Trích nội dung chương
"Let the three forms of energy electric pass upward to the Place of Power. Let the forces of the head and heart and all the nether aspects blend. Then let the Soul look out upon the inner world of light divine. Let the word triumphant go forth: 'I mastered energy for I am energy itself. The Master and the mastered are but One.' (EP I 417) "Hãy để ba hình thức năng lượng điện đi lên đến Nơi Quyền Năng. Hãy để các mãnh lực của đầu và tim cùng mọi phương diện thấp hơn hòa trộn. Rồi hãy để linh hồn nhìn ra thế giới bên trong của ánh sáng thiêng liêng. Hãy để lời chiến thắng phát ra: 'Ta đã làm chủ năng lượng vì ta chính là năng lượng. Chân sư…
13. The Fifth Key to the Seven Ray Methods is related to this potential discovery:
13. Chìa Khóa thứ Năm của Bảy Phương Pháp Cung có liên hệ với khám phá tiềm năng này:
FIFTH RAY
CUNG NĂM
"Let the three forms of energy electric pass upward to the Place of Power. Let the forces of the head and heart and all the nether aspects blend. Then let the Soul look out upon the inner world of light divine. Let the word triumphant go forth: 'I mastered energy for I am energy itself. The Master and the mastered are but One.' (EP I 417)
"Hãy để ba hình thức năng lượng điện đi lên đến Nơi Quyền Năng. Hãy để các mãnh lực của đầu và tim cùng mọi phương diện thấp hơn hòa trộn. Rồi hãy để linh hồn nhìn ra thế giới bên trong của ánh sáng thiêng liêng. Hãy để lời chiến thắng phát ra: 'Ta đã làm chủ năng lượng vì ta chính là năng lượng. Chân sư và điều được làm chủ chỉ là Một.' (EP I 417)
The mind of the alchemist [Page 476] searches for the Philosopher's Stone, that effective transmuting agent which will bring about revelation, and the power to impose the will of the chemist upon the elemental forces, which work in, by, and through matter.
Trí tuệ của nhà luyện kim [Page 476] tìm kiếm Hòn Đá Triết Gia, tác nhân chuyển hoá hữu hiệu sẽ mang lại sự mặc khải, và quyền năng áp đặt ý chí của nhà hóa học lên các mãnh lực hành khí, những mãnh lực hoạt động trong, bởi, và xuyên qua vật chất.
14. There are many definitions of the “Philosopher’s Stone”. Here are two more from the Tibetan’s Teaching
14. Có nhiều định nghĩa về “Hòn Đá Triết Gia”. Dưới đây là thêm hai định nghĩa từ Giáo Huấn của Chân sư Tây Tạng
When to these elements the Philosopher's [Page 119] Stone is added and has done its magical work, then you have the symbolic representation of the control by the soul of the four higher levels of the physical plane, the etheric or energy levels. Of this desirable consummation, the Philosopher's Stone is the emblem. (DON 118-119)
Khi Hòn Đá Triết Gia [Page 119] được thêm vào các nguyên tố này và đã hoàn thành công việc huyền diệu của nó, thì bạn có sự biểu trưng tượng trưng cho sự kiểm soát của linh hồn đối với bốn cấp cao hơn của cõi hồng trần, tức các cấp dĩ thái hay năng lượng. Đối với sự thành tựu đáng mong muốn này, Hòn Đá Triết Gia là biểu tượng. (DON 118-119)
In connection with this matter of transmutation comes the legend of the Philosopher's Stone, which is literally the application of the Rod of Initiation, in one sense. (TCF 307)
Liên hệ với vấn đề chuyển hoá này có truyền thuyết về Hòn Đá Triết Gia, vốn theo nghĩa đen là sự áp dụng Thần Trượng Điểm đạo, theo một nghĩa nào đó. (TCF 307)
15. We learn that the Philosopher’s Stone is an “effective transmuting agent”. This is certainly the case in relation to the Rod of Initiation the touch of which lifts the energy/force of the candidate’s energy system from one vibrational state to a still higher state.
15. Chúng ta biết rằng Hòn Đá Triết Gia là một “tác nhân chuyển hoá hữu hiệu”. Điều này chắc chắn đúng trong liên hệ với Thần Trượng Điểm đạo, mà sự chạm đến của nó nâng năng lượng/mãnh lực của hệ thống năng lượng của ứng viên từ một trạng thái rung động lên một trạng thái còn cao hơn nữa.
16. The alchemist had two objectives:
16. Nhà luyện kim có hai mục tiêu:
a. Revelations
a. Những sự mặc khải
b. The power to impose his will upon the elemental forces. This would involve the alteration of the vibration within the objects receiving imposition. With it would come the ability to change something into something else more desirable.
b. Quyền năng áp đặt ý chí của mình lên các mãnh lực hành khí. Điều này sẽ bao hàm sự thay đổi rung động trong các đối tượng tiếp nhận sự áp đặt. Cùng với đó sẽ đến khả năng biến đổi một cái gì đó thành một cái gì khác đáng mong muốn hơn.
17. We gather, as well, that there is a close relation between the “Philosopher’s Stone’ and the “Jewel in the Lotus”. When the "Jewel in the Lotus" is on the point of revelation, the four systemic ethers are on the point of mastery. Man stands ready for the fourth initiation. The development of each of these four ethers corresponds to the one of the four initiations.
17. Chúng ta cũng thu thập được rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa “Hòn Đá Triết Gia” và “Ngọc trong Hoa Sen”. Khi "Ngọc trong Hoa Sen" sắp được mặc khải, bốn dĩ thái hệ thống cũng sắp được làm chủ. Con người đứng sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ tư. Sự phát triển của mỗi một trong bốn dĩ thái này tương ứng với một trong bốn lần điểm đạo.
18. To what degree is the "Jewel in the Lotus" a “transmuting agent” in the life of developing man? One can think of it as a source of great alchemical power, subtly at work even before its moment of complete disclosure.
18. "Ngọc trong Hoa Sen" là một “tác nhân chuyển hoá” ở mức độ nào trong đời sống của con người đang phát triển? Người ta có thể nghĩ về nó như một nguồn quyền năng luyện kim lớn lao, âm thầm hoạt động ngay cả trước thời điểm nó được bộc lộ hoàn toàn.
The religious man, especially the Christian, recognises the psychic quality of this transmutative power, and frequently speaks in the sacred books, of the soul being tried or tested seven times in the fire.
Người có tôn giáo, đặc biệt là người Kitô giáo, nhận ra phẩm tính thông linh của quyền năng chuyển hoá này, và thường nói trong các sách thiêng liêng, rằng linh hồn được thử luyện hay khảo nghiệm bảy lần trong lửa.
19. We can see that the focus of the religious man is usually far more subjective and less material than that of the alchemist.
19. Chúng ta có thể thấy rằng trọng tâm của người có tôn giáo thường mang tính chủ quan hơn nhiều và ít vật chất hơn so với nhà luyện kim.
20. For the religionist the soul is that ‘substance’ which must be subjected to transmutation—in fact seven transmutations. Although the terminology of the religionist is mystical (and although the mystic can reach only so high in the process of elevating consciousness) the seven initiations are suggested by the seven trials or tests in the fire.
20. Đối với người theo tôn giáo, linh hồn là ‘chất liệu’ phải chịu sự chuyển hoá—thực ra là bảy lần chuyển hoá. Dù thuật ngữ của người theo tôn giáo mang tính thần bí (và dù nhà thần bí chỉ có thể vươn cao đến một mức nào đó trong tiến trình nâng cao tâm thức), bảy lần điểm đạo vẫn được gợi ý qua bảy lần thử luyện hay khảo nghiệm trong lửa.
All these students and investigators are recognising one great truth from their own constricted angle, and the whole lies not with one or another, but in the aggregate.
Tất cả những đạo sinh và nhà khảo cứu này đều đang nhận ra một chân lý lớn từ góc nhìn hạn hẹp của riêng mình, và toàn thể không nằm ở người này hay người kia, mà ở trong tổng thể.
21. Thus is the need to achieve a synthetic point of view—ultimately an ‘omni-angled’ point of view
21. Như vậy, nhu cầu đạt được một quan điểm tổng hợp—cuối cùng là một quan điểm ‘toàn góc độ’—được xác lập.
22. We note that the point of view, not only of the average individual, but, of the scientist, the alchemist or the religionist, are all constricted. This could be a sobering thought for any adherent to a single discipline.
22. Chúng ta lưu ý rằng quan điểm, không chỉ của cá nhân trung bình, mà cả của nhà khoa học, nhà luyện kim hay người theo tôn giáo, đều hạn hẹp. Đây có thể là một ý nghĩ khiến bất kỳ người theo một bộ môn đơn lẻ nào cũng phải tỉnh táo.
In defining transmutation as it is occultly understood, we might express it thus: Transmutation is the passage across from one state of being to another through the agency of fire.
Khi định nghĩa chuyển hoá như nó được hiểu một cách huyền bí, chúng ta có thể diễn đạt như sau: Chuyển hoá là sự đi qua từ trạng thái hiện hữu này sang trạng thái hiện hữu khác thông qua tác nhân của lửa.
23. This is DK’s famous definition of transmutation.
23. Đây là định nghĩa nổi tiếng của Chân sư DK về chuyển hoá.
24. The planet Uranus is involved in this process. Exoterically, Uranus rules migrations and all transferences or passages from one location or state to another. Naturally, higher ‘passages’ would apply.
24. Hành tinh Uranus có liên quan đến tiến trình này. Theo ngoại môn, Uranus cai quản các cuộc di cư và mọi sự chuyển dịch hay đi qua từ địa điểm hay trạng thái này sang địa điểm hay trạng thái khác. Đương nhiên, những ‘sự đi qua’ cao hơn cũng được áp dụng.
25. The type of “passage” we are discussing always involves an elevation of vibration.
25. Loại “sự đi qua” mà chúng ta đang bàn đến luôn luôn bao hàm một sự nâng cao rung động.
30. Applied “fire” is the method of this elevation. In one respect, fire is motion itself and the chakras (which are fire) are (we have been told) “consummated motion”.
30. “Lửa” được áp dụng là phương pháp của sự nâng cao này. Theo một phương diện, lửa chính là chuyển động, và các luân xa (vốn là lửa) là (như chúng ta đã được cho biết) “chuyển động được hoàn tất”.
The due comprehension of this is based on certain postulates, mainly four in number. These postulates must be expressed in terms of the Old Commentary, which is so worded that it reveals to those who have eyes to see, but remains enigmatic to those who are not ready, or who would misuse the knowledge gained for selfish ends.
Sự thấu hiểu đúng đắn điều này dựa trên một số định đề, chủ yếu là bốn định đề. Những định đề này phải được diễn đạt theo Cổ Luận, được viết theo cách mặc khải cho những ai có mắt để thấy, nhưng vẫn bí ẩn đối với những ai chưa sẵn sàng, hoặc những ai sẽ lạm dụng tri thức đạt được cho những mục đích ích kỷ.
31. It is interesting that the expression of truth through the Old Commentary filters out selfishness.
31. Thật thú vị khi sự diễn đạt chân lý qua Cổ Luận lại lọc bỏ tính ích kỷ.
32. Let us see if we can gather some hints in relation to the meaning of these four postulates from the Old Commentary.
32. Chúng ta hãy xem liệu chúng ta có thể thu thập được một vài gợi ý liên quan đến ý nghĩa của bốn định đề này từ Cổ Luận hay không.
33. From the four postulates it will be clear that we are dealing with different phases of alchemy—from the alchemy that binds to the alchemy that releases. Transmutation is usually associated with liberation, but here is also a transmutation which can be related to progressive densification, materialization, and to precipitation.
33. Từ bốn định đề, sẽ rõ rằng chúng ta đang đề cập đến những giai đoạn khác nhau của thuật luyện kim—từ thuật luyện kim trói buộc đến thuật luyện kim giải thoát. Chuyển hoá thường được gắn liền với sự giải thoát, nhưng ở đây cũng có một sự chuyển hoá có thể liên hệ với sự đậm đặc hoá tăng dần, sự hiện hình, và sự ngưng tụ.
The phrases are as follows:
Các cụm từ như sau:
I. He who transfers the Father's life to the lower three seeketh the agency of fire, hid in the heart of Mother. He worketh with the Agnichaitans, that hide, that burn, and thus produce the needed moisture.
I. Kẻ chuyển sự sống của Cha xuống ba cõi thấp tìm kiếm tác nhân của lửa, ẩn trong tim của Mẹ. Y làm việc với các Agnichaitan, những vị che giấu, những vị thiêu đốt, và nhờ đó tạo ra độ ẩm cần thiết.
34. The direction of the energy is from ‘above’ to ‘below’.
34. Chiều hướng của năng lượng là từ “trên” xuống “dưới”.
35. This type of worker is seeking to work with the fire in the heart of the Mother—i.e., with fire by friction. There are those who seek to work with the lower fires.
35. Loại người hoạt động này đang tìm cách làm việc với ngọn lửa trong tim của Mẹ—tức là, với Lửa ma sát. Có những người tìm cách làm việc với các lửa thấp.
36. The Agnichaitans are the devas, particularly, of the etheric-physical plane (though there are cosmic Agnichaitans as well).
36. Các Agnichaitan là các thiên thần, đặc biệt, của cõi dĩ thái-hồng trần (mặc dù cũng có những vũ trụ Agnichaitan).
37. The Agnichaitans veil the energies of the higher planes.
37. Các Agnichaitan che phủ các năng lượng của các cõi cao hơn.
38. Their production of the “needed moisture” relates them to the Agnisuryans of the astral plane—the plane of water, of moisture.
38. Việc chúng tạo ra “độ ẩm cần thiết” liên hệ chúng với các Agnisuryan của cõi cảm dục—cõi của nước, của độ ẩm.
39. From another perspective, moisture is related to “water” and “water” is “matter”.
39. Từ một góc nhìn khác, độ ẩm liên hệ với “nước” và “nước” là “vật chất”.
40. We may assume that “moisture” is needed for the continued work of the Agnichaitans.
40. Chúng ta có thể giả định rằng “độ ẩm” là cần thiết cho công việc tiếp diễn của các Agnichaitan.
41. Moisture is, in a way, a condensate. What is to arise through the burning of the Agnichaitans? Many valuable substances can appear in a semi-vaporous form.
41. Độ ẩm, theo một nghĩa nào đó, là một chất ngưng tụ. Điều gì sẽ phát sinh qua sự thiêu đốt của các Agnichaitan? Nhiều chất liệu có giá trị có thể xuất hiện trong một dạng bán hơi.
42. More mundanely, we may relate “moisture” to desire. Desires arise as moisture arises and attach themselves to physical plane processes.
42. Theo nghĩa trần thế hơn, chúng ta có thể liên hệ “độ ẩm” với dục vọng. Các dục vọng phát sinh như độ ẩm phát sinh và gắn chúng vào các tiến trình của cõi hồng trần.
II. He who transfers the life from out the lower three into the ready fourth seeketh the agency of fire hid in the heart of Brahma.
II. Kẻ chuyển sự sống từ ba cõi thấp vào giới thứ tư đã sẵn sàng tìm kiếm tác nhân của lửa ẩn trong tim của Brahma.
43. Brahma (the Holy Spirit) is other than the Mother (Matter).
43. Brahma (Chúa Thánh Thần) khác với Mẹ (Vật chất).
44. From one perspective, the lower three are the lower three kingdoms and the “ready fourth” is the human kingdom.
44. Từ một góc nhìn, ba cõi thấp là ba giới thấp và “giới thứ tư đã sẵn sàng” là giới nhân loại.
45. We can, in fact, be speaking of those alchemical processes which promote the rising of “life” from one kingdom to the next higher. Man as macrocosm contains the lower three kingdoms. These kingdoms ‘tend towards’ the state of man.
45. Thật ra, chúng ta có thể đang nói về những tiến trình luyện kim thúc đẩy sự vươn lên của “sự sống” từ giới này sang giới cao hơn kế tiếp. Con người như Đại thiên địa chứa đựng ba giới thấp. Các giới này “có xu hướng hướng tới” trạng thái con người.
46. From another perspective, the lower three are the lower three planes and the ready fourth is the buddhic plane whereon the Agnishvattas have special power.
46. Từ một góc nhìn khác, ba cõi thấp là ba cõi thấp và giới thứ tư đã sẵn sàng là cõi Bồ đề, nơi các Agnishvatta có quyền năng đặc biệt.
47. The fire sought in the heart of Brahma can be considered a kind of etheric fire.
47. Ngọn lửa được tìm kiếm trong tim của Brahma có thể được xem là một loại lửa dĩ thái.
48. From one perspective, Brahma rules the entire cosmic physical plane.
48. Từ một góc nhìn, Brahma cai quản toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ.
49. Is it the fire of “Brahmic Intelligence” which is being sought.
49. Có phải ngọn lửa của “Trí Tuệ Brahma” đang được tìm kiếm chăng.
He worketh with the forces of the Agnishvattas, that emanate, that blend, and thus produce the needed warmth.
Y làm việc với các mãnh lực của các Agnishvatta, những vị phát xạ, những vị dung hợp, và nhờ đó tạo ra sự ấm áp cần thiết.
50. This type of worker works with human personalities as they aspire to contact the Solar Angels and not with the elemental lives and lunar lords.
50. Loại người hoạt động này làm việc với các phàm ngã nhân loại khi chúng khát vọng tiếp xúc với các Thái dương Thiên Thần chứ không làm việc với các sự sống hành khí và các nguyệt tinh quân.
51. His objective is work with solar fire and not with fire by friction. This type of working is making a transition from the fire of personality into the fire of soul.
51. Mục tiêu của y là làm việc với Lửa Thái dương chứ không phải với Lửa ma sát. Loại công việc này đang tạo nên một sự chuyển tiếp từ lửa của phàm ngã sang lửa của linh hồn.
52. What are the qualities of the Agnishvattas and their forces?
52. Những phẩm tính của các Agnishvatta và các mãnh lực của họ là gì?
a. The Agnishvattas blend
a. Các Agnishvatta dung hợp
b. The Agnishvattas emanate
b. Các Agnishvatta phát xạ
c. The Agnishvattas produce the needed warmth.
c. Các Agnishvatta tạo ra sự ấm áp cần thiết.
53. The warmth sought is that of solar fire—the fire found on the higher mental plane, the fire of the soul aspect.
53. Sự ấm áp được tìm kiếm là sự ấm áp của Lửa Thái dương—ngọn lửa được tìm thấy trên Cõi thượng trí, ngọn lửa của phương diện linh hồn.
54. All that transpires within the personality life must be transmuted into soul quality. Thus, is the personality elevated and the causal body built.
54. Tất cả những gì diễn ra trong đời sống phàm ngã phải được chuyển hoá thành phẩm tính linh hồn. Nhờ đó, phàm ngã được nâng lên và thể nguyên nhân được xây dựng.
55. The Agnishvattas are a dual Hierarchy and one aspect of this Creative Hierarchy is related to the human personality (cf. EA 35).
55. Các Agnishvatta là một Thánh Đoàn nhị nguyên và một phương diện của Huyền Giai Sáng Tạo này có liên hệ với phàm ngã nhân loại (xem EA 35).
56. We must remember that the human personality is related to the Brahma aspect of divinity.
56. Chúng ta phải nhớ rằng phàm ngã nhân loại có liên hệ với phương diện Brahma của thiên tính.
57. The heart of Brahma can be considered the heart center found within the human personality on both the etheric and astral planes.
57. Tim của Brahma có thể được xem là trung tâm tim được tìm thấy trong phàm ngã nhân loại trên cả cõi dĩ thái lẫn cõi cảm dục.
58. From another perspective, Brahma is found upon the lower twenty one sub-planes and not only on the lower eighteen. From this perspective (the solar logoic perspective), the Egoic Lotus is but an aspect of brahmic life.
58. Từ một góc nhìn khác, Brahma được tìm thấy trên hai mươi mốt cõi phụ thấp chứ không chỉ trên mười tám cõi phụ thấp. Từ góc nhìn này (góc nhìn thái dương thượng đế), Hoa Sen Chân Ngã chỉ là một phương diện của sự sống brahmic.
III. He who transfers the life into the gathering fifth seeketh the agency of fire hid in the heart of Vishnu.
III. Kẻ chuyển sự sống vào giới thứ năm đang tập hợp tìm kiếm tác nhân của lửa ẩn trong tim của Vishnu.
59. The “gathering fifth” is the fifth kingdom of nature in process of formation.
59. “Giới thứ năm đang tập hợp” là giới thứ năm của bản chất trong tiến trình hình thành.
60. What is gathered? From one perspective, quality is gathered to be stored in the causal body. As causal bodies become more equipped, the members of the fifth kingdom increase in number.
60. Điều gì được tập hợp? Từ một góc nhìn, phẩm tính được tập hợp để được lưu giữ trong thể nguyên nhân. Khi các thể nguyên nhân trở nên được trang bị đầy đủ hơn, số lượng các thành viên của giới thứ năm tăng lên.
61. The “heat of Vishnu” may not be the Egoic Lotus at all, but the buddhic plane.
61. “Nhiệt của Vishnu” có thể hoàn toàn không phải là Hoa Sen Chân Ngã, mà là cõi Bồ đề.
62. We must remember that those Who are actually focussed within the spiritual triad are members of the fifth kingdom of nature. Even a Master (focussed to a considerable extent atmically) is a member of the fifth kingdom.
62. Chúng ta phải nhớ rằng những Đấng thực sự được tập trung trong Tam nguyên tinh thần là các thành viên của giới thứ năm của bản chất. Ngay cả một Chân sư (được tập trung ở mức độ đáng kể trong atma) cũng là một thành viên của giới thứ năm.
He worketh with the forces of the Agnisuryans, that blaze, that liberate the essence, and thus produce the needed radiance.
Y làm việc với các mãnh lực của các Agnisuryan, những vị bừng cháy, những vị giải thoát tinh chất, và nhờ đó tạo ra sự rạng ngời cần thiết.
63. The Agnisuryans do not work only upon the astral plane. The higher type of Agnisuryans work upon the buddhic plane.
63. Các Agnisuryan không chỉ làm việc trên cõi cảm dục. Loại Agnisuryan cao hơn làm việc trên cõi Bồ đề.
These elementals and devas are called the Agnisuryans, and in [68] their totality are the fiery essences of buddhi, hence their lowest manifestation is on the sixth plane, the astral. (TCF 68)
Các hành khí và thiên thần này được gọi là các Agnisuryan, và trong [68] tổng thể của chúng là các tinh chất rực lửa của Bồ đề, vì thế biểu hiện thấp nhất của chúng là trên cõi thứ sáu, cõi cảm dục. (TCF 68)
64. The liberation of the essence refers to the essence liberated and translated into the spiritual triad when the causal body is destroyed.
64. Sự giải thoát tinh chất nói đến tinh chất được giải thoát và được chuyển dịch vào Tam nguyên tinh thần khi thể nguyên nhân bị phá huỷ.
65. The radiance may be the radiance liberated at this destruction and the perhaps greater radiance created within the spiritual triad when the liberated essence ascends and it absorbed into it.
65. Sự rạng ngời có thể là sự rạng ngời được giải phóng trong sự phá huỷ này và có lẽ là sự rạng ngời lớn hơn được tạo ra trong Tam nguyên tinh thần khi tinh chất được giải thoát thăng lên và được hấp thụ vào đó.
66. We have been told that the causal body is destroyed largely by the second aspect of the will. Another way of considering this is that the causal body is destroyed so that buddhic love may no longer be confined in its expression by higher mental substance. The Agnisuryans of the buddhic plane may be considered related to the second aspect of the will and to the necessary processes of destruction.
66. Chúng ta đã được cho biết rằng thể nguyên nhân bị phá huỷ phần lớn bởi phương diện thứ hai của ý chí. Một cách khác để xem xét điều này là thể nguyên nhân bị phá huỷ để bác ái Bồ đề không còn bị chất liệu thượng trí giới hạn trong sự biểu lộ của nó nữa. Các Agnisuryan của cõi Bồ đề có thể được xem là có liên hệ với phương diện thứ hai của ý chí và với các tiến trình phá huỷ cần thiết.
What, therefore, brings about the destruction of the soul body? The destroying agent is the second aspect of the Will. The third or lowest aspect of the Will, working through the mind or the manasic principle, was the sustaining factor in the long cycle of personality development; it was the principle of intelligent synthesis, holding the life principle intact and individualised through the long series of successive incarnations. (R&I 216)
Vậy thì, điều gì mang lại sự phá huỷ của thể linh hồn? Tác nhân phá huỷ là phương diện thứ hai của Ý Chí. Phương diện thứ ba hay thấp nhất của Ý Chí, hoạt động qua trí tuệ hay nguyên khí manas, là yếu tố duy trì trong chu kỳ dài của sự phát triển phàm ngã; đó là nguyên khí của sự tổng hợp thông tuệ, giữ cho nguyên khí sự sống còn nguyên vẹn và được biệt ngã hóa qua chuỗi dài những lần lâm phàm liên tiếp. (R&I 216)
IV. First moisture, slow and all enveloping; then heat with ever-growing warmth and fierce intensity; then force that presses, drives and concentrates. Thus is radiance [Page 477] produced; thus the exudation; thus mutation; thus change of form. Finally liberation, escape of the volatile essence, and the gathering of the residue back to primordial stuff.
IV. Trước hết là độ ẩm, chậm và bao trùm tất cả; rồi đến nhiệt với sự ấm áp ngày càng tăng và cường độ mãnh liệt; rồi đến mãnh lực ép, thúc đẩy và tập trung. Nhờ đó sự rạng ngời [Page 477] được tạo ra; nhờ đó có sự tiết xuất; nhờ đó có sự biến đổi; nhờ đó có sự thay đổi hình tướng. Sau cùng là sự giải thoát, sự thoát ra của tinh chất dễ bay hơi, và sự tập hợp phần cặn trở lại chất liệu nguyên sơ.
67. This is the final phrase and contains the summary of the alchemical work.
67. Đây là cụm từ cuối cùng và chứa đựng phần tóm lược của công việc luyện kim.
68. The entire evolution of man is here contained—albeit from an alchemical perspective.
68. Toàn bộ sự tiến hoá của con người được chứa đựng ở đây—dù là từ một góc nhìn luyện kim.
69. The work is protected by moisture—produced by the Agnichaitans. This is the tamasic phase and concerns the preparation of the elemental life.
69. Công việc được bảo vệ bởi độ ẩm—do các Agnichaitan tạo ra. Đây là giai đoạn tamas và liên quan đến sự chuẩn bị của sự sống hành khí.
70. We find that moisture (in one of its meanings) is necessary to sustain life in form. Living bodies are largely water or moisture.
70. Chúng ta thấy rằng độ ẩm (trong một trong những ý nghĩa của nó) là cần thiết để duy trì sự sống trong hình tướng. Các thể sống phần lớn là nước hay độ ẩm.
71. Moisture is adhesive and creates binding relationships—the kind that hold the body together. Perhaps all the lower vehicles are held together by moisture of some kind. This is especially true of the physical and astral vehicles.
71. Độ ẩm có tính kết dính và tạo ra các mối liên hệ ràng buộc—loại liên hệ giữ cho thể được gắn kết. Có lẽ tất cả các vận cụ thấp đều được giữ lại với nhau bởi một loại độ ẩm nào đó. Điều này đặc biệt đúng đối với các vận cụ hồng trần và cảm dục.
72. The rajasic phase of the process follows next. The fire is applied with greater intensity. The chakras increase their rotation. The vibration of the atoms of the vehicles is raised. This is an increasingly brahmic phase rising above the strictly material phase.
72. Giai đoạn rajas của tiến trình tiếp theo sau đó. Lửa được áp dụng với cường độ lớn hơn. Các luân xa tăng tốc độ quay. Rung động của các nguyên tử trong các vận cụ được nâng cao. Đây là một giai đoạn ngày càng brahmic vượt lên trên giai đoạn thuần vật chất.
73. The next phase concerns personality aspiration for soul living. Aspiration presses and drives ‘upwards’ and such a state of concentration is achieved that soul life can infuse the personality.
73. Giai đoạn kế tiếp liên quan đến khát vọng của phàm ngã đối với đời sống linh hồn. Khát vọng ép và thúc đẩy “đi lên”, và một trạng thái tập trung như thế được đạt đến để đời sống linh hồn có thể thấm nhuần phàm ngã.
74. The causal body demonstrates an increasing radiance as (under Vulcan—which pressed, drives and concentrates) do the atoms of the personality nature.
74. Thể nguyên nhân biểu lộ một sự rạng ngời ngày càng tăng, cũng như (dưới Vulcan—đấng ép, thúc đẩy và tập trung) các nguyên tử của bản chất phàm ngã cũng vậy.
75. The exudation, mutation and change of form suggest the process of transfiguration which precedes the escape of the volatile essence at the fourth initiation. Exudation, per se, is related to sweat and thus to the necessary process of purification which must precede transfiguration. Exudation occurs through the application of heat—both external and internal.
75. Sự tiết xuất, sự biến đổi và sự thay đổi hình tướng gợi ý tiến trình Biến hình, vốn đi trước sự thoát ra của tinh chất dễ bay hơi ở lần điểm đạo thứ tư. Chính sự tiết xuất liên hệ với mồ hôi và do đó với tiến trình thanh luyện cần thiết phải đi trước Biến hình. Sự tiết xuất xảy ra qua việc áp dụng nhiệt—cả bên ngoài lẫn bên trong.
76. From this point of view, the original production of moisture may be an exudation which is equivalent to the production of emotional responses in the midst of physical plane living. We remember that in the strictly Lemurian stage of human development, there is little emotion per se. Emotion supervenes later, in the Atlantean phase.
76. Từ quan điểm này, sự tạo ra độ ẩm ban đầu có thể là một sự tiết xuất tương đương với việc tạo ra các đáp ứng cảm xúc giữa đời sống cõi hồng trần. Chúng ta nhớ rằng trong giai đoạn phát triển nhân loại thuần Lemuria, bản thân cảm xúc hầu như không có. Cảm xúc xuất hiện về sau, trong giai đoạn Atlantis.
77. There are physical and subtle exudations and they both contribute to the expansion of the causal body and the mutations which lead it towards fulfilled unfoldment.
77. Có những sự tiết xuất hồng trần và vi tế, và cả hai đều góp phần vào sự mở rộng của thể nguyên nhân và những biến đổi dẫn nó đến sự khai mở viên mãn.
78. May we say that Transfiguration is a kind of “mutation”—the change of form and figure into that which represents abstract or archetypal patterns?
78. Chúng ta có thể nói rằng Biến hình là một loại “biến đổi”—sự thay đổi hình tướng và hình thể thành điều biểu hiện các mô hình trừu tượng hay nguyên mẫu chăng?
79. The “volatile essence” is the life aspect within the causal body which has gathered to itself the sublimation of all experience in the three lower worlds.
79. “Tinh chất dễ bay hơi” là phương diện sự sống bên trong thể nguyên nhân, vốn đã tập hợp vào chính nó sự thăng hoa của mọi kinh nghiệm trong ba cõi thấp.
80. From one perspective, the “Jiva” is the volatile essence; it is life imprisoned and destined for release. The volatile essence is, like the Jiva, a monadic projection into the lower worlds.
80. Từ một góc nhìn, “Jiva” là tinh chất dễ bay hơi; đó là sự sống bị giam cầm và được định sẵn để giải thoát. Tinh chất dễ bay hơi, cũng như Jiva, là một sự phóng chiếu chân thần vào các cõi thấp.
81. Once the this volatile essence escapes, it signals the destruction of the causal body and perhaps of the personality. The lesser lives within both (causal body and personality—i.e., elemental lives in relation to the personality and manasadevas in relation to the causal body) are gathered back to the appropriate reservoirs. Although these lives return to the “Reservoir of Life” much had been added to them through their experience of association with an evolving human unit.
81. Một khi tinh chất dễ bay hơi này thoát ra, nó báo hiệu sự phá huỷ của thể nguyên nhân và có lẽ cả của phàm ngã. Các sự sống nhỏ hơn trong cả hai (thể nguyên nhân và phàm ngã—tức là, các sự sống hành khí liên hệ với phàm ngã và manasadevas liên hệ với thể nguyên nhân) được tập hợp trở lại các kho chứa thích hợp. Mặc dù các sự sống này trở về “Kho Chứa của Sự Sống”, rất nhiều điều đã được thêm vào chúng qua kinh nghiệm kết hợp với một đơn vị nhân loại đang tiến hoá.
82. This same formula could be applied to the evolution and liberation of any type of self-conscious unit—even those units far above the status of man.
82. Cùng công thức này có thể được áp dụng cho sự tiến hoá và giải thoát của bất kỳ loại đơn vị ngã thức nào—ngay cả những đơn vị vượt xa địa vị của con người.
83. The fourfold process largely follows this sequence:
83. Tiến trình tứ phân phần lớn theo chuỗi này:
a. Exudation
a. Sự tiết xuất
b. Mutation
b. Sự biến đổi
c. Change of Form
c. Sự thay đổi Hình tướng
d. Liberation
d. Sự giải thoát
e. Re-gathering
e. Sự tập hợp lại
84. There are many secrets of the utmost importance still hidden in these four phrases from the Old Commentary, but perhaps what is here said will help us think in a direction which will reveal a few of the many unknowns.
84. Vẫn còn nhiều bí mật cực kỳ quan trọng ẩn giấu trong bốn cụm từ này từ Cổ Luận, nhưng có lẽ điều được nói ở đây sẽ giúp chúng ta suy nghĩ theo một hướng có thể mặc khải một vài trong số rất nhiều điều chưa biết.
He who ponders these formulas and who meditates upon the method and suggested process will receive a general idea of the evolutionary process of transmutation which will be of more value to him than the formulas whereby the devas transmute the various minerals.
Kẻ suy ngẫm về các công thức này và tham thiền về phương pháp cùng tiến trình được gợi ý sẽ nhận được một ý niệm tổng quát về tiến trình tiến hoá của sự chuyển hoá, điều sẽ có giá trị đối với y hơn là các công thức nhờ đó các thiên thần chuyển hoá các khoáng chất khác nhau.
85. DK is attempting to direct us away from the material form of alchemy related strictly to the third aspect and the transmutation of matter into higher forms of matter. This lower form of transmutation was more appropriate to those who may have undertaken the alchemical work when the matter aspect was most prominent—for instance, in the last solar system or upon the Moon-chain.
85. Chân sư DK đang cố gắng hướng chúng ta rời khỏi hình thức vật chất của thuật luyện kim chỉ liên hệ với phương diện thứ ba và sự chuyển hoá vật chất thành các hình thức vật chất cao hơn. Hình thức chuyển hoá thấp này thích hợp hơn với những ai có thể đã đảm nhận công việc luyện kim khi phương diện vật chất nổi trội nhất—chẳng hạn, trong hệ mặt trời trước hay trên Dãy Mặt Trăng.
86. Thus, even a general idea of the transmutation process is of value to us.
86. Vì vậy, ngay cả một ý niệm tổng quát về tiến trình chuyển hoá cũng có giá trị đối với chúng ta.
87. In general we have to remember that the work falls into four stages:
87. Nói chung, chúng ta phải nhớ rằng công việc rơi vào bốn giai đoạn:
a. Work with the personality elementals
a. Làm việc với các hành khí của phàm ngã
b. Work with the personality as it aspires towards the soul
b. Làm việc với phàm ngã khi nó khát vọng hướng tới linh hồn
c. Work with the Solar Angels or Agnishvattas
c. Làm việc với các Thái dương Thiên Thần hay các Agnishvatta
d. Work to liberate the volatile essence form the causal sheath and thus, release, as well, the Solar Angels from their confinement.
d. Làm việc để giải thoát tinh chất dễ bay hơi khỏi vỏ nguyên nhân và nhờ đó cũng giải thoát các Thái dương Thiên Thần khỏi sự giam hãm của các vị.
88. It will be found that the four alchemical phrases will relate to one (or, in one instance, perhaps two) of the four stages listed above.
88. Người ta sẽ thấy rằng bốn cụm từ luyện kim sẽ liên hệ với một (hoặc, trong một trường hợp, có lẽ là hai) trong bốn giai đoạn được liệt kê ở trên.
89. It would repay each of us to assess our relation to this fourfold alchemical process and the stage in which we presently find ourselves, and why.
89. Sẽ rất đáng để mỗi chúng ta đánh giá mối liên hệ của mình với tiến trình luyện kim tứ phân này và giai đoạn mà hiện nay chúng ta đang ở trong đó, cùng lý do tại sao.
Transmutation concerns the life of the atom, and is hidden in a knowledge of the laws governing radioactivity.
Sự chuyển hoá liên quan đến sự sống của nguyên tử, và được ẩn giấu trong tri thức về các định luật chi phối tính phóng xạ.
90. Scientists who read this statement may dispute the Tibetan’s assertion, but He considers the life of the atom and radioactivity in a manner different from even the most progressive scientists.
90. Các nhà khoa học đọc phát biểu này có thể tranh luận với khẳng định của Chân sư Tây Tạng, nhưng Ngài xem xét sự sống của nguyên tử và tính phóng xạ theo một cách khác với ngay cả những nhà khoa học tiến bộ nhất.
It is interesting to note how in the scientific expression 'radioactivity,' we have the eastern conception of Vishnu-Brahma, or the Rays of Light vibrating through matter.
Thật thú vị khi lưu ý rằng trong cách diễn đạt khoa học “radioactivity”, chúng ta có quan niệm phương Đông về Vishnu-Brahma, hay Các Cung Ánh Sáng rung động xuyên qua vật chất.
91. This is a most important idea—conceiving radioactivity as “Vishnu-Brahma”.
91. Đây là một ý tưởng cực kỳ quan trọng—hình dung tính phóng xạ như “Vishnu-Brahma”.
92. In this context, Vishnu is the source of the Rays of Light and Brahma provides the matter through which this Rays of Light vibrate.
92. Trong ngữ cảnh này, Vishnu là nguồn của Các Cung Ánh Sáng và Brahma cung cấp vật chất mà qua đó các Cung Ánh Sáng này rung động.
93. From another perspective (a Kabbalistic one), light is matter, and so one might question why Rays of Light must vibrate through matter.
93. Từ một góc nhìn khác (một góc nhìn Kabbalah), ánh sáng là vật chất, và vì thế người ta có thể đặt câu hỏi tại sao Các Cung Ánh Sáng phải rung động xuyên qua vật chất.
94. Yet, there is always ‘Light within light’—ever a greater Light impulsing and impacting lesser lights.
94. Tuy nhiên, luôn luôn có “Ánh sáng trong ánh sáng”—luôn luôn có một Ánh Sáng lớn hơn thúc đẩy và tác động lên những ánh sáng nhỏ hơn.
Hence the usually accepted interpretation of the term 'atom' must be extended from that of the atom of chemistry to include:
Do đó, cách giải thích thường được chấp nhận về thuật ngữ “nguyên tử” phải được mở rộng từ nguyên tử của hoá học để bao gồm:
95. DK expands the usual concept of the atom in a manner with which we are now familiar.
95. Chân sư DK mở rộng khái niệm thông thường về nguyên tử theo một cách mà giờ đây chúng ta đã quen thuộc.
a. All atoms or spheres upon the physical plane.
a. Mọi nguyên tử hay khối cầu trên cõi hồng trần.
96. Here we are dealing either with tiny etheric and physical atoms or with aggregations or congeries of the atoms of matter/substance. From this perspective, molecules are also “atoms”.
96. Ở đây chúng ta đang đề cập hoặc đến các nguyên tử dĩ thái và hồng trần cực nhỏ hoặc đến các tập hợp hay cụm của các nguyên tử vật chất/chất liệu. Từ góc nhìn này, các phân tử cũng là “nguyên tử”.
97. It is being suggested that atoms are of a generally spherical nature. DK offer distinctions now and then, for different atoms are somewhat differently ‘shaped’, but over-all, they are spherical.
97. Ở đây đang gợi ý rằng các nguyên tử có bản chất nhìn chung là hình cầu. Chân sư DK đôi khi đưa ra những phân biệt, vì các nguyên tử khác nhau có “hình dạng” hơi khác nhau, nhưng nhìn tổng thể, chúng là hình cầu.
98. Planets and suns, we must by now realize, are spherical atoms.
98. Đến lúc này, hẳn chúng ta phải nhận ra rằng các hành tinh và các mặt trời là những nguyên tử hình cầu.
b. All atoms or spheres upon the astral and mental planes.
b. Mọi nguyên tử hay khối cầu trên cõi cảm dục và cõi trí.
99. The astral and mental planes are also atomic in nature. The nature of these subtler atoms can be studied in the book Occult Chemistry or in the Theosophical texts of Jinarajadasa.
99. Cõi cảm dục và cõi trí cũng có bản chất nguyên tử. Bản chất của các nguyên tử vi tế hơn này có thể được nghiên cứu trong sách Occult Chemistry hoặc trong các văn bản Thông Thiên Học của Jinarajadasa.
c. The human being in physical incarnation.
c. Con người trong lâm phàm hồng trần.
100. The human being in physical incarnation is considered an atom. This type of human atom (as we learn below) is distinct from the causal body of man which is also considered an atom.
100. Con người trong lâm phàm hồng trần được xem là một nguyên tử. Loại nguyên tử nhân loại này (như chúng ta sẽ thấy bên dưới) khác với thể nguyên nhân của con người, vốn cũng được xem là một nguyên tử.
d. The causal body of man on its own plane.
d. Thể nguyên nhân của con người trên cõi riêng của nó.
101. Usually the human unit as a whole is considered an atom—especially when comparisons are drawn between it and the Heavenly Man or Grand Heavenly Man.
101. Thông thường, toàn bộ đơn vị nhân loại được xem là một nguyên tử—đặc biệt khi có sự so sánh giữa nó với Đấng Thiên Nhân hay Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.
102. In this enumeration, the human atom is divided into two atoms—one related to the personality sphere, the other to the sphere of the Ego on the higher mental plane.
102. Trong sự liệt kê này, nguyên tử nhân loại được chia thành hai nguyên tử—một liên hệ với khối cầu phàm ngã, nguyên tử kia liên hệ với khối cầu của chân ngã trên Cõi thượng trí.
103. The astral, mental spheres are part of the human atom. Is there, strictly speaking a ‘personality sphere’. One might think so, although it is never portrayed in the usual diagrams. As for the etheric body, it is not a sphere per se, and of course, the physical body is not (yet) a sphere.
103. Các khối cầu cảm dục, trí tuệ là một phần của nguyên tử nhân loại. Nói một cách nghiêm ngặt, có một “khối cầu phàm ngã” chăng? Người ta có thể nghĩ là có, mặc dù nó không bao giờ được mô tả trong các sơ đồ thông thường. Còn đối với thể dĩ thái, bản thân nó không phải là một khối cầu, và dĩ nhiên, thể xác (chưa) phải là một khối cầu.
e. All planes as entified spheres.
e. Mọi cõi như những khối cầu được phú linh.
104. These “entified spheres” are ensouled by Raja Deva Lords. Sub-planes are also entified spheres, though lesser in scope. Sub-planes are ensouled by deva entities who may be considered aspects of a Raja Deva Lord.
104. Những “khối cầu được phú linh” này được phú linh bởi các Raja Deva Lords. Các cõi phụ cũng là những khối cầu được phú linh, dù nhỏ hơn về phạm vi. Các cõi phụ được phú linh bởi các thực thể thiên thần có thể được xem là các phương diện của một Raja Deva Lord.
f. All planets, chains and globes within the solar system.
f. Mọi hành tinh, dãy và bầu hành tinh trong hệ mặt trời.
105. In this case the term “planets” does not refer only to the globe level—especially to the dense physical globe of the Earth-scheme as sometimes the term does.
105. Trong trường hợp này, thuật ngữ “hành tinh” không chỉ nói đến cấp độ bầu hành tinh—đặc biệt là bầu hồng trần đậm đặc của hệ hành tinh Địa Cầu như đôi khi thuật ngữ này vẫn được dùng.
106. Rather the term “planets” seems to relate to entire planetary schemes.
106. Đúng hơn, thuật ngữ “hành tinh” dường như liên hệ với các hệ hành tinh trọn vẹn.
107. In short, all the three major aspects of planetary schemes are as atoms.
107. Tóm lại, cả ba phương diện chính của các hệ hành tinh đều như những nguyên tử.
g. All monads on their own plane, whether human monads or Heavenly Men.
g. Mọi chân thần trên cõi riêng của chúng, dù là chân thần nhân loại hay các Đấng Thiên Nhân.
108. This may come as a new idea—that Monads are as atoms.
108. Đây có thể là một ý tưởng mới—rằng các Chân thần là như những nguyên tử.
109. We see now that the human unit has been divided into three parts—personality, soul and Monad and each of these parts is to be considered as an atom.
109. Giờ đây chúng ta thấy rằng đơn vị nhân loại đã được chia thành ba phần—phàm ngã, linh hồn và chân thần, và mỗi phần trong số này đều được xem như một nguyên tử.
110. Perhaps it is the Monad in its sheath that is to be considered the atom. The Monad, per se, is essential being and should not be considered atomic in the spherical sense.
110. Có lẽ chính Chân thần trong vỏ của nó mới được xem là nguyên tử. Bản thân Chân thần là bản thể cốt yếu và không nên được xem là có tính nguyên tử theo nghĩa hình cầu.
h. The solar Ring-Pass-Not, the aggregate of all lesser atoms.
h. Vòng-giới-hạn thái dương, tổng thể của mọi nguyên tử nhỏ hơn.
111. We are by now familiar with the idea that the solar system as the etheric- physical expression of the Solar Logos is to be considered as the macrocosmic atom in relation to the minute atom, man.
111. Đến nay chúng ta đã quen thuộc với ý tưởng rằng hệ mặt trời như biểu hiện dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế phải được xem là nguyên tử đại thiên địa trong tương quan với nguyên tử nhỏ bé là con người.
112. This enumeration of atoms is one of the most complete in the book, transcending in scope the usual mention of but four types of atoms, as follows:
112. Sự liệt kê các nguyên tử này là một trong những sự liệt kê đầy đủ nhất trong sách, vượt xa về phạm vi so với sự đề cập thông thường chỉ đến bốn loại nguyên tử như sau:
a. The atom of matter/substance
a. Nguyên tử của vật chất/chất liệu
b. Man as an atom
b. Con người như một nguyên tử
c. A Planetary Logos or Heavenly Man as an atom
c. Một Hành Tinh Thượng Đế hay Đấng Thiên Nhân như một nguyên tử
d. A Solar Logos as an atom.
d. Một Thái dương Thượng đế như một nguyên tử.
In all these atoms, stupendous or minute, microcosmic or macrocosmic, the central life corresponds to the positive charge of electrical force predicated by science, whether it is the life of a cosmic Entity such as a solar Logos, or the tiny elemental life within a physical atom.
Trong tất cả những nguyên tử này, vĩ đại hay cực nhỏ, tiểu thiên địa hay đại thiên địa, Sự sống trung tâm tương ứng với điện tích dương của mãnh lực điện mà khoa học giả định, dù đó là sự sống của một Thực Thể vũ trụ như một Thái dương Thượng đế, hay sự sống hành khí nhỏ bé bên trong một nguyên tử hồng trần.
113. The “positive charge of electrical force” within an atom of matter-substance is a proton.
113. “Điện tích dương của mãnh lực điện” bên trong một nguyên tử vật chất-chất liệu là một proton.
114. It is interesting to consider the positive life at the heart of a Solar Logos as a kind of ‘solar proton’ and the tiny elemental life within the physical atom equally as a proton.
114. Thật thú vị khi xem xét sự sống dương ở tim của một Thái dương Thượng đế như một loại “proton thái dương” và sự sống hành khí nhỏ bé trong nguyên tử hồng trần cũng tương tự như một proton.
115. Shall we consider the essential Monad as a proton as well?
115. Chúng ta có nên xem Chân thần cốt yếu cũng như một proton không?
116. And when the Monad, itself, is being considered as an atom, what shall we find at its core that shall be considered as a proton? Surely there is a central life at the heart of the monadic vehicle which is the true Monad.
116. Và khi chính Chân thần được xem như một nguyên tử, chúng ta sẽ tìm thấy điều gì ở lõi của nó để được xem như một proton? Chắc chắn có một sự sống trung tâm ở tim của vận cụ chân thần, vốn là Chân thần đích thực.
117. We are faced with the issue of whether we shall differentiate pure being from a positive charge of electrical force, or whether that positive charge is really an emanation of pure being. The idea is that there is a point in the center of the triangle, and three types of expression—positive, negative and equilibrised.
117. Chúng ta đối diện với vấn đề liệu chúng ta có nên phân biệt bản thể thuần tuý với một điện tích dương của mãnh lực điện hay không, hay liệu điện tích dương đó thực sự là một phát xạ của bản thể thuần tuý. Ý tưởng là có một điểm ở trung tâm của tam giác, và ba loại biểu hiện—dương, âm và cân bằng.
118. We might say that the positive charge is the emanation most representative of pure or essential being, just as atma is the principle most representative of the nature of the Monad.
118. Chúng ta có thể nói rằng điện tích dương là phát xạ tiêu biểu nhất cho bản thể thuần tuý hay cốt yếu, cũng như atma là nguyên khí tiêu biểu nhất cho bản chất của Chân thần.
The lesser atoms which revolve round their positive centre, and which are at present termed electrons by science,
Các nguyên tử nhỏ hơn quay quanh trung tâm dương của chúng, và hiện nay được khoa học gọi là electron,
119. Will such lives be called something else as science develops and pays more attention to occult hypotheses?
119. Liệu những sự sống như thế rồi sẽ được gọi bằng một tên khác khi khoa học phát triển và chú ý nhiều hơn đến các giả thuyết huyền bí học chăng?
120. In any case, given the generalizing offered by Master DK, the electron as well is to be considered a kind of atom.
120. Dù sao đi nữa, theo sự khái quát hoá do Chân sư DK đưa ra, electron cũng phải được xem là một loại nguyên tử.
are the negative aspect, and this is true not only of the atom on the physical plane, but of the human atoms, held to their central attractive point, a Heavenly Man, or the [Page 478] atomic forms which in their aggregate form the recognised solar system.
là phương diện âm, và điều này đúng không chỉ đối với nguyên tử trên cõi hồng trần, mà còn đối với các nguyên tử nhân loại, được giữ vào điểm hấp dẫn trung tâm của chúng là một Đấng Thiên Nhân, hay các [Page 478]hình tướng nguyên tử mà trong tổng thể của chúng tạo thành hệ mặt trời được công nhận.
121. DK is extending the analogy, helping us discern not only the positive aspect at the center of any atom but the negative aspects also.
121. Chân sư DK đang mở rộng phép loại suy, giúp chúng ta phân biện không chỉ phương diện dương ở trung tâm của bất kỳ nguyên tử nào mà cả các phương diện âm nữa.
122. Just as atoms of substance have, in electrons, examples of the “negative aspect”, so Heavenly Men have in human atoms, an example of the negative aspect. Human beings are as electrons to the Planetary Logoi. This seems to be the implication expressed in the section above.
122. Cũng như các nguyên tử của chất liệu có, trong các electron, những ví dụ về “phương diện âm”, thì các Đấng Thiên Nhân có, trong các nguyên tử nhân loại, một ví dụ về phương diện âm. Con người như những electron đối với các Hành Tinh Thượng Đế. Dường như đó là hàm ý được diễn đạt trong đoạn trên.
123. If human beings are to be considered electrons in relation to a Heavenly Man (though the scale does seem rather too large), what is the implication of the fact that human beings (as Monads) go to the constitution of certain chakras in the Heavenly Man? Are these chakras, in some respect, atomic, composed as they are of many lesser atoms called human Monads?
123. Nếu con người được xem là các electron trong tương quan với một Đấng Thiên Nhân (mặc dù quy mô dường như quá lớn), thì hàm ý của sự kiện rằng con người (như các Chân thần) đi vào cấu tạo của một số luân xa trong Đấng Thiên Nhân là gì? Có phải các luân xa này, trong một phương diện nào đó, có tính nguyên tử, vì chúng được cấu thành bởi nhiều nguyên tử nhỏ hơn gọi là các Chân thần nhân loại?
124. In other discussions human beings in relation to a Planetary Logos are seen as “cells” and not electrons.
124. Trong những bàn luận khác, con người trong tương quan với một Hành Tinh Thượng Đế được xem là “tế bào” chứ không phải electron.
125. We are also given a hint about what types of forms are to be considered electrons in relation to a Solar Logos. Clearly planetary schemes are too large to be considered as electrons in relation to a Solar Logos.
125. Chúng ta cũng được cho một gợi ý về những loại hình tướng nào được xem là electron trong tương quan với một Thái dương Thượng đế. Rõ ràng các hệ hành tinh quá lớn để được xem là electron trong tương quan với một Thái dương Thượng đế.
126. Certain atomic forms (in aggregate) are to be considered as electrons to the Solar Logos.
126. Một số hình tướng nguyên tử nào đó (trong tổng thể) được xem là các electron đối với Thái dương Thượng đế.
127. If man is as an electron to the Planetary Logos, are aggregates of men (in different ashramic or chakric configurations, to be considered as electrons to the Solar Logos?
127. Nếu con người như một electron đối với Hành Tinh Thượng Đế, thì các tập hợp người (trong những cấu hình ashram hay luân xa khác nhau) có được xem là các electron đối với Thái dương Thượng đế không?
All forms are built up in an analogous manner and the only difference consists—as the text-books teach—in the arrangement and the number of the electrons.57
Mọi hình tướng đều được xây dựng theo một cách tương tự và sự khác biệt duy nhất nằm ở—như các sách giáo khoa dạy—sự sắp xếp và số lượng các electron.57
128. DK is hinting at the fundamental similarity of all forms, differentiated only by the arrangement and number of electrons in relation to the positive nucleus.
128. Chân sư DK đang gợi ý về sự tương đồng căn bản của mọi hình tướng, chỉ được phân biệt bởi sự sắp xếp và số lượng electron trong tương quan với hạt nhân dương.
129. Are we being told of the ways that one Planetary Logos differs from another? In the “arrangement and the number of electrons”? Human beings, let us remember, are as electrons to a Planetary Logos and they may be differently arranged (in groupings) within different planetary schemes.
129. Có phải chúng ta đang được cho biết những cách mà Hành Tinh Thượng Đế này khác với Hành Tinh Thượng Đế khác? Trong “sự sắp xếp và số lượng các electron” chăng? Xin nhớ rằng con người như các electron đối với một Hành Tinh Thượng Đế và họ có thể được sắp xếp khác nhau (thành các nhóm) trong các hệ hành tinh khác nhau.
130. What may be considered as electrons in relation to the human being? The elemental lives which compose the various lunar vehicles? There are too few lunar lords for them to be considered as electrons to the positive nucleus of the human being.
130. Điều gì có thể được xem là các electron trong tương quan với con người? Các sự sống hành khí cấu thành các vận cụ nguyệt tinh khác nhau chăng? Có quá ít nguyệt tinh quân để chúng được xem là các electron đối với hạt nhân dương của con người.
131. Perhaps, the answer is simple. The atom of substance-matter may be considered ‘electronic’ in relation to a human being. The scale comparing atoms to human being and human beings to a Heavenly Man or Planetary Logos does not match. The analogy would come closer if cells within the body of a human being were to be considered as electrons in relation to that human being. Still, there are too many cells.
131. Có lẽ câu trả lời là đơn giản. Nguyên tử của chất liệu-vật chất có thể được xem là “điện tử” trong tương quan với con người. Quy mô so sánh các nguyên tử với con người và con người với một Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng Đế không tương ứng. Phép loại suy sẽ gần hơn nếu các tế bào trong thân thể của con người được xem là các electron trong tương quan với con người đó. Tuy nhiên, vẫn có quá nhiều tế bào.
The electron itself will eventually be found to be an elemental, tiny life.
Bản thân electron cuối cùng sẽ được phát hiện là một hành khí, một sự sống nhỏ bé.
132. This is an important and fascinating thought. We remember that the positive life at the heart of the atom is also an elemental life.
132. Đây là một tư tưởng quan trọng và hấp dẫn. Chúng ta nhớ rằng sự sống dương ở tim của nguyên tử cũng là một sự sống hành khí.
133. All tiny lives are really one Life. We are led to consider how the One may be divided into the Many, and yet remain the One. The phrase, ‘articulated presences of the One at different levels of intensity’.
133. Mọi sự sống nhỏ bé thực sự là một Sự Sống. Chúng ta được dẫn đến việc xem xét làm thế nào Đấng Duy Nhất có thể được phân chia thành Nhiều, mà vẫn là Đấng Duy Nhất. Cụm từ là, “những hiện diện được phân tiết của Đấng Duy Nhất ở các cấp độ cường độ khác nhau”.
FOOTNOTE 57: Atom and Electron: See Consciousness of the Atom, page 17-22.
CHÚ THÍCH 57: Nguyên tử và Electron: Xem Consciousness of the Atom, trang 17-22.
The second point I seek to make now is: Radiation is transmutation in process of accomplishment.
Điểm thứ hai mà tôi muốn nêu ra lúc này là: Phóng xạ là sự chuyển hoá trong tiến trình được hoàn thành.
134. This is an entirely new and occultly progressive way of thinking about radiation.
134. Đây là một cách hoàn toàn mới và tiến bộ về mặt huyền bí học để suy nghĩ về phóng xạ.
135. Transmutation is “the passage across from one state of being to another through the agency of fire” and radiation is evidence that this transmutation is in process.
135. Chuyển hoá là “sự đi qua từ trạng thái hiện hữu này sang trạng thái hiện hữu khác qua tác nhân của lửa” và phóng xạ là bằng chứng rằng sự chuyển hoá này đang trong tiến trình.
136. As aspirants and disciples (for we are both), we should be in the midst of one or other stage of the transmutative process and thus, in some measure, I lives should be radiant or at least, radiating.
136. Là những người chí nguyện và đệ tử (vì chúng ta là cả hai), chúng ta nên đang ở giữa giai đoạn này hay giai đoạn khác của tiến trình chuyển hoá và vì vậy, ở một mức độ nào đó, đời sống của tôi phải rạng ngời hoặc ít nhất là đang toả chiếu.
Transmutation being the liberation of the essence in order that it may seek a new centre, the process may be recognised as radioactivity technically understood and applied to all atomic bodies without exception.
Vì chuyển hoá là sự giải thoát tinh chất để nó có thể tìm kiếm một trung tâm mới, nên tiến trình này có thể được nhận biết như tính phóng xạ được hiểu theo nghĩa kỹ thuật và được áp dụng cho mọi thể nguyên tử không ngoại lệ.
137. This is a higher definition of transmutation than that which suggests the elevation of the quality of matter in any vehicle. There is elevation of frequency and hence of quality, but the purpose of the transmutative elevation is liberation.
137. Đây là một định nghĩa cao hơn về sự chuyển hoá so với định nghĩa gợi ý việc nâng cao phẩm tính của vật chất trong bất kỳ vận cụ nào. Có sự nâng cao tần số và do đó nâng cao phẩm tính, nhưng mục đích của sự nâng cao chuyển hoá là sự giải thoát.
138. Usually transmutation is considered as a process preliminary to transformation and transfiguration. In this context, transmutation leads directly to liberation of the volatile essence.
138. Thông thường, sự chuyển hoá được xem là một tiến trình sơ khởi dẫn đến sự chuyển đổi và Biến hình. Trong ngữ cảnh này, sự chuyển hoá dẫn trực tiếp đến sự giải thoát tinh chất linh động.
139. Every time we are able to identify the presence of radioactivity, we recognize that a transmutative process is underway.
139. Mỗi khi chúng ta có thể nhận ra sự hiện diện của tính phóng xạ, chúng ta nhận biết rằng một tiến trình chuyển hoá đang diễn ra.
140. From this perspective, the destruction of the causal body and the liberation of its volatile essence into the spiritual triad is a process of transmutation.
140. Từ góc nhìn này, sự hủy diệt thể nguyên nhân và sự giải thoát tinh chất linh động của nó vào Tam nguyên tinh thần là một tiến trình chuyển hoá.
That science has but recently become aware of radium (an example of the process of transmutation) is but the fault of science.
Việc khoa học chỉ mới gần đây nhận biết được radium (một ví dụ về tiến trình chuyển hoá) chỉ là lỗi của khoa học mà thôi.
141. This is a curious statement indicating that science may have unnecessarily followed false tracks or refused to follow evident hints in a proper manner.
141. Đây là một phát biểu kỳ lạ, cho thấy rằng khoa học có thể đã không cần thiết đi theo những lối sai lạc hoặc từ chối theo đuổi những gợi ý hiển nhiên một cách đúng đắn.
142. We may presume that radioactive atoms are atoms of higher development than those which are not (yet) radioactive.
142. Chúng ta có thể giả định rằng các nguyên tử phóng xạ là những nguyên tử có mức phát triển cao hơn những nguyên tử chưa phóng xạ.
143. This, of course, is true of human beings: ‘radioactive’ human beings are more highly developed than those who are not yet ‘radioactive’
143. Dĩ nhiên, điều này cũng đúng với con người: những con người “phóng xạ” phát triển cao hơn những người chưa “phóng xạ”.
As this is more comprehended it will be found that all radiations, such as magnetism or psychic exhalation, are but the transmuting process proceeding on a large scale.
Khi điều này được thấu hiểu nhiều hơn, người ta sẽ thấy rằng mọi bức xạ, như từ điện hay sự toả ra thông linh, chỉ là tiến trình chuyển hoá đang diễn ra trên quy mô lớn.
144. DK has raised the concept of radiation to the psychic realm
144. Chân sư DK đã nâng khái niệm bức xạ lên cõi thông linh.
a. Magnetism is a form of radiation
a. Từ điện là một hình thức bức xạ.
b. Psychic exhalation is a form of radiation
b. Sự toả ra thông linh là một hình thức bức xạ.
145. When magnetism appears through association with electricity, is a form of radiation and hence transmutation in process?
145. Khi từ điện xuất hiện qua sự kết hợp với điện, phải chăng đó là một hình thức bức xạ và do đó là sự chuyển hoá đang diễn ra?
146. The term “large scale” is interesting. Is this suggesting that when magnetism and psychic exhalation are detected, transmutation is proceeding on a larger scale than in relation to the more etheric-physical radiations.
146. Cụm từ “quy mô lớn” thật đáng chú ý. Phải chăng điều này gợi ý rằng khi từ điện và sự toả ra thông linh được phát hiện, sự chuyển hoá đang diễn ra trên quy mô lớn hơn so với các bức xạ dĩ thái-hồng trần hơn?
The point to be grasped here is that the transmuting process, when effective, is superficially the result of outside factors.
Điểm cần nắm bắt ở đây là tiến trình chuyển hoá, khi hữu hiệu, bề ngoài là kết quả của các yếu tố bên ngoài.
147. DK is suggesting the inner causes of the transmutative process. Outer causes may be contributory but they do not cause the onset of the process.
147. Chân sư DK đang gợi ý về các nguyên nhân bên trong của tiến trình chuyển hoá. Các nguyên nhân bên ngoài có thể góp phần, nhưng chúng không gây ra sự khởi phát của tiến trình này.
Basically it is the result of the inner positive nucleus of force or life reaching such a terrific rate of vibration, that it eventually scatters the electrons or negative points which compose its sphere of influence, and scatters them to such a distance that the Law of Repulsion dominates.
Về căn bản, đó là kết quả của việc hạt nhân dương bên trong của mãnh lực hay sự sống đạt đến một tốc độ rung động mãnh liệt đến mức cuối cùng nó làm phân tán các electron hay các điểm âm cấu thành khối cầu ảnh hưởng của nó, và phân tán chúng ra xa đến mức Định luật Đẩy Lùi chi phối.
148. This is perhaps DK’s clearest presentation of the cause of the transmutative process.
148. Đây có lẽ là cách trình bày rõ ràng nhất của Chân sư DK về nguyên nhân của tiến trình chuyển hoá.
149. From one perspective, the inner positive nucleus of force may be considered the "Jewel in the Lotus". When it reaches the requisite intensity of vibration it will shatter the causal body (or the correspondence to the causal body) in which it is confined.
149. Từ một góc nhìn, hạt nhân dương bên trong của mãnh lực có thể được xem là “Viên Ngọc trong Hoa Sen”. Khi nó đạt đến cường độ rung động cần thiết, nó sẽ phá vỡ thể nguyên nhân (hay sự tương ứng với thể nguyên nhân) trong đó nó bị giam giữ.
150. We find, therefore, that the liberative climax of the transmutative process is related to the Law of Repulsion. It must not be forgotten that the repulsion is part of the Law of Attraction (and Repulsion), and hence transmutation has an intimate association with this second cosmic law.
150. Vì vậy, chúng ta thấy rằng cao điểm giải thoát của tiến trình chuyển hoá có liên hệ với Định luật Đẩy Lùi. Không được quên rằng sự đẩy lùi là một phần của Định luật Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi), và do đó sự chuyển hoá có liên hệ mật thiết với định luật vũ trụ thứ hai này.
151. That which is scattered, we must remember, was once attracted.
151. Chúng ta phải nhớ rằng điều bị phân tán đã từng được hấp dẫn.
152. We note that the “inner positive nucleus” is a something capable of vibration. We may gather, then, that it is substantial as is not Spirit per se. If we think deeply, I think we shall agree, that Spirit, per se, cannot vibrate. This is to be pondered.
152. Chúng ta lưu ý rằng “hạt nhân dương bên trong” là một cái gì đó có khả năng rung động. Vậy thì, chúng ta có thể suy ra rằng nó là có chất liệu chứ không phải là Tinh thần chính nó. Nếu suy nghĩ sâu sắc, tôi nghĩ chúng ta sẽ đồng ý rằng Tinh thần, chính nó, không thể rung động. Điều này cần được suy gẫm.
153. Shall man, serving as an electron to a Heavenly Man or Planetary Logos be scattered to a distance? Interestingly, we are passing through a minor fourth initiation on within this fourth chain of the Earth-scheme. The fourth initiation contains destructive processes in which scattering and dispersion are to be expected.
153. Phải chăng con người, khi phục vụ như một electron đối với một Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng Đế, sẽ bị phân tán ra xa? Điều thú vị là chúng ta đang đi qua một lần điểm đạo thứ tư nhỏ bên trong dãy thứ tư này của hệ hành tinh Địa Cầu. Lần điểm đạo thứ tư bao hàm các tiến trình hủy diệt, trong đó sự phân tán và phân tỏa là điều có thể chờ đợi.
They are then no more attracted to their original centre but seek another.
Khi đó chúng không còn bị hấp dẫn về trung tâm nguyên thủy của mình nữa mà tìm kiếm một trung tâm khác.
154. The other centre to be sought is usually of a higher nature than the center to which the “negative points” were once attracted and from which they are scattered in the transmutative process.
154. Trung tâm khác cần được tìm kiếm thường có bản chất cao hơn trung tâm mà các “điểm âm” đã từng bị hấp dẫn đến và từ đó chúng bị phân tán trong tiến trình chuyển hoá.
155. We can understand that, in the case of man, the "Jewel in the Lotus" engineers the rising of the volatile life at the center of the Egoic Lotus into the spiritual triad.
155. Chúng ta có thể hiểu rằng, trong trường hợp con người, “Viên Ngọc trong Hoa Sen” điều động sự thăng lên của sự sống linh động tại trung tâm của Hoa Sen Chân Ngã vào Tam nguyên tinh thần.
156. From a still higher perspective, at the destruction of the Temple of Ezekiel on the monadic plane, the volatile essence lies at the very center of the Monad and may be presumed to seek a relationship not with the Heavenly Man Who held the Monad as an electron, but with the Solar Logos to which the liberated Monad may now become ‘electronic’.
156. Từ một góc nhìn còn cao hơn nữa, khi Đền thờ Ezekiel bị hủy diệt trên cõi chân thần, tinh chất linh động nằm ngay tại trung tâm của Chân thần và có thể được giả định là sẽ tìm kiếm một mối liên hệ không phải với Đấng Thiên Nhân đã giữ Chân thần như một electron, mà với Thái dương Thượng đế mà Chân thần được giải thoát giờ đây có thể trở nên ‘điện tử’ đối với Ngài.
157. Will this development arise as our Planetary Logos takes his scheme-wide fourth initiation (which is distinct from the fourth initiation processes now occurring through the fourth chain)?
157. Phải chăng sự phát triển này sẽ xuất hiện khi Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta thực hiện lần điểm đạo thứ tư trên toàn hệ hành tinh của Ngài (khác với các tiến trình lần điểm đạo thứ tư hiện đang xảy ra qua dãy thứ tư)?
The atomic sphere, if I might so express it, dissipates, the electrons come under the Law of Repulsion, and the central essence escapes and seeks a new sphere, occultly understood.
Khối cầu nguyên tử, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, tan biến, các electron chịu dưới Định luật Đẩy Lùi, và tinh chất trung tâm thoát ra và tìm kiếm một khối cầu mới, theo nghĩa huyền bí.
158. Whether the central essence in the case of man is the life at the heart of the Egoic Lotus or the life at the heart of the Monad, an ‘escape’ is engineered.
158. Dù tinh chất trung tâm trong trường hợp con người là sự sống nơi tim của Hoa Sen Chân Ngã hay sự sống nơi tim của Chân thần, một sự ‘thoát ra’ đều được điều động.
159. The “new sphere” for the life at the heart of the Egoic Lotus is the spiritual triad; the “new sphere” for the escaping life at the heart of the Monad may well be the solar logoic sphere of which that sphere called the logoic plane is a part. The Solar Logos is especially expressive through the logoic plane just as the Heavenly Men are expressive through the monadic plane.
159. “Khối cầu mới” đối với sự sống nơi tim của Hoa Sen Chân Ngã là Tam nguyên tinh thần; “khối cầu mới” đối với sự sống đang thoát ra nơi tim của Chân thần rất có thể là khối cầu logoi thái dương mà khối cầu gọi là cõi logoi là một phần của nó. Thái dương Thượng đế biểu lộ đặc biệt qua cõi logoi cũng như các Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua cõi chân thần.
160. One may wonder what happens to ‘man-the-electron’ when the central life of his Planetary Logos is seeking liberation through transmutative radiation. To what advanced “Reservoir of Life” will ‘man-repulsed’ return? Will it be a solar reservoir?
160. Người ta có thể tự hỏi điều gì xảy ra với ‘con người-electron’ khi sự sống trung tâm của Hành Tinh Thượng Đế của y đang tìm kiếm sự giải thoát qua bức xạ chuyển hoá. ‘Con người-bị-đẩy-lùi’ sẽ trở về “Kho Chứa Sự Sống” cao cấp nào? Phải chăng đó sẽ là một kho chứa thái dương?
161. The phrase “seeks a new sphere” must always be applied to processes of liberation. The “new sphere” will always differ according to the unit of life achieving liberation. No liberation within Cosmos is an ultimate liberation. Only the liberation of the Volatile Essence which informs the entire Cosmos is an ultimate liberation—yet infinitudinously practiced.
161. Cụm từ “tìm kiếm một khối cầu mới” phải luôn luôn được áp dụng cho các tiến trình giải thoát. “Khối cầu mới” sẽ luôn khác nhau tùy theo đơn vị sự sống đạt được giải thoát. Không có sự giải thoát nào trong Vũ trụ là sự giải thoát tối hậu. Chỉ sự giải thoát của Tinh Chất Linh Động đang phú linh toàn thể Vũ trụ mới là sự giải thoát tối hậu—nhưng lại được thực hành một cách vô hạn.
We must remember always that all within the solar system is dual, and is in itself both negative and positive: positive as regards its own form, but negative as regards its greater sphere.
Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng mọi sự trong hệ mặt trời đều là nhị nguyên, và tự nó vừa âm vừa dương: dương đối với hình tướng riêng của nó, nhưng âm đối với khối cầu lớn hơn của nó.
162. The life at the heart of any atom is positive as regards the lesser lives which have been gathered into the atom, but negative to that greater life to which it is as an electron.
162. Sự sống nơi tim của bất kỳ nguyên tử nào là dương đối với các sự sống nhỏ hơn đã được tập hợp vào nguyên tử ấy, nhưng lại âm đối với sự sống lớn hơn mà nó là như một electron đối với sự sống đó.
163. To what greater sphere is man negative: to the life of the Heavenly Man we are old. Later He will become negative to the Solar Logos. And later still…?
163. Con người âm đối với khối cầu lớn hơn nào? Đối với sự sống của Đấng Thiên Nhân, như chúng ta đã biết. Về sau Ngài sẽ trở nên âm đối với Thái dương Thượng đế. Và còn về sau nữa…?
164. Every unit of life, therefore, has both a positive and negative polarity.
164. Vì vậy, mọi đơn vị sự sống đều có cả cực tính dương lẫn âm.
165. From a practical view point, we must be aware of those lives whom we can assist and those greater Lives from whom we must seek assistance.
165. Từ quan điểm thực tiễn, chúng ta phải ý thức về những sự sống mà chúng ta có thể trợ giúp và những Sự Sống lớn hơn mà từ Các Ngài chúng ta phải tìm kiếm sự trợ giúp.
Every atom therefore is [Page 479] both positive and negative,—it is an electron as well as an atom.
Vì vậy, mọi nguyên tử đều là [Page 479] cả dương lẫn âm,—nó vừa là một electron vừa là một nguyên tử.
166. This is succinctly put and tremendously important if we are to grasp the constant relativity of Master DK’s presentation of the Ageless Wisdom.
166. Điều này được nói ra thật súc tích và vô cùng quan trọng nếu chúng ta muốn nắm được tính tương đối không ngừng trong cách trình bày Minh Triết Ngàn Đời của Chân sư DK.
167. When it comes to the greater Lives, it is of great interest to determine those still greater Lives to which they are as electrons. We cannot say that a Planetary Logos and His scheme are as an electron to a Solar Logos. To which Being, therefore, is a Planetary Logos as an electron? Much understanding of ‘occult scope’ will be necessary to solve such as puzzle.
167. Khi nói đến các Sự Sống lớn hơn, điều rất đáng quan tâm là xác định những Sự Sống còn lớn hơn nữa mà đối với Các Ngài, các Sự Sống lớn hơn kia là như những electron. Chúng ta không thể nói rằng một Hành Tinh Thượng Đế và hệ hành tinh của Ngài là như một electron đối với một Thái dương Thượng đế. Vậy thì, đối với Hữu thể nào một Hành Tinh Thượng Đế là như một electron? Cần rất nhiều sự thấu hiểu về ‘phạm vi huyền bí’ để giải được loại câu đố như thế.
168. Perhaps some work with those books which illustrate the universe from the perspective of “the powers of ten” will be illuminative in this regard.
168. Có lẽ một số công trình với những sách minh họa vũ trụ từ góc nhìn của “lũy thừa của mười” sẽ soi sáng về phương diện này.
169. Yet, given our rather sense-bound and materialistic perspective, many “rungs” on “Jacobs Ladder” are uncognized by our consciousness.
169. Tuy nhiên, với góc nhìn khá bị ràng buộc bởi giác quan và duy vật của chúng ta, nhiều “nấc thang” trên “Chiếc Thang của Jacob” vẫn chưa được tâm thức chúng ta nhận biết.
Therefore, the process of transmutation is dual and necessitates a preliminary stage of application of external factors, a fanning and care and development of the inner positive nucleus,
Vì vậy, tiến trình chuyển hoá là nhị phân và đòi hỏi một giai đoạn sơ khởi áp dụng các yếu tố bên ngoài, một sự quạt bùng cùng sự chăm sóc và phát triển hạt nhân dương bên trong,
170. When the word “fanning” is used we are reminded of the manner in which the Solar Angels fanned into a blaze the latent mentality of animal man (a mentality centered around the functioning of the mental unit upon the fourth sub-plane of the systemic mental plane).
170. Khi từ “quạt bùng” được dùng, chúng ta được nhắc nhớ đến cách mà các Thái dương Thiên Thần đã quạt bùng thành ngọn lửa trí tuệ tiềm ẩn của người thú (một trí tuệ tập trung quanh hoạt động của đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí hệ thống).
171. The relevant analogy can be seen in the use of kindling wood to make possible the burning of great logs.
171. Sự tương đồng thích hợp có thể thấy trong việc dùng củi mồi để làm cho những khúc gỗ lớn có thể cháy được.
172. The care of the inner positive nucleus is engineered by the third aspect of divinity through the application of fire by friction.
172. Sự chăm sóc hạt nhân dương bên trong được điều động bởi phương diện thứ ba của thiên tính qua việc áp dụng Lửa ma sát.
173. When we work to assist others in their transmutative process, we shall inevitably be considered ‘external agents’. The inner nucleus cannot be compelled. No matter how relatively subjective the assistance we may offer, compared to the interiority of the inner nucleus, such assistance remains external.
173. Khi chúng ta làm việc để trợ giúp người khác trong tiến trình chuyển hoá của họ, chắc chắn chúng ta sẽ được xem là những ‘tác nhân bên ngoài’. Hạt nhân bên trong không thể bị cưỡng bách. Dù sự trợ giúp chúng ta có thể cống hiến có tương đối chủ quan đến đâu, so với tính nội tại của hạt nhân bên trong, sự trợ giúp ấy vẫn là bên ngoài.
174. The stage related to the section immediately above may be alchemically expressed as follows:
174. Giai đoạn liên hệ với phần ngay trên có thể được diễn tả theo thuật luyện kim như sau:
First moisture, slow and all enveloping;
Trước hết là độ ẩm, chậm rãi và bao trùm khắp nơi;
a period of incubation or of the systematic feeding of the inner flame, and an increase of voltage.
một thời kỳ ấp ủ hay nuôi dưỡng có hệ thống ngọn lửa bên trong, và sự gia tăng điện thế.
175. If we go back to an analysis of the alchemical process we shall see these stages represented.
175. Nếu quay lại phân tích tiến trình luyện kim, chúng ta sẽ thấy các giai đoạn này được biểu hiện.
176. The stage of “incubation or of…systematic feeding of the inner plane” represented immediately above may be expressed as follows:
176. Giai đoạn “ấp ủ hay…nuôi dưỡng có hệ thống ngọn lửa bên trong” được trình bày ngay trên có thể được diễn tả như sau:
then heat with ever-growing warmth and fierce intensity;
rồi đến nhiệt với hơi ấm ngày càng tăng và cường độ mãnh liệt;
There is next a secondary stage wherein the external factors do not count so much, and wherein the inner centre of energy in the atom may be left to do its own work.
Tiếp theo là một giai đoạn thứ yếu, trong đó các yếu tố bên ngoài không còn quan trọng nhiều nữa, và trong đó trung tâm năng lượng bên trong của nguyên tử có thể được để cho tự làm công việc của nó.
177. This is the stage of autonomous soul development.
177. Đây là giai đoạn phát triển linh hồn tự chủ.
178. We all know (as regards our students) there is a time when they no longer need constant attention and supervision and in which they can be left to their own devices with no fear of lapse or deviation. DK and other Masters are looking towards us to become spiritually Self-reliant. In such a case, we are an atom in whom the “inner centre of energy” may be “left to do its own work”.
178. Tất cả chúng ta đều biết (đối với các đạo sinh của mình) rằng có một thời điểm khi họ không còn cần sự chú ý và giám sát liên tục nữa, và có thể được để cho tự xoay xở mà không sợ sa sút hay lệch hướng. Chân sư DK và các Chân sư khác đang hướng về chúng ta để trở nên tự lực về mặt tinh thần. Trong trường hợp như vậy, chúng ta là một nguyên tử mà trong đó “trung tâm năng lượng bên trong” có thể được “để cho tự làm công việc của nó”.
179. The stage represented by this section of text may be expressed as follows, involving the earlier and later stages of soul development.
179. Giai đoạn được phần văn bản này biểu hiện có thể được diễn tả như sau, bao gồm các giai đoạn sớm hơn và muộn hơn của sự phát triển linh hồn.
then force that presses, drives and concentrates. Thus is radiance produced; thus the exudation; thus mutation; thus change of form.
rồi đến mãnh lực thúc ép, đẩy mạnh và tập trung. Nhờ đó bức xạ được tạo ra; nhờ đó có sự toát ra; nhờ đó có sự biến dị; nhờ đó có sự thay đổi hình tướng.
180. Progressive human beings find themselves at this secondary stage of the alchemical process. The outer stimulation has done its work and their inner soul essence has ‘caught fire’. They now progress as a result of their own, inherent motivation, driven by their own fire.
180. Những con người tiến bộ dần dần thấy mình ở giai đoạn thứ yếu này của tiến trình luyện kim. Sự kích thích bên ngoài đã hoàn thành công việc của nó và tinh chất linh hồn bên trong của họ đã ‘bắt lửa’. Giờ đây họ tiến bộ do động lực vốn có của chính mình, được thúc đẩy bởi chính ngọn lửa của họ.
These factors may be applied equally to all atoms; to the mineral atoms which have occupied the attention of alchemists so much, to the atom, called man who pursues the same general procedure being governed by the same laws; and to all greater atoms, such as a Heavenly Man or a solar Logos.
Những yếu tố này có thể được áp dụng đồng đều cho mọi nguyên tử; cho các nguyên tử khoáng vật vốn đã chiếm nhiều sự chú ý của các nhà luyện kim, cho nguyên tử gọi là con người, kẻ theo đuổi cùng một thủ tục tổng quát dưới sự chi phối của cùng những định luật; và cho mọi nguyên tử lớn hơn, như một Đấng Thiên Nhân hay một Thái dương Thượng đế.
181. The parallel between all atoms holds good. The specifics of the parallel processes must be identified and comparison carefully made.
181. Sự song hành giữa mọi nguyên tử đều đúng. Những chi tiết đặc thù của các tiến trình song hành phải được nhận diện và sự so sánh phải được thực hiện cẩn thận.
182. We understand the extraordinary extent to which DK perceives Cosmos analogically. Certainly the second ray is at work, and the fourth (which like the second is an ‘analogical’ ray).
182. Chúng ta hiểu mức độ phi thường mà Chân sư DK nhận thức Vũ trụ theo định luật tương đồng. Chắc chắn cung hai đang hoạt động, và cả cung bốn nữa (vốn cũng như cung hai là một cung ‘tương đồng’).
183. Below we have a detailed elucidation of the alchemical process—a process to be applied to all manner of atoms.
183. Dưới đây chúng ta có một sự khai minh chi tiết về tiến trình luyện kim—một tiến trình được áp dụng cho mọi loại nguyên tử.
The process might be tabulated as follows:
Tiến trình có thể được lập bảng như sau:
1. The life takes primitive form.
1. Sự sống mang lấy hình tướng sơ khai.
184. We are dealing with the very earliest stage of the incarnational process.
184. Chúng ta đang bàn đến giai đoạn sớm nhất của tiến trình nhập thể.
2. The form is subjected to outer heat.
2. Hình tướng chịu tác động của nhiệt bên ngoài.
185. This is the work of fire by friction—the application of external heat intended to stimulate the activation of an internal process.
185. Đây là công việc của Lửa ma sát—sự áp dụng nhiệt bên ngoài nhằm kích thích sự hoạt hóa của một tiến trình bên trong.
3. Heat, playing on the form, produces exudation and the factor of moisture supervenes.
3. Nhiệt tác động lên hình tướng tạo ra sự toát ra và yếu tố độ ẩm xuất hiện.
186. The Agnichaitans are involved in the production of this protective and nurturing moisture.
186. Các Agnichaitan có liên quan đến việc tạo ra độ ẩm bảo vệ và nuôi dưỡng này.
187. We infer that the heat of the Agnichaitans (a form of external heat) produces exudation (understood as the process of stimulating desire and later of purifying that desire). Desire arises in relation to the objects of sense; but sweat also arises in the processes of living and sweat is purification.
187. Chúng ta suy ra rằng nhiệt của các Agnichaitan (một hình thức nhiệt bên ngoài) tạo ra sự toát ra (được hiểu là tiến trình kích thích dục vọng và về sau thanh lọc dục vọng ấy). Dục vọng phát sinh trong liên hệ với các đối tượng của giác quan; nhưng mồ hôi cũng phát sinh trong các tiến trình sống, và mồ hôi là sự thanh lọc.
188. A lower type of fusion process is in progress. Moisture enables the process of fusion.
188. Một loại tiến trình dung hợp thấp hơn đang diễn ra. Độ ẩm làm cho tiến trình dung hợp trở nên khả hữu.
4. Moisture and heat perform their function in unison.
4. Độ ẩm và nhiệt thực hiện chức năng của chúng trong sự hợp nhất.
189. An integration process is suggested within the atom concerned.
189. Một tiến trình tích hợp được gợi ý bên trong nguyên tử liên hệ.
190. Moisture contributes to fusion; it contributes to cohesion.
190. Độ ẩm góp phần vào sự dung hợp; nó góp phần vào sự kết dính.
5. Elemental lives tend all lesser lives.
5. Các sự sống hành khí chăm nom mọi sự sống nhỏ hơn.
191. There are lives lesser in comparison with elemental lives.
191. Có những sự sống nhỏ hơn so với các sự sống hành khí.
192. A miniature hierarchy is set up with lives tending lives immediately inferior in status.
192. Một hệ thống thứ bậc thu nhỏ được thiết lập với các sự sống chăm nom những sự sống thấp hơn ngay dưới chúng về địa vị.
193. All beings (whether conscious of the nature of their activity or not) both “look above and help below”.
193. Mọi hữu thể (dù có ý thức về bản chất hoạt động của mình hay không) đều vừa “ngước lên trên vừa giúp xuống dưới”.
6. The devas co-operate under rule, order and sound.
6. Các thiên thần hợp tác dưới quy luật, trật tự và âm thanh.
194. Presumably, the devas organize the and promote the correct activation of the elemental lives.
194. Có lẽ các thiên thần tổ chức và thúc đẩy sự hoạt hóa đúng đắn của các sự sống hành khí.
195. We see that we are entering an area in which the alchemical process touches upon the magical process.
195. Chúng ta thấy rằng mình đang đi vào một lĩnh vực trong đó tiến trình luyện kim chạm đến tiến trình huyền thuật.
7. The internal heat of the atom increases.
7. Nhiệt bên trong của nguyên tử gia tăng.
196. This signifies a growing state of aspiration—the mounting of the inner fire fanned by external agencies of heat.
196. Điều này biểu thị một trạng thái khát vọng ngày càng tăng—sự dâng lên của ngọn lửa bên trong được quạt bùng bởi các tác nhân nhiệt bên ngoài.
197. To make a true aspirant it takes much external application of vivifying heat. At length, the inner flame reaches a sufficient degree of intensity to characterize the one (a true aspirant) who will aspire even without receiving constant external stimulation.
197. Để tạo nên một người chí nguyện chân chính cần rất nhiều sự áp dụng từ bên ngoài của nhiệt tiếp sinh lực. Cuối cùng, ngọn lửa bên trong đạt đến một mức cường độ đủ để đặc trưng cho người ấy (một người chí nguyện chân chính), người sẽ khát vọng ngay cả khi không còn nhận được sự kích thích liên tục từ bên ngoài.
8. The heat of the atom mounts rapidly and surpasses the external heat of its environing.
8. Nhiệt của nguyên tử tăng nhanh và vượt quá nhiệt bên ngoài của môi trường quanh nó.
198. The atom becomes positive to its external environment. The atom is not longer reliant upon the external environment for stimulation.
198. Nguyên tử trở nên dương đối với môi trường bên ngoài của nó. Nguyên tử không còn lệ thuộc vào môi trường bên ngoài để được kích thích nữa.
199. It is the central heat of the atom which is growing in intensity.
199. Chính nhiệt trung tâm của nguyên tử đang tăng cường độ.
200. The second aspect of divinity overcomes (in intensity) the third, and eventually the first aspect overcomes both the second and third.
200. Phương diện thứ hai của thiên tính vượt thắng (về cường độ) phương diện thứ ba, và cuối cùng phương diện thứ nhất vượt thắng cả phương diện thứ hai lẫn thứ ba.
9. The atom radiates.
9. Nguyên tử bức xạ.
201. The positive nucleus is now tremendously stimulated and is exerting upon the once-attracted lesser lives the energy of repulsion.
201. Hạt nhân dương giờ đây được kích thích mạnh mẽ và đang tác động lên những sự sống nhỏ hơn từng bị hấp dẫn bằng năng lượng của sự đẩy lùi.
10. The spheroidal wall of the atom is eventually broken down.
10. Vách hình cầu của nguyên tử cuối cùng bị phá vỡ.
202. The nucleus of the atom is breaking out of its confining sphere. The electrons are dispersed.
202. Hạt nhân của nguyên tử đang bứt ra khỏi khối cầu giam hãm nó. Các electron bị phân tán.
203. From the human perspective, the causal body is being shattered (in one of seven ways—cf. physical plane. 15-18 of LOM).
203. Từ góc nhìn con người, thể nguyên nhân đang bị phá vỡ (theo một trong bảy cách—xem cõi hồng trần. 15-18 của LOM).
204. The “Temple” (which is always occultly spherical) is in process of destruction.
204. “Đền thờ” (vốn luôn luôn có dạng cầu theo nghĩa huyền bí) đang trong tiến trình bị hủy diệt.
205. Many temples appear to be destroyed ‘from without’, but a temple is intended to be destroyed from within; it no longer serves to express the intensifying inner life at its center.
205. Nhiều đền thờ dường như bị hủy diệt ‘từ bên ngoài’, nhưng một đền thờ được định là phải bị hủy diệt từ bên trong; nó không còn phục vụ để biểu lộ sự sống ngày càng tăng cường tại trung tâm của nó nữa.
11. The electrons or negative units seek a new centre.
11. Các electron hay các đơn vị âm tìm kiếm một trung tâm mới.
206. The once magnetized electrons seek to affiliate themselves with a new center (probably of greater potency) or return to the appropriate “Reservoir of Life”
206. Những electron từng bị từ hóa tìm cách liên kết với một trung tâm mới (có lẽ có năng lực lớn hơn) hoặc trở về “Kho Chứa Sự Sống” thích hợp.
12. The central life escapes to merge with its polar opposite becoming itself negative and seeking the positive.
12. Sự sống trung tâm thoát ra để hòa nhập với cực đối nghịch của nó, tự nó trở nên âm và tìm kiếm cái dương.
207. The central life escapes into a still greater ring-pass-not than the one through which it previously expressed.
207. Sự sống trung tâm thoát vào một vòng-giới-hạn còn lớn hơn vòng mà trước đây nó đã biểu lộ qua đó.
208. The central life had been positive to its environing ‘electrons’ but now (negative) seeks a positive center.
208. Sự sống trung tâm từng là dương đối với các ‘electron’ quanh nó nhưng giờ đây (âm) lại tìm kiếm một trung tâm dương.
209. From the human perspective the spiritual triad is positive to the causal body.
209. Từ góc nhìn con người, Tam nguyên tinh thần là dương đối với thể nguyên nhân.
13. This is occultly obscuration, the going-out of the light temporarily, until it again emerges and blazes forth.
13. Theo nghĩa huyền bí, đây là sự che mờ, ánh sáng tắt đi tạm thời, cho đến khi nó lại xuất hiện và bùng cháy rực rỡ.
210. The ring-pass-not from which escape has been made now falls into darkness and dispersion.
210. Vòng-giới-hạn mà từ đó sự thoát ra đã được thực hiện giờ đây rơi vào bóng tối và sự phân tán.
211. The light of the escaping life no longer shines forth brilliantly. Its light is absorbed into the new processes of the greater ring-pass-not into which it has entered.
211. Ánh sáng của sự sống đang thoát ra không còn chiếu rạng rỡ nữa. Ánh sáng của nó được hấp thụ vào những tiến trình mới của vòng-giới-hạn lớn hơn mà nó đã đi vào.
212. Consulting earlier descriptions of the later stages of the process we have the following:
212. Tham khảo những mô tả trước đó về các giai đoạn sau của tiến trình, chúng ta có điều sau đây:
Finally liberation, escape of the volatile essence, and the gathering of the residue back to primordial stuff.
Sau cùng là sự giải thoát, sự thoát ra của tinh chất linh động, và sự thu hồi phần cặn trở về chất liệu nguyên sơ.
More detailed elucidation will not be possible here nor advisable:
Ở đây, sự khai minh chi tiết hơn sẽ không thể thực hiện được và cũng không nên:
213. The elucidation has been sufficiently detailed to inform those who are ready to be informed.
213. Sự khai minh đã đủ chi tiết để thông tin cho những ai sẵn sàng được thông tin.
214. Some brief parallels have been suggested linking the alchemical process to the process of initiation. The analogy can be carried forward in greater detail and illumination received.
214. Một vài sự song hành ngắn gọn đã được gợi ra để nối kết tiến trình luyện kim với tiến trình điểm đạo. Sự tương đồng ấy có thể được triển khai chi tiết hơn và tiếp nhận sự soi sáng.
It will be apparent, therefore, that it should be possible, [Page 480] from the standpoint of each kingdom of nature, to aid the transmuting process of all lesser atoms.
Do đó, hiển nhiên là từ quan điểm của mỗi giới trong thiên nhiên, phải có thể trợ giúp tiến trình chuyển hoá của mọi nguyên tử nhỏ hơn. [Page 480]