Trích nội dung chương
d. Agni is the manifestation of the radiance which veils the Central Sun. The radiance which veils the central Sun (hiding that “Sun” by a “disk of golden light”) pertains to Surya, the Vishnu aspect. d. Agni là sự biểu hiện của bức xạ che phủ Mặt Trời Trung Tâm. Bức xạ che phủ Mặt Trời trung tâm (che giấu “Mặt Trời” ấy bằng một “đĩa ánh sáng vàng”) thuộc về Surya, phương diện Vishnu.
c. Agni is the energy of the Logos
c. Agni là năng lượng của Logos
d. Agni is the manifestation of the radiance which veils the Central Sun. The radiance which veils the central Sun (hiding that “Sun” by a “disk of golden light”) pertains to Surya, the Vishnu aspect.
d. Agni là sự biểu hiện của bức xạ che phủ Mặt Trời Trung Tâm. Bức xạ che phủ Mặt Trời trung tâm (che giấu “Mặt Trời” ấy bằng một “đĩa ánh sáng vàng”) thuộc về Surya, phương diện Vishnu.
e. Agni, is the manifestation of that radiance. This is different from the radiance itself. It is as if Cosmic Surya sends forth Cosmic Agni.
e. Agni là sự biểu hiện của bức xạ ấy. Điều này khác với chính bức xạ. Như thể Surya Vũ Trụ phóng xuất Agni Vũ Trụ.
Only as He is recognised as Fohat, the energy of matter, as Wisdom, the nature of the Ego and its motivation, and as essential unity, can any due conception be arrived at as to His nature or being.
Chỉ khi Ngài được nhận biết là Fohat, năng lượng của vật chất, là minh triết, bản chất của chân ngã và động lực của nó, và là sự hợp nhất cốt yếu, thì mới có thể đạt được bất kỳ quan niệm thích đáng nào về bản chất hay hữu thể của Ngài.
56. Agni is protean. We have to be watchful for the level at which Agni is discussed. Here, He is the all-inclusive One.
56. Agni có tính đa dạng biến hóa. Chúng ta phải cảnh giác đối với cấp độ mà tại đó Agni được bàn đến. Ở đây, Ngài là Đấng bao hàm tất cả.
57. Agni is expressive on the cosmic physical plane, and on that plane we can find “essential unity”, the Ego and matter.
57. Agni biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, và trên cõi đó chúng ta có thể tìm thấy “sự hợp nhất cốt yếu”, chân ngã và vật chất.
58. Agni embraces all of these cosmic physical plane expressions
58. Agni bao trùm tất cả những biểu lộ này của cõi hồng trần vũ trụ
a. Agni is Fohat on the cosmic physical plane—or the energy of the matter of the cosmic physical plane. From the solar logoic perspective, the dense matter is represented by the lower twenty-one systemic sub-planes, and etheric matter by the higher twenty-eight sub-planes.
a. Agni là Fohat trên cõi hồng trần vũ trụ—hay là năng lượng của vật chất của cõi hồng trần vũ trụ. Từ quan điểm của Thái dương Thượng đế, vật chất đậm đặc được biểu hiện bởi hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp, còn vật chất dĩ thái bởi hai mươi tám cõi phụ cao hơn.
b. Agni is the fire of Wisdom or Solar Fire which informs the Ego
b. Agni là lửa của minh triết hay Lửa Thái dương, vốn thấm nhuần chân ngã
c. Agni is the fire of the Monad in whom is “essential unity” or oneness, as that oneness can be experienced on the cosmic physical plane.
c. Agni là lửa của chân thần, trong đó có “sự hợp nhất cốt yếu” hay nhất thể, như sự nhất thể ấy có thể được kinh nghiệm trên cõi hồng trần vũ trụ.
d. As He expresses on the cosmic physical plane, Agni is identified with Spirit, soul and matter.
d. Khi biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, Agni được đồng nhất với tinh thần, linh hồn và vật chất.
59. In this case we are discussing the way that Cosmic Agni embraces and pervades the three aspects of divinity as they manifest on the cosmic physical plane.
59. Trong trường hợp này, chúng ta đang bàn đến cách mà Agni Vũ Trụ bao trùm và thấm khắp ba phương diện của thiên tính khi chúng biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ.
60. Below and after many definitions which could be interpreted on more than one level and indicate differing scopes of activity, we have the definitive definition.
60. Bên dưới, sau nhiều định nghĩa có thể được diễn giải trên hơn một cấp độ và chỉ ra những phạm vi hoạt động khác nhau, chúng ta có định nghĩa chung quyết.
He is not the solar Logos on the cosmic mental plane, for the egoic consciousness of the Logos is more than His physical manifestation,
Ngài không phải là Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, vì tâm thức chân ngã của Thượng đế vượt hơn biểu hiện hồng trần của chính Ngài,
61. Agni has a definite connection with physicality. Cosmically, He is lower that Cosmic Surya, the Solar Logos manifesting in His egoic consciousness on the higher cosmic mental plane.
61. Agni có một liên hệ xác định với tính hồng trần. Về mặt vũ trụ, Ngài thấp hơn Surya Vũ Trụ, tức Thái dương Thượng đế đang biểu lộ trong tâm thức chân ngã của Ngài trên cõi trí vũ trụ cao.
62. So, Agni is not the egoic consciousness of the Solar Logos. Agni is not the consciousness within the Heart of the Sun on the higher cosmic mental plane.
62. Vì vậy, Agni không phải là tâm thức chân ngã của Thái dương Thượng đế. Agni không phải là tâm thức bên trong Tâm Mặt Trời trên cõi trí vũ trụ cao.
but Agni is the sumtotal of that portion of the logoic Ego which is reflected down into His physical vehicle;
nhưng Agni là tổng thể của phần chân ngã Thượng đế được phản chiếu xuống vận cụ hồng trần của Ngài;
63. That which is inherent in the Ego but is reflected down into the Ego’s physical vehicle is the personality.
63. Điều vốn cố hữu trong chân ngã nhưng được phản chiếu xuống vận cụ hồng trần của chân ngã chính là phàm ngã.
64. Agni, then, is to be considered a portion of the energy/consciousness of the Logoic Ego, but that part which is not focussed on the higher cosmic mental plane but on planes lower than the higher cosmic mental, and especially focussed on the cosmic physical plane.
64. Vậy thì, Agni phải được xem là một phần của năng lượng/tâm thức của Chân ngã Thượng đế, nhưng là phần không tập trung trên cõi trí vũ trụ cao mà trên các cõi thấp hơn cõi trí vũ trụ cao, và đặc biệt tập trung trên cõi hồng trần vũ trụ.
65. Note that we are not saying that Agni is only the energy which animates that which the Solar Logos considers His dense physical body—namely the lower twenty-one sub-planes of the cosmic physical plane.
65. Cần lưu ý rằng chúng ta không nói Agni chỉ là năng lượng làm sinh động điều mà Thái dương Thượng đế xem là thể xác đậm đặc của Ngài—tức hai mươi mốt cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ.
He is the life of the logoic Personality, with all that is included in that expression.
Ngài là sự sống của phàm ngã Thượng đế, với tất cả những gì được bao hàm trong cách diễn đạt ấy.
66. This is the definitive definition of Agni for which we have been searching.
66. Đây là định nghĩa chung quyết về Agni mà chúng ta đã tìm kiếm.
67. The life and consciousness of Agni, therefore, expresses through eighteen cosmic sub-planes—the lower four of the cosmic mental plane, the seven of the cosmic astral plane and the seven of the cosmic physical plane (through we may question the manner of expression through the lowest three systemic planes which are not a principled in relation to the Solar Logos). Yet Agni embraces fire by friction, and so must express through all levels of the cosmic physical plane.
67. Do đó, sự sống và tâm thức của Agni biểu lộ qua mười tám cõi phụ vũ trụ—bốn cõi thấp của cõi trí vũ trụ, bảy cõi của cõi cảm dục vũ trụ và bảy cõi của cõi hồng trần vũ trụ (dù chúng ta có thể đặt câu hỏi về cách biểu lộ qua ba cõi hệ thống thấp nhất, vốn không phải là một sự sống nguyên khí trong liên hệ với Thái dương Thượng đế). Tuy nhiên, Agni bao trùm Lửa ma sát, và vì thế phải biểu lộ qua mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ.
He is to the solar Logos on His own plane what the coherent personality of a human being is to his Ego in the causal body.
Ngài đối với Thái dương Thượng đế trên chính cõi của Ngài cũng như phàm ngã cố kết của một con người đối với chân ngã của y trong thể nguyên nhân.
68. Here there can be no question concerning the nature of Agni (as considered in the context of these pages). He is the personality of the Solar Logos.
68. Ở đây không thể có nghi vấn nào về bản chất của Agni (như được xét trong bối cảnh những trang này). Ngài là phàm ngã của Thái dương Thượng đế.
69. Since the personality ray of the Solar Logos is during this solar system (this incarnation) the second ray, then Agni is primarily (in this solar system) qualified by the second ray, even though He has a Brahmic/Fohatic function. At least He is subservient to the great second ray. Perhaps here we see by Fohat (or Agni) is so identified with “Eros”.
69. Vì cung phàm ngã của Thái dương Thượng đế trong hệ mặt trời này (lần lâm phàm này) là cung hai, nên Agni chủ yếu (trong hệ mặt trời này) được cung hai định tính, mặc dù Ngài có một chức năng Brahmic/Fohatic. Ít nhất Ngài cũng phụ thuộc vào cung hai vĩ đại. Có lẽ ở đây chúng ta thấy vì sao Fohat (hay Agni) lại được đồng nhất nhiều đến thế với “Eros”.
70. In the next system, the ray qualifying Him will probably be the first (as the second ray soul of the Solar Logos cannot change to the first) and as the monadic ray of any Entity remains the same throughout the greater aeon pertaining to that Entity.
