Trích nội dung chương
52. We are learning that the “being” of the members of the mineral kingdom may be traced to a “peculiar group of devas”. 52. Chúng ta đang học rằng “hữu thể” của các thành viên trong giới kim thạch có thể được truy nguyên về một “nhóm thiên thần đặc thù”.
52. We are learning that the “being” of the members of the mineral kingdom may be traced to a “peculiar group of devas”.
52. Chúng ta đang học rằng “hữu thể” của các thành viên trong giới kim thạch có thể được truy nguyên về một “nhóm thiên thần đặc thù”.
53. May we trace this group of devas to the seventh manifested Creative Hierarchy? There is a distinct difference between a kingdom and a Creative Hierarchy, but here there does seem to be a potential relationship.
53. Liệu chúng ta có thể truy nguyên nhóm thiên thần này về Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện thứ bảy chăng? Có một khác biệt rõ rệt giữa một giới và một Huyền Giai Sáng Tạo, nhưng ở đây dường như quả có một mối liên hệ tiềm tàng.
b. The next transition stage ahead into the vegetable kingdom, or the occult effect of the second kingdom on the first.
b. Giai đoạn chuyển tiếp kế tiếp phía trước vào giới thực vật, hay tác động huyền bí của giới thứ hai lên giới thứ nhất.
54. In all matters of transmutation, we are not dealing simply with an upward movement disconnected from the lives of the succeeding kingdom into which entry is being made.
54. Trong mọi vấn đề chuyển hoá, chúng ta không chỉ xử lý một chuyển động đi lên tách rời khỏi các sự sống của giới kế tiếp mà sự gia nhập vào đó đang được thực hiện.
55. Transmutation, we are learning, requires an interplay between the members of the immediately superior kingdom and those within the kingdom undergoing transmutation (or transmutative elevation).
55. Chúng ta đang học rằng chuyển hoá đòi hỏi một sự tương tác giữa các thành viên của giới cao hơn liền kề và những thành viên bên trong giới đang trải qua sự chuyển hoá (hay sự nâng cao có tính chuyển hoá).
56. If we think of the human being (a member of the fourth kingdom of nature) we realize how important in humanity’s transmutation process is the intervention of members of the fifth kingdom of nature and their growing interplay with members of the fourth kingdom.
56. Nếu nghĩ đến con người (một thành viên của giới thứ tư của thiên nhiên), chúng ta nhận ra sự can thiệp của các thành viên của giới thứ năm của thiên nhiên và sự tương tác ngày càng tăng của họ với các thành viên của giới thứ tư quan trọng biết bao trong tiến trình chuyển hoá của nhân loại.
Postulate IV. All deva essences and builders on the physical plane are peculiarly dangerous to man, for they work on the etheric levels and are—as I have earlier pointed out—the transmitters of prana, or the vital, animating substance, and hence they set loose upon the ignorant and the unwary, fiery essence which burns and destroys.
Định đề IV. Mọi tinh túy thiên thần và các đấng kiến tạo trên cõi hồng trần đều đặc biệt nguy hiểm đối với con người, vì chúng hoạt động trên các cấp độ dĩ thái và—như tôi đã chỉ ra trước đây—là những kẻ truyền dẫn prana, hay chất liệu sinh động, tiếp sinh lực, và do đó chúng giải phóng lên kẻ vô minh và bất cẩn tinh túy lửa đốt cháy và hủy diệt.
57. We have learned of the importance of various etheric webs which prevent the premature release of higher energies within the etheric body (energies potentially destructive in the extreme to the physical body). The protective structures within the etheric body are threatened by unwise exposure to the deva essences which work through the etheric-physical plane. The study of white magic warns of the potency of these deva essences and builders.
57. Chúng ta đã học về tầm quan trọng của nhiều màng lưới dĩ thái khác nhau, vốn ngăn cản sự giải phóng quá sớm các năng lượng cao hơn bên trong thể dĩ thái (những năng lượng có thể cực kỳ hủy diệt đối với thể xác). Các cấu trúc bảo vệ bên trong thể dĩ thái bị đe dọa bởi sự phơi mở thiếu khôn ngoan trước các tinh túy thiên thần hoạt động qua cõi dĩ thái-hồng trần. Việc nghiên cứu Chánh Thuật cảnh báo về uy lực của những tinh túy thiên thần và các đấng kiến tạo này.
58. The process of development is wisely supervised from within by a human being’s Solar Angel and eventually, by the Master, Himself.
58. Tiến trình phát triển được giám sát một cách khôn ngoan từ bên trong bởi Thái dương Thiên Thần của một con người và cuối cùng bởi chính Chân sư.
59. Some human beings will, however, seek unwarranted exposure to the devas of the lower eighteen sub-planes and, in so doing, will pay the price of their ignorance and folly.
59. Tuy nhiên, một số người sẽ tìm kiếm sự phơi mở không chính đáng trước các thiên thần của mười tám cõi phụ thấp hơn và khi làm như vậy, sẽ phải trả giá cho sự vô minh và ngu xuẩn của mình.
60. Along the Great Path, natural safeguards are everywhere to be found. Some ‘students’, however, step out of the circle of protection, preferring the illusion of speed to surety. Speed may be achieved, but it must be accompanied by knowledge, or else its pursuit (on the Path of Occultism) will end in disaster.
60. Dọc theo Đại Đạo, những biện pháp bảo vệ tự nhiên có thể được tìm thấy ở khắp nơi. Tuy nhiên, một số “đạo sinh” bước ra khỏi vòng tròn bảo vệ, ưa thích ảo tưởng về tốc độ hơn là sự chắc chắn. Tốc độ có thể đạt được, nhưng nó phải đi kèm với tri thức, nếu không việc theo đuổi nó (trên Con Đường Huyền Bí Học) sẽ kết thúc trong thảm họa.
61. This is where a sense of humility and right proportion are of such value.
61. Đây là nơi mà ý thức khiêm tốn và ý thức về tỉ lệ đúng đắn có giá trị lớn lao đến thế.
Postulate V. The devas do not work as individualised conscious units through self-initiating purposes as does a man, a Heavenly Man or a solar Logos (viewed as Egos) but they work in groups subject to:
Định đề V. Các thiên thần không hoạt động như những đơn vị tâm thức biệt ngã hóa riêng lẻ thông qua những mục đích do tự mình khởi xướng như con người, một Đấng Thiên Nhân hay một Thái dương Thượng đế (được nhìn như các Chân ngã), mà chúng hoạt động theo nhóm, chịu sự chi phối của:
a. Inherent impulse, or latent active intelligence.
a. Xung lực cố hữu, hay trí thông minh hoạt động tiềm ẩn.
b. Orders issued by the greater Builders.
b. Những mệnh lệnh do các đấng đại kiến tạo ban ra.
c. Ritual, or compulsion induced through colour and sound. [Page 490]
c. Nghi lễ, hay sự cưỡng bách được gây ra thông qua màu sắc và âm thanh. [Page 490]
62. The devas here discussed are those who embody the lower eighteen sub-planes.
62. Các thiên thần được bàn đến ở đây là những vị hiện thân cho mười tám cõi phụ thấp hơn.
63. The greater devas (for instance Raja Deva Lords) have individualized and can work as “individualised conscious units through self-initiating purposes”. Of course, in the higher reaches of his nature, man too (as a triad-soul) works in groups, and this must be said also of the great devas—but such groups necessarily consist of individualized units vast in their consciousness.
63. Các thiên thần lớn hơn (chẳng hạn các Raja Deva Lord) đã biệt ngã hóa và có thể hoạt động như “những đơn vị tâm thức biệt ngã hóa thông qua những mục đích do tự mình khởi xướng”. Dĩ nhiên, trong những tầng cao hơn của bản chất mình, con người cũng (với tư cách linh hồn-tam nguyên tinh thần) hoạt động theo nhóm, và điều này cũng phải được nói về các đại thiên thần—nhưng những nhóm như thế tất yếu gồm những đơn vị biệt ngã hóa có tâm thức rộng lớn.
64. How do the lower devas work:
64. Các thiên thần thấp hơn hoạt động như thế nào:
a. Through “inherent impulse or latent active intelligence”. The inherent impulse of these deva units is intelligent. However, though they act with “active intelligence”, that intelligence is not conscious.
a. Thông qua “xung lực cố hữu hay trí thông minh hoạt động tiềm ẩn”. Xung lực cố hữu của những đơn vị thiên thần này là thông minh. Tuy nhiên, dù chúng hành động với “trí thông minh hoạt động”, trí thông minh ấy không có ý thức.
b. The lesser devas work under “orders”. Again, since they are not self-conscious entities, they do not respond to these orders consciously, but they do respond. We do not know the manner in which these “orders” are delivered, but we are assured that they are delivered by fully self-conscious beings—for instance the Raja Deva Lords.
b. Các thiên thần nhỏ hơn hoạt động dưới “mệnh lệnh”. Một lần nữa, vì chúng không phải là những thực thể ngã thức, chúng không đáp ứng những mệnh lệnh này một cách có ý thức, nhưng chúng quả thật có đáp ứng. Chúng ta không biết cách thức mà những “mệnh lệnh” này được truyền đạt, nhưng chúng ta được bảo đảm rằng chúng được truyền đạt bởi những hữu thể hoàn toàn ngã thức—chẳng hạn các Raja Deva Lord.
c. Through “ritual, or compulsion induced through colour and sound”. We have long been familiar with the concept that the devas respond to color and sound, but it is truly fascinating to consider colour and sound as compelling forces—i.e., as forces which compel the devas to respond in a certain manner. The lesser devas have no choice but to respond to the patterning frequencies set up by colour and sound.
c. Thông qua “nghi lễ, hay sự cưỡng bách được gây ra thông qua màu sắc và âm thanh”. Từ lâu chúng ta đã quen thuộc với quan niệm rằng các thiên thần đáp ứng với màu sắc và âm thanh, nhưng quả thật rất hấp dẫn khi xem màu sắc và âm thanh như những mãnh lực cưỡng bách—tức là như những mãnh lực buộc các thiên thần phải đáp ứng theo một cách thức nhất định. Các thiên thần nhỏ hơn không có lựa chọn nào ngoài việc đáp ứng với những tần số tạo khuôn do màu sắc và âm thanh thiết lập.
64. We human beings have to remember the automatic response of the lesser devas to the impulses we set in motion. Their responses become our responsibility. That which they ‘build-by-becoming’ (i.e., by ‘self-shaping’) is often caused by human action, desire and intent.
64. Chúng ta, những con người, phải nhớ đến sự đáp ứng tự động của các thiên thần nhỏ hơn đối với những xung lực mà chúng ta khởi động. Những đáp ứng của chúng trở thành trách nhiệm của chúng ta. Điều mà chúng “xây-dựng-bằng-cách-trở-thành” (tức bằng cách “tự tạo hình”) thường do hành động, dục vọng và ý định của con người gây ra.
When these facts are remembered and considered, some comprehension of the place the devas play in transmutation may be achieved.
Khi những sự kiện này được ghi nhớ và suy xét, có thể đạt được một phần thấu hiểu về vai trò mà các thiên thần đảm nhiệm trong sự chuyển hoá.
65. Devas may be considered as ‘fiery essences’, and transmutation is accomplished through the agency of fire.
65. Các thiên thần có thể được xem như những “tinh túy lửa”, và sự chuyển hoá được hoàn thành thông qua tác nhân của lửa.
66. Fire is motion and the devas are activity—intimately associated with the divine aspect of “Active Intelligence”.
66. Lửa là chuyển động và các thiên thần là hoạt động—gắn bó mật thiết với phương diện thiêng liêng của “Trí Thông Minh Hoạt Động”.
