được hiện thân”.
108. The definition of an idea (and let us see to what extent it applied to man) is as follows:
108. Định nghĩa về một ý tưởng (và hãy xem nó áp dụng cho con người đến mức nào) như sau:
"An idea is a being incorporeal, which has no subsistence by itself, but gives figure and form unto shapeless matter, and becomes the cause of the manifestation." (COA 55)
“Một ý tưởng là một hữu thể vô hình thể, không tự mình có sự tồn tại, nhưng ban hình dáng và hình tướng cho vật chất vô tướng, và trở thành nguyên nhân của sự biểu lộ.” (COA 55)
109. We are dealing with the interplay between three factors:
109. Chúng ta đang bàn đến sự tương tác giữa ba yếu tố:
a. An inner embodied idea
a. Một ý tưởng nội tại được hiện thân
b. A thoughtform which represents that inner embodied idea
b. Một hình tư tưởng biểu hiện cho ý tưởng nội tại được hiện thân ấy
c. A material sheath that veils the thoughtform
c. Một vỏ bọc vật chất che phủ hình tư tưởng
110. Perhaps we can say that man is an idea in the Mind of the Universal Logos.
110. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng con người là một ý tưởng trong Trí của Thượng đế Vũ Trụ.
111. Ultimately, it is the being that responds, and ideas are really beings.
111. Rốt cuộc, chính hữu thể đáp ứng, và các ý tưởng thực sự là các hữu thể.
Vibration is the result of subjective impulse, and makes its appeal to the subjective consciousness through impact upon whatever may be understood as substance;
Rung động là kết quả của xung lực chủ quan, và hướng sự kêu gọi của nó đến tâm thức chủ quan qua sự tác động lên bất cứ điều gì có thể được hiểu là chất liệu;
112. The subjective consciousness becomes aware of the impact on substance, and through that impact comes en rapport with the original “subjective impulse” and the vibration resulting from it.
112. Tâm thức chủ quan trở nên nhận biết sự tác động lên chất liệu, và qua sự tác động ấy đi vào tương thông với “xung lực chủ quan” nguyên thủy và với rung động phát sinh từ đó.
113. In this respect, vibration is mediatory. Response to vibration in substance makes a subjective consciousness aware of another subjective consciousness which sent the vibration forth.
113. Về phương diện này, rung động có tính trung gian. Sự đáp ứng với rung động trong chất liệu làm cho một tâm thức chủ quan nhận biết một tâm thức chủ quan khác đã phát ra rung động ấy.
114. What form does “subjective impulse” take? Is it a vibratory form or not? Are all things that are, characterized by vibration or are some things that are, not derived from vibration?
114. “Xung lực chủ quan” mang hình thức gì? Nó có phải là một hình thức rung động hay không? Mọi sự vật hiện hữu, đều được đặc trưng bởi rung động chăng, hay có những sự vật hiện hữu, không phát sinh từ rung động?
this impact is transmitted direct to the inner life, and in due turn is retransmitted to substance in the form of recognition or realisation.
sự tác động này được truyền trực tiếp đến sự sống bên trong, và đến lượt mình lại được truyền trở lại vào chất liệu dưới hình thức của sự nhận biết hay (sự)chứng nghiệm.
115. The sequence under discussion seems to be as follows:
115. Trình tự đang được bàn đến dường như như sau:
a. Subjective impulse
a. Xung lực chủ quan
b. Vibration
b. Rung động
c. Impact upon substance
c. Sự tác động lên chất liệu
d. Direct transmission from impacted substance to the recipient inner life
d. Sự truyền trực tiếp từ chất liệu bị tác động đến sự sống bên trong của bên tiếp nhận
e. Re-transmission from the recipient inner life to substance. This re-transmission appears in the form of recognition of realization.
e. Sự truyền trở lại từ sự sống bên trong của bên tiếp nhận đến chất liệu. Sự truyền trở lại này xuất hiện dưới hình thức của sự nhận biết hay (sự)chứng nghiệm.
116. We are speaking of the modus operandi of transmission from subjective life to subjective life. One might wonder if there were a direct means of transmission between subjective consciousnesses—one that did not involve vibration and substance.
116. Chúng ta đang nói về phương thức vận hành của sự truyền từ sự sống chủ quan sang sự sống chủ quan. Người ta có thể tự hỏi liệu có một phương tiện truyền đạt trực tiếp nào giữa các tâm thức chủ quan—một phương tiện không liên quan đến rung động và chất liệu—hay không.
An analogous process may be studied in the nerve reactions of the physical frame, and their alliance with the brain consciousness.
Một tiến trình tương tự có thể được nghiên cứu trong các phản ứng thần kinh của khung thể hồng trần, và sự liên kết của chúng với tâm thức bộ não.
117. In general we are dealing with the process of invocation and evocation.
117. Nói chung, chúng ta đang bàn đến tiến trình Khẩn Cầu và Gợi Lên.
118. There are centers of consciousness and agents of those centers which allow the centers to communicate with other centers.
118. Có những trung tâm tâm thức và những tác nhân của các trung tâm ấy cho phép các trung tâm giao tiếp với các trung tâm khác.
As will be seen in the three worlds of man's emprise, man will work as a Creator and will follow a similar procedure. [Page 556] His thought forms will be constructed of mental matter, chosen specifically because it vibrates to the same type of vibration as the Idea seeking embodiment, and these forms will persist—as does the logoic thought form, the solar system—for just as long as the factor of Will, or dynamic vitality, continues to hold it together.
Như sẽ thấy trong ba cõi thấp thuộc phạm vi hoạt động của con người, con người sẽ hoạt động như một Đấng Sáng Tạo và sẽ theo một thủ tục tương tự. [Page 556] Các hình tư tưởng của y sẽ được cấu tạo bằng chất liệu trí tuệ, được chọn riêng vì nó rung động theo cùng loại rung động với Ý tưởng đang tìm cách hiện thân, và các hình tướng này sẽ tồn tại—cũng như Hình tư tưởng của Thượng đế, hệ mặt trời—chừng nào yếu tố Ý Chí, hay quyền năng thiết yếu năng động, còn tiếp tục giữ chúng lại với nhau.
119. A created thoughtform is sustained by will.
119. Một hình tư tưởng được tạo ra được duy trì bởi ý chí.
120. It seems that another definition of will is being offered—will as “dynamic vitality”.
120. Dường như ở đây một định nghĩa khác về ý chí đang được đưa ra—ý chí như “quyền năng thiết yếu năng động”.
121. We are introduced to an important idea. Thought forms must be constructed of that type of mental matter which “vibrates to the same type of vibration as the Idea seeking embodiment”.
121. Chúng ta được giới thiệu một ý tưởng quan trọng. Các hình tư tưởng phải được cấu tạo bằng loại chất liệu trí tuệ “rung động theo cùng loại rung động với Ý tưởng đang tìm cách hiện thân”.
122. If a high Idea is embodied in substance that is too low, the idea will not be fully or properly expressed.
122. Nếu một Ý tưởng cao được hiện thân trong chất liệu quá thấp, ý tưởng ấy sẽ không được biểu lộ đầy đủ hay đúng đắn.
123. Is it also possible to embody a ‘low’ idea in mental matter which is vibratorily higher than necessary? In polite discourse and diplomacy this seems to happen all the time.
123. Có thể chăng cũng hiện thân một ý tưởng “thấp” trong chất liệu trí tuệ có rung động cao hơn mức cần thiết? Trong diễn ngôn lịch sự và ngoại giao, điều này dường như xảy ra mọi lúc.
124. Thus far we have considered thoughtforms as sheaths which are instruments by means of which an entity can respond to vibration (and transmit vibration).
124. Cho đến nay chúng ta đã xét các hình tư tưởng như những vỏ bọc là các công cụ nhờ đó một thực thể có thể đáp ứng với rung động (và truyền rung động).
This brings us to our next point:
Điều này đưa chúng ta đến điểm kế tiếp:
b. To Provide a Body for an Idea. In this statement we have latent the basic principle of incarnation, and of activity, even of existence itself.
b. Cung Cấp Một Thể cho Một Ý Tưởng. Trong phát biểu này tiềm ẩn nguyên lý căn bản của sự nhập thể, của hoạt động, và thậm chí của chính sự hiện hữu.
125. In other words, incarnation is the provision of a body for an idea.
125. Nói cách khác, nhập thể là việc cung cấp một thể cho một ý tưởng.
126. The entirety of Creation is naught but a hierarchy of embodied ideas within a great Embodied Idea. The Universal Logos (the God of the entire Universe) is an Idea borne of the FOUNT OF ALL IDEATION.
126. Toàn thể Sáng Tạo không là gì khác ngoài một huyền giai các ý tưởng được hiện thân bên trong một Ý Tưởng được Hiện Thân vĩ đại. Thượng đế Vũ Trụ (Thượng đế của toàn thể Vũ Trụ) là một Ý Tưởng được sinh ra từ NGUỒN MẠCH CỦA MỌI SỰ TƯỞNG NIỆM.