70. Trong hệ thống kế tiếp, cung định tính cho Ngài có lẽ sẽ là cung một (vì cung linh hồn cung hai của Thái dương Thượng đế không thể đổi thành cung một) và vì cung chân thần của bất kỳ Thực Thể nào vẫn giữ nguyên trong suốt đại trường kỳ thuộc về Thực Thể ấy.
This is a very important point to be grasped, and if meditated upon will bring to the student much enlightenment.
Đây là một điểm rất quan trọng cần được nắm bắt, và nếu được tham thiền trên đó, nó sẽ mang lại cho đạo sinh nhiều giác ngộ.
71. There is no fast way here. Slow and careful pondering is required to fathom the mysteries of occultism.
71. Ở đây không có con đường nhanh chóng nào. Cần có sự suy ngẫm chậm rãi và cẩn trọng để thấu suốt các huyền nhiệm của huyền bí học.
72. We might think that Agni is in process of becoming Soul-infused by the Cosmic Ego of the Solar Logos. Since the Solar Logos is a cosmic initiate of the second degree, Agni is Soul-infused to the degree a human initiate of the second degree would be soul-infused—i.e., to quite a considerable extent—perhaps fifty percent soul-infused.
72. Chúng ta có thể nghĩ rằng Agni đang trong tiến trình trở thành được linh hồn thấm nhuần bởi Chân ngã Vũ Trụ của Thái dương Thượng đế. Vì Thái dương Thượng đế là một điểm đạo đồ vũ trụ cấp hai, nên Agni được linh hồn thấm nhuần đến mức mà một điểm đạo đồ nhân loại cấp hai sẽ được linh hồn thấm nhuần—nghĩa là ở một mức khá đáng kể—có lẽ năm mươi phần trăm được linh hồn thấm nhuần.
His is the life that fuses and blends the threefold nature of the Logos when in physical incarnation;
Ngài là sự sống dung hợp và hòa trộn bản chất tam phân của Thượng đế khi đang lâm phàm hồng trần;
73. This description is another way of describing personality.
73. Mô tả này là một cách khác để mô tả phàm ngã.
74. The threefold nature of the Logos manifests itself on all three of the lower cosmic planes—really, about two and a half cosmic planes.
74. Bản chất tam phân của Thượng đế biểu lộ trên cả ba cõi vũ trụ thấp hơn—thật ra là khoảng hai cõi rưỡi vũ trụ.
75. Just as the personality is particularly related to the physical aspect of man, so Agni is related to the threefold demonstration of the Solar Logos upon the cosmic physical plane.
75. Cũng như phàm ngã đặc biệt liên hệ với phương diện hồng trần của con người, thì Agni cũng liên hệ với sự biểu lộ tam phân của Thái dương Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ.
His is the coherent force that makes a unity of the triple logoic Personality, but man can only arrive at His essential nature by the study of the logoic physical vehicle—hence the difficulty;
Ngài là mãnh lực cố kết tạo nên sự hợp nhất của phàm ngã Thượng đế tam phân, nhưng con người chỉ có thể đạt đến bản chất cốt yếu của Ngài bằng cách nghiên cứu vận cụ hồng trần Thượng đế—do đó mới có khó khăn;
76. We define the triple “logoic Personality” as demonstrating on two and a half cosmic planes—really, two and four sevenths.
76. Chúng ta định nghĩa “phàm ngã Thượng đế” tam phân là biểu lộ trên hai cõi rưỡi vũ trụ—thật ra là hai và bốn phần bảy.
77. Agni unifies the entire threefold logoic personality, but His expression upon the cosmic astral plane and the cosmic mental plane can only be inferred from studying His threefold expression upon the seven systemic planes of the cosmic physical plane.
77. Agni hợp nhất toàn bộ phàm ngã Thượng đế tam phân, nhưng sự biểu lộ của Ngài trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ chỉ có thể được suy ra từ việc nghiên cứu sự biểu lộ tam phân của Ngài trên bảy cõi hệ thống của cõi hồng trần vũ trụ.
he can only understand by a consideration of His psychic emanation as it can be sensed and viewed by passing the history of the races in retrospect.
y chỉ có thể thấu hiểu bằng cách xem xét phát xạ thông linh của Ngài như nó có thể được cảm nhận và quan sát qua việc nhìn lại lịch sử các giống dân.
78. The psychic emanation of Agni cannot at this time be directly understood by man, for he cannot fathom the nature of the cosmic astral plane. By study of that psychic emanation as it expresses in a much modified form on the cosmic physical plane, something of the original psychic emanation can be understood.
78. Phát xạ thông linh của Agni hiện nay không thể được con người trực tiếp thấu hiểu, vì y không thể dò thấu bản chất của cõi cảm dục vũ trụ. Bằng cách nghiên cứu phát xạ thông linh ấy khi nó biểu lộ dưới một hình thức đã được biến đổi rất nhiều trên cõi hồng trần vũ trụ, người ta có thể hiểu được phần nào phát xạ thông linh nguyên thủy.
79. Somehow the qualities of the various root races reveal something of the psychic quality of Agni. We cannot see Agni’s qualities directly (for, actually, they are stored in the causal body of the Solar Logos), but we can sense them working out in the forms of humanity which cyclically appear over time.
79. Bằng cách nào đó, các phẩm tính của những giống dân gốc khác nhau tiết lộ điều gì đó về phẩm tính thông linh của Agni. Chúng ta không thể trực tiếp thấy các phẩm tính của Agni (vì thật ra chúng được lưu giữ trong thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế), nhưng chúng ta có thể cảm nhận chúng đang triển khai trong những hình tướng của nhân loại xuất hiện theo chu kỳ qua thời gian.
Man's personality reveals his nature as his life progresses; his psychic quality unfolds as the years slip away, and when he passes out of incarnation he is spoken of in terms of quality,
Phàm ngã của con người tiết lộ bản chất của y khi cuộc sống của y tiến triển; phẩm tính thông linh của y khai mở khi năm tháng trôi qua, và khi y ra khỏi lâm phàm, người ta nói về y theo phẩm tính,
80. Man, once departed, is spoken of more in terms of the overall qualitative effect of his life than in terms of the specific actions accomplished. The actions actually reveal the psychic quality. It is assumed that one endowed with certain qualities can produce a set of actions associated with those qualities.
80. Một khi đã qua đời, con người được nói đến nhiều hơn theo hiệu quả phẩm tính tổng thể của cuộc đời y hơn là theo những hành động cụ thể đã hoàn thành. Chính các hành động thực ra bộc lộ phẩm tính thông linh. Người ta giả định rằng một người được phú cho những phẩm tính nhất định có thể tạo ra một tập hợp hành động gắn liền với những phẩm tính ấy.
good or bad, selfish or unselfish; the effect of his “emanation” during life is that which remains in men's minds.
tốt hay xấu, ích kỷ hay vị tha; hiệu quả của “phát xạ” của y trong đời sống là điều còn lại trong tâm trí con người.
81. There is ever the tendency towards generalization and summarization.
81. Luôn luôn có khuynh hướng hướng tới sự khái quát hóa và tóm lược hóa.
82. “Let there be no recollection and yet let memory rule.” This is a qualitative solar system and qualities resulting from actions turn out to be more important than the actions themselves.
82. “Đừng để có sự hồi tưởng, nhưng hãy để ký ức cai quản.” Đây là một hệ mặt trời phẩm tính, và những phẩm tính phát sinh từ hành động rốt cuộc trở nên quan trọng hơn chính các hành động ấy.
83. When searching to understand more fully one’s own qualities, one can speculate upon the qualities for which one will be known after one has passed over.
83. Khi tìm cách thấu hiểu đầy đủ hơn những phẩm tính của chính mình, người ta có thể suy đoán về những phẩm tính mà mình sẽ được biết đến sau khi đã qua đời.
Thus only can the logoic personality express itself, and our knowledge of His nature is consequently limited by our close perspective, and handicapped by the fact that we are participants in His life, and integral parts of His manifestation.
Chỉ như thế phàm ngã Thượng đế mới có thể biểu lộ, và kiến thức của chúng ta về bản chất của Ngài vì thế bị giới hạn bởi góc nhìn gần hẹp của chúng ta, và còn bị cản trở bởi sự kiện rằng chúng ta là những người tham dự vào sự sống của Ngài, và là những phần toàn vẹn trong biểu hiện của Ngài.
84. DK is telling us that we cannot possibly appreciate the full nature of Agni as that nature manifests on planes higher than the cosmic physical.
84. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chúng ta tuyệt đối không thể đánh giá được bản chất đầy đủ của Agni khi bản chất ấy biểu lộ trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ.
85. We can infer something about His nature only by judging of effects of internal causes as those effects manifest on the cosmic physical plane.
85. Chúng ta chỉ có thể suy ra điều gì đó về bản chất của Ngài bằng cách phán đoán các hiệu quả của những nguyên nhân nội tại khi các hiệu quả ấy biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ.
It is only as we begin to function upon the buddhic plane that we can in any way “live in the subjective” [Page 604] side of nature,
Chỉ khi chúng ta bắt đầu hoạt động trên cõi Bồ đề thì chúng ta mới có thể theo bất kỳ cách nào “sống trong phương diện chủ quan” [Page 604] của bản chất,
86. Even our so-called “soul nature” as it expresses on the higher mental plane of the cosmic physical plane is considered in relation to the Solar Logos, objective.
86. Ngay cả cái gọi là “bản chất linh hồn” của chúng ta khi nó biểu lộ trên cõi thượng trí của cõi hồng trần vũ trụ cũng được xem là khách quan trong liên hệ với Thái dương Thượng đế.
87. Subjective life begins in the etheric body of the Solar Logos. This is worth pondering. It reveals the externality of our life as presently lived.