67. We may also gather that transmutative processes may be set in motion through the appropriate use of colour and sound—factors which prove compelling to the lesser devic lives.
67. Chúng ta cũng có thể hiểu rằng các tiến trình chuyển hoá có thể được khởi động thông qua việc sử dụng thích đáng màu sắc và âm thanh—những yếu tố tỏ ra cưỡng bách đối với các sự sống thiên thần thấp hơn.
The position that fire occupies in the process is of peculiar interest here, for it brings out clearly the difference of method between the two schools.
Vị trí mà lửa chiếm giữ trong tiến trình này đặc biệt đáng quan tâm ở đây, vì nó làm nổi bật rõ ràng sự khác biệt về phương pháp giữa hai trường phái.
68. We note that the processes here described (one tending towards Good and the other, evil) are called “schools”. By this we are to understand that knowledge, per se, is neutral, and can be used for either good or evil purposes.
68. Chúng ta lưu ý rằng các tiến trình được mô tả ở đây (một nghiêng về Thiện và một nghiêng về ác) được gọi là “trường phái”. Qua đó chúng ta phải hiểu rằng tri thức, chính nó, là trung tính, và có thể được dùng cho những mục đích thiện hoặc ác.
69. The white Brothers know the techniques of the dark ones, for the greater includes the lesser. It cannot be said that the “dark Brothers” (those characterized by what the Tibetan has called “unique blindness”) fully comprehend the techniques of the Members of the Great White Lodge.
69. Các huynh đệ chánh đạo biết các kỹ thuật của những kẻ bóng tối, vì cái lớn hơn bao hàm cái nhỏ hơn. Không thể nói rằng các “huynh đệ bóng tối” (những kẻ được đặc trưng bởi điều mà Chân sư Tây Tạng gọi là “sự mù lòa độc nhất”) hoàn toàn thấu hiểu các kỹ thuật của các Thành Viên của Thánh đoàn.
In the transmutative process as carried on by the Brotherhood, the inner fire which animates the atom, form or man is stimulated, fanned and strengthened till it (through its own internal potency) burns up its sheaths, and escapes by radiation from within its ring-pass-not.
Trong tiến trình chuyển hoá như được Huynh Đệ Đoàn tiến hành, lửa bên trong làm sinh động nguyên tử, hình tướng hay con người được kích thích, được quạt lên và được tăng cường cho đến khi nó (nhờ chính uy lực nội tại của mình) thiêu rụi các vỏ bọc của nó, và thoát ra bằng bức xạ từ bên trong vòng-giới-hạn của nó.
70. Transmutation is always a ‘change of state’; we are gathering that it need not necessarily be a positive change, for the work of the Dark Brotherhood is also, in a manner of speaking, transmutative.
70. Chuyển hoá luôn luôn là một “sự thay đổi trạng thái”; chúng ta đang hiểu rằng nó không nhất thiết phải là một thay đổi tích cực, vì công việc của Huynh Đệ Đoàn Bóng Tối cũng, theo một nghĩa nào đó, mang tính chuyển hoá.
71. If transmutation is the “passage across from one state of being to another through the agency of fire”, the Dark Brotherhood can, through its methods, produce a “passage across” to a lesser state of being.
71. Nếu chuyển hoá là “sự vượt qua từ trạng thái hiện hữu này sang trạng thái hiện hữu khác thông qua tác nhân của lửa”, thì Huynh Đệ Đoàn Bóng Tối, qua các phương pháp của mình, có thể tạo ra một “sự vượt qua” sang một trạng thái hiện hữu thấp hơn.
72. The “inner fire” referenced in this section is the fire of Spirit or the fire of soul, or of both combined.
72. “Lửa bên trong” được nhắc đến trong phần này là lửa của Tinh thần hay lửa của linh hồn, hoặc của cả hai kết hợp.
73. The Members of the Great White Lodge seek to promote an increase in the “inner potency” of all ‘atoms’ under Their supervision.
73. Các Thành Viên của Thánh đoàn tìm cách thúc đẩy sự gia tăng “uy lực bên trong” của mọi “nguyên tử” dưới sự giám sát của Các Ngài.
74. The Dark Brotherhood robs the inner life of its power, preventing it from achieving the degree of potency necessary for liberation through its own strength.
74. Huynh Đệ Đoàn Bóng Tối cướp đi quyền năng của sự sống bên trong, ngăn cản nó đạt đến mức uy lực cần thiết để được giải thoát bằng chính sức mạnh của mình.
75. We should note the equivalence between “radiation” and escape. Radiatory processes are liberative. Were we to ask the question “How shall I be liberated?”, the proper answer would be, “I, a unit of Divine Life, shall liberate myself through the increasingly potency of my own inner essence/fire”. That I shall be assisted in this by the Great Ones is certain, but the work of liberation is essentially my own.
75. Chúng ta nên lưu ý sự tương đương giữa “bức xạ” và sự thoát ra. Các tiến trình bức xạ có tính giải phóng. Nếu chúng ta đặt câu hỏi “Làm sao tôi sẽ được giải thoát?”, câu trả lời thích đáng sẽ là: “Tôi, một đơn vị của Sự Sống Thiêng liêng, sẽ tự giải thoát mình thông qua uy lực ngày càng tăng của tinh túy/lửa nội tại của chính mình”. Rằng tôi sẽ được Các Đấng Cao Cả trợ giúp trong việc này là điều chắc chắn, nhưng công việc giải thoát, về bản chất cốt yếu, là của chính tôi.
76. What may be the methods by which the “inner fire” is “stimulated, fanned and strengthened”? These are mysteries, but, no doubt, concern in some measure the Rod of Initiation.
76. Những phương pháp nào có thể được dùng để “lửa bên trong” được “kích thích, quạt lên và tăng cường”? Đây là những huyền nhiệm, nhưng hẳn là, ở một mức độ nào đó, có liên quan đến Thần Trượng Điểm đạo.
77. We may also be led to inquire, “Can Spirit strengthen Spirit?” Or is pure Spirit an absolute which cannot be further strengthened? It is possible that what can be strengthened is the influence or impact of Spirit upon matter. Certainly, in the case of any human being, the totality of that which he is as Spirit is not fully released into the vehicles he uses for expression.
77. Chúng ta cũng có thể được dẫn đến chỗ hỏi: “Tinh thần có thể làm mạnh thêm Tinh thần chăng?” Hay Tinh thần thuần túy là một cái tuyệt đối không thể được tăng cường thêm nữa? Có thể điều có thể được tăng cường là ảnh hưởng hay tác động của Tinh thần lên vật chất. Chắc chắn, trong trường hợp của bất kỳ con người nào, toàn thể điều mà y là với tư cách Tinh thần chưa được giải phóng trọn vẹn vào các vận cụ mà y sử dụng để biểu lộ.
This is seen in an interesting way as occurring during the process of the final initiations when the causal body is destroyed by fire. The fire within burns up all else and the electric fire escapes.
Điều này được thấy theo một cách thú vị là xảy ra trong tiến trình của những lần điểm đạo cuối cùng khi thể nguyên nhân bị lửa hủy diệt. Ngọn lửa bên trong thiêu rụi mọi thứ khác và Lửa Điện thoát ra.
78. VSK suggests that this section reminds one of the First Stanza of Dzyan in which the fire “burneth up the whole”.
78. VSK gợi ý rằng phần này làm người ta nhớ đến Bài kệ thứ nhất của Dzyan, trong đó ngọn lửa “thiêu rụi toàn thể”.
79. It is interesting that DK speaks of the “final initiations”, in which the causal body is destroyed by fire. Does He, in fact, look at this destruction as a threefold process beginning with the third initiation and ending with the fifth?
79. Thật thú vị khi Chân sư DK nói về những “lần điểm đạo cuối”, trong đó thể nguyên nhân bị lửa hủy diệt. Thật ra, phải chăng Ngài nhìn sự hủy diệt này như một tiến trình tam phân bắt đầu từ lần điểm đạo thứ ba và kết thúc ở lần điểm đạo thứ năm?
80. The knowledge petals of the causal body are already in process of disintegration at the third degree and the ‘material’ of the causal body is not completely dispersed until the achievement of the fifth degree.
80. Các cánh hoa tri thức của thể nguyên nhân đã ở trong tiến trình tan rã từ cấp độ thứ ba và “chất liệu” của thể nguyên nhân chỉ hoàn toàn phân tán khi đạt đến cấp độ thứ năm.
81. When we say that the “electric fire escapes”, are we saying that electric fire is equivalent to Spirit? Probably, both “Yes” and “No”. Electric fire is the fire closest to Spirit, but Spirit, itself, is pure being, and is, in a way, the synthesis of all the three fires and yet, essentially, more than any one of them.
81. Khi chúng ta nói rằng “Lửa Điện thoát ra”, có phải chúng ta đang nói rằng Lửa Điện tương đương với tinh thần không? Có lẽ, vừa “Có” vừa “Không”. Lửa Điện là ngọn lửa gần với tinh thần nhất, nhưng tinh thần, tự thân, là Bản Thể thuần túy, và theo một cách nào đó, là sự tổng hợp của cả ba ngọn lửa, tuy nhiên về bản chất vẫn hơn bất kỳ ngọn lửa nào trong số đó.
82. We may also question the manner in which electric fire can be (has been) confined, for that which escapes surely has been confined. The confinement would necessarily be voluntary, for that which is confined may be considered a ‘unit of will’ (even though the immersed unit has lost consciousness of its original ‘will-to-immersion[). Through the process by which “all else” becomes increasingly responsive to electric fire (which, at the outset of Spirit’s confinement, it is not), the escape of electric fire becomes possible.
82. Chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi về cách thức mà Lửa Điện có thể bị giam giữ (đã từng bị giam giữ), vì điều gì thoát ra hẳn nhiên đã từng bị giam giữ. Sự giam giữ ấy tất yếu phải là tự nguyện, vì điều bị giam giữ có thể được xem như một “đơn vị ý chí” (dù đơn vị bị dìm ngập ấy đã mất tâm thức về “ý chí-hướng tới-sự-dìm-ngập” nguyên thủy của nó[). Thông qua tiến trình mà “mọi thứ khác” ngày càng trở nên đáp ứng với Lửa Điện (điều mà lúc khởi đầu của sự giam giữ tinh thần, chúng không như vậy), sự thoát ra của Lửa Điện trở nên khả hữu.
83. It is important to realize that that which (apparently) is not Spirit/electric fire becomes only gradually responsive to Spirit/electric fire.
83. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng điều (bề ngoài) không phải là tinh thần/Lửa Điện chỉ trở nên dần dần đáp ứng với tinh thần/Lửa Điện.
The true alchemist therefore in days to come will in every case seek to stimulate the radioactivity of the element or atom with which he is working and will centre his attention upon the positive nucleus.
Vì vậy, nhà huyền thuật chân chính trong những ngày sắp tới trong mọi trường hợp sẽ tìm cách kích thích tính phóng xạ của nguyên tố hay nguyên tử mà y đang làm việc cùng và sẽ tập trung sự chú ý của mình vào hạt nhân dương.
84. The stimulation of radioactivity demands an increased activation of the “positive nucleus”.
84. Sự kích thích tính phóng xạ đòi hỏi sự hoạt hóa gia tăng của “hạt nhân dương”.
85. We can perhaps realize that when attention is successfully given to the Spirit in man (to man-as-Monad) a process of stimulating man’s radioactivity is underway.