127. The One Universal Existence, which we are calling the Universal Logos, is the Ultimate Universal Idea seeking embodiment
127. Đấng Hiện Hữu Vũ Trụ Duy Nhất, mà chúng ta gọi là Thượng đế Vũ Trụ, là Ý Tưởng Vũ Trụ Tối Hậu đang tìm cách hiện thân
128. DK is saying that the statement that ‘the purpose of incarnation is to provide a body for an idea’ is, itself, an idea.
128. Chân sư DK đang nói rằng phát biểu cho rằng “mục đích của sự nhập thể là cung cấp một thể cho một ý tưởng” tự nó là một ý tưởng.
It involves the expansion of our idea to include the cosmic mental plane as we consider the Logos, and as the creative faculty of man is studied we are taken to the mental plane of the solar system.
Điều này bao hàm việc mở rộng ý tưởng của chúng ta để bao gồm cõi trí vũ trụ khi chúng ta xét đến Thượng đế, và khi năng lực sáng tạo của con người được nghiên cứu, chúng ta được đưa lên cõi trí của hệ mặt trời.
129. On the mental plane (whether cosmic or systemic) we find the first embodiments of ideas.
129. Trên cõi trí (dù là vũ trụ hay hệ thống), chúng ta tìm thấy những sự thể hiện đầu tiên của các ý tưởng.
One fundamental thought must here be given and. pondered upon: This creative impulse, this tendency towards the concretion of the abstract, this inherent ability to "take form" has its fullest expression as yet in physical matter. The "raison d'être" is that—for man—all substances with which he creates, all forms which he builds, and all processes of concretion which he carries on, are created, built and carried on within the physical body of the Logos.
Ở đây phải nêu ra và suy ngẫm về một tư tưởng nền tảng: Xung lực sáng tạo này, khuynh hướng hướng tới sự kết tinh của cái trừu tượng này, khả năng cố hữu này để “mang lấy hình tướng”, cho đến nay có sự biểu lộ đầy đủ nhất của nó trong vật chất hồng trần. “Raison d'être” là ở chỗ—đối với con người—mọi chất liệu mà y sáng tạo bằng đó, mọi hình tướng mà y xây dựng, và mọi tiến trình kết tinh mà y tiến hành, đều được sáng tạo, xây dựng và tiến hành bên trong thể xác của Thượng đế.
130. We have a fundamental statement. Eventually, in other types of matter, there will be a full expression of the tendency towards the concretion of the abstract. Thus far, and at this time, the fullest expression of this tendency occurs within physical matter. For the Solar Logos, physical matter is found on the cosmic physical plane—our seven systemic planes within which proceeds all spiritual evolution possible for man at this time
130. Chúng ta có một phát biểu nền tảng. Rốt cuộc, trong những loại vật chất khác, sẽ có một sự biểu lộ đầy đủ của khuynh hướng hướng tới sự kết tinh của cái trừu tượng. Cho đến nay, và vào lúc này, sự biểu lộ đầy đủ nhất của khuynh hướng này xảy ra trong vật chất hồng trần. Đối với Thái dương Thượng đế, vật chất hồng trần được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ—bảy cõi hệ thống của chúng ta, bên trong đó diễn ra mọi tiến hoá tinh thần có thể có đối với con người vào lúc này
131. DK continually emphasizes the fact that all the creating, building and concretizing which man performs takes place upon the cosmic physical plane. This ever preserves for us a sense of proportion.
131. Chân sư DK liên tục nhấn mạnh sự kiện rằng mọi việc sáng tạo, xây dựng và kết tinh mà con người thực hiện đều diễn ra trên cõi hồng trần vũ trụ. Điều này luôn giữ cho chúng ta một Ý thức về tỉ lệ.
Herein can be found the reason for the emphasis laid in nature on the sex aspect, and on that of physical reproduction; it can be seen in all the kingdoms of nature, with the exception of the first and fifth. This is a most significant point and the exceptions should be studied in their widest connotation, for they contain the basic mystery of sex on the involutionary path, and on the evolutionary. In them we have the two extremes.
Chính trong đây có thể tìm thấy lý do cho sự nhấn mạnh được đặt trong bản chất lên phương diện tính dục, và lên phương diện sinh sản hồng trần; điều đó có thể được thấy trong mọi giới trong bản chất, ngoại trừ giới thứ nhất và giới thứ năm. Đây là một điểm hết sức quan trọng, và các ngoại lệ ấy cần được nghiên cứu theo ý nghĩa rộng nhất của chúng, vì chúng chứa đựng huyền nhiệm căn bản của tính dục trên con đường giáng hạ tiến hoá cũng như trên con đường thăng thượng tiến hoá. Trong chúng ta có hai cực điểm.
132. By the first kingdom, DK means presumably, the mineral kingdom.
132. Bởi giới thứ nhất, Chân sư DK hẳn là muốn nói đến giới kim thạch.
133. When He speaks of the “kingdoms in nature”, does He include the sixth and seventh? It would hard to conceive that sex and physical reproduction do not occur in the fifth kingdom, but do occur in kingdoms above that kingdom. Perhaps, when discussing man, DK considers the Fifth Kingdom—the Kingdom of Souls—to be the limit of that which can concern man as man.
133. Khi Ngài nói về “các giới trong bản chất”, liệu Ngài có bao gồm giới thứ sáu và thứ bảy không? Thật khó hình dung rằng tính dục và sinh sản hồng trần lại không xảy ra trong giới thứ năm, nhưng quả thật lại xảy ra trong các giới cao hơn giới đó. Có lẽ, khi bàn đến con người, Chân sư DK xem giới thứ năm—Thiên Giới của các linh hồn—là giới hạn của điều có thể liên quan đến con người với tư cách là con người.
134. As man enters the fifth kingdom, the Kingdom of Souls, there is a tendency towards a spiritual hermaphroditism which eventually transforms the six-pointed star into the five-pointed star, thus eliminating the factor of physical plane sex.
134. Khi con người bước vào giới thứ năm, Thiên Giới của các linh hồn, có một khuynh hướng hướng tới tính lưỡng tính tinh thần, rốt cuộc chuyển đổi ngôi sao sáu cánh thành ngôi sao năm cánh, nhờ đó loại bỏ yếu tố tính dục trên cõi hồng trần.
135. We are told in the Secret Doctrine that Narada, the great Exponent of the fifth kingdom, counseled human beings against reproduction of their own kind and, instead, sought to make of them continent yogis.
135. Chúng ta được bảo trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng Narada, Đấng Đại Biểu của giới thứ năm, đã khuyên con người không sinh sản đồng loại của mình, và thay vào đó tìm cách làm cho họ trở thành những yogi tiết dục.
It will have been noted that as the idea that the solar system is the physical vehicle of the Logos and His body of manifestation is grasped, many problems become elucidated, and two points especially will gradually be apprehended by the student, if he meditates and studies:
Cần lưu ý rằng khi ý tưởng cho rằng hệ mặt trời là vận cụ hồng trần của Thượng đế và là thể biểu hiện của Ngài được nắm bắt, nhiều vấn đề trở nên sáng tỏ, và đặc biệt có hai điểm sẽ dần dần được đạo sinh lĩnh hội, nếu y tham thiền và nghiên cứu:
136. Again, it is necessary to emphasize that, when speaking of the physical body of the Logos, we are speaking of the etheric-physical vehicle of the Logos—both the ethers and the dense aspects are included.
136. Một lần nữa, cần nhấn mạnh rằng, khi nói về thể xác của Thượng đế, chúng ta đang nói về vận cụ dĩ thái-hồng trần của Thượng đế—cả các dĩ thái lẫn các phương diện đậm đặc đều được bao gồm.
First. That in due course of time, as the Logos [Page 557] achieves liberation from the trammels of physical matter, the whole objective system will come to be regarded as an idea or concept, clothed in a veil or sheath of subtler matter than the physical, and the logoic body will be viewed as the product of will and desire, and physical matter in any of its grades will not enter into its composition; it will simply be a desire body. This will bring about a condition of affairs inconceivable to us, and only to be somewhat apprehended by the man who can function upon the systemic buddhic plane the fourth cosmic ether.
Thứ nhất. Rằng đến đúng thời điểm, khi Thượng đế [Page 557] đạt được sự giải thoát khỏi những ràng buộc của vật chất hồng trần, toàn bộ hệ thống khách quan sẽ được xem như một ý tưởng hay khái niệm, được khoác trong một bức màn hay một vỏ bọc bằng chất liệu vi tế hơn vật chất hồng trần, và thân thể của Thượng đế sẽ được nhìn như sản phẩm của ý chí và dục vọng, và vật chất hồng trần trong bất kỳ cấp độ nào của nó sẽ không đi vào thành phần cấu tạo của thể ấy; nó đơn giản sẽ chỉ là một thể dục vọng. Điều này sẽ mang lại một tình trạng không thể quan niệm nổi đối với chúng ta, và chỉ có thể được phần nào lĩnh hội bởi người có thể hoạt động trên cõi Bồ đề hệ thống, tức dĩ thái vũ trụ thứ tư.
