← Commentary_S6_574_679_song ngữ

TCF 635 - 658: S6S7

Trích nội dung chương

274. DK now shows definitely that it is legitimate to think of the originating incentive of the seven Spirits on planes higher than the cosmic lower mental plane (i.e., within the mind nature of cosmic Agni). 274. Giờ đây Chân sư DK cho thấy rõ ràng rằng thật chính đáng khi nghĩ về động lực khởi nguyên của bảy Thánh Linh trên những cõi cao hơn cõi hạ trí vũ trụ (tức là, bên trong bản chất trí tuệ của Agni vũ trụ).


b. The logoic “Jewel in the Lotus.”

b. “Ngọc Châu trong Hoa Sen” logoic.

c. The cosmic atmic plane.

c. Cõi atma vũ trụ.

274. DK now shows definitely that it is legitimate to think of the originating incentive of the seven Spirits on planes higher than the cosmic lower mental plane (i.e., within the mind nature of cosmic Agni).

274. Giờ đây Chân sư DK cho thấy rõ ràng rằng thật chính đáng khi nghĩ về động lực khởi nguyên của bảy Thánh Linh trên những cõi cao hơn cõi hạ trí vũ trụ (tức là, bên trong bản chất trí tuệ của Agni vũ trụ).

275. If we were to be entirely accurate, we would carry the incentive back to the cosmic monadic plane. Chart VII on TCF 817 shows that whatever emanates from the atmic permanent atom is directly related to the highest aspect of the human Monad. We can extend the analogy, imagining that the cosmic atmic plane is directly connected to the cosmic monadic plane.

275. Nếu chúng ta hoàn toàn chính xác, chúng ta sẽ truy ngược động lực ấy về cõi chân thần vũ trụ. Biểu đồ VII ở TCF 817 cho thấy rằng bất cứ điều gì phát xuất từ nguyên tử trường tồn atma đều liên hệ trực tiếp với phương diện cao nhất của chân thần con người. Chúng ta có thể mở rộng phép loại suy, hình dung rằng cõi atma vũ trụ được nối kết trực tiếp với cõi chân thần vũ trụ.

2. The seven Heavenly Men are in the line of force from:

2. Bảy Đấng Thiên Nhân nằm trong tuyến mãnh lực từ:

a. The cosmic astral plane.

a. Cõi cảm dục vũ trụ.

b. The logoic nine-petalled lotus.

b. Hoa sen cửu cánh logoic.

c. The cosmic buddhic plane (the seven Rishis of the Great Bear).

c. Cõi Bồ đề vũ trụ (bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh).

276. Again as is suggested in the Chart V, TCF 344, the “seven Rishis of the Great Bear” are associated with the cosmic buddhic plane, and yet on TCF 1162, the true plane of the seven Rishis is hinted as the cosmic atmic plane, for it is the Pleiades (presumably seven or nine of them) that are given as representatives of cosmic buddhi.

276. Một lần nữa, như được gợi ý trong Biểu đồ V, TCF 344, “bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh” được liên kết với cõi Bồ đề vũ trụ; tuy nhiên ở TCF 1162, cõi đích thực của bảy Đấng Rishi được ám chỉ là cõi atma vũ trụ, vì chính Pleiades (có lẽ là bảy hay chín ngôi) được nêu ra như những đại diện của Bồ đề vũ trụ.

277. It is interesting and important to realize that a stream of energy has a number of sources, each higher than the next. We cannot reasonably imagine that the highest of the sources here listed is the ultimate source.

277. Thật thú vị và quan trọng khi nhận ra rằng một dòng năng lượng có một số nguồn, mỗi nguồn lại cao hơn nguồn kế tiếp. Chúng ta không thể hợp lý mà tưởng tượng rằng nguồn cao nhất được liệt kê ở đây là nguồn tối hậu.

3. The seven Sons of Fohat find their vital force emanating from:

3. Bảy Con của Fohat tìm thấy mãnh lực sinh động của mình phát xuất từ:

a. The cosmic physical plane.

a. Cõi hồng trần vũ trụ.

b. The logoic permanent atoms (within the causal body).

b. Các nguyên tử trường tồn logoic (bên trong thể nguyên nhân).

c. The cosmic higher mental levels.

c. Các cấp độ thượng trí vũ trụ.

278. The very sources for these energies which seemed to be implied in the foregoing pages are at last given explicitly, though probably not completely.

278. Những nguồn gốc đích thực của các năng lượng này, vốn dường như được hàm ý trong các trang trước, cuối cùng đã được nêu ra một cách minh nhiên, dù có lẽ chưa hoàn toàn.

279. We now see that although the expression of the “seven Sons of Fohat” on the cosmic physical plane is the main focus of the foregoing pages, the origin of these energies is much higher, including the logoic permanent atoms (the cosmic physical permanent atom, the cosmic astral permanent atom and the logoic mental unit) and also, presumably, the manasic permanent atom on the higher cosmic mental plane—an aspect of the logoic spiritual triad (which seems to be implicated in the descent).

279. Giờ đây chúng ta thấy rằng mặc dù sự biểu lộ của “bảy Con của Fohat” trên cõi hồng trần vũ trụ là trọng tâm chính của các trang trước, nguồn gốc của các năng lượng này cao hơn nhiều, bao gồm các nguyên tử trường tồn logoic (nguyên tử trường tồn hồng trần vũ trụ, nguyên tử trường tồn cảm dục vũ trụ và đơn vị hạ trí logoic) và cũng, có lẽ, nguyên tử trường tồn manas trên cõi thượng trí vũ trụ—một phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần logoic (dường như có liên can trong sự giáng hạ).

280. Apparently, the “seven Sons of Fohat” have sources that rise no higher than the manasic nature of the Solar Logos. Given, however, that Cosmic Brahma extends all the way to the cosmic atmic plane, and that atma is intelligence as well as will, we may be justified in tracing the source of “seven Sons of Fohat” to that cosmic plane on which cosmic Brahma is most fully represented—the cosmic atmic plane.

280. Dường như, “bảy Con của Fohat” có những nguồn không vươn cao hơn bản chất manas của Thái dương Thượng đế. Tuy nhiên, vì Brahma Vũ Trụ kéo dài đến tận cõi atma vũ trụ, và atma là trí tuệ cũng như ý chí, nên chúng ta có thể có lý khi truy nguyên nguồn của “bảy Con của Fohat” đến cõi vũ trụ mà trên đó Brahma Vũ Trụ được biểu hiện đầy đủ nhất—cõi atma vũ trụ.

Yet these three are but the expressions of One Existence, for behind the Logos in physical incarnation is to be found the logoic Monad, expressing Itself through the logoic Ego, and its reflection, the logoic Personality.

Tuy nhiên, ba điều này chỉ là những biểu hiện của Một Hiện Hữu, vì đằng sau Thượng đế đang lâm phàm hồng trần có thể tìm thấy chân thần logoic, tự biểu lộ qua Chân ngã logoic, và sự phản chiếu của nó, Phàm ngã logoic.

281. While taking pains to carefully differentiate one aspect from another, the Tibetan always closes such a discussion on note of unity. The factors which has been differentiated are yet, essentially, all expressions of One Existence.

281. Trong khi cẩn trọng phân biệt phương diện này với phương diện khác, Chân sư Tây Tạng luôn kết thúc một cuộc thảo luận như thế trên nốt hợp nhất. Những yếu tố đã được phân biệt ấy, về bản chất, vẫn đều là những biểu hiện của Một Hiện Hữu.

282. Here we see DK having recourse to the ultimate logoic Trinity—the logoic Monad, the logoic Ego and the logoic Personality. There are, as previously stated, a number of logoic Trinities, the lesser of them contained within the greater.

282. Ở đây chúng ta thấy Chân sư DK viện đến Tam Vị logoic tối hậu—chân thần logoic, Chân ngã logoic và Phàm ngã logoic. Như đã nói trước đây, có một số Tam Vị logoic, những tam vị nhỏ hơn được chứa trong tam vị lớn hơn.

All these spiritual Essences are individualised self-conscious Identities, and the “Fiery Lives” are real, and conscious, vital Existences. Thus we see the Logos manifesting as One Unity yet Three in One; we see the threefold Unity differentiating into the seven great Lives, containing within Themselves all lesser lives.

Tất cả những Tinh Túy tinh thần này đều là những Bản Sắc hữu thức-ngã đã được biệt ngã hóa, và các “Sự Sống Rực Lửa” là những Hiện Hữu sống động, có thực và có tâm thức. Như vậy chúng ta thấy Thượng đế biểu lộ như Một Hợp Nhất nhưng Ba trong Một; chúng ta thấy Hợp Nhất tam phân phân hoá thành bảy Sự Sống vĩ đại, chứa trong Chính Các Ngài mọi sự sống nhỏ hơn.

283. Here is a synthetic statement. DK speaks of the Great Existences as real, individualized, self-conscious “Fiery Lives”.

283. Đây là một phát biểu tổng hợp. Chân sư DK nói về các Hiện Hữu Vĩ Đại như những “Sự Sống Rực Lửa” có thực, đã được biệt ngã hóa và hữu thức-ngã.

284. The differentiation proceeds from the One to the Three and,thence, to the Seven—every member of the Three differentiating into a Seven, just as the One differentiated into a Three.

284. Sự phân hoá tiến từ Một đến Ba và từ đó đến Bảy—mỗi thành viên của Bộ Ba phân hoá thành một Bảy, cũng như Một đã phân hoá thành một Ba.

285. DK affirms the reality of the logoic Trinity and yet its essential oneness.

285. Chân sư DK khẳng định tính có thực của Tam Vị logoic, nhưng đồng thời cũng khẳng định tính nhất thể cốt yếu của nó.

286. All the lives in our solar system are contained within the One Existence, its threefold differentiation, and the twenty-one fold differentiation arising from the Three.

286. Mọi sự sống trong hệ mặt trời của chúng ta đều được chứa trong Một Hiện Hữu, trong sự phân hoá tam phân của nó, và trong sự phân hoá hai mươi mốt phần phát sinh từ Bộ Ba.

287. Truly the great “Fiery Lives” are within us (as human beings) tiny though we are. In fact, we are, in essence, those very Fiery Lives. Can we in any way feel this?

287. Quả thật các “Sự Sống Rực Lửa” vĩ đại ở bên trong chúng ta (với tư cách những con người), dù chúng ta nhỏ bé đến đâu. Thật ra, về bản chất, chúng ta chính là những Sự Sống Rực Lửa ấy. Liệu chúng ta có thể bằng cách nào đó cảm nhận được điều này không?

Another broad differentiation must next be touched upon:

Tiếp theo phải đề cập đến một sự phân hoá rộng lớn khác:

288. DK proceeds with still further differentiations, for the “seven Fires” are each to be differentiated into forty-nine.

288. Chân sư DK tiếp tục với những sự phân hoá sâu hơn nữa, vì “bảy Lửa” mỗi cái đều phải được phân hoá thành bốn mươi chín.

[Page 631]

[Page 631]

a. The seven Fires form the forty-nine Fires.

a. Bảy Lửa tạo thành bốn mươi chín Lửa.

289. From the perspective above the cosmic physical plane, the forty-nine fires would each of them be associated with one of the forty-nine systemic subplanes of the cosmic physical plane.

289. Từ góc nhìn bên trên cõi hồng trần vũ trụ, bốn mươi chín lửa này mỗi cái sẽ được liên kết với một trong bốn mươi chín cõi phụ hệ thống của cõi hồng trần vũ trụ.

b. The seven Heavenly Men manifest through forty-nine lesser Rays.

b. Bảy Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua bốn mươi chín cung nhỏ hơn.

290. Each of these forty-nine lesser rays is to be considered as a subray of one of the major seven Rays.

290. Mỗi một trong bốn mươi chín cung nhỏ hơn này phải được xem là một cung phụ của một trong bảy cung chính.

c. The seven Spirits shew forth as forty-nine Existences.

c. Bảy Thánh Linh hiển lộ thành bốn mươi chín Hiện Hữu.

291. When DK uses the term “Existences” it is usually always to denote a Being of considerable stature.

291. Khi Chân sư DK dùng thuật ngữ “Hiện Hữu”, hầu như luôn luôn là để chỉ một Hữu Thể có tầm vóc đáng kể.

292. Another way of looking at the forty-nine Existences, is as monadic subrays of the seven major monadic types. Although, ultimately, there are only three principal monadic rays, from the planetary logoic standpoint there are seven monadic rays to be expressed. Each of these seven can, apparently, have seven subrays, though usually only the subrays of the three principal monadic rays are emphasized. (cf. TCF 176)

292. Một cách khác để nhìn bốn mươi chín Hiện Hữu là xem chúng như các cung phụ chân thần của bảy loại chân thần chính. Mặc dù rốt cuộc chỉ có ba cung chân thần chủ yếu, nhưng từ quan điểm của Hành Tinh Thượng Đế thì có bảy cung chân thần cần được biểu lộ. Mỗi một trong bảy cung này, dường như, có thể có bảy cung phụ, dù thông thường chỉ các cung phụ của ba cung chân thần chủ yếu được nhấn mạnh. (xem TCF 176)

In connection with the Spirit aspect it will prove unprofitable to carry the thought any further. Of Spirit per se we can know nothing, and beyond predicating the forty-nine5 solar Manus (each of the Heavenly Men is expressing Himself on the physical plane through seven Manus) it is impossible to go.

Liên quan đến phương diện tinh thần, sẽ không có ích gì nếu mang tư tưởng này đi xa hơn nữa. Về tinh thần chính nó, chúng ta không thể biết gì, và ngoài việc khẳng định bốn mươi chín5 Đức Manu thái dương (mỗi Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ chính Ngài trên cõi hồng trần qua bảy Đức Manu) thì không thể đi xa hơn được.

293. The Manus through which each Heavenly Man expresses Himself is considered a solar being.

293. Các Đức Manu mà qua đó mỗi Đấng Thiên Nhân biểu lộ chính Ngài được xem là một hữu thể thái dương.

294. A Manu is typically at least a sixth degree initiate and thus a direct expression of a Monad. Each of the seven Manus is not only a human Monad in expression, but is a differentiated expression of the Monad of a particular Heavenly Man.

294. Một Đức Manu thường ít nhất là một điểm đạo đồ cấp sáu và do đó là một biểu hiện trực tiếp của một chân thần. Mỗi một trong bảy Đức Manu không chỉ là một chân thần nhân loại đang biểu lộ, mà còn là một biểu hiện phân hoá của chân thần của một Đấng Thiên Nhân đặc thù.

295. Since we are speaking of Manus expressing on the physical plane we are probably speaking of Manus associated with rootraces.

295. Vì chúng ta đang nói về các Đức Manu biểu lộ trên cõi hồng trần, nên có lẽ chúng ta đang nói về các Đức Manu liên kết với các giống dân gốc.

296. DK advises that we can carry this speculation no further. We do see that sevenfold differentiations apply not only to the “seven Rays” as qualitative and psychic emanations, but also to the Spirit aspect.

296. Chân sư DK khuyên rằng chúng ta không thể đưa sự suy đoán này đi xa hơn nữa. Chúng ta thấy rằng các sự phân hoá thất phân không chỉ áp dụng cho “bảy cung” như những phát xạ phẩm tính và thông linh, mà còn áp dụng cho cả phương diện tinh thần.

FOOTNOTE 5:

CHÚ THÍCH 5:

The forty-nine Manus. They are the patrons or guardians of the race cycles in a manvantara, or Day of Brahma. There are seven races in a world period, and there are seven world periods.

Bốn mươi chín Đức Manu. Các Ngài là những vị bảo trợ hay hộ trì cho các chu kỳ nhân loại trong một giai kỳ sinh hóa, hay một Ngày của Brahma. Có bảy nhân loại trong một thời kỳ thế giới, và có bảy thời kỳ thế giới.

297. Each of the forty-nine solar Manus can be related to a planetary logoic chain. There are also lesser Manus related to each globe. There are still lesser Manus related to the rootraces. It may be that the lesser of such Manus are to be considered as overshadowed by greater Manus who Whom they correspond. Perhaps, when dealing with the highest type of Manus, the phenomenon of being mind-born may come to apply.

297. Mỗi một trong bốn mươi chín Đức Manu thái dương có thể được liên hệ với một dãy của Hành Tinh Thượng Đế. Cũng có những Đức Manu nhỏ hơn liên hệ với mỗi bầu hành tinh. Lại còn có những Đức Manu nhỏ hơn nữa liên hệ với các giống dân gốc. Có thể những Đức Manu nhỏ hơn như thế phải được xem là được phủ bóng bởi những Đức Manu lớn hơn mà Các Ngài tương ứng. Có lẽ, khi bàn đến loại Đức Manu cao nhất, hiện tượng được sinh ra từ trí tuệ có thể được áp dụng.

298. A manvantara (in this context) is one seventh of world period or that portion of a round (manvantara) which passes through a particular globe.

298. Một giai kỳ sinh hóa (trong ngữ cảnh này) là một phần bảy của một thời kỳ thế giới, hay phần của một cuộc tuần hoàn (giai kỳ sinh hóa) đi qua một bầu hành tinh đặc thù.

299. From a higher perspective, a world period can be considered a chain period in relation to a scheme round. Such a world period would be one seventh of a complete scheme round or that portion of a scheme round which passes through a particular chain within a planetary scheme.

299. Từ một góc nhìn cao hơn, một thời kỳ thế giới có thể được xem là một thời kỳ dãy trong liên hệ với một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh. Một thời kỳ thế giới như thế sẽ là một phần bảy của một cuộc tuần hoàn hoàn chỉnh của hệ hành tinh, hay phần của một cuộc tuần hoàn hệ hành tinh đi qua một dãy đặc thù trong một hệ hành tinh.

Therefore, in discussing these abstract questions, we will concern ourselves only with the seven Rays of Light, or Heavenly Men, and the seven Fires.

Vì vậy, khi bàn về những vấn đề trừu tượng này, chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến bảy Cung Ánh Sáng, hay Bảy Đấng Thiên Nhân, và bảy Lửa.

300. We are confining ourselves to a discussion of the second and third aspects, leaving the first aspect temporarily to the side.

300. Chúng ta đang giới hạn mình vào việc bàn về phương diện thứ hai và thứ ba, tạm thời để phương diện thứ nhất sang một bên.

Each of the seven Rays of Light differentiates into seven making the forty-nine aspects of the logoic psychic nature, as it shews itself on the cosmic physical plane, and each of the seven Fires manifests as seven lesser Fires, making the forty-nine Fires referred to by H. P. B. in the Secret Doctrine.6 [See S. D., I, 567.]

Mỗi một trong bảy Cung Ánh Sáng phân hoá thành bảy, tạo nên bốn mươi chín phương diện của bản chất thông linh logoic, như nó hiển lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, và mỗi một trong bảy Lửa biểu lộ thành bảy Lửa nhỏ hơn, tạo nên bốn mươi chín Lửa được H. P. B. nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm.6 [Xem S. D., I, 567.]

301. Again our attention is drawn to the cosmic physical plane and the forty-ninefold differentiations of energy upon that plane.

301. Một lần nữa sự chú ý của chúng ta được hướng về cõi hồng trần vũ trụ và những sự phân hoá bốn mươi chín phần của năng lượng trên cõi ấy.

302. The forty-nine aspects of the logoic psychic nature are forty-nine modes of consciousness, or forty nine subrays.

302. Bốn mươi chín phương diện của bản chất thông linh logoic là bốn mươi chín phương thức tâm thức, hay bốn mươi chín cung phụ.

303. The forty nine Fires are forty-nine modes of activity on the cosmic physical plane.

303. Bốn mươi chín Lửa là bốn mươi chín phương thức hoạt động trên cõi hồng trần vũ trụ.

The seven Heavenly Men manifest each through seven lesser Entities, Who form the psychic centres in Their body

Bảy Đấng Thiên Nhân mỗi Đấng biểu lộ qua bảy Thực Thể nhỏ hơn, các Đấng này tạo thành những trung tâm thông linh trong thể của Các Ngài

304. Such lesser Entities can be considered as Chain Lords Who are qualitatively different from each other and have differing modes and scopes of consciousness.

304. Những Thực Thể nhỏ hơn như thế có thể được xem là các Chúa Tể Dãy, những Đấng khác nhau về phẩm tính và có những phương thức cũng như phạm vi tâm thức khác nhau.

in the same manner as They—in Their turn—form the psychic centres in the logoic vahan or vehicle.

cũng theo cùng cách mà đến lượt Các Ngài tạo thành những trung tâm thông linh trong vahan hay vận cụ logoic.

305. The Seven Heavenly Men are psychic centers in the logoic vehicle. The logoic consciousness is qualitatively sevenfold. The consciousness of each of the Seven Heavenly Men is also sevenfold.

305. Bảy Đấng Thiên Nhân là những trung tâm thông linh trong vận cụ logoic. Tâm thức logoic có tính thất phân về phẩm tính. Tâm thức của mỗi một trong Bảy Đấng Thiên Nhân cũng là thất phân.

306. We can see that, taking into account all differentiations, the solar logoic consciousness is essentially forty-nine fold, though when lesser differentiations are admitted the differentiations of consciousness become far more complex.

306. Chúng ta có thể thấy rằng, nếu tính đến mọi sự phân hoá, tâm thức thái dương logoic về bản chất là bốn mươi chín phần, dù khi chấp nhận những sự phân hoá nhỏ hơn thì các sự phân hoá của tâm thức trở nên phức tạp hơn rất nhiều.

307. Psychic centers (according to their qualitative nature) are centers of conditioned consciousness. The one solar logoic consciousness is qualified and limited through each of its major seven and minor forty-nine psychic centers. After these major differentiations, the differentiations of solar logoic consciousness become multitudinous.

307. Các trung tâm thông linh (theo bản chất phẩm tính của chúng) là những trung tâm của tâm thức đã được tác động. Tâm thức thái dương logoic duy nhất được định tính và giới hạn qua mỗi một trong bảy trung tâm thông linh lớn và bốn mươi chín trung tâm thông linh nhỏ của nó. Sau những sự phân hoá lớn này, các sự phân hoá của tâm thức thái dương logoic trở nên vô số.

Each of the seven Fires, or Deva Lords, of a plane manifest through seven lesser devas, who form the central fire, and consciousness of the substance of a subplane.

Mỗi một trong bảy Lửa, hay các Đấng Chúa Tể Deva, của một cõi biểu lộ qua bảy thiên thần nhỏ hơn, các vị này tạo thành lửa trung tâm, và tâm thức của chất liệu của một cõi phụ.

308. We are given the structure of the seven major systemic planes and seven subplanes associated with each of the seven systemic planes.

308. Chúng ta được cho biết cấu trúc của bảy cõi hệ thống chính và bảy cõi phụ gắn liền với mỗi một trong bảy cõi hệ thống.

It is with their mutual interplay and work that we are now concerned, or with the study of matter as it is affected and built into form through the medium of Divine Thought or Will.

Chính sự tương tác hỗ tương và công việc của các vị ấy là điều chúng ta hiện đang quan tâm, hay là việc nghiên cứu vật chất khi nó bị tác động và được xây dựng thành hình tướng qua trung gian của Tư Tưởng hay Ý Chí thiêng liêng.

309. The interplay of matter and consciousness is our concern.

309. Sự tương tác giữa vật chất và tâm thức là điều chúng ta quan tâm.

310. We note that Will is not left out of the picture as (in our solar system) it is ‘contained’ within the second aspect.

310. Chúng ta lưu ý rằng Ý Chí không bị loại ra khỏi bức tranh, vì (trong hệ mặt trời của chúng ta) nó được “chứa” bên trong phương diện thứ hai.

Of the higher Fires (the Lords of the four higher planes) I do not seek to deal, for it only profits us to [Page 632] study the construction of thought-forms in the three worlds through the medium of deva essences;

Về các Lửa cao hơn (các Đấng Chúa Tể của bốn cõi cao hơn) tôi không tìm cách bàn đến, vì điều chỉ thực sự có ích cho chúng ta là [Page 632] nghiên cứu sự kiến tạo các hình tư tưởng trong ba cõi thấp qua trung gian của các tinh túy deva;

311. Our focus is still the cosmic physical plane as especially its densest dimensions. The four higher systemic planes (in this context) are the planes comprising the cosmic ethers.

311. Trọng tâm của chúng ta vẫn là cõi hồng trần vũ trụ, đặc biệt là những chiều kích đậm đặc nhất của nó. Bốn cõi hệ thống cao hơn (trong ngữ cảnh này) là những cõi cấu thành các dĩ thái vũ trụ.

312. The Lords of the four higher planes are Shiva, Vishnu/Surya, Brahma and Indra.

312. Các Đấng Chúa Tể của bốn cõi cao hơn là Shiva, Vishnu/Surya, Brahma và Indra.

313. DK is confining His attention to purposeful form-building as it works out in the dense physical body of the Solar Logos.

313. Chân sư DK đang giới hạn sự chú ý của Ngài vào việc kiến tạo hình tướng có mục đích khi nó được triển khai trong thể xác hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

314. Basically, the forms in the three lower worlds are thoughtforms. It is in this magical context that we will study form creation.

314. Về căn bản, các hình tướng trong ba cõi thấp là các hình tư tưởng. Chính trong ngữ cảnh huyền thuật này mà chúng ta sẽ nghiên cứu sự sáng tạo hình tướng.

315. In the lower three worlds, thoughtforms are composed of structured devic essences and, as well, of elemental essences.

315. Trong ba cõi thấp, các hình tư tưởng được cấu tạo từ những tinh túy deva có cấu trúc và cả từ các tinh chất hành khí nữa.

these are vitalised and manipulated by the Builders, the Dhyan Chohans, the Heavenly Men through the force of Their Life, through Their knowledge of the logoic Will or purpose, and through the power of Their psychic nature.

những thứ này được tiếp sinh lực và được các Đấng Kiến Tạo, các Dhyan Chohan, các Đấng Thiên Nhân điều khiển bằng mãnh lực của Sự sống của Các Ngài, bằng tri thức của Các Ngài về Ý Chí hay mục đích logoic, và bằng quyền năng của bản chất thông linh của Các Ngài.

316. We are speaking of the magical work of the Seven Heavenly Men.

316. Chúng ta đang nói về công việc huyền thuật của Bảy Đấng Thiên Nhân.

317. They are called by the following terms:

317. Các Ngài được gọi bằng những thuật ngữ sau:

a. The Seven Heavenly Men

a. Bảy Đấng Thiên Nhân

b. The Builders

b. Các Đấng Kiến Tạo

c. The Dhyan Chohans

c. Các Dhyan Chohan

318. We are speaking of the building and manipulation of thoughtforms in the three lower worlds. That manipulation, impulsed by the Heavenly Man, occurs through—

318. Chúng ta đang nói về việc kiến tạo và điều khiển các hình tư tưởng trong ba cõi thấp. Sự điều khiển ấy, được thúc đẩy bởi Đấng Thiên Nhân, diễn ra qua—

a. the force of Their life

a. mãnh lực của Sự sống của Các Ngài

b. their knowledge of the logoic Will or purpose,

b. tri thức của Các Ngài về Ý Chí hay mục đích logoic,

c. the power of Their psychic nature

c. quyền năng của bản chất thông linh của Các Ngài

319. We see that thoughtform building is accomplished through planetary logoic life, through the knowledge or logoic Will or purpose, and through the planetary logoic psychic nature.

319. Chúng ta thấy rằng việc kiến tạo hình tư tưởng được hoàn thành qua sự sống của Hành Tinh Thượng Đế, qua tri thức về Ý Chí hay mục đích logoic, và qua bản chất thông linh của Hành Tinh Thượng Đế.

320. Life can be placed at the center of a triangle with will-purpose, psychic quality and manipulative activity at the vertices.

320. Sự sống có thể được đặt ở trung tâm của một tam giác, với ý chí-mục đích, phẩm tính thông linh và hoạt động điều khiển ở các đỉnh.

Thus They are occupied in building the logoic physical body, and in carrying out His plans in that body, in this way fulfilling the purpose for which He incarnated.

Như vậy Các Ngài bận rộn trong việc kiến tạo thể xác hồng trần logoic, và trong việc thực hiện các kế hoạch của Ngài trong thể ấy, nhờ đó hoàn thành mục đích mà vì đó Ngài đã lâm phàm.

321. From this perspective, the Heavenly Men are the Greater Builders involved in carrying out the will of the Solar Logos as that will is intended to be expressed in the logoic physical body.

321. Từ góc nhìn này, các Đấng Thiên Nhân là những đấng đại kiến tạo tham gia vào việc thực hiện ý chí của Thái dương Thượng đế như ý chí ấy được dự định biểu lộ trong thể xác hồng trần logoic.

Their work is infinitely greater than this, for it lies primarily on cosmic levels,

Công việc của Các Ngài lớn lao hơn điều này vô hạn, vì nó chủ yếu nằm trên các cấp độ vũ trụ,

322. This is a point never to be forgotten, but it is seldom referenced because there is so little we can know of what a Heavenly Man accomplishes on the cosmic astral plane and cosmic mental plane.

322. Đây là một điểm không bao giờ được quên, nhưng hiếm khi được nhắc đến vì chúng ta biết quá ít về điều mà một Đấng Thiên Nhân hoàn thành trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

but this is what concerns us, and all that we can, in any way grasp.

nhưng đây là điều liên quan đến chúng ta, và là tất cả những gì chúng ta có thể, bằng bất cứ cách nào, nắm bắt được.

323. Now the parallel will be offered comparing the work of man to the work of the Heavenly Man.

323. Giờ đây sự song hành sẽ được trình bày, so sánh công việc của con người với công việc của Đấng Thiên Nhân.

Man in the three worlds of human endeavour works at two things:

Con người trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại hoạt động trên hai điều:

First. The building of his body of manifestation, a threefold body.

Thứ nhất. Việc xây dựng thể biểu hiện của y, một thể tam phân.

324. This must not only be built but refined. Man as Ego accomplishes this with every new incarnation.

324. Thể này không những phải được xây dựng mà còn phải được tinh luyện. Con người với tư cách chân ngã hoàn thành điều này qua mỗi lần nhập thể mới.

Second. The construction of thought-forms, which he builds of mental matter and vitalises by desire, and which he holds within his aura, thus constructing a tiny system of his own.

Thứ hai. Việc kiến tạo các Hình tư tưởng, mà y xây dựng bằng chất liệu trí tuệ và tiếp sinh lực cho chúng bằng dục vọng, rồi giữ chúng trong hào quang của mình, nhờ đó kiến tạo nên một hệ thống nhỏ bé của riêng y.

325. Man thereby is learning to become a creator. Man is a created being but also a lesser creator.

325. Nhờ đó con người đang học để trở thành một đấng kiến tạo. Con người là một hữu thể được sáng tạo nhưng cũng là một đấng kiến tạo nhỏ hơn.

326. Actually, it is possible to say this of every self-conscious B/being. All such are both created/emanated beings and creators.

326. Thật ra, có thể nói điều này về mọi hữu thể có ngã thức. Tất cả những hữu thể như thế đều vừa là những hữu thể được sáng tạo/xuất lộ vừa là những đấng kiến tạo.

Both man, and the Heavenly Men, work in deva substance; both co-operate with the devas; both manifest will, psychic quality and intelligent activity as they pursue their work but a difference lies, not only in degree, but in consciousness. Man works usually unconsciously.

Cả con người lẫn các Đấng Thiên Nhân đều hoạt động trong chất liệu thiên thần; cả hai đều hợp tác với các thiên thần; cả hai đều biểu lộ ý chí, phẩm tính thông linh và hoạt động thông tuệ khi theo đuổi công việc của mình, nhưng sự khác biệt không chỉ nằm ở mức độ mà còn ở tâm thức. Con người thường hoạt động một cách vô thức.

327. The parallels are clear but the major distinction must be held in mind.

327. Những điểm song hành thì rõ ràng, nhưng phải ghi nhớ sự phân biệt chủ yếu.

328. Man should be a conscious builder but, instead, he is mostly unconscious as he builds. The more soul conscious he becomes, the more his building in devic substance will become conscious.

328. Con người lẽ ra phải là một đấng kiến tạo có ý thức, nhưng thay vào đó, phần lớn y lại vô thức khi xây dựng. Y càng trở nên có tâm thức linh hồn bao nhiêu, việc xây dựng của y trong chất liệu thiên thần sẽ càng trở nên có ý thức bấy nhiêu.

The Heavenly Men, on cosmic levels, work for the most part consciously. Herein lies a hint as to the stage of evolution of our Logos.

Các Đấng Thiên Nhân, trên các cấp độ vũ trụ, phần lớn hoạt động một cách có ý thức. Chính trong điều này có một gợi ý về giai đoạn tiến hoá của Thượng đế của chúng ta.

329. Our Solar Logos is a cosmic initiate of the second degree, working gradually upon His third cosmic initiation.

329. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một điểm đạo đồ vũ trụ ở cấp thứ hai, đang dần dần tiến tới lần điểm đạo vũ trụ thứ ba của Ngài.

330. May it be said that man, when he becomes at least an initiate of the second degree, will be known for his conscious building?

330. Có thể nói rằng con người, khi trở thành ít nhất một điểm đạo đồ ở cấp thứ hai, sẽ được biết đến nhờ sự xây dựng có ý thức của y chăng?

331. The principal lower aspects of man are unconscious and lunar; the principal lower aspects of a Solar Logos are definitely self-conscious and solar.

331. Các phương diện thấp chủ yếu của con người là vô thức và thái âm; các phương diện thấp chủ yếu của một Thái dương Thượng đế thì rõ rệt là có ngã thức và thái dương.

332. Both the Solar Logos and the Planetary Logoi are group conscious Beings. This reveals much about their spiritual status on Their respective Paths of Cosmic Initiation.

332. Cả Thái dương Thượng đế lẫn các Hành Tinh Thượng Đế đều là những Hữu thể có tâm thức nhóm. Điều này tiết lộ nhiều điều về địa vị tinh thần của Các Ngài trên những Con Đường Điểm Đạo Vũ Trụ tương ứng của Các Ngài.

This matter is of real difficulty, for the subject is abstruse and profound.

Vấn đề này thật sự khó khăn, vì chủ đề này vừa thâm áo vừa sâu sắc.

333. Though this is the case, we can be grateful that DK is introducing the subject to us.

333. Dù vậy, chúng ta có thể biết ơn vì Chân sư DK đang giới thiệu chủ đề này cho chúng ta.

334. We note that there is a distinction in the meaning of the terms “abstruse” and “profound”. Much of real simplicity (and accessibility) can be profound. If something is abstruse as well as profound, it is far removed from what we normally call simplicity. Rather it is recondite, quite inaccessible and hard to grasp.

334. Chúng ta lưu ý rằng có một sự phân biệt trong ý nghĩa của các thuật ngữ “thâm áo” và “sâu sắc”. Nhiều điều thật sự đơn giản (và dễ tiếp cận) vẫn có thể sâu sắc. Nếu điều gì đó vừa thâm áo vừa sâu sắc, thì nó rất xa với điều mà chúng ta thường gọi là sự đơn giản. Đúng hơn, nó là huyền vi, khá khó tiếp cận và khó nắm bắt.

We will now leave these basic ideas, and deal more specifically with the devas with whom we are immediately concerned, or with the three groups I have outlined—the Agnichaitans, the Agnisuryans, and the Agnishvattas. They are concerned primarily with the evolution of the dense body of the Logos, the liquid, gaseous and dense subplanes of the [Page 633] cosmic physical, or the three worlds of human endeavour; with the magnetic radiation of the Logos through His physical vehicle, and with the radiatory emanations of the particular Heavenly Man Who is expressing Himself through our planet.

Giờ đây chúng ta sẽ rời các ý tưởng căn bản này, và bàn đến cụ thể hơn về các thiên thần mà chúng ta đang trực tiếp quan tâm, hay ba nhóm mà tôi đã phác họa—các Agnichaitan, các Agnisuryan, và các Agnishvatta. Trước hết, các vị này chủ yếu liên quan đến sự tiến hoá của thể đậm đặc của Thượng đế, các cõi phụ lỏng, khí và đậm đặc của [Page 633] cõi hồng trần vũ trụ, hay ba cõi giới của nỗ lực nhân loại; với sự phát xạ từ tính của Thượng đế qua vận cụ hồng trần của Ngài, và với các phát xạ bứcxạ của Đấng Thiên Nhân đặc thù đang biểu lộ Chính Ngài qua hành tinh của chúng ta.

335. It has sometimes been questioned whether the term “Agnishvattas” refers only to the Solar Angels or to the devas of the lower mental plane as well.

335. Đôi khi người ta đã đặt câu hỏi liệu thuật ngữ “Agnishvattas” chỉ nói đến các Thái dương Thiên Thần hay còn bao gồm cả các thiên thần của cõi hạ trí nữa.

336. From what is said above it seems like the term “Agnishvattas” is to be applied to the entire gaseous subplane of the cosmic physical plane.

336. Từ những gì được nói ở trên, có vẻ như thuật ngữ “Agnishvattas” được áp dụng cho toàn bộ cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ.

337. The “magnetic radiation of the Logos through His physical vehicle” seems to concern the second aspect as it manifests through all lower twenty-one systemic subplanes.

337. “Sự phát xạ từ tính của Thượng đế qua vận cụ hồng trần của Ngài” dường như liên quan đến phương diện thứ hai khi nó biểu lộ qua toàn bộ hai mươi mốt cõi phụ thấp của hệ thống.

338. The “radiatory emanations of the particular Heavenly Man Who is expressing Himself through our planet” seem to emanate from a source higher than the three lower worlds.

338. “Các phát xạ bức xạ của Đấng Thiên Nhân đặc thù đang biểu lộ Chính Ngài qua hành tinh của chúng ta” dường như phát ra từ một nguồn cao hơn ba cõi thấp.

339. In general the term “magnetism” refers to the second aspect of divinity and “radiation” to the first. We see, therefore, all three aspects of divinity represented in the section of text above.

339. Nói chung, thuật ngữ “từ điện” chỉ phương diện thứ hai của thiên tính, còn “bức xạ” chỉ phương diện thứ nhất. Vì vậy, chúng ta thấy cả ba phương diện của thiên tính đều được biểu hiện trong đoạn văn trên.

340. Although the Agnichaitans, Agnisuryans and Agnishvattas are here related more focally to the lower twenty-one subplanes (i.e., the dense physical body of the Solar Logos), the Agnisuryans and Agnichaitans may have higher correspondences of planes higher than the systemic mental.

340. Mặc dù ở đây các Agnichaitan, Agnisuryan và Agnishvatta được liên hệ tập trung hơn với hai mươi mốt cõi phụ thấp (tức thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế), các Agnisuryan và Agnichaitan có thể có những tương ứng cao hơn trên các cõi cao hơn cõi trí của hệ thống.

341. Within this paragraph we are actually being given an extended view of the arena of expression of these devic lives.

341. Trong đoạn này, thật ra chúng ta đang được trao cho một cái nhìn mở rộng về phạm vi biểu lộ của các sự sống thiên thần này.

Finally they are concerned with the evolution of consciousness7 in the three worlds, and particularly with the individualisation of the human unit of consciousness, and with the vitalisation of the centres in the body of the Heavenly Man with Whom we are peculiarly connected.

Sau cùng, các vị này còn liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức7 trong ba cõi giới, và đặc biệt là với sự biệt ngã hóa của đơn vị tâm thức nhân loại, cũng như với việc tiếp sinh lực cho các trung tâm trong thân thể của Đấng Thiên Nhân mà chúng ta có liên hệ đặc biệt.

342. These three orders of devic lives are not related only to the activity aspect. They contribute to the development of human consciousness.

342. Ba cấp bậc sự sống thiên thần này không chỉ liên hệ với phương diện hoạt động. Chúng góp phần vào sự phát triển của tâm thức nhân loại.

343. If they also contribute to the vitalization of the centers in the body of a Heavenly Man, they are concerned as well with the cosmic etheric planes on which the centers of a Heavenly Man can be found. Therefore, their effectiveness cannot be limited to the lower three systemic planes.

343. Nếu các vị ấy cũng góp phần vào việc tiếp sinh lực cho các trung tâm trong thân thể của một Đấng Thiên Nhân, thì các vị ấy cũng liên quan đến các cõi dĩ thái vũ trụ, nơi có thể tìm thấy các trung tâm của một Đấng Thiên Nhân. Vì vậy, hiệu lực của các vị ấy không thể bị giới hạn trong ba cõi thấp của hệ thống.

344. Let us tabulate the areas in which the Agnichaitans, the Agnisuryans and Agnishvattas are influential:

344. Chúng ta hãy lập bảng các lĩnh vực mà các Agnichaitan, các Agnisuryan và các Agnishvatta có ảnh hưởng:

a. The evolution of the dense physical body of the Logos or Planetary Logos

a. Sự tiến hoá của thể hồng trần đậm đặc của Thượng đế hay Hành Tinh Thượng Đế

b. The magnetic radiation of the Logos through His physical vehicle. This obviously concerns the egoic nature of the Planetary Logos.

b. Sự phát xạ từ tính của Thượng đế qua vận cụ hồng trần của Ngài. Điều này hiển nhiên liên quan đến bản chất chân ngã của Hành Tinh Thượng Đế.

c. The radiatory emanations of the particular Heavenly Man Who is expressing Himself through our planet. May we say that “radiatory emanations” concern the Spirit nature of the Planetary Logos?

c. Các phát xạ bứcxạ của Đấng Thiên Nhân đặc thù đang biểu lộ Chính Ngài qua hành tinh của chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng “các phát xạ bức xạ” liên quan đến bản chất tinh thần của Hành Tinh Thượng Đế chăng?

d. The evolution of consciousness in the three worlds

d. Sự tiến hoá của tâm thức trong ba cõi giới

e. The individualization of the human unit of consciousness

e. Sự biệt ngã hóa của đơn vị tâm thức nhân loại

f. The vitalisation of the centres in the body of the Heavenly Man with Whom we are peculiarly connected

f. Việc tiếp sinh lực cho các trung tâm trong thân thể của Đấng Thiên Nhân mà chúng ta có liên hệ đặc biệt

345. If we survey the scope of influence of these devas, we shall see that it both wide and diverse. They may well be active on all five lower systemic planes of the cosmic physical plane.

345. Nếu chúng ta khảo sát phạm vi ảnh hưởng của các thiên thần này, chúng ta sẽ thấy nó vừa rộng vừa đa dạng. Rất có thể các vị ấy hoạt động trên cả năm cõi thấp của hệ thống thuộc cõi hồng trần vũ trụ.

FOOTNOTE 7:

CHÚ THÍCH 7:

The Lunar Angels have to reach the plane of the Solar Angels.—S. D., I, 203.

Các Thiên Thần Thái Âm phải đạt đến cõi của các Thái dương Thiên Thần.—S. D., I, 203.

346. This will happen only very gradually as the tabulation on TCF 844 shows. The Lunar Angels have first to become animal and then human before they can become Solar Angels.

346. Điều này sẽ chỉ xảy ra rất dần dần như bảng ở TCF 844 cho thấy. Các Thiên Thần Thái Âm trước hết phải trở thành động vật rồi thành người trước khi có thể trở thành các Thái dương Thiên Thần.

They have to win immortality.—S. D., III, 518, 519.

Các vị ấy phải giành được sự bất tử.—S. D., III, 518, 519.

347. Immortality is a matter of consciousness. It is not about the preservation of a single form.

347. Sự bất tử là vấn đề của tâm thức. Nó không liên quan đến việc bảo tồn một hình tướng đơn lẻ.

Self-consciousness is their goal.—S. D., I, 205; II, 622.

Ngã thức là mục tiêu của các vị ấy.—S. D., I, 205; II, 622.

348. This stage, too, will not be achieved immediately.

348. Giai đoạn này cũng sẽ không đạt được ngay lập tức.

The subject of our consideration now is the fire devas of the physical plane, those great building devas who are working out the purposes of the Logos in his dense, physical body.

Chủ đề mà giờ đây chúng ta xem xét là các thiên thần lửa của cõi hồng trần, những thiên thần kiến tạo vĩ đại đang thực hiện các mục đích của Thượng đế trong thể hồng trần đậm đặc của ngài.

349. When we consider the “physical plane” we shall have to perceive it from the perspective above of the Solar Logos. The dense physical body of the Solar Logos includes the lower twenty-one systemic subplanes.

349. Khi chúng ta xét đến “cõi hồng trần”, chúng ta sẽ phải nhận thức nó từ viễn cảnh bên trên của Thái dương Thượng đế. Thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế bao gồm hai mươi mốt cõi phụ thấp của hệ thống.

350. When we learn that we are seeking to understand “fire devas” we are alerted to the fact that the name of each of the devas under discussion begins with the Sanskrit word for “fire”—i.e., “Agni”.

350. Khi chúng ta biết rằng mình đang tìm cách hiểu các thiên thần “lửa”, chúng ta được báo trước về sự kiện rằng tên của mỗi loại thiên thần đang được bàn đến đều bắt đầu bằng từ Sanskrit chỉ “lửa”—tức “Agni”.

Let us get our ideas as clear as possible on this matter; in the following tabulation, the status of these devas will be apparent at a glance:

Chúng ta hãy làm cho các ý tưởng của mình rõ ràng nhất có thể về vấn đề này; trong bảng sau đây, địa vị của các thiên thần này sẽ hiện rõ chỉ trong một cái nhìn:

Systemic

Hệ thống

Name Cosmic Plane Plane Nature Ruler

Tên Cõi Vũ Trụ Cõi Bản chất Chủ tinh

Agnichaitan.......7th subplane.....Physical...........Densest........Kshiti

Agnichaitan.......cõi phụ thứ 7.....Hồng trần...........Đậm đặc nhất........Kshiti

cosmic physical concretion

hồng trần vũ trụ sự kết tụ

Agnisuryan.......6th subplane......Astral..............Liquid..........Varuna

Agnisuryan.......cõi phụ thứ 6......Cảm dục..............Lỏng..........Varuna

cosmic physical

hồng trần vũ trụ

Agnishvatta......5th subplane......Mental............Gaseous........Agni

Agnishvatta......cõi phụ thứ 5......Trí tuệ............Khí........Agni

cosmic physical

hồng trần vũ trụ

351. The higher form of Agnisuryan is not mentioned, nor the (hypothesized) higher form of Agnichaitan.

351. Dạng cao hơn của Agnisuryan không được nhắc đến, và dạng cao hơn (được giả định) của Agnichaitan cũng vậy.

352. Again, we do not see that the devas of the lower mental plane are excluded from the category of Agnishvattas.

352. Một lần nữa, chúng ta không thấy rằng các thiên thần của cõi hạ trí bị loại khỏi phạm trù Agnishvatta.

353. We note as well that each of these devas works within the cosmic physical plane.

353. Chúng ta cũng lưu ý rằng mỗi loại thiên thần này đều hoạt động trong cõi hồng trần vũ trụ.

The Agnichaitans. These are the devas who construct, and build in matter of the densest kind in connection with logoic manifestation. They function on the seventh subplane of the cosmic physical plane, and are the producers of the greatest concretion.

Các Agnichaitan. Đây là những thiên thần kiến tạo và xây dựng trong loại vật chất đậm đặc nhất liên quan đến sự biểu lộ của Thượng đế. Các vị ấy hoạt động trên cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ, và là những tác nhân tạo ra sự kết tụ lớn nhất.

354. There are less dense forms of concretion. The lowest Agnichaitans concern the densest form of concretion—that which is to be found upon the seventh and lowest systemic subplane.

354. Có những dạng kết tụ ít đậm đặc hơn. Các Agnichaitan thấp nhất liên quan đến dạng kết tụ đậm đặc nhất—dạng được tìm thấy trên cõi phụ thứ bảy và thấp nhất của hệ thống.

355. Agnichaitans in general are found on all the seven systemic physical and etheric subplanes.

355. Các Agnichaitan nói chung được tìm thấy trên cả bảy cõi phụ hồng trần và dĩ thái của hệ thống.

In the planetary body of our planetary Logos they are the builders of the Earth, His densest form, and throughout the entire solar system they are the sum-total of that activity and vibration [Page 634] which demonstrates through what we call “solid substance.”

Trong thể hành tinh của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, các vị ấy là những đấng kiến tạo của Trái Đất, hình tướng đậm đặc nhất của Ngài, và trong toàn thể hệ mặt trời, các vị ấy là tổng thể của hoạt động và rung động biểu lộ qua điều mà chúng ta gọi là “chất liệu rắn.”[Page 634]

356. They are also concerned with systemic etheric manifestation.

356. Các vị ấy cũng liên quan đến sự biểu lộ dĩ thái của hệ thống.

357. It is important to remind ourselves that apparently “solid substance” is not “solid” at all and really a condition of atomic congestion.

357. Điều quan trọng là phải nhắc mình rằng “chất liệu rắn” bề ngoài thật ra hoàn toàn không “rắn”, mà thực sự là một trạng thái tắc nghẽn nguyên tử.

Therefore, it will be apparent that under the law they will have a peculiarly powerful effect on the lowest subplane of the systemic physical plane; hence their esoteric appellation of the “Agnichaitans of the inner or central heat.”

Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng theo định luật, các vị ấy sẽ có một tác động đặc biệt mạnh mẽ trên cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống; do đó mới có danh xưng huyền bí của các vị ấy là “các Agnichaitan của nhiệt bên trong hay trung tâm.”

358. The Agnichaitans have a wider range of effect than is emphasized in this section of text. Here they are most related to the very densest of all the systemic subplanes—the forty-ninth and lowest systemic subplane.

358. Các Agnichaitan có phạm vi tác động rộng hơn điều được nhấn mạnh trong đoạn văn này. Ở đây các vị ấy được liên hệ nhiều nhất với cõi phụ đậm đặc nhất trong tất cả các cõi phụ của hệ thống—cõi phụ thứ bốn mươi chín và thấp nhất của hệ thống.

359. The inference to be gathered is that the “inner or central heat” is to be found within matter of the very lowest kind—that found upon the lowest subplane of the systemic physical plane.

359. Điều suy ra cần rút lấy là “nhiệt bên trong hay trung tâm” này được tìm thấy trong loại vật chất thấp nhất—loại được tìm thấy trên cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống.

360. This “inner or central heat” is a form of “latent fire”, as we have studied in the earliest sections of this treatise.

360. “Nhiệt bên trong hay trung tâm” này là một dạng của “lửa tiềm ẩn”, như chúng ta đã nghiên cứu trong những phần đầu tiên của bộ luận này.

They are the totality of the lowest vibration in the cosmic physical vehicle.

Các vị ấy là tổng thể của rung động thấp nhất trong vận cụ hồng trần vũ trụ.

361. We are not here discussing the possibility of a category of matter even lower in vibration than the seventh and lowest physical subplane. Speculations about an eighth (and lower) level of matter are reasonable and hints about such a level are given in the text.

361. Ở đây chúng ta không bàn đến khả năng có một loại vật chất còn thấp hơn về rung động so với cõi phụ hồng trần thứ bảy và thấp nhất. Những suy đoán về một cấp vật chất thứ tám (và thấp hơn) là hợp lý, và trong văn bản có đưa ra những gợi ý về một cấp như thế.

362. We must remember, however, that although the very lowest subplane of the systemic physical subplane is emphasized in relation to the Agnichaitans, they are active and influential on all the seven dense and etheric subplanes (and perhaps in relation to the systemic atmic plane).

362. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng mặc dù cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống được nhấn mạnh khi liên hệ với các Agnichaitan, các vị ấy vẫn hoạt động và có ảnh hưởng trên cả bảy cõi phụ đậm đặc và dĩ thái (và có lẽ cả trong liên hệ với cõi atma của hệ thống).

The Agnisuryans are the builders on the sixth subplane of the cosmic physical plane, our systemic astral plane.

Các Agnisuryan là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, tức cõi cảm dục của hệ thống chúng ta.

363. We note that the Agnisuryans are spoken of in relation to the entire sixth subplane of the cosmic physical plane, and not just its lowest level.

363. Chúng ta lưu ý rằng các Agnisuryan được nói đến trong liên hệ với toàn bộ cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, chứ không chỉ riêng cấp thấp nhất của nó.

They represent, as I have before hinted, the sympathetic nervous system in the logoic physical body, just as their brothers of the seventh vibration represent the sumtotal of the circulatory or blood system.

Các vị ấy biểu hiện, như tôi đã gợi ý trước đây, hệ thần kinh giao cảm trong thể hồng trần của Thượng đế, cũng như các huynh đệ của các vị ấy thuộc rung động thứ bảy biểu hiện tổng thể của hệ tuầnhoàn hay hệ máu.

364. Let us tabulate the hinted relationship:

364. Chúng ta hãy lập bảng mối liên hệ được gợi ý này:

a. Agnisuryans—the sympathetic nervous system in the logoic physical body

a. Agnisuryans—hệ thần kinh giao cảm trong thể hồng trần của Thượng đế

b. Agnichaitans—the circulatory or blood system

b. Agnichaitans—hệ tuần hoàn hay hệ máu

365. The following quotation from EH, 143, may shed some unexpected light upon the relationship between the devic brothers of the sixth and seventh orders.

365. Đoạn trích sau từ EH, 143, có thể soi sáng một cách bất ngờ lên mối liên hệ giữa các huynh đệ thiên thần thuộc cấp thứ sáu và thứ bảy.

1. The etheric vehicle from the circulatory angle, is governed by the Moon, as it veils Vulcan.

1. Vận cụ dĩ thái, xét từ góc độ tuần hoàn, được Mặt Trăng cai quản, khi nó che phủ Vulcan.

2. The nervous system is ruled by Venus.

2. Hệ thần kinh được Sao Kim cai quản.

3. The endocrine system is governed by Saturn.

3. Hệ nội tiết được Sao Thổ cai quản.

4. The blood stream is governed by Neptune. (EH 143)

4. Dòng máu được Sao Hải Vương cai quản. (EH 143)

366. The Agnichaitans are particularly associated with Vulcan and we do see Vulcan here associated with etheric circulation.

366. Các Agnichaitan đặc biệt liên kết với Vulcan, và ở đây quả thật chúng ta thấy Vulcan được liên kết với sự tuần hoàn dĩ thái.

367. The circulation of the blood however is governed by Neptune, a planet far more closely related to the Agnisuryans (in both their astral and buddhic expressions) than to the Agnichaitans.

367. Tuy nhiên, sự tuần hoàn của máu lại được Sao Hải Vương cai quản, một hành tinh liên hệ mật thiết với các Agnisuryan (trong cả biểu lộ cảm dục lẫn Bồ đề của các vị ấy) hơn là với các Agnichaitan.

A hint to the student who is interested in the physiological key lies in the relationship between the two great groups of devas who build and construct the most objective portion of logoic manifestation, and the two groups of corpuscles which in their mutual interaction hold the body in health;

Một gợi ý cho đạo sinh quan tâm đến chìa khóa sinh lý học nằm trong mối liên hệ giữa hai nhóm lớn thiên thần kiến tạo và xây dựng phần khách quan nhất của sự biểu lộ của Thượng đế, và hai nhóm huyết cầu mà trong sự tương tác lẫn nhau của chúng giữ cho cơ thể được khỏe mạnh;

368. It is suggested that we study both the white and red corpuscles of the blood in order to understand the relationship between the Agnisuryans and Agnichaitans.

368. Người ta gợi ý rằng chúng ta nên nghiên cứu cả bạch huyết cầu lẫn hồng huyết cầu để hiểu mối liên hệ giữa các Agnisuryan và Agnichaitan.

369. Perhaps we can relate the white corpuscles to the Agnichaitans and the red corpuscles to the Agnisuryans.

369. Có lẽ chúng ta có thể liên hệ bạch huyết cầu với các Agnichaitan và hồng huyết cầu với các Agnisuryan.

there is an analogy also in the relationship between the devas of the astral plane, and the motor and sensory nerves of the physical body. I will not enlarge upon this angle of vision.

Cũng có một sự tương đồng trong mối liên hệ giữa các thiên thần của cõi cảm dục và các dây thần kinh vận động cùng cảm giác của thể xác. Tôi sẽ không khai triển thêm về góc nhìn này.

370. We can leave the elucidation of this analogy to the medical students of this treatise.

370. Chúng ta có thể để việc làm sáng tỏ sự tương đồng này cho các đạo sinh y khoa của bộ luận này.

371. From a qualitative angle, however, we do know that the astral plane is associated with the guna of “rajas” or mobility.

371. Tuy nhiên, xét từ góc độ phẩm tính, chúng ta biết rằng cõi cảm dục được liên kết với guna “rajas” hay tính động.

372. Is DK suggesting that there are two kinds of devas of the astral plane? Earlier He mentioned devas associated with desire, feeling and sentiency and those related to the astral light. Are these the two categories of devas under discussion and are they related to Venus and Mars—the devas of the astral light to Venus and he devas of desire and feeling to Mars?

372. Phải chăng Chân sư DK đang gợi ý rằng có hai loại thiên thần của cõi cảm dục? Trước đó Ngài đã nhắc đến các thiên thần liên hệ với dục vọng, cảm xúc và cảm giác, và những vị liên hệ với ánh sáng cảm dục. Phải chăng đây là hai loại thiên thần đang được bàn đến, và chúng có liên hệ với Sao Kim và Sao Hỏa—các thiên thần của ánh sáng cảm dục với Sao Kim, còn các thiên thần của dục vọng và cảm xúc với Sao Hỏa?

373. In one of the references from EH immediately above, we find Venus related to the nervous system, presumably to its sensory aspect. It makes sense to consider Mars (so influential in relation to the astral plane) as the planet conditioning the motor nerves.

373. Trong một trong các trích dẫn từ EH ngay phía trên, chúng ta thấy Sao Kim được liên hệ với hệ thần kinh, có lẽ là với phương diện cảm giác của nó. Có lý khi xem Sao Hỏa (có ảnh hưởng rất mạnh trong liên hệ với cõi cảm dục) là hành tinh tác động lên các dây thần kinh vận động.

These devas have to do, in a very esoteric sense, with the nerve plexus in the:

Các thiên thần này liên quan, theo một ý nghĩa rất huyền bí, đến đám rối thần kinh trong:

a. Solar system. (Physical Sun)

a. Hệ mặt trời. (Mặt Trời hồng trần)

b. Planetary scheme. (Dense Planet)

b. Hệ hành tinh. (Hành tinh đậm đặc)

c. Human physical body. (Dense Body)

c. Thể xác con người. (Thể đậm đặc)

374. In the human physical body the nerve plexus concerned is that which is associated with the solar plexus center.

374. Trong thể xác con người, đám rối thần kinh được nói đến là đám rối liên kết với trung tâm tùng thái dương.

375. We know the location of the nerve plexus in the human physical body but not within the dense planet and certainly not within the physical sun.

375. Chúng ta biết vị trí của đám rối thần kinh trong thể xác con người, nhưng không biết trong hành tinh đậm đặc, và chắc chắn không biết trong mặt trời hồng trần.

376. The nervous system itself is a dense physical construct underlain by etheric nadis. The responsiveness of the nervous system, however, seems to have much to do with astral forces.

376. Bản thân hệ thần kinh là một cấu trúc hồng trần đậm đặc được nâng đỡ bởi các nadi dĩ thái. Tuy nhiên, tính đáp ứng của hệ thần kinh dường như liên quan rất nhiều đến các mãnh lực cảm dục.

377. The nature of our planet as a living being is now slowly coming into human consciousness. The parts of our planet which correspond to the human physical body will gradually be discovered. Humanity is probably not yet ready for such sensitive knowledge.

377. Bản chất của hành tinh chúng ta như một sinh thể đang sống hiện nay đang chậm rãi đi vào tâm thức nhân loại. Những phần của hành tinh chúng ta tương ứng với thể xác con người sẽ dần dần được khám phá. Có lẽ nhân loại vẫn chưa sẵn sàng cho loại tri thức nhạy cảm như thế.

and are therefore a powerful factor in the eventual vitalisation of the centres in man.

và vì vậy là một yếu tố mạnh mẽ trong việc tiếp sinh lực sau cùng cho các trung tâm trong con người.

378. DK seems to be suggesting that all the centers in man owe much to the astral devas in the matter of their vitalization.

378. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng mọi trung tâm trong con người đều mang ơn rất nhiều đối với các thiên thần cảm dục trong vấn đề tiếp sinh lực cho chúng.

379. We do know that aspiration (a largely astral activity) plays a significant role in the activation of the centers.

379. Chúng ta quả thật biết rằng khát vọng (một hoạt động phần lớn thuộc cảm dục) giữ một vai trò đáng kể trong việc hoạt hóa các trung tâm.

The etheric centres, or the focal points of force of a Heavenly Man are on the fourth cosmic ether, the buddhic plane.

Các trung tâm dĩ thái, hay các tiêu điểm mãnh lực của một Đấng Thiên Nhân, nằm trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề.

380. As Chart VIII in TCF shows, this is true as regards some of the etheric centers, but probably not all, if the analogy between the positions of the human etheric centers and those of a Planetary Logos is to be maintained.

380. Như Biểu đồ VIII trong TCF cho thấy, điều này đúng đối với một số trung tâm dĩ thái, nhưng có lẽ không phải tất cả, nếu sự tương đồng giữa vị trí các trung tâm dĩ thái của con người và của một Hành Tinh Thượng Đế được duy trì.

The astral plane is closely allied to the buddhic, and as the etheric centres of our Heavenly Man, for instance, come into full activity, the force is transmitted through the astral correspondence [Page 635] to the fourth physical ether, in which the centres of man exist.

Cõi cảm dục liên kết chặt chẽ với cõi Bồ đề, và khi các trung tâm dĩ thái của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, chẳng hạn, đi vào hoạt động trọn vẹn, mãnh lực được chuyển truyền qua sự tương ứng cảm dục [Page 635] đến dĩ thái hồng trần thứ tư, nơi các trung tâm của con người hiện hữu.

381. Again, a number of these centers in man do exist within the fourth physical ether, but not all.

381. Một lần nữa, một số trung tâm này trong con người quả thật hiện hữu trong dĩ thái hồng trần thứ tư, nhưng không phải tất cả.

382. The paths of transmission are governed by the principle of numerical resonance. We do not know, however, the exact method of transmission.

382. Các con đường truyền dẫn được chi phối bởi nguyên lý cộng hưởng số học. Tuy nhiên, chúng ta không biết phương pháp truyền dẫn chính xác.

383. The etheric centers of a Heavenly Man may be considered as Ashrams containing the higher principles of the human being. We certainly do not bring our lower principles into the Ashram.

383. Các trung tâm dĩ thái của một Đấng Thiên Nhân có thể được xem như các ashram chứa đựng các nguyên khí cao của con người. Chắc chắn chúng ta không mang các nguyên khí thấp của mình vào ashram.

The Agnishvattas are the builders on the fifth or gaseous subplane of the cosmic physical, and—from the human standpoint—are the most profoundly important, for they are the builders of the body of consciousness per se.

Các Agnishvatta là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ năm hay cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ, và—xét từ quan điểm con người—là quan trọng sâu xa nhất, vì các vị ấy là những đấng kiến tạo của chính thể tâm thức.

384. The lower mental body is, apparently, also considered an aspect of the body of consciousness.

384. Thể trí thấp, theo bề ngoài, cũng được xem là một phương diện của thể tâm thức.

385. The egoic lotus on the higher mental plane is for most human beings the destined body of consciousness per se. Meanwhile the lower mental body serves this function.

385. Hoa Sen Chân Ngã trên Cõi thượng trí, đối với phần lớn nhân loại, là thể tâm thức đích định. Trong khi đó, thể trí thấp đảm nhiệm chức năng này.

From the psychic standpoint of occult physiology, they have a close connection with the physical brain, the seat or empire of the Thinker, and as at this stage all that we can know must be viewed kama-manasically, it will be apparent that between the sympathetic nervous system and the brain is such a close interaction as to make one organised whole.

Từ quan điểm thông linh của sinh lý học huyền bí, chúng có liên hệ mật thiết với bộ não hồng trần, là chỗ ngự hay vương quốc của Thức giả, và vì ở giai đoạn này tất cả những gì chúng ta có thể biết đều phải được nhìn dưới góc độ trí-cảm, nên sẽ hiển nhiên rằng giữa hệ thần kinh giao cảm và bộ não có một sự tương tác mật thiết đến mức tạo thành một toàn thể có tổ chức.

386. The implication is that the kama-manas and the sympathetic nervous system are closely allied.

386. Hàm ý ở đây là kama-manas và hệ thần kinh giao cảm có liên hệ rất mật thiết.

387. Agnishvattas (apparently of two main varieties—one solar and one lunar) are closely related to the human physical brain.

387. Agnishvattas (dường như có hai loại chính—một thái dương và một thái âm) có liên hệ mật thiết với bộ não hồng trần của con người.

388. We have a further implication that man, presently, is a very kama-manasic being and finds his thought process almost inextricably entangled with kama.

388. Chúng ta còn có thêm một hàm ý nữa rằng hiện nay con người là một hữu thể rất trí-cảm và thấy tiến trình tư tưởng của mình hầu như bị vướng mắc không thể gỡ ra với kama.

389. The relationships expressed in this section of text are reflections of the very close relationship between Mercury (manas) and Venus, (kama-manas).

389. Những mối liên hệ được diễn tả trong phần văn bản này là các phản chiếu của mối liên hệ rất mật thiết giữa Sao Thủy (manas) và Sao Kim, (kama-manas).

This microcosmic correspondence is of interest, but in studying these groups of devas at present we will view them principally in their work as systemic and planetary builders, leaving the student to trace out for himself the human analogy.

Sự tương ứng vi mô này thật đáng quan tâm, nhưng khi nghiên cứu các nhóm thiên thần này hiện nay chúng ta sẽ xem xét chúng chủyếu trong công việc của chúng với tư cách là các đấng kiến tạo hệ thống và hành tinh, để đạo sinh tự mình truy ra phép loại suy nơi con người.

390. If we study carefully, we will be equipped to trace the human analogy.

390. Nếu nghiên cứu cẩn thận, chúng ta sẽ có đủ khả năng để truy ra phép loại suy nơi con người.

He will learn thereby. Having indicated certain lines of thought, we will now take up these groups one at a time and consider them.

Nhờ đó y sẽ học được. Sau khi đã chỉ ra một số tuyến tư tưởng, giờ đây chúng ta sẽ lần lượt xét từng nhóm này và khảo cứu chúng.

391. The general outline has been presented. We are given a view of the Agnichaitans, the Agnisuryans, and the Agnishvattas in their role as planetary builders.

391. Dàn ý tổng quát đã được trình bày. Chúng ta được cho thấy một cái nhìn về các Agnichaitans, các Agnisuryans, và các Agnishvattas trong vai trò các đấng kiến tạo hành tinh.

392. We will now learn something more specific about them.

392. Giờ đây chúng ta sẽ tìm hiểu điều gì đó cụ thể hơn về chúng.

TCF 635 - 658: S6S7

24 December 2007 – 8 January 2008

24 tháng 12 năm 2007 – 8 tháng 1 năm 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Xin đề nghị phần Bình Giải này nên được đọc cùng với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.

The Agnichaitans—Physical Plane Devas.

Các Agnichaitans—Thiên thần cõi hồng trần.

These devas are the sumtotal of physical plane substance.

Các thiên thần này là tổng thể chất liệu cõi hồng trần.

1. From a cosmic perspective, the entire cosmic physical plane would be the expression of cosmic Agnichaitans—those expressing cosmic etheric energy and those still expressing the energy of the dense cosmic physical plane—our lower twenty-one systemic subplanes.

1. Từ một viễn tượng vũ trụ, toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ sẽ là biểu hiện của các Agnichaitans vũ trụ—những vị biểu lộ năng lượng dĩ thái vũ trụ và những vị vẫn còn biểu lộ năng lượng của cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ—hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp của chúng ta.

This plane is, as we know, divided into two parts:

Như chúng ta biết, cõi này được chia thành hai phần:

 The four ethers, four subplanes.

 Bốn dĩ thái, bốn cõi phụ.

 The demonstrably concrete or dense three subplanes.

 Ba cõi phụ có thể chứng minh được là cụ thể hay đậm đặc.

2. Man can demonstrate the concreteness of the three lower subplanes. All subplanes within the dense physical body of the Solar Logos are concrete, but without an occult perspective, and occult means are not “demonstrably” concrete.

2. Con người có thể chứng minh tính cụ thể của ba cõi phụ thấp. Mọi cõi phụ trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế đều cụ thể, nhưng nếu không có viễn tượng huyền bí, và các phương tiện huyền bí thì không “có thể chứng minh được” là cụ thể.

We have here a subdivision of the seventh subplane of the cosmic physical plane making the lowest manifestation one that is divided into forty-nine subplanes or states of activity.

Ở đây chúng ta có một sự phân chia nhỏ của cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ, khiến biểu hiện thấp nhất trở thành một biểu hiện được chia thành bốn mươi chín cõi phụ hay trạng thái hoạt động.

3. How shall we define a subplane? From one perspective, it is a state of consciousness. From another (that given here), it is a state of activity.

3. Chúng ta sẽ định nghĩa một cõi phụ như thế nào? Từ một góc nhìn, đó là một trạng thái tâm thức. Từ một góc nhìn khác (góc nhìn được nêu ở đây), đó là một trạng thái hoạt động.

4. DK is telling us that the systemic physical plane can be divided into forty nine parts. These forty-nine divisions have not been (so it appears) named in His Teaching.

4. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng cõi hồng trần hệ thống có thể được chia thành bốn mươi chín phần. Bốn mươi chín phân chia này dường như chưa được nêu tên trong Giáo Huấn của Ngài.

For purposes of active work, the devas of the system are divided into forty-nine groups—the forty-nine fires.

Vì mục đích công việc tích cực, các thiên thần của hệ thống được chia thành bốn mươi chín nhóm—bốn mươi chín ngọn lửa.

5. This type of division is “Fohatic”—relating to the “Sons of Fohat” and all the divisions of the Raja Deva Lords. It relates to the third aspect of divinity.

5. Kiểu phân chia này là “Fohatic”—liên hệ đến “Các Con của Fohat” và mọi phân chia của các Chúa Tể Raja Deva. Nó liên hệ đến phương diện thứ ba của thiên tính.

The Agnichaitans in turn are also divided into forty-nine groups, thus reflecting the whole.

Đến lượt mình, các Agnichaitans cũng được chia thành bốn mươi chín nhóm, nhờ đó phản chiếu toàn thể.

6. Is DK speaking from a cosmic perspective?. Cosmically, all forty-nine subplanes are the domain of the Agnichaitans.

6. Phải chăng Chân sư DK đang nói từ một viễn tượng vũ trụ? Xét về mặt vũ trụ, cả bốn mươi chín cõi phụ đều là lãnh vực của các Agnichaitans.

7. If He is speaking only of the Agnichaitans of the seven systemic subplanes, then the differentiation has become minute. It does seem, however, that He is doing so. If so, this will mean that the entire cosmic physical plane has 343 groups of Agnichaitans.

7. Nếu Ngài chỉ nói về các Agnichaitans của bảy cõi phụ hệ thống, thì sự biến phân đã trở nên cực kỳ vi tế. Tuy nhiên, dường như Ngài đang làm như vậy. Nếu thế, điều này sẽ có nghĩa là toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ có 343 nhóm Agnichaitans.

[Page 636]

[Page 636]

1. The Raja-Lord. Kshiti. The life of the physical plane.

1. Chúa Tể Raja. Kshiti. Sự sống của cõi hồng trần.

8. It seems that we are beginning with systemic Kshiti, the Raja Deva Lord of the four systemic ethers and the three dense physical systemic subplanes.

8. Dường như chúng ta đang bắt đầu với Kshiti hệ thống, Chúa Tể Raja Deva của bốn dĩ thái hệ thống và ba cõi phụ hồng trần đậm đặc hệ thống.

2. Three groups of Agnichaitans concerned with:

2. Ba nhóm Agnichaitans liên quan đến:

A. The force or energy of physical substance. That electrical aspect which produces activity.

A. Mãnh lực hay năng lượng của chất liệu hồng trần. Phương diện điện lực tạo ra hoạt động.

B. The construction of forms. They produce the union of negative and positive substance, and thus bring into being all that can be seen, and touched in the exoteric and ordinary connotation.

B. Sự kiến tạo các hình tướng. Chúng tạo ra sự kết hợp của chất liệu âm và dương, và nhờ đó làm phát sinh mọi điều có thể được thấy và chạm đến theo nghĩa ngoại môn và thông thường.

C. The internal heat of substance which nourishes and causes reproduction. They form the purely mother aspect.

C. Nhiệt nội tại của chất liệu nuôi dưỡng và gây ra sự sinh sản. Chúng tạo thành phương diện mẫu thân thuần túy.

9. The three groups of Agnichaitans correspond to the three aspects of divinity.

9. Ba nhóm Agnichaitans tương ứng với ba phương diện của thiên tính.

10. The first group, Group A., is definitely electrical and seems to correlate with the highest kind of pranic energy, though a little later in this text prana is associated with the Law of Attraction, the second aspect and magnetism. It is worth noting that the first group of Agnichaitans are connected with the “electrical aspect”. We are accustomed to the association between the first aspect and electric fire, but sometimes it is the third aspect which is associated with electricity.

10. Nhóm thứ nhất, Nhóm A., rõ ràng có tính điện lực và dường như tương quan với loại năng lượng prana cao nhất, dù ở phần sau của văn bản này prana lại được liên kết với Định luật Hấp Dẫn, phương diện thứ hai và từ điện. Điều đáng lưu ý là nhóm Agnichaitans thứ nhất được nối kết với “phương diện điện lực”. Chúng ta quen với sự liên kết giữa phương diện thứ nhất và Lửa Điện, nhưng đôi khi chính phương diện thứ ba lại được liên kết với điện lực.

11. The second group, Group B., seems to be magnetic and to express a variation of the Law of Attraction. In this case, “positive substance” could be considered atomic in nature, and “negative substance”, densely physical—i.e., substance of the lower three subplanes.

11. Nhóm thứ hai, Nhóm B., dường như có tính từ tính và biểu lộ một biến thể của Định luật Hấp Dẫn. Trong trường hợp này, “chất liệu dương” có thể được xem là có bản chất nguyên tử, còn “chất liệu âm” là hồng trần đậm đặc—tức chất liệu của ba cõi phụ thấp.

12. The third group, Group C., seems to correlate with what we have studied earlier in the treatise as “latent heat”. We note that this internal fire nourishes the physical form and also causes reproduction. It is, therefore, most closely associated with the sacral center, which from one perspective is the most physically correlated of all the seven major chakras.

12. Nhóm thứ ba, Nhóm C., dường như tương quan với điều chúng ta đã nghiên cứu trước đó trong bộ luận này như là “nhiệt tiềm ẩn”. Chúng ta lưu ý rằng ngọn lửa nội tại này nuôi dưỡng hình tướng hồng trần và cũng gây ra sự sinh sản. Vì vậy, nó được liên kết mật thiết nhất với trung tâm xương cùng, vốn từ một góc nhìn là trung tâm tương quan hồng trần nhất trong bảy luân xa chính.

13. If we are speaking of the systemic etheric-physical plane only, the three groups are the correspondences upon that plane of electric fire, equilibrizing/uniting fire and fire by friction. Sometimes the lowest fire is divided into two categories, active heat and latent heat, but there is also a viable threefold division, such as is being used in this section of text.

13. Nếu chúng ta chỉ nói về cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống, thì ba nhóm là những tương ứng trên cõi đó của Lửa Điện, lửa quân bình/hợp nhất và Lửa ma sát. Đôi khi ngọn lửa thấp nhất được chia thành hai loại, nhiệt hoạt động và nhiệt tiềm ẩn, nhưng cũng có một sự phân chia tam phân khả dụng, như đang được dùng trong phần văn bản này.

14. Depending on how we interpret what is said immediately below, we could approach from either a systemic or cosmic perspective.

14. Tùy theo cách chúng ta diễn giải điều được nói ngay bên dưới, chúng ta có thể tiếp cận từ viễn tượng hệ thống hoặc vũ trụ.

15. We will probably discover that whatever is said of the Agnichaitans systemically could, analogically, be said of them cosmically—i.e., in relation to the cosmic physical plane as a whole.

15. Có lẽ chúng ta sẽ khám phá rằng bất cứ điều gì được nói về các Agnichaitans một cách hệ thống thì, theo phép loại suy, cũng có thể được nói về chúng một cách vũ trụ—tức là, trong liên hệ với toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ.

These three groups are subdivided again into seven groups which form the matter of each subplane,

Ba nhóm này lại được chia nhỏ thành bảy nhóm, tạo thành vật chất của mỗi cõi phụ,

16. We gather that we are speaking more of the number forty-nine than of the number twenty-one. The three systemic planes comprising each of the second and third divisions of Agnichaitans are each subdivided into seven subplanes.

16. Chúng ta hiểu rằng ở đây đang nói nhiều hơn đến con số bốn mươi chín hơn là con số hai mươi mốt. Ba cõi hệ thống cấu thành mỗi phần thứ hai và thứ ba của các Agnichaitans đều mỗi được chia nhỏ thành bảy cõi phụ.

17. We gather, then, that each of the physical systemic subplanes has seven modes of activity or seven types of matter. Of course each systemic plane has seven sub-modes of activity; we are used to this idea. The differentiation, however, becomes more complex.

17. Như vậy, chúng ta hiểu rằng mỗi cõi phụ hồng trần hệ thống có bảy phương thức hoạt động hay bảy loại vật chất. Dĩ nhiên mỗi cõi hệ thống đều có bảy phương thức hoạt động phụ; chúng ta đã quen với ý tưởng này. Tuy nhiên, sự biến phân trở nên phức tạp hơn.

18. We see the differentiations must be quite minute if forty-nine grades of matter or modes of activity are to be found in so small a vibrational range as the systemic etheric-physical plane.

18. Chúng ta thấy các sự biến phân hẳn phải cực kỳ vi tế nếu bốn mươi chín cấp độ vật chất hay phương thức hoạt động được tìm thấy trong một phạm vi rung động nhỏ như cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống.

19. We do not yet have an indication that each systemic subplane is further divided into forty-nine types of vibration or substance-matter.

19. Chúng ta vẫn chưa có chỉ dẫn nào cho thấy mỗi cõi phụ hệ thống lại còn được chia tiếp thành bốn mươi chín loại rung động hay chất liệu-vật chất.

viewing that matter as the body of manifestation of one of the seven devas through whom the Raja-Lord of the plane is manifesting.

xem vật chất ấy như thể biểu hiện của một trong bảy thiên thần mà qua đó Chúa Tể Raja của cõi đang biểu lộ.

20. Reviewing—a Raja Deva Lord is the very substance of one of the systemic planes throughout the solar system.

20. Tóm lại—một Chúa Tể Raja Deva là chính chất liệu của một trong các cõi hệ thống trong toàn bộ hệ mặt trời.

21. Each such Raja Deva Lord manifests through seven subsidiary deva lords each of whom is the substance of one of the seven subplanes of the systemic plane which the Raja Deva Lord informs.

21. Mỗi Chúa Tể Raja Deva như thế biểu lộ qua bảy chúa tể thiên thần phụ, mỗi vị là chất liệu của một trong bảy cõi phụ của cõi hệ thống mà Chúa Tể Raja Deva ấy thấm nhuần.

22. Kshiti (considered systemically) manifests through the seven subplanes of the systemic etheric-physical plane. Each of the subplanes of that systemic plane is informed by one of seven lords or devas subsidiary to Kshiti.

22. Kshiti (xét theo hệ thống) biểu lộ qua bảy cõi phụ của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống. Mỗi cõi phụ của cõi hệ thống ấy được một trong bảy chúa tể hay thiên thần phụ thuộc Kshiti thấm nhuần.

These seven groups are again divided into seven, making forty-nine.

Bảy nhóm này lại được chia thành bảy, thành ra bốn mươi chín.

23. If we were speaking cosmically we would be speaking of forty-nine systemic subplanes. However, we are speaking systemically and so we are saying that each of the seven subplanes of the systemic etheric-physical plane has seven subsidiary divisions of matter, each informed by a particular group of devas behind which is a particular devic entity inclusive of all examples of that vibrational group of devas.

23. Nếu chúng ta đang nói theo nghĩa vũ trụ thì chúng ta sẽ nói về bốn mươi chín cõi phụ hệ thống. Tuy nhiên, chúng ta đang nói theo nghĩa hệ thống, và vì thế chúng ta đang nói rằng mỗi một trong bảy cõi phụ của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống có bảy phân chia vật chất phụ, mỗi phân chia được một nhóm thiên thần đặc thù phía sau thấm nhuần, và phía sau nhóm ấy là một thực thể thiên thần đặc thù bao gồm mọi ví dụ của nhóm thiên thần có rung động ấy.

24. If we consider the entire cosmic physical plane, we will have 49 x 7 or 343 such deva groups, seven group per systemic subplane of the cosmic physical plane.

24. Nếu chúng ta xét toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta sẽ có 49 x 7 hay 343 nhóm thiên thần như vậy, bảy nhóm cho mỗi cõi phụ hệ thống của cõi hồng trần vũ trụ.

The three groups function as follows:

Ba nhóm này hoạt động như sau:

Group A. on the first subplane. They are the sumtotal of the atomic matter of the physical plane.

Nhóm A. trên cõi phụ thứ nhất. Chúng là tổng thể vật chất nguyên tử của cõi hồng trần.

25. There will be seven devic groups associated with Group A.

25. Sẽ có bảy nhóm thiên thần liên kết với Nhóm A.

Group B. on the second, third and fourth etheric subplanes. They are the substance of those planes, the transmitters of prana, through which prana flows to the most concrete aspects of the logoic dense vahan, or vehicle.

Nhóm B. trên cõi phụ dĩ thái thứ hai, thứ ba và thứ tư. Chúng là chất liệu của các cõi ấy, là những vị truyền dẫn prana, qua đó prana chảy đến những phương diện cụ thể nhất của vahan đậm đặc logoic, hay vận cụ.