85. Có lẽ chúng ta có thể chứng nghiệm rằng khi sự chú ý được hướng thành công đến tinh thần trong con người (đến con người-như-chân thần), một tiến trình kích thích tính phóng xạ của con người đang diễn ra.
By increasing its vibration, its activity, or its positivity, he will bring about the desired end.
Bằng cách gia tăng rung động, hoạt động hay tính dương của nó, y sẽ mang lại kết quả mong muốn.
86. The “positive nucleus” in man is not only His essential Spirit, but the vehicle most closely associated with and expressive of Monad/Spirit—in this case, his monadic vehicle.
86. “Hạt nhân dương” trong con người không chỉ là tinh thần cốt yếu của Ngài, mà còn là vận cụ gắn bó mật thiết nhất với và biểu lộ chân thần/tinh thần—trong trường hợp này là vận cụ chân thần của y.
87. We note that vibration, activity and positivity are rather equated. We may gather that that which exists in a state of heightened vibratory activity may be considered positive.
87. Chúng ta lưu ý rằng rung động, hoạt động và tính dương phần nào được đồng nhất với nhau. Chúng ta có thể suy ra rằng điều gì tồn tại trong trạng thái hoạt động rung động được nâng cao có thể được xem là dương.
88. Again, we must remind ourselves that Spirit, per se (and considered as pure BEING), cannot vibrate because it is ‘individual’ (i.e., indivisible) and being non-partite cannot ‘move’ in relation to anything else. This, of course, is a great and fundamental mystery to be fathomed, if possible, through philosophy.
88. Một lần nữa, chúng ta phải nhắc mình rằng tinh thần, chính nó (và được xét như BẢN THỂ thuần túy), không thể rung động vì nó là “cá thể” (tức là bất khả phân) và vì không có các phần nên không thể “chuyển động” trong tương quan với bất cứ điều gì khác. Dĩ nhiên, đây là một huyền nhiệm lớn lao và căn bản cần được thấu hiểu, nếu có thể, qua triết học.
89. The sheath of Spirit (i.e., the monadic sheath) can vibrate as can any energy-structure which most intimately surrounds Spirit. We may, for the time being, presume that it is this energy-structure most intimate to Spirit which in increased in vibration, activity or positivity.
89. Vỏ bọc của tinh thần (tức vỏ bọc chân thần) có thể rung động như bất kỳ cấu trúc năng lượng nào bao bọc tinh thần một cách mật thiết nhất. Tạm thời, chúng ta có thể giả định rằng chính cấu trúc năng lượng này gần gũi nhất với tinh thần là điều được gia tăng về rung động, hoạt động hay tính dương.
The Masters do this in connection with the human spirit and do not concern Themselves at all with his 'deva' aspect.
Các Chân sư làm điều này liên hệ với tinh thần nhân loại và hoàn toàn không bận tâm đến phương diện 'thiên thần' của y.
90. This sentence is of profound importance. When we understand the focus of the Masters we are given a hint concerning how we should focus.
90. Câu này có tầm quan trọng sâu xa. Khi chúng ta hiểu tiêu điểm của các Chân sư, chúng ta được trao cho một gợi ý về cách chúng ta nên tập trung.
91. Of course, man has a ‘higher deva aspect’, and any energy-structure which circumscribes immersed Spirit must, in some fundamental sense, be considered devic—though not related to the lower devas.
91. Dĩ nhiên, con người có một phương diện thiên thần ‘cao hơn’, và bất kỳ cấu trúc năng lượng nào bao quanh tinh thần bị dìm ngập đều phải, theo một ý nghĩa căn bản nào đó, được xem là thuộc thiên thần—dù không liên hệ với các thiên thần thấp.
92. We can perhaps begin to see the importance of learning to relate ‘soul-to-soul’ and, eventually, ‘Spirit-to-Spirit’ (though all Spirit(s) are One Spirit).
92. Có lẽ chúng ta có thể bắt đầu thấy tầm quan trọng của việc học cách liên hệ ‘linh hồn với linh hồn’ và cuối cùng là ‘tinh thần với tinh thần’ (dù mọi tinh thần đều là Một Tinh Thần).
The same basic rule will be found to apply in the case of a mineral as well as of a man.
Cùng một quy luật căn bản ấy sẽ được thấy là áp dụng trong trường hợp của một khoáng vật cũng như của một con người.
93. We are being told that all acts of spiritual transmutation depend upon stimulating the inner life or the inner fire—that such acts, essentially, are not a manipulation of the devic life of the being who is to undergo transmutation.
93. Chúng ta đang được cho biết rằng mọi hành vi chuyển hoá tinh thần đều tùy thuộc vào việc kích thích sự sống bên trong hay ngọn lửa bên trong—rằng những hành vi ấy, về bản chất, không phải là sự thao tác sự sống thiên thần của hữu thể sẽ trải qua chuyển hoá.
The process as carried on by the Dark Brotherhood is the reverse of this.
Tiến trình do Huynh đệ Đoàn Bóng tối thực hiện thì ngược lại với điều này.
94. Dark processes are always in reverse when compared to processes tending towards greater light. The so-called “Black Mass” is ‘celebrated’ in reverse of the true mass. What is suggested is the intention to return to the past—the burial of the self in the ‘bygone’.
94. Các tiến trình tối tăm luôn luôn đi ngược khi so với các tiến trình hướng đến ánh sáng lớn hơn. Cái gọi là “Thánh lễ Đen” được ‘cử hành’ theo chiều ngược với thánh lễ chân chính. Điều được gợi ý là ý định quay trở về quá khứ—sự chôn vùi bản ngã trong cái ‘đã qua’.
They centre the attention upon the form, and seek to shatter and break that form, or the combination of atoms, in order to permit the central electric life to escape.
Họ tập trung sự chú ý vào hình tướng, và tìm cách làm vỡ tan và phá hủy hình tướng ấy, hay sự kết hợp của các nguyên tử, để cho phép sự sống điện trung tâm thoát ra.
95. The dark forces also engineer the escape of the “central electric life”, but what is their motive? We can be sure that the escaping life is not allowed to enter a sphere offering greater scope of spiritual expression.
95. Các mãnh lực tối tăm cũng tạo ra sự thoát ra của “sự sống điện trung tâm”, nhưng động cơ của họ là gì? Chúng ta có thể chắc chắn rằng sự sống thoát ra ấy không được phép đi vào một khối cầu đem lại phạm vi lớn hơn cho sự biểu lộ tinh thần.
96. We must remember that the dark brothers are esotericists but not spiritual esotericists.
96. Chúng ta phải nhớ rằng các huynh đệ bóng tối là những nhà bí truyền học nhưng không phải là những nhà bí truyền học tinh thần.
They bring about this result through external agencies
Họ mang lại kết quả này thông qua các tác nhân bên ngoài
97. i.e., “resolvents” and reducing agents. Again, we must learn to discriminate concerning the meaning of the term “external”.
97. tức là các “chất phân giải” và các tác nhân khử. Một lần nữa, chúng ta phải học cách phân biện về ý nghĩa của thuật ngữ “bên ngoài”.
and by availing themselves of the destructive nature of the substance (deva essence) itself.
và bằng cách tận dụng bản chất hủy diệt của chính chất liệu (tinh chất thiên thần) ấy.
98. We may assume that the repelling power necessary to all acts of destruction is inherent in substance or deva essence. The third aspect of divinity, after all, functions under the “Law of Disintegration”.
98. Chúng ta có thể giả định rằng năng lực đẩy lùi cần thiết cho mọi hành vi hủy diệt vốn có sẵn trong chất liệu hay tinh chất thiên thần. Xét cho cùng, phương diện thứ ba của thiên tính vận hành dưới “Định luật Tan Rã”.
99. We can see that the dark brothers are, at root, ‘destroyers’, and that, even when they seem to build it is only for the purpose of an eventual destruction of that which is intended by the Divine Plan.
99. Chúng ta có thể thấy rằng các huynh đệ bóng tối, tận gốc, là những ‘kẻ hủy diệt’, và ngay cả khi họ dường như xây dựng thì cũng chỉ nhằm mục đích cuối cùng là hủy diệt điều được Thiên Cơ dự định.
They burn and destroy the material sheath, seeking to imprison the escaping volatile essence as the form disintegrates.
Họ đốt cháy và hủy diệt vỏ bọc vật chất, tìm cách giam cầm tinh chất dễ bay thoát ra khi hình tướng tan rã.
100. This is the key sentence revealing the motive of the dark brothers. In all acts of true liberation, the volatile essence is set free for greater scope of expression. In the case here described, however, that volatile essence or “central electric life”, is ‘captured’ and imprisoned and, no doubt, brought into servitude and bondage to dark entities, as slavery is the fate that the dark brothers invoke for all human beings other than themselves.
100. Đây là câu then chốt phơi bày động cơ của các huynh đệ bóng tối. Trong mọi hành vi giải thoát chân chính, tinh chất dễ bay được giải phóng để có phạm vi biểu lộ lớn hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp được mô tả ở đây, tinh chất dễ bay ấy hay “sự sống điện trung tâm” bị ‘bắt giữ’ và giam cầm, và hẳn nhiên bị đưa vào tình trạng phục dịch và nô lệ cho các thực thể tối tăm, vì nô lệ chính là số phận mà các huynh đệ bóng tối áp đặt lên mọi con người ngoài chính họ.
101. Since the volatile essence has not been inwardly strengthened by spiritually legitimate processes, it falls an easy prey to those who would bind it.
101. Vì tinh chất dễ bay ấy không được tăng cường từ bên trong bằng các tiến trình hợp pháp về mặt tinh thần, nó dễ dàng trở thành mồi cho những kẻ muốn trói buộc nó.
This hinders the evolutionary plan in the case of the life involved, delays the consummation, interferes with the ordered progress of development, and puts all [Page 491] the factors involved in a bad position.
Điều này cản trở Thiên Cơ tiếnhoá trong trường hợp của sự sống liên hệ, làm trì hoãn sự hoàn tất, cản trở tiến bộ có trật tự của sự phát triển, và đặt tất cả [Page 491] các yếu tố liên hệ vào một vị thế bất lợi.
102. Let us tabulate the ill effects arising from the unspiritual transmutative processes as practiced by the dark ones:
102. Chúng ta hãy lập bảng các hậu quả xấu phát sinh từ những tiến trình chuyển hoá phi tinh thần như được các thế lực tối tăm thực hành:
a. The evolutionary plan for the life involved is hindered
a. Thiên Cơ tiến hoá đối với sự sống liên hệ bị cản trở
b. Consummation is delayed for the life involved. By “consummation” one often means the fourth initiation.
b. Sự hoàn tất bị trì hoãn đối với sự sống liên hệ. “Sự hoàn tất” thường có nghĩa là lần điểm đạo thứ tư.
c. The dark process interferes with the ordered progress of development for the life involved.
c. Tiến trình tối tăm can thiệp vào tiến bộ có trật tự của sự phát triển đối với sự sống liên hệ.
d. All factors are put in a bad position. What is suggested is that there is a ‘right positioning’ which facilitates true liberation or emancipation. In occultism, right positioning in accordance with an appropriate geometry is always required for spiritual achievement. Witness the sacred geometry of the ceremonies of initiation.
d. Mọi yếu tố đều bị đặt vào một vị thế bất lợi. Điều được gợi ý là có một ‘sự định vị đúng đắn’ tạo thuận lợi cho sự giải thoát hay giải phóng chân chính. Trong huyền bí học, sự định vị đúng đắn phù hợp với một hình học thích hợp luôn luôn được đòi hỏi cho thành tựu tinh thần. Hãy xem hình học thiêng liêng của các nghi lễ điểm đạo.