87. Sự sống chủ quan bắt đầu trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế. Điều này đáng để suy ngẫm. Nó cho thấy tính bên ngoài của đời sống chúng ta như hiện đang được sống.
and it is only as our knowledge of the spiritual life increases, and as we pass definitely through the portal of initiation into the fifth kingdom that we can appreciate the distinction between the dense physical, and the vital body.
và chỉ khi kiến thức của chúng ta về đời sống tinh thần gia tăng, và khi chúng ta dứt khoát đi qua cánh cổng điểm đạo vào giới thứ năm, thì chúng ta mới có thể nhận thức được sự phân biệt giữa thể xác đậm đặc và thể sinh lực/thể dĩ thái.
88. We are speaking of the dense body of the Solar Logos and His etheric body. It is also true that only the initiate (as least of the first degree) can begin to appreciate the functional difference between his own microcosmic etheric body and its physically dense counterpart.
88. Chúng ta đang nói về thể đậm đặc của Thái dương Thượng đế và thể dĩ thái của Ngài. Cũng đúng là chỉ điểm đạo đồ (ít nhất là cấp một) mới có thể bắt đầu nhận thức được sự khác biệt chức năng giữa thể dĩ thái tiểu thiên địa của chính mình và đối phần hồng trần đậm đặc của nó.
Only as we become polarised in the cosmic etheric body and are no longer held prisoner by a dense material sheath (for the three lower planes are but the dense body of the Logos) do we come to a fuller understanding of the psychic nature of the Logos, for we stand then in the body which bridges the gulf between the dense physical, and the astral body of the Logos.
Chỉ khi chúng ta trở nên phân cực trong thể dĩ thái vũ trụ và không còn bị giam giữ bởi một vỏ bọc vật chất đậm đặc nữa (vì ba cõi thấp chỉ là thể đậm đặc của Thượng đế) thì chúng ta mới đi đến một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về bản chất thông linh của Thượng đế, vì khi ấy chúng ta đứng trong thể bắt cầu qua vực thẳm giữa thể xác đậm đặc và thể cảm dục của Thượng đế.
89. The etheric body is as a bridge between the astral (or ‘psychic’) body of the Solar Logos on the cosmic astral plane and His dense physical vehicle—our lower three systemic or solar planes.
89. Thể dĩ thái giống như một cây cầu giữa thể cảm dục (hay “thông linh”) của Thái dương Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ và vận cụ xác thân đậm đặc của Ngài—ba cõi hệ thống hay cõi thái dương thấp của chúng ta.
90. A Being like the Christ is really coming to an understanding of the psychic, magnetic nature of the Solar Logos on the cosmic astral plane. The Members of the Spiritual Hierarchy of our planet are learning the nature of God’s Love as expressed upon the cosmic physical plane through the astral body of the Solar Logos on the cosmic astral plane—and this but slowly.
90. Một Đấng như Đức Christ thực sự đang đi đến chỗ thấu hiểu bản chất thông linh, từ tính của Thái dương Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ. Các Thành Viên của Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta đang học biết bản chất của Tình thương của Thượng đế như được biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ qua thể cảm dục của Thái dương Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ—và điều này chỉ rất chậm chạp.
91. Again, we should pause to reflect how really dense is the process of our normal living. Only a true Member of the Hierarchy (and really only an initiate of the fourth degree) is actually beginning to focus in the etheric body of the Solar Logos.
91. Một lần nữa, chúng ta nên dừng lại để suy ngẫm xem tiến trình sống bình thường của chúng ta thực sự đậm đặc đến mức nào. Chỉ một Thành Viên đích thực của Thánh Đoàn (và thật ra chỉ một điểm đạo đồ cấp bốn) mới thực sự bắt đầu tập trung trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế.
Only when this is the case do we understand the function of the Lord Agni as the vital life of the cosmic etheric, as the vitality of the Heavenly Men and the activity of Their sheaths.
Chỉ khi điều này là như thế, chúng ta mới hiểu được chức năng của Chúa Tể Agni như sự sống thiết yếu của dĩ thái vũ trụ, như sinh lực của các Đấng Thiên Nhân và hoạt động của các thể của Các Ngài.
92. Here the Lord Agni has a specifically cosmic etheric definition. We recognize that the full nature of Lord Agni is not apprehensible (at least by us). His being extends to the cosmic mental plane and cosmic astral plane. But upon the etheric part of the cosmic physical plane His nature can be somewhat experienced by the evolving, spiritual man.
92. Ở đây Chúa Tể Agni có một định nghĩa đặc biệt thuộc dĩ thái vũ trụ. Chúng ta nhận ra rằng bản chất trọn vẹn của Chúa Tể Agni là điều không thể lĩnh hội được (ít nhất là đối với chúng ta). Hữu thể của Ngài vươn tới cõi trí vũ trụ và cõi cảm dục vũ trụ. Nhưng trên phần dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ, bản chất của Ngài có thể phần nào được con người tinh thần đang tiến hóa kinh nghiệm.
93. Perhaps it is not correct to say that Lord Agni’s Life is expressed through all the eighteen cosmic sub-planes lower than the cosmic higher mental plane. Perhaps the lower three unprincipled cosmic sub-planes should be omitted or treated as a special case. In this case Lord Agni would be expressing through only fifteen planes (an interesting number) and via four of those planes—the cosmic etheric planes, His life would be somewhat apprehensible to initiated humanity.
93. Có lẽ không đúng khi nói rằng Sự Sống của Chúa Tể Agni được biểu lộ qua tất cả mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn cõi thượng trí vũ trụ. Có lẽ ba cõi phụ vũ trụ thấp nhất không nguyên khí nên được loại ra hoặc được xem như một trường hợp đặc biệt. Trong trường hợp ấy, Chúa Tể Agni sẽ chỉ biểu lộ qua mười lăm cõi (một con số thú vị) và qua bốn cõi trong số đó—các cõi dĩ thái vũ trụ, sự sống của Ngài sẽ phần nào có thể được nhân loại đã được điểm đạo lĩnh hội.
94. Yet below (TCF 605) we read the following which definitely associates Agni, as well, with the lowest expression of the Solar Logos, His dense physical vehicle:
94. Tuy nhiên, bên dưới (TCF 605) chúng ta đọc thấy điều sau đây, điều này cũng liên kết rõ ràng Agni với biểu hiện thấp nhất của Thái dương Thượng đế, tức vận cụ xác thân đậm đặc của Ngài:
Agni as the energising factor of the dense physical body of the Logos, or as the fire of His most concrete manifestation (TCF 605)
Agni như là nhân tố tiếp năng lượng cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, hay như lửa của biểu hiện cụ thể nhất của Ngài (TCF 605)
95. When we speak of the Heavenly Men, we speak of the Planetary Logoi and of two types of lesser Logoi (Chain Lords and Globe Lords) within Their field of expression.
95. Khi chúng ta nói về các Đấng Thiên Nhân, chúng ta nói về các Hành Tinh Thượng Đế và về hai loại Thượng đế nhỏ hơn (các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu) trong phạm vi biểu lộ của Các Ngài.
96. All vehicles of the Heavenly Men are vitalized, but Their specifically vital expression occurs upon the cosmic etheric planes.
96. Mọi vận cụ của các Đấng Thiên Nhân đều được tiếp sinh lực, nhưng sự biểu lộ đặc biệt sinh lực của Các Ngài xảy ra trên các cõi dĩ thái vũ trụ.
97. We have been considering Agni from the cosmic etheric perspective. Now we will consider this great Lord of Fire in relation to the mental plane (both the cosmic mental plane and the systemic mental plane).
97. Chúng ta đã xem xét Agni từ quan điểm dĩ thái vũ trụ. Giờ đây chúng ta sẽ xem xét vị Chúa Tể Lửa vĩ đại này trong liên hệ với cõi trí (cả cõi trí vũ trụ lẫn cõi trí hệ thống).
b. Agni and the Mental Plane.
b. Agni và Cõi Trí.
I seek to deal with a very important point here, emphasising the close connection between Agni, the sumtotal of the life force of the logoic threefold personality, as He is seen at work on the mental plane (which closely concerns man), and that manifesting driving force or intelligent will which emanates from the cosmic mental plane.
Tôi tìm cách bàn đến một điểm rất quan trọng ở đây, nhấn mạnh mối liên hệ mật thiết giữa Agni, tổng thể của sinh lực của phàm ngã Thượng đế tam phân, như Ngài được thấy đang hoạt động trên cõi trí (vốn liên hệ chặt chẽ với con người), và mãnh lực thúc đẩy hay ý chí trí tuệ đang biểu lộ ấy, phát ra từ cõi trí vũ trụ.
98. We have looked at Agni in relation to cosmic psychic quality and also in relation to cosmic vitality on the four highest sub-planes of the cosmic physical plane.
98. Chúng ta đã xem xét Agni trong liên hệ với phẩm tính thông linh vũ trụ và cũng trong liên hệ với sinh lực vũ trụ trên bốn cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ.
99. Now we focus on Agni’s mental expression—systemic mental and cosmic mental.
99. Giờ đây chúng ta tập trung vào sự biểu lộ trí tuệ của Agni—trí tuệ hệ thống và trí tuệ vũ trụ.
100. We are comparing Agni at work on the systemic mental plane and also His relation to the cosmic mental plane.
100. Chúng ta đang so sánh Agni hoạt động trên cõi trí hệ thống và cả mối liên hệ của Ngài với cõi trí vũ trụ.
101. It is to be pondered whether the number of the logoic Personality should be eighteen or fifteen, or perhaps sixteen. There is a case for saying that the two lowest systemic planes should definitely not be included. In that case the number would be sixteen—a significant number of form and related to the number of petals in the human throat center.
101. Cần suy ngẫm xem con số của phàm ngã Thượng đế nên là mười tám hay mười lăm, hoặc có lẽ là mười sáu. Có cơ sở để nói rằng hai cõi hệ thống thấp nhất chắc chắn không nên được bao gồm. Trong trường hợp ấy con số sẽ là mười sáu—một con số có ý nghĩa của hình tướng và liên hệ với số cánh hoa trong trung tâm cổ họng của con người.