137. DK prophesies.
137. Chân sư DK đang tiên tri.
138. Our Solar Logos intends (or is intended) to take at least the fourth cosmic initiation in this particular solar system and perhaps the fifth. A mode of living far more etheric than the one He pursues at present will supervene. Even that which is etheric will appear as dense and unnecessary.
138. Thái dương Thượng đế của chúng ta dự định (hoặc được định cho) sẽ nhận ít nhất lần điểm đạo vũ trụ thứ tư trong hệ mặt trời đặc biệt này và có lẽ là lần thứ năm. Một phương thức sống còn dĩ thái hơn rất nhiều so với phương thức mà Ngài hiện đang theo đuổi sẽ xuất hiện. Ngay cả điều vốn là dĩ thái cũng sẽ có vẻ đậm đặc và không cần thiết.
139. When we look at a physical form and see, instead of a form, an embodied idea, we shall have some idea of the concept DK is trying to convey.
139. Khi chúng ta nhìn vào một hình tướng hồng trần và thấy, thay vì một hình tướng, một ý tưởng được thể hiện, chúng ta sẽ có phần nào ý niệm về khái niệm mà Chân sư DK đang cố truyền đạt.
140. It is easy to see how the logoic body can come to be viewed as a “product of will and desire”, but what do we mean by “physical matter in any of its grades will not enter into its composition”? Do we mean physical matter as the Solar Logos conceives it—i.e., matter of the lowest twenty one systemic sub-planes? Or do we mean dense physical matter (solid, liquid and gas) systemically considered? Or, when speaking of solid, liquid and gas, will we also add systemic etheric matter to those vibratory dimensions which will not enter into the composition of the logoic body.
140. Thật dễ thấy làm sao thân thể của Thượng đế có thể được xem như một “sản phẩm của ý chí và dục vọng”, nhưng chúng ta muốn nói gì bởi câu “vật chất hồng trần trong bất kỳ cấp độ nào của nó sẽ không đi vào thành phần cấu tạo của thể ấy”? Chúng ta có muốn nói vật chất hồng trần như Thái dương Thượng đế quan niệm nó—tức vật chất của hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp nhất không? Hay chúng ta muốn nói vật chất hồng trần đậm đặc (rắn, lỏng và khí) được xét một cách hệ thống? Hoặc, khi nói đến rắn, lỏng và khí, liệu chúng ta cũng sẽ thêm vật chất dĩ thái hệ thống vào những chiều kích rung động sẽ không đi vào thành phần cấu tạo của thể Thượng đế chăng.
141. We can easily see how any type of physical vehicle (whether dense of etheric) can be considered a ‘desire-form’—i.e., that which has been created as a result of the magnetic power of desire.
141. Chúng ta có thể dễ dàng thấy làm sao bất kỳ loại vận cụ hồng trần nào (dù đậm đặc hay dĩ thái) cũng có thể được xem là một “hình tướng dục vọng”—tức điều đã được tạo ra như kết quả của quyền năng từ tính của dục vọng.
142. If such a state of affairs can only be somewhat apprehended by a man who can function on the buddhic plane (i.e., an Arhat or Master or still higher Initiate), then it may be that no matter of the lower twenty-one systemic sub-planes will go to the composition of the logoic body, because the buddhic plane is within the cosmic etheric vehicle of the Solar Logos and ‘above’ His dense physical vehicle, cosmically considered.
142. Nếu một tình trạng như thế chỉ có thể được phần nào lĩnh hội bởi một người có thể hoạt động trên cõi Bồ đề (tức một A La Hán hay Chân sư hay Điểm đạo đồ còn cao hơn nữa), thì có thể là không có vật chất nào của hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp hơn sẽ đi vào thành phần cấu tạo của thể Thượng đế, bởi vì cõi Bồ đề nằm trong vận cụ dĩ thái vũ trụ của Thái dương Thượng đế và ở “trên” vận cụ hồng trần đậm đặc của Ngài, khi được xét một cách vũ trụ.
143. A fourth degree initiate does not need physical or etheric matter for expression. He need no longer take physical incarnation. When his principles are enumerated, the etheric body and prana are dropped from the enumeration and the desire body is the lowest vehicle enumerated.
143. Một điểm đạo đồ cấp bốn không cần vật chất hồng trần hay dĩ thái để biểu hiện. Ngài không còn cần phải nhập thể hồng trần nữa. Khi các nguyên khí của Ngài được liệt kê, thể dĩ thái và prana bị loại khỏi sự liệt kê và thể dục vọng là vận cụ thấp nhất được kể đến.
144. Will this be so for the Solar Logos when He takes His fourth cosmic initiation? Will the entire cosmic physical plane no longer be a necessity, because it is no longer necessary for him to take cosmic physical incarnation?
144. Điều này có đúng với Thái dương Thượng đế khi Ngài nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư của Ngài không? Liệu toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ sẽ không còn là một điều cần thiết nữa, bởi vì Ngài không còn cần phải nhập thể hồng trần vũ trụ nữa chăng?
145. Let us tabulate the various possibilities:
145. Chúng ta hãy lập bảng các khả năng khác nhau:
a. Our Solar Logos takes His fourth cosmic initiation and drops all connection with the lower three systemic planes (from His perspective the truly dense physical levels), but does retain His cosmic etheric expression.
a. Thái dương Thượng đế của chúng ta nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư của Ngài và cắt bỏ mọi liên hệ với ba cõi hệ thống thấp hơn (theo quan điểm của Ngài, đó là các cấp độ hồng trần thật sự đậm đặc), nhưng vẫn giữ sự biểu hiện dĩ thái vũ trụ của Ngài.
b. Our Solar Logos takes His fourth cosmic initiation and drops even His cosmic etheric body—his cosmic astral body now being His lowest sheath.
b. Thái dương Thượng đế của chúng ta nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư của Ngài và từ bỏ ngay cả thể dĩ thái vũ trụ của Ngài—thể cảm dục vũ trụ của Ngài lúc này trở thành vỏ bọc thấp nhất của Ngài.
c. One could be tempted analogically to say that once the cosmic fourth initiation was taken, there would be no need for the Logos to have even a cosmic astral body or a cosmic lower mental body, but when plans for the next solar system are discussed (and in that system our Logos will already be a cosmic Initiate of the fourth degree) the systemic mental and monadic planes are definitely involved, hence we must question which vehicles the Solar Logos sheds at His fourth cosmic initiation.
c. Người ta có thể bị cám dỗ, theo định luật tương đồng, để nói rằng một khi lần điểm đạo vũ trụ thứ tư đã được nhận, sẽ không cần để Thượng đế có ngay cả một thể cảm dục vũ trụ hay một thể hạ trí vũ trụ, nhưng khi các kế hoạch cho hệ mặt trời kế tiếp được bàn đến (và trong hệ đó Thượng đế của chúng ta đã là một Điểm đạo đồ vũ trụ cấp bốn), các cõi trí và chân thần hệ thống chắc chắn có liên quan, do đó chúng ta phải đặt câu hỏi Thái dương Thượng đế từ bỏ những vận cụ nào ở lần điểm đạo vũ trụ thứ tư của Ngài.
d. That which the Solar Logos drops in one solar system as He passes through increasing phases of obscuration, He may again generate in a future system. The question is, “Will the next solar system be in the nature of a cosmic Mayavirupa”, or, given the capability of the Solar Logos to create “Mind-born Sons”, are all His solar systems “Mind-born” and not at all the result of ‘cosmic generation’ (involving the ‘sexual union’) of the kind through which humanity passes?
d. Điều mà Thái dương Thượng đế từ bỏ trong một hệ mặt trời khi Ngài đi qua các giai đoạn lu mờ gia tăng, Ngài có thể lại phát sinh trong một hệ tương lai. Câu hỏi là, “Liệu hệ mặt trời kế tiếp có mang bản chất của một Mayavirupa vũ trụ không”, hay, xét đến khả năng của Thái dương Thượng đế trong việc tạo ra các “Con sinh bởi Trí Tuệ”, phải chăng mọi hệ mặt trời của Ngài đều là “sinh bởi Trí Tuệ” và hoàn toàn không phải là kết quả của “sự sinh thành vũ trụ” (bao hàm “sự kết hợp tính dục”) thuộc loại mà nhân loại trải qua?
Bear in mind here that our astral plane is but the sixth subplane of the cosmic physical plane and that this provides us with no real grounds from which to reason concerning the cosmic astral plane.
Hãy ghi nhớ ở đây rằng cõi cảm dục của chúng ta chỉ là cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ và điều này không cung cấp cho chúng ta nền tảng thực sự nào để suy luận về cõi cảm dục vũ trụ.
146. The vibratory ‘distance’ is too great and conditions on our systemic reflection of the cosmic astral plane too different.
