Trích nội dung chương
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) (Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong lớp. Các chú thích và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
TCF 620 – 635: S6S6
10 December – 24 December 2007
10 Tháng Mười Hai – 24 Tháng Mười Hai 2007
Version 1
Phiên bản 1
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong lớp. Các chú thích và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.
Người ta gợi ý rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.
[Page 620]
[Page 620]
1. Our work continues with a close examination of the deva kingdom in relation to several orders of “man”.
1. Công việc của chúng ta tiếp tục với việc khảo sát chặt chẽ giới thiên thần trong tương quan với một số cấp bậc của “con người”.
2. Point “a.” (in the previous commentary) offered a discussion on the following:
2. Điểm “a.” (trong phần bình luận trước) đã đưa ra một cuộc bàn luận về điều sau đây:
The Mystery of Electricity. The greater Builders are the positive aspect of substance or of electrical phenomena whilst the lesser Builders are the negative aspect.
Mầu Nhiệm của Điện. Các đấng đại kiến tạo là phương diện tích cực của chất liệu hay của các hiện tượng điện, trong khi các vị tiểu kiến tạo là phương diện tiêu cực.
b. The Functions of the Devas.
b. Các Chức Năng của chư thiên thần.
Having predicated certain basic facts about the devas, viewing them as the sum total of the energy of substance and of substance itself, we come down to more technical details and to the more detailed consideration of these building forces as they construct the thought-form of the Logos, the solar System.
Sau khi đã xác lập một số sự kiện căn bản về chư thiên thần, xem họ như tổng thể năng lượng của chất liệu và của chính chất liệu, chúng ta đi xuống các chi tiết kỹ thuật hơn và đến với sự xem xét chi tiết hơn về các mãnh lực kiến tạo này khi chúng xây dựng hình tư tưởng của Thượng đế, hệ mặt trời.
3. Substance itself is energy-force. We should not think of substance as matter only, and energy-force as that which animates matter. The devas we are studying are substance considered as energy-force.
3. Chính chất liệu là năng lượng-mãnh lực. Chúng ta không nên nghĩ về chất liệu chỉ như vật chất, và năng lượng-mãnh lực như cái làm sinh động vật chất. Các thiên thần mà chúng ta đang nghiên cứu là chất liệu được xem như năng lượng-mãnh lực.
4. We remind ourselves that the thoughtform of the Solar Logos is the solar system.
4. Chúng ta tự nhắc mình rằng hình tư tưởng của Thái dương Thượng đế là hệ mặt trời.
From this consideration of them certain practical knowledge will eventuate:
Từ việc xem xét họ như thế, một số tri thức thực tiễn sẽ phát sinh:
First. Knowledge of how to build in mental matter in the three worlds, and how to employ the devas of the gaseous plane of the cosmic physical.
Thứ nhất. Tri thức về cách xây dựng trong chất liệu trí tuệ trong ba cõi giới, và cách sử dụng các thiên thần của cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ.
5. This is the beginning (for us) of the white magical process. This process is extensively considered later in this book and also in A Treatise on White Magic.
5. Đây là sự khởi đầu (đối với chúng ta) của tiến trình huyền thuật chánh đạo. Tiến trình này được khảo sát rộng rãi về sau trong quyển sách này và cả trong Luận về Chánh Thuật.
6. We remind ourselves that the systemic mental plane is the gaseous plane of the cosmic physical plane.
6. Chúng ta tự nhắc mình rằng cõi trí hệ thống là cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ.
Second. Realisation of how to combine the pairs of opposites, and thus give body and form to concept.
Thứ hai. Chứng nghiệm cách kết hợp các cặp đối cực, và nhờ đó ban cho ý niệm thể và hình tướng.
7. Essentially the pairs of opposites are Spirit and matter. The pairs of opposites here referenced are the thought (i.e., the concept) and the thing—the product of the systemic mental plane and of the systemic etheric-physical plane.
7. Về bản chất, các cặp đối cực là tinh thần và vật chất. Các cặp đối cực được nói đến ở đây là tư tưởng (tức là ý niệm) và sự vật—sản phẩm của cõi trí hệ thống và của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống.
8. The true form is found upon the etheric plane and its building begins on the plane of thought, then augmented on the plane of sentiency.
8. Hình tướng chân thực được tìm thấy trên cõi dĩ thái và việc xây dựng nó bắt đầu trên cõi tư tưởng, rồi được tăng cường trên cõi cảm giác.
Third. Materialisation upon the physical plane of the embodied idea.
Thứ ba. Sự hiện hình trên cõi hồng trần của ý tưởng đã nhập thể.
9. This third point references the art and science of precipitation.
9. Điểm thứ ba này nói đến nghệ thuật và khoa học của sự ngưng tụ.
10. Not all forms upon the physical plane are embodied ideas. Some are embodied thoughts. We may, however, suppose that thoughts are derivative of ideas even if the one engaged in the act of precipitation is not accessing the originating idea but only its representative thought.
10. Không phải mọi hình tướng trên cõi hồng trần đều là những ý tưởng nhập thể. Một số là những tư tưởng nhập thể. Tuy nhiên, chúng ta có thể giả định rằng các tư tưởng là phái sinh từ các ý tưởng, ngay cả khi người đang thực hiện hành vi ngưng tụ không tiếp cận ý tưởng nguyên thủy mà chỉ tiếp cận tư tưởng đại diện của nó.
1. Manifestation of the Logoic Aspects. This is achieved through the close consideration of the laws of being, and of the method pursued by the Logos in giving His conception form, thus working out His purpose, or will, through that form. In the three planes of man's endeavour we have reflected the three aspects of the Logos as they produce manifestation:
1. Sự Biểu Hiện của các Phương diện Logoic. Điều này đạt được thông qua việc xem xét cẩn mật các quy luật của bản thể, và phương pháp mà Thượng đế theo đuổi khi ban cho quan niệm của Ngài hình tướng, nhờ đó thực hiện mục đích, hay ý chí, của Ngài qua hình tướng ấy. Trong ba cõi nỗ lực của con người, chúng ta có sự phản chiếu của ba phương diện của Thượng đế khi chúng tạo ra biểu hiện:
11. DK is referencing the “laws of being”. We must determine whether the word “being” is being used in a general sense, or whether He is referring to a very high set of laws related to the central life of the Solar Logos:
11. Chân sư DK đang nói đến “các quy luật của bản thể”. Chúng ta phải xác định xem từ “bản thể” đang được dùng theo nghĩa tổng quát, hay Ngài đang nói đến một tập hợp quy luật rất cao liên hệ với sự sống trung tâm của Thái dương Thượng đế:
The Mental Plane...reflection of the first aspect.
Cõi Trí...sự phản chiếu của phương diện thứ nhất.
12. The will consistently works through the mind. Manas and purpose are (according to definitions given in this treatise) inseparable.
12. Ý chí luôn luôn hoạt động thông qua trí tuệ. Manas và mục đích là bất khả phân ly (theo các định nghĩa được đưa ra trong bộ luận này).
The plane of concept, of the union of Father-Spirit-Will and Mother-Matter-Energy.
Cõi của ý niệm, của sự hợp nhất giữa Cha-Tinh thần-Ý chí và Mẹ-Vật chất-Năng lượng.
13. The substance of the mental plane is “Mother-Matter-Energy”. The “Father-Spirit-Will” aspect shapes substance upon the mental plane into concepts.
13. Chất liệu của cõi trí là “Mẹ-Vật chất-Năng lượng”. Phương diện “Cha-Tinh thần-Ý chí” định hình chất liệu trên cõi trí thành các ý niệm.
14. In a way, concepts represent the “Son” aspect of divinity.
14. Theo một cách nào đó, các ý niệm tượng trưng cho phương diện “Con” của thiên tính.
This is the work of the Logos, and this union produces the Son, for Divine Thought takes form. The body of the Ego is there found.
Đây là công việc của Thượng đế, và sự hợp nhất này sản sinh ra Con, vì Tư Tưởng thiêng liêng mang lấy hình tướng. Thể của chân ngã được tìm thấy ở đó.
15. From this perspective, the body of the Ego is both a “son” and a concept.
15. Từ góc nhìn này, thể của chân ngã vừa là một “con” vừa là một ý niệm.
16. The true “Ego” is consciousness. That which arises in substance upon the higher mental plane is the body of the Ego.
16. “Chân ngã” đích thực là tâm thức. Cái phát sinh trong chất liệu trên Cõi thượng trí là thể của chân ngã.
Astral Plane...reflection of the second aspect, the Son. Materialisation proceeds through desire, and the form grows and evolves, becoming more adequate.
Cõi cảm dục...sự phản chiếu của phương diện thứ hai, Con. Sự hiện hình tiến hành qua dục vọng, và hình tướng tăng trưởng và tiến hoá, trở nên thích hợp hơn.
17. DK is dealing in essence with the white magical process.
17. Về bản chất, Chân sư DK đang bàn đến tiến trình huyền thuật chánh đạo.
18. Upon the astral plane the initial mental form grows and is filled out.
18. Trên cõi cảm dục, hình thể trí tuệ ban đầu tăng trưởng và được lấp đầy.
19. Just as the mind reflects the Monad and the astral body reflects the second aspect, the soul aspect.
19. Cũng như trí tuệ phản chiếu chân thần và thể cảm dục phản chiếu phương diện thứ hai, phương diện linh hồn.
Physical Plane...Manifestation. The thought-form (of man or the Logos) appears in activity.
Cõi hồng trần...Biểu hiện. Hình tư tưởng (của con người hay của Thượng đế) xuất hiện trong hoạt động.
20. The third aspect is the activity aspect and is the primary influence upon the physical plane. Activity brings about manifestation.
20. Phương diện thứ ba là phương diện hoạt động và là ảnh hưởng chủ yếu trên cõi hồng trần. Hoạt động mang lại sự biểu hiện.
The Son is born on the physical plane, the thought of the Thinker (divine or human) becomes an entity, separated [Page 621] from its originating source, yet energised by the vitality emanating from him.
Con được sinh ra trên cõi hồng trần, tư tưởng của Đấng Tư Tưởng (thiêng liêng hay nhân loại) trở thành một thực thể, tách biệt [Page 621] khỏi nguồn gốc phát sinh của nó, tuy vậy vẫn được tiếp năng bởi sinh lực phát ra từ ông.
21. This is the “Birth of the Christ” to be understood in various ways.
21. Đây là “Sự Giáng Sinh của Đức Christ”, cần được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
22. The “Divine Son” is “the thought of the Thinker”.
22. “Thiêng Tử” là “tư tưởng của Đấng Tư Tưởng”.
23. It is important to grasp that the “entity” (which the “thought of the Thinker” has become) is both separate from its originating source and, yet, connected to its originating source which vitalizes it.
23. Điều quan trọng là phải nắm được rằng “thực thể” (mà “tư tưởng của Đấng Tư Tưởng” đã trở thành) vừa tách biệt khỏi nguồn gốc phát sinh của nó, nhưng đồng thời lại được nối kết với nguồn gốc phát sinh vốn tiếp sinh lực cho nó.
24. Man upon the physical plane finds himself exactly in this position—separated from and yet connected to his source the systemic higher mental plane.
24. Con người trên cõi hồng trần thấy mình ở đúng trong vị thế này—tách biệt khỏi nhưng vẫn nối kết với nguồn của mình là Cõi thượng trí của hệ thống.
All this becomes possible—speaking now from the human standpoint—through the action of the devas who are that which embodies thought, and that which give it its separated energy, as distinct from the purpose which will work out to fruition as the form becomes adequate as a medium of expression.
Tất cả điều này trở nên khả hữu—nay nói từ quan điểm nhân loại—qua hoạt động của các thiên thần là cái thể hiện tư tưởng, và cái ban cho nó năng lượng tách biệt của nó, phân biệt với mục đích sẽ được hoàn thành khi hình tướng trở nên thích hợp như một môi trường biểu đạt.
25. We can gather that two functions of the devas here mentioned (i.e., the function of embodying thought and the function of providing the substance-energy apparently separated from the sustain source of energy) are the means through which the purpose works out to fruition in the apparently separated form upon the physical plane.
25. Chúng ta có thể suy ra rằng hai chức năng của các thiên thần được nhắc đến ở đây (tức chức năng thể hiện tư tưởng và chức năng cung cấp chất liệu-năng lượng dường như tách biệt khỏi nguồn năng lượng duy trì) là những phương tiện qua đó mục đích được hoàn thành trong hình tướng dường như tách biệt trên cõi hồng trần.
2. Deva force substance. As we consider the devas of the seven planes of the solar system, and especially as we consider those who work in the three worlds, we must bear in mind the following statements:
2. Chất liệu mãnh lực thiên thần. Khi chúng ta xem xét các thiên thần của bảy cõi của hệ mặt trời, và đặc biệt khi chúng ta xem xét những vị hoạt động trong ba cõi giới, chúng ta phải ghi nhớ các phát biểu sau đây:
26. Although the higher devas are of essential importance to the outworking of logoic purpose through man, the devas with which man is most intimately concerned are those of the three worlds—including (if we wish to be complete) those Agnishvattas which influence the higher mental plane through the building and maintenance of the egoic lotus.
26. Mặc dù các thiên thần cao cấp có tầm quan trọng cốt yếu đối với sự triển khai mục đích logoic qua con người, các thiên thần mà con người liên hệ mật thiết nhất là những vị của ba cõi giới—bao gồm (nếu muốn đầy đủ) cả những Agnishvattas ảnh hưởng đến Cõi thượng trí qua việc xây dựng và duy trì Hoa Sen Chân Ngã.
The First Statement. They are the devas who are the dual force-substance of the lowest cosmic plane, the cosmic physical.
Phát biểu thứ nhất. Họ là các thiên thần là chất liệu-mãnh lực nhị phân của cõi vũ trụ thấp nhất, cõi hồng trần vũ trụ.
27. Just as the systemic (or solar) physical plane is divided into two portions, the same is true of the cosmic physical plane. It is divided into the etheric body of the Solar Logos and the dense physical body of the Solar Logos.
27. Cũng như cõi hồng trần của hệ thống (hay thái dương) được chia thành hai phần, cõi hồng trần vũ trụ cũng vậy. Nó được chia thành thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế và thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.
28. On the cosmic physical plane there are devas which are particular concerned with the dense physical body of the Solar Logos and those concerned with His etheric body—found upon the higher four systemic planes of the cosmic physical plane.
28. Trên cõi hồng trần vũ trụ có những thiên thần đặc biệt liên hệ với thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và những vị liên hệ với thể dĩ thái của Ngài—được tìm thấy trên bốn cõi hệ thống cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ.
As regards the three worlds, they are the deva force and substance2 which compose the dense physical body of the Logos, hence man is limited, as he works on these planes, to those devas who are primarily regarded (from the higher levels) as having no part in the seven principles of the Logos;
Xét về ba cõi giới, họ là mãnh lực và chất liệu thiên thần2 hợp thành thể xác đậm đặc của Thượng đế, vì thế con người bị giới hạn, khi hoạt động trên các cõi này, vào những thiên thần mà chủ yếu được xem (từ các cấp độ cao hơn) là không có phần nào trong bảy nguyên khí của Thượng đế;
29. This is a most important statement. From this perspective, man is working within substance which is inherited from the previous solar system—unprincipled substance.
29. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Từ góc nhìn này, con người đang hoạt động trong chất liệu được thừa hưởng từ hệ mặt trời trước—chất liệu không nguyên khí.
30. The tendencies of such devas conditioned by the patterns of the previous solar system do not correlate with the program of the Solar Logos which was conceived specifically for this second solar system. During the redemptive process which the Logos must, perforce, undertake in this solar system, these tendencies must be repatterned.
30. Các khuynh hướng của những thiên thần như thế, được định hình bởi các mô hình của hệ mặt trời trước, không tương ứng với chương trình của Thái dương Thượng đế vốn được hình thành riêng cho hệ mặt trời thứ hai này. Trong tiến trình cứu chuộc mà Thượng đế buộc phải đảm nhận trong hệ mặt trời này, các khuynh hướng ấy phải được tái mô hình hóa.
31. Below are other ways of describing these same devic lives.
31. Dưới đây là những cách khác để mô tả cùng những sự sống thiên thần này.
to those devas who form the gaseous, liquid, and concrete form of the Logos, the devas of concrete fire, of water and of earth in its densest aspect;
đến những thiên thần tạo thành thể khí, thể lỏng, và hình thể cụ thể của Thượng đế, các thiên thần của lửa cụ thể, của nước và của đất trong phương diện đậm đặc nhất của nó;
32. We note that the devas of the lower mental plane are called “devas of concrete fire”. It is hard to find specific names for these devas. Whether they are to be called “Agnishvattas” of a lower kind is still not ascertained though all indications point in that direction.
32. Chúng ta lưu ý rằng các thiên thần của cõi hạ trí được gọi là “các thiên thần của lửa cụ thể”. Thật khó tìm ra những tên gọi chuyên biệt cho các thiên thần này. Liệu họ có thể được gọi là những “Agnishvattas” thuộc loại thấp hơn hay không vẫn chưa được xác định, dù mọi dấu hiệu đều chỉ theo hướng đó.
33. The devas of water are astral devas.
33. Các thiên thần của nước là các thiên thần cảm dục.
34. We note that the earth devas here referenced are related to the “densest aspect” of the physical plane and, apparently, not to the etheric levels which are considered to be in a separate category.
34. Chúng ta lưu ý rằng các thiên thần đất được nhắc đến ở đây có liên hệ với “phương diện đậm đặc nhất” của cõi hồng trần và, dường như, không liên hệ với các cấp dĩ thái vốn được xem là thuộc một phạm trù riêng biệt.
35. The descriptions of the lower devas continues.
35. Các mô tả về các thiên thần thấp tiếp tục.
to those devas who are the automatic, subconscious builders, carrying on the work of the dense physical vehicle of the Logos in the same sense as the builders in man's body work automatically and unconsciously, producing the cells and energising the bodily functions.
đến những thiên thần là các đấng kiến tạo tự động, vô thức, tiếp tục công việc của vận cụ hồng trần đậm đặc của Thượng đế theo cùng ý nghĩa như các đấng kiến tạo trong thân thể của con người hoạt động một cách tự động và vô thức, tạo ra các tế bào và tiếp năng lượng cho các chức năng của cơ thể.
36. It is important to note that these devas are definitely unconscious and automatic in their response.
36. Điều quan trọng là phải lưu ý rằng các thiên thần này rõ ràng là vô thức và tự động trong sự đáp ứng của họ.
FOOTNOTE 2:
CHÚ THÍCH 2:
The Solar Angels are dual in Nature.
Các Thái dương Thiên Thần có bản chất nhị phân.
“Manas is dual—Lunar in the lower, Solar in its upper portion.”—S. D., II, 520, 675.
“Manas là nhị phân—Thái âm ở phần thấp, Thái dương ở phần cao của nó.”—S. D., II, 520, 675.
37. Here is a most important statement. Usually, Solar Angels are considered as expressing only through the higher mental plane. In this footnote, we are led to believe that the devas of concrete mental fire can be called Solar Angels (or Agnishvattas).
37. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Thông thường, các Thái dương Thiên Thần được xem là chỉ biểu lộ duy nhất qua Cõi thượng trí. Trong chú thích này, chúng ta được dẫn đến chỗ tin rằng các thiên thần của lửa trí tuệ cụ thể có thể được gọi là các Thái dương Thiên Thần (hay Agnishvattas).
38. From another perspective, the fire (agni) of the Agnishvattas is not always solar fire.
38. Từ một góc nhìn khác, lửa (agni) của các Agnishvattas không phải lúc nào cũng là lửa thái dương.
39. We are told that the Fifth Creative Hierarchy is dual. Does this duality consist of the devas of the higher mental plane and those of the lower mental plane?
39. Chúng ta được cho biết rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm là kép. Nhị nguyên tính này có phải gồm các thiên thần của Cõi thượng trí và những vị của cõi hạ trí không?
40. We cannot, however, call the devas of concrete mental fire “returning Nirvanis”.
40. Tuy nhiên, chúng ta không thể gọi các thiên thần của lửa trí tuệ cụ thể là “các nirvani hồi quy”.
a. The solar aspect is attracted towards Buddhi.
a. Phương diện thái dương bị thu hút về phía Bồ đề.
41. We are speaking of the solar aspect of mind or “solar fire”.
41. Chúng ta đang nói về phương diện thái dương của trí tuệ hay “Lửa Thái dương”.
b. The other descends into, or is attracted by the lower animal.
b. Phương diện kia giáng xuống, hay bị thu hút bởi người thú thấp hơn.
42. Here we are speaking of concrete mental fire or lunar fire.
42. Ở đây chúng ta đang nói về lửa trí tuệ cụ thể hay lửa thái âm.
43. There is a close connection between all things lunar and the animal kingdom.
43. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa mọi sự vật thái âm và giới động vật.
c. The Solar Angels form the “Soul” or Second Aspect.
c. Các Thái dương Thiên Thần tạo thành “Linh hồn” hay Phương diện thứ hai.
44. Soul is always present, but what is here referenced is that condition of consciousness characteristic of the higher mental plane.
44. Linh hồn luôn hiện diện, nhưng điều được nhắc đến ở đây là trạng thái tâm thức đặc trưng của Cõi thượng trí.
45. The Solar Angels here concerned are not the lunar Agnishvattas (if such can be said to exist).
45. Các Thái dương Thiên Thần được nói đến ở đây không phải là các Agnishvattas thái âm (nếu có thể nói rằng những vị như thế tồn tại).
d. The chief “Soul” is Manas, or mind.”—S. D., II, 521.
d. “Linh hồn” chủ yếu là Manas, hay trí tuệ.”—S. D., II, 521.
46. There are many forms of “soul”—i.e., many forms of consciousness. HPB is saying that the chief form of consciousness (for man, at least) is that which is qualified by and limited by manas.
46. Có nhiều hình thức của “linh hồn”—tức nhiều hình thức của tâm thức. HPB đang nói rằng hình thức tâm thức chủ yếu (ít nhất đối với con người) là hình thức được phẩm định bởi và bị giới hạn bởi manas.
This is the basis of the danger to man in tampering with these forces. He is too close to them in many ways; he identifies himself with them and until [Page 622] he has attained the consciousness of the Ego, and has with full knowledge established his identity with the Spirit aspect and not with substance, he is liable to be swept into the line of blind force, and become a lost soul should he trespass ignorantly, and curiously, into their domain.
Đây là cơ sở của mối nguy đối với con người khi can thiệp vào các mãnh lực này. Y quá gần với chúng theo nhiều cách; y đồng hoá với chúng, và cho đến khi [Page 622] y đạt được tâm thức của chân ngã, và với tri thức trọn vẹn đã xác lập bản sắc của mình với phương diện tinh thần chứ không phải với chất liệu, y có thể bị cuốn vào con đường của mãnh lực mù quáng, và trở thành một linh hồn lạc mất nếu y xâm phạm một cách vô minh và tò mò vào lĩnh vực của chúng.
47. Here is a potent warning. We see that the danger discussed lifts when the level of man’s identification changes and his normal consciousness becomes that of the Ego on the systemic higher mental plane.
47. Đây là một lời cảnh báo mạnh mẽ. Chúng ta thấy rằng mối nguy được bàn đến sẽ được nâng khỏi khi cấp độ đồng hoá của con người thay đổi và tâm thức bình thường của y trở thành tâm thức của chân ngã trên Cõi thượng trí của hệ thống.
48. Some have wondered how the fate of “lost soul” may befall. Here we learn that it is not only selfishness which may lead to this dire consequence, but foolish tampering with forces which cannot yet be controlled by man who is not egoically polarized.
48. Một số người đã tự hỏi số phận của “linh hồn lạc mất” có thể xảy đến như thế nào. Ở đây chúng ta biết rằng không chỉ tính ích kỷ mới có thể dẫn đến hậu quả khủng khiếp này, mà còn cả sự can thiệp ngu xuẩn vào những mãnh lực mà con người chưa phân cực chân ngã vẫn chưa thể kiểm soát.
49. An important point emerges: that with which we identify has power over us. When we disidentify from it, the power subsides.
49. Một điểm quan trọng nổi lên: điều mà chúng ta đồng hoá với có quyền lực trên chúng ta. Khi chúng ta thôi đồng hoá với nó, quyền lực ấy lắng xuống.
50. Man is other than the devas which express the dense physical body of the Solar Logos. He must realize this factually before it is safe for him to deal directly with these lower energies and forces.
50. Con người là khác với các thiên thần biểu lộ thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Y phải nhận ra sự kiện này một cách thực tế trước khi việc trực tiếp đề cập đến các năng lượng và mãnh lực thấp này trở nên an toàn đối với y.
He is concerned also with those devas who are as yet animated by the life and purpose which distinguished the evolution of the first solar system.
Y cũng liên hệ với những thiên thần mà cho đến nay vẫn được sinh động bởi sự sống và mục đích vốn phân biệt sự tiến hoá của hệ mặt trời thứ nhất.
51. The powers of the past are still, with respect to man, overpowering. Humanity is still subject to patterns and purposes which should have been outlived—probably in the first solar system. It is not yet ascertained whether human tendencies from the first solar system were Plan-intended to be transferred to this solar system.
51. Các quyền năng của quá khứ vẫn còn, đối với con người, áp đảo. Nhân loại vẫn còn chịu phục tùng những mô hình và mục đích lẽ ra đã phải được vượt qua—có lẽ trong hệ mặt trời thứ nhất. Vẫn chưa xác định được liệu các khuynh hướng nhân loại từ hệ mặt trời thứ nhất có được Thiên Cơ chủ định chuyển sang hệ mặt trời này hay không.
That life is the life of God, and that purpose is the working out of His will, but it is evil from our present standpoint, for it is superseded as far as man is concerned by a different purpose and goal.
Sự sống ấy là sự sống của Thượng đế, và mục đích ấy là sự triển khai ý chí của Ngài, nhưng từ quan điểm hiện tại của chúng ta, nó là điều ác, vì đối với con người nó đã bị thay thế bởi một mục đích và cứu cánh khác.
52. Evil is always related to an identification with the past. God (the Solar Logos) has had a number of incarnations as a Solar Logos. To be unduly influenced by His own agenda in the previous solar system cannot help but mean identification with what, from the perspective of our present solar system, must be considered evil.
52. Điều ác luôn liên hệ với sự đồng hoá với quá khứ. Thượng đế (Thái dương Thượng đế) đã có một số lần lâm phàm với tư cách một Thái dương Thượng đế. Việc bị ảnh hưởng quá mức bởi chính chương trình nghị sự của Ngài trong hệ mặt trời trước không thể không có nghĩa là đồng hoá với điều mà, từ quan điểm của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta, phải được xem là điều ác.
Therefore, identification with that which is past, retrogression and the methods of the old are for a man a return along the path of self-conscious evolution,
Vìthế, sự đồng hoá với điều thuộc về quá khứ, sự thoái bộ và các phương pháp cũ, đối với con người là một sự quay trở lại trên con đường tiến hoá ngã thức,
53. This means that man, who should be emerging into group consciousness, would (if treading the path of evil) re-identify with egoist consciousness, thus allowing himself to be motivated by first solar system influences and objectives.
53. Điều này có nghĩa là con người, lẽ ra phải đang xuất hiện vào tâm thức nhóm, sẽ (nếu bước trên con đường ác) tái đồng hoá với tâm thức vị kỷ, nhờ đó để cho mình bị thúc đẩy bởi các ảnh hưởng và mục tiêu của hệ mặt trời thứ nhất.
and lead eventually to a loss of the egoic principle, or of ego-ism, which distinguishes a man (human or heavenly) from the rest of evolution.
và cuối cùng dẫn đến sự mất đi nguyên khí chân ngã, hay tính ngã, vốn phân biệt một con người (nhân loại hay thiên giới) với phần còn lại của tiến hoá.
54. An identification with lower ego (which is not true Ego) will result in the animalization of human consciousness. This will ultimately mean a dissociation from the Solar Angel and, thus, a loss of inspiration from that spiritual source higher than the human personality. Man would again become the plaything of the lunar lords and would fail to establish himself within the solar consciousness.
54. Sự đồng hoá với phàm ngã thấp (không phải là chân ngã đích thực) sẽ dẫn đến sự thú tính hóa tâm thức con người. Điều này rốt cuộc sẽ có nghĩa là sự phân ly khỏi Thái dương Thiên Thần và do đó là mất đi cảm hứng từ nguồn tinh thần cao hơn phàm ngã nhân loại ấy. Con người sẽ lại trở thành món đồ chơi của các nguyệt tinh quân và sẽ không thiết lập được chính mình trong tâm thức thái dương.
The Second Statement. The hope for the devas and for the form aspect lies in the fact that each of the subplanes of the cosmic physical plane comes under the direct influence of cosmic forces, originating on the six other cosmic planes.
Phát biểu thứ hai. Niềm hy vọng cho các thiên thần và cho phương diện hình tướng nằm ở sự kiện rằng mỗi cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của các mãnh lực vũ trụ, phát sinh trên sáu cõi vũ trụ khác.
55. This is quite an amazing statement. In effect we are being told that redemption comes from the six cosmic planes ‘higher’ than the cosmic physical plane.
55. Đây là một phát biểu thật đáng kinh ngạc. Thực chất, chúng ta đang được cho biết rằng sự cứu chuộc đến từ sáu cõi vũ trụ “cao hơn” cõi hồng trần vũ trụ.
56. We are also being told that each of the systemic planes (the subplanes of the cosmic physical plane) is under the direct influence of one of the higher cosmic planes.
56. Chúng ta cũng được cho biết rằng mỗi cõi của hệ thống (các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ) đều nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của một trong các cõi vũ trụ cao hơn.
57. This will mean the following:
57. Điều này sẽ có nghĩa như sau:
a. The systemic astral plane will be under the direct influence of the cosmic astral plane.
a. Cõi cảm dục của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi cảm dục vũ trụ.
b. The systemic mental plane will be under the direct influence of the cosmic mental plane.
b. Cõi trí của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi trí vũ trụ.
c. The systemic buddhic plane will be under the direct influence of the cosmic buddhic plane.
c. Cõi Bồ đề của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi Bồ đề vũ trụ.
d. The systemic atmic plane will be under the direct influence of the cosmic atmic plane.
d. Cõi atma của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi atma vũ trụ.
e. The systemic monadic plane will be under the direct influence of the cosmic monadic plane.
e. Cõi chân thần của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi chân thần vũ trụ.
f. The systemic logoic plane will be under the direct influence of the cosmic logoic plane.
f. Cõi logoic của hệ thống sẽ nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của cõi logoic vũ trụ.
58. The means of this transmission or direct influence must remain mysterious to us as we know little of the originating sources on the higher cosmic planes. We simply grasp the fact of the analogy.
58. Phương tiện của sự truyền dẫn hay ảnh hưởng trực tiếp này phải vẫn còn là điều huyền nhiệm đối với chúng ta vì chúng ta biết rất ít về các nguồn phát sinh trên các cõi vũ trụ cao hơn. Chúng ta chỉ đơn giản nắm được sự kiện của phép loại suy.
Of these forces everything is unknown and inconceivable, except the vague and general indications of these currents and forces as they may be felt as emanating from the cosmic planes.
Về các mãnh lực này, mọi sự đều không được biết đến và không thể quan niệm nổi, ngoại trừ những chỉ dẫn mơ hồ và tổng quát về các dòng và mãnh lực này khi chúng có thể được cảm nhận như phát ra từ các cõi vũ trụ.
54. Chart V in TCF gives us some idea of the kinds of Beings which can be found on various of the cosmic planes, but of Their true nature we really know nothing.
54. Biểu đồ V trong Luận về Lửa Vũ Trụ cho chúng ta một vài ý niệm về những loại Hữu thể có thể được tìm thấy trên các cõi vũ trụ khác nhau, nhưng về bản chất đích thực của Các Ngài thì chúng ta thực sự không biết gì cả.
55. Such Beings as the Solar Logos expressing through His causal body; the Logoi of the Pleiades; the Logoi Who are the Seven Rishis of the Great Bear; and Logoi of far greater scope and power are the ‘Residents’ of these higher cosmic planes.
55. Những Hữu thể như Thái dương Thượng đế biểu lộ qua thể nguyên nhân của Ngài; các Thượng đế của chòm Pleiades; các Thượng đế là Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh; và các Thượng đế có phạm vi và quyền năng lớn lao hơn nhiều là những “Cư dân” của các cõi vũ trụ cao hơn này.
The cosmic mental plane. This manifests for us in the three types of force to be seen on the systemic mental plane. These three types have not been sufficiently studied, and are:
Cõi trí vũ trụ. Điều này biểu hiện đối với chúng ta trong ba loại mãnh lực được thấy trên cõi trí của hệ thống. Ba loại này chưa được nghiên cứu đầy đủ, và là:
56. That which we find manifesting on the systemic mental plane has its origins, we are told, on the cosmic mental plane. We are not yet told on what level or levels of the cosmic mental plane.
56. Điều mà chúng ta thấy biểu hiện trên cõi trí của hệ thống, như được cho biết, có nguồn gốc trên cõi trí vũ trụ. Chúng ta chưa được cho biết ở cấp độ hay các cấp độ nào của cõi trí vũ trụ.
a. The force which plays through all the manasic permanent atoms, and which produces basically that manifestation which we call the three worlds.
a. Mãnh lực vận hành xuyên qua tất cả các nguyên tử trường tồn manas, và về căn bản tạo ra sự biểu hiện mà chúng ta gọi là ba cõi giới.
57. It is suggested that the manasic permanent atom on the first subplane of the systemic mental plane is the source of all manifestation in the three worlds. This makes sense when we realize the importance of the manasic permanent atom in the creation of the egoic lotus. The ray of the manasic permanent atom and the ray of the causal body or egoic lotus are the same. (cf. EPI, 168-169)
57. Người ta gợi ý rằng nguyên tử trường tồn manas trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí của hệ thống là nguồn của mọi biểu hiện trong ba cõi giới. Điều này hợp lý khi chúng ta nhận ra tầm quan trọng của nguyên tử trường tồn manas trong việc tạo ra Hoa Sen Chân Ngã. Cung của nguyên tử trường tồn manas và cung của thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã là như nhau. (xem EPI, 168-169)
b. The force which animates those groups of “lotuses” [Page 623] which we call egoic groups or centres-aggregations of causal bodies.
b. Mãnh lực làm sinh động những nhóm “hoa sen” ấy [Page 623] mà chúng ta gọi là các nhóm chân ngã hay các trung tâm—những tập hợp của các thể nguyên nhân.
58. Groups of causal bodies or egoic lotuses are also “lotuses”.
58. Các nhóm thể nguyên nhân hay các Hoa Sen Chân Ngã cũng là những “hoa sen”.
59. It would be of great interest to understand the modus operandi by which lesser lotuses combine to become still greater lotuses.
59. Sẽ rất đáng quan tâm nếu hiểu được phương thức hoạt động nhờ đó những hoa sen nhỏ hơn kết hợp để trở thành những hoa sen còn lớn hơn nữa.
c. The force which vitalises all the mental units and which is distributed thence to all the other permanent atoms.
c. Mãnh lực tiếp sinh lực cho tất cả các đơn vị hạ trí và từ đó được phân phối đến tất cả các nguyên tử trường tồn khác.
56. Even the force animating the mental units of the systemic mental plane originates from the cosmic mental plane.
56. Ngay cả mãnh lực làm sinh động các đơn vị hạ trí của cõi trí của hệ thống cũng phát sinh từ cõi trí vũ trụ.
57. It has yet to be established whether mental units are always found present in the development of the different types of “men”—human, heavenly and solar. The indications point to the existence of a mental unit as part of the equipment of a Solar Logos.
57. Vẫn còn phải xác lập liệu các đơn vị hạ trí có luôn hiện diện trong sự phát triển của các loại “người” khác nhau—nhân loại, thiên giới và thái dương—hay không. Các dấu hiệu cho thấy sự hiện hữu của một đơn vị hạ trí như một phần trong trang bị của một Thái dương Thượng đế.
These three types of force deal with the substance aspect—permanent atoms, causal vehicle, and mental units, and are therefore directly impressing themselves upon the devas who build these forms out of their own substance, and thus develop the divine plan.
Ba loại mãnh lực này liên quan đến phương diện chất liệu—các nguyên tử trường tồn, vận cụ nguyên nhân, và các đơn vị hạ trí, và do đó trực tiếp in dấu chính mình lên các thiên thần xây dựng các hình tướng này từ chính chất liệu của họ, và như thế phát triển Thiên Cơ.
60. We are considering both forces and forms, even though forms are really aggregates of forces.
60. Chúng ta đang xem xét cả mãnh lực lẫn hình tướng, dù hình tướng thực ra là những tập hợp của các mãnh lực.
61. The source (as here discussed) of the three forces we are considering is the cosmic mental plane. That cosmic mental forces naturally become attenuated as they ‘descend’ onto lower planes. These forces and their attenuations impress themselves upon the devas who build the manasic permanent atoms, the causal bodies and the mental units out of their own substance.
61. Nguồn gốc (như được bàn ở đây) của ba mãnh lực mà chúng ta đang xem xét là cõi trí vũ trụ. Các mãnh lực trí tuệ vũ trụ ấy tự nhiên trở nên suy giảm khi chúng “giáng xuống” các cõi thấp hơn. Các mãnh lực này và những sự suy giảm của chúng in dấu chính mình lên các thiên thần xây dựng các nguyên tử trường tồn manas, các thể nguyên nhân và các đơn vị hạ trí từ chính chất liệu của họ.
These three types of force affect substance, but with a psychic intent, being themselves swayed and actuated according to divine purpose, and from high levels.
Ba loại mãnh lực này tác động đến chất liệu, nhưng với một ý hướng thông linh, vì bản thân chúng được chi phối và thúc đẩy theo mục đích thiêng liêng, và từ các cấp độ cao.
62. It is clear that when DK is speaking of the “three types of force” He means not the very highest cosmic forces, but the systemic attenuations of cosmic forces which are directly responsible for building the forms of the three structures we have been considering—mental permanent atoms, causal bodies, and mental units.
62. Rõ ràng là khi Chân sư DK nói về “ba loại mãnh lực”, Ngài không có ý nói đến những mãnh lực vũ trụ cao nhất, mà là những sự suy giảm ở cấp hệ thống của các mãnh lực vũ trụ trực tiếp chịu trách nhiệm xây dựng các hình tướng của ba cấu trúc mà chúng ta đang xem xét—các nguyên tử trường tồn trí tuệ, các thể nguyên nhân, và các đơn vị hạ trí.
63. The term “psychic intent”, as here used, means that the descending forces are divinely, cosmically purposeful.
63. Thuật ngữ “ý hướng thông linh”, như được dùng ở đây, có nghĩa là các mãnh lực giáng xuống mang tính mục đích thiêng liêng, vũ trụ.
They emanate from the concrete levels of the cosmic mental plane (being therefore the force flowing through the mental unit of the Logos), and are concerned with the force centre which focalises the logoic mental body.
Chúng phát ra từ các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ (do đó là mãnh lực chảy qua đơn vị hạ trí của Thượng đế), và liên hệ với trung tâm mãnh lực tiêu điểm hóa thể trí của Thượng đế.
64. Here the analogy between the forces of the cosmic mental plane and those of the systemic mental plane seems to break down. One would expect that the forces which build the systemic egoic lotuses would emanate from the egoic lotus of the Solar Logos and that the forces building systemic mental permanent atoms would emanate from the very highest levels of the cosmic mental plane, those on which the solar logoic manasic permanent atom would be found.
64. Ở đây phép loại suy giữa các mãnh lực của cõi trí vũ trụ và những mãnh lực của cõi trí của hệ thống dường như bị đứt đoạn. Người ta hẳn sẽ mong đợi rằng các mãnh lực xây dựng các Hoa Sen Chân Ngã của hệ thống sẽ phát ra từ Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế và rằng các mãnh lực xây dựng các nguyên tử trường tồn trí tuệ của hệ thống sẽ phát ra từ những cấp độ cao nhất của cõi trí vũ trụ, những cấp độ mà trên đó nguyên tử trường tồn manas logoic thái dương sẽ được tìm thấy.
65. In fact, however(at least at this point in the text), we are told that all these forces which eventually appear on the systemic mental plane emanate from the concrete levels of the cosmic mental plane.
65. Tuy nhiên, trên thực tế (ít nhất ở điểm này trong bản văn), chúng ta được cho biết rằng tất cả các mãnh lực này cuối cùng xuất hiện trên cõi trí của hệ thống đều phát ra từ các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ.
66. Later, it will be indicated that the concrete levels of the cosmic mental plane are not the ultimate source of these forces.
66. Về sau, sẽ có chỉ dẫn rằng các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ không phải là nguồn tối hậu của các mãnh lực này.
67. There are force centers which focalize the logoic mental body. These centers many be considered the mental aspects of certain of the Planetary Logoi.
67. Có những trung tâm mãnh lực tiêu điểm hóa thể trí của Thượng đế. Các trung tâm này có thể được xem là các phương diện trí tuệ của một số Hành Tinh Thượng Đế.
68. Even though the three types of cosmic forces which eventually impress and condition the systemic mental plane, may emanate from the mental unit of the Solar Logos, it is conceivable that two of the forces originated on the higher levels of the cosmic mental plane before focusing within the solar logoic mental unit. Later text seems to bear this out.
68. Dù ba loại mãnh lực vũ trụ cuối cùng in dấu và tác động lên cõi trí của hệ thống có thể phát ra từ đơn vị hạ trí của Thái dương Thượng đế, vẫn có thể hình dung rằng hai trong các mãnh lực ấy đã phát sinh trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ trước khi hội tụ trong đơn vị hạ trí logoic thái dương. Bản văn về sau dường như xác nhận điều này.
They are the force of Agni in His first aspect.
Chúng là mãnh lực của Agni trong phương diện thứ nhất của Ngài.
69. This statement implies that Agni has a second and third aspect, for the effects of which we must be watchful.
69. Phát biểu này hàm ý rằng Agni có phương diện thứ hai và thứ ba, mà các hiệu quả của chúng ta phải lưu tâm theo dõi.
70. We can see that first ray force enters the systemic mental plane via the cosmic mental unit on the concrete levels of the cosmic mental plane.
70. Chúng ta có thể thấy rằng mãnh lực cung một đi vào cõi trí của hệ thống qua đơn vị hạ trí vũ trụ trên các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ.
71. We remind ourselves that the mind is ever the conveyor of the first aspect. The first and third aspects are really inseparable.
71. Chúng ta tự nhắc mình rằng trí tuệ luôn là kẻ chuyển tải phương diện thứ nhất. Phương diện thứ nhất và thứ ba thực ra không thể tách rời.
He is that fire which is distinctive of the cosmic mental plane,
Ngài là ngọn lửa đặc trưng của cõi trí vũ trụ,
72. Here is it not specified whether Agni is the fire distinctive of all levels of the cosmic mental plane. In other references Agni seems to be the entire personality of the Solar Logos which embraces the eighteen lowest cosmic subplanes. If this is the case (i.e., if Lord Agni is another name of the solar logoic personality), His jurisdiction would extend no higher than the concrete levels of the cosmic mental plane.
72. Ở đây không xác định liệu Agni có phải là lửa đặc trưng của mọi cấp độ của cõi trí vũ trụ hay không. Trong những chỗ tham chiếu khác, Agni dường như là toàn bộ phàm ngã của Thái dương Thượng đế, bao trùm mười tám cõi phụ thấp nhất của vũ trụ. Nếu đúng như vậy (tức là nếu Chúa Agni là một tên gọi khác của phàm ngã thái dương logoic), thì phạm vi cai quản của Ngài sẽ không vươn cao hơn các cấp độ trí cụ thể của cõi trí vũ trụ.
73. Yet, what shall we call that Being Who is the Fire of the higher levels of the cosmic mental plane? Is such cosmic higher mental fire an aspect of the energy of Cosmic Vishnu? Or as later suggested, shall the name “Surya” be applied?
73. Tuy nhiên, chúng ta sẽ gọi Đấng là Lửa của các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ ấy là gì? Lửa thượng trí vũ trụ như thế có phải là một phương diện của năng lượng của Vishnu Vũ Trụ không? Hay như được gợi ý về sau, có nên dùng tên “Surya” chăng?
reflected in the cosmic gaseous subplane of the cosmic physical plane—our systemic mental plane.
được phản chiếu trong cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ—cõi trí hệ thống của chúng ta.
58. It is always helpful to remember the equivalence between the gaseous and mental states.
58. Luôn luôn hữu ích khi ghi nhớ sự tương đương giữa trạng thái khí và trạng thái trí tuệ.
59. Perhaps we can say that the energy of Agni is most distinctive of the cosmic mental plane (especially its lower levels) but that it includes the demonstrations of devic fire on the cosmic astral plane and the cosmic physical plane.
59. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng năng lượng của Agni là năng lượng đặc trưng nhất của cõi trí vũ trụ (đặc biệt là các cấp độ thấp của nó), nhưng nó cũng bao gồm những biểu hiện của lửa thiên thần trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi hồng trần vũ trụ.
The Cosmic Astral Plane. The force from this plane plays through our systemic astral plane, the cosmic liquid physical sub-plane, and it is practically subject only to two differentiations, each of them occultly embodied in two great groups of devas:
Cõi Cảm Dục Vũ Trụ. Mãnh lực từ cõi này vận hành xuyên qua cõi cảm dục hệ thống của chúng ta, tức cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ, và trên thực tế nó chỉ chịu hai loại biến phân khác nhau, mỗi loại trong đó hầu như chỉ chịu hai loại biến phân, mỗi loại đều được hiện thân một cách huyền bí trong hai nhóm thiên thần lớn:
60. The differentiation about to be made is most significant and occult.
60. Sự biến phân sắp được nêu ra là điều hết sức quan trọng và huyền bí.
First. The devas who are the substance or force of the astral plane, viewing it as the sumtotal of desire, of feeling and of sensation.
Thứ nhất. Các thiên thần là chất liệu hay mãnh lực của cõi cảm dục, xét nó như tổng thể của dục vọng, cảm xúc và cảm giác.
61. Three words are given which characterize astral force:
61. Ba từ được nêu ra để đặc trưng cho mãnh lực cảm dục:
a. Desire
a. Dục vọng
b. Feeling
b. Cảm xúc
c. Sensation
c. Cảm giác
They are, therefore, the nerve centers, or nerve plexi, of the logoic physical body, for the systemic astral plane provides the nervous system of the logoic physical body.
Vì vậy, chúng là các trung tâm thần kinh, hay các đám rối thần kinh, của thể hồng trần logoic, vì cõi cảm dục hệ thống cung cấp hệ thần kinh cho thể hồng trần logoic.
62. We must remember that the logoic dense physical body consists of the lower twenty-one subplanes.
62. Chúng ta phải nhớ rằng thể hồng trần đậm đặc logoic gồm hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn.
63. Within these subplanes, the astral devas are to be considered nerve centers or nerve plexi.
63. Trong các cõi phụ này, các thiên thần cảm dục phải được xem như các trung tâm thần kinh hay các đám rối thần kinh.
64. These astral devas are, from the logoic standpoint, densely physical. They are not etheric. When thinking of the analogy which DK here proposes, we must remember this.
64. Từ quan điểm logoic, các thiên thần cảm dục này thuộc hồng trần đậm đặc. Chúng không phải là dĩ thái. Khi suy nghĩ về phép loại suy mà Chân sư DK đề nghị ở đây, chúng ta phải nhớ điều này.
65. For the human being, the nervous system is dense and the nadis are etheric. Within the lower twenty-one subplanes, nothing corresponding to the nadis are to be found; logoically, we must enter the cosmic ethers to found the higher correspondences to the etheric nadis in the human being.
65. Đối với con người, hệ thần kinh là đậm đặc còn các nadis là dĩ thái. Trong hai mươi mốt cõi phụ thấp hơn, không có gì tương ứng với các nadis; về mặt logoic, chúng ta phải đi vào các dĩ thái vũ trụ mới tìm được những tương ứng cao hơn với các nadis dĩ thái nơi con người.
66. We may consider the astral devas as related to logoic responsiveness—the sensitive responsiveness of the logoic nervous system.
66. Chúng ta có thể xem các thiên thần cảm dục là có liên hệ với tính đáp ứng—đáp ứng nhạy cảm của hệ thần kinh logoic.
It is the body of intensest vibration from the physical standpoint,
Đó là thể có rung động mãnh liệt nhất từ quan điểm hồng trần,
67. I.e., from the standpoint of the logoic physical body.
67. tức là từ quan điểm của thể hồng trần logoic.
68. In our astral-buddhic solar system, the solar logoic astral body is, temporarily, the Logos’ most potent personality vehicle.
68. Trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta, thể cảm dục thái dương logoic hiện đang tạm thời là vận cụ phàm ngã mạnh mẽ nhất của Logos.
and the vehicle through which all is transmitted to that portion of the logoic physical body which corresponds to the brain [Page 624] in man.
và là vận cụ qua đó mọi sự được truyền đến phần của thể hồng trần logoic tương ứng với bộ não [Page 624] nơi con người.
69. When thinking of the logoic physical body (its dense aspect), we may imagine that the logoic dense brain is to be found on what we call the systemic mental plane.
69. Khi suy nghĩ về thể hồng trần logoic (ở phương diện đậm đặc của nó), chúng ta có thể hình dung rằng bộ não đậm đặc logoic được tìm thấy trên cái mà chúng ta gọi là cõi trí hệ thống.
70. In man, the nervous system transmits impulses to human brain. We may conceive that the systemic astral devic force is the means of transmission to the dense logoic brain.
70. Ở con người, hệ thần kinh truyền các xung lực đến bộ não con người. Chúng ta có thể quan niệm rằng mãnh lực thiên thần cảm dục hệ thống là phương tiện truyền dẫn đến bộ não logoic đậm đặc.
71. There is also a logoic etheric brain which will be found (if analogy holds) on the cosmic etheric planes.
71. Cũng có một bộ não dĩ thái logoic, và nếu phép loại suy đúng, nó sẽ được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ.
I can elucidate this no further, but the few words here imparted open up a tremendous range of thought, and give the key to much which transpires and which is distressing in solar evolution as well as human.
Tôi không thể làm sáng tỏ điều này thêm nữa, nhưng vài lời được truyền đạt ở đây mở ra một phạm vi tư tưởng vô cùng rộng lớn, và trao chìa khóa cho nhiều điều đang diễn ra và gây đau đớn trong tiến hoá thái dương cũng như tiến hoá nhân loại.
72. The analogies just opened are new to the thought of many.
72. Những phép loại suy vừa được mở ra này còn mới mẻ đối với tư tưởng của nhiều người.
73. When the terms “distress” or “distressing” are used, we may presume that the astral body (whether human, planetary logoic or logoic) is involved.
73. Khi các từ “đau đớn” hay “gây đau đớn” được dùng, chúng ta có thể giả định rằng thể cảm dục (dù là của con người, của Hành Tinh Thượng Đế hay của Logos) có liên quan.
74. Can the distress be related to the intensity of vibration felt within the logoic astral body and maladjustment in the process of transmission of systemic astral impulses to the logoic brain? Much pondering will be required of us.
74. Sự đau đớn ấy có thể liên hệ đến cường độ rung động được cảm nhận trong thể cảm dục logoic và sự điều chỉnh sai lệch trong tiến trình truyền các xung lực cảm dục hệ thống đến bộ não logoic chăng? Điều này đòi hỏi chúng ta phải suy ngẫm rất nhiều.
75. Distress is caused by a lack of balance, and, clearly, the intensity of the logoic astral body is out of balance with the intensity of the Logos’ other vehicles.
75. Sự đau đớn do thiếu quân bình gây ra, và rõ ràng cường độ của thể cảm dục logoic đang mất quân bình với cường độ của các vận cụ khác của Logos.
Second. Those devas who are the sumtotal of the astral light. They are the agents of the karmic lords, who are in themselves deva entities of an inconceivably advanced evolution
Thứ hai. Những thiên thần là tổng thể của ánh sáng cảm dục. Chúng là các tác nhân của các Đấng Nghiệp Quả, mà bản thân các Ngài là những thực thể thiên thần đã tiến hoá đến mức không thể quan niệm nổi
76. It is important to realize that karmic lords are devic.
76. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng các Đấng Nghiệp Quả thuộc giới thiên thần.
77. When, on the Way of Higher Evolution one becomes a karmic lord, one is becoming a higher deva.
77. Khi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, một người trở thành một Đấng Nghiệp Quả, người ấy đang trở thành một thiên thần cao cấp hơn.
78. We recall that the Path of Absolute Sonship leads to the dharma of Lipika Lord. Thus Their inconceivable advancement of which DK speaks.
78. Chúng ta nhớ rằng Con Đường của Quyền Tử Tuyệt Đối dẫn đến dharma của Đấng Lipika. Do đó mới có sự tiến bộ không thể quan niệm nổi mà Chân sư DK nói đến.
79. The responsiveness of those systemic astral devas who embody desire, feeling and sensation is of a lower order than those systemic astral devas who embody the astral light and who are directly responsible to the Karmic Lords.
79. Tính đáp ứng của những thiên thần cảm dục hệ thống hiện thân cho dục vọng, cảm xúc và cảm giác thuộc một trật tự thấp hơn so với những thiên thần cảm dục hệ thống hiện thân cho ánh sáng cảm dục và trực tiếp chịu trách nhiệm trước các Đấng Nghiệp Quả.
80. The distinction being offered is not much discussed and bears much pondering.
80. Sự phân biệt đang được nêu ra này không được bàn đến nhiều và rất đáng để suy ngẫm.
81. Can the difference in these devas be partially related to their sub-planar focus on the systemic astral plane?
81. Sự khác biệt nơi các thiên thần này có thể phần nào liên hệ đến tiêu điểm cõi phụ của chúng trên cõi cảm dục hệ thống chăng?
82. We are discussing the manner in which karma is imposed upon the astral plane through the agency of those systemic astral devas who are the force of the astral light.
82. Chúng ta đang bàn đến cách nghiệp quả được áp đặt lên cõi cảm dục thông qua tác nhân của những thiên thần cảm dục hệ thống là mãnh lực của ánh sáng cảm dục.
83. The term “astral light” is usually used in a number of ways. It sometimes refers to etheric substance.
83. Thuật ngữ “ánh sáng cảm dục” thường được dùng theo nhiều cách. Đôi khi nó chỉ chất liệu dĩ thái.
and who, in their own substance,
và những vị, trong chính chất liệu của mình,
1. Record.
1. Ghi nhận.
2. Produce effects from cause.
2. Tạo ra kết quả từ nguyên nhân.
3. Direct force.
3. Điều hướng mãnh lực.
84. It is the high Karmic Lords Who record, produce effects from cause
84. Chính các Đấng Nghiệp Quả cao cả là những Đấng ghi nhận, tạo ra kết quả từ nguyên nhân
85. We are reminded that desire is such an important force in determining the nature and direction of karma.
85. Chúng ta được nhắc rằng dục vọng là một mãnh lực quan trọng đến thế trong việc quyết định bản chất và phương hướng của nghiệp quả.
86. DK is speaking of three powers of high Karmic Lords emanating from Sirius. These Lords of Karma work through the lower devas of the astral light, producing, may we say, the ‘images of fate’.
86. Chân sư DK đang nói về ba quyền năng của các Đấng Nghiệp Quả cao cả phát xuất từ Sirius. Các Đấng Nghiệp Quả này hoạt động thông qua các thiên thần thấp hơn của ánh sáng cảm dục, tạo ra, có thể nói, những “hình ảnh của số mệnh”.
87. The substance of the devas of the astral light is an extension of the substance of the great Deva Lords.
87. Chất liệu của các thiên thần của ánh sáng cảm dục là một sự mở rộng của chất liệu của các Chúa Tể Thiên Thần Vĩ Đại.
This particular group of devas emanate from a great force centre which we generalise by calling it by the name of the sun Sirius.
Nhóm thiên thần đặc biệt này phát xuất từ một trung tâm mãnh lực lớn mà chúng ta khái quát hóa bằng cách gọi nó bằng tên mặt trời Sirius.
88. This is a very peculiar statement. In these commentaries we have sometimes spoken of the Cosmic Logos Who is Lord of the Sirian System, in which the Logos of the star Sirius is simply a participant (one of seven major participating Solar Logoi). Could DK be hinting at the existence of the Logos of the “Seven Solar Systems of Which Ours is One” and saying that we generalize this Cosmic Logos and His system under the name “Sirius”?
88. Đây là một phát biểu rất đặc biệt. Trong các phần bình giải này, đôi khi chúng ta đã nói đến Đấng Logos Vũ Trụ là Chúa Tể của Hệ Sirius, trong đó Logos của ngôi sao Sirius chỉ đơn giản là một thành phần tham dự (một trong bảy Thái dương Thượng đế lớn tham dự). Phải chăng Chân sư DK đang ám chỉ sự hiện hữu của Logos của “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một”, và nói rằng chúng ta khái quát hóa Logos Vũ Trụ này cùng hệ của Ngài dưới tên gọi “Sirius”?
Sirius-kama-manas—the cosmic astral plane—and the systemic astral plane—make a close interlocking chain, and form the line of least resistance for a particular type of negative force to pour through.
Sirius-kama-manas—cõi cảm dục vũ trụ—và cõi cảm dục hệ thống—tạo thành một chuỗi móc nối chặt chẽ, và hình thành con đường ít trở ngại nhất để một loại mãnh lực âm đặc biệt tuôn qua.
89. Why negative? By this term do we mean “feminine”? Or are we referring to true cosmic negativity, since the real Black Lodge is focussed on the cosmic astral plane?
89. Tại sao lại là âm? Với thuật ngữ này, chúng ta có ý nói “nữ tính” chăng? Hay chúng ta đang nói đến tính âm vũ trụ đích thực, vì Hắc đoàn thực sự được tập trung trên cõi cảm dục vũ trụ?
90. The factors listed are as follows:
90. Các yếu tố được liệt kê như sau:
a. Sirius
a. Sirius
b. Kama-manas
b. Kama-manas
c. The cosmic astral plane
c. Cõi cảm dục vũ trụ
d. The systemic astral plane
d. Cõi cảm dục hệ thống
91. We see that for all its association with manas, Sirius is also closely associated with kama-manas and with astrality. This is fitting as, within the listing of the three great constellations, Sirius is placed in relation to the second divine aspect and the destination of those Monads who tread their ay to Sirius is he cosmic astral plane.
91. Chúng ta thấy rằng, dù có liên hệ với manas, Sirius cũng liên hệ chặt chẽ với kama-manas và với tính cảm dục. Điều này là thích hợp vì, trong danh sách ba chòm sao lớn, Sirius được đặt trong tương quan với phương diện thiêng liêng thứ hai và đích đến của những chân thần bước đi trên con đường đến Sirius là cõi cảm dục vũ trụ.
92. Further, if the Sirian System is really the solar plexus center of our local “One About Whom Naught May Be Said”, we can understand the close association of the Logos of the Sirian System with kama-manas.
92. Hơn nữa, nếu Hệ Sirius thực sự là trung tâm tùng thái dương của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” cục bộ của chúng ta, thì chúng ta có thể hiểu được mối liên hệ chặt chẽ của Logos của Hệ Sirius với kama-manas.
93. Perhaps the star Sirius, itself, is less kama-manasic than the entire sevenfold system “which we generalise by calling it by the name of the sun Sirius”.
93. Có lẽ bản thân ngôi sao Sirius ít mang tính trí-cảm hơn toàn bộ hệ thất phân “mà chúng ta khái quát hóa bằng cách gọi nó bằng tên mặt trời Sirius”.
The Cosmic Physical Plane. This is the force (external and internal) of the solar system itself, and of its environing space.
Cõi Hồng Trần Vũ Trụ. Đây là mãnh lực (bên ngoài và bên trong) của chính hệ mặt trời, và của không gian bao quanh nó.
94. The cosmic etheric part of the cosmic physical plane is the “internal” force. The force of the dense aspect of the cosmic physical plane is the external force.
94. Phần dĩ thái vũ trụ của cõi hồng trần vũ trụ là mãnh lực “bên trong”. Mãnh lực của phương diện đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ là mãnh lực bên ngoài.
95. Our solar system, per se, does not extend beyond the cosmic physical plane.
95. Chính hệ mặt trời của chúng ta không vượt ra ngoài cõi hồng trần vũ trụ.
It might be regarded as the pranic forces, pouring through the logoic etheric body (our four higher subplanes) which are positive to the lower three, impregnating these lower three planes (a reflection in substance, or in the Brahma aspect, of the union of Father-Mother) and producing the purely concrete manifestation.
Nó có thể được xem như các mãnh lực prana tuôn qua thể dĩ thái logoic (bốn cõi phụ cao hơn của chúng ta), vốn dương đối với ba cõi thấp hơn, thấm nhập ba cõi thấp này (một sự phản chiếu trong chất liệu, hay trong phương diện Brahma, của sự hợp nhất giữa Cha-Mẹ) và tạo ra biểu hiện thuần túy cụ thể.
96. Cosmic prana is not to be considered “purely concrete”.
96. Prana vũ trụ không nên được xem là “thuần túy cụ thể”.
97. The “purely concrete manifestation” is a kind of “Son” in lower or Brahmic substance.
97. “Biểu hiện thuần túy cụ thể” là một loại “Con” trong chất liệu thấp hơn hay chất liệu Brahma.
98. Prana is always positive to that which is a purely concrete manifestation.
98. Prana luôn luôn dương đối với cái là biểu hiện thuần túy cụ thể.
99. It is implied that the true solar system is etheric and that is force is pranic force. The dense physical body of the Solar Logos is simply an aggregated reflection of higher principles.
99. Ở đây hàm ý rằng hệ mặt trời đích thực là dĩ thái và mãnh lực của nó là mãnh lực prana. Thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế chỉ đơn giản là một phản chiếu kết tập của các nguyên khí cao hơn.
This is why the physical vehicle has such control during long stages of man's evolution, for the force of this type of energy is necessarily felt more strongly than any other.
Đó là lý do vì sao vận cụ hồng trần có quyền kiểm soát mạnh mẽ như vậy trong những giai đoạn dài của tiến hoá con người, vì mãnh lực của loại năng lượng này tất yếu được cảm nhận mạnh hơn bất kỳ loại nào khác.
100. That which is concrete is of long duration. That which is most identified with the third aspect of divinity endures for a longer period than that which identified with the second or first aspects of divinity.
100. Cái gì cụ thể thì có thời lượng lâu dài. Cái gì đồng hoá nhiều nhất với phương diện thứ ba của thiên tính thì tồn tại lâu hơn cái đồng hoá với phương diện thứ hai hay thứ nhất của thiên tính.
101. This type of concrete force is the matter-substance in which man’s consciousness is primarily (though temporarily) focussed.
101. Loại mãnh lực cụ thể này là chất liệu-vật chất trong đó tâm thức của con người trước hết được tập trung vào (dù chỉ là tạm thời).
102. Eventually towards the more spiritual arc of his career in consciousness, man outgrows this focus within the logoic concrete manifestation.
102. Cuối cùng, khi tiến về cung đi lên tinh thần hơn trong hành trình tâm thức của mình, con người vượt khỏi tiêu điểm này trong biểu hiện cụ thể logoic.
It is deva force, and substance, which is so close to us as powerfully to delude us.
Chính mãnh lực thiên thần và chất liệu thiên thần gần gũi với chúng ta đến mức có thể đánh lừa chúng ta một cách mạnh mẽ.
103. In relation to that which is very close to us, we have little objectivity. That which we cannot see objectively and understand, can delude. The main delusion is that such matter-substance seems more important than it really is. Essentially, and from the perspective of the principles which are under development in this second solar system, this lower type of deva force or substance is un-real.
103. Đối với điều gì quá gần gũi với chúng ta, chúng ta có rất ít tính khách quan. Điều gì chúng ta không thể thấy một cách khách quan và thấu hiểu thì có thể đánh lừa. Sự mê lầm chính là ở chỗ chất liệu-vật chất như thế dường như quan trọng hơn mức nó thực sự là. Về bản chất, và từ góc nhìn của các nguyên khí đang được phát triển trong hệ mặt trời thứ hai này, loại mãnh lực hay chất liệu thiên thần thấp này là không-thực.
Here lies the mystery of maya, and here is to be found the secret of illusion.
Chính ở đây có huyền nhiệm của ảo lực, và ở đây có thể tìm thấy bí mật của ảo tưởng.
104. Maya is a term equivalent to illusion. Maya/illusion is focussed in the dense physical plane of the Solar Logos. This means that even the higher mental plane is a plane of maya/illusion.
104. Ảo lực là một thuật ngữ tương đương với ảo tưởng. Ảo lực/ảo tưởng được tập trung trong cõi hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Điều này có nghĩa là ngay cả cõi thượng trí cũng là một cõi của ảo lực/ảo tưởng.
Here exists for man the first great stage of the battle for full Self-consciousness, and for identification with the God-aspect, and not with the [Page 625] matter-aspect.
Ở đây tồn tại đối với con người giai đoạn lớn đầu tiên của cuộc chiến để đạt ngã thức trọn vẹn, và để đồng hoá với phương diện Thượng đế, chứ không phải với phương diện [Page 625] vật chất.
105. When man can extricate his consciousness from the matter aspect (solar logoically considered) he can (by identifying with the higher aspects of himself) enter the realm of the cosmic ethers and begin to live.
105. Khi con người có thể giải thoát tâm thức của mình khỏi phương diện vật chất (xét theo thái dương logoic), y có thể—bằng cách đồng hoá với các phương diện cao hơn của chính mình—đi vào cõi giới của các dĩ thái vũ trụ và bắt đầu sống.
Here lies the occult reason why man is called by his father's name and not his mother's.
Chính ở đây có lý do huyền bí vì sao con người được gọi bằng tên của cha mình chứ không phải của mẹ mình.
106. This process of naming is sometimes considered arbitrary or purely conventional. It is neither. If man is to fulfill his destiny, he must learn to identify with his “Father” aspect.
106. Tiến trình đặt tên này đôi khi bị xem là tùy tiện hay chỉ thuần túy quy ước. Không phải vậy. Nếu con người muốn hoàn thành định mệnh của mình, y phải học cách đồng hoá với phương diện “Cha” của mình.
When man has dominated the deva essences of the physical plane, he controls next those of the astral and dominates the mental essences.
Khi con người đã chế ngự được các tinh chất hành khí của cõi hồng trần, tiếp theo y kiểm soát các tinh chất của cõi cảm dục và chế ngự các tinh chất trí tuệ.
107. All these dominations occur progressively within the solar logoic dense physical body.
107. Tất cả những sự chế ngự này diễn ra dần dần trong thể hồng trần đậm đặc thái dương logoic.
108. Achieving control is, we see, a gradual and sequential process. Each ascending layer of deva essence is harder to subdue than the previous layer.
108. Như chúng ta thấy, việc đạt được sự kiểm soát là một tiến trình tuần tự và tiệm tiến. Mỗi lớp tinh chất thiên thần đi lên đều khó khuất phục hơn lớp trước đó.
Having achieved this in his own nature he can then safely become a magician and contact, control and work with, the devas in connection with the plans of the Heavenly Man.
Khi đã đạt được điều này trong chính bản chất mình, lúc ấy y có thể an toàn trở thành một nhà huyền thuật và tiếp xúc, kiểm soát, và làm việc với các thiên thần liên hệ đến các kế hoạch của Đấng Thiên Nhân.
109. It is by now a truism that man must learn to control himself (as a microcosm) before he can possibly control devic substance in the wider, environing sphere.
109. Đến nay đã là một chân lý hiển nhiên rằng con người phải học cách kiểm soát chính mình (như một Tiểu thiên địa) trước khi có thể kiểm soát chất liệu thiên thần trong khối cầu rộng lớn bao quanh.
In the realisation of the three types of force, will be found for man the key to the mystery of his centres.
Trong sự chứng nghiệm ba loại mãnh lực, con người sẽ tìm thấy chìa khóa cho huyền nhiệm về các trung tâm của mình.
110. Each center is primarily an expression of one of the three types of force expressing within the logoic dense physical body but originating, of course, on logoic etheric planes and beyond.
110. Mỗi trung tâm trước hết là một biểu hiện của một trong ba loại mãnh lực đang biểu lộ trong thể hồng trần đậm đặc logoic, nhưng dĩ nhiên bắt nguồn trên các cõi dĩ thái logoic và vượt xa hơn nữa.
The secret of the note of the head, the heart, and the throat centre is found here and their blending with the lower centres so that the note of the higher sounds out, and the lower produces only harmony.
Bí mật của âm điệu của trung tâm đầu, trung tâm tim và trung tâm cổ họng nằm ở đây, cùng với sự hòa trộn của chúng với các trung tâm thấp hơn để cho âm điệu của cái cao hơn được xướng lên, còn cái thấp hơn chỉ tạo ra sự hài hòa.
111. We observe that the term “note” is singular rather than plural. Is the note of each of these centers the same or are they different (and does their sounding together produce one, greater composite note)? This is a probability.
111. Chúng ta nhận thấy rằng thuật ngữ “âm điệu” ở số ít chứ không phải số nhiều. Âm điệu của mỗi trung tâm này là giống nhau hay khác nhau (và việc chúng cùng vang lên có tạo ra một âm điệu tổng hợp lớn hơn không)? Đây là một khả năng.
112. The three major centers are the head, heart and throat. These three set the tone (or chord) to which the lower centers must harmoniously respond.
112. Ba trung tâm chính là đầu, tim và cổ họng. Ba trung tâm này đặt ra âm sắc (hay hợp âm) mà các trung tâm thấp hơn phải đáp ứng một cách hài hòa.
113. The higher must blend with the lower but the blending must be harmonious.
113. Cái cao hơn phải hòa trộn với cái thấp hơn, nhưng sự hòa trộn ấy phải hài hòa.
114. The three notes of the three higher centers when sounding together produce a chord. The chord of the lower centers must come to sound in harmony with the higher chord.
114. Ba âm điệu của ba trung tâm cao hơn khi cùng vang lên sẽ tạo thành một hợp âm. Hợp âm của các trung tâm thấp hơn phải trở nên vang lên hài hòa với hợp âm cao hơn.
115. We observe that the note of the three higher centers is a “secret” note. Will each of the centers have a specific note? It would seem so. Perhaps the chord formed through the sounding of these notes is, itself, considered a higher form of note for often notes have many ‘partials’ or subsidiary aspects. A note is not necessarily monochromatic.
115. Chúng ta nhận thấy rằng âm điệu của ba trung tâm cao hơn là một âm điệu “bí mật”. Mỗi trung tâm sẽ có một âm điệu riêng chăng? Có vẻ là như vậy. Có lẽ hợp âm được hình thành qua việc vang lên của các âm điệu này tự nó được xem là một hình thức cao hơn của âm điệu, vì các âm điệu thường có nhiều “thành phần phụ” hay phương diện phụ thuộc. Một âm điệu không nhất thiết là đơn sắc.
116. The note or notes sounding through the three higher centers may be secret because derived from the nature and note of the Monad.
116. Âm điệu hay các âm điệu vang lên qua ba trung tâm cao hơn có thể là bí mật vì chúng bắt nguồn từ bản chất và âm điệu của chân thần.
Upon the note of nature the Logos has to superimpose a higher note.
Trên âm điệu của bản chất, Logos phải chồng thêm một âm điệu cao hơn.
117. The art and science of the superimposition of higher notes upon lower are critical for an understanding of hierarchy, integration and magic.
117. Nghệ thuật và khoa học chồng thêm các âm điệu cao hơn lên các âm điệu thấp hơn là điều thiết yếu để thấu hiểu hệ thống thứ bậc, sự tích hợp và huyền thuật.
118. The “note of nature” is usually considered to be FA, or F, the green note. The Solar Logos has for His soul note the note SOL, the blue note of the second ray.
118. “Âm điệu của bản chất” thường được xem là FA, hay F, âm xanh lục. Thái dương Thượng đế có âm điệu linh hồn là SOL, âm xanh lam của cung hai.
To the natural note of the centre (which is found through the development of the lower centre, which is its reflection or correspondence)
Vào âm điệu tự nhiên của trung tâm (được tìm ra qua sự phát triển của trung tâm thấp hơn, là sự phản chiếu hay tương ứng của nó)
119. Every note has a “natural note”. Perhaps we can call this note the “tonic” or base note.
119. Mỗi âm điệu đều có một “âm điệu tự nhiên”. Có lẽ chúng ta có thể gọi âm điệu này là “âm chủ” hay âm nền.
120. The method of finding the natural note of a higher center is most interesting. It seems that one must work first through a lower (and corresponding) center to find the natural note of the higher center.
120. Phương pháp tìm ra âm điệu tự nhiên của một trung tâm cao hơn là điều hết sức thú vị. Dường như trước hết người ta phải làm việc qua một trung tâm thấp hơn (và tương ứng) để tìm ra âm điệu tự nhiên của trung tâm cao hơn.
121. This is like saying that in order to find the natural note of the heart center one must first work through the solar plexus center. Equally to find the natural note of the throat center one must work through the sacral center. The same would apply in relation to the head center and the base of the spine center. The greater centers are really qualitatively inclusive of their lower corresponding centers.
121. Điều này cũng như nói rằng để tìm ra âm điệu tự nhiên của trung tâm tim, trước hết người ta phải làm việc qua trung tâm tùng thái dương. Tương tự, để tìm ra âm điệu tự nhiên của trung tâm cổ họng, người ta phải làm việc qua trung tâm xương cùng. Điều tương tự cũng áp dụng đối với trung tâm đầu và trung tâm đáy cột sống. Các trung tâm lớn thực sự bao gồm về phẩm tính các trung tâm thấp hơn tương ứng của chúng.
must be added the dominant note of the higher centre, and, in the dual harmony the centre vibrates as desired.
phải được thêm vào âm chủ đạo của trung tâm cao hơn, và trong sự hài hòa kép ấy trung tâm rung động như mong muốn.
122. The term “dominant” is a technical term in music and indicates a note which is a fifth (or five notes—three whole tones and one semi-tone) ‘above’ the tonic or base note.
122. Thuật ngữ “chủ đạo” là một thuật ngữ kỹ thuật trong âm nhạc và chỉ một âm là quãng năm (hay năm nốt—ba cung nguyên và một nửa cung) “cao hơn” âm chủ hay âm nền.
123. In each of the higher centers two notes must sound, the tonic and the dominant. This will produce, when correctly tuned, a perfect fifth which is the musical interval correlated with soul expression.
123. Trong mỗi trung tâm cao hơn, hai âm phải vang lên, âm chủ và âm chủ đạo. Khi được chỉnh đúng, điều này sẽ tạo ra một quãng năm hoàn hảo, là quãng nhạc tương ứng với sự biểu lộ của linh hồn.
124. For a center (especially a higher center, so it seems) to vibrate as desired, two notes (or an interval) must be sounding harmoniously.
124. Để một trung tâm (đặc biệt là một trung tâm cao hơn, dường như vậy) rung động như mong muốn, hai âm (hay một quãng) phải đang vang lên một cách hài hòa.
125. Another way of saying this is that the center must respond to soul energy as well as to its own fundamental energy. The “fundamental” is another way of denoting the tonic or base note.
125. Một cách khác để nói điều này là trung tâm phải đáp ứng với năng lượng linh hồn cũng như với năng lượng căn bản của chính nó. “Căn bản” là một cách khác để chỉ âm chủ hay âm nền.
The note is the result of correct activity.
Âm điệu là kết quả của hoạt động đúng đắn.
126. What does DK mean by “the note”? Does He mean the correctly sounding interval, or does He mean only the “dominant” of the higher center?
126. Chân sư DK muốn nói gì bởi “âm điệu”? Ngài muốn nói đến quãng vang đúng, hay Ngài chỉ muốn nói đến “âm chủ đạo” của trung tâm cao hơn mà thôi?
127. If the latter, we can see that the emergence of the “dominant” would occur through that form of correct activity which allowed the soul to express through the personality.
127. Nếu là trường hợp sau, chúng ta có thể thấy rằng sự xuất hiện của “âm chủ đạo” sẽ xảy ra qua hình thức hoạt động đúng đắn cho phép linh hồn biểu lộ qua phàm ngã.