102. If we decide that the mental plane itself should not be included in the numbering of the personality, then the number of planes through which the logoic Personality manifests is fifteen suggesting the number of the Kumaras, and summing to the number six—again, a number of form.
102. Nếu chúng ta quyết định rằng chính cõi trí không nên được tính vào số của phàm ngã, thì số cõi mà qua đó phàm ngã Thượng đế biểu lộ là mười lăm, gợi ý con số của các Kumara, và cộng lại thành số sáu—một lần nữa, lại là một con số của hình tướng.
103. When we think of our own personality, to what extent do we include the three lowest systemic sub-planes? Can it be said that our true personality really extends no ‘lower’ than the fourth systemic ether?
103. Khi nghĩ đến phàm ngã của chính mình, chúng ta bao gồm ba cõi phụ hệ thống thấp nhất đến mức nào? Có thể nói rằng phàm ngã đích thực của chúng ta thật ra không vươn “thấp” hơn dĩ thái hệ thống thứ tư chăng?
104. What is it that emanates from the cosmic mental plane? DK tells us it is a “driving force or intelligent will”. We discover repeatedly when dealing with manas that intelligence and will are always combined.
104. Điều gì phát ra từ cõi trí vũ trụ? Chân sư DK cho chúng ta biết đó là một “mãnh lực thúc đẩy hay ý chí trí tuệ”. Chúng ta liên tục khám phá khi bàn đến manas rằng trí tuệ và ý chí luôn luôn kết hợp với nhau.
105. We seem to be considering and contrasting the forces found on the cosmic and systemic higher mental planes, and those forces found on the lower mental sub-planes (cosmically and systemically considered).
105. Dường như chúng ta đang xem xét và đối chiếu các mãnh lực được tìm thấy trên các cõi thượng trí vũ trụ và hệ thống, với những mãnh lực được tìm thấy trên các cõi phụ hạ trí (xét theo nghĩa vũ trụ và hệ thống).
There is a very interesting series of correspondences to be worked out here and we might briefly indicate the lines to be followed in this connection by the ensuing tabulation:
Ở đây có một chuỗi tương ứng rất thú vị cần được triển khai, và chúng ta có thể ngắn gọn chỉ ra những đường hướng cần theo trong mối liên hệ này bằng bảng liệt kê sau đây:
106. Let us see what can be gathered from the following tabulation. The entire tabulation is obviously based on the number five.
106. Hãy xem có thể rút ra được điều gì từ bảng liệt kê sau đây. Toàn bộ bảng này hiển nhiên dựa trên con số năm.
The 5th cosmic plane… The cosmic mental.
Cõi vũ trụ thứ 5… Cõi trí vũ trụ.
107. Here we count from above downwards....
107. Ở đây chúng ta đếm từ trên xuống dưới....
The 5th systemic plane... The mental plane.
Cõi hệ thống thứ 5... Cõi trí.
108. There is a direct correspondence between the cosmic and systemic mental planes....
108. Có một sự tương ứng trực tiếp giữa cõi trí vũ trụ và cõi trí hệ thống....
The 5th subplane of the physical... The gaseous.
Cõi phụ thứ 5 của cõi hồng trần... Thể khí.
109. Much can be learned by relating the principle of manas to the gaseous state of matter. The quality of the thoughts we think and the quality of the air we breathe are related....
109. Có thể học được nhiều điều bằng cách liên hệ nguyên khí manas với trạng thái khí của vật chất. Phẩm tính của những tư tưởng chúng ta suy nghĩ và phẩm tính của không khí chúng ta hít thở có liên hệ với nhau....
The 5th principle... Manas.
Nguyên khí thứ 5... Manas.
110. There are a number of ways to count principles, but usually the fifth principle is correlated with manas....
110. Có một số cách để đếm các nguyên khí, nhưng thông thường nguyên khí thứ năm được tương liên với manas....
The 5th Law... Fixation, the Law of Concretion.
Định luật thứ 5... Sự cố định, Định luật Cụ thể hóa.
111. Let us note the alternative name for the “Law of Fixation”. Let us think for a moment of the dispersive nature of gas and the work of fixation in countering this dispersive tendency....
111. Hãy lưu ý tên gọi thay thế của “Định luật Cố định”. Hãy nghĩ trong chốc lát về bản chất phân tán của khí và công việc của sự cố định trong việc chống lại khuynh hướng phân tán này....
The 5th Ray... Concrete knowledge
Cung thứ 5... Tri thức cụ thể
The 5th round... The round of manasic attainment.
Cuộc tuần hoàn thứ 5... Cuộc tuần hoàn của sự thành tựu manas.
112. As we are far from the fifth round (the fifth chain round and even farther form the fifth scheme round) any manasic attainment achieved in this fourth chain round will be but relative. It will certainly not be a climactic development in relation to the potential manasic development of our planetary scheme....
112. Vì chúng ta còn cách xa cuộc tuần hoàn thứ năm (cuộc tuần hoàn dãy thứ năm và còn xa hơn nữa đối với cuộc tuần hoàn hệ hành tinh thứ năm), nên bất kỳ thành tựu manas nào đạt được trong cuộc tuần hoàn dãy thứ tư này cũng chỉ là tương đối. Chắc chắn đó sẽ không phải là một sự phát triển cao trào so với tiềm năng phát triển manas của hệ hành tinh chúng ta....
The 5th root-race... The Aryan. Mental development.
Giống dân gốc thứ 5... Arya. Sự phát triển trí tuệ.
The 5th sub-race... The Teutonic and Anglo-Saxon. Concrete mind.
Giống dân phụ thứ 5... Teutonic và Anglo-Saxon. trí cụ thể.
113. There are some references which equate the beginning of the fifth or Aryan root race with the onset of the Teutonic subrace. Obviously an occult blind is in effect.
113. Có một số tài liệu quy đồng sự khởi đầu của giống dân gốc thứ năm hay Arya với sự khởi phát của giống dân phụ Teutonic. Hiển nhiên ở đây có một màn che huyền bí đang được áp dụng.
The Manu presides over group one. He is called Vaivasvata Manu, and is the Manu of the fifth root-race. He is the ideal man or thinker, and sets the type for our Aryan race, having presided over its destinies since its inception nearly one hundred thousand years ago. (HIS 41-42)...
Đức Manu chủ trì nhóm một. Ngài được gọi là Đức Manu Vaivasvata, và là Đức Manu của giống dân gốc thứ năm. Ngài là con người lý tưởng hay nhà tư tưởng, và đặt ra kiểu mẫu cho nhân loại Arya của chúng ta, đã chủ trì vận mệnh của nó kể từ khi khởi đầu gần một trăm ngàn năm trước. (HIS 41-42)...
The 5th group of Devas... Fire Devas of the mental plane.
Nhóm thiên thần thứ 5... Các thiên thần Lửa của cõi trí.
114. We seem here to be speaking of the Agnishvattas or Solar Angels. They are “Fire Devas” and the type of fire they express is especially the fire of love and the fire of knowledge combined.
114. Ở đây dường như chúng ta đang nói về các Agnishvatta hay các Thái dương Thiên Thần. Các Ngài là “các thiên thần Lửa” và loại lửa mà Các Ngài biểu lộ đặc biệt là lửa bác ái và lửa tri thức kết hợp lại.
It is also possible that we may be speaking of those devas who work in relation to the lower mental plane, but this seems less likely....
Cũng có thể chúng ta đang nói về những thiên thần hoạt động trong liên hệ với cõi hạ trí, nhưng điều này dường như ít có khả năng hơn....
The 5th Manvantara... Three-fifths of the manasaputras achieve.
Giai kỳ sinh hóa thứ 5... Ba phần năm các manasaputra đạt thành tựu.
115. This has to be examined carefully, as the term “manvantara” is elastic. If man is considered a “manasaputra” then three fifths of the human beings on Earth will achieved in the fifth round, and the term “manvantara”, in this case, means round.
115. Điều này phải được khảo sát cẩn trọng, vì thuật ngữ “giai kỳ sinh hóa” có tính co giãn. Nếu con người được xem là một “manasaputra” thì ba phần năm nhân loại trên Trái Đất sẽ đạt thành tựu trong cuộc tuần hoàn thứ năm, và trong trường hợp này thuật ngữ “giai kỳ sinh hóa” có nghĩa là cuộc tuần hoàn.
Of course, we are speaking of the men or manasaputras on the Earth-chain, and the moment of achievement is the “Judgment Day”. We are not speaking of the great number of manasaputras found within the solar system.
Dĩ nhiên, chúng ta đang nói về những con người hay manasaputra trên Dãy Địa Cầu, và thời điểm đạt thành tựu là “Ngày Phán Xét”. Chúng ta không nói về số lượng lớn manasaputra được tìm thấy trong hệ mặt trời.
It is also possible that the fifth manvantara can be a systemic manvantara, and during it, perhaps a certain number of manasaputras within the entire solar system will achieve....
Cũng có thể giai kỳ sinh hóa thứ năm là một giai kỳ sinh hóa hệ thống, và trong đó, có lẽ một số manasaputra nhất định trong toàn bộ hệ mặt trời sẽ đạt thành tựu....
The 5th scheme... The Lord of concrete science
Hệ hành tinh thứ 5... Chúa Tể của khoa học cụ thể
116. Much is hidden in this apparently simple statement. What is the fifth scheme? In the diagrams with which we are presented, Mercury is always associated with the number five. The fifth scheme is the Mercury-scheme; the fifth chain is the Mercury-chain; the fifth globe of both the Earth-chain and the Mercury-chain is the Mercury-globe.