103. We can see that, with justification, we can consider the dark brothers as ‘Lords of Imprisonment’.
103. Chúng ta có thể thấy rằng, một cách chính đáng, chúng ta có thể xem các huynh đệ bóng tối như những ‘Chúa Tể của Sự Giam Cầm’.
The life (or entity) concerned receives a setback, the devas work destructively,
Sự sống (hay thực thể) liên hệ chịu một bước lùi, các thiên thần làm việc một cách hủy diệt,
104. They could work constructively and, thus, under right guidance. Great is our responsibility in the guiding of the unconscious forces of nature.
104. Họ có thể làm việc một cách xây dựng và như vậy dưới sự hướng dẫn đúng đắn. Trách nhiệm của chúng ta trong việc hướng dẫn các mãnh lực vô thức của thiên nhiên thật lớn lao.
and without participation in the purpose of the plan, and the magician is in danger, under the Law of Karma, and through the materialising of his own substance by affinity with the third aspect.
và không có sự tham dự vào mục đích của Thiên Cơ, còn nhà huyền thuật thì lâm nguy, dưới Định luật Nghiệp quả, và thông qua sự hiện hình của chính chất liệu của y do ái lực với phương diện thứ ba.
105. We can see that through the machinations of the dark ones a process of materialising occurs. The lunar nature affiliated with the matter-force of the first solar system becomes ever stronger and more confining.
105. Chúng ta có thể thấy rằng qua những mưu toan của các thế lực tối tăm, một tiến trình hiện hình xảy ra. Bản chất thái âm liên kết với mãnh lực vật chất của hệ mặt trời thứ nhất trở nên ngày càng mạnh hơn và giam hãm hơn.
106. We know that the Law of Karma works out principally through the third aspect of divinity, but the true purpose of this Law is to weaken the hold of the third aspect upon the second and first.
106. Chúng ta biết rằng Định luật Nghiệp quả chủ yếu vận hành qua phương diện thứ ba của thiên tính, nhưng mục đích chân chính của Định luật này là làm suy yếu sự kềm giữ của phương diện thứ ba đối với phương diện thứ hai và thứ nhất.
107. The processes here under discussion reverse the proper procedure and strengthen (in the life of the black magician and in the life of his victim) that which should be transcended.
107. Những tiến trình đang được bàn đến ở đây đảo ngược thủ tục đúng đắn và làm mạnh thêm (trong đời sống của nhà hắc thuật và trong đời sống của nạn nhân của y) điều đáng lẽ phải được vượt qua.
108. We can imagine that by the phrase “the materialising of his own substance” DK is suggesting that the material aspect is densified and, thus, rendered more constraining.
108. Chúng ta có thể hình dung rằng qua cụm từ “sự hiện hình của chính chất liệu của y”, Chân sư DK đang gợi ý rằng phương diện vật chất bị làm cho đậm đặc hơn và do đó trở nên ràng buộc hơn.
109. DK also suggests that the magician who works in this way upon others is laying up great future karma for himself and is imprisoning himself more deeply (even as he attempts to imprison others).
109. Chân sư DK cũng gợi ý rằng nhà huyền thuật làm việc theo cách này trên người khác đang tích lũy nghiệp quả lớn lao cho tương lai của chính mình và đang giam cầm chính mình sâu hơn nữa (ngay cả khi y cố gắng giam cầm người khác).
110. The victim is victimized and the perpetrator is, himself, victimized by his own deviation from the Divine Plan and the Good Law. Both victim and perpetrator are, thereby, the losers.
110. Nạn nhân bị hại và chính thủ phạm cũng bị hại bởi sự lệch hướng của y khỏi Thiên Cơ và Thiện Luật. Do đó, cả nạn nhân lẫn thủ phạm đều là kẻ thua thiệt.
Black magic of this nature creeps into all religions along this very line of the destruction of the form through outer agency, and not through the liberation of the life through inner development and preparedness.
Hắc thuật thuộc loại này len lỏi vào mọi tôn giáo chính theo đường lối hủy diệt hình tướng bằng tác nhân bên ngoài, chứ không phải qua sự giải phóng sự sống bằng sự phát triển và chuẩn bị từ bên trong.
111. The word “creeps” is significant and tells us much about the stealthy way the forces of darkness move into positions of greater control. Interestingly, people who have something weirdly unwholesome or threatening about them are often called “creeps”.
111. Từ “len lỏi” rất có ý nghĩa và cho chúng ta biết nhiều về cách thức lén lút mà các mãnh lực bóng tối tiến vào những vị trí kiểm soát lớn hơn. Thú vị thay, những người có điều gì đó kỳ quái, không lành mạnh hay đe dọa nơi họ thường bị gọi là “creeps”.
112. If we study current religions carefully, we shall see that many of them do not seek to strengthen the inner Sprit-soul, but rather to create a dependency upon outer agencies. These religions thus weaken their followers rendering them increasingly unfit for liberation.
112. Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ các tôn giáo hiện nay, chúng ta sẽ thấy rằng nhiều tôn giáo trong số đó không tìm cách tăng cường tinh thần-linh hồn bên trong, mà đúng hơn là tạo ra sự lệ thuộc vào các tác nhân bên ngoài. Vì vậy, những tôn giáo này làm suy yếu các tín đồ của mình, khiến họ ngày càng không thích hợp cho sự giải thoát.
113. How perversely strange that religion should take its adherents away from Spirit rather than towards it!
113. Thật kỳ lạ một cách lệch lạc biết bao khi tôn giáo lại đưa những người theo mình rời xa tinh thần thay vì hướng về nó!
It produces the evils of Hatha Yoga in India and similar methods as practised in certain religious and occult orders in the Occident also.
Điều này tạo ra những tai hại của Hatha Yoga ở Ấn Độ và những phương pháp tương tự như được thực hành trong một số dòng tu tôn giáo và huyền bí ở phương Tây nữa.
114. In such orders and by such methods the magician (not really a black magician—yet) works upon himself causing only harm instead of the expected empowerment and liberation.
114. Trong những dòng tu như vậy và bằng những phương pháp như vậy, nhà huyền thuật (thực ra chưa phải là nhà hắc thuật—ít nhất là chưa) tác động lên chính mình, chỉ gây hại thay vì đem lại sự tăng quyền năng và giải thoát như mong đợi.
115. These methods do not empower the influence of Sprit through the form. They are outwardly manipulative and, ultimately, spiritually inefficient or worse.
115. Những phương pháp này không tăng quyền năng cho ảnh hưởng của tinh thần xuyên qua hình tướng. Chúng mang tính thao tác từ bên ngoài và rốt cuộc không hiệu quả về mặt tinh thần, hoặc còn tệ hơn thế.
116. These are practices engaged in by those who have forgotten the inner life or who have lost their rapport with it. Over millions of years human consciousness has been to a significant extent materialized (as HPB tells us). The focus of consciousness has become increasingly external and liberation is conceived in external terms.
116. Đây là những thực hành do những người đã quên sự sống bên trong hoặc đã mất sự giao cảm với nó tiến hành. Trong hàng triệu năm, tâm thức nhân loại đã ở một mức độ đáng kể bị vật chất hóa (như HPB nói với chúng ta). Tiêu điểm của tâm thức đã trở nên ngày càng hướng ngoại và sự giải thoát được quan niệm theo những thuật ngữ bên ngoài.
Both work with matter on some plane in the three worlds, and do evil that good may come;
Cả hai đều làm việc với vật chất trên một cõi nào đó trong ba cõi thấp, và làm điều ác để điều thiện có thể đến;
117. DK is speaking of Hatha Yogins and of those in certain religious and occult orders in the West.
117. Chân sư DK đang nói về các Hatha Yogin và những người trong một số dòng tu tôn giáo và huyền bí ở phương Tây.
118. At least the motive of the Hatha Yogins and of those within certain religious and occult orders tends towards the Good (or, at least, towards what they imagine the Good to be). They are ill-advised, however, in their methods.
118. Ít nhất thì động cơ của các Hatha Yogin và của những người trong một số dòng tu tôn giáo và huyền bí có xu hướng hướng đến Điều Thiện (hoặc ít nhất là hướng đến điều họ tưởng tượng là Điều Thiện). Tuy nhiên, họ bị chỉ dẫn sai lầm trong phương pháp của mình.
119. Doing evil, in this respect, must relate to the manipulation of (and thus the strengthening of) the outer form.
119. Trong phương diện này, việc làm điều ác hẳn phải liên hệ đến sự thao tác (và do đó làm mạnh thêm) hình tướng bên ngoài.
120. All such manipulation takes attention away from its intended focus—in the Spirit/soul aspect of man.
120. Mọi sự thao tác như vậy đều kéo sự chú ý ra khỏi tiêu điểm được định sẵn của nó—ở phương diện tinh thần/linh hồn của con người.
121. It is rare that the doing of evil can be long sustained if the objective is the emergence of the Good. In other words, the Laws of Cosmos are not structured in such a manner that “the ends justify the means”.
121. Hiếm khi việc làm điều ác có thể được duy trì lâu dài nếu mục tiêu là sự xuất hiện của Điều Thiện. Nói cách khác, các Định luật của Vũ trụ không được cấu trúc theo cách mà “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.
both control the devas, and attempt to produce specific ends by manipulation of the matter of the form.
cả hai đều kiểm soát các thiên thần, và cố gắng tạo ra những kết quả đặc thù bằng sự thao tác vật chất của hình tướng.
122. We have often been told that the control of the devas is a necessary achievement for all magicians, but the manner of the control must align with spiritually sanctioned methods.
122. Chúng ta thường được bảo rằng việc kiểm soát các thiên thần là một thành tựu cần thiết đối với mọi nhà huyền thuật, nhưng cách thức kiểm soát phải chỉnh hợp với những phương pháp được chuẩn thuận về mặt tinh thần.
123. It is when manipulation of the lower devas is substituted for the emphasis upon inner, subjective development that the difficulty arises.
123. Khó khăn nảy sinh khi sự thao tác các thiên thần thấp được thay thế cho sự nhấn mạnh vào sự phát triển bên trong, chủ quan.
124. All this points to the thought that purely external work is no longer to be considered as spiritual work.
124. Tất cả điều này dẫn đến ý nghĩ rằng công việc thuần túy bên ngoài không còn được xem là công việc tinh thần nữa.
The Hierarchy works with the soul within the form and produces results that are intelligent, self-induced and permanent.
Thánh Đoàn làm việc với linh hồn bên trong hình tướng và tạo ra những kết quả thông minh, tự khởi phát và bền vững.
125. From what is here said, we may gather that the black magician produces results which are unconscious, externally-induced and impermanent.
125. Từ những gì được nói ở đây, chúng ta có thể suy ra rằng nhà hắc thuật tạo ra những kết quả vô thức, bị gây ra từ bên ngoài và vô thường.
126. The Members of the Hierarchy are interested in helping human beings to achieved mastery over the lunar and elemental forces. Facile solutions based upon manipulation and following the “line of least resistance” are understood to be ineffective.
126. Các Thành Viên của Thánh Đoàn quan tâm đến việc giúp con người đạt được sự làm chủ đối với các mãnh lực thái âm và hành khí. Những giải pháp dễ dãi dựa trên sự thao tác và đi theo “con đường ít trở ngại nhất” được hiểu là không hiệu quả.