146. “Khoảng cách” rung động quá lớn và các điều kiện trên sự phản chiếu hệ thống của chúng ta về cõi cảm dục vũ trụ quá khác biệt.
Only when the astral plane is a calm receiver of buddhic impulse, or a liquid reflector of that plane (which will not be till the close of the mahamanvantara) shall we be able to formulate any ideas anent the cosmic astral plane.
Chỉ khi cõi cảm dục là một bộ tiếp nhận bình lặng của xung lực Bồ đề, hay một tấm phản chiếu lưu chất của cõi ấy (điều này sẽ không xảy ra cho đến lúc kết thúc Đại giai kỳ sinh hóa) thì chúng ta mới có thể hình thành bất kỳ ý tưởng nào liên quan đến cõi cảm dục vũ trụ.
147. We can gather that the cosmic astral plane is far more ‘buddhic’ in its nature than anything we usually call “astral”.
147. Chúng ta có thể suy ra rằng cõi cảm dục vũ trụ có bản chất “Bồ đề” hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì chúng ta thường gọi là “cảm dục”.
148. We also need to know what DK means by “the mahamanvantara”. He could mean an occult century, one hundred years of Brahma, or he could mean a shorter period. These terms are flexible and are frequently applied to longer or shorter cycles.
148. Chúng ta cũng cần biết Chân sư DK muốn nói gì bởi “Đại giai kỳ sinh hóa”. Ngài có thể muốn nói một thế kỷ huyền bí, một trăm năm của Brahma, hoặc Ngài có thể muốn nói một thời kỳ ngắn hơn. Những thuật ngữ này linh hoạt và thường được áp dụng cho những chu kỳ dài hơn hay ngắn hơn.
149. Can we say that an initiate of the second degree is capable of rendering His astral vehicle “a calm receiver of buddhic impulse, or a liquid reflector of that plane”? Perhaps not, because our Solar Logos has already taken His second cosmic initiation and apparently systemic astral conditions in our solar system are not such that we can “formulate any ideas anent the cosmic astral plane”.
149. Chúng ta có thể nói rằng một điểm đạo đồ cấp hai có khả năng làm cho vận cụ cảm dục của Ngài trở thành “một bộ tiếp nhận bình lặng của xung lực Bồ đề, hay một tấm phản chiếu lưu chất của cõi ấy” không? Có lẽ không, bởi vì Thái dương Thượng đế của chúng ta đã nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ hai và dường như các điều kiện cảm dục hệ thống trong hệ mặt trời của chúng ta không đến mức để chúng ta có thể “hình thành bất kỳ ý tưởng nào liên quan đến cõi cảm dục vũ trụ”.
150. Out Solar Logos is to take either the fourth or fifth cosmic initiation in this solar system (depending upon which reference one consults). We might say that at the fourth initiation the astral body (to the extent that it or any of the lower vehicles exist once the fourth initiation has been taken) can, indeed, become a calm receiver and reflector of buddhic energy. As for the astral body of a Master, what is it? It may exist if the fourth and fifth initiations are taken in the same ‘incarnation’ (as is sometimes the case) but it may, as well, be a will-created astral body (part of a Mayavirupa). In such a case, it certainly could be considered a calm receiver and reflector.
150. Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ nhận hoặc lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm trong hệ mặt trời này (tùy theo tài liệu nào được tham khảo). Chúng ta có thể nói rằng ở lần điểm đạo thứ tư, thể cảm dục (trong chừng mực nó hay bất kỳ vận cụ thấp nào còn tồn tại một khi lần điểm đạo thứ tư đã được nhận) quả thật có thể trở thành một bộ tiếp nhận bình lặng và một tấm phản chiếu của năng lượng Bồ đề. Còn về thể cảm dục của một Chân sư, nó là gì? Nó có thể tồn tại nếu lần điểm đạo thứ tư và thứ năm được nhận trong cùng một “nhập thể” (như đôi khi vẫn xảy ra) nhưng nó cũng có thể là một thể cảm dục do ý chí tạo ra (một phần của Mayavirupa). Trong trường hợp như vậy, nó chắc chắn có thể được xem là một bộ tiếp nhận và phản chiếu bình lặng.
151. DK seems to be pointing ahead to a time (perhaps at the close of this occult century) when the Solar Logos has taken the fourth and/or fifth cosmic initiation and when (as a result) the astral plane of our solar system will be entirely reconditioned.
151. Chân sư DK dường như đang chỉ về phía trước đến một thời điểm (có lẽ vào cuối thế kỷ huyền bí này) khi Thái dương Thượng đế đã nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư và/hoặc thứ năm và khi (như một kết quả) cõi cảm dục của hệ mặt trời chúng ta sẽ được tái định hình hoàn toàn.
Second. That the entire sex aspect of manifestation, as we understand it in the different kingdoms of nature, is an expression of the energy of the Logos, as it flows through and stimulates that centre in His body which corresponds to the generative organs.
Thứ hai. Rằng toàn bộ phương diện tính dục của sự biểu hiện, như chúng ta hiểu nó trong các giới khác nhau của bản chất, là một biểu hiện của năng lượng của Thượng đế, khi nó tuôn chảy qua và kích thích trung tâm ấy trong thân thể của Ngài, trung tâm tương ứng với các cơ quan sinh dục.
152. This will naturally be His sacral center. It has been speculated that the planetary scheme of Mars is strongly correlated with the solar logoic sacral center.
152. Điều này dĩ nhiên sẽ là trung tâm xương cùng của Ngài. Người ta đã suy đoán rằng hệ hành tinh Sao Hỏa có tương quan mạnh với trung tâm xương cùng thái dương thượng đế.
153. We come to understand that that which we call the sex aspect does not originate with those life-forms through which it demonstrates. Rather it originates within the all-pervading Logos of the solar system Who is the Life of all such forms.
153. Chúng ta đi đến chỗ hiểu rằng điều mà chúng ta gọi là phương diện tính dục không phát sinh từ những hình tướng sự sống qua đó nó biểu lộ. Đúng hơn, nó phát sinh bên trong Thượng đế bao trùm khắp hệ mặt trời, Đấng là Sự Sống của mọi hình tướng như thế.
154. Will there come a time when the planet Mars is absorbed into the planet Earth (prior to Earth’s absorption into Saturn)? Will this (if it happens in this way) signal an end to sexual generation within our solar system?
154. Liệu sẽ đến một thời điểm khi hành tinh Sao Hỏa được hấp thu vào hành tinh Trái Đất (trước khi Trái Đất được hấp thu vào Sao Thổ) không? Liệu điều này (nếu nó xảy ra theo cách ấy) sẽ báo hiệu sự chấm dứt của sự sinh thành tính dục trong hệ mặt trời của chúng ta chăng?
All the creative functions of the vegetable, animal, and human family, viewing them as a whole, are as yet purely physical, and based on lower desire.
Mọi chức năng sáng tạo của giới thực vật, giới động vật và gia đình nhân loại, xét chúng như một toàn thể, cho đến nay đều thuần túy là hồng trần, và dựa trên dục vọng thấp.
155. DK appears to be speaking of lower logoic desire.
155. Chân sư DK dường như đang nói về dục vọng thượng đế thấp hơn.
The desire of the Logos for physical incarnation is as yet the dominant note.
Dục vọng của Thượng đế đối với sự nhập thể hồng trần cho đến nay vẫn là âm điệu chi phối.
156. Just as a man will repeatedly seek physical incarnation until the time approaches for his fourth initiation, so it is with the Logos, Who is only a cosmic initiate of the second degree.
156. Cũng như một con người sẽ lặp đi lặp lại việc tìm kiếm sự nhập thể hồng trần cho đến khi thời điểm cho lần điểm đạo thứ tư của y đến gần, thì với Thượng đế cũng vậy, Đấng mới chỉ là một điểm đạo đồ vũ trụ cấp hai.
157. If within the energy system of the Solar Logos, Mars is the planet of physical generation, it must at this time still be very powerful.
157. Nếu trong hệ thống năng lượng của Thái dương Thượng đế, Sao Hỏa là hành tinh của sự sinh thành hồng trần, thì vào lúc này nó hẳn vẫn còn rất mạnh.
158. If analogy holds good, however, an initiate of the second degree has completed, by far, the vast majority of his incarnations in the human kingdom. Is it also true, then, that the Logos has completed (in terms of time elapsed) the greater proportion of His developmental cycle scheduled for this solar system? Perhaps yes, perhaps no—we will have to proceed carefully.
158. Tuy nhiên, nếu định luật tương đồng là đúng, một điểm đạo đồ cấp hai đã hoàn tất phần lớn tuyệt đại đa số các lần nhập thể của y trong giới nhân loại. Vậy có đúng không rằng Thượng đế cũng đã hoàn tất (xét theo thời gian đã trôi qua) phần lớn hơn của chu kỳ phát triển của Ngài được ấn định cho hệ mặt trời này? Có lẽ có, có lẽ không—chúng ta sẽ phải tiến hành cẩn trọng.
159. By analogy, it could seem to be necessary, and yet we are told that our Solar Logos is only about half way through His solar systemic process:
159. Theo định luật tương đồng, điều đó có thể dường như là cần thiết, thế nhưng chúng ta được bảo rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta mới chỉ đi được khoảng nửa chặng của tiến trình hệ mặt trời của Ngài:
By a close scrutiny of chart V, it will be apparent wherein lies the problem of the Logos, and wherein lies the accuracy of the correspondence between Him and His reflection Man.
Qua sự khảo sát kỹ biểu đồ V, sẽ rõ chính trong đâu có vấn đề của Thượng đế, và chính trong đâu có sự chính xác của sự tương ứng giữa Ngài và sự phản chiếu của Ngài là Con Người.
First. Both are in objective manifestation on the physical plane.
Thứ nhất. Cả hai đều đang ở trong biểu hiện khách quan trên cõi hồng trần.
Second. Both are at their point of deepest involution. (TCF 282)
Thứ hai. Cả hai đều đang ở điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của mình. (TCF 282)
Fourth. Man has to bring down into conscious full control, the God within. Through that control he must dominate circumstance, make his environment his instrument and manipulate matter. On cosmic levels the Logos does likewise. Both are far from achievement. (TCF 282)
Thứ tư. Con người phải đưa Thượng đế bên trong xuống dưới sự kiểm soát đầy đủ có ý thức. Qua sự kiểm soát ấy, y phải chế ngự hoàn cảnh, biến môi trường của mình thành công cụ của mình và thao tác vật chất. Trên các cấp độ vũ trụ, Thượng đế cũng làm như vậy. Cả hai đều còn xa mới đạt thành tựu. (TCF 282)
160. Of our Planetary Logos we are told the following and then the progress of the/a Solar Logos is likened to the progress of the Planetary Logos:
160. Về Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, chúng ta được cho biết điều sau đây, và rồi sự tiến bộ của một/vị Thái dương Thượng đế được ví với sự tiến bộ của Đức Hành Tinh Thượng Đế:
b. He is midway through His career upon the cosmic Path of Initiation, and consequently is to take the fourth Initiation in this chain. Well may this globe, therefore, be considered the globe of sorrow and of pain, for through it our planetary Logos is undergoing that which the mystic calls "the Crucifixion."
b. Ngài đang ở giữa sự nghiệp của Ngài trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ, và do đó sẽ nhận lần Điểm đạo thứ tư trong dãy này. Vì vậy, bầu hành tinh này quả có thể được xem là bầu hành tinh của sầu khổ và đau đớn, vì qua nó Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang trải qua điều mà nhà thần bí gọi là “Sự Đóng Đinh.”
c. The cells in His body—those cells through which He feels, and senses, and experiences,—are, in this world period, rent by pain and suffering, for His is the consciousness at the centre of the Body, and theirs is the capacity to suffer, so that by means of them He may learn the meaning of systemic dispassion, be dissociated from all forms and material substance, and upon the cross of matter eventually find liberation and the freedom of the Spirit.
c. Những tế bào trong thân thể của Ngài—những tế bào qua đó Ngài cảm nhận, tri giác và kinh nghiệm,—trong thời kỳ thế giới này, bị xé rách bởi đau đớn và khổ đau, vì của Ngài là tâm thức ở trung tâm của Thể, còn của chúng là khả năng chịu đau khổ, để nhờ chúng Ngài có thể học ý nghĩa của sự vô chấp hệ thống, được tách rời khỏi mọi hình tướng và chất liệu vật chất, và trên thập giá của vật chất cuối cùng tìm thấy sự giải thoát và tự do của tinh thần.
The same equally can be predicated of a solar Logos (TCF 384)
Điều tương tự cũng có thể được khẳng định ngang nhau về một Thái dương Thượng đế (TCF 384)
161. Did our Solar Logos enter this solar system as a cosmic Initiate of the second degree? Perhaps not, as it does not seem that the previous solar system (so mentally and personally based) would have given Him the opportunity to take this initiation. The contact with the solar logoic causal body may not have been sufficient. The contact with the cosmic Solar Angel (working on the cosmic mental plane) may also not have been sufficient.
161. Có phải Thái dương Thượng đế của chúng ta đã bước vào hệ mặt trời này như một Điểm đạo đồ vũ trụ cấp hai không? Có lẽ không, vì dường như hệ mặt trời trước (mang nền tảng quá thiên về trí tuệ và phàm ngã) sẽ không cho Ngài cơ hội để nhận lần điểm đạo này. Sự tiếp xúc với thể nguyên nhân thái dương thượng đế có thể đã không đủ. Sự tiếp xúc với Thái dương Thiên Thần vũ trụ (hoạt động trên cõi trí vũ trụ) cũng có thể đã không đủ.
162. Probably, the second initiation was to be taken in this solar system—and the third, fourth and perhaps the fifth. If we look at man’s initiations, we shall find that the span from the first to second can be contrasted with a much shorter span between the second and fifth. This solar system seems to be given to the enactment of those initiations found in this second span.
162. Có lẽ lần điểm đạo thứ hai là để được nhận trong hệ mặt trời này—và lần thứ ba, thứ tư và có lẽ cả thứ năm nữa. Nếu chúng ta nhìn vào các lần điểm đạo của con người, chúng ta sẽ thấy rằng khoảng cách từ lần thứ nhất đến lần thứ hai có thể được đối chiếu với một khoảng ngắn hơn nhiều giữa lần thứ hai và thứ năm. Hệ mặt trời này dường như được dành cho việc thực hiện những lần điểm đạo được tìm thấy trong khoảng thứ hai này.
163. Perhaps we are coming closer to the answer to our question: “according to His initiatory schedule for this solar system, should our Solar Logos have already completed the great majority of Brahmic “Years” allotted to Him in a occult century?
163. Có lẽ chúng ta đang đến gần hơn với câu trả lời cho câu hỏi của mình: “theo lịch trình điểm đạo của Ngài cho hệ mặt trời này, phải chăng Thái dương Thượng đế của chúng ta đã hoàn tất phần lớn đại đa số các “Năm” Brahma được phân cho Ngài trong một thế kỷ huyền bí?
164. I think we can come up with an answer that confirms that He is (for this mahamanvantara) at His deepest point of immersion and is only about halfway through His process.
164. Tôi nghĩ chúng ta có thể đưa ra một câu trả lời xác nhận rằng Ngài (đối với Đại giai kỳ sinh hóa này) đang ở điểm chìm sâu nhất của Ngài và mới chỉ đi được khoảng nửa tiến trình của Ngài.
165. DK tells us that the second, third and fourth initiations of the human being can be taken in one incarnation. In various references, He tells us that the second and third initiation can be taken in one life; that the third and fourth initiations can be taken in one life; that the fourth and fifth initiations can be taken in one life.
165. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng lần điểm đạo thứ hai, thứ ba và thứ tư của con người có thể được nhận trong một lần nhập thể. Trong nhiều chỗ khác nhau, Ngài cho biết rằng lần điểm đạo thứ hai và thứ ba có thể được nhận trong một đời; rằng lần điểm đạo thứ ba và thứ tư có thể được nhận trong một đời; rằng lần điểm đạo thứ tư và thứ năm có thể được nhận trong một đời.
166. We have (it would seem) a very short span, therefore, between these initiations—two at the least, with three or four probable or perhaps a few more.
166. Do đó, dường như chúng ta có một khoảng rất ngắn giữa các lần điểm đạo này—ít nhất là hai, với ba hay bốn là có thể, hoặc có lẽ thêm một ít nữa.
167. In any case, if our Solar Logos came in about to take the second cosmic initiation (or just having taken it) and has not taken the third cosmic initiation (His “goal”), then, we can see how (if He is to take the fourth cosmic initiation and if the fourth and fifth can easily be taken in one life) He would be about halfway through the initiatory process slated for this particular mahamanvantara.
167. Dù sao đi nữa, nếu Thái dương Thượng đế của chúng ta bước vào khi sắp nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ hai (hoặc vừa mới nhận nó) và chưa nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ ba (mục tiêu của Ngài), thì chúng ta có thể thấy làm sao (nếu Ngài sẽ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư và nếu lần thứ tư và thứ năm có thể dễ dàng được nhận trong một đời) Ngài sẽ ở khoảng nửa chặng của tiến trình điểm đạo được ấn định cho Đại giai kỳ sinh hóa đặc biệt này.
168. We know that each succeeding solar system takes a shorter time than the preceding one. They all take an “occult century”, but the actual duration of these occult centuries seems somewhat elastic (depending upon cosmic requirements).
168. Chúng ta biết rằng mỗi hệ mặt trời kế tiếp mất ít thời gian hơn hệ trước đó. Tất cả đều kéo dài một “thế kỷ huyền bí”, nhưng thời lượng thực sự của những thế kỷ huyền bí này dường như có phần co giãn (tùy theo các đòi hỏi vũ trụ).