116. Có nhiều điều được ẩn giấu trong phát biểu tưởng như đơn giản này. Dãy thứ năm là gì? Trong các sơ đồ được trình bày cho chúng ta, Sao Thủy luôn luôn được gắn với con số năm. Dãy thứ năm là dãy Sao Thủy; chuỗi thứ năm là chuỗi Sao Thủy; bầu hành tinh thứ năm của cả Dãy Địa Cầu lẫn dãy Sao Thủy là bầu hành tinh Sao Thủy.
Now, what is important is that the fifth scheme (which is obviously the Mercury-scheme) should be associated with the “Lord of concrete science”.
Điều quan trọng ở đây là dãy thứ năm (rõ ràng là dãy Sao Thủy) phải được liên kết với “Chúa Tể của khoa học cụ thể”.
If Mercury has a fifth ray Monad, is this sufficient to consider Him a Lord of Concrete Science? Perhaps. And this would be a different way of understanding Mercury.
Nếu Sao Thủy có một chân thần cung năm, điều đó có đủ để xem Ngài là một Chúa Tể của Khoa Học Cụ Thể không? Có lẽ vậy. Và đây sẽ là một cách khác để hiểu về Sao Thủy.
We must also remember the hypothesis that the major monadic ray of Mercury is the third ray....
Chúng ta cũng phải nhớ giả thuyết rằng cung chân thần chính yếu của Sao Thủy là cung ba....
The 5th Mahamanvantara (or solar system)... The solar Logos achieves His fifth major Initiation.
Đại giai kỳ sinh hóa thứ 5 (hay hệ mặt trời)... Thái dương Thượng đế đạt đến lần điểm đạo lớn thứ năm của Ngài.
117. This is one of those treasured references which expands our understanding of solar systemic manifestation far beyond the ordinary. We are in the midst not of the second Mahamanvantara but of the fifth which is the major second.
117. Đây là một trong những tham chiếu quý giá giúp mở rộng sự thấu hiểu của chúng ta về biểu hiện hệ mặt trời vượt xa mức thông thường. Chúng ta đang ở giữa không phải Đại giai kỳ sinh hóa thứ hai mà là Đại giai kỳ sinh hóa thứ năm, vốn là Đại giai kỳ sinh hóa thứ hai chính yếu.
It is easy to endlessly repeat that we are in the second solar system without realizing that it is really the second major solar system, and that a number of minor solar systems preceded the previous solar system which is usually considered to be the first solar system.
Thật dễ cứ lặp đi lặp lại mãi rằng chúng ta đang ở trong hệ mặt trời thứ hai mà không nhận ra rằng đó thực sự là hệ mặt trời thứ hai chính yếu, và rằng đã có một số hệ mặt trời phụ đi trước hệ mặt trời trước đó, vốn thường được xem là hệ mặt trời thứ nhất.
Somehow, Mercury as the fifth scheme will be important to the Solar Logos as He achieves His fifth major initiation (if He does! in this Mahamanvantara) for Mercury represents “kundalini active” and the base of the spine center is intimately involved with the achievement of the fifth initiation.
Bằng cách nào đó, Sao Thủy với tư cách là dãy thứ năm sẽ quan trọng đối với Thái dương Thượng đế khi Ngài đạt đến lần điểm đạo lớn thứ năm của Ngài (nếu Ngài thực sự đạt được điều đó! trong Đại giai kỳ sinh hóa này) vì Sao Thủy tượng trưng cho “kundalini hoạt động” và trung tâm đáy cột sống có liên hệ mật thiết với việc đạt đến lần điểm đạo thứ năm.
If we followed this line of thought we would enter the difficult speculation concerning which of several possible planets should most be associated with the solar logoic base of the spine center....
Nếu chúng ta theo đuổi dòng tư tưởng này, chúng ta sẽ bước vào sự suy đoán khó khăn liên quan đến việc trong số vài hành tinh khả dĩ, hành tinh nào nên được liên kết nhiều nhất với trung tâm đáy cột sống thái dương logoic....
The 5th chain... Principal evolution—fire devas.
Chuỗi thứ 5... Tiến hoá chính yếu—các thiên thần lửa.
118. In this case, we are probably speaking of the fifth chain of the Earth-scheme. If so, the concentration of our Planetary Logos is not yet upon this fifth chain.
118. Trong trường hợp này, có lẽ chúng ta đang nói đến chuỗi thứ năm của hệ hành tinh Địa Cầu. Nếu vậy, sự tập trung của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta vẫn chưa đặt vào chuỗi thứ năm này.
Are we being told something of the major habitat or origin of the “fire devas” and, in this case, are the “fire devas” the Solar Angels?
Có phải chúng ta đang được cho biết điều gì đó về nơi cư ngụ hay nguồn gốc chính yếu của “các thiên thần lửa”, và trong trường hợp này, “các thiên thần lửa” có phải là các Thái dương Thiên Thần không?
It is also possible that we are speaking of the fifth chain of all the planetary schemes, and that fire devas are to be found in relation to all fifth chains....
Cũng có thể là chúng ta đang nói đến chuỗi thứ năm của mọi hệ hành tinh, và rằng các thiên thần lửa được tìm thấy trong liên hệ với mọi chuỗi thứ năm....
The 5th Hierarchy... The greater Builders
Huyền Giai thứ 5... các đấng đại kiến tạo
119. What is the difference between the “fifth group of devas” listed above as the “Fire Devas of the mental plane” and the “5th Hierarchy”, “The Greater Builders”
119. Sự khác biệt giữa “nhóm thiên thần thứ năm” được liệt kê ở trên như là “Các thiên thần Lửa của cõi trí” và “Huyền Giai thứ 5”, “các đấng đại kiến tạo” là gì?th
It would seem that, farther above, we are dealing with the Agnishvattas and that in this instance we are counting from ‘below’ and are dealing with that group of Lives known as the “Triads”.
Dường như ở phần trên hơn, chúng ta đang bàn đến các Agnishvatta, còn trong trường hợp này chúng ta đang đếm từ ‘bên dưới’ và đang bàn đến nhóm các Sự Sống được biết đến như “các Tam nguyên tinh thần”.
Compared to the Human Creative Hierarchy, Creative Hierarchy number three, the Triads are certainly greater Builders. But in the tabulation in EA 35, they are not listed as such, but, instead, as “Lesser Builders”. The “Burning Sons of Desire” one step ‘above’ them are listed as the “Greater Builders”.
So với Huyền Giai Sáng Tạo Nhân Loại, Huyền Giai Sáng Tạo số ba, các Tam nguyên tinh thần chắc chắn là những đấng kiến tạo vĩ đại hơn. Nhưng trong bảng liệt kê ở EA 35, các vị ấy không được liệt kê như vậy mà thay vào đó là “các vị tiểu kiến tạo”. “Các Con Rực Cháy của Dục Vọng” ở phía ‘trên’ các vị ấy một bậc lại được liệt kê là “các đấng đại kiến tạo”.
The Solar Angels of men are certainly builders because, for twenty-one million years or more in most instances, they build the personality of man. On occasion They are called “greater Builders” but not usually in tabulations in which still greater Hierarchies are mentioned.
Các Thái dương Thiên Thần của nhân loại chắc chắn là những đấng kiến tạo bởi vì, trong phần lớn trường hợp, suốt hai mươi mốt triệu năm hoặc hơn, các Ngài xây dựng phàm ngã của con người. Đôi khi Các Ngài được gọi là “các đấng đại kiến tạo” nhưng thường không phải trong những bảng liệt kê có nhắc đến các Huyền Giai còn vĩ đại hơn.
The greater Builders are the solar Pitris, whilst the lesser Builders are the lunar ancestors. (TCF 613)
Các đấng đại kiến tạo là các thái dương tổ phụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tổ tiên thái âm. (TCF 613)
The Triads are even greater Builders than the Agnishvattas because they build the monadic personality (i.e., the spiritual triad) and not the lower personality of man.
Các Tam nguyên tinh thần còn là những đấng kiến tạo vĩ đại hơn các Agnishvatta bởi vì các vị ấy xây dựng phàm ngã chân thần (tức Tam Nguyên Tinh Thần) chứ không phải phàm ngã thấp của con người.
We shall have to discriminate between the “Fire devas of the mental plane” and “the 5th Hierarchy” of “greater Builders”. Both are listed in this tabulation and both could easily be seen as equivalent if we did not look more deeply into the subject. When similar names are used for different B/beings, we are either into terminological confusion or the revelation of subtle distinctions....
Chúng ta sẽ phải phân biện giữa “các thiên thần Lửa của cõi trí” và “Huyền Giai thứ 5” của “các đấng đại kiến tạo”. Cả hai đều được liệt kê trong bảng này và cả hai đều có thể dễ dàng bị xem th là tương đương nếu chúng ta không khảo sát đề tài này sâu hơn. Khi những tên gọi tương tự được dùng cho các hữu thể khác nhau, hoặc là chúng ta đang rơi vào sự lẫn lộn thuật ngữ, hoặc là đang đứng trước sự mặc khải về những phân biệt tinh tế. as equivalent if we did not look more deeply into the subject. When similar names are used for different B/beings, we are either into terminological confusion or the revelation of subtle distinctions....
Vibrations of fifth order... Manasic.
Các rung động của cấp thứ năm... Manas.
120. These vibrations could be either systemic (more likely) or cosmic mental (less so). The suggestion exists that there are seven orders of vibrations....
120. Những rung động này có thể là rung động của hệ thống (nhiều khả năng hơn) hoặc rung động trí tuệ vũ trụ (ít khả năng hơn). Có một gợi ý rằng có bảy cấp rung động....
[Page 605]
[Page 605]
121. These factors could be taken two at a time to see what sparks of illumination may arise. All of these tabulated factors are related and certainly each two of them is related as well.
121. Những yếu tố này có thể được xét từng cặp một để xem những tia soi sáng nào có thể phát sinh. Tất cả những yếu tố được lập bảng này đều có liên hệ với nhau, và chắc chắn mỗi cặp trong số đó cũng có liên hệ với nhau.
122. Can we begin to sense how much Master DK ‘hides’ in such an apparently simple table? A superficial reading will not reveal the hidden implications.
122. Liệu chúng ta có thể bắt đầu cảm nhận được Chân sư DK ‘ẩn giấu’ bao nhiêu điều trong một bảng tưởng như đơn giản như thế này không? Một cách đọc hời hợt sẽ không làm lộ ra những hàm ý ẩn kín.
It will, therefore, be apparent that when the system is viewed in reverse order and the physical plane is counted as the first (as it often is when considering it as the field of strictly human evolution),
Do đó, sẽ rõ ràng rằng khi hệ thống được nhìn theo trật tự ngược lại và cõi hồng trần được tính là thứ nhất (như thường xảy ra khi xem nó là trường tiến hoá thuần túy của con người),
123. Here is a most important point; it is possible to number from above to below or vise versa.
123. Đây là một điểm hết sức quan trọng; có thể đánh số từ trên xuống dưới hoặc ngược lại.
124. When dealing with strictly human living, the physical plane (the strictly physical part of it) is given an importance it does not deserve from the solar logoic perspective and even from the planetary logoic perspective.
124. Khi bàn đến đời sống thuần túy của con người, cõi hồng trần (phần hoàn toàn hồng trần của nó) được trao cho một tầm quan trọng mà nó không xứng đáng có được theo quan điểm của Thái dương Thượng đế, và ngay cả theo quan điểm của Hành Tinh Thượng Đế.
that the third plane—the mental plane—comes under the same group of correspondences and Agni, as the energising factor of the dense physical body of the Logos, or as the fire of His most concrete manifestation, vitalising, warming and holding all together, has to be considered.
rằng cõi thứ ba—cõi trí—thuộc cùng một nhóm tương ứng và Agni, với tư cách là yếu tố tiếp năng lượng cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, hay như lửa của biểu hiện cụ thể nhất của Ngài, tiếp sinh lực, sưởi ấm và giữ cho mọi sự gắn kết với nhau, phải được xem xét.
125. Here Agni is given more than a cosmic etheric meaning, but is made to relate to the very lowest of the cosmic sub-planes—the most concrete manifestation of the Solar Logos, our systemic mental, astral and physical-etheric planes.
125. Ở đây Agni được trao một ý nghĩa nhiều hơn ý nghĩa dĩ thái vũ trụ, mà còn được làm cho liên hệ với chính những cõi phụ thấp nhất của các cõi vũ trụ—biểu hiện cụ thể nhất của Thái dương Thượng đế, tức các cõi trí, cảm dục và hồng trần-dĩ thái của hệ chúng ta.
126. What does Agni do in relation to these lowest sub-planes:
126. Agni làm gì trong liên hệ với những cõi phụ thấp nhất này:
a. It vitalizes them
a. Ngài tiếp sinh lực cho chúng
b. It warms them
b. Ngài sưởi ấm chúng
c. Within them, it holds al together
c. Bên trong chúng, Ngài giữ mọi sự gắn kết với nhau
127. The only way we can bring Agni in relation to the systemic mental plane is to consider it as the energizing factor of the dense physical body of the Logos, for the systemic mental plane is within the dense physical body of the Logos.
127. Cách duy nhất để chúng ta liên hệ Agni với cõi trí của hệ là xem Ngài như yếu tố tiếp năng lượng cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, vì cõi trí của hệ nằm bên trong thể xác đậm đặc của Thượng đế.
Three hierarchies are, in this mahamanvantara, of profound significance, the fourth or human Creative Hierarchy, and the two deva hierarchies, the fifth and sixth.
Ba Huyền Giai, trong đại giai kỳ sinh hóa này, có thâm nghĩa sâu xa, đó là Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hay nhân loại, và hai Huyền Giai thiên thần, thứ năm và thứ sáu.
128. These Creative Hierarchy are, for man, the ‘closest to home’.
128. Đối với con người, các Huyền Giai Sáng Tạo này là những Huyền Giai ‘gần gũi nhất’.
129. This second Mahamanvantara is the Mahamanvantara in which the logoic soul nature is learning to dominate and redeem the lunar life.
129. Đại giai kỳ sinh hóa thứ hai này là Đại giai kỳ sinh hóa trong đó bản chất linh hồn logoic đang học cách thống trị và cứu chuộc sự sống thái âm.
a. The Fourth Creative Hierarchy is the Hierarchy of human Monads
a. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư là Huyền Giai của các chân thần nhân loại
b. The Fifth Creative Hierarchy is the Creative Hierarchy of Solar Angels or Agnishvattas. It is a dual Creative Hierarchy and the mystery of its duality is not easy to solve. A few interesting speculations have been put forward.
b. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm là Huyền Giai Sáng Tạo của các Thái dương Thiên Thần hay các Agnishvatta. Đây là một Huyền Giai Sáng Tạo kép và huyền nhiệm về tính nhị nguyên tính của nó không dễ giải đáp. Một vài suy đoán thú vị đã được nêu ra.
c. The Sixth Creative Hierarchy is the Hierarchy of “Lunar Lords”, which must be redeemed and redirected onto their evolutionary path by coming under the control of the Solar Lords—the Solar Angels.
c. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu là Huyền Giai của “các nguyệt tinh quân”, những vị phải được cứu chuộc và chuyển hướng vào con đường thăng thượng tiến hoá của mình bằng cách đặt dưới sự kiểm soát của các nhật tinh quân—các Thái dương Thiên Thần.
The fourth Hierarchy in the larger scheme is literally the ninth, for five hierarchies have earlier passed on and are considered as pure abstractions.
Huyền Giai thứ tư trong hệ thống lớn hơn thực sự là thứ chín, vì năm Huyền Giai đã đi qua trước đó và được xem là những trừu tượng thuần túy.
130. Lives upon the cosmic physical plane are considered cosmically as concretions. Lives upon the cosmic astral plane and above are considered “pure abstractions”. They exist, of course, but humanity can know nothing about them, except the few things shared by the Tibetan in some of this texts and tables.
130. Các Sự Sống trên cõi hồng trần vũ trụ được xem, theo nghĩa vũ trụ, là những sự kết tụ cụ thể. Các Sự Sống trên cõi cảm dục vũ trụ và cao hơn được xem là “những trừu tượng thuần túy”. Dĩ nhiên các vị ấy hiện hữu, nhưng nhân loại không thể biết gì về các vị ấy, ngoại trừ một vài điều được Chân sư Tây Tạng chia sẻ trong một số bản văn và bảng biểu này.
131. The numbers of the Creative Hierarchies reveal their nature. The relation of the Fourth Creative Hierarchy to the developments in the next solar system (under the number nine) is important to consider.
131. Các con số của các Huyền Giai Sáng Tạo tiết lộ bản chất của chúng. Mối liên hệ của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư với những phát triển trong hệ mặt trời kế tiếp (dưới con số chín) là điều quan trọng cần xem xét.
132. The role of man in completing the program begun in the previous solar system is also significant.
132. Vai trò của con người trong việc hoàn tất chương trình đã khởi đầu trong hệ mặt trời trước cũng rất có ý nghĩa.
In this system concretion concerns us, and the blending of form and of energy into one coherent whole.
Trong hệ này, sự kết tụ cụ thể là điều liên quan đến chúng ta, và là sự hòa trộn hình tướng với năng lượng thành một toàn thể cố kết.
133. By “concretion” we mean the lives of the seven manifested Creative Hierarchies.
133. Bởi “sự kết tụ cụ thể”, chúng ta muốn nói đến các sự sống của bảy Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện.
134. Energy, in this case, is probably to be considered as spiritual energy. Form already exists but must, in this solar system, be blended with spiritual energy.
134. Trong trường hợp này, năng lượng có lẽ phải được xem là năng lượng tinh thần. Hình tướng đã hiện hữu nhưng trong hệ mặt trời này phải được hòa trộn với năng lượng tinh thần.
135. The task is to blend the forms which are the legacy of the previous solar system with the energy patterns of the present solar system.
135. Nhiệm vụ là hòa trộn những hình tướng là di sản của hệ mặt trời trước với các mô hình năng lượng của hệ mặt trời hiện tại.
In the ninth, tenth and eleventh Hierarchies lie the clue to the nature of Agni, the Lord of fire, the sumtotal of systemic vitality.
Trong các Huyền Giai thứ chín, thứ mười và thứ mười một có manh mối về bản chất của Agni, Chúa Tể của lửa, tổngthể của sinh lực hệ thống.
136. Here DK is numbering the Hierarchies in such as way as to include those Creative Hierarchy which are “pure abstractions”.
136. Ở đây Chân sư DK đang đánh số các Huyền Giai theo cách bao gồm cả những Huyền Giai Sáng Tạo là “những trừu tượng thuần túy”.
137. The numbering found in this enumeration appears to begin with the highest of the liberated Creative Hierarchies and work its way down.
137. Cách đánh số trong phép liệt kê này dường như bắt đầu từ Huyền Giai Sáng Tạo được giải thoát cao nhất rồi đi dần xuống dưới.
138. The ninth, tenth and eleventh Creative Hierarchy’s are really the Hierarchies of Human Monads (the ninth), of Agnishvattas (the tenth) and of the Lunar Lords (the eleventh).
138. Các Huyền Giai Sáng Tạo thứ chín, thứ mười và thứ mười một thực ra là các Huyền Giai của các chân thần nhân loại (thứ chín), của các Agnishvatta (thứ mười) và của các nguyệt tinh quân (thứ mười một).
139. (Parenthetically, we are led to consider whether the tenth Creative Hierarchy can really contain the I nature of the Solar Angels or whether but a part of themselves is invested in it).
139. (Nói ngoài lề, chúng ta được dẫn đến chỗ xem xét liệu Huyền Giai Sáng Tạo thứ mười có thực sự có thể chứa đựng bản chất Tôi của các Thái dương Thiên Thần hay chỉ có một phần của chính các Ngài được đầu tư vào đó).
140. Again we are told that Agni is related to “systemic vitality”—i.e., the solar logoic vitality as expressed on the cosmic etheric planes.
140. Một lần nữa chúng ta được cho biết rằng Agni có liên hệ với “sinh lực hệ thống”—tức sinh lực thái dương logoic như được biểu lộ trên các cõi dĩ thái vũ trụ.
141. Agni is certainly an extra-systemic Being, but is reflected on and through the cosmic physical plane in three ways:
141. Agni chắc chắn là một Hữu thể ngoài hệ thống, nhưng được phản chiếu trên và xuyên qua cõi hồng trần vũ trụ theo ba cách:
a. As electric fire through the Ninth Creative Hierarchy (though we must not forget Agni’s presence as electric fire on the systemic logoic plane)
a. Như Lửa Điện qua Huyền Giai Sáng Tạo thứ Chín (dù chúng ta không được quên sự hiện diện của Agni như Lửa Điện trên cõi logoic của hệ)
b. As solar fire through the Tenth Creative Hierarchy (though we must not forget Agni’s presence as solar fire on the systemic monadic, atmic and buddhic planes)
b. Như Lửa Thái dương qua Huyền Giai Sáng Tạo thứ Mười (dù chúng ta không được quên sự hiện diện của Agni như Lửa Thái dương trên các cõi chân thần, atma và Bồ đề của hệ)
c. As fire by friction through the Eleventh Creative Hierarchy. (Does Agni’s presence as fire by friction begin, from the logoic perspective, as high as the systemic higher mental plane?) This has to be carefully examined:
c. Như Lửa ma sát qua Huyền Giai Sáng Tạo thứ Mười Một. (Phải chăng sự hiện diện của Agni như Lửa ma sát, theo quan điểm logoic, bắt đầu cao đến mức cõi thượng trí của hệ?) Điều này phải được khảo sát cẩn thận:
I would point out that the Lord Agni shows forth His fiery life on the atomic subplane of each plane; He shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as 'fire by friction' on the fifth, sixth and seventh. From the point of view of the microcosm, the Spark in the Flame, man demonstrates as electric fire on the second plane, or the second cosmic ether; as solar fire on the third, fourth and the three higher subplanes of the fifth plane, and as fire by friction on the lower subplanes of the fifth, on the sixth, and seventh planes. (TCF 521-522)
Tôi muốn chỉ ra rằng Chúa Tể Agni biểu lộ sự sống rực lửa của Ngài trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi; Ngài biểu lộ như lửa thái dương trên cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như 'Lửa ma sát' trên cõi phụ thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Theo quan điểm của tiểu thiên địa, Tia Lửa trong Ngọn Lửa, con người biểu lộ như Lửa Điện trên cõi thứ hai, hay dĩ thái vũ trụ thứ hai; như Lửa Thái dương trên cõi thứ ba, thứ tư và ba cõi phụ cao hơn của cõi thứ năm; và như Lửa ma sát trên các cõi phụ thấp của cõi thứ năm, trên cõi thứ sáu và thứ bảy. (TCF 521-522)
142. What can be said of systemic sub-planes can also be said of the cosmic physical plane as a whole, and Agni will show forth as systemic electric fire on the logoic systemic plane; as systemic solar fire on the second, third and fourth systemic planes; and as fire by friction on the fifth, sixth and seventh systemic planes.
142. Điều có thể được nói về các cõi phụ của hệ cũng có thể được nói về toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ, và Agni sẽ biểu lộ như Lửa Điện của hệ trên cõi logoic của hệ; như Lửa Thái dương của hệ trên các cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư của hệ; và như Lửa ma sát trên các cõi thứ năm, thứ sáu và thứ bảy của hệ.
143. The systemic higher mental plane is an ambiguous area. As Agni represents the Solar Logos and as the Solar Logos expresses in a principled manner no lower than the buddhic plane, we will probably have to include the systemic higher mental plane within the field of Agni’s fire by friction expression.
143. Cõi thượng trí của hệ là một khu vực mơ hồ. Vì Agni tượng trưng cho Thái dương Thượng đế và vì Thái dương Thượng đế biểu lộ một cách nguyên khí không thấp hơn cõi Bồ đề, nên có lẽ chúng ta sẽ phải bao gồm cõi thượng trí của hệ trong phạm vi biểu hiện Lửa ma sát của Agni.nguyên khí
144. Returning to the numbering, if we add the numbers nine, ten and eleven together we get thirty—the number of years which existed between the Birth and Baptism in the life of Jesus.
144. Trở lại với cách đánh số, nếu chúng ta cộng các số chín, mười và mười một lại, chúng ta được ba mươi—số năm đã tồn tại giữa Sự Giáng Sinh và Phép Rửa Tội trong cuộc đời của Đức Jesus.
145. Lord Agni is triple, and represents the three aspects of divinity. The three Creative Hierarchies listed represent these three aspects—but of course, they are not the only representatives.
145. Chúa Tể Agni là tam phân, và tượng trưng cho ba phương diện của thiên tính. Ba Huyền Giai Sáng Tạo được liệt kê tượng trưng cho ba phương diện này—nhưng dĩ nhiên, chúng không phải là những đại diện duy nhất.
146. All the Creative Hierarchies are Monads, but the three here listed represent, for man, the expression of his Monad, soul and personality.
146. Tất cả các Huyền Giai Sáng Tạo đều là các chân thần, nhưng ba Huyền Giai được liệt kê ở đây tượng trưng, đối với con người, cho biểu hiện của chân thần, linh hồn và phàm ngã của y.
He who understands the significance of these figures, and their relation to each other as the triple division of a Unity in time and space will have discovered [Page 606] one of the keys which will unlock a door hitherto fast closed.
Y nào thấu hiểu thâm nghĩa của những con số này, và mối liên hệ của chúng với nhau như là sự phân chia tam phân của một Hợp Nhất trong thời gian và không gian sẽ khám phá ra [Page 606] một trong những chiếc chìa khóa sẽ mở một cánh cửa từ trước đến nay vẫn đóng chặt.
147. Master DK is hinting at one of the secrets of initiation.
147. Chân sư DK đang gợi ý về một trong những bí mật của điểm đạo.
148. These figures contain the mystery of the relationship of the three periodical vehicles.
148. Những con số này chứa đựng huyền nhiệm về mối liên hệ của ba vận cụ chu kỳ.
149. The three periodical vehicles are really a ‘three-in-one’. They appear to be three but, really, they are all the Monad and its expressions.
149. Ba vận cụ chu kỳ thực ra là một ‘ba-trong-một’. Chúng dường như là ba, nhưng thực ra tất cả đều là chân thần và các biểu hiện của chân thần.
150. The Mystery of the Trinity is contained therein, for the 30 is a 3.
150. Huyền Nhiệm của Ba Ngôi được chứa đựng trong đó, vì 30 là một 3.
151. The illusion of time and space creates the illusion of division.
151. Ảo tưởng về thời gian và không gian tạo ra ảo tưởng về sự phân chia.
152. The method of bridging between the cosmic etheric planes of the Solar Logos (or the Realm of Agni’s present cosmic physical plane focus as vitality) and the dense levels of the cosmic physical plane is expressed in this triple relationship.
152. Phương pháp bắt cầu giữa các cõi dĩ thái vũ trụ của Thái dương Thượng đế (hay Cõi của tiêu điểm hiện tại trên cõi hồng trần vũ trụ của Agni như là sinh lực) và các cấp độ đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ được biểu lộ trong mối liên hệ tam phân này.
They are the numbers of achievement, of potentiality brought into full activity and of innate capacity demonstrating in perfect fruition.
Chúng là những con số của thành tựu, của tiềm năng được đưa vào hoạt động trọn vẹn, và của năng lực bẩm sinh biểu lộ trong sự viên mãn hoàn hảo.
153. Spirit (under the number nine) must manifest fully on the outer levels. Spirit is potentiality. The potential is expressed in “full activity” through the third aspect represented by the Lunar Lords (the number eleven). The “perfect fruition” suggests the gift of fulness nurtured by the Fifth Creative Hierarchy under the number ten.
153. Tinh thần (dưới con số chín) phải biểu hiện trọn vẹn trên các cấp độ bên ngoài. Tinh thần là tiềm năng. Tiềm năng ấy được biểu lộ trong “hoạt động trọn vẹn” qua phương diện thứ ba được tượng trưng bởi các nguyệt tinh quân (con số mười một). “Sự viên mãn hoàn hảo” gợi ý món quà của sự sung mãn được nuôi dưỡng bởi Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm dưới con số mười.
154. Within our second solar system, the correct interrelation between these Creative Hierarchies taken together, represent a significant achievement for our Solar Logos. It is upon this achievement that the Solar Logos (in relation to our planet, particularly, and at this time) seems to be focussed.
154. Trong hệ mặt trời thứ hai của chúng ta, sự tương liên đúng đắn giữa các Huyền Giai Sáng Tạo này khi được xét cùng nhau tượng trưng cho một thành tựu quan trọng đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta. Chính vào thành tựu này mà Thái dương Thượng đế (đặc biệt trong liên hệ với hành tinh của chúng ta, và vào lúc này) dường như đang tập trung.
All potentiality lies in the vitalising, energising power of Agni, and in His ability to stimulate.
Mọi tiềm năng đều nằm trong quyền năng tiếp sinh lực, tiếp năng lượng của Agni, và trong khả năng kích thích của Ngài.
155. What can Agni do?
155. Agni có thể làm gì?
a. He can vitalize
a. Ngài có thể tiếp sinh lực
b. He can stimulate
b. Ngài có thể kích thích
c. He can energize
c. Ngài có thể tiếp năng lượng
156. These do sound like etheric functions.
156. Quả thật những điều này nghe như các chức năng dĩ thái.
157. Although Agni is much more than solar logoic etheric energy, it would seem that His nature is particularly visible through that medium—the medium of the cosmic etheric plane.
