← Commentary_S6_574_679_song ngữ

c. The stimulation of egoic vibration

Trích nội dung chương

175. According to our studies, these developments occur largely under the influence of the “Law of Magnetic Control” directed from the buddhic plane. 175. Theo các nghiên cứu của chúng ta, những sự phát triển này phần lớn xảy ra dưới ảnh hưởng của “Định luật Kiểm Soát Từ Tính” được hướng dẫn từ cõi Bồ đề.


c. The stimulation of egoic vibration

c. Sự kích thích rung động chân ngã

175. According to our studies, these developments occur largely under the influence of the “Law of Magnetic Control” directed from the buddhic plane.

175. Theo các nghiên cứu của chúng ta, những sự phát triển này phần lớn xảy ra dưới ảnh hưởng của “Định luật Kiểm Soát Từ Tính” được hướng dẫn từ cõi Bồ đề.

176. From a practical perspective, the improvement of our quality will lead to an improvement of the forms and matter through which our quality expresses.

176. Từ góc độ thực tiễn, sự cải thiện phẩm tính của chúng ta sẽ dẫn đến sự cải thiện các hình tướng và vật chất mà qua đó phẩm tính của chúng ta biểu lộ.

The cause will be dealt with and not the effect, and hence the growing appreciation by the human family of the study of psychology,

Nguyên nhân sẽ được xử lý chứ không phải kết quả, và do đó có sự trân trọng ngày càng tăng của gia đình nhân loại đối với việc nghiên cứu tâm lý học,

177. Psychology is essentially a buddhic discipline. Interestingly the Master in the Hierarchy particularly associated with the development of psychology is a fourth ray Master and the buddhic plane is the fourth plane.

177. Tâm lý học về bản chất là một bộ môn Bồ đề. Điều thú vị là Chân sư trong Thánh Đoàn đặc biệt gắn liền với sự phát triển của tâm lý học là một Chân sư cung bốn và cõi Bồ đề là cõi thứ bốn.

even though as yet they are but studying the kama-manasic body, and have not reached back to the egoic consciousness.

mặc dù cho đến nay họ mới chỉ nghiên cứu thể trí cảm, và chưa vươn ngược trở lại đến tâm thức chân ngã.

178. Modern psychology but studies the reflection of the Ego which appears on the lower mental and astral planes. Since most human beings are focussed in kama-manas, psychology (if it is to be of assistance to the majority) must focus in the dual kama-manasic vehicle.

178. Tâm lý học hiện đại chỉ nghiên cứu sự phản chiếu của Chân ngã xuất hiện trên cõi hạ trí và cõi cảm dục. Vì phần lớn nhân loại tập trung trong kama-manas, tâm lý học (nếu muốn trợ giúp cho đa số) phải tập trung vào vận cụ trí-cảm kép.

179. As more human beings begin to realize the nature of the soul, the province of psychological inquiry will shift upwards.

179. Khi ngày càng nhiều con người bắt đầu chứng nghiệm bản chất của linh hồn, phạm vi khảo cứu tâm lý học sẽ chuyển lên cao hơn.

180. Modern students of esotericism can do something to advance a truer form of psychology by working within the realm of soul consciousness and applying themselves to the laws of that level—i.e., the Laws of the Soul.

180. Các môn sinh huyền bí học hiện đại có thể làm điều gì đó để thúc đẩy một hình thức tâm lý học chân thực hơn bằng cách hoạt động trong lĩnh vực tâm thức linh hồn và chuyên tâm vào các định luật của cấp độ đó—tức là, các Định luật của Linh hồn.

The lunar Lords have had their day; now Agni, as the solar Lord of life and energy, will assume due importance in human life.

Các nguyệt tinh quân đã có thời của mình; nay Agni, với tư cách là nhật tinh quân của sự sống và năng lượng, sẽ đảm nhận tầm quan trọng thích đáng trong đời sống nhân loại.

181. While Agni may be considered a ‘God of Personality” from the solar logoic standpoint, He is still a representative of solar fire.

181. Mặc dù Agni có thể được xem là một “Thượng đế của Phàm ngã” theo quan điểm thái dương thượng đế, Ngài vẫn là một đại diện của Lửa Thái dương.

182. He is the Fohatic aspect of the Solar Logos, nevertheless carrying the solar vibration which is far above the vibration to which the lunar lords normally respond.

182. Ngài là phương diện Fohat của Thái dương Thượng đế, tuy vậy vẫn mang rung động thái dương cao vượt xa rung động mà các nguyệt tinh quân thường đáp ứng.

183. Agni may vitalize the dense physical body of the Logos, but His major focus is not there. His major focus is a cosmic etheric focus which, for us as human beings, is the realm of “life and energy”.

183. Agni có thể tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, nhưng trọng tâm chính của Ngài không ở đó. Trọng tâm chính của Ngài là một tiêu điểm dĩ thái vũ trụ, mà đối với chúng ta là những con người, đó là lĩnh vực của “sự sống và năng lượng”.

c. Agni and the Three Fires.

c. Agni và Ba Ngọn Lửa.

In studying the manifestation of Agni in the solar system it should be remembered that we are considering here His essential nature as actuating fire.

Khi nghiên cứu sự biểu hiện của Agni trong hệ mặt trời, cần nhớ rằng ở đây chúng ta đang xem xét bản chất cốt yếu của Ngài như lửa tác động.

184. What is “actuating fire”? Shall we call it the fire especially related to the activity aspect? Can we call it the ‘fire that makes action and manifestation possible’?

184. “Lửa tác động” là gì? Chúng ta có nên gọi đó là ngọn lửa đặc biệt liên hệ với phương diện hoạt động không? Chúng ta có thể gọi đó là “ngọn lửa làm cho hành động và biểu hiện trở nên khả hữu” không?

185. The personality is particularly related to the third or activity aspect, and Agni is, we are told, the Personality of the Solar Logos.

185. Phàm ngã đặc biệt liên hệ với phương diện thứ ba hay phương diện hoạt động, và như đã được cho biết, Agni là Phàm ngã của Thái dương Thượng đế.

We have seen that He is the threefold logoic personality, but He is the threefold Logos in a subjective sense, and the form aspect is only subsidiary.

Chúng ta đã thấy rằng Ngài là phàm ngã thượng đế tam phân, nhưng Ngài là Thượng đế tam phân theo nghĩa chủ quan, còn phương diện hình tướng chỉ là thứ yếu.

186. We have been examining the protean nature of Agni. The hint is here offered that He is more than the logoic Personality, but is subjectively the “threefold Logos”. We shall be looking for the explanation of this statement.

186. Chúng ta đã khảo sát bản chất biến hóa đa dạng của Agni. Ở đây có một gợi ý rằng Ngài còn hơn cả Phàm ngã thượng đế, mà về mặt chủ quan là “Thượng đế tam phân”. Chúng ta sẽ tìm kiếm lời giải thích cho phát biểu này.

187. The statement seems to direct human thinking towards that part of Agni’s expression which conveys the solar logoic presence in consciousness. As we contact and polarize within the cosmic ethers, the subjective presence of the threefold Logos is conveyed to us. This is not possible when our consciousness is entirely captivated within the three lower worlds of time and space. In fact, true subjectivity is not possible for the human being, until there is a focus on the buddhic plane—the first plane in which the life of the Solar Logos is present in a principled manner.

187. Phát biểu này dường như hướng tư tưởng con người đến phần biểu hiện của Agni vốn chuyển tải sự hiện diện của thái dương thượng đế trong tâm thức. Khi chúng ta tiếp xúc và phân cực trong các cõi dĩ thái vũ trụ, sự hiện diện chủ quan của Thượng đế tam phân được chuyển tải đến chúng ta. Điều này không thể xảy ra khi tâm thức của chúng ta hoàn toàn bị giam giữ trong ba cõi thấp của thời gian và không gian. Thật vậy, tính chủ quan đích thực không thể có đối với con người cho đến khi có một tiêu điểm trên cõi Bồ đề—cõi đầu tiên trong đó sự sống của Thái dương Thượng đế hiện diện theo một cách nguyên khí.

Perhaps a tabulation may make this point clearer.

Có lẽ một bảng tóm lược sẽ làm điểm này rõ hơn.

[Page 607]

[Page 607]

188. We note that it is the activity aspect which is pronounced in the following tabulation.

188. Chúng ta lưu ý rằng chính phương diện hoạt động được nhấn mạnh trong bảng tóm lược sau đây.

TABULATION V

BẢNG TÓM LƯỢC V

AGNI—LORD OF FIRE

AGNI—CHÚA TỂ CỦA LỬA

189. We are presented with the three aspects of Agni, Lord of Fire.

189. Ba phương diện của Agni, Chúa Tể của Lửa, được trình bày cho chúng ta.

Aspect

Fire

Result

Subjective

Manifestation

Origin

of Energy

Objective

Manifestation

First, Will

Electric Fire

Activity of Spirit

190. This is occurring principally on the cosmic physical plane, and especially through the cosmic etheric planes.

The One Life.

Unity.

Spiritual.

Dynamic.

Coherence.

Synthesis.

191. We are speaking of a subjective manifestation on the logoic and monadic systemic planes.

Central Spiritual Sun

192. From the logoic standpoint the home of the Central Spiritual Sun is on the cosmic monadic plane. We are speaking of the Monad of the Solar Logos.

The solar system (etheric and dense)

Second, Love-Wisdom

Solar Fire

Activity of Consciousness.

Egoism.

Vitality.

Magnetism.

193. It is important to see how the activity of consciousness manifests. It forms the egoic body and provides vitality and magnetism to the consciousness aspect within man.

The seven

Heavenly Men.

The seven Rays.

The seven types of Mind.

194. These are always associated with the second ray. If the Grand Heavenly Man is connected with the first aspect, relatively speaking, then the Planetary Logoi are associated with the second aspect.

The Heart of the Sun

195. We continue to speak of the expression of Lord Agni on the cosmic physical plane. The Heart of the Sun is on the higher cosmic mental plane but has fields of expression on the cosmic physical plane.

The seven Rays

manifesting

through the seven planetary schemes

196. Compared with the seven planes, the seven rays express the second aspect of divinity.

Third, Activity

Fire by Friction

Activity in Matter.

Atomic vitality.

Energy.

197. This is other than the vitality of the consciousness aspect. It is the energy to move rather than the energy which makes knowing possible.

The seven fires.

The akasha.

198. We are dealing with the akasha considered as a synonym for matter. We are not dealing only with the akasha considered as the sounding matter of the second systemic plane—the monadic.

The physical Sun

199. The “physical Sun” is considered in this context the third aspect or the Sun.

The seven planes

200. These represent the third aspect of divinity just as the rays represent the second.

201. Our objective in the foregoing is not to trace the nature of Agni to planes higher than the cosmic physical plane, but to understand how the three subjective aspects of Agni (“actuating fire”, the fire of activity) demonstrate on different levels of the cosmic physical plane).

201. Mục tiêu của chúng ta trong phần trên không phải là truy nguyên bản chất của Agni đến các cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ, mà là hiểu cách ba phương diện chủ quan của Agni (“lửa tác động”, ngọn lửa của hoạt động) biểu hiện trên các cấp độ khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ).

202. We have traced the source of Agni to the Solar Logos and realize that Agni is under the direction of the logoic Egoic nature, but the only expression of Agni which we can comprehend in the faintest way occurs on the cosmic physical plane.

202. Chúng ta đã truy nguyên nguồn gốc của Agni đến Thái dương Thượng đế và nhận ra rằng Agni ở dưới sự chỉ đạo của bản chất chân ngã thượng đế, nhưng biểu hiện duy nhất của Agni mà chúng ta có thể hiểu dù chỉ mơ hồ nhất là biểu hiện xảy ra trên cõi hồng trần vũ trụ.

203. We also note that we are especially concerned with how Agni manifests on the etheric part of the cosmic physical plane, and not so much about its functioning within the physical body of the Solar Logos.

203. Chúng ta cũng lưu ý rằng điều chúng ta đặc biệt quan tâm là cách Agni biểu hiện trên phần dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ, chứ không quá nhiều về sự vận hành của nó trong thể xác của Thái dương Thượng đế.

[Page 608]

[Page 608]

Each of these three aspects of the One Fire, showing as the Creative Fire, Preserving Fire, and Destroying Fire, must be studied as electrical phenomena, and this under the aspects of light, flame, and heat, of electricity, radiance and motion, of will, desire and action.

Mỗi một trong ba phương diện này của Nhất Hỏa, biểu lộ thành Lửa Sáng Tạo, Lửa Bảo Tồn, và Lửa Hủy Diệt, phải được nghiên cứu như các hiện tượng điện, và điều này dưới các phương diện ánh sáng, ngọn lửa, và nhiệt; của điện, sự rạng ngời và chuyển động; của ý chí, dục vọng và hành động.

204. The entire cosmic physical plane is governed by and exemplifies electrical energy

204. Toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ được chi phối bởi và biểu hiện năng lượng điện

205. Agni is the One Fire, to be considered as Fohat. Upon the cosmic physical plane the One Fire manifests as

205. Agni là Nhất Hỏa, được xem như Fohat. Trên cõi hồng trần vũ trụ, Nhất Hỏa biểu hiện thành

a. The Creative Fire—third ray

a. Lửa Sáng Tạo—cung ba

b. The Preserving Fire—second ray

b. Lửa Bảo Tồn—cung hai

c. The Destroying Fire—first ray

c. Lửa Hủy Diệt—cung một

206. When we get into the technicalities of this study we will find ourselves considering the following “electrical phenomena”:

206. Khi đi vào các chi tiết kỹ thuật của nghiên cứu này, chúng ta sẽ thấy mình đang xem xét các “hiện tượng điện” sau đây:

a. Light

a. Ánh sáng

b. Flame

b. Ngọn lửa

c. Heat

c. Nhiệt

d. Electricity

d. Điện

e. Radiance

e. Sự rạng ngời

f. Motion

f. Chuyển động

g. Will

g. Ý chí

h. Desire

h. Dục vọng

i. Action

i. Hành động

207. Actually, we may have three triplicities here:

207. Thực ra, ở đây chúng ta có thể có ba bộ ba:

a. Light, Flame, Heat

a. Ánh sáng, Ngọn lửa, Nhiệt

b. Electricity, Radiance, Motion

b. Điện, Sự rạng ngời, Chuyển động

c. Will, Desire, Action

c. Ý chí, Dục vọng, Hành động

208. If we arrange the triplicities according to aspect, the following may emerge:

208. Nếu chúng ta sắp xếp các bộ ba theo phương diện, điều sau đây có thể xuất hiện:

First Aspect

Second Aspect

Third Aspect

Flame

Light

Heat

Electricity

Radiance

Motion

Will

Desire

Action

209. Only Light and Flame are out of the order presented and so a case could be made for their alternative positioning. It will be substantiated below, however, that Flame belongs to the first aspect and Light to the second.

209. Chỉ có Ánh sáng và Ngọn lửa là nằm ngoài trật tự đã trình bày, vì vậy có thể lập luận cho việc đặt chúng ở vị trí thay thế. Tuy nhiên, ở phần dưới sẽ được chứng minh rằng Ngọn lửa thuộc về phương diện thứ nhất và Ánh sáng thuộc về phương diện thứ hai.

Only thus will the true nature of Agni be apprehended.

Chỉ bằng cách ấy bản chất đích thực của Agni mới được lĩnh hội.

210. I think we are seeing that it is difficult to apprehend the true nature of Agni. There are so many ways to consider it.

210. Tôi nghĩ rằng chúng ta đang thấy việc lĩnh hội bản chất đích thực của Agni là điều khó khăn. Có quá nhiều cách để xem xét nó.

211. We can gather that Master Hilarion would be an expert (upon the cosmic physical plane, at least) in the understanding of Agni and its multifarious emanations. As least six of the seven properties of Agni listed above are to be studied within the realm of what we call “physics”, though it would have to be the physics of the seven systemic planes and not physics as presently conceived.

211. Chúng ta có thể suy ra rằng Chân sư Hilarion hẳn là một chuyên gia (ít nhất là trên cõi hồng trần vũ trụ) trong việc thấu hiểu Agni và các phát xạ đa tạp của Ngài. Ít nhất sáu trong bảy đặc tính của Agni được liệt kê ở trên phải được nghiên cứu trong lĩnh vực mà chúng ta gọi là “vật lý học”, mặc dù đó phải là vật lý học của bảy cõi hệ thống chứ không phải vật lý học như hiện nay được quan niệm.

As the logoic personality He is demonstrating through a triplicity of sheaths forming a unity,

Là phàm ngã thượng đế, Ngài đang biểu lộ qua một bộ ba các vỏ bọc tạo thành một hợp nhất,

212. These sheaths are composed of the matter of the eighteen lowest cosmic sub-planes. Each of these sub-planes is, in scope, equivalent to a systemic plane.

212. Các vỏ bọc này được cấu tạo từ vật chất của mười tám cõi phụ vũ trụ thấp nhất. Mỗi cõi phụ này, về phạm vi, tương đương với một cõi hệ thống.

213. The personality of the Solar Logos is considered a unity. He is not yet a cosmic Initiate of the third degree so we cannot yet say that His personality is completely integrated with His cosmic soul.

213. Phàm ngã của Thái dương Thượng đế được xem là một hợp nhất. Ngài chưa phải là một Điểm đạo đồ vũ trụ cấp ba nên chúng ta chưa thể nói rằng phàm ngã của Ngài đã hoàn toàn tích hợp với linh hồn vũ trụ của Ngài.

and only thus will it become apparent why at this stage in evolution the material aspect is the most considered.

và chỉ bằng cách ấy mới trở nên hiển nhiên vì sao ở giai đoạn tiến hoá này phương diện vật chất lại được quan tâm nhiều nhất.

214. The fact that the material aspect if most considered has to do with the stage of evolution of our Solar Logos.

214. Sự kiện phương diện vật chất được quan tâm nhiều nhất có liên quan đến giai đoạn tiến hoá của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

215. Of course as a cosmic initiate of the second degree, Agni should also be manifesting quite completely and with reasonable success through the Solar Logos’ astral body on the cosmic astral plane, but of this dimension of his personality expression we can presently know nothing.

215. Dĩ nhiên, với tư cách một điểm đạo đồ vũ trụ cấp hai, Agni cũng phải đang biểu hiện khá hoàn chỉnh và với thành công hợp lý qua thể cảm dục của Thái dương Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ, nhưng về chiều kích này của biểu hiện phàm ngã của Ngài, hiện nay chúng ta không thể biết gì cả.

216. Just as is the case with man, the etheric-physical vehicle of the Solar Logos is the most developed and the consciousness of His personality is most focussed there.

216. Cũng như trường hợp của con người, vận cụ dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế là phát triển nhất và tâm thức của phàm ngã Ngài tập trung nhiều nhất ở đó.

217. When does a human being remove his focus from his etheric physical nature? Perhaps he does not do so until the fourth initiation, but on the way to that high degree, awareness of his astral and mental natures (on their own planes) increases. We can imagine this would be the case for the Solar Logos.

217. Khi nào một con người rút tiêu điểm của mình ra khỏi bản chất dĩ thái hồng trần? Có lẽ y không làm như vậy cho đến lần điểm đạo thứ tư, nhưng trên đường tiến đến cấp độ cao đó, nhận thức của y về bản chất cảm dục và trí tuệ của mình (trên các cõi riêng của chúng) gia tăng. Chúng ta có thể hình dung rằng điều này cũng đúng đối với Thái dương Thượng đế.

218. When, we might ask, will the Solar Logos develop cosmic ‘continuity of consciousness’? Human initiates of the second degree do not have, as a rule, complete continuity of consciousness. Will a Solar Logos Who has attained the second degree have complete ‘cosmic continuity of consciousness’? When will the burning of the cosmic etheric webs occur? On the human scale, such continuity of consciousness occurs more frequently when the third degree is approached and taken.

218. Khi nào, chúng ta có thể hỏi, Thái dương Thượng đế sẽ phát triển “tính liên tục của tâm thức” vũ trụ? Các điểm đạo đồ nhân loại cấp hai, theo quy luật, không có tính liên tục hoàn toàn của tâm thức. Liệu một Thái dương Thượng đế đã đạt cấp hai có tính “liên tục của tâm thức” vũ trụ hoàn toàn hay không? Khi nào sự đốt cháy các màng lưới dĩ thái vũ trụ sẽ xảy ra? Trên quy mô con người, tính liên tục của tâm thức như thế xảy ra thường xuyên hơn khi cấp ba được tiếp cận và được đạt đến.

The entire system is the physical sheath of the Logos and consequently the most easily cognised,

Toàn bộ hệ thống là vỏ bọc hồng trần của Thượng đế và do đó là điều dễ nhận biết nhất,

219. We are speaking of the solar system which includes the cosmic dense subplanes and the cosmic etheric planes.

219. Chúng ta đang nói về hệ mặt trời bao gồm các cõi phụ đậm đặc vũ trụ và các cõi dĩ thái vũ trụ.

for the Logos is as yet centred in His cosmic sheaths and can only reveal Himself through their medium.

vì Thượng đế hiện vẫn còn tập trung trong các vỏ bọc vũ trụ của Ngài và chỉ có thể tự mặc khải qua trung gian của chúng.

220. Is an initiate of the second degree centered in his physical etheric body? The answer must be, “Yes” unless He has achieved continuity of consciousness by burning through the etheric webs.

220. Một điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ hai có tập trung trong thể dĩ thái thể xác của y không? Câu trả lời phải là, “Có”, trừ khi y đã đạt được sự liên tục của tâm thức bằng cách đốt xuyên qua các màng dĩ thái.

221. We may have to consider that our Solar Logos has not yet achieved continuity of consciousness within respect to the cosmic astral plane.

221. Có lẽ chúng ta phải xét đến khả năng rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa đạt được tính liên tục của tâm thức đối với cõi cảm dục vũ trụ.

222. We do learn here, however, that the Logos is centered in His cosmic sheaths. What shall we consider as His cosmic sheaths? Perhaps His cosmic mental, astral, and etheric sheaths?

222. Tuy nhiên, ở đây chúng ta học được rằng Thượng đế tập trung trong các vỏ bọc vũ trụ của Ngài. Chúng ta nên xem những gì là các vỏ bọc vũ trụ của Ngài? Có lẽ là các vỏ bọc trí tuệ vũ trụ, cảm dục vũ trụ và dĩ thái vũ trụ của Ngài?

Man's just apprehension of this mystery of electricity will only come about as he studies himself, and knows himself to be a triple fire, manifesting in many aspects.

Sự lĩnh hội đúng đắn của con người về huyền nhiệm điện này sẽ chỉ đến khi y nghiên cứu chính mình, và biết mình là một ngọn lửa tam phân, biểu hiện trong nhiều phương diện.

223. The Mystery of Electricity is profound. DK is recommending the study of the microcosm (i.e., the study of oneself in order more easily to understand electricity from the macrocosmic perspective).

223. Huyền nhiệm Điện thật sâu xa. Chân sư DK đang khuyến nghị việc nghiên cứu tiểu thiên địa (tức là nghiên cứu chính mình để nhờ đó dễ hiểu điện hơn từ quan điểm đại thiên địa).

224. Man, too, is a triple fire, and there are many principles and vehicles through which this triple fire manifests.

224. Con người cũng là một ngọn lửa tam phân, và có nhiều nguyên khí cùng vận cụ mà qua đó ngọn lửa tam phân này biểu hiện.

225. Man’s triple fire is electrical in nature.

225. Ngọn lửa tam phân của con người có bản chất điện.

MAN, A FIRE

CON NGƯỜI, MỘT NGỌN LỬA

Monadic fire

Electric fire

Spirit Will

The Central Spiritual Sun.

Egoic fire

Solar fire

Consciousness

Love-Wisdom

The Heart of the Sun.

Personality fire

Fire by friction

Physical man

Physical Sun.

226. We are familiar with the ideas here presented. Perhaps the entries in the first column are not so often seen:

226. Chúng ta quen thuộc với các ý tưởng được trình bày ở đây. Có lẽ các mục trong cột thứ nhất không thường được thấy đến thế:

a. Monadic fire

a. Lửa chân thần

b. Egoic fire

b. Lửa chân ngã

c. Personality fire

c. Lửa phàm ngã

227. These three are closely identified with three types of fire we commonly consider:

227. Ba loại này được đồng nhất chặt chẽ với ba loại lửa mà chúng ta thường xét đến:

a. Monadic fire with Electric fire

a. Lửa chân thần với Lửa Điện

b. Egoic fire with Solar fire

b. Lửa chân ngã với Lửa Thái dương

c. Personality fire with Fire by friction.

c. Lửa phàm ngã với Lửa ma sát.

228. When we think of the Physical Sun, what aspects of physicality are we discussing? The etheric nature of the Sun is also, from the cosmic perspective, physical.

228. Khi chúng ta nghĩ đến Mặt Trời Hồng trần, chúng ta đang bàn đến những phương diện nào của tính hồng trần? Bản chất dĩ thái của Mặt Trời cũng, từ quan điểm vũ trụ, là hồng trần.

229. Yet, the strictly physical sun may be understood as confined to the systemic etheric-physical plane.

229. Tuy nhiên, mặt trời hồng trần theo nghĩa chặt chẽ có thể được hiểu là bị giới hạn trong cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống.

230. We note that spiritual will pertains directly to the monadic level and also, in other references, to the atmic level.

230. Chúng ta lưu ý rằng ý chí tinh thần trực tiếp thuộc về cấp độ chân thần và cũng, trong những tham chiếu khác, thuộc về cấp độ atma.

Each of these fires can also be studied in a threefold manner and under three aspects.

Mỗi ngọn lửa này cũng có thể được nghiên cứu theo cách tam phân và dưới ba phương diện.

THE MONAD

CHÂN THẦN

Will aspect

Electric fire

Flame

Spiritual Will.

Love-wisdom

Solar fire

Light

Spiritual Love.

Active Intelligence

Fire by friction

Heat

Spiritual Intelligence.

231. It is evident that assigning “Flame” to the first aspect was correct. “Flames” per se, can be easily associated with the third aspect, but “Flame” (the noumenon of the flames) pertains to the first aspect.

231. Rõ ràng việc gán “Ngọn lửa” cho phương diện thứ nhất là đúng. “Các ngọn lửa”, chính chúng, có thể dễ dàng được liên kết với phương diện thứ ba, nhưng “Ngọn lửa” (bản thể của các ngọn lửa) lại thuộc về phương diện thứ nhất.

232. If we seek to assign Flame, Light and Heat to systemic planes, we will find that Flame accords with the logoic plane, Light with the monadic and Heat with the atmic plane.

232. Nếu chúng ta tìm cách gán Ngọn lửa, Ánh sáng và Nhiệt cho các cõi hệ thống, chúng ta sẽ thấy rằng Ngọn lửa tương ứng với cõi thượng đế, Ánh sáng với cõi chân thần và Nhiệt với cõi atma.

233. The three potencies of the Monad are here given. With the threefold Monad are contained:

233. Ba tiềm năng của Chân thần được nêu ra ở đây. Trong Chân thần tam phân có chứa:

a. Spiritual Will

a. Ý chí Tinh thần

b. Spiritual Love

b. Tình thương Tinh thần

c. Spiritual Intelligence

c. Trí tuệ Tinh thần

234. These are usually called, “Will”, “Wisdom” and “Activity”. They are directly reflected into the spiritual triad such that—

234. Những điều này thường được gọi là “Ý chí”, “Minh triết” và “Hoạt động”. Chúng được phản chiếu trực tiếp vào Tam Nguyên Tinh Thần đến mức—

a. Atma demonstrates Spiritual Will

a. Atma biểu lộ Ý chí Tinh thần

b. Buddhi demonstrates Spiritual Love

b. Buddhi biểu lộ Tình thương Tinh thần

c. Manas demonstrates Spiritual Intelligence.

c. Manas biểu lộ Trí tuệ Tinh thần.

[Page 609]

[Page 609]

THE EGO

CHÂN NGÃ

Will

Atma

Electric fire

The spark

The Jewel in the Lotus

Conscious Will.

Love- Wisdom

Buddhi Solar fire:

The rays

The twelve- petalled lotus.

Conscious Love.

Active Intelligence

Manas

Fire by friction

Substance. The perma nent atoms.

Conscious Activity.

235. The structure of the “Ego” is particularly interesting and of particular importance to the student.

235. Cấu trúc của “Chân ngã” đặc biệt thú vị và đặc biệt quan trọng đối với đạo sinh.

236. The “Ego” is divided into two forms of expression:

236. “Chân ngã” được chia thành hai hình thức biểu hiện:

a. The Ego as it expresses through the spiritual triad

a. Chân ngã khi biểu hiện qua Tam Nguyên Tinh Thần

b. The Ego as it expresses through the causal body and, thus, ‘shrouded’

b. Chân ngã khi biểu hiện qua thể nguyên nhân và do đó được “che phủ”

237. The “spark” of electric fire is anchored in the “Jewel in the Lotus”.

237. “Tia lửa” của Lửa Điện được neo trong “Ngọc trong Hoa Sen”.

238. The rays are always associated with the second aspect and express particularly through the “twelve petalled lotus”—the three tiers of petals usually referenced (the petals of knowledge, of love and of sacrifice) and, then, the synthesis tier.

238. Các cung luôn luôn gắn liền với phương diện thứ hai và biểu hiện đặc biệt qua “hoa sen mười hai cánh”—ba tầng cánh hoa thường được nhắc đến (các cánh hoa tri thức, bác ái và hi sinh) và rồi đến tầng tổng hợp.

239. When dealing with the Ego we see the term “Conscious” used repeatedly. The Ego pertains to the consciousness aspect.

239. Khi bàn về Chân ngã, chúng ta thấy thuật ngữ “Có ý thức” được dùng lặp đi lặp lại. Chân ngã thuộc về phương diện tâm thức.

240. When considering the Ego as the spiritual triad, the expression might be as follows:

240. Khi xem xét Chân ngã như Tam Nguyên Tinh Thần, cách biểu hiện có thể như sau:

a. Atma—Conscious Spiritual Will

a. Atma—Có ý thức Ý chí Tinh thần

b. Buddhi—Conscious Spiritual Love

b. Buddhi—Có ý thức Tình thương Tinh thần

c. Manas—Conscious Spiritual Intelligence

c. Manas—Hữu thức Trí Tuệ Tinh thần

241. Even though all the three tiers of petals express one of the aspects of divinity, in genera, they express buddhi or solar fire. It is the permanent atoms which express fire by friction and the “Jewel in the Lotus” which expresses electric fire.

241. Mặc dù cả ba tầng cánh hoa đều biểu lộ một trong các phương diện của thiên tính, nhưng nói chung, chúng biểu lộ Bồ đề hay Lửa Thái dương. Chính các nguyên tử trường tồn biểu lộ Lửa ma sát và “Viên Ngọc trong Hoa Sen” biểu lộ Lửa Điện.

242. Often we have tried to discriminate the solar fire of buddhi from the solar fire of the higher mental plane. We might say that buddhi is a more essential form of solar fire, more directly related to the Heart of the Sun than the energy and structures of the higher mental plane.

242. Chúng ta thường cố gắng phân biện Lửa Thái dương của Bồ đề với Lửa Thái dương của Cõi thượng trí. Chúng ta có thể nói rằng Bồ đề là một hình thức cốt yếu hơn của Lửa Thái dương, liên hệ trực tiếp hơn với Trái Tim của Mặt Trời so với năng lượng và các cấu trúc của cõi thượng trí.

243. The term “substance” as used here indicates the substance of the lower eighteen sub-planes. Actually, the term can be applied to all matter of the forty nine systemic sub-planes. The lowest three sub-planes should not literally be called “substance” for they are that which substance substands.

243. Thuật ngữ “chất liệu” như được dùng ở đây chỉ chất liệu của mười tám cõi phụ thấp. Thực ra, thuật ngữ này có thể được áp dụng cho toàn bộ vật chất của bốn mươi chín cõi phụ hệ thống. Ba cõi phụ thấp nhất không nên được gọi theo nghĩa đen là “chất liệu”, vì chúng là cái mà chất liệu tựa trên đó.

THE PERSONALITY

PHÀM NGÃ

Will

Mental body

Electric fire

Lower mind

Thought

Love

Astral body

Solar fire

Kama

Desire

Activity

Physical body

Fire by friction

Prana

Activity

244. Each of the three aspects manifests through each periodical vehicle.

244. Mỗi một trong ba phương diện biểu lộ qua mỗi vận cụ chu kỳ.

245. It is significant that the mental body is, in a way, an outpost of the Monad and should eventually express electric fire. The mental body is, we are told, responsive to the monadic ray. The lower mental body will also become an expression of spiritual will and atma.

245. Điều có thâm nghĩa là thể trí, theo một cách nào đó, là một tiền đồn của chân thần và rốt cuộc phải biểu lộ Lửa Điện. Như chúng ta được cho biết, thể trí đáp ứng với cung chân thần. Thể trí thấp cũng sẽ trở thành một biểu lộ của ý chí tinh thần và atma.

246. The astral body is an outpost of the Ego and should eventually express solar fire. The astral body is, we are told, responsive to the egoic ray. If buddhi is solar fire, then the astral body should eventually express buddhi—an idea with which we are quite familiar and which begins to occur noticeably at the second initiation.

246. Thể cảm dục là một tiền đồn của chân ngã và rốt cuộc phải biểu lộ Lửa Thái dương. Như chúng ta được cho biết, thể cảm dục đáp ứng với cung chân ngã. Nếu Bồ đề là Lửa Thái dương, thì thể cảm dục rốt cuộc phải biểu lộ Bồ đề—một ý tưởng mà chúng ta khá quen thuộc và bắt đầu xuất hiện rõ rệt ở lần điểm đạo thứ hai.

247. The physical body is closely connected with the principle of prana. The dense physical body is energized by prana and its vitalization by prana is intended for great increase during the Age of Aquarius. The physical body is said to be especially responsive to the ray of the personality.

247. Thể xác liên hệ chặt chẽ với nguyên khí prana. Thể xác đậm đặc được prana tiếp năng lượng, và việc nó được prana tiếp sinh lực được dự định sẽ gia tăng mạnh trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Thể xác được nói là đặc biệt đáp ứng với cung phàm ngã.

I seek to emphasise here the fact that in this threefold manifestation there is a ninefold unfoldment.

Ở đây tôi tìm cách nhấn mạnh sự kiện rằng trong biểu lộ tam phân này có một sự khai mở cửu phân.

248. If we are alert, we will remember the Tibetan’s discussion of a ninefold choice of rays for the “Ego” (TCF 177)

248. Nếu tỉnh táo, chúng ta sẽ nhớ đến phần bàn luận của Chân sư Tây Tạng về một sự lựa chọn cung cửu phân cho “chân ngã” (TCF 177)

249. We have three periodical vehicles (the “threefold manifestation”) and the expression of each one of them is threefold. Thus the ninefold unfoldment.

249. Chúng ta có ba vận cụ chu kỳ (“biểu lộ tam phân”), và sự biểu lộ của mỗi vận cụ trong chúng đều là tam phân. Do đó có sự khai mở cửu phân.

It should ever be borne in mind that seven is the number which governs the evolution of substance and of form building in the solar system, but that nine is the number governing the development of the consciousness within that form of the psyche.

Cần luôn ghi nhớ rằng bảy là con số chi phối sự tiến hoá của chất liệu và của việc kiến tạo hình tướng trong hệ mặt trời, nhưng chín là con số chi phối sự phát triển của tâm thức bên trong hình tướng đó của psyche.

250. The seven and nine together are the sixteen which represent the sixteen potencies of the Ego.

250. Bảy và chín hợp lại thành mười sáu, tượng trưng cho mười sáu tiềm năng của chân ngã.

251. If the seven is viewed as two triplicities and a unity and if the unity is expanded into a triplicity, the seven becomes a nine.

251. Nếu bảy được nhìn như hai bộ ba và một đơn nhất, và nếu đơn nhất ấy được khai triển thành một bộ ba, thì bảy trở thành chín.

252. The development of consciousness within the form occurs through the process of initiation. There are nine such developmental unfoldments or initiations.

252. Sự phát triển của tâm thức bên trong hình tướng diễn ra qua tiến trình điểm đạo. Có chín sự khai mở phát triển như thế, hay chín lần điểm đạo.

This is seen in the sevenfold display of logoic life through the planetary scheme, and the ninefold nature of egoic unfoldment.

Điều này được thấy trong sự biểu hiện thất phân của sự sống logoi qua hệ hành tinh, và bản chất cửu phân của sự khai mở chân ngã.

253. The major chakras (the “display of logoic life”) are usually numbered as seven.

253. Các luân xa chính (“sự biểu hiện của sự sống logoi”) thường được đếm là bảy.

254. The egoic lotus demonstrates through nine principal petals in three tiers.

254. Hoa Sen Chân Ngã biểu lộ qua chín cánh hoa chính trong ba tầng.

255. The “display of logoic life” is, in this context, considered ‘formal’.

255. “Sự biểu hiện của sự sống logoi”, trong ngữ cảnh này, được xem là thuộc về ‘hình tướng’.

256. The egoic unfoldment is considered as relating to the consciousness aspect.

256. Sự khai mở chân ngã được xem là liên hệ đến phương diện tâm thức.

If the student here substitutes for the words, Monad, Ego and personality, the three aspects of the Logos, and will bear in mind that as yet all that he can ascertain or cognise is the lowest of the logoic manifestations—the personality—it will be apparent why so much must remain mysterious to even the higher grades of initiates,

Nếu ở đây đạo sinh thay thế các từ chân thần, chân ngã và phàm ngã bằng ba phương diện của Thượng đế, và ghi nhớ rằng cho đến nay tất cả những gì y có thể xác định hay nhận biết chỉ là phương diện thấp nhất trong các biểu lộ logoi—phàm ngã—thì sẽ rõ vì sao quá nhiều điều vẫn phải còn huyền nhiệm ngay cả đối với các cấp điểm đạo đồ cao hơn,

257. We have been presented with the threefold expression of Monad, Ego and personality. If we substitute the Cosmic Monad, the Cosmic Ego and the Cosmic Persona, we may learn much about the cosmic process within which the Solar Logos is expressing.

257. Chúng ta đã được trình bày về biểu lộ tam phân của chân thần, chân ngã và phàm ngã. Nếu thay vào đó là Chân thần Vũ trụ, Chân ngã Vũ trụ và Phàm ngã Vũ trụ, chúng ta có thể học được nhiều điều về tiến trình vũ trụ trong đó Thái dương Thượng đế đang biểu lộ.

258. We should pause to ponder the higher correspondences to the terms with which are familiar:

258. Chúng ta nên dừng lại để suy ngẫm về các tương ứng cao hơn của những thuật ngữ quen thuộc với chúng ta:

a. Cosmic Monadic Fire, Cosmic Egoic Fire, Cosmic Personality Fire

a. Lửa Chân thần Vũ trụ, Lửa Chân ngã Vũ trụ, Lửa Phàm ngã Vũ trụ

b. Cosmic Spiritual Will, Cosmic Spiritual Love, Cosmic Spiritual Intelligence

b. Ý Chí Tinh thần Vũ trụ, Bác ái Tinh thần Vũ trụ, Trí Tuệ Tinh thần Vũ trụ

c. Cosmic Conscious Will, Cosmic Conscious Love, Cosmic Intelligence

c. Ý Chí Hữu thức Vũ trụ, Bác ái Hữu thức Vũ trụ, Trí Tuệ Vũ trụ

d. Etc. The term “cosmic” can be placed before the entries in the tabulations, and the expansive implications pondered.

d. Vân vân. Thuật ngữ “vũ trụ” có thể được đặt trước các mục trong bảng liệt kê, và các hàm ý mở rộng của chúng có thể được suy ngẫm.

259. We must question whether the entirety of the lowest three aspects of the Logos can be cognized. Certainly not by man!

259. Chúng ta phải tự hỏi liệu toàn bộ ba phương diện thấp nhất của Thượng đế có thể được nhận biết hay không. Chắc chắn là không đối với con người!

260. The Buddha and the Christ have gained some small degree of cognizance of the aspects of the logoic Personality which lie above the cosmic etheric planes—the Christ, receiving a stream of influence from the cosmic astral plane; the Buddha receiving a “touch” of the cosmic mental plane.

260. Đức Phật và Đức Christ đã đạt được một mức độ nhận biết nhỏ nào đó về các phương diện của phàm ngã logoi nằm trên các cõi dĩ thái vũ trụ—Đức Christ tiếp nhận một dòng ảnh hưởng từ cõi cảm dục vũ trụ; Đức Phật tiếp nhận một “tiếp xúc” từ cõi trí vũ trụ.

and why even the perfected Dhyan Chohan cannot penetrate the secrets of the Logos outside His system.89

và vì sao ngay cả một Dhyan Chohan hoàn thiện cũng không thể xuyên thấu các bí mật của Thượng đế bên ngoài hệ của Ngài.89

261. What will be mean here by a “perfected Dhyan Chohan”? Perhaps an initiate of the seventh degree?

261. Ở đây “một Dhyan Chohan hoàn thiện” có nghĩa là gì? Có lẽ là một điểm đạo đồ cấp bảy chăng?

262. This means that even the higher aspects of Agni (the logoic Personality) cannot be penetrated by “perfected Dhyan Chohans”.

262. Điều này có nghĩa là ngay cả các phương diện cao hơn của Agni (phàm ngã logoi) cũng không thể bị xuyên thấu bởi các “Dhyan Chohan hoàn thiện”.

263. Note that the term “secrets” is used. For a “perfected Dhyan Chohan” there may be contact with streams of energy, for instance, from the cosmic astral plane, but the “secrets” of the Logos upon the cosmic astral plane represent a form of energy/knowledge far more remote than simple contact.

263. Lưu ý rằng thuật ngữ “bí mật” được dùng. Đối với một “Dhyan Chohan hoàn thiện”, có thể có sự tiếp xúc với các dòng năng lượng, chẳng hạn từ cõi cảm dục vũ trụ, nhưng các “bí mật” của Thượng đế trên cõi cảm dục vũ trụ tượng trưng cho một dạng năng lượng/tri thức xa vời hơn rất nhiều so với sự tiếp xúc đơn thuần.

They [Page 610] can cognise much concerning Agni, the Lord of Fire, but until They can contact that of which He is an emanation, a reflection or a ray, there is a limit to what may be known.

Các Ngài [Page 610] có thể nhận biết nhiều điều liên quan đến Agni, Chúa Tể của Lửa, nhưng cho đến khi Các Ngài có thể tiếp xúc với cái mà Ngài là một phát xạ, một phản chiếu hay một tia của nó, thì vẫn có một giới hạn đối với điều có thể được biết.

264. We have to wonder what is meant by “much concerning Agni”. The term “system” generally means the seven systemic planes. Are we saying that these high Initiates can cognize that which is ‘above’ the solar system or that they cannot?

264. Chúng ta phải tự hỏi “nhiều điều liên quan đến Agni” có nghĩa là gì. Thuật ngữ “hệ” nói chung có nghĩa là bảy cõi hệ thống. Có phải chúng ta đang nói rằng các Điểm đạo đồ cao này có thể nhận biết cái ở ‘trên’ hệ mặt trời hay là không thể?

265. That of which Agni is an emanation, reflection or ray is the Logos on planes above the lower levels of cosmic mental plane.

265. Cái mà Agni là một phát xạ, phản chiếu hay tia của nó là Thượng đế trên các cõi cao hơn những cấp thấp của cõi trí vũ trụ.

266. Are we saying that until these Initiates can contact that, that the higher aspects of the Logoic Personality will lie beyond Their ken, and that only the aspects of Agni expressing on the cosmic physical plane will be accessible to Them? Or, that they cannot, for instance, penetrate the secrets of the cosmic astral plane or cosmic mental plane until they can contact and respond to the logoic Ego on the cosmic higher mental plane?

266. Có phải chúng ta đang nói rằng cho đến khi các Điểm đạo đồ này có thể tiếp xúc với cái đó, thì các phương diện cao hơn của phàm ngã logoi sẽ nằm ngoài tầm hiểu biết của Các Ngài, và chỉ những phương diện của Agni biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ mới có thể tiếp cận đối với Các Ngài? Hay là, chẳng hạn, Các Ngài không thể xuyên thấu các bí mật của cõi cảm dục vũ trụ hay cõi trí vũ trụ cho đến khi Các Ngài có thể tiếp xúc và đáp ứng với chân ngã logoi trên cõi thượng trí vũ trụ?

267. In general, we can say that Agni is an emanation, reflection or ray of that which comes from the Heart of the Sun, the Logoic Ego on the higher cosmic mental plane.

267. Nói chung, chúng ta có thể nói rằng Agni là một phát xạ, phản chiếu hay tia của cái phát ra từ Trái Tim của Mặt Trời, chân ngã logoi trên cõi thượng trí vũ trụ.

268. It would appear that “perfected Dhyan Chohans” can know very much of Agni as He manifests upon the cosmic ethers, but relatively little of Him as He manifests on the cosmic astral and lower cosmic mental planes.

268. Có vẻ như các “Dhyan Chohan hoàn thiện” có thể biết rất nhiều về Agni khi Ngài biểu lộ trên các cõi dĩ thái vũ trụ, nhưng biết tương đối ít về Ngài khi Ngài biểu lộ trên cõi cảm dục vũ trụ và các cõi thấp của cõi trí vũ trụ.

269. From a practical perspective, we are speaking of the grandeur of Agni and His relative inaccessibility even to the relatively perfected lives focussed on the cosmic physical plane.

269. Từ góc độ thực tiễn, chúng ta đang nói về sự vĩ đại của Agni và tính tương đối khó tiếp cận của Ngài ngay cả đối với những sự sống tương đối hoàn thiện được tập trung trên cõi hồng trần vũ trụ.

FOOTNOTE 89:

CHÚ THÍCH 89:

H. P. B. in the Secret Doctrine refers to “...the solution of the riddle...before which even the highest Dhyan Chohan must bow in silence and ignorance—the Unspeakable Mystery of that which is called by the Vedantins, Parabrahman.”—S. D., I, 352.

H. P. B. trong Giáo Lý Bí Nhiệm nhắc đến “...lời giải của câu đố...trước đó ngay cả Dhyan Chohan cao nhất cũng phải cúi đầu trong im lặng và vô minh—Mầu Nhiệm Bất Khả Ngôn của cái mà các nhà Vedanta gọi là Parabrahman.”—S. D., I, 352.

270. We have been speaking of the perfected Dhyan Chohan’s inability to cognize the higher aspects of Agni and That which lies beyond Agni. Now we speak of “Parabrahman”.

270. Chúng ta đã nói về sự bất lực của Dhyan Chohan hoàn thiện trong việc nhận biết các phương diện cao hơn của Agni và Cái nằm vượt ngoài Agni. Giờ đây chúng ta nói đến “Parabrahman”.

271. It would seem that, in this presentation, “Parabrahman” has become a relative term, rather that a term representing the ABOLUTE.

271. Có vẻ như, trong cách trình bày này, “Parabrahman” đã trở thành một thuật ngữ tương đối, hơn là một thuật ngữ biểu thị TUYỆT ĐỐI THỂ.

272. It even seems that the term can be applied to the Solar Logos—i.e., to the unknown, monadic aspects of the Solar Logos, but the ABSOLUTE is far more than that—in fact, infinitely more.

272. Thậm chí có vẻ như thuật ngữ này có thể được áp dụng cho Thái dương Thượng đế—tức là cho các phương diện chân thần chưa được biết của Thái dương Thượng đế, nhưng TUYỆT ĐỐI THỂ còn hơn thế rất nhiều—thật ra là nhiều hơn vô hạn.

273. Of course, we cannot reach to the heights of the One Universe, therefore, for practical purposes, the higher reaches of the nature and consciousness of the Solar Logos are, to us, as is the ABSOLUTE—absolutely incognizable.

273. Dĩ nhiên, chúng ta không thể vươn tới các đỉnh cao của Vũ Trụ Duy Nhất; vì vậy, trên phương diện thực tiễn, những tầng cao hơn của bản chất và tâm thức của Thái dương Thượng đế đối với chúng ta cũng như TUYỆT ĐỐI THỂ—tuyệt đối không thể nhận biết.

Agni is Fohat, the threefold Energy (emanating from the logoic Ego) which produces the solar system, the physical vehicle of the Logos, and animates the atoms of substance.

Agni là Fohat, Năng Lượng tam phân (phát ra từ chân ngã logoi) tạo ra hệ mặt trời, vận cụ hồng trần của Thượng đế, và làm sinh động các nguyên tử của chất liệu.

274. Here is a completely clear statement:

274. Ở đây có một phát biểu hoàn toàn rõ ràng:

a. Agni is equivalent to Fohat

a. Agni tương đương với Fohat

b. Agni/Fohat is an emanation from the “logoic Ego” on the cosmic mental plane.

b. Agni/Fohat là một phát xạ từ “chân ngã logoi” trên cõi trí vũ trụ.

275. Agni/Fohat is a threefold energy just as the personality of the Solar Logos is threefold.

275. Agni/Fohat là một năng lượng tam phân cũng như phàm ngã của Thái dương Thượng đế là tam phân.

276. The solar system is definitely “the physical vehicle of the Logos”, and this includes the cosmic etheric planes.

276. Hệ mặt trời rõ ràng là “vận cụ hồng trần của Thượng đế”, và điều này bao gồm các cõi dĩ thái vũ trụ.

He is the basis of the evolutionary process,

Ngài là nền tảng của tiến trình tiến hoá,

277. We remember that the “Will-to-Evolve” is the third ray aspect of the Will. Agni is associated with the “actuating fire” of the third aspect. (cf. EA 605)

277. Chúng ta nhớ rằng “Ý Chí-tiến hoá” là phương diện cung ba của Ý Chí. Agni liên kết với “ngọn lửa thúc động” của phương diện thứ ba. (xem EA 605)

or the cause of the psychic unfoldment of the Logos,

hay là nguyên nhân của sự khai mở thông linh của Thượng đế,

278. This is a psychic unfoldment which occurs within the personality nature of the Solar Logos, on the lower eighteen cosmic sub-planes.

278. Đây là một sự khai mở thông linh diễn ra trong bản chất phàm ngã của Thái dương Thượng đế, trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp.

279. Psyche, per se, is found upon the higher mental plane, but psychic unfoldment and expression occurs within the personality.

279. Psyche, chính nó, được tìm thấy trên cõi thượng trí, nhưng sự khai mở và biểu lộ thông linh lại diễn ra trong phàm ngã.

280. There is, however, an expansion of psyche which can be said to occur on the higher mental plane (occurring as the scope of the causal body expands).

280. Tuy nhiên, có một sự mở rộng của psyche có thể được nói là diễn ra trên cõi thượng trí (xảy ra khi phạm vi của thể nguyên nhân mở rộng).

281. The psychic unfoldment of the human being begins with individualization. Maybe we can say the same of the Solar Logos.

281. Sự khai mở thông linh của con người bắt đầu bằng biệt ngã hóa. Có lẽ chúng ta cũng có thể nói như vậy về Thái dương Thượng đế.

and He is that vitality which ultimately brings about a divine synthesis in which the form approximates subjective demand, and after being consciously directed, and manipulated, is finally discarded. This is the goal for the Logos as it is for man; this marks the final liberation of a human being, of a Heavenly Man and of a solar Logos.

và Ngài là sinh lực rốt cuộc mang lại một tổng hợp thiêng liêng trong đó hình tướng tiệm cận với đòi hỏi chủ quan, và sau khi được điều khiển một cách hữu thức, và được vận dụng, cuối cùng bị loại bỏ. Đây là mục tiêu đối với Thượng đế cũng như đối với con người; điều này đánh dấu sự giải thoát cuối cùng của một con người, của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế.

282. Let us tabulate again some of the things here said about Agni:

282. Chúng ta hãy lại lập bảng một số điều được nói ở đây về Agni:

a. Agni as threefold Fohat produces the solar system

a. Agni như Fohat tam phân tạo ra hệ mặt trời

b. Agni animates the atoms of substance

b. Agni làm sinh động các nguyên tử của chất liệu

c. Agni is the basis of the evolutionary process

c. Agni là nền tảng của tiến trình tiến hoá

d. Agni is the cause of the psychic unfoldment of the Logos

d. Agni là nguyên nhân của sự khai mở thông linh của Thượng đế

e. Agni is the vitality which ultimately brings about a divine synthesis.

e. Agni là sinh lực rốt cuộc mang lại một tổng hợp thiêng liêng.

f. Through the efforts of Agni, the form is brought to a condition in which it approximates subjective demand. To reach this point the form has been—

f. Qua những nỗ lực của Agni, hình tướng được đưa đến một trạng thái trong đó nó tiệm cận với đòi hỏi chủ quan. Để đạt đến điểm này, hình tướng đã được—

i. Consciously directed

i. Điều khiển một cách hữu thức

ii. Consciously manipulated

ii. Vận dụng một cách hữu thức

iii. Finally discarded.

iii. Cuối cùng bị loại bỏ.

283. From this perspective, Agni is a vital, synthesizing Life.

283. Từ góc nhìn này, Agni là một Sự sống tiếp sinh lực và tổng hợp.

284. Agni is directly involved in the achievement of the liberation of the Solar Logos.

284. Agni trực tiếp tham dự vào việc đạt tới sự giải thoát của Thái dương Thượng đế.

We could divide the process into three periods:

Chúng ta có thể chia tiến trình này thành ba giai đoạn:

First. The period wherein the fire of matter (the heat of mother) hides,

Thứ nhất. Giai đoạn trong đó lửa của vật chất (nhiệt của mẹ) ẩn giấu,

285. We remember the association of the “heat of the mother” with the sign Scorpio.

285. Chúng ta nhớ đến sự liên hệ của “nhiệt của mẹ” với dấu hiệu hoàng đạo Hổ Cáp.

nourishes and brings to birth the infant Ego.

nuôi dưỡng và sinh ra chân ngã sơ sinh.

286. This hiding, nourishing and bringing to birth of the “infant Ego” is also definitely a Virgoan process.

286. Sự che giấu, nuôi dưỡng và sinh ra “chân ngã sơ sinh” này cũng rõ ràng là một tiến trình của Xử Nữ.

287. The “infant Ego” is the individualized human being.

287. “Chân ngã sơ sinh” là con người đã được biệt ngã hóa.

288. We see that the term “Ego” can be applied to stages of human conscious—from the most veiled to stages to stages which involve conscious expression on the planes of the spiritual triad.

288. Chúng ta thấy rằng thuật ngữ “chân ngã” có thể được áp dụng cho các giai đoạn của tâm thức con người—từ những giai đoạn bị che phủ nhất cho đến những giai đoạn bao hàm sự biểu lộ hữu thức trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần.

289. Thus, when the term “Ego” is used, it does not always mean ‘Ego on its own plane’.

289. Vì vậy, khi thuật ngữ “chân ngã” được dùng, nó không phải lúc nào cũng có nghĩa là ‘chân ngã trên cõi riêng của nó’.

This is the period of purely personality life, when the third aspect dominates, and man is in the veil of illusion.

Đây là giai đoạn của đời sống thuần túy phàm ngã, khi phương diện thứ ba chi phối, và con người ở trong bức màn ảo tưởng.

290. We are speaking of a triple unfoldment undertaken under the directorship of the Cosmic God of Electricity—Agni/Fohat.

290. Chúng ta đang nói về một sự khai mở tam phân được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Thượng đế Điện lực Vũ trụ—Agni/Fohat.

Second. The period wherein the Ego, or subjective life within the form, passes through certain stages of unfoldment, and comes to an ever fuller consciousness. This is the period of egoic development, and is produced by the gradual merging and blending of the two fires. It is the life of service and of the Path.

Thứ hai. Giai đoạn trong đó chân ngã, hay sự sống chủ quan bên trong hình tướng, đi qua một số giai đoạn khai mở nhất định, và đạt đến một tâm thức ngày càng đầy đủ hơn. Đây là giai đoạn phát triển chân ngã, và được tạo ra bởi sự hòa nhập và hòa trộn dần dần của hai ngọn lửa. Đó là đời sống phụng sự và của Con Đường.

291. From the time the fifth petal of the egoic lotus begins its unfoldment, the man or (great Man) can be consciously oriented to his higher Ego.

291. Từ lúc cánh hoa thứ năm của Hoa Sen Chân Ngã bắt đầu khai mở, con người hay (Đại Nhân) có thể được định hướng một cách hữu thức về chân ngã cao hơn của mình.

292. The two fires are solar fire and fire by friction. The period of “service and of the Path” is much shorter than the first stage of unfoldment (the stage of foundational establishment).

292. Hai ngọn lửa là Lửa Thái dương và Lửa ma sát. Giai đoạn “phụng sự và của Con Đường” ngắn hơn rất nhiều so với giai đoạn khai mở thứ nhất (giai đoạn thiết lập nền tảng).

Third. The period wherein the egoic consciousness itself is superseded by spiritual realisation, and the fire of Spirit blends with the other two.

Thứ ba. Giai đoạn trong đó chính tâm thức chân ngã bị vượt qua bởi sự chứng nghiệm tinh thần, và lửa của Tinh thần hòa nhập với hai ngọn lửa kia.

293. All the three stages we are discussing occur within the life demonstration of the great Cosmic Being we call “Agni”. Agni-Fohat-Brahma.

293. Cả ba giai đoạn mà chúng ta đang bàn đến đều diễn ra trong sự biểu hiện sự sống của Hữu Thể Vũ trụ Vĩ Đại mà chúng ta gọi là “Agni”. Agni-Fohat-Brahma.

294. We note the direct connection of the terms “spiritual” and “Spirit”. The term “spiritual” is used loosely by many, but really concerns processes originating within the spiritual triad and, later, within the Monad.

294. Chúng ta lưu ý mối liên hệ trực tiếp giữa các thuật ngữ “tinh thần” và “Tinh thần”. Thuật ngữ “tinh thần” được nhiều người dùng một cách lỏng lẻo, nhưng thực ra liên quan đến các tiến trình phát sinh trong Tam Nguyên Tinh Thần và về sau trong chân thần.

At first the personality acts the part of mother, or of material aspect, to the germ of the inner life. Then [Page 611] the Ego manifests its life within the personal life, and produces a shining forth which “groweth ever more and more until the perfect day.”90 At that perfect day of revelation it is seen what man in essence is, and the Spirit within is revealed.

Thoạt đầu phàm ngã đóng vai người mẹ, hay phương diện vật chất, đối với mầm sống bên trong. Sau đó [Page 611] chân ngã biểu lộ sự sống của nó bên trong đời sống cá nhân, và tạo ra một sự chiếu rạng “càng lúc càng tăng mãi cho đến ngày toàn hảo.”90 Vào ngày toàn hảo của sự mặc khải ấy, người ta thấy con người trong bản chất cốt yếu là gì, và Tinh thần bên trong được mặc khải.

295. Here again a very useful summary paragraph.

295. Ở đây lại có một đoạn tóm lược rất hữu ích.

296. Students of the Tibetan’s words are most concerned with the second phase.

296. Các đạo sinh nghiên cứu lời dạy của Chân sư Tây Tạng quan tâm nhiều nhất đến giai đoạn thứ hai.

297. We can say that the “shining forth” is noticeable at the third initiation and the “perfect day” (relatively) occurs at the fifth degree.

297. Chúng ta có thể nói rằng “sự chiếu rạng” trở nên rõ rệt ở lần điểm đạo thứ ba và “ngày toàn hảo” (theo nghĩa tương đối) xảy ra ở cấp thứ năm.

298. The fifth initiation is called the “Revelation” and it is this we are discussing when mention is made of the “perfect day of revelation”.

298. Lần điểm đạo thứ năm được gọi là “Sự Mặc Khải” và chính điều này đang được chúng ta bàn đến khi có nhắc đến “ngày toàn hảo của sự mặc khải”.

299. At that time, man is seen for what he “in essence is, and the Spirit within is revealed”. In essence we are Spirit.

299. Vào lúc đó, con người được thấy đúng như điều y “trong bản chất cốt yếu là, và Tinh thần bên trong được mặc khải”. Trong bản chất cốt yếu, chúng ta là Tinh thần.

300. Even at the destruction of the causal body, and with the revelation of the “Jewel in the Lotus”, this is not yet the case.

300. Ngay cả khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, và “Viên Ngọc trong Hoa Sen” được mặc khải, điều này vẫn chưa phải như vậy.

This can be studied from the Christian angle, and Paul was but voicing an occult truth when he enunciated the facts concerning the birth of the Christ within the heart, and the growth of the higher life at the expense of the lower.

Điều này có thể được nghiên cứu từ góc độ Cơ Đốc giáo, và Paul chỉ đơn thuần phát biểu một chân lý huyền bí khi ông nêu ra các sự kiện liên quan đến sự giáng sinh của Đức Christ trong tim, và sự tăng trưởng của sự sống cao hơn bằng cái giá của sự sống thấp hơn.

301. We cannot evade the implications. The higher life grows as the expense and sacrifice of the lower. This is the inevitable sacrifice of the “mother” aspect.

301. Chúng ta không thể né tránh các hàm ý ấy. Sự sống cao hơn tăng trưởng bằng cái giá và sự hi sinh của sự sống thấp hơn. Đây là sự hi sinh tất yếu của phương diện “người mẹ”.

302. The very strong connection of Paul with the buddhic aspect suggests a soul ray on the soft line (perhaps six transferring to two), even though the Essential Man as Monad is probably, for Him, on the hard line rays.

302. Mối liên hệ rất mạnh của Paul với phương diện Bồ đề gợi ý một cung linh hồn trên tuyến mềm (có lẽ cung sáu chuyển sang cung hai), dù Con Người Cốt Yếu với tư cách chân thần có lẽ, đối với Ông, thuộc các cung tuyến cứng.

Thus also can it be taught along occult, and not mystic, lines in the recognition (by science) of the vitalisation of the permanent atoms (the force centres of the sheaths or substance), of the unfoldment of the egoic lotus, and the awakening of its petals, and in the final revelation of the jewel in the lotus.

Vì vậy điều này cũng có thể được giảng dạy theo các đường lối huyền bí học, chứ không phải thần bí học, trong sự thừa nhận (bởi khoa học) việc tiếp sinh lực cho các nguyên tử trường tồn (các trung tâm lực của các thể vỏ hay chất liệu), sự khai mở của Hoa Sen Chân Ngã, và sự thức tỉnh của các cánh hoa của nó, và trong sự mặc khải cuối cùng của viên ngọc trong hoa sen.

303. DK is repeating the ABC’s of spiritual occultism. The mystic unfoldment is discussed in terms of consciousness. The occult unfoldment proceeds through the explanation of a number of scientific technicalities and always considers the structure and development of the form.

303. Chân sư DK đang lặp lại những điều ABC của huyền bí học tinh thần. Sự khai mở thần bí được bàn đến theo phương diện tâm thức. Sự khai mở huyền bí tiến hành qua việc giải thích một số chi tiết kỹ thuật khoa học và luôn xét đến cấu trúc cùng sự phát triển của hình tướng.

304. We note that the permanent atoms are also referred to as “force centers”—this being true of the chakric expression within the sheaths.

304. Chúng ta lưu ý rằng các nguyên tử trường tồn cũng được gọi là “các trung tâm lực”—điều này đúng đối với sự biểu lộ luân xa bên trong các thể vỏ.

305. Sheaths are substance.

305. Các thể vỏ là chất liệu.

All that can be said of man can be predicated of the Logos on an inconceivably greater scale.

Tất cả những gì có thể nói về con người đều có thể được khẳng định về Thượng đế trên một quy mô lớn hơn không thể tưởng tượng nổi.

306. We remember that eve the “perfected Dhyan Chohan” cannot conceive the nature of unfoldment of the Logos.

306. Chúng ta nhớ rằng ngay cả “Dhyan Chohan hoàn thiện” cũng không thể quan niệm được bản chất của sự khai mở của Thượng đế.

a. There are aspects of the logoic personality which are inaccessible to such a Chohan..

a. Có những phương diện của phàm ngã logoi mà một Chohan như thế không thể tiếp cận..

b. The logoic Ego is completely inaccessible to such a Chohan.

b. Chân ngã logoi hoàn toàn không thể tiếp cận đối với một Chohan như thế.

c. The logoic Monad is completely inaccessible to such a Chohan.

c. Chân thần logoi hoàn toàn không thể tiếp cận đối với một Chohan như thế.

As man discovers the laws of his own material sheaths—the laws of substance—he is ascertaining the nature of the fires of the outer man or Fohat, as he vitalises the logoic vehicle;

Khi con người khám phá các định luật của chính các thể vỏ vật chất của mình—các định luật của chất liệu—y đang xác định bản chất của các ngọn lửa của con người bên ngoài hay Fohat, khi y tiếp sinh lực cho vận cụ logoi;

307. Fohat is particularly concerned with the fires of the sheaths. Fohat (and His lesser emanated representatives) animate the outer man.

307. Fohat đặc biệt liên quan đến các ngọn lửa của các thể. Fohat (và các đại diện phát xạ thấp hơn của Ngài) làm sinh động con người bên ngoài.

308. This is true also of Agni. Although Agni’s present focus may be the cosmic etheric planes, He is, nonetheless, the Animator of the dense physical body of the Logos wherein are found man’s “own material sheaths”.

308. Điều này cũng đúng đối với Agni. Mặc dù tiêu điểm hiện nay của Agni có thể là các cõi dĩ thái vũ trụ, tuy nhiên, Ngài vẫn là Đấng Làm Sinh Động thể xác đậm đặc của Thượng đế, trong đó tìm thấy “các thể vật chất riêng” của con người.

the fires of his own sheaths are aspects of Agni as the fire of matter.

các ngọn lửa của chính các thể của y là những phương diện của Agni với tư cách là lửa của vật chất.

309. The term “Agni” is here being used interchangeably with Fohat.

309. Thuật ngữ “Agni” ở đây đang được dùng thay thế cho Fohat.

310. The fires of our ‘matter(s)’ are Agni. The fire of our soul is Agni. The fire of our Spirit is Agni.

310. Các ngọn lửa của “vật chất” của chúng ta là Agni. Lửa của linh hồn chúng ta là Agni. Lửa của tinh thần chúng ta là Agni.

311. We must never forget, however, the more subjective aspects of Agni/Fohat.

311. Tuy nhiên, chúng ta không bao giờ được quên các phương diện chủ quan hơn của Agni/Fohat.

312. We are studying Agni in triple demonstration in the life of man.

312. Chúng ta đang nghiên cứu Agni trong sự biểu lộ tam phân trong đời sống của con người.

As he ascertains the nature of consciousness, and the laws of psychical unfoldment he is studying the nature of the vitality of the subjective man, and the laws of conscious being, thus studying Agni as He manifests as Light and Cool Radiance, shining through the vehicle.

Khi y xác định bản chất của tâm thức, và các định luật của sự khai mở thông linh y đang nghiên cứu bản chất của quyền năng thiết yếu của con người chủ quan, và các định luật của hiện hữu hữu thức, nhờ đó nghiên cứu Agni như Ngài biểu lộ như Ánh Sáng và Quang Huy Mát Dịu, chiếu xuyên qua vận cụ.

313. Agni on the lower eighteen sub-planes of the cosmic physical plane has to do only with the outer fires, but cosmic Agni, embraces man’s personal, psychical, and monadic unfoldment.

313. Agni trên mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ chỉ liên quan đến các ngọn lửa bên ngoài, nhưng Agni vũ trụ bao hàm sự khai mở phàm ngã, thông linh và chân thần của con người.

314. The seven Laws of the Soul are laws of psychical unfoldment.

314. Bảy Định luật của Linh hồn là các định luật của sự khai mở thông linh.

315. The vitality of the subjective man is of a different nature than the external vitality connected with the outer sheaths.

315. Quyền năng thiết yếu của con người chủ quan có bản chất khác với sinh lực bên ngoài gắn với các thể bên ngoài.

316. Agni can manifest as heated fire by friction, but Agni (as a cosmic God) can also manifest as “Light and Cool Radiance” shining through the vehicle. This demonstration of Agni has much more to do with solar fire and the “clear cold light” of buddhi.

316. Agni có thể biểu lộ như lửa ma sát nóng, nhưng Agni (với tư cách một Thượng đế vũ trụ) cũng có thể biểu lộ như “Ánh Sáng và Quang Huy Mát Dịu” chiếu xuyên qua vận cụ. Sự biểu lộ này của Agni liên quan nhiều hơn đến Lửa Thái dương và “ánh sáng lạnh trong sáng” của Bồ đề.

317. We must grasp something of the scope of Agni/Fohat cosmically considered.

317. Chúng ta phải nắm được phần nào tầm mức của Agni/Fohat khi được xét về mặt vũ trụ.

Later (for the time is not yet) as he comes to comprehend the nature of his Monad, the spiritual or essential life which is developing consciousness by means of the sheaths, he will discover the nature of Agni as He shews forth as pure electricity.

Về sau (vì thời điểm ấy chưa đến), khi y bắt đầu hiểu được bản chất của Chân thần, sự sống tinh thần hay cốt yếu của mình, vốn đang phát triển tâm thức bằng các thể, y sẽ khám phá ra bản chất của Agni khi Ngài biểu lộ như điện lực thuần túy.

318. In our human unfoldment, the different aspects of Agni are being gradually discovered.

318. Trong sự khai mở nhân loại của chúng ta, các phương diện khác nhau của Agni đang dần dần được khám phá.

319. The Monad is developing consciousness on the lower planes through its appropriated sheaths, but it should not be ignored that the Monad also has consciousness on its own plane—”monadic awareness”.

319. Chân thần đang phát triển tâm thức trên các cõi thấp thông qua các thể mà nó chiếm dụng, nhưng không nên bỏ qua rằng Chân thần cũng có tâm thức trên chính cõi của nó—“nhận biết chân thần”.