169. For the moment, our Solar Logos keenly desires physical incarnation through a solar system, and hence the sex impulse is strong throughout our solar system.
169. Hiện nay, Thái dương Thượng đế của chúng ta tha thiết mong muốn sự nhập thể hồng trần qua một hệ mặt trời, và vì thế xung lực tính dục rất mạnh khắp hệ mặt trời của chúng ta.
Later His desire for that will be less and will become transmuted into desire for creation on mental levels only.
Về sau dục vọng của Ngài đối với điều đó sẽ giảm đi và sẽ được chuyển hoá thành dục vọng chỉ sáng tạo trên các cấp độ trí tuệ.
170. Whether or not there is perpetuated a dense physical vehicle for the Logos depends much on His desire nature.
170. Việc một vận cụ hồng trần đậm đặc có được duy trì cho Thượng đế hay không phụ thuộc rất nhiều vào bản chất dục vọng của Ngài.
171. For now, that desire nature may work strongly in alliance with such a sixth ray planet as Mars. Later, there may be a change of emphasis from Mars to another partially sixth ray planet, Neptune. Neptune has an influence which elevates desire towards the transcendental.
171. Hiện nay, bản chất dục vọng ấy có thể hoạt động mạnh trong sự liên minh với một hành tinh cung sáu như Sao Hỏa. Về sau, có thể sẽ có một sự chuyển đổi trọng tâm từ Sao Hỏa sang một hành tinh khác cũng phần nào thuộc cung sáu, là Sao Hải Vương. Sao Hải Vương có một ảnh hưởng nâng dục vọng lên hướng về siêu việt.
172. There are analogies in human living to the process here described. In the early days of their long evolutionary cycle, human beings tend to be ‘procreative’, producing large families. Later, as they achieve mental polarization, they incline to be more creative than procreative; if they are married, the size of their families lessens. Their sex impulse may also lessen because much of their sexual energy will be transferred into acts of mental creativity. They may seek to avoid the marriage relation altogether.
172. Có những sự tương đồng trong đời sống con người với tiến trình được mô tả ở đây. Trong những ngày đầu của chu kỳ tiến hoá dài lâu của mình, con người có khuynh hướng “sinh sản”, tạo ra những gia đình đông con. Về sau, khi họ đạt được sự phân cực trí tuệ, họ nghiêng về sáng tạo hơn là sinh sản; nếu họ kết hôn, quy mô gia đình của họ giảm xuống. Xung lực tính dục của họ cũng có thể giảm đi vì phần lớn năng lượng tính dục của họ sẽ được chuyển dịch vào những hành vi sáng tạo trí tuệ. Họ có thể tìm cách tránh hẳn quan hệ hôn nhân.
173. Another planetary relationship may describe this process both for the Logos and man. Just as Mars and Neptune could be compared through the sixth ray they share, so Mars and Uranus can be compared because (in man at least) they both have rulership over the sacral center. When Mars rules the sacral center the tendency is to be procreative. But Uranus is the ‘alchemical planet’ and, perhaps, the major planet of transmutation. When, later in evolution, Uranus influences the sacral center more strongly, the creative urge supersedes the procreative urge and the life of man changes. These planets may also be involved in the Logos’ ‘change of life’.
173. Một tương quan hành tinh khác có thể mô tả tiến trình này cho cả Thượng đế lẫn con người. Cũng như Sao Hỏa và Sao Hải Vương có thể được so sánh qua cung sáu mà chúng cùng chia sẻ, thì Sao Hỏa và Sao Thiên Vương cũng có thể được so sánh vì (ít nhất nơi con người) cả hai đều có quyền cai quản trung tâm xương cùng. Khi Sao Hỏa cai quản trung tâm xương cùng, khuynh hướng là sinh sản. Nhưng Sao Thiên Vương là “hành tinh luyện kim” và, có lẽ, là hành tinh chủ yếu của sự chuyển hoá. Khi, về sau trong tiến hoá, Sao Thiên Vương ảnh hưởng mạnh hơn đến trung tâm xương cùng, thôi thúc sáng tạo sẽ vượt lên trên thôi thúc sinh sản và đời sống con người thay đổi. Những hành tinh này cũng có thể liên quan đến “thời kỳ biến đổi” của Thượng đế.
This is what brings the Destroyer aspect into activity, leading to eventual obscuration, and the physical "death" of the solar system.
Điều này là cái đưa phương diện Hủy Diệt vào hoạt động, dẫn đến sự lu mờ rốt cuộc, và “cái chết” hồng trần của hệ mặt trời.
174. So, a change in the type of creativity (transferring it from ‘procreative’ to mentally creative) corresponds with the obscuration of the solar system. This makes sense as it is procreation which creates the physical body of the Logos and it is this physical body which is obscured through the processes of obscuration.
174. Như vậy, một sự thay đổi trong loại hình sáng tạo (chuyển nó từ “sinh sản” sang sáng tạo trí tuệ) tương ứng với sự lu mờ của hệ mặt trời. Điều này hợp lý vì chính sự sinh sản tạo ra thể xác của Thượng đế và chính thể xác này bị làm cho lu mờ qua các tiến trình lu mờ.
175. With this change of creativity, an aspect of the “Destroyer aspect” comes into play. This is true also in the life of man, for when this higher form of creativity supervenes, it may mean that man is approaching his third and then fourth initiations (and after this latter initiation, physical incarnation is no longer necessary). The “Destroyer aspect” emerges and either prevents future physical incarnation or sets the stage for a change in the manner in which such incarnation occurs.
175. Cùng với sự thay đổi về sáng tạo này, một phương diện của “phương diện Hủy Diệt” đi vào hoạt động. Điều này cũng đúng trong đời sống con người, vì khi hình thức sáng tạo cao hơn này xuất hiện, nó có thể có nghĩa là con người đang tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba rồi thứ tư của mình (và sau lần điểm đạo sau này, sự nhập thể hồng trần không còn cần thiết nữa). “Phương diện Hủy Diệt” xuất hiện và hoặc ngăn cản sự nhập thể hồng trần trong tương lai hoặc chuẩn bị cho một sự thay đổi trong cách thức mà sự nhập thể ấy xảy ra.
Indication that this aspect is coming into power will be seen when two great events transpire:
Dấu hiệu cho thấy phương diện này đang đi vào quyền lực sẽ được thấy khi hai biến cố lớn xảy ra:
176. We are still speaking of the developmental progress of our Solar Logos.
176. Chúng ta vẫn đang nói về sự tiến bộ phát triển của Thái dương Thượng đế của chúng ta.
177. We are looking for evidence that the “Destroyer aspect” is coming into power.
177. Chúng ta đang tìm bằng chứng rằng “phương diện Hủy Diệt” đang đi vào quyền lực.
[Page 558]
[Page 558]
a. The ability of man consciously to create on mental levels, and the consequent transmutation of his lower sex impulses into higher.
a. Khả năng của con người trong việc sáng tạo một cách có ý thức trên các cấp độ trí tuệ, và sự chuyển hoá kéo theo của các xung lực tính dục thấp của y thành những xung lực cao hơn.
178. We must question whether we are considering the entire solar system and, thus, man on a number of planets. If we are speaking of the Solar Logos, then this broader consideration would be necessary.
178. Chúng ta phải đặt câu hỏi liệu chúng ta có đang xét đến toàn bộ hệ mặt trời và như vậy là con người trên một số hành tinh hay không. Nếu chúng ta đang nói về Thái dương Thượng đế, thì sự xem xét rộng hơn này sẽ là cần thiết.
179. We may well know what man in our Earth-scheme is doing, but if we are speaking of the “death” of a Solar Logos, we will also have to find evidence of this type of creative development in relation to the humanity which exists in other planetary schemes.
179. Chúng ta có thể biết khá rõ con người trong hệ Địa Cầu của chúng ta đang làm gì, nhưng nếu chúng ta đang nói về “cái chết” của một Thái dương Thượng đế, chúng ta cũng sẽ phải tìm bằng chứng của loại phát triển sáng tạo này liên hệ với nhân loại tồn tại trong các hệ hành tinh khác.
b. The mental vitalisation of another large section of the animal kingdom.
b. Sự tiếp sinh lực trí tuệ cho một bộ phận lớn khác của giới động vật.
180. Again, are we speaking of a system-wide phenomenon, or only of our particular planetary scheme? If we are not speaking of the entire solar system it is difficult to imagine how we could say that the “Destroyer aspect” is coming into expression in relation to the Solar Logos and not just in relation to one of His chakras.
180. Một lần nữa, chúng ta đang nói về một hiện tượng trên toàn hệ thống, hay chỉ về hệ hành tinh riêng của chúng ta? Nếu chúng ta không nói về toàn bộ hệ mặt trời thì thật khó hình dung làm sao chúng ta có thể nói rằng “phương diện Hủy Diệt” đang đi vào biểu hiện liên hệ với Thái dương Thượng đế chứ không chỉ liên hệ với một trong các luân xa của Ngài.