157. Dù Agni còn hơn nhiều so với năng lượng dĩ thái thái dương logoic, dường như bản chất của Ngài đặc biệt hữu hình qua môi trường đó—môi trường của cõi dĩ thái vũ trụ.
158. When thinking of the vitalizing power of Agni, we should also consider how the Holy Spirit vitalizes those it touches.
158. Khi suy nghĩ về quyền năng tiếp sinh lực của Agni, chúng ta cũng nên xem xét cách Chúa Thánh Thần tiếp sinh lực cho những ai được Ngài chạm đến.
He is life itself, and the driving force of evolution, of psychic development and of consciousness.
Ngài chính là sự sống, và là động lực của tiến hoá, của sự phát triển thông linh và của tâm thức.
159. Let us tabulate for complete clarity:
159. Hãy lập bảng cho thật rõ ràng đầy đủ:
a. Agni is life itself
a. Agni chính là sự sống
b. Agni is the driving force of evolution
b. Agni là động lực của tiến hoá
c. Agni is the driving force of psychic development
c. Agni là động lực của sự phát triển thông linh
d. Agni is the driving force of consciousness
d. Agni là động lực của tâm thức
160. We can sense the Tibetan trying in many ways to convey to our minds a well-rounded view of Agni. We can also sense that it is not easy, given our present state of ignorance.
160. Chúng ta có thể cảm nhận Chân sư Tây Tạng đang cố gắng bằng nhiều cách để truyền đạt vào trí tuệ chúng ta một cái nhìn toàn diện về Agni. Chúng ta cũng có thể cảm nhận rằng điều đó không dễ, xét đến tình trạng vô minh hiện nay của chúng ta.
161. DK is speaking here somewhat of the development of man and, in general, of development upon the cosmic physical plane. Upon the cosmic physical plane Agni is “life itself” and upon the cosmic physical plane, Agni represents the “driving force of evolution of psychic development and of consciousness.”
161. Ở đây Chân sư DK phần nào đang nói về sự phát triển của con người và, nói chung, về sự phát triển trên cõi hồng trần vũ trụ. Trên cõi hồng trần vũ trụ Agni là “chính sự sống” và trên cõi hồng trần vũ trụ, Agni tượng trưng cho “động lực của tiến hoá, của sự phát triển thông linh và của tâm thức.”
162. All of these impelling factors come from the etheric levels of the cosmic physical plane; on the cosmic physical plane, Agni expresses especially through its etheric planes—cosmic etheric planes.
162. Tất cả những yếu tố thúc đẩy này đều đến từ các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ; trên cõi hồng trần vũ trụ, Agni biểu lộ đặc biệt qua các cõi dĩ thái của nó—các cõi dĩ thái vũ trụ.
This fact is hidden in these figures, and not the evolution of substance, which is but a result, emanating from psychic causes.
Sự kiện này được ẩn giấu trong những con số này, chứ không phải sự tiến hoá của chất liệu, vốn chỉ là một kết quả, phát xuất từ những nguyên nhân thông linh.
163. The true human soul is the liberated Ego on triadal level and, hence, within the four cosmic ethers. This suggests that man’s true psyche is to be found on cosmic etheric levels.
163. Linh hồn nhân loại đích thực là chân ngã được giải thoát ở cấp Tam nguyên tinh thần và do đó ở trong bốn dĩ thái vũ trụ. Điều này gợi ý rằng tâm linh đích thực của con người phải được tìm thấy trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ.
164. The occultism here is profound and we will not penetrate it at this time.
164. Huyền bí học ở đây thật sâu xa và hiện nay chúng ta sẽ không thâm nhập vào đó.
165. Some factors which should be considered as we attempt to penetrate it are:
165. Một số yếu tố cần được xem xét khi chúng ta cố gắng thâm nhập vào đó là:
a. Nine as the number of initiation. Nine is also the preeminently cyclic number indicating completion and the imminence of commencement.
a. Chín là con số của điểm đạo. Chín cũng là con số chu kỳ nổi bật nhất, chỉ sự hoàn tất và tính cận kề của một khởi đầu.
b. Ten as the number of perfection and as always indicating a superior three and a subordinate seven. It is peculiarly a number related to “man”—whether cosmic, systemic planetary or human. Cyclically, ten indicates both the beginning and the end. We can see this if we view the relationship of the number ten to, for instance, the number of chains in a scheme at different times of scheme development.
b. Mười là con số của sự toàn hảo và luôn luôn chỉ ra một bộ ba cao hơn và một bộ bảy thấp hơn. Đây là một con số đặc biệt liên hệ với “con người”—dù là vũ trụ, hệ thống, hành tinh hay nhân loại. Theo chu kỳ, mười chỉ cả sự bắt đầu lẫn sự kết thúc. Chúng ta có thể thấy điều này nếu xem mối liên hệ của số mười với, chẳng hạn, số lượng các chuỗi trong một hệ hành tinh ở những thời kỳ khác nhau của sự phát triển hệ hành tinh.
c. Eleven is the number of the initiate. It suggests as well, duality, which must be overcome in the ten. It is a number indicating lunar fluctuation (for Kabbalistically, two is the number of the Moon). It also suggests how the separate members of a duality can become the unified, interplaying dualities of which Gemini is the symbol.
c. Mười một là con số của điểm đạo đồ. Nó cũng gợi ý nhị nguyên tính, điều phải được vượt qua trong số mười. Đây là con số chỉ sự dao động thái âm (vì theo Kabbalah, hai là con số của Mặt Trăng). Nó cũng gợi ý cách các thành phần riêng biệt của một nhị nguyên tính có thể trở thành những nhị nguyên thống nhất, tương tác lẫn nhau mà Song Tử là biểu tượng.
166. Essentially we are dealing with the resolution of duality (eleven) into unity (ten/one) through the process of initiation (nine).
166. Về bản chất, chúng ta đang bàn đến sự phân giải nhị nguyên tính (mười một) thành hợp nhất (mười/một) thông qua tiến trình điểm đạo (chín).
These three numbers are the basis of the cyclic calculations which concern the egoic cycles, and the cycles of Vishnu, as distinguished from the cycles dealing with the third aspect.
Ba con số này là nền tảng của các tính toán chu kỳ liên quan đến các chu kỳ chân ngã, và các chu kỳ của Vishnu, được phân biệt với các chu kỳ liên quan đến phương diện thứ ba.
167. A science available only to initiates is hinted..
167. Một khoa học chỉ dành cho các điểm đạo đồ mới được ám chỉ đến..
168. Human Monads have their cycles of ones and threes. Souls have their cycles of sevens and threes. And personalities have their cycles of fours and sevens.
168. Các Chân thần nhân loại có các chu kỳ của số một và số ba. Các linh hồn có các chu kỳ của số bảy và số ba. Và các phàm ngã có các chu kỳ của số bốn và số bảy.
169. It would seem that “egoic cycles” are related to the second ray and occur within the “cycles of Vishnu”—the expression of the second ray.
169. Dường như “các chu kỳ chân ngã” có liên hệ với cung hai và diễn ra bên trong “các chu kỳ của Vishnu”—biểu hiện của cung hai.
170. We are speaking of cycles which are involved in the development of consciousness and not so much the development of form, per se (the third aspect). It is the Vishnu aspect which sees to the development of consciousness and when it builds form, does so for the advancement of consciousness.
170. Chúng ta đang nói về các chu kỳ có liên quan đến sự phát triển của tâm thức chứ không quá nhiều đến sự phát triển của chính hình tướng (phương diện thứ ba). Chính phương diện Vishnu đảm trách sự phát triển của tâm thức, và khi nó kiến tạo hình tướng, nó làm như vậy vì sự thăng tiến của tâm thức.
171. The sum of thirty suggest the juncture at which the Christ Spirit took over the direction of the life of the initiate Jesus bringing about a total transformation in accordance with the Great Second Ray.
171. Tổng số ba mươi gợi ra điểm giao tiếp tại đó Tinh thần Christ tiếp quản việc chỉ đạo đời sống của điểm đạo đồ Jesus, đem lại một sự chuyển đổi toàn diện phù hợp với Cung Hai Vĩ Đại.
Occult students have not sufficiently grasped the fact that objectivity is an inevitable result of an inner conscious subjective life. When this is better apprehended, bodies on the physical plane, for instance, will be purified, developed and beautified through a scientific attention paid to the development of the psyche, to the unfoldment of the Ego, and to the stimulation of the egoic vibration.
Các đạo sinh huyền bí học chưa nắm bắt đầy đủ sự kiện rằng tính khách quan là kết quả tất yếu của một đời sống chủquan nội tại có ý thức. Khi điều này được lĩnh hội tốt hơn, chẳng hạn các thể trên cõi hồng trần sẽ được thanh luyện, phát triển và làm cho đẹp đẽ thông qua sự chú ý có tính khoa học dành cho sự pháttriển của tâm thể, cho sự khai mở của Chân ngã, và cho sự kích thích rung động chân ngã.
172. We are asked to have a greater appreciation of subjectivity.
172. Chúng ta được yêu cầu có sự trân trọng lớn hơn đối với tính chủ quan.
173. We remember that true subjectivity begins with the buddhic plane. Access to the buddhic plane brings about purification through solar fire, and beautification of the vehicles.
173. Chúng ta nhớ rằng tính chủ quan đích thực bắt đầu từ cõi Bồ đề. Việc tiếp cận cõi Bồ đề mang lại sự thanh luyện thông qua Lửa Thái dương, và sự làm đẹp các vận cụ.
174. We are to attend scientifically to the following:
174. Chúng ta phải chú ý một cách khoa học đến những điều sau đây:
a. The development of the psyche
a. Sự phát triển của tâm thể
b. The unfoldment of the Ego
b. Sự khai mở của Chân ngã