Trích nội dung chương
421. The word “chosen” is interesting. Does the word mean “indicated”? In other words, when we seek to understand which of the root races are major, is our choice to be indicated according to the Law of Correspondences? 421. Từ “được chọn” thật đáng chú ý. Từ ấy có nghĩa là “được chỉ ra” chăng? Nói cách khác, khi chúng ta tìm cách hiểu giống dân gốc nào là chính yếu, phải chăng sự lựa chọn của chúng ta sẽ được chỉ ra theo định luật tương ứng?
The major root races are chosen under the Law of Correspondence.
Các giống dân gốc chính yếu được chọn theo định luật tươngứng.
421. The word “chosen” is interesting. Does the word mean “indicated”? In other words, when we seek to understand which of the root races are major, is our choice to be indicated according to the Law of Correspondences?
421. Từ “được chọn” thật đáng chú ý. Từ ấy có nghĩa là “được chỉ ra” chăng? Nói cách khác, khi chúng ta tìm cách hiểu giống dân gốc nào là chính yếu, phải chăng sự lựa chọn của chúng ta sẽ được chỉ ra theo định luật tương ứng?
In the third root race came the third Outpouring, the merging and the point of contact between the Spiritual Triad and the Lower Quaternary.
Trong giống dân gốc thứ ba đã đến lần Tuôn Đổ thứ ba, sự hợp nhất và điểm tiếp xúc giữa Tam Nguyên Tinh Thần và Tứ Phân Hạ.
422. The first two Outpourings came much earlier. Some of the earlier Theosophical books have gone into these intricacies, but we have no complete confidence that the progression they have presented is truly accurate. It is much conditioned by the regularity of the concrete mind and does not take into consideration factors which the authors were in no position to detect. For instance, the Moon-chain evolution was disrupted, we are told, by the intervention of the Solar Logos, but early Theosophical authors had no cognizance of this and discussed the progress and closure of the Moon-chain as if it occurred with complete and predictable regularity, when it fact no such orderly completion ever occurred.
422. Hai lần Tuôn Đổ đầu tiên đã đến sớm hơn nhiều. Một số sách Thông Thiên Học thời kỳ đầu đã đi sâu vào những nét tinh vi này, nhưng chúng ta không hoàn toàn tin tưởng rằng tiến trình mà chúng trình bày thật sự chính xác. Nó bị tác động rất nhiều bởi tính đều đặn của trí cụ thể và không xét đến những yếu tố mà các tác giả không ở vào vị thế có thể phát hiện. Chẳng hạn, chúng ta được cho biết rằng tiến hoá của Dãy Mặt Trăng đã bị gián đoạn bởi sự can thiệp của Thái dương Thượng đế, nhưng các tác giả Thông Thiên Học thời kỳ đầu không biết gì về điều này và đã bàn đến sự tiến triển và khép lại của Dãy Mặt Trăng như thể nó diễn ra với tính đều đặn hoàn toàn và có thể tiên liệu, trong khi thực tế không hề có sự hoàn tất trật tự nào như thế từng xảy ra.
423. The coming of the Solar Angels as providing the method of contact between the “Spiritual Triad and the Lower Quaternary” contributes to the importance of the third root race.
423. Sự xuất hiện của các Thái dương Thiên Thần như cung cấp phương pháp tiếp xúc giữa “Tam Nguyên Tinh Thần và Tứ Phân Hạ” góp phần làm tăng tầm quan trọng của giống dân gốc thứ ba.
424. Let us tabulate the twofold reason which makes the third root race a major root race:
424. Hãy lập bảng lý do nhị phân khiến giống dân gốc thứ ba là một giống dân gốc chính yếu:
a. The Third Outpouring
a. Lần Tuôn Đổ thứ ba
b. “The merging and point of contact between the Spiritual Triad and the Lower Quaternary”.
b. “Sự hợp nhất và điểm tiếp xúc giữa Tam Nguyên Tinh Thần và Tứ Phân Hạ”.
The fifth root race marks a point where higher and lower manas approximate, and where the concrete mind, meeting its highest development of this round, gives place to the intuition from above.
Giống dân gốc thứ năm đánh dấu một điểm mà manas cao và thấp xích lại gần nhau, và tại đó trí cụ thể, đạt đến mức phát triển cao nhất của nó trong cuộc tuần hoàn này, nhường chỗ cho trực giác từ bên trên.
425. In the fifth root race the antahkarana is built and utilized. Humanity is able to reach the point of development at which the intercessory influence of the Solar Angels is no longer needed.
425. Trong giống dân gốc thứ năm, antahkarana được xây dựng và sử dụng. Nhân loại có thể đạt đến điểm phát triển mà ảnh hưởng trung gian của các Thái dương Thiên Thần không còn cần thiết nữa.
426. Again, let us tabulate the twofold reason why the fifth root race is a major root race:
426. Một lần nữa, hãy lập bảng lý do nhị phân khiến giống dân gốc thứ năm là một giống dân gốc chính yếu:
a. Higher and lower manas approximate
a. Manas cao và thấp xích lại gần nhau
b. Concrete mind, having reached its highest development in this round, ‘gives place to the intuition from above”.
b. Trí cụ thể, sau khi đạt đến mức phát triển cao nhất trong cuộc tuần hoàn này, “nhường chỗ cho trực giác từ bên trên”.
427. Are we to think that manas will not develop further in later rounds under the impress of higher faculties? Probably, there will be further development, but the development of manas, in this round, reaches its apotheosis in the fifth root race of this fourth round.
427. Chúng ta có nên nghĩ rằng manas sẽ không phát triển thêm trong các cuộc tuần hoàn sau dưới sự thúc đẩy của các năng lực cao hơn chăng? Có lẽ sẽ có sự phát triển thêm, nhưng sự phát triển của manas, trong cuộc tuần hoàn này, đạt đến đỉnh cao của nó trong giống dân gốc thứ năm của cuộc tuần hoàn thứ tư này.
428. It would seem important (from the planetary perspective) to consider this development as occurring in a scheme round, as surely the development of manas in the fifth (highly manasic) chain will be of greater moment that such development in the fourth chain.
428. Dường như điều quan trọng (từ phối cảnh hành tinh) là xem sự phát triển này như xảy ra trong một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh, vì chắc chắn sự phát triển của manas trong Dãy thứ năm (rất manas) sẽ quan trọng hơn sự phát triển như thế trong Dãy thứ tư.
429. Yet, as concerns development within our chain, manas, per se, will reach its highest point of development in the fifth chain round, which will certainly occur before the fourth scheme round is complete and the fifth scheme round has begun.
429. Tuy nhiên, xét về sự phát triển trong Dãy của chúng ta, manas, chính nó, sẽ đạt đến điểm phát triển cao nhất trong cuộc tuần hoàn-Dãy thứ năm, điều này chắc chắn sẽ xảy ra trước khi cuộc tuần hoàn hệ hành tinh thứ tư hoàn tất và cuộc tuần hoàn hệ hành tinh thứ năm bắt đầu.
430. There exists the possibility of overlapping rounds (both in the chain and scheme processes), and limited speculation has been offered in earlier commentaries regarding how this might occur. A model of strict linearity is not probable.
430. Có khả năng tồn tại những cuộc tuần hoàn chồng lấn nhau (cả trong tiến trình của Dãy lẫn của hệ hành tinh), và trong các phần bình luận trước đây đã có đưa ra một số suy đoán hạn chế về cách điều này có thể xảy ra. Một mô hình tuyến tính nghiêm ngặt không có nhiều khả năng.
Here again we have a twofold reason. The seventh root race again demonstrates dual attainment, love in activity, the basis of the third system of Will or Power.
Ở đây một lần nữa chúng ta có một lý do nhị phân. Giống dân gốc thứ bảy lại chứng minh sự thành tựu kép, bác ái trong hoạt động, nền tảng của hệ thống thứ ba của Ý Chí hay Quyền Năng.
431. The achievement of the seventh root race is the full development of love on our chain and also of activity. The two are blended.
431. Thành tựu của giống dân gốc thứ bảy là sự phát triển trọn vẹn của bác ái trên Dãy của chúng ta và cả của hoạt động. Hai điều này được hòa trộn với nhau.
432. But this type of blending must also occur on other chains in our scheme if full preparation of the “basis of the third system of Will or Power” is to be completed. Other globes in other chains also have root races.
432. Nhưng kiểu hòa trộn này cũng phải xảy ra trên các Dãy khác trong hệ hành tinh của chúng ta nếu sự chuẩn bị đầy đủ cho “nền tảng của hệ thống thứ ba của Ý Chí hay Quyền Năng” muốn được hoàn tất. Các bầu hành tinh khác trong các Dãy khác cũng có các giống dân gốc.
The three major Rays, being dual, are their own sufficient explanation.
Ba Cung chính yếu, vì là nhị phân, tự chúng đã là lời giải thích đầy đủ.
433. These rays must be dual in a particular way. Really, all the rays have seven sub-rays. So then, what is the nature of this duality as contrasted with the threefold and sevenfold divisions which pertain to all rays?
433. Những cung này phải là nhị phân theo một cách đặc biệt. Thật ra, mọi cung đều có bảy cung phụ. Vậy thì, bản chất của tính nhị phân này là gì, đối lập với các phân chia tam phân và thất phân vốn thuộc về mọi cung?
434. When thinking of the three major rays and their duality we might suggest in all simplicity and with the need of extensive elaboration (such as can be found in Tapestry of the Gods, Vols. I and II):
434. Khi suy nghĩ về ba cung chính yếu và tính nhị phân của chúng, chúng ta có thể gợi ý hết sức đơn giản và với nhu cầu cần được khai triển rộng rãi (như có thể tìm thấy trong Tapestry of the Gods, Vols. I and II):
a. Ray One—constructive (forging) and destructive
a. Cung một—xây dựng (rèn đúc) và hủy diệt
b. Ray Two—love and wisdom
b. Cung hai—bác ái và minh triết
c. Ray Three—mental activity and material activity
c. Cung ba—hoạt động trí tuệ và hoạt động vật chất
They are at present the mode of expression of the three aspects, and demonstrate under their appropriate Logoi,
Hiện nay chúng là phương thức biểu đạt của ba phương diện, và biểu lộ dưới các Thượng đế tương ứng của các Ngài,
435. The Three Logoi, therefore, have, in sum, a sixfold expression.
435. Do đó, tổng thể Ba Thượng đế có một biểu đạt lục phân.
Who manipulate world affairs through the three departments, of which the rulers on our planet are the Lord Maitreya, the Manu, and the Mahachohan.
Các Ngài điều khiển các công việc thế giới qua ba ban, mà những vị cai quản trên hành tinh chúng ta là Đức Maitreya, Đức Manu, và Đức Mahachohan.
436. It is important to realize that the Three Departments are not unique on our planet. The Three Logoi (cosmic Beings Who express systemically) stand behind these three departments.
436. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng Ba Ban không phải là điều độc nhất trên hành tinh chúng ta. Ba Thượng đế (các Đấng vũ trụ biểu đạt một cách hệ thống) đứng đằng sau ba ban này.
437. We assume that when DK speaks of the three major rays, He means rays one, two and three, but the tabulation offered below modifies this assumption, substituting ray seven for ray three.
437. Chúng ta giả định rằng khi Chân sư DK nói về ba cung chính yếu, Ngài muốn nói đến cung một, hai và ba, nhưng bảng liệt kê được đưa ra dưới đây điều chỉnh giả định này, thay cung bảy vào chỗ cung ba.
438. We note that the Lord Maitreya is mentioned first, indicating the primacy of the second ray on our planet and in this solar system.
438. Chúng ta lưu ý rằng Đức Maitreya được nhắc đến trước tiên, cho thấy tính ưu trội của cung hai trên hành tinh chúng ta và trong hệ mặt trời này.
The three major planes demonstrate easily their unique position—on plane two we have the home of the Monads of Love, on plane five we find the habitat of their reflections, the reincarnating Egos, and [Page 600] on the physical plane we find the working out at its densest point of the life of the Spirit.
Ba cõi chính yếu dễ dàng chứng minh vị trí độc đáo của chúng—trên cõi hai chúng ta có nơi cư ngụ của các chân thần Bác ái, trên cõi năm chúng ta tìm thấy nơi cư trú của các phản chiếu của chúng, các Chân ngã luân hồi, và [Page 600] trên cõi hồng trần chúng ta thấy sự triển khai, tại điểm đậm đặc nhất của nó, của sự sống của tinh thần.
439. The three major planes here given are planes two, five and seven. The reasons are as follows:
439. Ba cõi chính yếu được nêu ở đây là cõi hai, năm và bảy. Các lý do như sau:
a. Plane two—the Monads (“of Love”) find their habitat there, yet all Monads (from one perspective) are, due to their second plane ‘location’, “Monads of Love”.
a. Cõi hai—các chân thần (“của Bác ái”) tìm thấy nơi cư ngụ của chúng ở đó, tuy nhiên mọi chân thần (xét từ một góc độ) đều là, do “vị trí” ở cõi hai của chúng, “các chân thần của Bác ái”.
b. Plane five—the egoic reflections of the Monads express on the higher mental plane
b. Cõi năm—các phản chiếu chân ngã của các chân thần biểu lộ trên Cõi thượng trí
c. Plane seven—Spirit works out in densest matter, “The Highest and the Lowest Meet” and God’s plan is fully manifested on His lowest plane of expression.
c. Cõi bảy—tinh thần triển khai trong vật chất đậm đặc nhất, “Đấng Tối Cao và kẻ thấp nhất gặp nhau” và thiên cơ của Thượng đế được biểu hiện trọn vẹn trên cõi biểu lộ thấp nhất của Ngài.
440. We find DK ‘weighting’ the various energies and their fields of expression. Though all things may be equal “in the Eyes of God”, they are not equal in time and space and from the perspective of those whose consciousness is conditioned by time and space.
440. Chúng ta thấy Chân sư DK “định trọng” các năng lượng khác nhau và các trường biểu lộ của chúng. Dù mọi sự có thể bình đẳng “trong Con Mắt của Thượng đế”, chúng không bình đẳng trong thời gian và không gian và từ góc nhìn của những ai có tâm thức bị thời gian và không gian tác động.
This principle of mutation governs every department in the Law of Correspondences, and certain things can be stated as regards the system, and its component parts which will be found illuminating if we remember that they are facts for the present.
Nguyên lý biến đổi này chi phối mọi phân bộ trong định luật tương ứng, và có thể phát biểu một số điều liên quan đến hệ và các thành phần cấu tạo của nó, những điều sẽ được thấy là soi sáng nếu chúng ta nhớ rằng chúng là những sự kiện của hiện tại.
441. When we try to work with the Law of Correspondences we had best be cautioned to remember the Principle of Mutation. The correspondences which we deem accurate may only be so for a time and from a certain perspective. All is shifting and changing and changing “according to law”.
441. Khi chúng ta cố gắng làm việc với định luật tương ứng, tốt nhất nên được cảnh báo để nhớ đến Nguyên lý Biến đổi. Những tương ứng mà chúng ta cho là chính xác có thể chỉ đúng trong một thời gian và từ một góc nhìn nhất định. Mọi sự đều đang dịch chuyển và thay đổi và thay đổi “theo quy luật”.
442. We are going to view the principle of mutation on a solar systemic level.
442. Chúng ta sẽ xem xét nguyên lý biến đổi ở cấp độ hệ mặt trời.
443. Perhaps it comes as a surprise to us that the Law of Correspondences has different “departments”. May we say that in Creation, and on various levels of vibration, there are different groupings which correspond to other groupings? As these groupings are related to each other, the Law of Correspondences holds good.
443. Có lẽ điều này khiến chúng ta ngạc nhiên rằng định luật tương ứng có những “phân bộ” khác nhau. Chúng ta có thể nói rằng trong Sáng tạo, và trên các cấp độ rung động khác nhau, có những nhóm khác nhau tương ứng với những nhóm khác không? Khi các nhóm này có liên hệ với nhau, định luật tương ứng có hiệu lực.
444. For instance, the Seven Rays are one grouping, and the seven planes, another. The seven principles are yet another, the seven chakras another, and so forth.
444. Chẳng hạn, Bảy Cung là một nhóm, và bảy cõi là một nhóm khác. Bảy nguyên khí lại là một nhóm khác nữa, bảy luân xa là một nhóm khác, v.v.
Let me again illustrate: we have been told that the three major Rays at this time are the first, the second, and the seventh.
Xin để tôi minh họa thêm lần nữa: chúng ta đã được cho biết rằng ba Cung chính yếu vào thời điểm này là cung một, cung hai và cung bảy.
445. Probably, this information is scattered throughout the books. The seventh ray seems, temporarily, to take the place of the third ray as major, because the seventh ray is coming in so strongly during the Aquarian Age.
445. Có lẽ thông tin này rải rác khắp các sách. Cung bảy dường như, tạm thời, thay chỗ của cung ba như một cung chính yếu, bởi vì cung bảy đang đi vào rất mạnh trong Kỷ nguyên Bảo Bình.
446. Yet, we must remember how closely related are the seventh and third rays. This is particularly so in relation to the present Mahachohan and the initiates in His Ashram.
446. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ cung bảy và cung ba liên hệ mật thiết với nhau đến mức nào. Điều này đặc biệt đúng trong liên hệ với Đức Mahachohan hiện nay và các điểm đạo đồ trong ashram của Ngài.
But later, the Rays now major may become subsidiary, and others take their place, though for this solar system the second Ray, being the synthetic Ray, will always be a major Ray.
Nhưng về sau, các Cung hiện nay là chính yếu có thể trở thành phụ thuộc, và các cung khác thay thế chúng, dù đối với hệ mặt trời này, cung hai, vì là Cung tổng hợp, sẽ luôn luôn là một cung chính yếu.
447. The designation of major and minor will depend upon the portion of the Divine Plan which is in process of unfolding.
447. Việc chỉ định chính yếu và thứ yếu sẽ tùy thuộc vào phần của Thiên Cơ đang trong tiến trình khai mở.
448. Probably, within the realm of Purpose (which is ‘above’ time and space as usually considered) all rays are closer to equal, but in relation to the time-sensitive Divine Plan, some rays are more important at some times in order to express the ‘purpose of the hour’.
448. Có lẽ trong phạm vi của Thiên Ý (vốn “ở trên” thời gian và không gian như thường được quan niệm) mọi cung gần như bình đẳng hơn, nhưng trong liên hệ với Thiên Cơ nhạy cảm với thời gian, một số cung quan trọng hơn vào một số thời kỳ để biểu lộ “mục đích của thời khắc”.
449. To be practical, we must know what is important now. To be knowledgeable, we must know the workings of the Principle of Mutation, and what rays have been important and will be important at different periods of planetary history.
449. Để thực tiễn, chúng ta phải biết điều gì là quan trọng bây giờ. Để có tri thức, chúng ta phải biết sự vận hành của Nguyên lý Biến đổi, và những cung nào đã quan trọng và sẽ quan trọng trong các thời kỳ khác nhau của lịch sử hành tinh.
Perhaps we can here get a hint on this great principle, though we must be careful not to draw it out to too fine a conclusion.
Có lẽ ở đây chúng ta có thể nhận được một gợi ý về nguyên lý lớn lao này, dù chúng ta phải cẩn thận không rút nó ra thành một kết luận quá tinh vi.
450. Premature formulations (while temporarily satisfying to the impatient mind seeking closure) are very likely to be erroneous. Patience is required in these wide and intricate studies.
450. Những công thức hóa quá sớm (dù tạm thời làm thỏa mãn thể trí thiếu kiên nhẫn đang tìm kiếm sự khép lại) rất có thể là sai lầm. Cần có kiên nhẫn trong những nghiên cứu rộng lớn và phức tạp này.
451. When we study what is given below, we cannot presume that it refers only to our planet. That is may not, increases the difficulty of interpreting what is given.
451. Khi chúng ta nghiên cứu điều được nêu dưới đây, chúng ta không thể cho rằng nó chỉ nói đến hành tinh của chúng ta. Việc có thể không phải như vậy làm tăng thêm khó khăn trong việc diễn giải điều được nêu ra.
For this system the major Rays will always be the dual Rays—the negative-positive Rays, the masculine-feminine Rays—this being the dual system.
Đối với hệ này, các Cung chính yếu sẽ luôn luôn là các Cung nhị nguyên—các Cung âm-dương, các Cung nam-nữ—vì đây là hệ nhị nguyên.
452. We live in a dual solar system—a system of Love and Wisdom.
452. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời nhị nguyên—một hệ của Bác Ái – Minh Triết.
453. We note that DK speaks of the “negative-positive Rays” and then (reversing the order) of the “masculine-feminine Rays”.
453. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về các “Cung âm-dương” rồi sau đó (đảo thứ tự) nói về các “Cung nam-nữ”.
454. Sometimes the order in which He presents words is a hint; sometimes, it is not.
454. Đôi khi thứ tự mà Ngài trình bày các từ là một gợi ý; đôi khi thì không.
The major Rays for system three will be those in triple manifestation.
Các Cung chính yếu đối với hệ thứ ba sẽ là những cung trong biểu hiện tam phân.
455. There are places in the Teaching where the first three rays are said to be in triple manifestation. If we reference DINA II 518, we will see how the dual second ray becomes triple; this method is, I think, applicable to the three Rays of Aspect.
455. Có những chỗ trong Giáo Huấn nói rằng ba cung đầu tiên ở trong biểu hiện tam phân. Nếu chúng ta tham chiếu DINA II 518, chúng ta sẽ thấy cung hai nhị nguyên trở thành tam phân như thế nào; tôi nghĩ phương pháp này có thể áp dụng cho Ba Cung Trạng Thái.
456. Were the “major Rays” for major System I unitary in manifestation?
456. Phải chăng các “Cung chính yếu” đối với Đại Hệ I chính yếu là nhất nguyên trong biểu hiện?
457. Even when dealing with human psychology, we cannot ignore the duality of the major rays, or we will fail to identify different types of human beings who share the same ray.
457. Ngay cả khi bàn đến tâm lý học nhân loại, chúng ta cũng không thể bỏ qua tính nhị nguyên của các cung chính yếu, nếu không chúng ta sẽ không nhận diện được những loại người khác nhau cùng chia sẻ một cung.
The following table may be found of interest, if regarded as relative, and as holding information for the present time, but also as being subject to change and circulation:
Bảng sau đây có thể được thấy là đáng quan tâm, nếu được xem là tương đối, và như chứa đựng thông tin cho thời điểm hiện tại, nhưng cũng là điều có thể thay đổi và luân chuyển:
458. While we cannot be sure, often, when DK discusses the “present time”, He means from the time of individualization until the “Judgment Day” in the middle of the fifth round of our chain and presumably on our fourth globe.
458. Dù chúng ta không thể chắc chắn, thường khi Chân sư DK bàn đến “thời điểm hiện tại”, Ngài muốn nói từ thời kỳ biệt ngã hóa cho đến “Ngày Phán Xét” vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm của dãy chúng ta và có lẽ trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta.
7 Rays Major 1-2-7: Four subsidiary converging on the fifth.
7 Cung Chính yếu 1-2-7: Bốn cung phụ hội tụ vào cung thứ năm.
459. By this, does He mean the fifth ray? Or does He mean that the seventh ray is the fifth ‘Ray of Brahma’, as has been earlier shown? Or can He also mean that rays four, five, six and seven converge upon ray three, which is, archetypally, the preeminent Brahmic ray (and the fifth when numbering from below)?
459. Bởi điều này, Ngài có ý nói cung năm chăng? Hay Ngài muốn nói rằng cung bảy là Cung thứ năm của Brahma, như đã được chỉ ra trước đây? Hay Ngài cũng có thể muốn nói rằng các cung bốn, năm, sáu và bảy hội tụ vào cung ba, vốn về mặt nguyên mẫu là cung Brahma nổi trội nhất (và là cung thứ năm khi đếm từ dưới lên)?
460. During the coming Age of Aquarius, the seventh ray will, as it were, represent the third, carrying out the Plan (foreseen by the third ray) in a manner concrete and physically accurate.
460. Trong Kỷ nguyên Bảo Bình sắp đến, cung bảy sẽ, có thể nói như vậy, đại diện cho cung ba, thực hiện Thiên Cơ (được cung ba tiên liệu) theo một cách cụ thể và chính xác về mặt hồng trần.
7 Principles 3 Major Monad, Ego and Personality, synthesising at various stages the four subsidiary.
7 Nguyên khí 3 Chính yếu Chân thần, Chân ngã và Phàm ngã, tổng hợp ở các giai đoạn khác nhau bốn nguyên khí phụ.
461. Here we are speaking of the three “Periodical Vehicles”. In the various ways of enumerating principles (discussed from TCF 260-269), sometimes the vehicles listed here are considered principles and sometimes not.
461. Ở đây chúng ta đang nói về ba “Vận cụ Chu kỳ”. Trong các cách liệt kê nguyên khí khác nhau (được bàn từ TCF 260-269), đôi khi các vận cụ được liệt kê ở đây được xem là nguyên khí và đôi khi thì không.
462. We find that atma, buddhi and manas (almost invariably listed as principles elsewhere) are not listed. Perhaps the term “Ego” (if we consider Ego as triadal) includes atma-buddhi-manas.
462. Chúng ta thấy rằng atma, Bồ đề và manas (gần như luôn luôn được liệt kê là các nguyên khí ở nơi khác) lại không được liệt kê. Có lẽ thuật ngữ “Chân ngã” (nếu chúng ta xem Chân ngã là thuộc Tam nguyên tinh thần) bao gồm atma-buddhi-manas.
463. The “four subsidiary” would seem to be those which are included in the personality: lower manas, kama-manas, prana and etheric body (though there are several ways to number the principles included in the personality).
463. “Bốn nguyên khí phụ” dường như là những nguyên khí được bao gồm trong phàm ngã: hạ trí, thể trí cảm, prana và thể dĩ thái (dù có một số cách khác nhau để đánh số các nguyên khí được bao gồm trong phàm ngã).
7 Chains Major 1-4-7
7 Dãy Chính yếu 1-4-7
464. Reasons for considering these as major are not given. We note that these are the ‘Masonic’ numbers and pertain much to the work of Vulcan.
464. Không có lý do nào được đưa ra để xem những dãy này là chính yếu. Chúng ta lưu ý rằng đây là các con số “Masonic” và liên hệ nhiều đến công việc của Vulcan.
465. From a structural point of view, they represent beginning, middle and end.
465. Từ quan điểm cấu trúc, chúng tượng trưng cho khởi đầu, trung gian và kết thúc.
466. We know that through our fourth chain, our Planetary Logos is presently taking a significant initiation—the fourth. But is this not true of all chains? If the Planetary Logos is taking a series of seven initiations (cf. TCF 384), does He not take one through or upon each chain?
466. Chúng ta biết rằng qua dãy thứ tư của chúng ta, Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta hiện đang trải qua một điểm đạo quan trọng—lần thứ tư. Nhưng điều này chẳng phải đúng với mọi dãy sao? Nếu Đức Hành Tinh Thượng Đế trải qua một chuỗi bảy lần điểm đạo (xem TCF 384), chẳng phải Ngài trải qua một lần xuyên qua hay trên mỗi dãy sao?
467. We can imagine the seventh chain (by the present enumeration, and in relation to our Planetary Logos—the Jupiter-chain) as being climactic for the development of our Planetary Logos in this Mahamanvantara.
467. Chúng ta có thể hình dung dãy thứ bảy (theo cách đánh số hiện nay, và trong liên hệ với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta—dãy Sao Mộc) như là đỉnh điểm cho sự phát triển của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta trong Đại giai kỳ sinh hóa này.
468. Our Planetary Logos is not really developing His monadic expression in this solar system, but rather His soul expression. Interestingly, Jupiter has the same soul ray as our Planetary Logos—namely, the second.
468. Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta thực ra không phát triển biểu lộ chân thần của Ngài trong hệ mặt trời này, mà đúng hơn là biểu lộ linh hồn của Ngài. Điều thú vị là Sao Mộc có cùng cung linh hồn với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta—tức là cung hai.
7 Planes Major 2-5-7
7 Cõi Chính yếu 2-5-7
469. The reasons are given above and related to the habitat of the Monad, the habitat of the Ego, and the field of expression for both, as Spirit/soul works its way to the densest plane, thus ensuring that the “Highest and the Lowest Meet”.
469. Các lý do đã được nêu ở trên và liên hệ đến nơi cư ngụ của chân thần, nơi cư ngụ của Chân ngã, và trường biểu lộ cho cả hai, khi tinh thần/linh hồn tiến xuống cõi đậm đặc nhất, nhờ đó bảo đảm rằng “Đấng Tối Cao và kẻ thấp nhất gặp nhau”.
7 Manvantaras Major 3-4-7
7 Giai kỳ sinh hóa Chính yếu 3-4-7
470. Usually manvantaras are considered as rounds, so there is a hint here. The rounds discussed immediately below can well be chain rounds, for (at least in the case of rounds four and five) they concern developments occurring or to occur in our fourth and fifth chain rounds.
470. Thông thường các giai kỳ sinh hóa được xem là các cuộc tuần hoàn, vì vậy ở đây có một gợi ý. Các cuộc tuần hoàn được bàn ngay dưới đây rất có thể là các cuộc tuần hoàn của dãy, vì (ít nhất trong trường hợp các cuộc tuần hoàn bốn và năm) chúng liên quan đến những phát triển đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra trong các cuộc tuần hoàn của dãy thứ tư và thứ năm của chúng ta.
471. Then is it possible that the “manvantaras” here referenced are, in fact, ‘scheme rounds’? If so, then we are in the midst of a major manvantara or scheme round. It is pretty well established that Venus is in its fifth scheme round and (by inference) that the Earth-scheme in its fourth scheme round.
471. Vậy có thể nào các “giai kỳ sinh hóa” được nhắc đến ở đây thực ra là các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh? Nếu vậy, thì chúng ta đang ở giữa một giai kỳ sinh hóa chính yếu hay cuộc tuần hoàn hệ hành tinh. Khá rõ ràng rằng Sao Kim đang ở cuộc tuần hoàn hệ hành tinh thứ năm và (theo suy luận) hệ hành tinh Trái Đất đang ở cuộc tuần hoàn hệ hành tinh thứ tư.
472. The term “manvantara” is so variable that we must be very careful in assigning meaning to it. Sometimes it definitely means a chain round, but we see that DK has here discriminated it from a chain round—apparently.
472. Thuật ngữ “giai kỳ sinh hóa” biến đổi quá nhiều đến mức chúng ta phải hết sức cẩn thận khi gán nghĩa cho nó. Đôi khi nó chắc chắn có nghĩa là một cuộc tuần hoàn của dãy, nhưng chúng ta thấy rằng ở đây Chân sư DK đã phân biệt nó với một cuộc tuần hoàn của dãy—ít ra là có vẻ như vậy.
473. Also, there are solar manvantaras and planetary manvantaras. Sometimes the duration of an entire planetary scheme is called a manvantara. Sometimes the span of a lesser part a planetary scheme is a manvantara. Sometimes a “year of Brahma” is a manvantara.
473. Ngoài ra, còn có các giai kỳ sinh hóa mặt trời và các giai kỳ sinh hóa hành tinh. Đôi khi thời lượng của toàn bộ một hệ hành tinh được gọi là một giai kỳ sinh hóa. Đôi khi khoảng thời gian của một phần nhỏ hơn của một hệ hành tinh là một giai kỳ sinh hóa. Đôi khi một “năm của Brahma” là một giai kỳ sinh hóa.
474. We must pause before drawing conclusions. Too little is yet known.
474. Chúng ta phải dừng lại trước khi rút ra kết luận. Vẫn còn biết quá ít.
7 Rounds Major 4-5-7
7 Cuộc tuần hoàn Chính yếu 4-5-7
475. These are as listed above and the reasons are there given.
475. Đây là những điều được liệt kê ở trên và các lý do cũng đã được nêu ở đó.
7 Root races Major 3-5-7
7 Giống dân gốc Chính yếu 3-5-7
476. These are also given above. There are two reasons applying to each root race for designating it as a major root race. When speaking of root races we cannot forget that they exist on more than one globe and perhaps simultaneously. In this context, however, DK seems to be speaking of our particular globe, the Earth-globe.
476. Những điều này cũng đã được nêu ở trên. Có hai lý do áp dụng cho mỗi giống dân gốc để chỉ định nó là một giống dân gốc chính yếu. Khi nói về các giống dân gốc, chúng ta không thể quên rằng chúng tồn tại trên nhiều hơn một bầu hành tinh và có lẽ đồng thời. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này, Chân sư DK dường như đang nói về bầu hành tinh đặc thù của chúng ta, bầu hành tinh Trái Đất.
477. It is, however, interesting to note that the three major globes in the Earth-chain (gathering that the larger globes depicted in Chart VII are the major ones) are globes three, five and seven. In this case the Chart confirms what is here given.
477. Tuy nhiên, điều thú vị là ba bầu hành tinh chính yếu trong Dãy Địa Cầu (suy ra rằng các bầu hành tinh lớn hơn được mô tả trong Biểu đồ VII là các bầu hành tinh chính yếu) là các bầu hành tinh ba, năm và bảy. Trong trường hợp này, Biểu đồ xác nhận điều được nêu ở đây.
7 Sub races Major 1-5-6
7 Giống dân phụ Chính yếu 1-5-6
478. We need to know whether we are speaking of sub-races of the third, fourth or fifth root race. Probably, it will be a good bet to think in terms of the fifth root race (of which we know a little something).
478. Chúng ta cần biết liệu mình đang nói về các giống dân phụ của giống dân gốc thứ ba, thứ tư hay thứ năm. Có lẽ sẽ là một phỏng đoán hợp lý nếu suy nghĩ theo giống dân gốc thứ năm (về giống dân này chúng ta biết được đôi chút).
a. The first subrace is the Aryan. The principles guiding the fifth root race were laid down in this first subrace. The link between Spirit and mind was strongly cultivated.
a. Giống dân phụ thứ nhất là Arya. Các nguyên lý hướng dẫn giống dân gốc thứ năm đã được đặt nền trong giống dân phụ thứ nhất này. Mối liên kết giữa tinh thần và trí tuệ đã được vun bồi mạnh mẽ.
b. The fifth subrace is the Teutonic. In this subrace the development of manas, per se, reaches it apotheosis.
b. Giống dân phụ thứ năm là Teutonic. Trong giống dân phụ này, sự phát triển của manas, chính nó, đạt đến đỉnh cao.
c. The sixth subrace has no immediate name, but will be developing the abstract mind, we are told.
c. Giống dân phụ thứ sáu chưa có tên gọi trực tiếp, nhưng như chúng ta được cho biết, sẽ phát triển trí trừu tượng.
7 Initiations Major 1 4 5 if viewed from the angle of human attainment, and 1-5-7 if viewed from a higher.
7 Điểm đạo Chính yếu 1 4 5 nếu được nhìn từ góc độ thành tựu của con người, và 1-5-7 nếu được nhìn từ một góc độ cao hơn.
479. From the human perspective:
479. Từ góc nhìn con người:
a. The first initiation admits into the “Kingdom of Souls”. It signifies as major step—a change of Kingdom
a. Lần điểm đạo thứ nhất cho phép đi vào “Thiên Giới của các linh hồn”. Nó biểu thị một bước chính yếu—một sự thay đổi giới
b. The fourth initiation detaches from all further need for incarnation in the three worlds.
b. Lần điểm đạo thứ tư tách rời khỏi mọi nhu cầu tiếp tục lâm phàm trong ba cõi giới.
c. The fifth initiation sees the consummation of human development and prepares for entry into the Kingdom of Planetary Lives.
c. Lần điểm đạo thứ năm chứng kiến sự hoàn tất của sự phát triển nhân loại và chuẩn bị cho việc đi vào Giới của Các Sự Sống Hành tinh.
480. Which perspective is the “higher” one of which DK speaks? Is it a planetary perspective?
480. Góc nhìn “cao hơn” mà Chân sư DK nói đến là góc nhìn nào? Có phải đó là một góc nhìn hành tinh không?
481. We note that initiations one and five are still included in this higher perspective. They represent the entry into the “Kingdom of Souls” and the consummation of participation in this Kingdom—Mastership.
481. Chúng ta lưu ý rằng các lần điểm đạo một và năm vẫn được bao gồm trong góc nhìn cao hơn này. Chúng tượng trưng cho việc đi vào “Thiên Giới của các linh hồn” và sự hoàn tất việc tham dự trong Giới này—Chân sư quả vị.
482. From another perspective, the fifth initiation represents the beginning of participation as a first degree initiate in the Lodge of Sirius. From the perspective of the Planetary Logos, the fifth initiation of a human being is a planetary event.
482. Từ một góc nhìn khác, lần điểm đạo thứ năm tượng trưng cho sự bắt đầu tham dự với tư cách một điểm đạo đồ cấp một trong Thánh đoàn của Sirius. Từ góc nhìn của Đức Hành Tinh Thượng Đế, lần điểm đạo thứ năm của một con người là một biến cố hành tinh.
483. The seventh initiation is a kind of transfiguration with respect to the Sirian Lodge. It may also admit a developing Chohan into contact with the Logos of the Seven Solar Systems of Which Ours is One. Certainly, it increases his degree of spiritual intimacy with our own Solar Logos.
483. Lần điểm đạo thứ bảy là một loại Biến hình xét theo Thánh đoàn Sirius. Nó cũng có thể cho phép một Chohan đang phát triển tiếp xúc với Thượng đế của Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của chúng ta là một trong số đó. Chắc chắn nó làm tăng mức độ thân cận tinh thần của ông với chính Thái dương Thượng đế của chúng ta.
484. We could say that with the seventh initiation, the Planetary Logos has one more point of expression for conducting solar purpose into Shamballa and the planet. The seventh initiation is a solar Love-Wisdom initiation.
484. Chúng ta có thể nói rằng với lần điểm đạo thứ bảy, Đức Hành Tinh Thượng Đế có thêm một điểm biểu lộ để dẫn truyền mục đích mặt trời vào Shamballa và hành tinh. Lần điểm đạo thứ bảy là một điểm đạo Bác Ái – Minh Triết mặt trời.
485. Still, we do not know what the term “higher” means? Is it from the perspective of the globe, or chain, or scheme, or it is a solar perspective.
485. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa biết thuật ngữ “cao hơn” có nghĩa là gì? Có phải từ góc nhìn của bầu hành tinh, hay dãy, hay hệ hành tinh, hay đó là một góc nhìn mặt trời.
TCF 601 - 612: S6S4
10 November – 25 November 2007
10 tháng Mười Một – 25 tháng Mười Một 2007
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.
Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.
[Page 601]
[Page 601]
1. This starts a new section, II, an overview of devas and the Deva Lord Agni.
1. Điều này mở đầu một phần mới, II, một cái nhìn tổng quan về các hành khí và các thiên thần cùng Chúa Tể thiên thần Agni.
II. THOUGHT ELEMENTALS AND DEVAS.
II. HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ CÁC THIÊN THẦN.
1. THE RULER OF FIRE—AGNI.
1. ĐẤNG CAI QUẢN LỬA—AGNI.
a. Agni and the Solar Logos.
a. Agni và Thái dương Thượng đế.
Thus far in this treatise we have considered the first section of the book which has dealt somewhat with the internal fires of the system, both macrocosmic and microcosmic.
Cho đến nay trong bộ luận này, chúng ta đã xem xét phần thứ nhất của quyển sách, phần đã phần nào bàn đến các nội hỏa của hệ, cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa.
2. By the “internal fires” we man latent and active fires.
2. Bởi “nội hỏa” chúng ta muốn nói các lửa tiềm ẩn và hoạt động.
3. We have also dealt somewhat with the fires of mind—both mental elemental fire and solar fire.
3. Chúng ta cũng đã phần nào bàn đến các lửa của trí tuệ—cả lửa hành khí trí tuệ lẫn Lửa Thái dương.
In this the second section we are dealing with the fire of mind. This section, together with the nine introductory questions, constitutes the main part of the treatise.
Trong phần thứ hai này chúng ta đang bàn đến lửa của trí tuệ. Phần này, cùng với chín câu hỏi dẫn nhập, cấuthành phần chính của bộ luận.
4. And, since the average student of these matters is focussed more psychologically than scientifically, it will be the part of the treatise most read.
4. Và, vì đạo sinh trung bình của những vấn đề này tập trung về mặt tâm lý hơn là khoa học, đây sẽ là phần của bộ luận được đọc nhiều nhất.
In it we have dealt with the nature and function of mind and with the egoic ray.
Trong đó chúng ta đã bàn đến bản chất và chức năng của trí tuệ và cung chân ngã.
5. When we speak of “mind” we must always differentiate to determine whether we are dealing with what we might call ‘solar mind’ or ‘lunar mind’.
5. Khi chúng ta nói về “trí tuệ”, chúng ta phải luôn luôn phân biệt để xác định xem mình đang bàn đến điều có thể gọi là “trí tuệ thái dương” hay “trí tuệ thái âm”.
We have dealt also, somewhat, with the form side of thought, with its material manifestation and with its substance.
Chúng ta cũng đã phần nào bàn đến mặt hình tướng của tư tưởng, với biểu hiện vật chất của nó và với chất liệu của nó.
6. This form side of thought is what we can call ‘mental elemental mind’.
6. Mặt hình tướng này của tư tưởng là điều chúng ta có thể gọi là “trí tuệ hành khí trí tuệ”.
7. Thoughtforms, as usually conceived, are related to the “form side of thought”.
7. Các Hình tư tưởng, như thường được quan niệm, có liên hệ với “mặt hình tướng của tư tưởng”.
We proceed now to take up the consideration of the Ruler of Fire, AGNI, and are brought to the study of the vitality that energises and the Life that animates; to the contemplation of the Fire that drives, propels, and produces the activity and organisation of all forms.
Giờ đây chúng ta tiếp tục xem xét Đấng Cai Quản Lửa, AGNI, và được dẫn đến việc nghiên cứu sinh lực tiếp năng lượng và Sự sống hoạt hóa; đến sự chiêm ngưỡng Lửa thúc đẩy, đẩy tới, và tạo ra hoạt động cùng sự tổ chức của mọi hình tướng.
8. Let us tabulate that which we shall be considering when we concentrate upon the nature of Lord AGNI:
8. Chúng ta hãy lập bảng điều mà chúng ta sẽ xem xét khi tập trung vào bản chất của Chúa Tể AGNI:
a. The vitality that energises
a. Sinh lực tiếp năng lượng
b. The Life that animates
b. Sự sống hoạt hóa
c. The Fire that drives
c. Lửa thúc đẩy
d. The Fire that propels
d. Lửa đẩy tới
e. The Fire that produces the activity and organisation of all forms
e. Lửa tạo ra hoạt động và sự tổ chức của mọi hình tướng
The realisation of this will reveal the fact that what we are dealing with is the “Life and the lives,”86 as it is called87 [Page 602] in the Secret Doctrine;
Sự chứng nghiệm điều này sẽ tiết lộ sự kiện rằng điều chúng ta đang bàn đến là “Sự sống và các sự sống,”86 như nó được gọi87 [Page 602] trong Giáo Lý Bí Nhiệm;
9. Clearly, Agni is to be considered a great Cosmic Life, as Fohat is when Fohat is considered a Cosmic Being.
9. Rõ ràng, Agni phải được xem là một Sự sống Vũ trụ vĩ đại, cũng như Fohat khi Fohat được xem là một Hữu thể Vũ trụ.
with Agni, the Lord of Fire, the Creator, the Preserver, and the Destroyer; and with the forty-nine fires through which He manifests.
với Agni, Chúa Tể của Lửa, Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn, và Đấng Hủy Diệt; và với bốn mươi chín ngọn lửa mà qua đó Ngài biểu lộ.
10. If Agni is the Creator, the Preserver and the Destroyer, He somehow embraces Brahma, Vishnu and Shiva—if not within all worlds through which the Solar Logos manifests, at least within the sub-causal worlds of the great Logos.
10. Nếu Agni là Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt, thì bằng cách nào đó Ngài bao hàm Brahma, Vishnu và Shiva—nếu không phải trong mọi thế giới mà qua đó Thái dương Thượng đế biểu lộ, thì ít nhất cũng trong các thế giới dưới cõi nguyên nhân của Đại Thượng đế.
11. When we think of the forty-nine fires through which Agni manifests we must think of:
11. Khi chúng ta nghĩ đến bốn mươi chín ngọn lửa mà qua đó Agni biểu lộ, chúng ta phải nghĩ đến:
a. Fohat
a. Fohat
b. The Seven Sons of Fohat
b. Bảy Người Con của Fohat
c. The ‘Sons’ of these Seven Sons
c. Các “Người Con” của Bảy Người Con này
FOOTNOTE 86:
CHÚ THÍCH 86:
The Life and the Lives. H. P. B. says in the Secret Doctrine.
Sự sống và các sự sống. H.P.B. nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm.
“Occultism does not accept anything inorganic in the Kosmos. The expression employed by Science 'inorganic substance' means simply that the latent life, slumbering in the molecules of so-called 'inert matter' is incognisable.
“Huyền bí học không chấp nhận bất cứ điều gì là vô cơ trong Vũ trụ. Cách diễn đạt mà Khoa học dùng là ‘chất liệu vô cơ’ chỉ đơn giản có nghĩa rằng sự sống tiềm tàng, đang ngủ trong các phân tử của cái gọi là ‘vật chất trơ’, là điều không thể nhận biết được.
12. Latent life is “incognizable” life, but it is Life all the same.
12. Sự sống tiềm tàng là sự sống “không thể nhận biết được”, nhưng dù sao nó vẫn là Sự sống.
13. We are dealing with the principle of “Hylozoism”, the ubiquity of Life in cosmos.
13. Chúng ta đang bàn đến nguyên khí “Hylozoism”, tức tính phổ hiện của Sự sống trong vũ trụ.
All is Life, and every atom of even mineral dust is a Life, though beyond our comprehension and perception....Life therefore is everywhere in the Universe...wherever there is an atom of matter, a particle or a molecule, even in its most gaseous condition, there is life in it however latent and unconscious.”—S. D., I, 269, 281, 2
Tất cả đều là Sự sống, và mỗi nguyên tử, ngay cả của bụi khoáng vật, cũng là một Sự sống, dù vượt ngoài sự thấu hiểu và tri giác của chúng ta....Vì vậy, Sự sống hiện diện khắp nơi trong Vũ trụ...ở bất cứ nơi nào có một nguyên tử vật chất, một hạt hay một phân tử, ngay cả trong trạng thái khí thể nhất của nó, thì trong đó đều có sự sống, dù tiềm tàng và vô thức đến đâu.”—S. D., I, 269, 281, 2
9. Not only is there life in it, but it is Life. All things arose out of the ONE LIFE. What else can anything be but THAT from which it arose?
9. Không những trong đó có sự sống, mà nó chính là Sự sống. Mọi sự vật đều phát sinh từ SỰ SỐNG DUY NHẤT. Có gì có thể là điều gì khác ngoài CHÍNH ĐIỀU mà từ đó nó đã phát sinh?
FOOTNOTE 87: The Life and the Lives.
CHÚ THÍCH 87: Sự sống và các sự sống.
1. Everything lives and is conscious, but all life and consciousness is not similar to the human.—S. D., I, 79.
1. Mọi thứ đều sống và đều có tâm thức, nhưng không phải mọi sự sống và tâm thức đều giống như nơi con người.—S. D., I, 79.
14. By “conscious” we mean responsive. To act when acted upon is to live. Even if we cannot detect many types of response, they are occurring.
14. Bởi “có tâm thức” chúng ta muốn nói là có đáp ứng. Hành động khi bị tác động là sống. Dù chúng ta không thể phát hiện nhiều loại đáp ứng, chúng vẫn đang xảy ra.
a. Life is the one form of existence manifesting in matter.
a. Sự sống là một hình thức tồn tại duy nhất đang biểu hiện trong vật chất.
15. And, further, Life is matter and matter is Life.
15. Và hơn nữa, Sự sống là vật chất và vật chất là Sự sống.
16. If something is, it lives.
16. Nếu một điều gì đó là, thì nó sống.
17. To be is to live.
17. Hiện hữu là sống.
b. Matter is the vehicle for the manifesting of soul.
b. Vật chất là vận cụ cho sự biểu hiện của linh hồn.
18. In the ‘Philosophy of Infinitism’, matter is ‘created’ through an act of Self-Perception.
18. Trong ‘Triết học về Tính Vô Hạn’, vật chất được ‘sáng tạo’ thông qua một hành vi Tự-Tri-Giác.
c. Soul is the vehicle for the manifesting of Spirit.
c. Linh hồn là vận cụ cho sự biểu hiện của tinh thần.
19. Soul is the knowing by which That which is, knows Itself.
19. Linh hồn là sự biết nhờ đó Cái là, biết chính Nó.
Therefore: 1st Logos, 2nd Logos, 3rd Logos co-operate.
Vì vậy: Logos thứ nhất, Logos thứ hai, Logos thứ ba cùng hợp tác.
Illustration:
Minh họa:
Life of the 3rd Logos—animating atoms of matter.
Sự sống của Logos thứ ba—tiếp sinh lực cho các nguyên tử vật chất.
Life of the 2nd Logos—animating the forms, or aggregate of atoms.
Sự sống của Logos thứ hai—tiếp sinh lực cho các hình tướng, hay tập hợp các nguyên tử.
Life of the 1st Logos—animating the composite forms.
Sự sống của Logos thứ nhất—tiếp sinh lực cho các hình tướng tổng hợp.
20. By “animating” we mean ‘ensouling’—providing the movement and responsiveness of that which moves and responds, and providing also the Presence within that which moves and responds.
20. Bởi “tiếp sinh lực” chúng ta muốn nói là ‘phú linh’—ban cho sự chuyển động và khả năng đáp ứng của cái chuyển động và đáp ứng, đồng thời cũng ban cho Hiện Diện bên trong cái chuyển động và đáp ứng.
2. The one Life synthesises this triplicity.
2. Sự sống duy nhất tổng hợp bộ ba này.
21. The “One Life? is greater than and inclusive of any of the three Logoi.
21. “Sự Sống Duy Nhất” lớn hơn và bao gồm bất kỳ một trong ba Logos nào.
Let us work this out in the Macrocosm and Microcosm.
Chúng ta hãy triển khai điều này trong Đại thiên địa và Tiểu thiên địa.
Fohat, Prana, Electricity, Magnetic Fluid, are all terms used for this one vitalising life.
Fohat, Prana, Điện, Lưu chất từ tính, đều là những thuật ngữ được dùng cho sự sống tiếp sinh lực duy nhất này.
22. The presentation of equivalences is important in the teaching. If we know the synonyms for poorly understood terms, we can better clarify our conception of these terms.
22. Việc trình bày các tương đương là quan trọng trong giáo huấn. Nếu chúng ta biết các từ đồng nghĩa của những thuật ngữ ít được hiểu rõ, chúng ta có thể làm sáng tỏ quan niệm của mình về các thuật ngữ ấy tốt hơn.
23. If Fohat has a vast cosmic extension, then so do Prana, Electricity and Magnetic Fluid.
23. Nếu Fohat có một tầm mở rộng vũ trụ bao la, thì Prana, Điện và Lưu chất từ tính cũng vậy.
24. We shall be watching to see to what extent we can see Fohat and Agni as equivalent.
24. Chúng ta sẽ theo dõi để xem ở mức độ nào có thể thấy Fohat và Agni là tương đương.
The Microcosm is animated and vitalised by prana, and its actions controlled by the indwelling Thinker.
Tiểu thiên địa được prana tiếp sinh lực và làm cho sống động, còn các hoạt động của nó được kiểm soát bởi Đấng Tư Tưởng nội tại.
25. Here prana serves as ‘microcosmic Fohat’. We have to realize that the microcosm is not just the physical aspect of the microcosm, but that aspect of the Thinker which manifests on all the lower eighteen sub-planes.
25. Ở đây prana phục vụ như ‘Fohat vi mô’. Chúng ta phải chứng nghiệm rằng tiểu thiên địa không chỉ là phương diện hồng trần của tiểu thiên địa, mà là phương diện của Đấng Tư Tưởng biểu hiện trên toàn bộ mười tám cõi phụ thấp hơn.
The Macrocosm is animated and vitalised by Fohat; its actions are controlled by the informing Intelligence we call the Logos.
Đại thiên địa được Fohat làm cho sống động và tiếp sinh lực; các hoạt động của nó được kiểm soát bởi Trí Tuệ thấm nhuần mà chúng ta gọi là Logos.
10. If we make the analogy, that which is the Thinker for the human being is the Logos in relation to the Macrocosm. Generally, the term “Macrocosm” means (for us) the Solar Logos.
10. Nếu chúng ta áp dụng phép tương đồng, thì điều là Đấng Tư Tưởng đối với con người chính là Logos trong liên hệ với Đại thiên địa. Nói chung, thuật ngữ “Đại thiên địa” có nghĩa là (đối với chúng ta) Thái dương Thượng đế.
11. When we think of this macrocosmic animation, we are not speaking of the entirety of the Solar Logos, but of those portions of His life-demonstration which work through the lower eighteen sub-planes cosmically considered.
11. Khi chúng ta nghĩ đến sự làm cho sống động ở cấp đại vũ trụ này, chúng ta không nói đến toàn thể Thái dương Thượng đế, mà nói đến những phần trong sự biểu lộ sự sống của Ngài hoạt động qua mười tám cõi phụ thấp hơn, xét theo vũ trụ.
We are dealing with solar fire per se, with the essence of thought, with the coherent life of all forms, with the consciousness in its evolving aspect, or with Agni, the sumtotal of the Gods.
Chúng ta đang bàn đến chính Lửa Thái dương, đến tinh chất của tư tưởng, đến sự sống cố kết của mọi hình tướng, đến tâm thức trong phương diện tiến hoá của nó, hay đến Agni, tổng thể của các Thượng đế.
12. This is, apparently, a very broad definition of Agni. Can Agni be considered solar fire in itself?
12. Đây dường như là một định nghĩa rất rộng về Agni. Có thể xem Agni là Lửa Thái dương tự thân không?
13. Here are the definitions of Agni here presented:
13. Sau đây là các định nghĩa về Agni được trình bày ở đây:
a. Solar fire per se
a. Chính Lửa Thái dương
b. The essence of thought
b. Tinh chất của tư tưởng
c. The coherent life of all forms
c. Sự sống cố kết của mọi hình tướng
d. The consciousness in its evolving aspect (thus evolutionary consciousness and not involutionary)
d. Tâm thức trong phương diện tiến hoá của nó (do đó là tâm thức thăng thượng tiến hoá chứ không phải giáng hạ tiến hoá)
e. The sumtotal of the Gods
e. Tổng thể của các Thượng đế
14. We will attempt to discover the boundaries of Agni, cosmically considered.
14. Chúng ta sẽ cố gắng khám phá các ranh giới của Agni, xét theo vũ trụ.
15. Is Agni also the coherent life of the forms to be found on the higher cosmic mental plane?
15. Agni có phải cũng là sự sống cố kết của các hình tướng được tìm thấy trên cõi trí vũ trụ cao hơn không?
16. We have read that solar fire actually originates on the cosmic higher mental plane. So will we think of Agni as cosmic mental solar fire, or will we find that we have to differentiate cosmic solar fire from cosmic fire by friction?
16. Chúng ta đã đọc rằng Lửa Thái dương thực sự phát nguyên trên cõi thượng trí vũ trụ. Vậy chúng ta sẽ nghĩ về Agni như Lửa Thái dương trí tuệ vũ trụ, hay sẽ thấy rằng phải phân biệt Lửa Thái dương vũ trụ với Lửa ma sát vũ trụ?
17. When we call Agni the “sumtotal of the Gods” we have to draw a ring-pass-not. There are “God” on the higher cosmic mental plane and above. Is Agni Their sumtotal or only the sumtotal of the Gods found below the higher cosmic mental plane?
17. Khi gọi Agni là “tổng thể của các Thượng đế”, chúng ta phải vạch ra một vòng-giới-hạn. Có những “Thượng đế” trên cõi thượng trí vũ trụ và cao hơn nữa. Agni có phải là tổng thể của Các Ngài hay chỉ là tổng thể của các Thượng đế được tìm thấy bên dưới cõi thượng trí vũ trụ?
18. We must also realize that a Super-Cosmic Agni must, in all probability, exist. This, for us, supreme type of Agni, expresses as super-cosmic prana or super-cosmic vitality throughout all the seven cosmic planes—considering them as one super-cosmic etheric-physical plane.
18. Chúng ta cũng phải chứng nghiệm rằng một Agni Siêu-Vũ-Trụ hẳn rất có thể tồn tại. Đối với chúng ta, loại Agni tối thượng này biểu lộ như prana siêu-vũ-trụ hay sinh lực siêu-vũ-trụ xuyên suốt cả bảy cõi vũ trụ—xem chúng như một cõi hồng trần-dĩ thái siêu-vũ-trụ duy nhất.
He is Vishnu and the Sun in His glory;
Ngài là Vishnu và là Mặt Trời trong vinh quang của Ngài;
19. Vishnu is definitely the God of the second aspect. We have been told that solar fire manifests on the second, third and fourth sub-planes of the cosmic physical plane.
19. Vishnu rõ ràng là Thượng đế của phương diện thứ hai. Chúng ta đã được cho biết rằng Lửa Thái dương biểu hiện trên các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của cõi hồng trần vũ trụ.
He [Lord Agni] shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as 'fire by friction' on the fifth, sixth and seventh. (TCF 522)
Ngài [Chúa Agni] biểu lộ như Lửa Thái dương trên cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như 'Lửa ma sát' trên cõi phụ thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. (TCF 522)
20. To what ‘point of elevation’ on the cosmic planes higher than the cosmic physical plane will be we able to trace the origin of Lord Agni?
20. Chúng ta sẽ có thể truy nguyên nguồn gốc của Chúa Agni đến ‘điểm nâng cao’ nào trên các cõi vũ trụ cao hơn cõi hồng trần vũ trụ?
21. Vishnu on the cosmic mental plane will express on the higher cosmic mental plane.
21. Vishnu trên cõi trí vũ trụ sẽ biểu lộ trên cõi trí vũ trụ cao hơn.
22. Perhaps, Vishnu, cosmically considered, will also express through planes higher than the cosmic mental. Analogically, it would make sense.
22. Có lẽ Vishnu, xét theo vũ trụ, cũng sẽ biểu lộ qua những cõi cao hơn cõi trí vũ trụ. Theo phép tương đồng, điều đó có lý.
23. If Agni is inclusive of Vishnu on the cosmic physical plane, is He also inclusive of Cosmic Vishnu Who expresses through the Heart of the Sun and through the Cosmic Spiritual Triad?
23. Nếu Agni bao gồm Vishnu trên cõi hồng trần vũ trụ, thì Ngài có bao gồm cả Vishnu Vũ Trụ, Đấng biểu lộ qua Trái Tim của Mặt Trời và qua Tam Nguyên Tinh Thần Vũ Trụ không?
He is the fire of matter and the fire of mind blended and fused;
Ngài là lửa của vật chất và lửa của trí tuệ được hòa trộn và dung hợp;
24. If we are speaking in a cosmic context, then we would be speaking of the blending of cosmic solar fire of the cosmic mental plane and the fires of the planes lower than the higher cosmic mental.
24. Nếu chúng ta đang nói trong một bối cảnh vũ trụ, thì chúng ta sẽ nói đến sự hòa trộn giữa Lửa Thái dương vũ trụ của cõi trí vũ trụ và các lửa của những cõi thấp hơn cõi thượng trí vũ trụ.
25. If we are speaking in a systemic context and dealing only with the cosmic physical plane, then we have to remember that in His expression as solar fire and fire by friction, Agni includes the six systemic planes lower than the systemic logoic plane.
25. Nếu chúng ta đang nói trong một bối cảnh hệ thống và chỉ bàn đến cõi hồng trần vũ trụ, thì chúng ta phải nhớ rằng trong biểu hiện của Ngài như Lửa Thái dương và Lửa ma sát, Agni bao gồm sáu cõi hệ thống thấp hơn cõi logoic hệ thống.
26. From another perspective, Agni can be considered the name of the Raja Deva Lord Who rules the systemic mental plane.
26. Từ một góc nhìn khác, Agni có thể được xem là danh xưng của Chúa Tể Raja Deva cai quản cõi trí hệ thống.
27. We see that, given the Tibetan’s multi-perspectived definitions of Agni, it is not yet easy to find the definitive way of describing Him.
27. Chúng ta thấy rằng, với những định nghĩa đa phối cảnh của Chân sư Tây Tạng về Agni, hiện vẫn chưa dễ tìm ra cách mô tả dứt khoát về Ngài.
He is the intelligence which throbs in every atom;
Ngài là trí tuệ rung động trong mỗi nguyên tử;
28. Are we to think that there are no cosmic astral atoms or cosmic mental atoms? If there are such atoms, can we say that Agni throbs in them as well? As we gather the evidence concerning His nature, it would be reasonable to say, “Yes”—provided that there really are such atoms.
28. Chúng ta có nên nghĩ rằng không có các nguyên tử cảm dục vũ trụ hay các nguyên tử trí tuệ vũ trụ không? Nếu có những nguyên tử như thế, chúng ta có thể nói rằng Agni cũng rung động trong chúng không? Khi tập hợp chứng cứ liên quan đến bản chất của Ngài, sẽ là hợp lý nếu nói “Có”—miễn là thực sự có những nguyên tử như vậy.
29. Agni is strongly identified with the principle of mind; certainly, this great Intelligence is present is all atoms of the cosmic physical plane.
29. Agni được đồng hoá mạnh mẽ với nguyên khí trí tuệ; chắc chắn Trí Tuệ vĩ đại này hiện diện trong mọi nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ.
He is the Mind that actuates the system;
Ngài là Trí Tuệ làm cho hệ mặt trời hoạt động;
30. The “system” usually means the solar system, which, we have seen, usually pertains to the etheric and physical expressions of the Solar Logos on the cosmic physical plane.
30. “Hệ” thường có nghĩa là hệ mặt trời, mà như chúng ta đã thấy, thường liên quan đến các biểu hiện dĩ thái và hồng trần của Thái dương Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ.
31. From this perspective, Agni then can be identified with a form of Manas—the Will-Mind behind manifestation.
31. Từ góc nhìn này, Agni có thể được đồng hoá với một hình thức của Manas—Ý Chí-Trí Tuệ đứng sau sự biểu hiện.
32. Because He is Mind, He is Cosmic Fohat, Cosmic Brahma and the Cosmic Holy-Spirit—depending on the perspective taken.
32. Bởi vì Ngài là Trí Tuệ, nên Ngài là Fohat Vũ Trụ, Brahma Vũ Trụ và Chúa Thánh Thần Vũ Trụ—tùy theo góc nhìn được chọn.
He is the fire of substance and the substance of the fire; He is the Flame and that which the Flame destroys.
Ngài là lửa của chất liệu và là chất liệu của lửa; Ngài là Ngọn Lửa và là điều mà Ngọn Lửa hủy diệt.
33. The descriptions of His nature become more enigmatical.
33. Những mô tả về bản chất của Ngài trở nên bí ẩn hơn.
34. He seems to be the Fire of all fires.
34. Ngài dường như là Lửa của mọi lửa.
35. He is at once identified with fire and with substance.
35. Ngài đồng thời được đồng hoá với lửa và với chất liệu.
36. There is definitely a destructive aspect to His nature.
36. Rõ ràng có một phương diện hủy diệt trong bản chất của Ngài.
37. When identified with such words as “Flame” (capitalized) we can understand Him as the Spirit aspect, for our Monads are “undetached sparks” suspended from the Flame.
37. Khi được đồng hoá với những từ như “Ngọn Lửa” (viết hoa), chúng ta có thể hiểu Ngài là phương diện tinh thần, vì các chân thần của chúng ta là những “tia lửa không tách rời” được treo từ Ngọn Lửa.
Students of the Secret Doctrine when they read carelessly are apt to consider Him only as the fire of matter and omit to note that He is Himself the sumtotal—and this is especially the case when they find that Agni is the Lord of the mental plane.88
Các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm khi đọc một cách cẩu thả thường có khuynh hướng chỉ xem Ngài là lửa của vật chất và không lưu ý rằng chính Ngài là tổng thể—và điều này đặc biệt đúng khi họ thấy rằng Agni là Chúa Tể của cõi trí.88
38. When DK tells us that careless students think of Agni as the “fire of matter”, are these students thinking systemically or cosmically? If systemically, then there would be an error.
38. Khi Chân sư DK nói với chúng ta rằng những đạo sinh cẩu thả nghĩ về Agni như “lửa của vật chất”, thì những đạo sinh này đang nghĩ theo hệ thống hay theo vũ trụ? Nếu theo hệ thống, thì sẽ có sai lầm.
39. If students think of matter cosmically, what vibratory levels shall be called matter? Shall it be only the lower three systemic planes? Or in some cosmic sense, shall it be considered the lower eighteen cosmic sub-planes?
39. Nếu các đạo sinh nghĩ về vật chất theo nghĩa vũ trụ, thì những cấp độ rung động nào sẽ được gọi là vật chất? Có phải chỉ là ba cõi hệ thống thấp hơn? Hay theo một nghĩa vũ trụ nào đó, nó sẽ được xem là mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn?
40. The mental nature of Agni, however, must always be held in mind, though defined with care.
40. Tuy nhiên, bản chất trí tuệ của Agni luôn phải được ghi nhớ, dù được định nghĩa một cách cẩn trọng.
FOOTNOTE 88:
CHÚ THÍCH 88:
“...Agni, who is the source of all that gives light and heat. So that there are different species of Agni (fire);
“...Agni, Đấng là nguồn gốc của mọi điều ban ánh sáng và nhiệt. Vì vậy có những loài Agni (lửa) khác nhau;
41. This is an important point. Fire is divisible and the divisions are of great complexity. The Seven Sons of Fohat are here involved and their divisions (and the divisions of other Deva Lords) will relate to the many orders of angels and devas described in world literature on this subject.
41. Đây là một điểm quan trọng. Lửa có thể phân chia, và các phân chia ấy vô cùng phức tạp. Bảy Con của Fohat được bao hàm ở đây, và các phân chia của các Ngài (cũng như các phân chia của những Chúa Tể Deva khác) sẽ liên hệ đến nhiều cấp thiên thần và deva được mô tả trong văn liệu thế giới về chủ đề này.
but “whatever other fires there may be, they are but the ramifications of Agni, the immortal” (Rig Veda, L, 59 I).
nhưng “dù có những lửa nào khác đi nữa, chúng cũng chỉ là những phát xạ của Agni, Đấng bất tử” (Rig Veda, L, 59 I).
42. We are dealing with a Great Being, and it is our task to identify His nature and the systemic, cosmic, and even super-cosmic levels on which He expresses—to the extent possible.
42. Chúng ta đang bàn đến một Hữu Thể Vĩ Đại, và nhiệm vụ của chúng ta là nhận diện bản chất của Ngài cùng các cấp độ hệ thống, vũ trụ, và thậm chí siêu-vũ-trụ mà trên đó Ngài biểu lộ—trong mức độ có thể.
The primary division of Agni is threefold. “Agni,” says the Vishnu Parana, “has three sons, Suchi, Pavamana, and Pavaka” (I, x). Suchi means the Saura, or Solar fire; Pavamana means Nirmathana, fire produced by friction, as the friction of two pieces of wood; and Pavaka means the vaidyuta or fire of the firmament, i.e. the fire of the lightning, or electric fire.
Sự phân chia chính yếu của Agni là tam phân. “Agni,” Vishnu Parana nói, “có ba người con, Suchi, Pavamana, và Pavaka” (I, x). Suchi có nghĩa là Saura, hay Lửa Thái dương; Pavamana có nghĩa là Nirmathana, lửa được tạo ra bởi ma sát, như ma sát của hai mảnh gỗ; và Pavaka có nghĩa là vaidyuta hay lửa của bầu trời, tức lửa của sấm chớp, hay Lửa Điện.
43. It is valuable to have the three fires with which we are familiar named from the perspective of the Vedic Tradition:
43. Thật có giá trị khi ba loại lửa mà chúng ta quen thuộc được gọi tên từ góc nhìn của Truyền thống Veda:
a. Pavaka/Vaidyuta—Electric Fire
a. Pavaka/Vaidyuta—Lửa Điện
b. Suchi/Saura—Solar Fire
b. Suchi/Saura—Lửa Thái dương
c. Pavamana/Nirmathana—Fire By Friction
c. Pavamana/Nirmathana—Lửa ma sát
44. We can see that the idea of the three fires is very ancient. The Tibetan is simply presenting these ideas to us in modern garb.
44. Chúng ta có thể thấy rằng ý niệm về ba loại lửa là rất cổ xưa. Chân sư Tây Tạng chỉ đơn giản trình bày những ý niệm này cho chúng ta trong hình thức hiện đại.
The sources of these three fires I may observe in passing, constitute the three principal deities spoken of in the Veda, namely, Surya, the sun, representing the solar fire; Indra (and sometimes, Vayu) the rain-producing deity, representing the fire of the firmament; and Agni, representing the terrestrial fire, the fire produced by friction (Nirukta, VII, 4);
Nhân tiện tôi có thể nhận xét rằng các nguồn của ba loại lửa này tạo thành ba thần tính chính yếu được nói đến trong Veda, đó là Surya, mặt trời, tượng trưng cho Lửa Thái dương; Indra (và đôi khi là Vayu), vị thần tạo mưa, tượng trưng cho lửa của bầu trời; và Agni, tượng trưng cho lửa địa cầu, lửa được tạo ra bởi ma sát (Nirukta, VII, 4);
45. Here we are speaking of the origins of the three types of fire:
45. Ở đây chúng ta đang nói về nguồn gốc của ba loại lửa:
a. Indra is a God associated with the buddhic plane, in this case, perhaps the cosmic buddhic plane. He is a ‘God of Thunder’ and here, apparently, of lightning. He represents the source of Electric Fire
a. Indra là một Thượng đế gắn liền với cõi Bồ đề, trong trường hợp này có lẽ là cõi Bồ đề vũ trụ. Ngài là một ‘Thần Sấm’ và ở đây, rõ ràng, là của sấm chớp. Ngài tượng trưng cho nguồn của Lửa Điện
b. Surya will be associated with the Heart of the Sun on the higher levels of the cosmic mental plane
b. Surya sẽ được liên kết với Trái Tim của Mặt Trời trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ
c. Agni (in this context) will represent “terrestrial fire” or fire by friction cosmically considered, and thus related to the eighteen cosmic sub-planes (equivalent in scope to eighteen systemic planes) found below the highest three planes of the cosmic mental plane.
c. Agni (trong bối cảnh này) sẽ tượng trưng cho “lửa địa cầu” hay Lửa ma sát, xét theo vũ trụ, và do đó liên hệ với mười tám cõi phụ vũ trụ (tương đương về phạm vi với mười tám cõi hệ thống) được tìm thấy bên dưới ba cõi cao nhất của cõi trí vũ trụ.
and all these three, be it remembered, are merely the ramifications of one Agni;
và xin nhớ rằng cả ba vị này chỉ đơn thuần là những phát xạ của một Agni duy nhất;
46. When we hear the word “ramifications” we must think emanations.
46. Khi nghe từ “ramifications”, chúng ta phải nghĩ đến các phát xạ.
47. If we wish to consider Indra, Surya and Agni in relation to the cosmic physical plane, then the One Agni is obviously expressive on planes higher than the cosmic physical plane.
47. Nếu chúng ta muốn xem xét Indra, Surya và Agni trong liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ, thì Một Agni hiển nhiên biểu lộ trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ.
48. The important thing to note is that there is an Agni which is roughly equivalent with Indra and Surya, but an even greater Agni which is inclusive of all of them.
48. Điều quan trọng cần lưu ý là có một Agni gần tương đương với Indra và Surya, nhưng còn có một Agni lớn lao hơn nữa bao gồm tất cả các vị ấy.
49. If we wish to consider Indra, Surya and Agni in a cosmic sense, then the One Agni is a great Cosmic God, indeed, and will find expression on planes even higher than the cosmic buddhic plane.
49. Nếu chúng ta muốn xem xét Indra, Surya và Agni theo nghĩa vũ trụ, thì Một Agni quả thực là một Đại Thượng đế Vũ Trụ, và sẽ tìm thấy sự biểu lộ trên những cõi còn cao hơn cả cõi Bồ đề vũ trụ.
which in its turn is an emanation from the Supreme One, as the reader will find from the allegorical description given of Agni as being the mouth-born son of Brahma, in the Vishnu purana.
đến lượt nó lại là một phát xạ từ Đấng Tối Cao, như độc giả sẽ thấy từ mô tả ngụ ngôn về Agni là người con sinh ra từ miệng của Brahma, trong Vishnu purana.
50. Cosmic Brahma will rule five cosmic planes, and Agni, it would seem, is born from his “mouth”.
50. Brahma Vũ Trụ sẽ cai quản năm cõi vũ trụ, và Agni, dường như, được sinh ra từ “miệng” của Ngài.
51. Solar systemic Brahma rules five systemic planes. In this case, Agni will rule the systemic mental plane, but an even greater Agni will be inclusive of systemic Brahma.
51. Brahma hệ mặt trời cai quản năm cõi hệ thống. Trong trường hợp này, Agni sẽ cai quản cõi trí hệ thống, nhưng một Agni còn lớn hơn nữa sẽ bao gồm Brahma hệ thống.
52. Yet, from another perspective, we must not forget that Agni, Fohat and Brahma can be considered equivalent. So, Who, then is the Supreme One?
52. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, chúng ta không được quên rằng Agni, Fohat và Brahma có thể được xem là tương đương. Vậy thì Đấng Tối Cao là Ai?
Now, each of the triple forms of Agni has numerous subdivisions.
Giờ đây, mỗi hình thức tam phân của Agni đều có nhiều phânnhánh phụ.
53. We learn that, depending on the scale considered, there are a number of forms of Agni, and each of them is triple. Triplicity is just the beginning, and many subdivisions follow, leading us into one intricate branch of devic study or ‘angelology’.
53. Chúng ta học được rằng, tùy theo thang đo được xét, có một số hình thức của Agni, và mỗi hình thức đều là tam phân. Bộ ba chỉ mới là khởi đầu, và còn nhiều phân nhánh tiếp theo, dẫn chúng ta vào một ngành nghiên cứu deva hay ‘thiên thần học’ hết sức phức tạp.
The solar fire is distinguished by several divisions according to the nature of the rays emitted by the great luminary.”—The Theosophist,
Lửa Thái dương được phân biệt thành nhiều phân nhánh tùy theo bản chất của các tia phát ra từ thiên thể sáng lớn lao.”—The Theosophist,
54. It appears that the fire of Surya, Solar Fire, is also divisible, though perhaps differently divisible than Brahma. Perhaps divisions in the realm of Brahma/Agni occur in threes and nines, whereas in the realm of Surya, the division occurs in sevens.
54. Dường như lửa của Surya, Lửa Thái dương, cũng có thể phân chia, dù có lẽ được phân chia khác với Brahma. Có lẽ các phân chia trong lĩnh vực của Brahma/Agni diễn ra theo bộ ba và bộ chín, trong khi trong lĩnh vực của Surya, sự phân chia diễn ra theo bộ bảy.
He is the animating life of the solar system, and that life is the life of [Page 603] God, the energy of the Logos, and the manifestation of the radiance which veils the Central Sun.
Ngài là sự sống làm cho hệ mặt trời sống động, và sự sống ấy là sự sống của [Page 603] Thượng đế, năng lượng của Logos, và sự biểu hiện của bức xạ che phủ Mặt Trời Trung Tâm.
55. The definitions of Agni continue:
55. Các định nghĩa về Agni tiếp tục:
a. Agni is the animating life of the solar system
a. Agni là sự sống làm cho hệ mặt trời sống động
b. Agni is the life of God
b. Agni là sự sống của Thượng đế