127. We have seen that the Hierarchy works with both soul and Spirit.
127. Chúng ta đã thấy rằng Thánh Đoàn làm việc với cả linh hồn lẫn tinh thần.
128. Spiritual esotericism demands a keen respect for that in man which is truly internal and essential. The dark forces seek to prevent the centralization of man—his ‘return’ to the factor which is most living within him—i.e., the Spirit, the Center of Being.
128. Huyền bí học tinh thần đòi hỏi một sự tôn trọng sâu sắc đối với điều trong con người thực sự là bên trong và cốt yếu. Các mãnh lực tối tăm tìm cách ngăn cản sự trung tâm hóa của con người—sự ‘trở về’ của y với yếu tố sống động nhất sống động bên trong y—tức là tinh thần, Trung Tâm của Bản Thể.
Wherever attention is centred on the form and not on the Spirit, the tendency is to deva worship, deva contact and black magic, for the form is made of deva substance on all planes.
Bất cứ nơi nào sự chú ý được tập trung vào hình tướng chứ không vào tinh thần, thì xu hướng sẽ là thờ phụng thiên thần, tiếp xúc thiên thần và hắc thuật, vì hình tướng được tạo thành từ chất liệu thiên thần trên mọi cõi.
129. We are reminded that the dark brothers are called “Lords of Form”.
129. Chúng ta được nhắc rằng các huynh đệ bóng tối được gọi là “Chúa Tể của Hình Tướng”.
130. Man proceeds on his evolutionary Path through the destruction of the form and through a series of self-induced, consummating liberations. It is clear that the Lords of Form are doing all they can to ensure that the human Spirit remains confined by form.
130. Con người tiến bước trên Con Đường tiến hoá của mình qua sự hủy diệt hình tướng và qua một chuỗi những giải thoát hoàn tất do chính mình khởi phát. Rõ ràng là các Chúa Tể của Hình Tướng đang làm mọi điều có thể để bảo đảm rằng tinh thần nhân loại vẫn bị hình tướng giam hãm.
131. Some are eager to contact the devas, but only intercourse with the higher devas is allowed. As for “deva worship”, it may seem to some a remote possibility, but it is clear than in Atlantean days, such practices abounded.
131. Một số người háo hức tiếp xúc với các thiên thần, nhưng chỉ sự giao tiếp với các thiên thần cao mới được cho phép. Còn về “thờ phụng thiên thần”, điều đó có thể dường như là một khả năng xa vời đối với một số người, nhưng rõ ràng là trong thời Atlantis, những thực hành như vậy rất phổ biến.
132. We begin to realize, perhaps, how closely related are “deva worship, deva contact and black magic”. We are entering a cycle under the seventh ray in which there will be ready access to certain levels of the deva kingdom. It will also be a period which may well see the revival of certain forms of black (or gray) magic. Deva contact and black magic seem to go hand in hand. Of this probability we should consider ourselves forewarned.
132. Có lẽ chúng ta bắt đầu nhận ra ba điều “thờ phụng thiên thần, tiếp xúc thiên thần và hắc thuật” liên hệ mật thiết với nhau đến mức nào. Chúng ta đang bước vào một chu kỳ dưới cung bảy, trong đó sẽ có sự tiếp cận dễ dàng đến một số cấp độ của giới thiên thần. Đây cũng sẽ là một giai đoạn rất có thể chứng kiến sự phục hưng của một số hình thức hắc thuật (hay huyền thuật xám). Tiếp xúc thiên thần và hắc thuật dường như luôn đi đôi với nhau. Trước khả năng này, chúng ta nên xem mình như đã được cảnh báo trước.
This must be considered well in connection with every form for it holds the key to many mysteries.
Điều này phải được cân nhắc kỹ liên hệ với mọi hình tướng vì nó nắm giữ chìa khóa của nhiều huyền nhiệm.
133. We may gather that there are legitimate and illegitimate ways to deal with ‘atoms’ of various kinds. The way designated by the Divine Plan for this solar system focuses on work with the reality which is interior to every form. This is the truly subjective approach and eschews ancient methods, the usefulness of which is now long past.
133. Chúng ta có thể suy ra rằng có những cách hợp pháp và bất hợp pháp để đề cập đến các ‘nguyên tử’ thuộc nhiều loại khác nhau. Con đường được Thiên Cơ chỉ định cho hệ mặt trời này tập trung vào công việc với thực tại ở bên trong mọi hình tướng. Đây là cách tiếp cận chủ quan đích thực và tránh dùng những phương pháp cổ xưa mà tính hữu dụng của chúng nay đã qua từ lâu.
We have seen how in this question of the transference of the life from form to form, the work proceeds under rule and order, and is effected through the co-operation of the devas in the first instance, and the application of external agents to the atom or form involved, and in the second place (involving the most important and lengthy stage of the procedure) through the subsequent reaction within the atom itself, which produces an intensification of the positive burning centre, and the consequent escape (through radioactivity) of the volatile essence.
Chúng ta đã thấy rằng trong vấn đề chuyển dịch sự sống từ hình tướng này sang hình tướng khác, công việc tiến hành dưới quy luật và trật tự, và được thực hiện qua sự hợp tác của các thiên thần ngay trước hết, và sự áp dụng các tác nhân bên ngoài lên nguyên tử hay hình tướng liên hệ, và ở vị trí thứ hai (bao gồm giai đoạn quan trọng nhất và kéo dài nhất của thủ tục) qua phản ứng tiếp theo bên trong chính nguyên tử, phản ứng này tạo ra sự tăng cường của trung tâm cháy dương, và hệ quả là sự thoát ra (qua tính phóng xạ) của tinh chất dễ bay.
134. Here we have a statement in summary.
134. Ở đây chúng ta có một phát biểu tóm lược.
135. When Master DK speaks of “the cooperation of the devas”, He does not appear to mean conscious cooperation, as the devas involved are not self-conscious entities.
135. Khi Chân sư DK nói về “sự hợp tác của các thiên thần”, dường như Ngài không có ý nói đến sự hợp tác hữu thức, vì các thiên thần liên hệ không phải là những thực thể có ngã thức.
136. Perhaps the word “participation” would be more suitable.
136. Có lẽ từ “sự tham dự” sẽ thích hợp hơn.
137. In this section DK does not seem to differentiate between the approach taken by white or black magicians. Both approaches involve the deva kingdom (though in different ways) and both approaches produce liberation through the destruction of form.
137. Trong phần này, Chân sư DK dường như không phân biệt giữa cách tiếp cận của các nhà huyền thuật chánh đạo hay nhà hắc thuật. Cả hai cách tiếp cận đều liên quan đến giới thiên thần (dù theo những cách khác nhau) và cả hai đều tạo ra sự giải thoát qua sự hủy diệt hình tướng.
138. If anything, He seems to be describing some combination of both methods.
138. Nếu có gì, thì dường như Ngài đang mô tả một sự kết hợp nào đó của cả hai phương pháp.
At all the different stages, the fire elementals perform their part, aided by the fire devas who are the controlling [Page 492] agents.
Ở mọi giai đoạn khác nhau, các hành khí của lửa thực hiện phần việc của chúng, được trợ giúp bởi các thiên thần của lửa là những tác nhân kiểm soát [Page 492].
139. We are presented with a kind of hierarchy. The fire elementals are controlled by fire devas and the fire devas are controlled by the will of the operating magician.
139. Chúng ta được trình bày một loại thứ bậc. Các hành khí của lửa bị các thiên thần của lửa kiểm soát, và các thiên thần của lửa bị ý chí của nhà huyền thuật đang vận hành kiểm soát.
140. In general, we are to consider fire devas as evolutionary lives and fire elementals as lives which are involutionary.
140. Nói chung, chúng ta phải xem các thiên thần của lửa là những sự sống thăng thượng tiến hoá và các hành khí của lửa là những sự sống giáng hạ tiến hoá.
141. None of the members of the two groups here under discussion are yet self-conscious beings.
141. Chưa một thành viên nào của hai nhóm đang được bàn đến ở đây là hữu thể có ngã thức.
142. By “fire devas” DK does not necessarily mean agnichaitans, though certain agnichaitans can rightfully be considered fire devas. Yet there are agnisuryans which are also fire devas and Agnishvattas as well. The hint, of course, is in the word “agni” which means “fire”.
142. Bởi “các thiên thần của lửa”, Chân sư DK không nhất thiết muốn nói đến agnichaitans, dù một số agnichaitans có thể được xem một cách chính đáng là các thiên thần của lửa. Tuy nhiên cũng có các agnisuryans cũng là các thiên thần của lửa, và cả Agnishvattas nữa. Dĩ nhiên, gợi ý nằm trong từ “agni” có nghĩa là “lửa”.
This is so on all the planes which primarily concern us in the three worlds—different groups of devas coming into action according to the nature of the form concerned, and the plane on which the transmutation is to take place.
Điều này đúng trên mọi cõi chủ yếu liên quan đến chúng ta trong ba cõi thấp—những nhóm thiên thần khác nhau đi vào hoạt động tùy theo bản chất của hình tướng liênhệ, và cõi mà trên đó sự chuyển hoá sẽ diễn ra.
143. The three types of devas—agnichaitans, agnisuryans and agnishvattas—are those which relate to the first three solar planes—the physical-etheric, the astral and the mental. Usually, the Agnishvattas are considered as relating to the higher mental sub-planes.
143. Ba loại thiên thần—agnichaitans, agnisuryans và agnishvattas—là những loại liên hệ với ba cõi thái dương đầu tiên—cõi hồng trần-dĩ thái, cõi cảm dục và cõi trí. Thông thường, Agnishvattas được xem là liên hệ với các cõi phụ thượng trí.
144. It remains in question whether the devas of the lower mental plane should be called agnishvattas. If so, they are not Agnishvattas—i.e., Solar Angels. Note the capitalization.
144. Vẫn còn là vấn đề cần xét xem các thiên thần của cõi hạ trí có nên được gọi là agnishvattas hay không. Nếu vậy, thì họ không phải là Agnishvattas—tức Thái dương Thiên Thần. Hãy lưu ý chữ viết hoa.
Electric fire passes from atom to atom according to law, and "fire by friction" responds, being the latent fire of the atom, or its negative aspect;
Lửa Điện truyền từ nguyên tử này sang nguyên tử khác theo định luật, và "Lửa ma sát" đáp ứng, vì đó là ngọn lửa tiềm ẩn của nguyên tử, hay phương diện âm của nó;
145. Sometimes fire by friction is considered to include both latent fire and active or radiatory fire. As long as the fire is to be found expressing on the lower eighteen sub-planes, it is to be considered fire by friction.
145. Đôi khi Lửa ma sát được xem là bao gồm cả ngọn lửa tiềm ẩn và ngọn lửa hoạt động hay phóng xạ. Chừng nào ngọn lửa còn được thấy biểu lộ trên mười tám cõi phụ thấp, thì nó phải được xem là Lửa ma sát.
146. Thus, it seems that the term “latent fire” is being here used more inclusively than during the earlier pages of TCF when it was carefully discriminated from “active fire” or “radiatory fire”.
146. Vì vậy, dường như thuật ngữ “ngọn lửa tiềm ẩn” ở đây đang được dùng theo nghĩa bao gồm hơn so với những trang đầu của Luận về Lửa Vũ Trụ, nơi nó được phân biệt cẩn thận với “ngọn lửa hoạt động” hay “ngọn lửa phóng xạ”.
147. Should solar fire be excluded from the atom of substance? It may be judged that solar fire can only be found expressive in those atoms which possess the fire of self-consciousness, yet all types of atoms must necessarily contain all three divine aspects.
147. Có nên loại trừ Lửa Thái dương khỏi nguyên tử của chất liệu không? Có thể phán đoán rằng Lửa Thái dương chỉ có thể được tìm thấy biểu lộ trong những nguyên tử sở hữu ngọn lửa của ngã thức, tuy nhiên mọi loại nguyên tử tất yếu đều phải chứa cả ba phương diện thiêng liêng.
148. In any case, the general idea here is that matter responds to Spirit.
148. Dù sao đi nữa, ý tưởng tổng quát ở đây là vật chất đáp ứng với tinh thần.
149. We also note that the passage from atom to atom by electric fire is “according to law”. We recall that it is the monadic aspect of man which determines the measured and lawful progression of fire in his chakric system. Hiding under this little phrase “according to law” must exist a most intricately organized system of passage.
149. Chúng ta cũng lưu ý rằng sự truyền từ nguyên tử này sang nguyên tử khác bởi Lửa Điện là “theo định luật”. Chúng ta nhớ rằng chính phương diện chân thần của con người quyết định sự tiến triển có chừng mực và hợp luật của lửa trong hệ thống luân xa của y. Ẩn dưới cụm từ nhỏ bé “theo định luật” này hẳn phải tồn tại một hệ thống truyền dẫn được tổ chức cực kỳ tinh vi.
the process is carried on through the medium of solar fire, and herein lies the secret of transmutation and its most mysterious angle.
tiến trình được thực hiện qua trung gian của Lửa Thái dương, và chính trong đó có bí mật của sự chuyển hoá cùng góc độ huyền nhiệm nhất của nó.
150. From a planetary perspective, we understand that Venus is one of the major transmutative planets. It certainly is so in relation to the transmutation of the human kingdom into the kingdom of souls.
150. Từ góc nhìn hành tinh, chúng ta hiểu rằng Sao Kim là một trong những hành tinh chuyển hoá chủ yếu. Chắc chắn là như vậy trong liên hệ với sự chuyển hoá của giới nhân loại thành giới các linh hồn.
151. It will be recognized that Venus is also intimately associated with solar fire, being a planet which, in a way, ‘sponsors’ the activity of the Solar Angels, and which has at its esoteric root a very strong sixth and second ray.
151. Cần nhận ra rằng Sao Kim cũng liên hệ mật thiết với Lửa Thái dương, là một hành tinh mà theo một cách nào đó ‘bảo trợ’ hoạt động của các Thái dương Thiên Thần, và có ở gốc rễ huyền bí của nó một cung sáu và cung hai rất mạnh.
152. May we say that it is the magnetic power of solar fire which draws the life essence forth from a lower kingdom into the ring-pass-not of a higher?
152. Chúng ta có thể nói rằng chính quyền năng từ tính của Lửa Thái dương kéo tinh chất sự sống ra khỏi một giới thấp vào vòng-giới-hạn của một giới cao hơn chăng?
153. All transmutations are a kind of “death-unto-life”, and in such processes the second aspect (represented by the magnetism of solar fire) is involved.
153. Mọi sự chuyển hoá đều là một loại “chết-để-sống”, và trong những tiến trình như vậy, phương diện thứ hai (được biểu trưng bởi từ điện của Lửa Thái dương) có liên quan.
154. Just as the Mystery of the Solar Angels or of the Makara is profoundly impenetrable to man, given his present state of understanding, we learn of the most mysterious angle of the secret of transmutation.
154. Cũng như Huyền Nhiệm của các Thái dương Thiên Thần hay của Makara sâu xa đến mức con người không thể thâm nhập được, xét theo trạng thái thấu hiểu hiện nay của y, chúng ta học biết về góc độ huyền nhiệm nhất của bí mật chuyển hoá.
155. One may begin to gather than love is the sine qua non of the spiritual, transmutative process. We might study in this connection the transmutative effect of the Sacred Word, OM, the Word of the second aspect.
155. Người ta có thể bắt đầu nhận ra rằng bác ái là điều kiện tiên quyết tuyệt đối của tiến trình chuyển hoá tinh thần. Liên hệ với điều này, chúng ta có thể nghiên cứu hiệu quả chuyển hoá của Linh từ thiêng liêng, OM, Linh từ của phương diện thứ hai.
156. May we consider as a great transmutative mantram, “No man commeth to the Father except through Me”?
156. Chúng ta có thể xem như một mantram chuyển hoá vĩ đại câu này chăng: “Không ai đến được với Cha nếu không qua Ta”?
Fire by friction, the negative electricity of substance, has been for some time the subject of the attention of exoteric science, and investigation of the nature of positive electricity has become possible through the discovery of radium.
Lửa ma sát, điện âm của chất liệu, từ lâu đã là đối tượng chú ý của khoa học ngoại môn, và việc khảosát bản chất của điện dương đã trở nên khảhữu nhờ sự khám phá ra radium.
157. DK is discriminating the different types of electrical phenomena that have been studied.
157. Chân sư DK đang phân biện các loại hiện tượng điện khác nhau đã được nghiên cứu.
158. Had we realized that with the discovery of radioactive substances, we had been put into the position of being able to investigate “positive electricity”?
158. Nếu chúng ta đã chứng nghiệm rằng với việc khám phá ra các chất phóng xạ, chúng ta đã được đặt vào vị thế có thể khảo cứu “điện dương” thì sao?
159. If we wish to study “positive electricity” in the fourth Creative Hierarchy, we will have to study initiates of high degree in whom the monadic aspect is powerfully expressive.
159. Nếu chúng ta muốn nghiên cứu “điện dương” trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, chúng ta sẽ phải nghiên cứu các điểm đạo đồ cấp cao nơi phương diện chân thần biểu lộ một cách mãnh liệt.
Keely, as H. P. B. hinted,60 [60: S. D., I, 172, 607-611.] had gone far along this path, and knew even more than he gave out, and others have approached, or are approaching, the same objective.
Keely, như H. P. B. đã ám chỉ,60 [60: S. D., I, 172, 607-611.] đã đi rất xa trên con đường này, và còn biết nhiều hơn điều ông đã công bố, và những người khác đã tiếp cận, hoặc đang tiếp cận, cùng mục tiêu ấy.
160. There is always the fascinating question of how much is known by outstanding scientific figures—especially by those who, like Keely, have been reviled because of their unconventional assertions. Tesla was another such.
160. Luôn luôn có câu hỏi đầy hấp dẫn về việc các nhân vật khoa học xuất chúng biết được bao nhiêu—đặc biệt là những người, như Keely, đã bị phỉ báng vì những khẳng định phi quy ước của ông. Tesla là một người như vậy khác.
161. We may note a certain orthodoxy of scientific approach which repudiates essential discoveries when they are first made, only to arrive at the same ‘discoveries’ along a much slower path.
161. Chúng ta có thể lưu ý một thứ chính thống nào đó trong cách tiếp cận khoa học, vốn bác bỏ những khám phá cốt yếu khi chúng lần đầu được thực hiện, chỉ để rồi đi đến chính những “khám phá” ấy theo một con đường chậm hơn rất nhiều.
The next step ahead for science lies in this direction, and should concern the potential force of the atom itself, and its harnessing for the use of man. This will let loose upon earth a stupendous amount of energy.
Bước tiến kế tiếp của khoa học nằm theo hướng này, và nên liên quan đến mãnh lực tiềm tàng của chính nguyên tử, cùng việc chế ngự nó để phục vụ con người. Điều này sẽ giải phóng trên Trái Đất một lượng năng lượng khổng lồ.
162. This, at least in some measure, has occurred. We have to remember that A Treatise on Cosmic Fire was published in the year 1925.
162. Điều này, ít nhất ở một mức độ nào đó, đã xảy ra. Chúng ta phải nhớ rằng Luận về Lửa Vũ Trụ đã được xuất bản vào năm 1925.
163. One thinks of the relation of the date of publication of TCF to the date of the twentieth century Hierarchical Conclave. Given the nature, depth and scope of TCF, the timing was significant.
163. Người ta nghĩ đến mối liên hệ giữa ngày xuất bản của TCF và ngày diễn ra Đại Mật Nghị của Thánh đoàn trong thế kỷ hai mươi. Xét theo bản chất, chiều sâu và phạm vi của TCF, thời điểm ấy thật có ý nghĩa.
164. DK may be suggesting that in the process we call the “splitting of the atom”, there may be far more of what He calls “positive electricity” than we may suspect.
164. Chân sư DK có thể đang gợi ý rằng trong tiến trình chúng ta gọi là “phân tách nguyên tử”, có thể có nhiều hơn rất nhiều điều mà Ngài gọi là “điện dương” so với điều chúng ta có thể ngờ tới.
165. We may also gather that the harnessing by man of the potential force of the atom is far from complete.
165. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng việc con người chế ngự mãnh lực tiềm tàng của nguyên tử còn rất xa mới hoàn tất.
Nevertheless, it is only when the third factor is comprehended, and science admits the agency of mental fire as embodied in certain groups of devas, that the force of energy that is triple, and yet one in the three worlds, will become available for the helping of man.
Tuy nhiên, chỉ khi yếu tố thứ ba được thấu hiểu, và khoa học thừa nhận tác nhân của lửa trí tuệ như được hiện thân trong một số nhóm thiên thần nhất định, thì mãnh lực năng lượng vốn tam phân, tuy vậy vẫn là một trong ba cõi thấp, mới trở nên khả dụng để trợ giúp con người.
166. We have quite an amazing hint here. It definitely affirms the presence of solar fire (in some form of expression) as present in even the atom of substance.
166. Ở đây chúng ta có một gợi ý thật đáng kinh ngạc. Nó xác nhận dứt khoát sự hiện diện của Lửa Thái dương (trong một hình thức biểu lộ nào đó) ngay cả trong nguyên tử của chất liệu.
167. Again we note the equivalence between solar fire and “mental fire”.
167. Một lần nữa chúng ta lưu ý sự tương đương giữa Lửa Thái dương và “lửa trí tuệ”.
168. Who are the “certain groups of devas” in whom “mental fire” is embodied? Are they the Agnishvattas as we usually consider them—i.e., as manasadevas or Solar Angels?
168. “Một số nhóm thiên thần nhất định” nơi “lửa trí tuệ” được hiện thân là ai? Có phải đó là các Agnishvatta như chúng ta thường quan niệm—tức là như các manasadevas hay các Thái dương Thiên Thần chăng?
169. The point to keep in mind is that for the achievement of the full utilization of the potential force of the atom for the helping of humanity, mental fire (solar fire) must enter the equation, and the force of the atom must be expressed and experienced as threefold.
169. Điểm cần ghi nhớ là để đạt được việc sử dụng trọn vẹn mãnh lực tiềm tàng của nguyên tử nhằm trợ giúp nhân loại, lửa trí tuệ (Lửa Thái dương) phải đi vào phương trình, và mãnh lực của nguyên tử phải được biểu lộ và kinh nghiệm như là tam phân.
170. I think we can see how the Reappearance of the Christ and the emergence of the soul aspect of man (through initiation) will contribute to the release of the atom’s full potential. Corresponding to the release of the full potential of the atom of substance will be the increasingly full release of the potential of the human atom.
170. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy việc Sự Tái Lâm của Đức Christ và sự xuất hiện của phương diện linh hồn nơi con người (thông qua điểm đạo) sẽ góp phần như thế nào vào việc giải phóng trọn vẹn tiềm năng của nguyên tử. Tương ứng với việc giải phóng trọn vẹn tiềm năng của nguyên tử chất liệu sẽ là sự giải phóng ngày càng đầy đủ tiềm năng của nguyên tử nhân loại.
171. We know that in human spiritual development love must be combined with both intelligence and will or the results may be disastrous. May we say the same in relation to the utilization of the powers of the atom of substance? “Love”, in this case, is represented by “mental fire” or “solar fire”.
171. Chúng ta biết rằng trong sự phát triển tinh thần của con người, bác ái phải được kết hợp với cả trí tuệ lẫn ý chí, nếu không kết quả có thể là tai hại. Chúng ta có thể nói điều tương tự liên quan đến việc sử dụng các quyền năng của nguyên tử chất liệu chăng? “Bác ái”, trong trường hợp này, được biểu thị bởi “lửa trí tuệ” hay “Lửa Thái dương”.
172. It would also seem that DK may be hinting that the force of “mental fire” is really a triple force, yet is experienced as unitary in the three worlds. When dealing with the foundational trinity (Will, Love and Intelligence), each of its aspects is, in fact, triple.
172. Dường như Chân sư DK cũng có thể đang gợi ý rằng mãnh lực của “lửa trí tuệ” thực sự là một mãnh lực tam phân, tuy vậy lại được kinh nghiệm như đơn nhất trong ba cõi thấp. Khi bàn đến bộ ba nền tảng (Ý Chí, Bác Ái và Trí Tuệ), mỗi phương diện của nó thật ra đều là tam phân.
173. The main triplicity here discussed is, however, the triplicity of the energies within the atom of substance.
173. Tuy nhiên, bộ ba chính được bàn đến ở đây là bộ ba các năng lượng bên trong nguyên tử chất liệu.
This lies as yet far ahead, and will only become possible towards the end of this round;
Điều này vẫn còn ở rất xa phía trước, và chỉ có thể trở nên khả hữu vào gần cuối cuộc tuần hoàn này;
174. It would seem that towards the end of this fourth round (and this will precede the "Judgment Day") the “mental fire” related to the atom of substance will be recognized as a most significant aspect of the potential energy of the atom of substance. It seems a long time to wait. Yet the emergence of the soul aspect in man will certainly see what we call “atomic energy” more wisely managed.
174. Dường như vào gần cuối cuộc tuần hoàn thứ tư này (và điều này sẽ xảy ra trước “Ngày Phán Xét”), “lửa trí tuệ” liên hệ với nguyên tử chất liệu sẽ được nhìn nhận như một phương diện cực kỳ quan trọng của năng lượng tiềm tàng của nguyên tử chất liệu. Có vẻ là một thời gian chờ đợi rất dài. Tuy nhiên, sự xuất hiện của phương diện linh hồn nơi con người chắc chắn sẽ khiến điều chúng ta gọi là “năng lượng nguyên tử” được quản lý một cách minh triết hơn.
175. Are we speaking of a time at which science generally will recognize the fire of the soul aspect? Again, we would hope that (at least in relation to humanity) that day will be with us sooner than later.
175. Chúng ta có đang nói đến một thời điểm mà khoa học nói chung sẽ nhìn nhận lửa của phương diện linh hồn chăng? Một lần nữa, chúng ta hy vọng rằng (ít nhất trong liên hệ với nhân loại) ngày ấy sẽ đến với chúng ta sớm hơn là muộn.
and these potent forces will not be fully utilised, nor fully known till the middle of the next round.
và những mãnh lực mạnh mẽ này sẽ không được sử dụng trọn vẹn, cũng không được biết đến trọn vẹn cho đến giữa cuộc tuần hoàn kế tiếp.
176. We have on several occasions been told that the true "Judgment Day" will occur in the “middle” of the fifth round—presumably the fifth chain round and not the fifth scheme round.
176. Chúng ta đã nhiều lần được cho biết rằng “Ngày Phán Xét” đích thực sẽ xảy ra vào “giữa” cuộc tuần hoàn thứ năm—hẳn là cuộc tuần hoàn của dãy thứ năm chứ không phải cuộc tuần hoàn của Dãy thứ năm của hệ hành tinh.
At that time, much energy will become available through the removal of all that obstructs.
Vào lúc đó, nhiều năng lượng sẽ trở nên khả dụng nhờ việc loại bỏ mọi điều cản trở.
177. In this sentence is found the inference that two fifths of the then human race will be considered obstructive and will be removed. Until that time, the forces of obstruction will be with us, and even today, many of those who at that time will not be obstructive are so now.
177. Trong câu này có thể suy ra rằng hai phần năm của nhân loại lúc bấy giờ sẽ bị xem là có tính cản trở và sẽ bị loại bỏ. Cho đến thời điểm ấy, các mãnh lực cản trở sẽ vẫn ở cùng chúng ta, và ngay cả hôm nay, nhiều người trong số những kẻ vào thời điểm đó sẽ không còn cản trở thì lại đang như vậy bây giờ.
178. DK points to future developments and at least illuminates and steadies our understanding, even though at this stage of our development, we can only dimly anticipate the later, promised unfoldments.
178. Chân sư DK chỉ ra những phát triển tương lai và ít nhất cũng soi sáng, làm vững vàng sự thấu hiểu của chúng ta, dù ở giai đoạn phát triển này, chúng ta chỉ có thể mơ hồ dự cảm những sự khai mở về sau đã được hứa hẹn.
This is effected, in relation to man, at the Judgment separation, but it will produce results in the other kingdoms of nature also.
Điều này được thực hiện, liên hệ với con người, vào lúc Phán Xét phân ly, nhưng nó cũng sẽ tạo ra kết quả trong các giới khác của bản chất.
179. We note here that what is usually called the "Judgment Day" is here called “Judgment separation”. As the fifth ray will be potently effective during this fifth round event, we should remember that the fifth ray rules the “Law of Cleavages”.
179. Ở đây chúng ta lưu ý rằng điều thường được gọi là “Ngày Phán Xét” ở đây lại được gọi là “Phán Xét phân ly”. Vì cung năm sẽ tác động mạnh mẽ trong biến cố của cuộc tuần hoàn thứ năm này, chúng ta nên nhớ rằng cung năm cai quản “Định luật của các Sự Phân Cắt”.
180. We are to anticipate that at the "Judgment Day", a number of kingdoms on our planet will be affected—not only the human. This would stand to reason, certainly in relation to the three lower kingdoms through which the human kingdom expresses. As for kingdoms higher than the human—the Kingdom of Souls and the Kingdom of Planetary Lives—doors into those kingdoms will be more widely opened at that time, and so, they too would naturally be affected.
180. Chúng ta phải dự đoán rằng vào “Ngày Phán Xét”, một số giới trên hành tinh chúng ta sẽ bị tác động—không chỉ riêng giới nhân loại. Điều này hẳn là hợp lý, chắc chắn trong liên hệ với ba giới thấp mà qua đó giới nhân loại biểu lộ. Còn đối với các giới cao hơn giới nhân loại—Thiên Giới của các linh hồn và giới của Các Sự Sống Hành tinh—những cánh cửa đi vào các giới ấy sẽ được mở rộng hơn vào lúc đó, và vì thế, chúng cũng tự nhiên sẽ bị tác động.
181. During any planetary initiation (and the "Judgment Day" is certainly one such—perhaps a major one) one would expect all planetary lives to be affected.
181. Trong bất kỳ điểm đạo hành tinh nào (và “Ngày Phán Xét” chắc chắn là một điểm đạo như vậy—có lẽ là một điểm đạo lớn) người ta sẽ mong đợi mọi sự sống hành khí?
182. VSK would have us note that the Judgment is the midway point of the fifth round, and that the charts of the schemes and rounds, and those in Esoteric Astrology are relevant to this time, the span being: ‘before judgment day’ and after individualisation.
182. VSK muốn chúng ta lưu ý rằng Phán Xét là điểm ở giữa của cuộc tuần hoàn thứ năm, và rằng các biểu đồ của các hệ hành tinh và các cuộc tuần hoàn, cùng những biểu đồ trong Chiêm Tinh Học Nội Môn đều có liên quan đến thời điểm này, khoảng thời gian là: ‘trước ngày phán xét’ và sau biệt ngã hóa.
A portion of the animal kingdom will enter into a temporary obscuration, thus releasing energy for [Page 493] the use of the remaining percentage, and producing results such as are hinted at by the prophet of Israel 62 [Bible, Isaiah 11:6.] when he speaks of "the wolf lying down with the lamb";
Một phần của giới động vật sẽ đi vào một sự che khuất tạm thời, nhờ đó giải phóng năng lượng để [Page 493] sử dụng cho phần trăm còn lại, và tạo ra những kết quả như đã được nhà tiên tri Israel ám chỉ 62 [Bible, Isaiah 11:6.] khi ông nói về “con sói nằm xuống với con chiên”;
183. It is so illuminating to be presented with such clarifications.
183. Thật soi sáng biết bao khi được trình bày những sự làm sáng tỏ như thế này.
184. We see something of how the Law of Economy works in such instances. When, in any whole, a certain percentage of the units are withdrawn or removed to other spheres of development, the energy they had been consuming is liberated for the use of the remaining units.
184. Chúng ta thấy phần nào cách Định luật Tiết Kiệm vận hành trong những trường hợp như vậy. Khi, trong bất kỳ toàn thể nào, một tỷ lệ nhất định các đơn vị được rút đi hoặc chuyển sang các khối cầu phát triển khác, năng lượng mà chúng đã tiêu thụ được giải phóng để các đơn vị còn lại sử dụng.
185. Three fifths of the then humanity will remain with the planet Earth and two-fifths will be removed. We may assume that, through this process, energy will be released for the use of the remaining three-fifths.
185. Ba phần năm nhân loại lúc bấy giờ sẽ ở lại với hành tinh Trái Đất và hai phần năm sẽ bị loại đi. Chúng ta có thể giả định rằng, qua tiến trình này, năng lượng sẽ được giải phóng để ba phần năm còn lại sử dụng.
186. We are not given the percentage of those members of the animal kingdom which remain with the planet and those which go into temporary obscuration (whether within the planetary ring-pass-not or outside it) but the principal seems the same.
186. Chúng ta không được cho biết tỷ lệ phần trăm những thành viên của giới động vật ở lại với hành tinh và những thành viên đi vào sự che khuất tạm thời là bao nhiêu (dù ở trong vòng-giới-hạn hành tinh hay bên ngoài nó), nhưng nguyên lý dường như vẫn như nhau.
187. Just as the more primitive human beings are to removed into obscuration and, thence, perhaps, to Mars, may we assume that the more primitive members of the animal kingdom will also be removed, making for greater amity (with its Venusian implications) between the animals remaining in active expression on our planet? Hence the wolf lying down with the lamb.
187. Cũng như những con người nguyên thủy hơn sẽ bị đưa vào sự che khuất và từ đó, có lẽ, sang Sao Hỏa, liệu chúng ta có thể giả định rằng những thành viên nguyên thủy hơn của giới động vật cũng sẽ bị loại đi, tạo nên sự hòa thuận lớn hơn (với những hàm ý thuộc Sao Kim của nó) giữa các loài vật còn lại đang biểu lộ tích cực trên hành tinh chúng ta chăng? Do đó mới có hình ảnh con sói nằm xuống với con chiên.
188. Astrologically, one wonders if there will be a relationship between the constellation Lupus the Wolf and Aries the Ram.
188. Về mặt chiêm tinh, người ta tự hỏi liệu sẽ có một mối liên hệ giữa chòm sao Lupus Con Sói và Aries Con Cừu Đực hay không.
189. If the Prophet Isaiah really foresaw events at the time of the "Judgment Day", we must judge his vision as extraordinary. It is probable that he could not have realize how far ahead he had seen, and that if and when he attempted to apply his vision to practical life, he must not have thought of the hundreds of millions of years separating the fourth from the fifth round.
189. Nếu nhà tiên tri Isaiah thực sự đã thấy trước các biến cố vào thời “Ngày Phán Xét”, chúng ta phải đánh giá linh ảnh của ông là phi thường. Có lẽ ông không thể nhận ra mình đã nhìn xa đến mức nào, và rằng nếu và khi ông cố áp dụng linh ảnh của mình vào đời sống thực tiễn, hẳn ông đã không nghĩ đến hàng trăm triệu năm ngăn cách cuộc tuần hoàn thứ tư với cuộc tuần hoàn thứ năm.
his comment "a little child shall lead them" is largely the esoteric enunciation of the fact that three fifths of the human family will stand upon the Path, 'a little child' being the name applied to probationers and disciples.
lời bình của ông “một đứa trẻ nhỏ sẽ dẫn dắt chúng phần lớn là sự tuyên bố huyền bí về sự kiện rằng ba phần năm gia đình nhân loại sẽ đứng trên Con Đường, ‘một đứa trẻ nhỏ’ là danh xưng áp dụng cho những người dự bị và các đệ tử.
190. We can see the danger of biblical interpretation by those who are unaware of esoteric symbolism. It is probably not widely realized that the great prophets and spiritual figures acknowledged by the Western Bible were, indeed, esotericists and often wrote and spoke in esoteric language.
190. Chúng ta có thể thấy sự nguy hiểm của việc diễn giải Kinh Thánh bởi những người không nhận biết biểu tượng học huyền bí. Có lẽ người ta chưa nhận ra rộng rãi rằng các nhà tiên tri vĩ đại và các nhân vật tinh thần được Kinh Thánh phương Tây thừa nhận quả thực là những nhà bí truyền học và thường viết cũng như nói bằng ngôn ngữ huyền bí.
191. We know something of humanity’s beneficent dharma and destiny in relation to the lower kingdoms. DK seems to be writing of a time in which humanity’s role as intermediary between the higher and lower kingdoms will be fulfilled. Already, indications of this ‘leadership’ can be seen among the more advanced human beings who are beneficently related to the lower three kingdoms.
191. Chúng ta biết phần nào về dharma và định mệnh từ thiện của nhân loại trong liên hệ với các giới thấp. Chân sư DK dường như đang viết về một thời kỳ mà vai trò trung gian của nhân loại giữa các giới cao và thấp sẽ được hoàn thành. Ngay từ bây giờ, những dấu hiệu của sự ‘lãnh đạo’ này đã có thể thấy nơi những con người tiến bộ hơn, những người có mối liên hệ từ thiện với ba giới thấp.
192. It is important to note that three-fifths of the then humanity will remain expressive upon our planet and that those three-fifths will be “upon the Path” all of them probationers and disciples. Indeed, many forces of obstruction will be removed.
192. Điều quan trọng là phải lưu ý rằng ba phần năm nhân loại lúc bấy giờ sẽ vẫn tiếp tục biểu lộ trên hành tinh chúng ta và rằng cả ba phần năm ấy sẽ đều “ở trên Con Đường”, tất cả đều là những người dự bị và các đệ tử. Quả thật, nhiều mãnh lực cản trở sẽ bị loại bỏ.
193. May we also anticipate that the power of the Black Lodge over humanity will be powerfully lessened under the tremendous release of energy aligned with both Venus and Sirius?
193. Liệu chúng ta cũng có thể dự đoán rằng quyền lực của Hắc đoàn đối với nhân loại sẽ bị suy giảm mạnh mẽ dưới sự giải phóng năng lượng to lớn được chỉnh hợp với cả Sao Kim lẫn Sirius chăng?
In the vegetable and mineral kingdoms a corresponding demonstration will ensue, but of such a nature as to be too obscure for our comprehension.
Trong giới thực vật và giới kim thạch, một sự biểu hiện tương ứng cũng sẽ tiếp theo, nhưng có bản chất quá mơ hồ đối với sự thấu hiểu của chúng ta.
194. Though the lower two kingdoms are indeed lower it does not mean that the process of their development is easy for present humanity to understand.
194. Dù hai giới thấp quả thực là thấp hơn, điều đó không có nghĩa là tiến trình phát triển của chúng dễ để nhân loại hiện nay thấu hiểu.
195. In any case, looking far ahead, we can imagine great and corresponding changes in the vegetable and mineral kingdoms, with the cruder forms of expression in both kingdoms disappearing from the face of the Earth.
195. Dù sao đi nữa, nhìn xa về phía trước, chúng ta có thể hình dung những biến đổi lớn lao và tương ứng trong giới thực vật và giới kim thạch, với những hình thức biểu lộ thô trược hơn trong cả hai giới biến mất khỏi bề mặt Trái Đất.
196. We note that, for whatever reason, there is no footnote numbered 61.
196. Chúng ta lưu ý rằng, vì bất cứ lý do gì, không có cước chú nào mang số 61.
The central factor of solar fire in the work of transmutation will come to be understood through the study of the fire devas and elementals, who are fire, and who are, in themselves (essentially and through active magnetic radiation), the external heat or vibration which produces:
Yếu tố trung tâm của Lửa Thái dương trong công việc chuyển hoá sẽ được thấu hiểu qua việc nghiên cứu các thiên thần lửa và các hành khí, vốn là lửa, và tự bản thân chúng (một cách cốt yếu và qua sự phát xạ từ tính tích cực) là nhiệt bên ngoài hay rung động tạo ra:
197. One way of interpreting this section is that external fire will come to be understood through reference to internal fire.
197. Một cách diễn giải đoạn này là lửa bên ngoài sẽ được thấu hiểu qua việc quy chiếu đến lửa bên trong.
198. It is often the case that an energy more recessed comes to be understood through the study of an energy more accessible.
198. Thường thường, một năng lượng ẩn sâu hơn được thấu hiểu qua việc nghiên cứu một năng lượng dễ tiếp cận hơn.
199. However, if we study the sections below (relating to the process of transmutation within a Solar Logos) we shall see that the devas of the cosmic mental plane who embody cosmic mental fire are considered external agencies involved in the cosmic transmutation process! Indeed, the are external to the central nucleus.
199. Tuy nhiên, nếu chúng ta nghiên cứu các đoạn bên dưới (liên quan đến tiến trình chuyển hoá bên trong một Thái dương Thượng đế), chúng ta sẽ thấy rằng các thiên thần của cõi trí vũ trụ, những vị hiện thân cho lửa trí tuệ vũ trụ, được xem là các tác nhân bên ngoài tham gia vào tiến trình chuyển hoá vũ trụ! Quả thật, các vị ấy là bên ngoài đối với hạt nhân trung tâm.
200. Therefore, we have to be alert to the meaning of the word “external”. It may refer to the lower forms of devic essences, but it may also refer to devic essences who embody solar fire.
200. Vì vậy, chúng ta phải tỉnh táo đối với ý nghĩa của từ “bên ngoài”. Nó có thể chỉ các hình thức thấp hơn của các tinh chất thiên thần, nhưng cũng có thể chỉ các tinh chất thiên thần hiện thân cho Lửa Thái dương.
201. The fire devas and elementals here referenced may not be the devas who embody solar fire, though from another perspective, they may be.
201. Các thiên thần lửa và hành khí được nhắc đến ở đây có thể không phải là các thiên thần hiện thân cho Lửa Thái dương, dù từ một góc nhìn khác, chúng có thể là như vậy.
202. As we study the subject further we shall learn about the close interplay between the devas of all levels. The many types of “men” (Solar Men, Planetary Men and human men) are all interrelated, and so are the many types of devas in the Great Devic Hierarchy.
202. Khi nghiên cứu sâu hơn chủ đề này, chúng ta sẽ học được về sự tương tác mật thiết giữa các thiên thần ở mọi cấp độ. Nhiều loại “người” (Những Con Người Thái Dương, Những Con Người Hành Tinh và con người nhân loại) đều liên hệ với nhau, và nhiều loại thiên thần trong Đại Huyền Giai Thiên Thần cũng vậy.
The force which plays upon the spheroidal wall of the atom.
Mãnh lực tác động lên bức tường hình cầu của nguyên tử.
203. The spheroidal wall of the atom relates to negative electricity.
203. Bức tường hình cầu của nguyên tử liên hệ với điện âm.
204. If the “external heat” referenced above refers to magnetic solar fire, then it is solar fire that plays upon the spheroidal wall of the atom—at least in cases of spiritual alchemy.
204. Nếu “nhiệt bên ngoài” được nhắc đến ở trên chỉ Lửa Thái dương từ tính, thì chính Lửa Thái dương tác động lên bức tường hình cầu của nguyên tử—ít nhất trong các trường hợp luyện kim tinh thần.
The response within the atom which produces radiation or the escape of volatile essence.
Sự đáp ứng bên trong nguyên tử tạo ra sự phát xạ hay sự thoát ra của tinh chất dễ bay hơi.
205. The response within the atom is a ‘nuclear’ response and relates to the central unit of positive electricity.
205. Sự đáp ứng bên trong nguyên tử là một sự đáp ứng ‘hạt nhân’ và liên hệ với đơn vị trung tâm của điện dương.
206. If the “external heat” referenced above refers to magnetic solar fire, then it is solar fire which may be influential upon the nucleus of the atom and which may engineer the escape of the volatile essence—at least in cases of spiritual alchemy.
206. Nếu “nhiệt bên ngoài” được nhắc đến ở trên chỉ Lửa Thái dương từ tính, thì chính Lửa Thái dương có thể ảnh hưởng lên hạt nhân của nguyên tử và có thể tạo điều kiện cho tinh chất dễ bay hơi thoát ra—ít nhất trong các trường hợp luyện kim tinh thần.
207. We see that for liberation to occur, external heat or vibration must be active in relation to both the definitely external, material aspect and the internal aspect of the atom.
207. Chúng ta thấy rằng để sự giải thoát xảy ra, nhiệt bên ngoài hay rung động phải hoạt động trong liên hệ với cả phương diện vật chất, bên ngoài rõ rệt lẫn phương diện bên trong của nguyên tử.
208. The exact line of connection between the fires here discussed and the central positive life of the atom must at this time remain obscure.
208. Đường liên hệ chính xác giữa các loại lửa được bàn đến ở đây và sự sống dương trung tâm của nguyên tử hiện nay vẫn phải còn mơ hồ.
209. In general, however, it is important to note that the liberation we seek as human beings is effected through the empowerment of the volatile essence (the central positive life we call electric fire—that part of our nature closest to Spirit).
209. Tuy nhiên, nói chung, điều quan trọng là phải lưu ý rằng sự giải thoát mà chúng ta tìm kiếm với tư cách con người được thực hiện qua việc tăng cường quyền năng cho tinh chất dễ bay hơi (sự sống dương trung tâm mà chúng ta gọi là Lửa Điện—phần bản chất của chúng ta gần với Tinh thần nhất).
210. Until the ultimate universal “Day Be With Us”, the central positive life, or “central electric life” will always be an emanation, and not pure Spirit, per se.
210. Cho đến “Ngày Hãy Ở Cùng Chúng Ta” tối hậu và phổ quát, sự sống dương trung tâm, hay “sự sống điện trung tâm”, sẽ luôn luôn là một phát xạ, chứ không phải chính Tinh thần thuần túy.
Speaking cosmically, and regarding the solar system as itself a cosmic atom, we would consider that:
Nói theo vũ trụ, và xem hệ mặt trời như chính nó là một nguyên tử vũ trụ, chúng ta sẽ xét rằng: