Trích nội dung chương
320. We have discussed many and varied terms for Agni and for the triple fires through which He manifests. 320. Chúng ta đã bàn đến nhiều thuật ngữ đa dạng dành cho Agni và cho ba ngọn lửa mà qua đó Ngài biểu lộ.
320. We have discussed many and varied terms for Agni and for the triple fires through which He manifests.
320. Chúng ta đã bàn đến nhiều thuật ngữ đa dạng dành cho Agni và cho ba ngọn lửa mà qua đó Ngài biểu lộ.
321. Agni’s manifestation as “pure electricity” is His manifestation as the electric fire of the Monad. We remember, however, that this type of electric fire is but an aspect of a far greater Solar Fire expressive of the Heart of the Sun.
321. Sự biểu lộ của Agni như “điện lực thuần túy” là sự biểu lộ của Ngài như Lửa Điện của Chân thần. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng loại Lửa Điện này chỉ là một phương diện của một Lửa Thái dương lớn lao hơn nhiều, biểu đạt Tâm của Mặt Trời.
Even though this is not yet possible, nevertheless the statement as to the lines of investigation which can be pursued, and the realisation of that which may eventually [Page 612] be achieved, may cause men's minds to turn to the study of the real and of the true.
Dù điều này hiện chưa thể thực hiện được, tuy nhiên, lời phát biểu về các đường hướng khảo cứu có thể được theo đuổi, và sự chứng nghiệm về điều mà rốt cuộc có thể [Page 612] đạt được, có thể khiến trí tuệ con người hướng về việc nghiên cứu cái thực và cái chân.
322. Why does DK give us so much of that which we cannot possibly assimilate and apply at our present stage of evolution? Perhaps He knows that the presentation of the distant vista may inspire men to tread the Path thither!
322. Tại sao Chân sư DK lại cho chúng ta quá nhiều điều mà ở giai đoạn tiến hoá hiện nay chúng ta hoàn toàn không thể đồng hoá và áp dụng? Có lẽ Ngài biết rằng việc trình bày viễn cảnh xa xôi có thể truyền cảm hứng cho con người bước đi trên Con Đường hướng đến đó!
323. Let us ask ourselves; when we learn of the great possibilities which lie before the individual, the race, the planet and the solar system, are we inspired? And if so, why?”
323. Chúng ta hãy tự hỏi mình; khi biết đến những khả năng lớn lao đang ở phía trước cá nhân, nhân loại, hành tinh và hệ mặt trời, chúng ta có được truyền cảm hứng không? Và nếu có, thì vì sao?”
324. May we say that such a presentation prevents the sordid nature of the present condition from overcoming us and destroying our will to progress?
324. Chúng ta có thể nói rằng một sự trình bày như thế ngăn không cho bản chất đê tiện của tình trạng hiện tại lấn át chúng ta và hủy hoại ý chí tiến bộ của chúng ta chăng?
325. Each will have his or her own way of becoming inspired. DK’s presentation of certain aspects of the Great Cosmic Scheme is certainly meant to offer inspiration, and with inspiration, greater will to progress and serve.
325. Mỗi người sẽ có cách riêng để được truyền cảm hứng. Sự trình bày của Chân sư DK về một số phương diện của Đại Hệ Vũ Trụ chắc chắn nhằm mang lại cảm hứng, và cùng với cảm hứng là ý chí tiến bộ và phụng sự lớn hơn.
TCF 612 – 619: S6S5
25 November – 10 December 2007
25 tháng 11 – 10 tháng 12 năm 2007
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.
Xin gợi ý rằng phần Bình Luận này nên được đọc cùng với quyển TCF đặt sẵn bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.
1. In the last Commentary we discussed the complex nature of Lord Agni, the Being or Fire of the Logoic Personality, Who is also Fohat and cosmic Brahma.
1. Trong phần Bình Luận trước, chúng ta đã bàn đến bản chất phức tạp của Chúa Tể Agni, Đấng hay Lửa của Phàm ngã Thượng đế, Đấng cũng là Fohat và Brahma vũ trụ.
2. Within the realm of Agni, there are many subdivisions and it is some of these that we are about to study.
2. Trong phạm vi của Agni, có nhiều phân bộ và một số trong đó là điều chúng ta sắp nghiên cứu.
2. THE FIRE DEVAS THE GREATER BUILDERS.
2. CÁC THIÊN THẦN LỬA CÁC ĐẤNG ĐẠI KIẾN TẠO.
I have divided the groups of devas and elementals into evolutionary and involutionary Builders—those who are in themselves positive force, and those which are negative force, the conscious and the blind workers.
Tôi đã chia các nhóm thiên thần và hành khí thành các đấng kiến tạo thăng thượng tiến hoá và giáng hạ tiến hoá—những vị tự thân là mãnh lực dương, và những vị là mãnh lực âm, những người hoạt động có ý thức và những người hoạt động mù quáng.
3. Let us categorize some descriptors of these two basic forms of lives.
3. Chúng ta hãy phân loại một số mô tả về hai hình thức sự sống căn bản này.
Devas Elementals
Thiên thần Hành khí
Evolutionary BuildersInvolutionary Builders
Các đấng kiến tạo thăng thượng tiến hoáCác đấng kiến tạo giáng hạ tiến hoá
Positive ForceNegative Force
Mãnh lực dươngMãnh lực âm
Conscious WorkersBlind Workers
Những người hoạt động có ý thứcNhững người hoạt động mù quáng
4. While everything seems very clear cut in the description above, we actually find that there are some lives called devas who are also unconscious in their expression.
4. Mặc dù mọi sự dường như rất rạch ròi trong mô tả trên, nhưng thực ra chúng ta thấy rằng có một số sự sống được gọi là thiên thần cũng vô thức trong sự biểu lộ của chúng.
It is absolutely essential that students bear in mind here that we are studying the mystery of electricity and therefore must remember the following facts:—
Điều tuyệt đối thiết yếu là các đạo sinh phải ghi nhớ ở đây rằng chúng ta đang nghiên cứu huyền nhiệm của điện lực và vì vậy phải nhớ các sự kiện sau đây:—
5. When studying devic lives, we do so within the context of the “mystery of electricity”.
5. Khi nghiên cứu các sự sống thiên thần, chúng ta làm như vậy trong bối cảnh của “huyền nhiệm của điện lực”.
6. Devic and elemental lives are particularly related to the great Life of the Pleiades. The Pleiades are particularly associated with the manifestation of electrical phenomena.
6. Các sự sống thiên thần và hành khí đặc biệt liên hệ với Sự sống vĩ đại của chòm Pleiades. Chòm Pleiades đặc biệt gắn liền với sự biểu lộ của các hiện tượng điện.
The Pleiades are to the solar system, the source of electrical energy, and just as our sun is the embodiment of the heart, or love aspect, of the Logos (Who is Himself the heart of ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID) so the Pleiades are the feminine opposite of Brahma. Think this out, for much is contained in this statement. (TCF 156)
Chòm Pleiades đối với hệ mặt trời là nguồn của năng lượng điện, và cũng như mặt trời của chúng ta là hiện thân của phương diện tâm, hay phương diện bác ái, của Thượng đế (Đấng chính Ngài là tâm của Đấng Bất Khả Tư Nghị) thì chòm Pleiades là đối cực nữ tính của Brahma. Hãy suy ngẫm điều này, vì có rất nhiều điều được hàm chứa trong phát biểu này. (TCF 156)
7. If Agni is Fohat and Brahma, there is a definite relation between Agni and the Pleiades.
7. Nếu Agni là Fohat và Brahma, thì có một mối liên hệ xác định giữa Agni và chòm Pleiades.
8. The Pleiades are said to the be the feminine opposite of the Seven Rishis of the Great Bear. Are we in some way linking the Being here called “Brahma” with the Seven Rishis?
8. Chòm Pleiades được nói là đối cực nữ tính của Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh. Có phải bằng cách nào đó chúng ta đang liên kết Hữu thể ở đây được gọi là “Brahma” với Bảy Rishi chăng?
a. Introductory Remarks.
a. Những nhận xét mở đầu.
The Mystery of Electricity. The greater Builders are the positive aspect of substance or of electrical phenomena whilst the lesser Builders are the negative aspect.
Huyền Nhiệm của Điện Lực. Các đấng đại kiến tạo là phương diện dương của chất liệu hay của các hiện tượng điện, trong khi các vị tiểu kiến tạo là phương diện âm.
9. We shall have to be careful how we differentiate these Builders.
9. Chúng ta sẽ phải cẩn thận trong cách phân biệt các đấng kiến tạo này.
10. From one perspective—
10. Từ một góc nhìn—
a. The “Burning Sons of Desire”(the second manifested Creative Hierarchy) are called the “Greater Builders”
a. “Các Con Bốc Cháy của Dục Vọng” (Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện thứ hai) được gọi là “Các Đấng Đại Kiến Tạo”
b. The “Triple Flowers” (the third manifested Creative Hierarchy) are called the “Lesser Builder”
b. “Các Hoa Tam Phân” (Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện thứ ba) được gọi là “vị Tiểu Kiến Tạo”
11. But the terms “greater” and “lesser” are quite general and can also indicate builders which are conscious (i.e., greater) and those which are still unconscious (i.e., lesser).
11. Nhưng các thuật ngữ “đại” và “tiểu” khá tổng quát và cũng có thể chỉ các đấng kiến tạo có ý thức (tức là đại) và những vị vẫn còn vô thức (tức là tiểu).
12. Electricity has two dichotomous charges—positive and negative, plus a third type of electricity which we might call ‘equilibrizing electricity’.
12. Điện lực có hai điện tích nhị nguyên—dương và âm, cộng thêm một loại điện lực thứ ba mà chúng ta có thể gọi là ‘điện lực quân bình hóa’.
13. We note that DK seems to be equating “substance” with “electrical phenomena”. Substance is energy and energy, for the most part, displays a bi-polar nature.
13. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK dường như đang đồng nhất “chất liệu” với “các hiện tượng điện”. Chất liệu là năng lượng và năng lượng, phần lớn, biểu lộ một bản chất lưỡng cực.
14. By “positive” we mean ‘impressive’ and by “negative”, receptive of impression.
14. Bởi “dương” chúng ta muốn nói là ‘gây ấn tượng’, và bởi “âm” là tiếp nhận ấn tượng.
Two types of force are represented in the activities of these two groups and it is their interaction and interplay which produces Light, or the manifested solar system.
Hai loại mãnh lực được biểu hiện trong hoạt động của hai nhóm này và chính sự tương tác cùng giao thoa của chúng tạo ra Ánh sáng, hay hệ mặt trời biểu hiện.
15. Light, then, is the result of devic and elemental interplay—the interplay between positive and negative. The terms “deva” and “elemental” are, however, relative. When using these two terms we are not necessarily speaking of tiny lives.
15. Như vậy, Ánh sáng là kết quả của sự giao thoa giữa thiên thần và hành khí—sự giao thoa giữa dương và âm. Tuy nhiên, các thuật ngữ “thiên thần” và “hành khí” là tương đối. Khi dùng hai thuật ngữ này, chúng ta không nhất thiết đang nói về những sự sống nhỏ bé.
16. Since light is produced by the coming together of Spirit and matter, the Greater Builders must be identified with Spirit and the lesser builders with matter—since the coming together of Spirit and matter produces light.
16. Vì ánh sáng được tạo ra bởi sự gặp gỡ của tinh thần và vật chất, nên Các Đấng Đại Kiến Tạo phải được đồng hoá với tinh thần và các vị tiểu kiến tạo với vật chất—vì sự gặp gỡ của tinh thần và vật chất tạo ra ánh sáng.
17. We must attend to the fact that the “manifested solar system” is “Light”.
17. Chúng ta phải chú ý đến sự kiện rằng “hệ mặt trời biểu hiện” là “Ánh sáng”.
Their sumtotal is substance in its totality,
Tổng số của chúng là chất liệu trong tính toàn thể của nó,
18. The sumtotal of the two types of force—positive and negative—is “substance in its totality”.
18. Tổng số của hai loại mãnh lực—dương và âm—là “chất liệu trong tính toàn thể của nó”.
19. We might also say that “their sumtotal is ‘electrical phenomena’ in its totality” since, as we learn above, “substance” and “electrical phenomena” are equivalent.
19. Chúng ta cũng có thể nói rằng “tổng số của chúng là ‘các hiện tượng điện’ trong tính toàn thể của nó” vì, như chúng ta học ở trên, “chất liệu” và “các hiện tượng điện” là tương đương.
the intelligent active form, built for the purpose of providing a habitation for a central subjective life.
hình tướng thông minh, hoạt động, được xây dựng nhằm cung cấp một nơi cư ngụ cho một sự sống chủ quan trung tâm.
20. Though the form is composed of some matter which is relatively “negative”, the form itself is both intelligent and active.
20. Dù hình tướng được cấu thành từ một số vật chất tương đối “âm”, nhưng bản thân hình tướng vừa thông minh vừa hoạt động.
21. Devic and elemental life is, in its own way, both intelligence and active, but the degree of consciousness of the various devic lives differs greatly.
21. Sự sống thiên thần và hành khí, theo cách riêng của nó, vừa là trí tuệ vừa là hoạt động, nhưng mức độ tâm thức của các sự sống thiên thần khác nhau thì rất khác biệt.
They are also the sumtotal of the Pitris,91 or Fathers of mankind, viewing mankind as the race itself, the fourth kingdom in nature, the Heavenly Men in physical manifestation.
Chúng cũng là tổng số của các Pitris,91 hay Các Cha của nhân loại, xét nhân loại như chính giống dân ấy, giới thứ tư trong thiên nhiên, các Đấng Thiên Nhân trong biểu hiện hồng trần.
22. The origin of mankind arises from Solar Pitris and Lunar Pitris.
22. Nguồn gốc của nhân loại phát sinh từ thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ.
23. We can say that humanity is an aspect of the Heavenly Men in physical manifestation, but not the whole of that physical manifestation—unless we consider humanity as the macrocosm for the lower kingdoms of nature (i.e., inclusive of those lower kingdoms) which, taken together, with humanity are the physical manifestation of the Heavenly Men.
23. Chúng ta có thể nói rằng nhân loại là một phương diện của các Đấng Thiên Nhân trong biểu hiện hồng trần, nhưng không phải là toàn bộ biểu hiện hồng trần ấy—trừ phi chúng ta xem nhân loại là đại thiên địa đối với các giới thấp của thiên nhiên (tức là bao gồm các giới thấp ấy), mà khi được xét chung với nhân loại thì là biểu hiện hồng trần của các Đấng Thiên Nhân.
This is a most important point to emphasise. These deva activities in relation to Self-Consciousness (which is the distinctive characteristic of humanity) can best be studied in the large, or through [Page 613] the consideration of groups, of races, and of the life of the scheme, the manifestation of one of the Heavenly Men.
Đây là một điểm cực kỳ quan trọng cần nhấn mạnh. Các hoạt động thiên thần này liên quan đến ngã thức (vốn là đặc tính phân biệt của nhân loại) có thể được nghiên cứu tốt nhất trên quy mô lớn, hoặc thông qua [Page 613] việc xem xét các nhóm, các giống dân, và sự sống của hệ hành tinh, là biểu hiện của một trong các Đấng Thiên Nhân.
24. The study of the devas is difficult, as this parallel kingdom is not directly visible to most human beings. DK is recommending the best method of study:
24. Việc nghiên cứu các thiên thần là khó khăn, vì giới song hành này không trực tiếp khả kiến đối với phần lớn con người. Chân sư DK đang đề nghị phương pháp nghiên cứu tốt nhất:
a. Study the devas in the large
a. Nghiên cứu các thiên thần trên quy mô lớn
b. Study the devas through the consideration of groups
b. Nghiên cứu các thiên thần thông qua việc xem xét các nhóm
c. Study the devas through the consideration of races
c. Nghiên cứu các thiên thần thông qua việc xem xét các giống dân
d. Study the devas through consideration of the life of the scheme
d. Nghiên cứu các thiên thần thông qua việc xem xét sự sống của hệ hành tinh
e. Study the devas through the manifestation of one of the Heavenly Men.
e. Nghiên cứu các thiên thần thông qua biểu hiện của một trong các Đấng Thiên Nhân.
22. In the following footnote, the creation of the lunar bodies of early, unconscious man is described.
22. Trong cước chú sau đây, sự tạo thành các thể nguyệt của con người sơ khai, vô thức được mô tả.
FOOTNOTE: The Lunar Pitris. “The great Chohans called the Lords of the Moon, of the airy bodies: “Bring forth Men,” they were told, “men of your nature. Give them their forms within. She (Mother Earth) will build coverings without (for external bodies). Males—females will they be. Lords of the Flame also....They went each on his allotted lands: Seven of them each on his lot. The Lords of the Flame remained behind. They would not go. They would not create.”—Stanza III, 12, 13, S. D., II, 79, 81.
CƯỚC CHÚ: Các thái âm tổ phụ. “Các Chohan vĩ đại được gọi là các Chúa Tể của Mặt Trăng, của các thể khí: “Hãy sinh ra Người,” các Ngài được bảo, “những con người thuộc bản chất của các ngươi. Hãy ban cho họ các hình tướng bên trong của họ. Bà (Mẹ Trái Đất) sẽ xây dựng các lớp bao bọc bên ngoài (cho các thể bên ngoài). Họ sẽ là nam—nữ. Các Chúa Tể của Ngọn Lửa cũng vậy....Mỗi vị đi đến vùng đất đã được phân cho mình: bảy vị, mỗi vị trên phần của mình. Các Chúa Tể của Ngọn Lửa ở lại phía sau. Các Ngài không đi. Các Ngài không sáng tạo.”—Bài kệ III, 12, 13, Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 79, 81.
23. The “great Chohans” have to be Those Who are directing the evolutionary process within the planetary scheme and planetary chain and globes.
23. Các “Chohan vĩ đại” hẳn phải là Những Đấng đang chỉ đạo tiến trình tiến hoá trong hệ hành tinh, dãy hành tinh và các bầu hành tinh.
24. The Lords of the Moon had “airy bodies”—bodies which are more etheric and not physical in the outer sense.
24. Các Chúa Tể của Mặt Trăng có “các thể khí”—những thể dĩ thái hơn và không phải hồng trần theo nghĩa bên ngoài.
25. The denser “external bodies” are built by the physical elemental life which is attracted to the airy bodies provided by the Lords of the Moon out of the substance of their own nature.
25. Các “thể bên ngoài” đậm đặc hơn được xây dựng bởi sự sống hành khí thể xác, vốn bị hút vào các thể khí do các Chúa Tể của Mặt Trăng cung cấp từ chất liệu của chính bản chất các Ngài.
26. We note that the Lords of the Moon did not confer intelligence upon men. Only the Lords of the Flame could do that and they “remained behind”, “would not go” and “would not create”.
26. Chúng ta lưu ý rằng các Chúa Tể của Mặt Trăng đã không ban trí tuệ cho con người. Chỉ các Chúa Tể của Ngọn Lửa mới có thể làm điều đó và các Ngài “ở lại phía sau”, “không đi” và “không sáng tạo”.
27. At the time of this ‘creation’ by the Lords of the Moon, early pre-individualized animal men were not divided into male and females. Their ‘shape’ was altogether other than that which we now recognize as the human form. They were, in fact, hermaphroditic (“males-females”). This hermaphroditism was faint at the beginning and grew as the racial form developed through the first two and a half root races.
27. Vào thời kỳ “sáng tạo” này bởi các Chúa Tể của Mặt Trăng, những người thú sơ khai chưa được biệt ngã hóa chưa phân chia thành nam và nữ. “Hình dạng” của họ hoàn toàn khác với điều mà hiện nay chúng ta nhận ra là hình thể con người. Thực ra, họ là lưỡng tính (“nam-nữ”). Tính lưỡng tính này lúc ban đầu còn mờ nhạt và tăng dần khi hình thể chủng tộc phát triển qua hai giống dân gốc đầu tiên và nửa đầu của giống dân gốc thứ ba.
28. We can see that there were seven types of early human beings of the first root race. Humanity is now of one species but did not start out this way.
28. Chúng ta có thể thấy rằng đã có bảy loại người sơ khai của giống dân gốc thứ nhất. Nhân loại hiện nay là một loài duy nhất nhưng đã không khởi đầu theo cách này.
When the student brings his study of deva work down to the terms of his own individual life he is apt to become confused through too close a juxtaposition.
Khi đạo sinh đưa việc nghiên cứu công việc thiên thần xuống các thuật ngữ của chính đời sống cá nhân mình, y dễ trở nên bối rối vì sự đặt cạnh nhau quá gần.
29. We have encountered this confusion constantly. It is better to try to encompass our subject en large, and then begin the process of reasoned reduction to microcosmic proportions.
29. Chúng ta đã liên tục gặp phải sự bối rối này. Tốt hơn là nên cố gắng bao quát đề tài của chúng ta trên quy mô lớn, rồi bắt đầu tiến trình thu giảm có lý luận xuống các tỷ lệ tiểu thiên địa.
The greater Builders are the solar Pitris, whilst the lesser Builders are the lunar ancestors.
Các Đấng Đại Kiến Tạo là các thái dương tổ phụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tổ phụ thái âm.
30. As stated earlier, the terms “greater Builders” and “lesser builders” have many possible interpretations. In the tabulation in EA 35, the two Creative Hierarchies of lesser and greater Builders are both of them Beings of higher rank than the “solar pitris”, as usually considered.
30. Như đã nói trước đó, các thuật ngữ “các đấng đại kiến tạo” và “các vị tiểu kiến tạo” có nhiều cách diễn giải khả dĩ. Trong bảng liệt kê ở EA 35, hai Huyền Giai Sáng Tạo của các vị tiểu kiến tạo và các đấng đại kiến tạo cả hai đều là những Hữu thể có cấp bậc cao hơn “thái dương tổ phụ” theo cách thường được hiểu.
31. From the microcosmic perspective, the “solar Pitris” are the Solar Angels or Agnishvattas Who build the human personality of Lunar Pitris. The microcosmic Lunar Pitris which are built into form and which are composed of tiny elemental lives are naturally, compared with the solar devas, to be considered as lesser builders.
31. Từ góc độ tiểu thiên địa, “các thái dương tổ phụ” là các Thái dương Thiên Thần hay Agnishvatta, những Đấng xây dựng phàm ngã con người từ các thái âm tổ phụ. Các thái âm tổ phụ tiểu thiên địa được xây dựng thành hình tướng và được cấu thành từ những sự sống hành khí nhỏ bé, dĩ nhiên, khi so với các thiên thần thái dương, phải được xem là các vị tiểu kiến tạo.tiểu builders.
I would here explain the occult meaning of the word “ancestor,” as used in esotericism. It means literally initiatory life impulse.
Ở đây tôi muốn giải thích ý nghĩa huyền bí của từ “tổ phụ”, như được dùng trong huyền bí học. Nó có nghĩa đen là xung lực sự sống điểm đạo.
32. The solar and lunar “ancestors” provided the “initiatory life impulse” which created two orders of vehicles—the lunar vehicles of the personality and the solar vehicle or egoic lotus.
32. Các “tổ phụ” thái dương và thái âm đã cung cấp “xung lực sự sống điểm đạo” tạo ra hai loại vận cụ—các vận cụ thái âm của phàm ngã và vận cụ thái dương hay hoa sen chân ngã.
It is that subjective activity which produces objectivity, and concerns those emanatory impulses which come from any positive centre of force, and which sweep the negative aspect into the line of that force, and thus produce a form of some kind. The word “ancestor” is used in connection with both aspects.
Đó là hoạt động chủ quan tạo ra tính khách quan, và liên quan đến những xung lực phát xạ đến từ bất kỳ trung tâm mãnh lực dương nào, và cuốn phương diện âm vào đường của mãnh lực ấy, nhờ đó tạo ra một hình tướng nào đó. Từ “tổ phụ” được dùng liên hệ với cả hai phương diện.
33. An “ancestor” is a positive center of force from which emanates an impulse which sweeps a negative aspect into line with the positive force.
33. Một “tổ phụ” là một trung tâm mãnh lực dương, từ đó phát ra một xung lực cuốn một phương diện âm vào đường thẳng hàng với mãnh lực dương.
34. The Lunar Ancestors (as force centers) sweep the elemental life into line with its relatively more positive force.
34. Các Tổ Phụ Thái Âm (với tư cách các trung tâm mãnh lực) cuốn sự sống hành khí vào đường thẳng hàng với mãnh lực tương đối dương hơn của chúng.
35. The Solar Ancestors or Pitris (considered as force centers) sweep the lunar vehicles into line with their relatively more positive force.
35. Các Tổ Phụ Thái Dương hay Pitris (được xét như các trung tâm mãnh lực) cuốn các vận cụ thái âm vào đường thẳng hàng với mãnh lực tương đối dương hơn của chúng.
36. Since there are both solar and lunar positive centers of force, the term “ancestor” is used in connection with both categories of beings.
36. Vì có cả các trung tâm mãnh lực dương thái dương lẫn thái âm, nên thuật ngữ “tổ phụ” được dùng liên hệ với cả hai loại hữu thể.
The solar Logos is the initiatory impulse or Father of the Son in His physical incarnation, a solar system.
Thái dương Thượng đế là xung lực điểm đạo hay là Cha của Con trong sự lâm phàm hồng trần của Ngài, một hệ mặt trời.
37. If we wish to have a functional definition of the occult term, “Father”, it is “initiatory impulse”.
37. Nếu chúng ta muốn có một định nghĩa chức năng cho thuật ngữ huyền bí “Cha”, thì đó là “xung lực điểm đạo”.
He is the sumtotal of the Pitris, in the process of providing form. The union of Father (positive force) and Mother (negative force) produces that central blaze which we call the form, the body of manifestation of the Son.
Ngài là tổng số của các Pitris, đang trong tiến trình cung cấp hình tướng. Sự kết hợp của Cha (mãnh lực dương) và Mẹ (mãnh lực âm) tạo ra ngọn lửa trung tâm mà chúng ta gọi là hình tướng, thể biểu hiện của Con.
38. Here we are discussing greater and lesser Builders on a scale which can, indeed, produce a solar system—the “manifestation of the Son”.
38. Ở đây chúng ta đang bàn đến các đấng đại kiến tạo và các vị tiểu kiến tạo trên một quy mô thực sự có thể tạo ra một hệ mặt trời—“biểu hiện của Con”.
39. We may consider the Solar Logos as working primarily through the sumtotal of positive Pitris who, in the context we have been discussing, are relatively the “greater Builders”.
39. Chúng ta có thể xem Thái dương Thượng đế là hoạt động chủ yếu thông qua tổng số các Pitris dương, những vị mà trong bối cảnh chúng ta đang bàn đến, tương đối là “các đấng đại kiến tạo”.
40. Let us remember that the second aspect of divinity is the “form builder”. Form is not the substance of which the form is made.
40. Chúng ta hãy nhớ rằng phương diện thứ hai của thiên tính là “đấng kiến tạo hình tướng”. Hình tướng không phải là chất liệu mà từ đó hình tướng được tạo nên.
41. The Father is the “positive force” and the Mother the “negative force”. By coming together they produce a central blaze which is the “Son in physical incarnation”—a solar system.
41. Cha là “mãnh lực dương” và Mẹ là “mãnh lực âm”. Bằng cách đến với nhau, các vị tạo ra một ngọn lửa trung tâm là “Con đang lâm phàm hồng trần”—một hệ mặt trời.
42. This solar/lunar process operates both macrocosmically and microcosmically.
42. Tiến trình thái dương/thái âm này vận hành cả ở cấp đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa.
43. From a philosophical point of view, we may ask whether the Father includes the Mother. The Solar Logos is said to be the sumtotal of the Pitris. Are we to include the Lunar Pitris in this sumtotal?
43. Từ quan điểm triết học, chúng ta có thể hỏi liệu Cha có bao gồm Mẹ hay không. Thái dương Thượng đế được nói là tổng số của các Pitris. Chúng ta có nên bao gồm các thái âm tổ phụ trong tổng số này không?
44. The Solar Logos manifesting as Agni does include the Lunar Pitris.
44. Thái dương Thượng đế biểu lộ như Agni quả thực bao gồm các thái âm tổ phụ.
A Heavenly Man holds an analogous position in relation to a planetary scheme. He is the central germ of positive life or force, which, in due course of time, demonstrates as a planetary scheme, or an incarnation of the planetary Logos.
Một Đấng Thiên Nhân giữ một vị trí tương tự liên hệ với một hệ hành tinh. Ngài là mầm trung tâm của sự sống hay mãnh lực dương, mà theo tiến trình thời gian thích đáng, biểu lộ thành một hệ hành tinh, hay một lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng Đế.
45. The major incarnation of a Heavenly Man is a planetary scheme. There are a number of subsidiary incarnations of the Heavenly Man through the lesser structures within the scheme.
45. Sự lâm phàm chính yếu của một Đấng Thiên Nhân là một hệ hành tinh. Có một số lần lâm phàm phụ thuộc của Đấng Thiên Nhân thông qua các cấu trúc nhỏ hơn trong hệ ấy.
46. The Solar Logos and the Planetary Logos are both “the central germ of positive life or force” for Their respective systems—one a solar system and the other a planetary scheme.
46. Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng Đế đều là “mầm trung tâm của sự sống hay mãnh lực dương” đối với các hệ tương ứng của Các Ngài—một là hệ mặt trời và một là hệ hành tinh.
47. In a somewhat cosmic sense, the Solar Logos and the Planetary Logos are also “Ancestors” providing vehicles of expression for many lesser lives.
47. Theo một ý nghĩa phần nào vũ trụ, Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng Đế cũng là những “Tổ phụ”, cung cấp các vận cụ biểu đạt cho nhiều sự sống nhỏ hơn.
A man similarly is the positive life or energy which, through action on negative force, creates bodies of manifestation through which he can shine or radiate.92,93,94
Tương tự, con người là sự sống hay năng lượng dương tính, là cái, thông qua tác động lên mãnh lực âm tính, tạo ra các thể biểu hiện mà qua đó y có thể chiếu sáng hay phát xạ.92,93,94
48. A human being is meant to “shine forth”. This occurs gradually over time as the positive life or energy which he is acts upon the negative force which has been gathered into his vehicles of manifestation.
48. Con người được dự định là phải “chiếu sáng ra”. Điều này xảy ra dần dần theo thời gian khi sự sống hay năng lượng dương tính mà y là tác động lên mãnh lực âm tính đã được tập hợp vào các vận cụ biểu hiện của y.
49. The parallel is exact in all three cases.
49. Sự song hành là hoàn toàn chính xác trong cả ba trường hợp.
50. Thus far, we have listed as “positive center(s) of force”
50. Cho đến đây, chúng ta đã liệt kê như những “trung tâm lực dương tính”
a. Solar Logoi
a. Các Thái dương Thượng đế
b. Planetary Logoi or Heavenly Men
b. Các Hành Tinh Thượng Đế hay các Đấng Thiên Nhân
c. Men
c. Con người
d. Solar Pitris in relation to the Lunar Pitris
d. các thái dương tổ phụ trong tương quan với các thái âm tổ phụ
e. Lunar Pitris in relation to the elemental substance of the lower sheaths
e. các thái âm tổ phụ trong tương quan với chất liệu hành khí của các vỏ bọc thấp
FOOTNOTE 92: The Lunar Pitris created the physical man.—S. D., I, 114, 197.
CHÚ THÍCH 92: Các thái âm tổ phụ đã tạo ra con người thể xác.—S. D., I, 114, 197.
They exist in three great classes.
Các vị này tồn tại trong ba lớp lớn.
51. Here we have important information from the Secret Doctrine concerning the “Lunar Ancestors” of man.
51. Ở đây chúng ta có thông tin quan trọng từ Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến các “Thủy Tổ Thái Âm” của con người.
1. The most developed. They form, in Round one, the sumtotal of the three kingdoms, and achieve a human form.—S. D., I, 203.
1. Những vị phát triển nhất. Trong cuộc tuần hoàn một, các vị này tạo thành tổng thể của ba giới, và đạt được hình tướng con người.—S. D., I, 203.
52. We seem to be speaking of Round one in our chain. One question remains: “Do these Lunar Pitris actually achieve a human form in Round one, or does this happen only in Round four?”
52. Dường như chúng ta đang nói về cuộc tuần hoàn một trong dãy của chúng ta. Một câu hỏi vẫn còn lại: “Các thái âm tổ phụ này có thực sự đạt được hình tướng con người trong cuộc tuần hoàn một hay điều này chỉ xảy ra trong cuộc tuần hoàn bốn?”
53. One interpretation would be as follows: the Lunar Pitris of the first round gradually achieve a human form. But we could also interpret the statement as indicating that these Pitris achieve even in Round one a human form which as a form represents the sumtotal of the three kingdoms.
53. Một cách diễn giải có thể là như sau: các thái âm tổ phụ của cuộc tuần hoàn thứ nhất dần dần đạt được hình tướng con người. Nhưng chúng ta cũng có thể diễn giải phát biểu này như cho thấy rằng các tổ phụ này đạt được ngay cả trong cuộc tuần hoàn một một hình tướng con người mà, với tư cách là hình tướng, biểu thị tổng thể của ba giới.
54. Our usual studies focus on those lunar life forms which provide a human form in the fourth round, and especially on the fourth globe of the fourth round. We have had no discussion of lunar beings who could have achieved human form in the first round.
54. Các nghiên cứu thông thường của chúng ta tập trung vào những hình thái sự sống thái âm cung cấp hình tướng con người trong cuộc tuần hoàn thứ tư, và đặc biệt trên bầu hành tinh thứ tư của cuộc tuần hoàn thứ tư. Chúng ta chưa hề bàn đến các hữu thể thái âm có thể đã đạt được hình tướng con người trong cuộc tuần hoàn thứ nhất.
55. We must bear in mind that there is a distinction between becoming human and simply providing that which can be used as a human form by an individualized being.
55. Chúng ta phải ghi nhớ rằng có một sự phân biệt giữa việc trở thành con người và chỉ đơn thuần cung cấp cái có thể được một hữu thể đã được biệt ngã hóa sử dụng như một hình tướng con người.
In Rounds two and three they are the sumtotal of that which will eventually be human.
Trong các cuộc tuần hoàn hai và ba, các vị này là tổng thể của cái rốt cuộc sẽ trở thành con người.
56. Here again, we must be cautious. DK is speaking of Lunar Pitris who will “eventually be human”. This achievement would be far greater than simply providing a lunar form for the use of those who have become human.
56. Ở đây một lần nữa, chúng ta phải thận trọng. Chân sư DK đang nói về các thái âm tổ phụ mà về sau sẽ “trở thành con người”. Thành tựu này sẽ lớn lao hơn nhiều so với việc chỉ cung cấp một hình tướng thái âm cho những ai đã trở thành con người sử dụng.
57. To what time period does the term “eventually” apply? We see from point 7., Tabulation VI, TCF 844, that the Lunar Pitris who have provided for man a vehicle of contact through which he can express as a human being, must first enter the animal kingdom before they can individualize.
57. Thuật ngữ “về sau” áp dụng cho giai đoạn thời gian nào? Chúng ta thấy từ điểm 7., Bảng VI, TCF 844, rằng các thái âm tổ phụ đã cung cấp cho con người một vận cụ tiếp xúc mà qua đó y có thể biểu lộ như một con người, trước hết phải đi vào giới động vật trước khi các vị ấy có thể biệt ngã hóa.
In Round four at the beginning they form the etheric bodies of our Earth humanity.
Trong cuộc tuần hoàn thứ tư, lúc khởi đầu, các vị này tạo thành các thể dĩ thái của nhân loại Trái Đất chúng ta.
58. Are we speaking of our “Earth humanity” only as it appears on the fourth globe, or, apparently, as it appears from the beginning of the Round?
58. Phải chăng chúng ta đang nói về “nhân loại Trái Đất” của chúng ta chỉ như nó xuất hiện trên bầu hành tinh thứ tư, hay dường như là như nó xuất hiện ngay từ khởi đầu của cuộc tuần hoàn?
59. Is there a progression possible, by means of which Lunar Pitris form one type of lunar vehicle on one globe, another on the next and another on the next—and so forth.
59. Có phải có một sự tiến triển khả hữu, nhờ đó các thái âm tổ phụ tạo thành một loại vận cụ thái âm trên một bầu hành tinh, một loại khác trên bầu kế tiếp và một loại khác nữa trên bầu tiếp theo—v.v.?
2. Those whose bodies are taken by the Solar Angels.—S. D., I, 203.
2. Những vị mà các thể của họ được các Thái dương Thiên Thần tiếp nhận.—S. D., I, 203.
60. We seem to be referring to a certain group of human forms which, in early days, actually provided a basis for the incarnation of the Solar Angels.
60. Dường như chúng ta đang nói đến một nhóm hình tướng con người nào đó mà, trong những thời kỳ đầu, thực sự đã cung cấp một nền tảng cho sự nhập thể của các Thái dương Thiên Thần.
61. Does it seem logical that this group of Lunar Pitris would be lower than the first group? If so, why?
61. Có hợp lý không khi nhóm thái âm tổ phụ này lại thấp hơn nhóm thứ nhất? Nếu vậy, tại sao?
3. The sum total of the three kingdoms at present known.
3. Tổng thể của ba giới hiện nay đã được biết đến.
62. When we think of the Lunar Pitris, we must realize that they form the vehicular basis not only for human beings but for the lower three kingdoms as well.
62. Khi nghĩ về các thái âm tổ phụ, chúng ta phải nhận ra rằng các vị này tạo thành nền tảng vận cụ không chỉ cho con người mà còn cho cả ba giới thấp nữa.
63. All the lower kingdoms are composed of elemental lives and these are naturally of a lower calibre than the elemental lives constituting the lower vehicles of a human being.
63. Tất cả các giới thấp đều được cấu thành từ các sự sống hành khí, và những sự sống này dĩ nhiên có phẩm cấp thấp hơn các sự sống hành khí cấu thành các vận cụ thấp của một con người.
FOOTNOTE 93:
CHÚ THÍCH 93:
The Earth gives man his body; the Gods give him his five inner principles...Spirit is one.—S. D., I, 248.
Trái Đất cho con người thể của y; các Thượng đế cho y năm nguyên khí bên trong...Tinh thần là một.—S. D., I, 248.
64. By the term “body” as here used, it is probable that we mean the dense physical nature composed of the matter/substance of the previous solar system.
64. Theo thuật ngữ “thể” như được dùng ở đây, có lẽ chúng ta muốn nói đến bản chất hồng trần đậm đặc được cấu thành từ vật chất/chất liệu của hệ mặt trời trước.
65. Both types of Pitris, Lunar and Solar can, in this context, be considered as “the God”.
65. Trong ngữ cảnh này, cả hai loại tổ phụ, thái âm và thái dương, đều có thể được xem là “Thượng đế”.
1. The Earth gives the dense physical.
1. Trái Đất cho thể xác đậm đặc.
2. The Lunar Gods give him three lower principles—
2. Các Thượng đế Thái Âm cho y ba nguyên khí thấp—
a. Etheric body
a. thể dĩ thái
b. Prana
b. prana
c. Kama—manas
c. thể trí cảm
66. Do “principles” come from the “Lunar Gods” or do they provide the vehicles to house and express those principles?
66. Các “nguyên khí” có đến từ các “Thượng đế Thái Âm” hay các vị ấy cung cấp các vận cụ để chứa đựng và biểu lộ các nguyên khí ấy?
67. The etheric body is a vehicle. Prana is a principle and it is solar in nature (except for earthly prana which does not have a solar origin).
67. Thể dĩ thái là một vận cụ. Prana là một nguyên khí và có bản chất thái dương (ngoại trừ prana địa cầu vốn không có nguồn gốc thái dương).
68. If manas, as we seem to learn below, has a solar origin, then how is it that the Lunar Gods can provide kama-manas since it is a simultaneous functioning of kama and manas?
68. Nếu manas, như dường như chúng ta học được ở dưới, có nguồn gốc thái dương, thì làm sao các Thượng đế Thái Âm có thể cung cấp kama-manas khi đó là sự vận hành đồng thời của kama và manas?
69. As for the systemic etheric body of man, the devas of that plane are violet in color. Cancer, which is ruled by the Moon, has the color violet associated with it. Further, these devas are said to display a crescent Moon on their foreheads. So the association of the Moon with the etheric body makes sense even if the prana which animates it is solar in nature.
69. Đối với thể dĩ thái hệ thống của con người, các thiên thần của cõi đó có màu tím. Cự Giải, được Mặt Trăng cai quản, có màu tím gắn liền với nó. Hơn nữa, các thiên thần này được nói là mang hình trăng lưỡi liềm trên trán. Vì vậy, sự liên hệ của Mặt Trăng với thể dĩ thái là hợp lý, ngay cả khi prana làm sinh động nó lại có bản chất thái dương.
3. The Solar Gods give him two principles—
3. Các Thượng đế Thái Dương cho y hai nguyên khí—
d. Lower mind
d. Hạ trí
e. Higher mind
e. Thượng trí
70. The “Solar Gods” are the Solar Angels or Agnishvattas.
70. Các “Thượng đế Thái Dương” là các Thái dương Thiên Thần hay các Agnishvatta.
71. It is always theorized that they give man that which serves as a higher mental vehicle from the period of individualization until the fourth initiation, but the principles, themselves, are monadic in origin—i.e., they are potencies of the Monad working through the permanent atoms.
71. Người ta luôn giả thuyết rằng các vị ấy ban cho con người cái đóng vai trò như một vận cụ thượng trí từ thời kỳ biệt ngã hóa cho đến lần điểm đạo thứ tư, nhưng bản thân các nguyên khí thì có nguồn gốc chân thần—nghĩa là, chúng là những tiềm năng của chân thần hoạt động qua các nguyên tử trường tồn.
72. It is no easy matter to distinguish between a vehicle and the principle which informs it.
72. Không dễ gì phân biệt giữa một vận cụ và nguyên khí thấm nhuần nó.
73. There is also a question as to whether the lower mental vehicle is lunar or solar in nature. Since it is part of a threefold elemental (the personality elemental) it would definitely seem to be lunar.
73. Cũng có một câu hỏi là liệu vận cụ hạ trí có bản chất thái âm hay thái dương. Vì nó là một phần của một hành khí tam phân (hành khí phàm ngã), nên dứt khoát dường như nó có tính thái âm.
74. Is HPB in error here or must we understand her differently? For instance, the Solar Angel (through the “spark of mind”) stimulated the emerging mental unit of animal man in such a way that it could become a functional lower mind. In this sense the lower mind begins to reflect the higher mind and its activation (i.e., the activation of the lower mind) is a kind of ‘gift’ from the “Solar Gods”. If this is meant, the statement that the “Solar Gods” give the principle of lower mind makes sense.
74. HPB có sai ở đây không, hay chúng ta phải hiểu bà theo cách khác? Chẳng hạn, Thái dương Thiên Thần (thông qua “tia lửa trí tuệ”) đã kích thích đơn vị hạ trí đang xuất hiện của người thú theo cách khiến nó có thể trở thành một hạ trí hoạt động được. Theo nghĩa này, hạ trí bắt đầu phản chiếu hạ trí và sự hoạt hóa của nó (nghĩa là sự hoạt hóa của hạ trí) là một loại “quà tặng” từ các “Thượng đế Thái Dương”. Nếu được hiểu như vậy, phát biểu rằng các “Thượng đế Thái Dương” ban cho nguyên khí hạ trí là có ý nghĩa.
75. But, it would seem that the lower mental vehicle is part of the overall construction of the lunar personality vehicles and is, in that respect, lunar in origin. There is a mental elemental life which is not solar in its nature or responses.
75. Nhưng dường như vận cụ hạ trí là một phần của toàn bộ cấu trúc các vận cụ phàm ngã thái âm và, về phương diện đó, có nguồn gốc thái âm. Có một sự sống hành khí trí tuệ không có bản chất hay đáp ứng thái dương.
4. The Monad is the unified two highest principles—
4. Chân thần là hai nguyên khí cao nhất được hợp nhất—
f. Buddhi
f. Bồ đề
g. Atma
g. atma
—S. D., I, 248.
—S. D., I, 248.
76. We might also say that the Monad is more than these two principles and stands ‘above’ them.
76. Chúng ta cũng có thể nói rằng chân thần còn hơn hai nguyên khí này và đứng “trên” chúng.
77. We learned when we studied principles and vehicles (beginning TCF 259) that it was crucial to differentiate between the two. Principles are potencies and vehicles are a means of expressing these potencies on any given plane or vibratory dimension.
77. Khi nghiên cứu các nguyên khí và các vận cụ (bắt đầu từ TCF 259), chúng ta đã học rằng việc phân biệt giữa hai điều này là tối quan trọng. Các nguyên khí là những tiềm năng, còn các vận cụ là phương tiện để biểu lộ những tiềm năng ấy trên bất kỳ cõi hay chiều kích rung động nào.
FOOTNOTE 94:
CHÚ THÍCH 94:
The totality of form. God is “One, notwithstanding the innumerable forms which are in Him,” so is man, on earth the microcosm of the macrocosm.—S. D., II, 197; II, 303; III, 584.
Tổng thể của hình tướng. Thượng đế là “Một, mặc dù có vô số hình tướng ở trong Ngài,” con người cũng vậy, trên Trái Đất là tiểu thiên địa của đại thiên địa.—S. D., II, 197; II, 303; III, 584.
78. To understand the nature of man or any other composite being, the puzzle of the One and the Many must be solved.
78. Để hiểu bản chất của con người hay bất kỳ hữu thể phức hợp nào khác, câu đố về Một và Nhiều phải được giải quyết.
79. So much of the evolutionary process as it works in the mind is the necessity of overcoming the illusion of the many and of replacing this illusion with the sensed presence of the One—Presence.
79. Phần lớn của tiến trình tiến hoá khi nó vận hành trong trí tuệ là sự cần thiết phải vượt qua ảo tưởng về cái nhiều và thay thế ảo tưởng này bằng sự hiện diện được cảm nhận của Đấng Duy Nhất—Hiện Diện.
Everything is comprised in man.
Mọi sự đều được bao hàm trong con người.
He unites in himself all forms.
Y hợp nhất trong chính mình mọi hình tướng.
The mystery of the earthly man is the mystery of the Heavenly Man.
Huyền nhiệm của con người trần thế là huyền nhiệm của Đấng Thiên Nhân.
80. This theme has been developed repeatedly throughout TCF.
80. Chủ đề này đã được triển khai lặp đi lặp lại xuyên suốt TCF.
81. Using the analogical faculty we can study the human microcosm and learn much about the greater Lives Who include the human.
81. Bằng cách sử dụng năng lực tương đồng, chúng ta có thể nghiên cứu tiểu thiên địa con người và học được nhiều điều về các Sự sống lớn hơn bao gồm con người.
The potentiality of every organ useful to animal life is locked up in man, the Microcosm of the Macrocosm.—S. D., II, 723.
Tiềm năng của mọi cơ quan hữu ích cho đời sống động vật đều được khóa kín trong con người, Tiểu thiên địa của Đại thiên địa.—S. D., II, 723.
82. The animal tends to become man. Man is the macrocosm to the animal life. What man has developed, the animal will develop. Man’s organs and faculties are latent in animal life as the animal is the reflection of man. Organs which are latent in the animal are unfolding or unfolded in man.
82. Động vật có xu hướng trở thành con người. Con người là đại thiên địa đối với đời sống động vật. Điều con người đã phát triển, động vật sẽ phát triển. Các cơ quan và năng lực của con người tiềm ẩn trong đời sống động vật, vì động vật là sự phản chiếu của con người. Những cơ quan còn tiềm ẩn trong động vật thì đang khai mở hoặc đã khai mở trong con người.
The lesser Builders95 are the negative aspect and are swept into action in group formation through the play [Page 614] of positive force upon them, or through the action of the conscious Minds of the system.
Các vị tiểu kiến tạo95 là phương diện âm tính và bị cuốn vào hoạt động trong sự hình thành nhóm thông qua tác động [Page 614] của mãnh lực dương tính lên họ, hay thông qua tác động của các Trí Tuệ hữu thức của hệ thống lên họ.
The Army of the Voice, the devas in their serried ranks, work ceaselessly. Let the disciple apply himself to the consideration of their methods; let him learn the rules whereby that Army works within the veils of Maya. (IHS 203)
Đạo Quân của Âm Thanh, các thiên thần trong hàng ngũ dày đặc của họ, làm việc không ngừng nghỉ. Hãy để đệ tử chuyên tâm xem xét các phương pháp của họ; hãy để y học các quy luật nhờ đó Đạo Quân ấy hoạt động trong những bức màn của ảo lực. (IHS 203)
83. The term “lesser Builders” is relative. There are always greater “conscious Minds of the system” which can sweep lesser lives into action and group formation.
83. Thuật ngữ “các vị tiểu kiến tạo” là tương đối. Luôn luôn có những “Trí Tuệ hữu thức của hệ thống” lớn hơn có thể cuốn các sự sống nhỏ hơn vào hoạt động và sự hình thành nhóm.
84. For instance, the free will of man is very limited in relation to greater Beings. Man is swept into activity and group formation by such greater “conscious Minds” as the Planetary Logos and the Solar Logos. Man, then, becomes like a “lesser builder”.
84. Chẳng hạn, ý chí tự do của con người rất hạn chế trong tương quan với các Hữu thể lớn hơn. Con người bị cuốn vào hoạt động và sự hình thành nhóm bởi những “Trí Tuệ hữu thức” lớn hơn như Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế. Khi ấy, con người trở nên giống như một “vị tiểu kiến tạo”.
85. For practical purposes, however, we are speaking largely of the unconscious lives which are moved and grouped by conscious lives which act upon them.
85. Tuy nhiên, vì những mục đích thực tiễn, ở đây phần lớn chúng ta đang nói về những sự sống vô thức được di chuyển và tập hợp bởi các sự sống hữu thức tác động lên chúng.
FOOTNOTE 95:
CHÚ THÍCH 95:
Pitris—The ancestors or creators of mankind.
Pitris—các thủy tổ hay những đấng sáng tạo ra nhân loại.
86. We should say, “creators of the lower vehicles of man”.
86. Chúng ta nên nói, “những đấng sáng tạo ra các vận cụ thấp của con người”.
They are of seven classes, three of which are incorporeal and four corporeal.
Các vị này thuộc bảy lớp, trong đó ba lớp là vô thể và bốn lớp là hữu thể.
87. It is difficult to discern what is meant. The term “corporeal” means possessing a body. Incorporeal entities do not possess a body of the same kind that corporeal beings do.
87. Thật khó phân biện điều được hàm ý. Thuật ngữ “hữu thể” có nghĩa là sở hữu một thể. Các thực thể vô thể không sở hữu một thể cùng loại như các hữu thể.
88. We must judge that “corporeal” and “incorporeal” are, again, relative terms.
88. Chúng ta phải phán đoán rằng “hữu thể” và “vô thể”, một lần nữa, là những thuật ngữ tương đối.
89. If the etheric nature is considered physical, it is “corporeal”. By comparison, the Lunar Pitris who provide the emotional and lower mental vehicles would be “incorporeal”
89. Nếu bản chất dĩ thái được xem là hồng trần, thì nó là “hữu thể”. So sánh mà nói, các thái âm tổ phụ cung cấp các vận cụ cảm xúc và hạ trí sẽ là “vô thể”
These are usually called the Lunar Pitris or Ancestors and must not be confounded with the Solar Pitris or Angels, who give mind to man, and create the relatively permanent body of the ego, or Higher Self.
Những vị này thường được gọi là các thái âm tổ phụ hay các Thủy Tổ và không được nhầm lẫn với các thái dương tổ phụ hay các Thiên Thần, là những vị ban trí tuệ cho con người, và tạo ra thể tương đối trường tồn của chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu.
90. The distinction between Lunar and Solar Pitris is foundational. The present problems experienced by humanity arise because this distinction is not understood or acted upon.
90. Sự phân biệt giữa các thái âm tổ phụ và thái dương tổ phụ là nền tảng. Những vấn đề hiện nay mà nhân loại trải qua phát sinh vì sự phân biệt này không được thấu hiểu hay được hành động theo.
91. The idea that the Solar Angels gave mind to man is only partially true. Actually, they stimulated the development of the latent mind of animal man. Mind is inherent in the Monad (and, in fact, in all Monads) and, in time, would develop even without the intervention of the Solar Angels. Their intervention, however, advanced by millions of years the process of those who would eventually become human.
91. Ý tưởng cho rằng các Thái dương Thiên Thần đã ban trí tuệ cho con người chỉ đúng một phần. Thực ra, các vị ấy đã kích thích sự phát triển của trí tuệ tiềm ẩn nơi người thú. Trí tuệ vốn cố hữu trong chân thần (và thật ra trong mọi chân thần) và, theo thời gian, sẽ phát triển ngay cả không có sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần. Tuy nhiên, sự can thiệp của các vị ấy đã đẩy nhanh tiến trình của những kẻ rốt cuộc sẽ trở thành con người lên hàng triệu năm.
At the present stage of evolution—during the period of Light — it is difficult for the human being (until he has attained the consciousness of the Ego) to differentiate between the types of force, and to work consciously with these dual aspects.
Ở giai đoạn tiến hoá hiện nay—trong thời kỳ của Ánh sáng — con người khó có thể (cho đến khi y đạt được tâm thức của Chân ngã) phân biệt giữa các loại mãnh lực, và làm việc một cách hữu thức với các phương diện kép này.
92. Average human beings are so enmeshed in lunar forces that they do not realize that solar forces also exist. Even if they understand that solar forces exist, it is difficult for them to discriminate such forces from the more obviously present lunar forces. Presently, human consciousness is deeply veiled.
92. Những con người trung bình bị vướng mắc trong các mãnh lực thái âm đến mức họ không nhận ra rằng các mãnh lực thái dương cũng tồn tại. Ngay cả nếu họ hiểu rằng các mãnh lực thái dương tồn tại, họ cũng khó phân biện những mãnh lực ấy với các mãnh lực thái âm hiện diện hiển nhiên hơn. Hiện nay, tâm thức con người còn bị che phủ rất sâu.
93. At the third degree one consciously attains the consciousness of the Ego. In that far more solarized state of consciousness, it is easier to perceive the contrast between the solar and lunar forces.
93. Ở cấp độ thứ ba, người ta hữu thức đạt được tâm thức của Chân ngã. Trong trạng thái tâm thức được thái dương hóa hơn rất nhiều ấy, việc nhận ra sự tương phản giữa các mãnh lực thái dương và thái âm trở nên dễ dàng hơn.
94. The phrase “during the period of Light” is not easy to interpret. From one perspective, Spirit is “darkness” and we do not yet live in that form-obliterating, difference-obscuring darkness provided by Spirit-perception. Our consciousness is still very much captivated by that which “Light” reveals. (cf. Rule IX, R&I 22, 171). We are working within substance and are enveloped by both the “Mother” and the “Son”.
94. Cụm từ “trong thời kỳ của Ánh sáng” không dễ diễn giải. Từ một góc nhìn, tinh thần là “bóng tối” và chúng ta chưa sống trong bóng tối xóa mờ hình tướng, che khuất dị biệt do tri giác tinh thần mang lại ấy. Tâm thức của chúng ta vẫn còn bị mê hoặc rất nhiều bởi điều mà “Ánh sáng” tiết lộ. (x. quy luật IX, R&I 22, 171). Chúng ta đang làm việc trong chất liệu và được bao bọc bởi cả “Mẹ” lẫn “Con”.
95. The meaning of the phrase may be entirely other than that proposed, but at least one interpretation is put forth.
95. Ý nghĩa của cụm từ này có thể hoàn toàn khác với điều được đề xuất, nhưng ít nhất một cách diễn giải đã được nêu ra.
An Adept of the Light works with force in substance, viewing substance as that which is negative, and therefore occultly to be moved,
Một chân sư của Ánh sáng làm việc với mãnh lực trong chất liệu, xem chất liệu là cái âm tính, và do đó theo huyền bí học phải được di chuyển,
96. The highest expression of “Light” per se (and in relation to the human kingdom), comes at the fifth initiation. Masters are still human beings; Chohans, technically, are not. They have entered the “Darkness”.
96. Biểu hiện cao nhất của “Ánh sáng” chính nó (và trong tương quan với giới nhân loại) đến ở lần điểm đạo thứ năm. Các Chân sư vẫn là những con người; còn các Chohan, về mặt kỹ thuật, thì không. Các Ngài đã đi vào “Bóng tối”.
97. Substance is occultly negative and exhibits the quality of inertia. It is not ‘self-moving’ and, therefore, has to be “moved”, or acted upon.
97. Chất liệu theo huyền bí học là âm tính và biểu lộ phẩm tính quán tính. Nó không “tự chuyển động” và do đó phải được “di chuyển”, hay bị tác động lên.
98. The term “Adept of the Light” is used here in contrast to “Brother of Darkness”.
98. Thuật ngữ “Chân sư của Ánh sáng” được dùng ở đây để đối chiếu với “Huynh Đệ của Bóng tối”.
and He can do this because He has (in the three worlds of His endeavour) achieved unity, or the point of balance and equilibrium, and can therefore balance forces and deal with positive and negative energies as appears best in the interests of the plan of evolution.
và Ngài có thể làm điều này vì Ngài đã (trong ba cõi giới của nỗ lực của Ngài) đạt được sự hợp nhất, hay điểm quân bình và cân bằng, và do đó có thể quân bình các mãnh lực và đề cập đến các năng lượng dương tính và âm tính theo cách có vẻ tốt nhất cho lợi ích của thiên cơ tiến hoá.
99. The relationship of the sign Libra to the stage of Mastership has not been much emphasized, but it is unquestionably present.
99. Mối liên hệ của dấu hiệu Thiên Bình với giai đoạn Chân sư quả chưa được nhấn mạnh nhiều, nhưng chắc chắn là có hiện diện.
100. The “unity” achieved by the Master is related to the sign Leo, which occultly rules the fifth degree. The realization of unity is achieved by means of solar energies. One symbol for the Master is the Sun (the circle with the central dot).
100. “Sự hợp nhất” mà Chân sư đạt được có liên hệ với dấu hiệu Sư Tử, vốn một cách huyền bí cai quản cấp độ thứ năm. Sự chứng nghiệm hợp nhất đạt được nhờ các năng lượng thái dương. Một biểu tượng của Chân sư là Mặt Trời (vòng tròn với chấm ở trung tâm).
101. The Master stands at the acme of what we might call ‘first solar system development’ (even though the Arhat initiation was the highest initiation offered in that system). The Master has mastered or dominated the substance which is residual from that earlier system. Symbolically, He stands with his foot upon the “Serpent of Matter”.
101. Chân sư đứng ở đỉnh cao của điều mà chúng ta có thể gọi là “sự phát triển của hệ mặt trời thứ nhất” (dù lần điểm đạo A-la-hán là lần điểm đạo cao nhất được ban trong hệ thống ấy). Chân sư đã làm chủ hay chế ngự chất liệu còn sót lại từ hệ thống trước đó. Một cách biểu tượng, Ngài đứng với bàn chân đặt trên “Con Rắn của Vật Chất”.
102. He stands at the acme of intelligence and has become an intelligent manipulator of those forces. Therefore, He is an example, generically, of the triumph of the third ray. He is an Adept and can, thus, adapt matter/force to His purposes which are, of course, the purposes of the Divine Plan and Purpose (as He understands that Plan and Purpose).
102. Ngài đứng ở đỉnh cao của trí tuệ và đã trở thành một người thao tác thông minh đối với các mãnh lực ấy. Vì vậy, một cách tổng quát, Ngài là một ví dụ về sự chiến thắng của cung ba. Ngài là một chân sư và do đó có thể thích ứng vật chất/mãnh lực với các mục đích của Ngài, mà dĩ nhiên là các mục đích của Thiên Cơ và Thiên Ý (theo như Ngài hiểu Thiên Cơ và Thiên Ý ấy).
The Brother of Darkness, knowing himself to be positive force in essence, works with negative substance, or with the lesser Builders to bring about ends [Page 615] of his own, incited thereto by selfish motive.
Huynh đệ của Bóng tối, biết mình về bản chất là mãnh lực dương tính, làm việc với chất liệu âm tính, hay với các vị tiểu kiến tạo để mang lại những mục đích [Page 615] của riêng y, bị thúc đẩy vào đó bởi động cơ ích kỷ.
103. We have just see that a “Brother of Light” also works in substance, regarding it as something “occultly to be moved”, but His motive and objective are entirely other than those of the “Brother of Darkness”.
103. Chúng ta vừa thấy rằng một “Huynh đệ của Ánh sáng” cũng làm việc trong chất liệu, xem nó như một cái gì đó “theo huyền bí học phải được di chuyển”, nhưng động cơ và mục tiêu của Ngài hoàn toàn khác với của “Huynh đệ của Bóng tối”.
104. We can imagine that the work of the Brother of Darkness binds and enslaves the lives expressing as substance, and that the Brother of Light works in a manner which leads to the eventual liberation of these lesser lives.
104. Chúng ta có thể hình dung rằng công việc của Huynh đệ của Bóng tối trói buộc và nô dịch các sự sống biểu lộ thành chất liệu, còn Huynh đệ của Ánh sáng làm việc theo cách dẫn đến sự giải thoát cuối cùng của những sự sống nhỏ bé ấy.
The Brothers of Light co-operate with the positive aspect in, and of, all forms—the building devas of evolutionary intent—in order to bring about the purposes of the Heavenly Man Who is the sumtotal of planetary physical manifestation.
Các Huynh đệ của Ánh sáng hợp tác với phương diện dương tính trong, và của, mọi hình tướng—các thiên thần kiến tạo với ý hướng tiến hoá—để mang lại các mục đích của Đấng Thiên Nhân là Đấng là tổng thể của biểu hiện hồng trần hành tinh.
105. We have already seen that the Brother of Light seeks to stimulate the positive nucleus, or Spirit, within the human being. There is also a central spiritual core within every form and with this core the Brother of Light works.
105. Chúng ta đã thấy rằng Huynh đệ của Ánh sáng tìm cách kích thích hạt nhân dương tính, hay tinh thần, bên trong con người. Cũng có một cốt lõi tinh thần trung tâm bên trong mọi hình tướng, và với cốt lõi này Huynh đệ của Ánh sáng làm việc.
106. There is also the tendency of the Brother of Light to work with the positive aspect of forms rather than the negative aspect. He tends to work with “the building devas of evolutionary intent” rather than with the blind, elemental forces.
106. Huynh đệ của Ánh sáng cũng có khuynh hướng làm việc với phương diện dương tính của các hình tướng hơn là phương diện âm tính. Y có xu hướng làm việc với “các thiên thần kiến tạo với ý hướng tiến hoá” hơn là với các mãnh lực hành khí mù quáng.
107. Clearly there is a conscious and unconscious way. The “Brother of Light” promotes the ‘Conscious Way’ and the “Brother of Darkness” does all he can to promote unconsciousness (in those he wishes to enslave). When the tide of ignorance in humanity rises precipitously, the “Brothers of Darkness” are at work.
107. Rõ ràng có một con đường hữu thức và một con đường vô thức. “Huynh đệ của Ánh sáng” thúc đẩy “Con Đường Hữu Thức”, còn “Huynh đệ của Bóng tối” làm mọi điều y có thể để thúc đẩy tình trạng vô thức (nơi những kẻ y muốn nô dịch). Khi làn sóng vô minh trong nhân loại dâng lên đột ngột, các “Huynh đệ của Bóng tối” đang hoạt động.
108. We may notice that a rather special definition of a Heavenly Man seems to have been given—He is the “sumtotal of planetary physical manifestation”.
108. Chúng ta có thể lưu ý rằng dường như một định nghĩa khá đặc biệt về Đấng Thiên Nhân đã được đưa ra—Ngài là “tổng thể của biểu hiện hồng trần hành tinh”.
109. Those who take exception to the equating of the terms “Planetary Logos” and “Heavenly Man” should look closely at this rather limiting definition of a Heavenly Man.
109. Những ai phản đối việc đồng nhất hai thuật ngữ “Hành Tinh Thượng Đế” và “Đấng Thiên Nhân” nên xem xét kỹ định nghĩa khá giới hạn này về một Đấng Thiên Nhân.
110. Alternatively, we could be speaking of one particular Heavenly Man Who, Himself, “is the sumtotal of planetary physical manifestation”—for instance, the Globe Lord of the Earth-globe.
110. Hoặc, chúng ta có thể đang nói về một Đấng Thiên Nhân đặc biệt, Đấng mà chính Ngài “là tổng thể của biểu hiện hồng trần hành tinh”—chẳng hạn, Chúa Tể bầu hành tinh của bầu Địa Cầu.
111. From yet another perspective, we might ask, “Is there one particular Heavenly Man, Who is not a Globe Lord, Who is the embodiment “of planetary physical manifestation”? We probably should confine ourselves to the planetary scheme of Earth, in which case the answer becomes simpler. If we think of such a Heavenly Man as a systemic Being, we shall have to ponder the possibilities.
111. Từ một góc nhìn khác nữa, chúng ta có thể hỏi, “Có phải có một Đấng Thiên Nhân đặc biệt nào đó, không phải là một Chúa Tể bầu hành tinh, là hiện thân ‘của biểu hiện hồng trần hành tinh’ không?” Có lẽ chúng ta nên giới hạn mình trong hệ hành tinh của Trái Đất, trong trường hợp đó câu trả lời trở nên đơn giản hơn. Nếu chúng ta nghĩ về một Đấng Thiên Nhân như thế như một Hữu thể hệ thống, chúng ta sẽ phải suy ngẫm về các khả năng.
It can be seen, therefore, how necessary it is that the functions of the devas of all grades be comprehended.
Do đó, có thể thấy các chức năng của những thiên thần ở mọi cấp bậc cần được thấu hiểu đến mức nào.
112. We must realize that there are a huge number of grades. In studying these grades we are studying the many diverse forces of Nature.
112. Chúng ta phải nhận ra rằng có một số lượng cấp bậc vô cùng lớn. Khi nghiên cứu các cấp bậc này, chúng ta đang nghiên cứu nhiều mãnh lực đa dạng của Thiên Nhiên.
It is however equally important that man should refrain from the manipulation of these forces of nature until such time as he “knows” himself, and his own powers, and until he has fully unfolded the consciousness of the ego;
Tuy nhiên, điều quan trọng không kém là con người phải tránh thao túng các mãnh lực này của thiên nhiên cho đến khi y “biết” chính mình, và các quyền năng của chính y, và cho đến khi y đã khai mở trọn vẹn tâm thức của chân ngã;
113. What are the requirements to be fulfilled before the forces of nature can be safely and wisely manipulated:
113. Những điều kiện nào phải được hoàn tất trước khi các mãnh lực của thiên nhiên có thể được thao túng một cách an toàn và minh triết:
a. Man must know himself
a. Con người phải biết chính mình
b. Man must know his own powers
b. Con người phải biết các quyền năng của chính mình
c. Man must have unfolded the powers and consciousness of the Ego
c. Con người phải khai mở các quyền năng và tâm thức của Chân ngã
114. We have been told that intercourse with the lower devas (those of the eighteen lower sub-planes) is not initially allowed. Man may now attempt to approach the higher devas (such as Solar Angels or guardian angels), but not the lower. He does not yet know enough nor is he sufficiently ‘Self-possessed’.
114. Chúng ta đã được cho biết rằng lúc ban đầu không được phép giao tiếp với các thiên thần thấp hơn (những vị thuộc mười tám cõi phụ thấp). Hiện nay con người có thể cố gắng tiếp cận các thiên thần cao hơn (như các Thái dương Thiên Thần hay các thiên thần hộ vệ), nhưng không phải các vị thấp hơn. Y vẫn chưa biết đủ và cũng chưa đủ “tự chủ”.
then, and only then, can he safely, wisely, and intelligently co-operate in the plan.
khi ấy, và chỉ khi ấy, y mới có thể hợp tác trong Thiên Cơ một cách an toàn, minh triết và thông tuệ.
115. We gather here that one very important mode of cooperation with the Divine Plan is through the manipulation of devic forces.
115. Ở đây chúng ta rút ra rằng một phương thức hợp tác rất quan trọng với Thiên Cơ là thông qua việc thao túng các mãnh lực thiên thần.
116. Until the requirements for safe, wise and intelligent manipulation of such forces are fulfilled, man must find other methods of cooperating with the Plan.
116. Cho đến khi các điều kiện để thao túng những mãnh lực ấy một cách an toàn, minh triết và thông tuệ được hoàn tất, con người phải tìm ra những phương pháp khác để hợp tác với Thiên Cơ.
As yet, for the average man or even the advanced man this is dangerous to attempt and impossible to accomplish.
Hiện nay, đối với người trung bình hay ngay cả người tiến bộ, điều này là nguy hiểm nếu cố làm và không thể hoàn thành.
117. DK is telling us who may safely, wisely and intelligently manipulate the devic forces of nature and who may not. When the term “nature” is used, it usually means the forces of the eighteen lower sub-planes. If “Nature” is capitalized, it can indicate the forces of the cosmic physical plane, which, cosmically are natural (i.e., pertaining to material life).
117. Chân sư DK đang cho chúng ta biết ai có thể thao túng các mãnh lực thiên thần của thiên nhiên một cách an toàn, minh triết và thông tuệ, và ai thì không thể. Khi thuật ngữ “nature” được dùng, nó thường có nghĩa là các mãnh lực của mười tám cõi phụ thấp. Nếu “Nature” được viết hoa, nó có thể chỉ các mãnh lực của cõi hồng trần vũ trụ, vốn, xét theo vũ trụ, là tự nhiên (tức là thuộc về sự sống vật chất).
118. It would seem that the manipulation of the unconscious devic lives is very securely guarded. Average and even advanced man (not yet initiate) may succeed in contacting them and may affect them, but cannot do so safely, wisely and intelligently and cannot thereby assist the working out of the Divine Plan. All he can do is endanger himself and possibly interfere with the correct working out of the Plan.
118. Dường như việc thao túng các sự sống thiên thần vô thức được canh giữ rất nghiêm ngặt. Người trung bình và ngay cả người tiến bộ (chưa phải điểm đạo đồ) có thể thành công trong việc tiếp xúc với họ và có thể tác động đến họ, nhưng không thể làm như vậy một cách an toàn, minh triết và thông tuệ, và do đó không thể trợ giúp cho sự triển khai của Thiên Cơ. Tất cả những gì y có thể làm là gây nguy hiểm cho chính mình và có thể cản trở sự triển khai đúng đắn của Thiên Cơ.
Now, let us add a few more statements upon which the student can ponder before we pass on to study specifically the three main groups of building devas on the three planes in the three worlds which most intimately concern man.
Bây giờ, chúng ta hãy thêm một vài phát biểu nữa để đạo sinh có thể suy ngẫm trước khi chúng ta chuyển sang nghiên cứu cụ thể ba nhóm chính của các thiên thần kiến tạo trên ba cõi trong ba cõi giới có liên hệ mật thiết nhất với con người.
119. So far we are dealing with general information and are preparing to take up a study of specific devas.
119. Cho đến nay chúng ta đang bàn đến thông tin tổng quát và đang chuẩn bị bắt đầu nghiên cứu các thiên thần cụ thể.
The building devas96 are the Ah-hi, or Universal Mind. They contain within their consciousness the plan logoic, [Page 616] and inherently possess the power to work it out in time and space, being the conscious forces of evolution.
Các thiên thần kiến tạo96 là các Ah-hi, hay Vũ Trụ Trí. Trong tâm thức của mình, các Ngài chứa đựng thiên cơ logoic, [Page 616] và vốn sẵn có quyền năng triển khai nó trong thời gian và không gian, vì các Ngài là những mãnh lực có ý thức của tiến hoá.
120. The Ah-hi are solar systemic Beings. They are not simply planetary in scope.
120. Các Ah-hi là những Hữu thể thuộc hệ mặt trời. Phạm vi của các Ngài không chỉ đơn thuần là hành tinh.
121. It is essential that we understand the meaning of “Universal Mind”. Our solar system is frequently referred to as a “universe” and so the “Universal Mind” would be the Mind of the Solar Logos.
121. Điều cốt yếu là chúng ta phải hiểu ý nghĩa của “Vũ Trụ Trí”. Hệ mặt trời của chúng ta thường được gọi là một “vũ trụ”, và vì thế “Vũ Trụ Trí” sẽ là Trí của Thái dương Thượng đế.
122. Thus, to ‘locate’ “Universal Mind” we might be taken to the cosmic mental plane in its two divisions.
122. Như vậy, để “định vị” “Vũ Trụ Trí”, chúng ta có thể được dẫn đến cõi trí vũ trụ trong hai phân bộ của nó.
123. From another perspective, all of Brahma is the “Universal Mind” and Brahma, Fohat, Agni are intelligently active on all the eighteen lower cosmic sub-planes.
123. Từ một góc nhìn khác, toàn bộ Brahma là “Vũ Trụ Trí”, và Brahma, Fohat, Agni hoạt động một cách thông tuệ trên toàn bộ mười tám cõi phụ vũ trụ thấp.
124. Closer to our own level of experience, Universal Mind is reflected on the cosmic physical plane and especially on the atmic level which is ruled by Saturn and the third ray.
124. Gần hơn với cấp độ kinh nghiệm của chính chúng ta, Vũ Trụ Trí được phản chiếu trên cõi hồng trần vũ trụ và đặc biệt trên cấp độ atma, vốn được Sao Thổ và cung ba cai quản.
125. If we study what is said in the section of text above, there are many atmic ‘signatures’.
125. Nếu chúng ta nghiên cứu điều được nói trong phần văn bản trên, có nhiều “dấu ấn” atma.
a. The atmic plane is especially associated with the Divine Plan, the “plan logoic”.
a. Cõi atma đặc biệt gắn liền với Thiên Cơ, “thiên cơ logoic”.
b. The atmic plane is the specifically Brahmic plane (of the higher planes) and is, thus, specifically related to time and space. Its Word is the A.U.M. which is the Word of the third aspect.
b. Cõi atma là cõi đặc thù của Brahma (trong các cõi cao) và vì vậy đặc biệt liên hệ với thời gian và không gian. Linh từ của nó là A.U.M., tức Quyền năng từ của phương diện thứ ba.
c. The forces of the Universal Mind are the “conscious forces of evolution”. The forces behind the Will-to-Evolve can be found expressing on the atmic plane. The Will-to-Evolve is the third ray expression of the Divine Will and is, thus, particularly related to the atmic plane—the third plane.
c. Các mãnh lực của Vũ Trụ Trí là “những mãnh lực có ý thức của tiến hoá”. Những mãnh lực đứng sau Ý Chí-hướng đến Tiến Hoá có thể được tìm thấy đang biểu lộ trên cõi atma. Ý Chí-hướng đến Tiến Hoá là biểu hiện cung ba của Ý Chí thiêng liêng và vì vậy đặc biệt liên hệ với cõi atma—cõi thứ ba.
FOOTNOTE: 96
CHÚ THÍCH: 96
Devas. “...he would have
Các thiên thần. “...ông ấy hẳn đã
(1) divided the Devas into two classes—and called them the “Rupa-devas” and the “Arupa-devas” (the “form” or objective, and the “formless” or subjective Dhyan Chohans;
(1) chia các thiên thần thành hai loại—và gọi chúng là “Rupa-devas” và “Arupa-devas” (các Dhyan Chohans “có hình tướng” hay khách quan, và “vô tướng” hay chủ quan;
126. We see that some devic lives of a very high nature are called “Dhyan Chohans”
126. Chúng ta thấy rằng một số sự sống thiên thần có bản chất rất cao được gọi là “Dhyan Chohans”
127. From the perspective of the Planetary Logos, the rupa levels are found beneath the higher mental plane and the arupa levels on that plane (the higher mental) and above.
127. Từ góc nhìn của Hành Tinh Thượng Đế, các cấp độ rupa được tìm thấy bên dưới Cõi thượng trí và các cấp độ arupa ở trên cõi ấy (cõi thượng trí) và cao hơn nữa.
128. From the solar logoic perspective, everything below the buddhic plane is rupa.
128. Từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế, mọi thứ bên dưới cõi Bồ đề đều là rupa.
and
và
(2) would have done the same for his class of “men” since there are Shells and “Mara-rupas”—i.e. bodies doomed to annihilation.
(2) cũng sẽ làm điều tương tự đối với loại “người” của ông ấy vì có các Vỏ và “Mara-rupas”—tức các thể bị định phải bị huỷ diệt.
129. These are obviously lower or degenerate forms. Wherever we see the word “Mara” we are reminded of the enemy of the Buddha—the personification of the forces of glamor and illusion.
129. Đây rõ ràng là những hình tướng thấp hoặc thoái hoá. Bất cứ nơi nào chúng ta thấy từ “Mara”, chúng ta đều được nhắc nhớ đến kẻ thù của Đức Phật—sự nhân cách hoá các mãnh lực của ảo cảm và ảo tưởng.
All these are:
Tất cả những loại này là:
(1) “Rupa-devas”—Dhyan Chohans, having forms. | Ex-men.
(1) “Rupa-devas”—Dhyan Chohans, có hình tướng. | Cựu nhân loại.
130. By “ex-men” we mean those who have evolved through the human kingdom.
130. Bởi “cựu nhân loại”, chúng ta muốn nói đến những vị đã tiến hoá qua giới nhân loại.
131. The “Rupa-devas”, if they are Dhyan Chohans, are advanced beings. We can assume that for purposes of service, they have retained (or have generated) forms which can be used in the lower three worlds, hence the appellation, “Rupa”.
131. Các “Rupa-devas”, nếu là Dhyan Chohans, là những hữu thể tiến hoá cao. Chúng ta có thể giả định rằng vì mục đích phụng sự, các vị ấy đã giữ lại (hoặc đã tạo ra) những hình tướng có thể được sử dụng trong ba cõi thấp, do đó có danh xưng “Rupa”.
(2) “Arupa-devas”—Dhyan Chohans, having no forms. | Ex-men.
(2) “Arupa-devas”—Dhyan Chohans, không có hình tướng. | Cựu nhân loại.
132. We can conceive of these “Arupa-devas” as ‘graduate’ human beings who inhabit the cosmic etheric planes, and perhaps the higher mental plane.
132. Chúng ta có thể hình dung các “Arupa-devas” này như những con người đã “tốt nghiệp”, cư ngụ trên các cõi dĩ thái vũ trụ, và có lẽ cả trên Cõi thượng trí.
133. It would be of importance to know how these rupa and arupa devas became “ex-men”. Was it before they had mastered the spiritual curriculum, or only afterwards—once they had.
133. Điều quan trọng là phải biết các thiên thần rupa và arupa này đã trở thành “cựu nhân loại” như thế nào. Có phải trước khi họ làm chủ chương trình học tinh thần, hay chỉ sau đó—một khi họ đã làm chủ.
(3) “Pisachas”—(two-principled) ghosts.
(3) “Pisachas”—ma quỷ (nhị nguyên khí).
134. It would seem that there is no intelligence in these beings. They seem to be possessed of an etheric nature and perhaps of prana.
134. Dường như không có trí tuệ trong những hữu thể này. Chúng có vẻ sở hữu một bản chất dĩ thái và có lẽ cả prana.
(4) “Mara-rupa”—Doomed to death (three principled).
(4) “Mara-rupa”—Bị định phải chết (tam nguyên khí).
135. These beings (since the name “Mara” is attached to them) must have for one of their principles, “kama”. The major ‘haunt’ of “Mara” is the astral plane which is the plane of kama.
135. Những hữu thể này (vì tên “Mara” gắn với chúng) hẳn phải có một trong các nguyên khí của mình là “kama”. “Nơi ám trú” chính của “Mara” là cõi cảm dục, vốn là cõi của kama.
136. Sometimes “kama” is not enumerated as a principle and is replaced by “kama-manas”.
136. Đôi khi “kama” không được liệt kê như một nguyên khí và được thay bằng “kama-manas”.
137. The three principles of these beings would then be: the etheric body, prana and kama or, alternatively, the etheric body, prana and kama-manas.
137. Khi đó ba nguyên khí của những hữu thể này sẽ là: thể dĩ thái, prana và kama hoặc, cách khác, thể dĩ thái, prana và trí-cảm.
138. They are doomed to death because they are not informed by the energy of higher mind which confers the immortality of the soul/Ego/Monad.
138. Chúng bị định phải chết vì không được thấm nhuần bởi năng lượng của thượng trí, năng lượng ban cho sự bất tử của linh hồn/chân ngã/chân thần.