When these two things can be seen working out in any round, it will be indicative of a decided mental polarisation of the Logos;
Khi hai điều này có thể được thấy đang triển khai trong bất kỳ cuộc tuần hoàn nào, điều đó sẽ là dấu hiệu của một sự phân cực trí tuệ rõ rệt của Thượng đế;
181. For what types of Beings do “rounds” exist? We know with certainty that there are chain rounds. We have inferred based on a number of quite explicit references that there are scheme rounds.
181. “Các cuộc tuần hoàn” tồn tại đối với những loại Hữu thể nào? Chúng ta biết chắc rằng có các cuộc tuần hoàn của dãy. Chúng ta đã suy ra, dựa trên một số dẫn chiếu khá minh nhiên, rằng có các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh.
182. Now, it seems evident, from this reference (and a few others) that there are systemic rounds.
182. Giờ đây, từ dẫn chiếu này (và một vài dẫn chiếu khác), dường như hiển nhiên rằng có các cuộc tuần hoàn hệ thống.
183. A systemic round would be a progression of logoic attention from planetary scheme to planetary scheme until the progression has passed through all the planetary schemes.
183. Một cuộc tuần hoàn hệ thống sẽ là một sự tiến triển của sự chú ý thượng đế từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác cho đến khi sự tiến triển ấy đã đi qua mọi hệ hành tinh.
184. It does not seem probable that the transmutation of the sex impulse into a higher form of creativity (if occurring on one planet only) and the mental vitalization of another large section of the animal kingdom (if occurring on one planet only) would be a sufficient indicator of “a decided mental polarisation of the Logos”.
184. Dường như không có khả năng rằng sự chuyển hoá xung lực tính dục thành một hình thức sáng tạo cao hơn (nếu chỉ xảy ra trên một hành tinh) và sự tiếp sinh lực trí tuệ cho một bộ phận lớn khác của giới động vật (nếu chỉ xảy ra trên một hành tinh) lại là một chỉ dấu đủ cho “một sự phân cực trí tuệ rõ rệt của Thượng đế”.
185. Such things have already occurred on some planets and have yet to occur on others. And yet there is no mental polarization for the Logos now, even though planetarily (on Venus and perhaps on Mercury) the requirements have been met. Such requirements also are more likely to be met on Earth before they are met on Mars or some of the larger planets which are further behind in their unfoldment.
185. Những điều như thế đã xảy ra trên một số hành tinh và còn chưa xảy ra trên những hành tinh khác. Thế nhưng hiện nay vẫn chưa có sự phân cực trí tuệ đối với Thượng đế, dù xét theo hành tinh (trên Sao Kim và có lẽ trên Sao Thủy) các yêu cầu đã được đáp ứng. Những yêu cầu như thế cũng có nhiều khả năng được đáp ứng trên Trái Đất trước khi chúng được đáp ứng trên Sao Hỏa hay trên một số hành tinh lớn hơn còn tụt lại xa hơn trong sự khai mở của chúng.
186. If, however, we are speaking of a solar systemic round in which the general requirements are met, then the process seems more reasonable.
186. Tuy nhiên, nếu chúng ta đang nói về một cuộc tuần hoàn hệ mặt trời trong đó các yêu cầu tổng quát được đáp ứng, thì tiến trình ấy có vẻ hợp lý hơn.
187. These are speculations, but it is important to realize that one cannot simply look at a word like “round” and imagine that it must be applied to a chain or scheme merely because the word has previously been used mostly in connection with a chain or scheme.
187. Đây là những suy đoán, nhưng điều quan trọng là phải nhận ra rằng người ta không thể chỉ nhìn vào một từ như “cuộc tuần hoàn” rồi tưởng rằng nó nhất thiết phải được áp dụng cho một dãy hay một hệ hành tinh chỉ vì từ ấy trước đây phần lớn đã được dùng liên hệ với một dãy hay một hệ hành tinh.
188. In general, it would seem that we are still relatively far from the time that our Solar Logos will achieve polarization on the cosmic mental plane—especially upon the higher levels of the cosmic mental plane.
188. Nói chung, dường như chúng ta vẫn còn tương đối xa thời điểm mà Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ đạt được sự phân cực trên cõi trí vũ trụ—đặc biệt là trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ.
189. Overall, it seems wise not to take our planet as the touchstone for solar logoic development.
189. Tổng quát mà nói, dường như khôn ngoan hơn là không lấy hành tinh của chúng ta làm chuẩn mực cho sự phát triển thái dương thượng đế.
190. We judge that when there is a “decided mental polarization” for our Logos, the process of obscuration will be progressing.
190. Chúng ta phán đoán rằng khi có một “sự phân cực trí tuệ rõ rệt” đối với Thượng đế của chúng ta, tiến trình lu mờ sẽ đang tiến triển.
we can only become cognisant of this by studying His body of manifestation in its component parts.
chúng ta chỉ có thể trở nên nhận biết điều này bằng cách nghiên cứu thể biểu hiện của Ngài trong các thành phần cấu tạo của nó.
191. We are seeking to learn how we may become cognizant of an achieved cosmic mental polarization of our Logos. We are advised to study “His body of manifestation and its component parts”. This means that we shall have to know a lot more about His planetary schemes and their interrelation than we now know.
191. Chúng ta đang tìm cách hiểu làm thế nào chúng ta có thể nhận biết được một sự phân cực trí tuệ vũ trụ đã thành tựu của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Chúng ta được khuyên hãy nghiên cứu “thể biểu hiện của Ngài và các thành phần cấu tạo của nó”. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ phải biết nhiều hơn rất nhiều về các hệ hành tinh của Ngài và mối tương quan giữa chúng so với điều chúng ta hiện biết.
192. When studying TCF, many levels are involved. DK seems to change His level focus quite frequently and so one must remain alert to these changes.
192. Khi nghiên cứu Luận về Lửa Vũ Trụ, có nhiều cấp độ được bao hàm. Chân sư DK dường như thay đổi trọng tâm cấp độ của Ngài khá thường xuyên và vì vậy người ta phải luôn tỉnh táo trước những thay đổi ấy.
What is here predicated anent the logoic thought form can be equally well stated about that of a Heavenly Man, and a planetary scheme.
Điều được khẳng định ở đây liên quan đến hình tư tưởng logoic cũng có thể được phát biểu hoàn toàn tương tự về hình tư tưởng của một Đấng Thiên Nhân, và của một hệ hành tinh.
193. From this it is clear that He has been speaking of the Solar Logos, called, simply, “the Logos”.
193. Từ đây rõ ràng là Ngài đã nói về Thái dương Thượng đế, được gọi đơn giản là “Logos”.
As His cosmic polarisation becomes more mental, and as His cosmic desire nature becomes transmuted, the force that plays through His centres will correspondingly be seen to vary in direction;
Khi sự phân cực vũ trụ của Ngài trở nên trí tuệ hơn, và khi bản chất dục vọng vũ trụ của Ngài được chuyển hoá, thì mãnh lực vận hành xuyên qua các trung tâm của Ngài theo đó sẽ được thấy là thay đổi phương hướng;
194. Lower forces will be elevated. Higher chakras will attract the energy one expressed through lower chakras.
194. Các mãnh lực thấp sẽ được nâng lên. Các luân xa cao hơn sẽ thu hút năng lượng vốn được biểu lộ qua các luân xa thấp hơn.
195. Thus it is within the energy system of any type of ‘M/man’.
195. Vì vậy, trong hệ thống năng lượng của bất kỳ loại ‘người/Người’ nào cũng đều như thế.
He will withdraw force from certain of His lower centres and globes;
Ngài sẽ rút mãnh lực khỏi một số trung tâm và các bầu hành tinh thấp của Ngài;
196. The planetary chains are the centers. The globes are lesser centers.
196. Các dãy hành tinh là các trung tâm. Các bầu hành tinh là những trung tâm nhỏ hơn.
197. If this statement had been made of a Solar Logos, it would have read, “He will withdraw force from certain of His lower centers (i.e., planetary schemes) and chains.
197. Nếu phát biểu này được nói về một Thái dương Thượng đế, nó hẳn sẽ là: “Ngài sẽ rút mãnh lực khỏi một số trung tâm thấp của Ngài (tức là, các hệ hành tinh) và các dãy.
He will cease to be interested in physical incarnation, and He will eventually withdraw within Himself.
Ngài sẽ không còn quan tâm đến việc lâm phàm hồng trần nữa, và cuối cùng Ngài sẽ rút vào bên trong chính Ngài.
198. And, thus it is for a man as well.
198. Và con người cũng như vậy.
199. Interest is determining in the process of incarnation and the process of release from incarnation.
199. Sự quan tâm có tính quyết định trong tiến trình lâm phàm và trong tiến trình giải thoát khỏi lâm phàm.
His thought-form will show a gradual diminution of vitality;
Hình tư tưởng của Ngài sẽ cho thấy sự suy giảm sinh lực dần dần;
200. As the Planetary Logos shifts His attention onto cosmic mental levels, His outer form becomes devitalized.
200. Khi Hành Tinh Thượng Đế chuyển sự chú ý của Ngài lên các cấp độ trí tuệ vũ trụ, hình tướng bên ngoài của Ngài trở nên mất sinh lực.
201. This is often the case for a human being unless he takes remedial action to keep his physical form (i.e., the thoughtform created by the soul) in vital condition.
201. Điều này thường cũng đúng với một con người, trừ khi y có hành động khắc phục để giữ hình tướng hồng trần của mình (tức là, hình tư tưởng do linh hồn tạo ra) trong tình trạng đầy sinh lực.
202. Mind is an extension of the will; mental polarization indicates that one has begun to abstract along the will line.
202. Trí tuệ là một sự mở rộng của ý chí; sự phân cực trí tuệ cho thấy người ta đã bắt đầu trừu xuất theo đường lối của ý chí.
the dense physical globe will die and pass out of objectivity, and other globes will temporarily hold His life, though not for long.
bầu hành tinh hồng trần đậm đặc sẽ chết và ra khỏi tính khách quan, và các bầu hành tinh khác sẽ tạm thời giữ sự sống của Ngài, dù không lâu.
203. For the Planetary Logos, it would seem that the Earth-globe will die and pass out of objectivity (and life will be transferred, perhaps, to other etheric globes or perhaps to the etheric levels of the Earth-globe).
203. Đối với Hành Tinh Thượng Đế, dường như bầu Địa Cầu sẽ chết và ra khỏi tính khách quan (và sự sống sẽ được chuyển dịch, có lẽ, sang các bầu dĩ thái khác hoặc có lẽ sang các cấp độ dĩ thái của bầu Địa Cầu).
204. The life of the Planetary Logos will pass from lesser globes to greater—from globes which have etheric vehicles to those whose lowest sheath is astral, then mental, etc. A study of Chart VII will reveal, due to the size of the globes depicted, that there are lesser globes and greater.
204. Sự sống của Hành Tinh Thượng Đế sẽ chuyển từ các bầu hành tinh nhỏ hơn sang các bầu hành tinh lớn hơn—từ những bầu hành tinh có các vận cụ dĩ thái sang những bầu hành tinh mà lớp vỏ thấp nhất là cảm dục, rồi trí tuệ, v.v. Việc nghiên cứu Biểu đồ VII sẽ cho thấy, do kích thước của các bầu hành tinh được mô tả, rằng có những bầu hành tinh nhỏ hơn và lớn hơn.
205. We can ask, “if the dense physical globe, our globe, dies, what of the subtle aspects of our globe (for we have well established that our globe does have subtle aspects)? Can it be said that these subtle aspects of our globe will only progressively die as the life of the Planetary Logos is withdrawn to even higher dimensions?
205. Chúng ta có thể hỏi, “nếu bầu hành tinh hồng trần đậm đặc, bầu hành tinh của chúng ta, chết đi, thì các phương diện vi tế của bầu hành tinh chúng ta sẽ ra sao (vì chúng ta đã xác lập rõ rằng bầu hành tinh của chúng ta quả thực có các phương diện vi tế)? Có thể nói rằng các phương diện vi tế ấy của bầu hành tinh chúng ta sẽ chỉ dần dần chết đi khi sự sống của Hành Tinh Thượng Đế được rút về những chiều kích còn cao hơn nữa chăng?
206. As the life of the Planetary Logos is abstracted, will globes die all at once or will only those portions of globes ‘die’ which correspond to the dimension from which abstraction is occurring?
206. Khi sự sống của Hành Tinh Thượng Đế được trừu xuất, các bầu hành tinh sẽ chết cùng một lúc hay chỉ những phần nào của các bầu hành tinh ‘chết’ tương ứng với chiều kích mà từ đó sự trừu xuất đang diễn ra?
207. For instance, if within the planetary scheme there is a general abstraction from the astral level, will that abstraction occur in all globe which have an astral dimension, leaving such globes with only dimensions higher than the astral? OR, will those globes for which the astral level is the lowest sheath simply disappear—relatively quickly?
207. Thí dụ, nếu trong hệ hành tinh có một sự trừu xuất tổng quát khỏi cấp độ cảm dục, thì sự trừu xuất ấy có xảy ra trong mọi bầu hành tinh có một chiều kích cảm dục, để lại cho các bầu hành tinh ấy chỉ những chiều kích cao hơn cảm dục hay không? HAY, những bầu hành tinh mà cấp độ cảm dục là lớp vỏ thấp nhất của chúng sẽ đơn giản biến mất—tương đối nhanh chóng?
208. There is something more logically appealing about the first possibility.
208. Có điều gì đó hợp lý hơn về mặt luận lý trong khả năng thứ nhất.
In due course of time the entire scheme will be obscured, and He will function only in His cosmic astral body.
Đến đúng thời, toàn bộ hệ hành tinh sẽ bị che khuất, và Ngài sẽ chỉ hoạt động trong thể cảm dục vũ trụ của Ngài.
209. We learn here that all the vehicles of all chains within a planetary scheme rise no higher than the cosmic physical plane. None of them (i.e., the chains and globes with which have gained some academic familiarity) are manifesting on the cosmic astral plane.
209. Ở đây chúng ta biết rằng mọi vận cụ của mọi dãy trong một hệ hành tinh đều không vươn cao hơn cõi hồng trần vũ trụ. Không có cái nào trong số đó (tức là, các dãy và các bầu hành tinh mà chúng ta đã có phần nào quen thuộc về mặt học thuật) đang biểu hiện trên cõi cảm dục vũ trụ.
210. We could wonder, however, whether there are corresponding chakras on the cosmic astral plane, as such chakras would be the higher correspondence to the astral chakras of man. A Planetary Logos necessarily has an astral vehicle made of cosmic astral substance, and every vehicle is directed by a permanent atom and is vitalized by seven chakric whorls. So, in a way, it is impossible for a Planetary Logos to have an astral body (or a mental body) without correspondences to the astral or mental chakras of man.
210. Tuy nhiên, chúng ta có thể tự hỏi liệu có những luân xa tương ứng trên cõi cảm dục vũ trụ hay không, vì những luân xa như thế sẽ là sự tương ứng cao hơn với các luân xa cảm dục của con người. Một Hành Tinh Thượng Đế tất yếu có một vận cụ cảm dục được tạo bằng chất liệu cảm dục vũ trụ, và mọi vận cụ đều được điều khiển bởi một Nguyên tử trường tồn và được tiếp sinh lực bởi bảy vòng xoáy luân xa. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, Hành Tinh Thượng Đế không thể có một thể cảm dục (hay một thể trí) mà không có những tương ứng với các luân xa cảm dục hay trí tuệ của con người.
Such is the case too with a chain and its informing Life, viewing a chain as simply a centre in the body of the planetary Logos, yet having its own central factor.
Điều này cũng đúng với một dãy và Sự sống thấm nhuần nó, khi xem một dãy đơn giản như một trung tâm trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế, nhưng vẫn có yếu tố trung tâm riêng của nó.
211. Chains die as well (through, we hypothesize, gradually, just as globes die gradually—at least this is the hypothesis we are entertaining)..
211. Các dãy cũng chết (theo giả thuyết của chúng ta, là dần dần, cũng như các bầu hành tinh chết dần dần—ít nhất đó là giả thuyết chúng ta đang xem xét).
212. We have attempted to establish in these commentaries that there are no strictly homogenous globes—i.e., globes made of matter of only one kind without other substantial sheaths.
212. Trong các phần bình giải này, chúng ta đã cố gắng xác lập rằng không có những bầu hành tinh nào hoàn toàn đồng nhất—tức là, những bầu hành tinh được tạo bằng vật chất chỉ của một loại duy nhất mà không có các lớp vỏ chất liệu khác.
213. The “central factor” of a chain is a Chain-Lord. The central factor of a globe is a Globe-Lord.
213. “Yếu tố trung tâm” của một dãy là một Chúa Tể của Dãy. Yếu tố trung tâm của một bầu hành tinh là một Chúa Tể của Bầu Hành Tinh.
This can be seen in the Moon in a most interesting way. The desire of its Occupant was no longer for physical manifestation; He therefore withdrew His life.
Điều này có thể được thấy nơi Mặt Trăng theo một cách rất thú vị. Dục vọng của Đấng Cư Ngụ trong nó không còn hướng đến biểu hiện hồng trần nữa; vì thế Ngài đã rút sự sống của Ngài.
214. The “Occupant” of the Moon was, we hypothesize, a Chain-Lord—the “Lord of the Moon-chain”
214. “Đấng Cư Ngụ” của Mặt Trăng, theo giả thuyết của chúng ta, là một Chúa Tể của Dãy—“Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng”