← Commentary_S6_574_679_song ngữ

chapter 001 17

Trích nội dung chương

26. We note that Group B. is particularly associated with prana. It seems that the pranic aspect is closely correlated with the second aspect of divinity. It has a certain cohesive power. 26. Chúng ta lưu ý rằng Nhóm B. đặc biệt liên hệ với prana. Dường như phương diện prana tương quan mật thiết với phương diện thứ hai của thiên tính. Nó có một quyền năng cố kết nhất định.


26. We note that Group B. is particularly associated with prana. It seems that the pranic aspect is closely correlated with the second aspect of divinity. It has a certain cohesive power.

26. Chúng ta lưu ý rằng Nhóm B. đặc biệt liên hệ với prana. Dường như phương diện prana tương quan mật thiết với phương diện thứ hai của thiên tính. Nó có một quyền năng cố kết nhất định.

27. There will be twenty-one devic groups associated with Group B.

27. Sẽ có hai mươi mốt nhóm thiên thần liên kết với Nhóm B.

Group C. the lowest three subplanes; they are the devas who are the essences of all that is tangible, visible and objective.

Nhóm C. ba cõi phụ thấp nhất; chúng là các thiên thần là tinh chất của mọi điều hữu hình, khả kiến và khách quan.

28. It is important to realize that devas are often called “essences”. They are that which substands the existence and perception of a certain type of substance-matter.

28. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng các thiên thần thường được gọi là “các tinh chất”. Chúng là cái nền tảng cho sự hiện hữu và sự tri giác của một loại chất liệu-vật chất nhất định.

29. As well, there will be twenty-one devic groups associated with Group C.

29. Ngoài ra, cũng sẽ có hai mươi mốt nhóm thiên thần liên kết với Nhóm C.

30. We note the method of systemic subplane division related to Groups A., B., and C. The method is 1—3—3. There are, of course, other ways to divide septenates, as we have discussed elsewhere in these commentaries.

30. Chúng ta lưu ý phương pháp phân chia cõi phụ hệ thống liên hệ với các Nhóm A., B., và C. Phương pháp ấy là 1—3—3. Dĩ nhiên còn có những cách khác để phân chia các bộ bảy, như chúng ta đã bàn ở nơi khác trong các phần bình giải này.

31. In the following section we are dealing not with the microcosm but with divisions within the macrocosm. We should remain alert when DK switches levels.

31. Trong phần sau đây, chúng ta không bàn đến tiểu thiên địa mà bàn đến các phân chia trong đại thiên địa. Chúng ta nên luôn tỉnh táo khi Chân sư DK chuyển cấp độ.

A very real distinction must be made by students between the centres and the remainder of the body, as they investigate the construction of the body of the solar Logos or of a planetary Logos.

Đạo sinh phải phân biệt thật rõ giữa các trung tâm và phần còn lại của thể, khi khảo cứu sự kiến tạo thân thể của Thái dương Thượng đế hay của một Hành Tinh Thượng Đế.

[Page 637]

[Page 637]

The centres are allied or connected with consciousness, and are composed of self-conscious units—the human Monads.

Các trung tâm được liên kết hay nối kết với tâm thức, và được cấu thành bởi các đơn vị tự ý thức—các chân thần nhân loại.

32. DK is speaking of the centers in a Planetary Logos or Solar Logos.

32. Chân sư DK đang nói về các trung tâm trong một Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế.

33. A question remains concerning whether all the centers in a Planetary Logos or Solar Logos are composed only of human Monads, or whether some of them are composed or deva Monads.

33. Vẫn còn một câu hỏi về việc liệu mọi trung tâm trong một Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế có chỉ được cấu thành bởi các chân thần nhân loại hay không, hoặc liệu một số trung tâm trong đó lại được cấu thành bởi các chân thần thiên thần.

34. The following references (and especially the first) tend to raise the question.

34. Những tham chiếu sau đây (và đặc biệt là tham chiếu thứ nhất) có khuynh hướng nêu lên câu hỏi ấy.

Here comes the opportunity to make clear something that is oft lost sight of in the general fog surrounding this subject. The human and deva units on the upward arc, who are the cells in His body, go to the formation of the centres, and not to the remainder of the cellular vital substance of His vehicles. Man has a body made up of matter which is applied to different uses, yet which forms a unit. In this unit there are certain areas of more vital importance than other areas from the standpoint of energising force. Such an area as the heart may, in this connection, be considered and compared (as regards force value) with such an area as the calf of the leg. The entity, man, utilises both, but the heart centre is of paramount importance. Thus is it also with a Heavenly Man. The two great Hierarchies—deva and human—are force centres in the body of a planetary Logos; the other evolutions of an involutionary nature extant within the scheme, and the remainder of the active substance of the globes, and all contained therein, go to the content of the remainder of His body. (TCF 356)

Ở đây xuất hiện cơ hội để làm sáng tỏ một điều thường bị bỏ quên trong màn sương mù chung bao quanh chủ đề này. Các đơn vị nhân loại và thiên thần trên cung đi lên, là những tế bào trong thân thể của Ngài, góp phần vào việc hình thành các trung tâm, chứ không phải vào phần còn lại của chất liệu sinh lực tế bào trong các vận cụ của Ngài. Con người có một thể được tạo thành từ vật chất được dùng vào những công dụng khác nhau, nhưng vẫn tạo thành một đơn vị. Trong đơn vị này có những vùng quan trọng về sinh lực hơn những vùng khác xét từ quan điểm của mãnh lực tiếp năng lượng. Trong mối liên hệ này, một vùng như tim có thể được xem xét và so sánh (về giá trị mãnh lực) với một vùng như bắp chân. Thực thể là con người sử dụng cả hai, nhưng trung tâm tim có tầm quan trọng tối thượng. Với một Đấng Thiên Nhân cũng vậy. Hai Huyền Giai lớn—thiên thần và nhân loại—là các trung tâm mãnh lực trong thân thể của một Hành Tinh Thượng Đế; các tiến hoá khác có bản chất giáng hạ tiến hoá hiện hữu trong hệ hành tinh, và phần còn lại của chất liệu hoạt động của các bầu hành tinh, cùng mọi thứ chứa trong đó, góp phần vào nội dung của phần còn lại trong thân thể của Ngài. (TCF 356)

As other of His centres are vitalised, and come into full activity, other methods of stimulating the cells in His body (the deva and human monads) may be followed, but for the present the cosmic Rod of Initiation, which is applied to a Heavenly Man, in much the same manner as the lesser rods are applied to man, is being utilised in such a way that it produces that specific stimulation which demonstrates in the activity of man on the Path of Probation and the Path of Initiation. (IHS 178)

Khi các trung tâm khác của Ngài được tiếp sinh lực và đi vào hoạt động đầy đủ, những phương pháp khác để kích thích các tế bào trong thân thể của Ngài (các chân thần thiên thần và nhân loại) có thể được áp dụng, nhưng hiện nay Thần Trượng Điểm đạo vũ trụ, được áp dụng cho một Đấng Thiên Nhân gần giống như các thần trượng nhỏ hơn được áp dụng cho con người, đang được sử dụng theo cách tạo ra sự kích thích đặc thù được biểu lộ trong hoạt động của con người trên Con Đường Dự Bị và Con Đường Điểm Đạo. (IHS 178)

Similarly, this triple force, produced by this conscious appropriation by the Heavenly Man, animates deva substance and the dense physical body of the planetary Logos is manifested objectively. This is what is meant by the statements that devas are found only in the three worlds. It is a statement analogous to the one that humanity is only found in the three worlds; nevertheless, the human Monads in their seven types are found on the plane of spirit—as it is the plane of duality—the deva monads are likewise found there. TCF 691)

Tương tự như vậy, mãnh lực tam phân này, được tạo ra bởi sự chiếm hữu có ý thức này của Đấng Thiên Nhân, làm sinh động chất liệu thiên thần và thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế được biểu lộ một cách khách quan. Đây là điều được hàm ý trong những phát biểu rằng các thiên thần chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới. Đó là một phát biểu tương tự với phát biểu rằng nhân loại chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới; tuy nhiên, các chân thần nhân loại trong bảy loại của chúng được tìm thấy trên cõi tinh thần—vì đó là cõi của nhị nguyên tính—các chân thần thiên thần cũng được tìm thấy ở đó tương tự như vậy. TCF 691)

Each of the kingdoms of nature is the expression of a Life or Being; man, for instance, being the expression of one or other of the Heavenly Men; the sumtotal of humanity (the fourth Hierarchy) being found, with the deva evolution, as the centres of the solar Logos. The animal kingdom likewise is the expression of the life of a Being Who is a part of the body of the Logos or of the planetary Logos, but not a centre of conscious energy. (A correspondence is found in the human body, which has its seven centres of force or energy, but also other organs upon which objective manifestation depends in lesser degree.) Such an Entity finds expression through the animal kingdom, of which He is the informing Soul, and He has definite place in the planetary or logoic body. (TCF 461)

Mỗi giới trong các giới của bản chất là biểu hiện của một Sự sống hay một Hữu thể; chẳng hạn con người là biểu hiện của một hay một vị khác trong các Đấng Thiên Nhân; tổng thể nhân loại (Huyền Giai thứ tư) được tìm thấy, cùng với tiến hoá thiên thần, như các trung tâm của Thái dương Thượng đế. Giới động vật cũng vậy, là biểu hiện của sự sống của một Hữu thể là một phần của thân thể của Thượng đế hay của Hành Tinh Thượng Đế, nhưng không phải là một trung tâm năng lượng có ý thức. (Có một sự tương ứng trong thể người, vốn có bảy trung tâm mãnh lực hay năng lượng, nhưng cũng có những cơ quan khác mà biểu hiện khách quan tùy thuộc vào đó ở mức độ thấp hơn.) Một Thực Thể như thế biểu lộ qua giới động vật, mà Ngài là Linh hồn thấm nhuần, và Ngài có một vị trí xác định trong thể hành tinh hay logoic. (TCF 461)

The remainder of the body is composed of deva substance, yet the two together form a unity.

Phần còn lại của thể được cấu thành bởi chất liệu thiên thần, tuy nhiên cả hai cùng nhau tạo thành một hợp nhất.

35. As indicated above, the section of text immediately above may have to be qualified.

35. Như đã chỉ ra ở trên, phần văn bản ngay bên trên có thể cần được xác định lại.

36. It will be important to distinguish between “deva substance” which go to the composition of the “remainder of the body” of a Planetary Logos or Solar Logos, and “deva units on the upward arc” who are cells in the body of these Logoi and “go to the formation of the centres, and not to the remainder of the cellular vital substance of His vehicles”.

36. Điều quan trọng là phải phân biệt giữa “chất liệu thiên thần” góp phần cấu thành “phần còn lại của thể” của một Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế, và “các đơn vị thiên thần trên cung đi lên” là những tế bào trong thể của các Thượng đế này và “góp phần vào việc hình thành các trung tâm, chứ không phải vào phần còn lại của chất liệu sinh lực tế bào trong các vận cụ của Ngài”.

37. Perhaps this fine distinction alerts us to how carefully we must read when studying the varieties of the devas.

37. Có lẽ sự phân biệt tinh tế này cảnh báo chúng ta phải đọc cẩn thận đến mức nào khi nghiên cứu các loại thiên thần.

The deva units therefore far outnumber the human, and deva substance is also feminine and negative, the human Hierarchy being masculine.

Vì vậy, các đơn vị thiên thần đông hơn rất nhiều so với nhân loại, và chất liệu thiên thần cũng mang tính nữine và âm, còn Huyền Giai nhân loại thì mang tính namtính.

38. Again, we have to be cautious in our understanding of the word “unit”. Is it meant to signify the word “Monad” or something else? Or is it inclusive of the word “Monad” as well as descriptive of other types of devic lives?

38. Một lần nữa, chúng ta phải thận trọng trong việc hiểu từ “đơn vị”. Nó có được dùng để chỉ từ “chân thần” hay điều gì khác không? Hay nó bao gồm cả từ “chân thần” đồng thời cũng mô tả những loại sự sống thiên thần khác?

39. An important point is brought forward. The human Hierarchy is masculine; the deva hierarchy (although it does not say so explicitly in this reference) is feminine. There are a number of references throughout the Teaching which confirm this. In this reference, it is confirmed that deva “substance” is feminine and negative.

39. Một điểm quan trọng được nêu ra. Huyền Giai nhân loại là nam tính; huyền giai thiên thần (dù tham chiếu này không nói rõ như vậy) là nữ tính. Có một số tham chiếu xuyên suốt Giáo Huấn xác nhận điều này. Trong tham chiếu này, điều đó được xác nhận rằng “chất liệu” thiên thần là nữ tính và âm tính.

Through the positive activity of the centres, the negative deva substance is influenced, built and energized. This is true of a solar Logos, a planetary Logos and a human being.

Thông qua hoạt động dương của các trung tâm, chất liệu thiên thần âm tính được tác động, kiến tạo và tiếp năng lượng. Điều này đúng đối với một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng Đế và một con người.

40. We must realize that there are highly developed deva entities who are the very substance of the various centers.

40. Chúng ta phải nhận ra rằng có những thực thể thiên thần phát triển cao là chính chất liệu của các trung tâm khác nhau.

41. If certain deva units on the upward arc are also constituents of the centers of a Planetary Logos or Solar Logos, then such deva units also act in a positive and influential manner on “deva substance” per se. They do build and energize deva substance.

41. Nếu một số đơn vị thiên thần trên cung đi lên cũng là thành phần cấu tạo của các trung tâm của một Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế, thì các đơn vị thiên thần ấy cũng tác động theo cách dương tính và có ảnh hưởng lên chính chất liệu thiên thần. Chúng thực sự kiến tạo và tiếp năng lượng cho chất liệu thiên thần.

42. We are to remember, as well, that he permanent atoms which act as the seventh principle to the various vehicles also influence, build and energize those vehicles.

42. Chúng ta cũng phải nhớ rằng các nguyên tử trường tồn hoạt động như nguyên khí thứ bảy đối với các vận cụ khác nhau cũng tác động, kiến tạo và tiếp năng lượng cho các vận cụ ấy.

Three types of force, therefore, play upon or through these devas:

Vì vậy, ba loại mãnh lực tác động lên hay xuyên qua các thiên thần này:

a. That energizing the devas of the first subplane, the atomic. This emanates directly from the first aspect of Brahma, or Agni, considering Him as a self-conscious Identity, the third Person of the logoic Trinity, and therefore Spirit, Soul and Body Himself in His separated essential nature.

a. Loại tiếp năng lượng cho các thiên thần của cõi phụ thứ nhất, cõi nguyên tử. Loại này phát xạ trực tiếp từ phương diện thứ nhất của Brahma, hay Agni, khi xem Ngài như một Bản Sắc tự ý thức, Ngôi thứ ba của Tam Vị logoic, và do đó chính là Tinh thần, Linh hồn và Thể trong bản chất thiết yếu biệt lập của Ngài.

43. Each Person of the logoic Trinity is threefold. Although there may be various ways of interpreting this section, one way is to consider Brahma as the entire “third Person” of the Logoic Trinity (Shiva and Vishnu, being the first and second persons respectively). In this case Agni will be considered the first aspect of Brahma (the Third Person). Yet, as we know, there are other ways of considering the identity of Agni—for instance as the entire personality of the Solar Logos, and thus as Brahma in its entirety.

43. Mỗi Ngôi của Tam Vị logoic đều là tam phân. Dù có thể có nhiều cách diễn giải phần này, một cách là xem Brahma như toàn bộ “Ngôi thứ ba” của Tam Vị Logoic (Shiva và Vishnu lần lượt là ngôi thứ nhất và thứ hai). Trong trường hợp này, Agni sẽ được xem là phương diện thứ nhất của Brahma (Ngôi thứ ba). Tuy nhiên, như chúng ta biết, còn có những cách khác để xem xét bản sắc của Agni—chẳng hạn như toàn bộ phàm ngã của Thái dương Thượng đế, và do đó là Brahma trong toàn thể của nó.

44. Brahma has three aspects just as have Shiva and Visnu.

44. Brahma có ba phương diện cũng như Shiva và Visnu đều có.

45. The first aspect of Brahma (Agni, according to the present section of text.) energizes the first subplane of the cosmic physical plane. There will also be a resonance through which Agni has a energizing effect on the first subplane of each systemic plane.

45. Phương diện thứ nhất của Brahma (Agni, theo phần văn bản hiện tại) tiếp năng lượng cho cõi phụ thứ nhất của cõi hồng trần vũ trụ. Cũng sẽ có một sự cộng hưởng nhờ đó Agni có tác dụng tiếp năng lượng lên cõi phụ thứ nhất của mỗi cõi hệ thống.

b. That energizing the devas of construction, or the form building groups; this comes from the second aspect of Brahma, and is prana, issuing from the physical Sun, and working under the Law of Attraction.

b. Loại tiếp năng lượng cho các thiên thần kiến tạo, hay các nhóm xây dựng hình tướng; loại này đến từ phương diện thứ hai của Brahma, và là prana, phát ra từ Mặt Trời hồng trần, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn.

46. We could call this second aspect of Brahma His ‘Vishnu’ aspect or His ‘Surya’ aspect. We could also correlate this second aspect with the Lord Varuna.

46. Chúng ta có thể gọi phương diện thứ hai này của Brahma là phương diện ‘Vishnu’ hay phương diện ‘Surya’ của Ngài. Chúng ta cũng có thể tương quan phương diện thứ hai này với Chúa Varuna.

47. The second aspect is always connected with form building and thus these devas (of the second, third and fourth subplanes or divisions) are “devas of construction”.

47. Phương diện thứ hai luôn gắn liền với việc xây dựng hình tướng, và vì vậy các thiên thần này (của các cõi phụ hay phân chia thứ hai, thứ ba và thứ tư) là “các thiên thần kiến tạo”.

48. It is important to notice that prana works under the Law of Attraction and thus under the second aspect. Prana is, from this perspective, magnetic.

48. Điều quan trọng cần lưu ý là prana hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn và do đó dưới phương diện thứ hai. Từ góc độ này, prana là từ tính.

c. That energizing the devas of the lowest three orders, emanating from Brahma in His third aspect.

c. Đó là cái tiếp sinh lực cho các thiên thần thuộc ba cấp thấp nhất, phát xuất từ Brahma trong phương diện thứ ba của Ngài.

49. We notice that DK gives no name for the second and third aspects of the lowest of the threefold Logoi, Brahma. We could consider this aspect the Brahma aspect of Brahma or the ‘Kshiti Aspect’.

49. Chúng ta nhận thấy rằng Chân sư DK không đặt tên cho phương diện thứ hai và thứ ba của vị thấp nhất trong Tam Vị Logoi, tức Brahma. Chúng ta có thể xem phương diện này là phương diện Brahma của Brahma hoặc là “Phương diện Kshiti”.

50. It is important to notice that Agni always carries the note of will and of the first aspect, not only the note of mentality.

50. Điều quan trọng cần lưu ý là Agni luôn mang âm điệu của ý chí và của phương diện thứ nhất, chứ không chỉ âm điệu của trí tuệ.

Thus in the dual force, or the aspects of matter itself, interacting the one upon the other, densest forms of all are produced. Yet these three function as one.

Như vậy, trong mãnh lực kép, hay các phương diện của chính vật chất, tương tác lẫn nhau, những hình tướng đậm đặc nhất trong tất cả được tạo ra. Tuy nhiên, ba loại này vận hành như một.

51. The densest forms are produced on the lower three subplanes of the cosmic physical plane, the twenty-one lowest systemic planes (including the higher mental plane, systemically considered).

51. Những hình tướng đậm đặc nhất được tạo ra trên ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ, tức hai mươi mốt cõi hệ thống thấp nhất (kể cả Cõi thượng trí, xét theo hệ thống).

52. How shall we consider “dual force”—as cosmic ether and cosmic dense substance?

52. Chúng ta nên hiểu “mãnh lực kép” như thế nào—như dĩ thái vũ trụ và chất liệu đậm đặc vũ trụ chăng?

53. The divisions we appear to be dealing with occur in the pattern 1—3—3.

53. Những phân chia mà chúng ta dường như đang bàn đến xuất hiện theo mô hình 1—3—3.

54. The three types of devas here mentioned as functioning “as one” are the devas representative of the one, the three and the lower three.

54. Ba loại thiên thần được nhắc đến ở đây như đang vận hành “như một” là các thiên thần đại diện cho một, ba, và ba thấp.

Group C. Agnichaitans. In considering these groups of Agnichaitans, we must remember that we are dealing with that manifestation of the Logos with which exoteric science is dealing, and that as regards Group C, science is already making fair progress in the accumulation of knowledge;

Nhóm C. Agnichaitans. Khi xem xét các nhóm Agnichaitans này, chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đang bàn đến biểu hiện của Logos mà khoa học ngoại môn đang nghiên cứu, và rằng đối với Nhóm C, khoa học đã đang đạt được tiến bộ khá tốt trong việc tích lũy tri thức;

55. Earlier in the text, this is said of Group C:

55. Trước đó trong bản văn, điều này đã được nói về Nhóm C:

Group C. the lowest three subplanes; they are the devas who are the essences of all that is tangible, visible and objective

Nhóm C. ba cõi phụ thấp nhất; đó là các thiên thần là tinh chất của mọi điều hữu hình, khả kiến và khách quan

56. We must be cautious in our approach, as there is that which in tangible, visible and objective from the systemic point of view and, on a higher turn of the spiral, from a cosmic point of view.

56. Chúng ta phải thận trọng trong cách tiếp cận, vì có những gì là hữu hình, khả kiến và khách quan từ quan điểm hệ thống và, ở một vòng xoắn cao hơn, từ quan điểm vũ trụ.

57. Certainly, the very lowest three subplanes of the systemic physical plane are presently under close scientific scrutiny. That scrutiny now extends into the first ether, or the first subplane which deals specifically with active fire rather than latent fire and thus with Agnichaitans of Group B.

57. Chắc chắn, chính ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống hiện đang được khoa học khảo sát chặt chẽ. Sự khảo sát ấy nay mở rộng đến dĩ thái thứ nhất, hay cõi phụ thứ nhất vốn đặc biệt liên quan đến lửa hoạt động thay vì lửa tiềm tàng, và do đó liên quan đến các Agnichaitans của Nhóm B.

58. Although the science of psychology is receiving much attention as is philosophical enquiry, it cannot yet be said that science is studying the true nature of the devas of the astral and lower mental subplanes.

58. Mặc dù khoa học tâm lý học đang nhận được nhiều chú ý, cũng như sự khảo cứu triết học, nhưng chưa thể nói rằng khoa học đang nghiên cứu bản chất đích thực của các thiên thần trên các cõi phụ cảm dục và hạ trí.

59. If we consider Group C. Agnichaitans from the cosmic perspective, however, these lower eighteen subplanes (and even the lower twenty-one) would be included. Group C. Agnichaitans would thus express through the dense physical body of the Solar Logos.

59. Tuy nhiên, nếu chúng ta xét Nhóm C. Agnichaitans từ góc độ vũ trụ, thì mười tám cõi phụ thấp này (và thậm chí cả hai mươi mốt cõi phụ thấp) sẽ được bao gồm. Khi ấy, Nhóm C. Agnichaitans sẽ biểu lộ qua thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

it remains yet for science to [Page 638] acknowledge the “entified” nature of substance,8,9 and thus account for the life that energizes the substance of the three lower subplanes.

Khoa học vẫn còn phải [Page 638] thừa nhận bản chất “được thể hoá” của chất liệu,8,9 và do đó giải thích được sự sống tiếp sinh lực cho chất liệu của ba cõi phụ thấp.

60. Science deals with matter-substance and, now, even considers it to be matter-force, however, does not consider matter-force as living or as possessing soul (and thus identity, even if unconscious identity).

60. Khoa học nghiên cứu vật chất-chất liệu và hiện nay thậm chí còn xem nó là vật chất-mãnh lực; tuy nhiên, khoa học không xem vật chất-mãnh lực là sống động hay là có linh hồn (và do đó có bản sắc, dù là bản sắc vô thức).

61. The acronym ‘msef’—matter-substance-energy-force—may be useful when thinking about the denser aspect of manifestation.

61. Từ viết tắt ‘msef’—matter-substance-energy-force—có thể hữu ích khi suy nghĩ về phương diện đậm đặc hơn của biểu hiện.

FOOTNOTE 8: The “entified” nature of all substance is technically known as Hylozoism. H. P. B. says: “Hylozoism, when philosophically understood, is the highest aspect of Pantheism.

CHÚ THÍCH 8: Bản chất “được thể hoá” của mọi chất liệu về mặt kỹ thuật được gọi là Hylozoism. H. P. B. nói: “Hylozoism, khi được thấu hiểu về mặt triết học, là phương diện cao nhất của Phiếm thần luận.

62. By Pantheism (or Pan-Theism) we mean that God is in all things and, in fact, is all things.

62. Bởi Phiếm thần luận (hay Pan-Theism), chúng ta muốn nói rằng Thượng đế ở trong mọi sự vật và, thật ra, là mọi sự vật.

It is the only possible escape from idiotic Atheism based on lethal materiality, and the still more idiotic anthropomorphic conceptions of the Monotheists; between which it stands on its own entirely neutral ground.

Đó là lối thoát khả dĩ duy nhất khỏi thuyết vô thần ngu xuẩn dựa trên tính vật chất chết chóc, và những quan niệm nhân hình còn ngu xuẩn hơn của những người độc thần; giữa hai lập trường ấy, nó đứng trên nền tảng trung lập hoàn toàn của riêng mình.

63. HPB considers the alternatives to philosophical Pantheism as idiotic. She assigns this world view a midway place between material Atheism and anthropomorphic Monotheism.

63. HPB xem các lựa chọn thay thế cho Phiếm thần luận triết học là ngu xuẩn. Bà đặt thế giới quan này vào vị trí trung gian giữa thuyết vô thần duy vật và thuyết độc thần nhân hình.

64. Why is Atheism idiotic and materiality lethal—because they kill spiritual perception and reception.

64. Tại sao thuyết vô thần là ngu xuẩn và tính vật chất là chết chóc—bởi vì chúng giết chết sự tri nhận và tiếp nhận tinh thần.

65. Hylozoism posits One Living Soul of all the universe—a universal, yet impersonal Deity in which every unit of life participates as both part and whole.

65. Hylozoism khẳng định Một Linh Hồn Sống duy nhất của toàn thể vũ trụ—một Thượng đế phổ quát nhưng phi ngã tính, trong đó mỗi đơn vị sự sống đều tham dự vừa như bộ phận vừa như toàn thể.

Hylozoism demands absolute Divine Thought, which would pervade the numberless active creating Forces, or “Creators,” which Entities are moved by, and have their being in, from and through that Divine Thought....

Hylozoism đòi hỏi Tư Tưởng thiêng liêng tuyệt đối, tư tưởng này sẽ thấm khắp vô số Mãnh Lực sáng tạo đang hoạt động, hay các “Đấng Sáng Tạo”, là những Thực Thể được thúc đẩy bởi, và tồn tại trong, từ và xuyên qua Tư Tưởng thiêng liêng ấy....

66. In Hylozoism the great hierarchical diversity of energy-forces are considered aspects of a one all embracing Force which functions under the direction of Divine Thought—the Diving Thought of the One Universal Identity.

66. Trong Hylozoism, sự đa dạng huyền giai lớn lao của các năng lượng-mãnh lực được xem là những phương diện của một Mãnh Lực duy nhất bao trùm tất cả, vận hành dưới sự chỉ đạo của Tư Tưởng thiêng liêng—Tư Tưởng thiêng liêng của Bản Sắc Phổ Quát Duy Nhất.

Such active “Creators” are known to exist and are believed in because perceived and sensed by the Inner Man in the Occultist.”—S. D., II, 167, 168.

Những “Đấng Sáng Tạo” hoạt động như thế được biết là hiện hữu và được tin là có thật vì được Nội Nhân nơi nhà huyền bí học tri nhận và cảm nhận.”—S. D., II, 167, 168.

67. Even though we can begin to sense some of the many subtle, internal “Creators”, it is important to realize that that they are not entirely independent agencies but aspects of one Supreme, All-Informing Creator.

67. Dù chúng ta có thể bắt đầu cảm nhận được một số trong nhiều “Đấng Sáng Tạo” vi tế, nội tại ấy, điều quan trọng là phải nhận ra rằng các vị ấy không phải là những tác nhân hoàn toàn độc lập mà là các phương diện của một Đấng Sáng Tạo Tối Cao, thấm nhuần tất cả.

FOOTNOTE 9:

CHÚ THÍCH 9:

An atom is an entified abstraction.—S. D., I, 559-560.

Một nguyên tử là một trừu tượng được thể hoá.—S. D., I, 559-560.

68. Spirit is the One Abstraction. Atoms are as spirits within Spirit and indivisible from it.

68. Tinh thần là Trừu Tượng duy nhất. Các nguyên tử như những tinh thần bên trong Tinh thần và không thể phân ly khỏi Nó.

a. The informing entity of the system is the Logos.´

a. Thực thể thấm nhuần của hệ thống là Logos.´

69. Occultly, the Logos is considered a cosmic atom.

69. Về mặt huyền bí học, Logos được xem là một nguyên tử vũ trụ.

b. The informing entity of a plane is its raja-Lord.

b. Thực thể thấm nhuần của một cõi là vị Chúa Tể raja của nó.

70. We are speaking of a Raja Deva Lord and of a systemic plane.

70. Chúng ta đang nói về một Raja Deva Lord và về một cõi hệ thống.

71. These Raja Deva Lords are, when compared to human initiates, minimally. Initiates of the sixth degree.

71. Các Raja Deva Lords này, khi so sánh với các điểm đạo đồ nhân loại, tối thiểu là các điểm đạo đồ bậc sáu.

Such as Indra, Agni, Varuna, Kshiti.

Chẳng hạn như Indra, Agni, Varuna, Kshiti.

72. These Raja Deva Lords are the informing Entities of the buddhic, manasic, astral and etheric-physical systemic planes respectively. Of course, it is reasonable to conclude that they have their higher cosmic correspondences and even supercosmic correspondences.

72. Các Raja Deva Lords này lần lượt là những Thực Thể thấm nhuần của các cõi hệ thống Bồ đề, manas, cảm dục và dĩ thái-hồng trần. Dĩ nhiên, hợp lý khi kết luận rằng các vị ấy có những tương ứng cao hơn vũ trụ và thậm chí những tương ứng siêu vũ trụ.

c. The informing entity of a planet is its planetary Logos.

c. Thực thể thấm nhuần của một hành tinh là Hành Tinh Thượng Đế của nó.

73. This follows from what has been said of a Solar Logos.

73. Điều này tiếp nối từ những gì đã được nói về một Thái dương Thượng đế.

d. The informing entity in the Microcosm is a Dhyan Chohan.

d. Thực thể thấm nhuần trong Tiểu thiên địa là một Dhyan Chohan.

74. A “Microcosm” may mean a human being. If this is the case, the Monad, as the informing entity, will be considered a “Dhyan Chohan”.

74. Một “Tiểu thiên địa” có thể có nghĩa là một con người. Nếu đúng như vậy, chân thần, với tư cách là thực thể thấm nhuần, sẽ được xem là một “Dhyan Chohan”.

e. The informing entity in the causal body is the Divine Thinker.

e. Thực thể thấm nhuần trong thể nguyên nhân là Đấng Tư Tưởng thiêng liêng.

75. A Solar Angel “informs” a causal body, at least partially. There is also the possibility that man, as an individualized extension of his own Monad, may be considered, as he progresses in causal consciousness, a “Divine Thinker”.

75. Một Thái dương Thiên Thần “thấm nhuần” một thể nguyên nhân, ít nhất là phần nào. Cũng có khả năng rằng con người, như một sự mở rộng đã biệt ngã hóa của chính chân thần mình, có thể được xem, khi y tiến bộ trong tâm thức nguyên nhân, là một “Đấng Tư Tưởng thiêng liêng”.

f. The informing entity in a physical atom is an elemental life.

f. Thực thể thấm nhuần trong một nguyên tử hồng trần là một sự sống hành khí.

76. Such an elemental life is an aspect of the third or Brahmic aspect of the Logos.

76. Sự sống hành khí như thế là một phương diện của phương diện thứ ba hay phương diện Brahmic của Logos.

Fire is in all things.—S. D., I, 146; II, 258.

Lửa ở trong mọi sự vật.—S. D., I, 146; II, 258.

77. There are many kinds of fire. From another perspective, fire is all things.

77. Có nhiều loại lửa. Từ một góc độ khác, lửa là mọi sự vật.

a. The informing entity is Fire.—S. D., I, 145, 146.

a. Thực thể thấm nhuần là Lửa.—S. D., I, 145, 146.

78. Every Spirit of Logos, then, is “Fire”.

78. Vậy thì mọi Tinh thần của Logos đều là “Lửa”.

79. Fire is Essence possessing consciousness and in activity

79. Lửa là Tinh chất sở hữu tâm thức và trong hoạt động

b. The matter of the form is permeated with fire.—S. D., I, 112.

b. Vật chất của hình tướng được lửa thấm khắp.—S. D., I, 112.

80. This is like saying that lower fire is permeated by higher fire. It also suggests that fire by friction must be differentiated from the lower type of matter. Yet that lowest type of matter is also, occultly, fire—though of a kind which expressed in an earlier solar system.

80. Điều này cũng như nói rằng lửa thấp được lửa cao thấm khắp. Nó cũng gợi ý rằng Lửa ma sát phải được phân biệt với loại vật chất thấp hơn. Tuy nhiên, loại vật chất thấp nhất ấy cũng, theo huyền bí học, là lửa—dù là loại đã biểu lộ trong một hệ mặt trời trước đây.

c. The developing mind is cosmic fire.—S. D., I, 114.

c. Trí tuệ đang phát triển là lửa vũ trụ.—S. D., I, 114.

81. Every entity is a “fire” which emanates Fire. The developing mind is a process through which the cosmic fire of the cosmic mental plane expresses.

81. Mọi thực thể đều là một “lửa” phát xạ Lửa. Trí tuệ đang phát triển là một tiến trình qua đó lửa vũ trụ của cõi trí vũ trụ biểu lộ.

This recognition by science that all forms are built of intelligent lives will come about when the science of magic begins again to come to the fore, and when the laws of being are better understood.

Sự công nhận này của khoa học rằng mọi hình tướng đều được xây dựng bằng các sự sống thông minh sẽ xuất hiện khi khoa học huyền thuật lại bắt đầu nổi lên hàng đầu, và khi các định luật của bản thể được thấu hiểu tốt hơn.

82. DK is telling us that advances in the expression of the seventh ray will lead to important realizations in areas of enquiry which require the fifth ray for their complete elucidation. These two rays (the seventh and the fifth), as we know, work closely together. The planet Uranus, one of the major planets of the New Age, expresses both the seventh and the fifth rays.

82. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng những tiến bộ trong sự biểu lộ của cung bảy sẽ dẫn đến những chứng nghiệm quan trọng trong các lĩnh vực khảo cứu cần cung năm để được làm sáng tỏ trọn vẹn. Như chúng ta biết, hai cung này (cung bảy và cung năm) phối hợp chặt chẽ với nhau. Hành tinh Sao Thiên Vương, một trong những hành tinh chính của Kỷ Nguyên Mới, biểu lộ cả cung bảy lẫn cung năm.

83. The “laws of being” related to an emerging understanding of the first ray (intimately related to both the fifth and the seventh).

83. Các “định luật của bản thể” có liên hệ với một sự thấu hiểu đang xuất hiện về cung một (gắn bó mật thiết với cả cung năm lẫn cung bảy).

84. Perhaps, it is the “divisibility of the Spirit” as Master M. calls it, which will reveal how all forms may be built of intelligent lives.

84. Có lẽ chính “tính khả phân của Tinh thần”, như Chân sư M. gọi, sẽ tiết lộ cách mọi hình tướng có thể được xây dựng bằng các sự sống thông minh.

85. Discoveries in relation to the “laws of being” would seem more difficult of accomplishment that discoveries in relation to the science of magic. The first divine aspect dealing with “being” is the most subtle and intangible, though it cannot be denied that the first ray is closely connected to the process of manifestation (as activities within the Department of the Manu demonstrate).

85. Những khám phá liên quan đến “các định luật của bản thể” dường như khó đạt được hơn những khám phá liên quan đến khoa học huyền thuật. Phương diện thiêng liêng thứ nhất liên quan đến “bản thể” là vi tế và vô hình nhất, dù không thể phủ nhận rằng cung một có liên hệ chặt chẽ với tiến trình biểu hiện (như các hoạt động trong Ban của Đức Manu chứng minh).

Magic concerns itself with the manipulation of the lesser lives by a greater life; when the scientist begins to work with the consciousness that animates substance (atomic or electronic),

Huyền thuật quan tâm đến việc vận dụng các sự sống nhỏ hơn bởi một sự sống lớn hơn; khi nhà khoa học bắt đầu làm việc với tâm thức làm sinh động chất liệu (nguyên tử hay điện tử),

133. “Atomic” substance is higher in nature than “electronic” substance and thus the conscious lives within these different substances are also higher and lower.

133. Chất liệu “nguyên tử” cao hơn về bản chất so với chất liệu “điện tử”, và do đó các sự sống có ý thức bên trong các chất liệu khác nhau này cũng cao và thấp tương ứng.

and when he brings under his conscious control the forms built of this substance, he will gradually become cognizant of the fact that all entities of all grades and of varying constitutions go to the construction of that which is seen.

và khi ông đặt dưới sự kiểm soát có ý thức của mình các hình tướng được xây dựng bằng chất liệu này, ông sẽ dần dần nhận biết được sự kiện rằng mọi thực thể thuộc mọi cấp bậc và mọi cấu tạo khác nhau đều góp phần vào việc kiến tạo nên cái được thấy.

86. DK elaborates on how the science of magic may reveal the truth of Hylozoism.

86. Chân sư DK khai triển cách khoa học huyền thuật có thể tiết lộ chân lý của Hylozoism.

87. We see that these discoveries depend upon work within the realm of consciousness.

87. Chúng ta thấy rằng những khám phá này tùy thuộc vào công việc trong lĩnh vực của tâm thức.

88. Right now manipulation (though preceded by thought) is accomplished through the exercise of the activity aspect. It will represent a most significant step when manipulation can occur directly from the realm of the conscious mind. Then thinking will demonstrate itself as doing.

88. Ngay lúc này, sự vận dụng (dù được tư tưởng đi trước) được thực hiện qua việc vận dụng phương diện hoạt động. Sẽ là một bước cực kỳ quan trọng khi sự vận dụng có thể xảy ra trực tiếp từ lĩnh vực của trí tuệ có ý thức. Khi ấy, tư duy sẽ tự chứng tỏ là hành động.

89. Already it has been demonstrated that the consciousness of the observer and that which is observed (i.e., the “matter” under observation) are intimately related. This interrelationship has cause some to question whether (at the quantum level) objective observation is a myth.

89. Người ta đã chứng minh rằng tâm thức của người quan sát và cái được quan sát (tức “vật chất” đang được quan sát) có liên hệ mật thiết với nhau. Mối tương quan này đã khiến một số người đặt câu hỏi liệu (ở cấp độ lượng tử) sự quan sát khách quan có phải là một huyền thoại hay không.

90. Future discoveries will reveal both the entification of substance and its hierarchical structure.

90. Những khám phá trong tương lai sẽ tiết lộ cả tính được thể hoá của chất liệu lẫn cấu trúc huyền giai của nó.

This will not be until science has definitely admitted the existence of etheric matter as understood by the occultist, and until it has developed the hypothesis that this ether is in differing vibrations.

Điều này sẽ không xảy ra cho đến khi khoa học dứt khoát thừa nhận sự hiện hữu của vật chất dĩ thái theo cách nhà huyền bí học hiểu, và cho đến khi khoa học phát triển giả thuyết rằng dĩ thái này có những rung động khác nhau.

91. For about a hundred years it has seemed that science has had no use for the ether and could explain all it intended to explain without positing its existence.

91. Trong khoảng một trăm năm, dường như khoa học không cần đến dĩ thái và có thể giải thích mọi điều mà nó muốn giải thích mà không cần giả định sự hiện hữu của dĩ thái.

92. A Treatise on Cosmic Fire was written some fifty years after the Michelson-Morley experiment with dispensed, apparently, with the necessity of the ether (as ether was then conceived).

92. Luận về Lửa Vũ Trụ được viết khoảng năm mươi năm sau thí nghiệm Michelson-Morley, thí nghiệm dường như đã loại bỏ sự cần thiết của dĩ thái (theo cách dĩ thái được quan niệm vào thời đó).

93. It is obvious that the occult conception of the ether differs from the conception then prevalent. This occult conception, in all its intricacy and rationality, has much to offer a scientific reassessment of the reality of the ether.

93. Rõ ràng là quan niệm huyền bí học về dĩ thái khác với quan niệm thịnh hành lúc bấy giờ. Quan niệm huyền bí học này, trong toàn bộ tính phức tạp và hợp lý của nó, có nhiều điều để cống hiến cho một sự tái thẩm định khoa học về thực tại của dĩ thái.

94. Perhaps penetration into particle physics is leading in the direction of this reassessment.

94. Có lẽ sự thâm nhập vào vật lý hạt đang dẫn theo hướng của sự tái thẩm định này.

When the etheric counterpart of all that exists is allocated to its rightful place, and known to be of more importance in the scale of being than the dense vehicle, being essentially the body of the [Page 639] life, or vitality, then the role of the scientist and the occultist will merge.

Khi đối phần dĩ thái của mọi cái hiện hữu được đặt vào đúng vị trí của nó, và được biết là quan trọng hơn vận cụ đậm đặc trong thang bậc bản thể, vì về bản chất nó là thể của [Page 639] sự sống, hay sinh lực, thì vai trò của nhà khoa học và nhà huyền bí học sẽ hợp nhất.

95. It is clear that medical science (which is now close to discovering the reality of the etheric body, often called the “bio-electric field”) will have much to offer the science of physics.

95. Rõ ràng là khoa học y học (hiện đang gần khám phá ra thực tại của thể dĩ thái, thường được gọi là “trường điện-sinh học”) sẽ có nhiều điều để cống hiến cho khoa học vật lý.

96. Under the trend of synthesis impulsed by the recent Shamballa Impacts, we can expect the illuminating merger of a those sciences which are really aspects of each other.

96. Dưới xu hướng tổng hợp được thúc đẩy bởi các Tác Động Shamballa gần đây, chúng ta có thể chờ đợi sự hợp nhất đầy soi sáng của những khoa học vốn thực sự là các phương diện của nhau.

H. P. B. has said10 [See S. D., II, 621] that the dense physical is not a principle, and this point is frequently overlooked in connection with man and the Logos.

H. P. B. đã nói10 [See S. D., II, 621] rằng hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí, và điểm này thường bị bỏ qua khi liên hệ với con người và Logos.

97. We have been told that the release of atomic energy through the atom bomb has signified the “death blow” to materialism.

97. Chúng ta đã được cho biết rằng việc giải phóng năng lượng nguyên tử qua bom nguyên tử đã biểu thị “đòn chí tử” đối với chủ nghĩa duy vật.

98. In the popular consciousness, materialism (demonstrating largely as body-consciousness) is still widely prevalent, but slowly alternative views are penetrating the public mind and it will not be long before the illusion of materialism is dispelled. Among deeply thinking people, it is already dispelled.

98. Trong tâm thức đại chúng, chủ nghĩa duy vật (biểu lộ phần lớn như tâm thức thể xác) vẫn còn rất phổ biến, nhưng những quan điểm thay thế đang chậm rãi thâm nhập vào trí tuệ công chúng, và sẽ không lâu nữa trước khi ảo tưởng của chủ nghĩa duy vật bị làm tiêu tan. Trong số những người suy tư sâu sắc, nó đã bị làm tiêu tan rồi.

99. In our own lives we have to prove that the etheric body is of greater importance than its physical precipitation.

99. Trong chính đời sống của mình, chúng ta phải chứng minh rằng thể dĩ thái quan trọng hơn sự ngưng tụ hồng trần của nó.

Its importance cannot be too strongly realised for it has the effect of transferring the point of centralisation, or of polarisation in the case of man into his etheric body, composed of matter of the four higher subplanes of the systemic physical plane, and in the case of the Logos, of the four higher subplanes of the cosmic physical plane.

Tầm quan trọng của nó không thể được chứng nghiệm quá mạnh, vì nó có tác dụng chuyển dịch điểm trung tâm hóa, hay điểm phân cực trong trường hợp con người vào thể dĩ thái của y, được cấu thành bằng vật chất của bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần hệ thống, và trong trường hợp Logos, vào bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ.

100. Where, we might ask, is our own “point of centralization” or “polarisation”? With regard to physical plane living, have we managed to transfer that point of centralization into the etheric body? This would obviously involve a more subtle approach to living.

100. Chúng ta có thể hỏi, “điểm trung tâm hóa” hay “điểm phân cực” riêng của chúng ta ở đâu? Xét về đời sống trên cõi hồng trần, chúng ta đã xoay chuyển được điểm trung tâm hóa ấy vào thể dĩ thái chưa? Điều này hiển nhiên sẽ bao hàm một cách tiếp cận đời sống vi tế hơn.

The point is one of a very real complexity, for it involves the realisation that, from the standpoint of the occultist, the lowest vibration with which he may concern himself is that of the systemic etheric in its four lesser allied vibrations;

Vấn đề này thực sự rất phức tạp, vì nó bao hàm sự chứng nghiệm rằng, từ quan điểm của nhà huyền bí học, rung động thấp nhất mà y có thể quan tâm là rung động của dĩ thái hệ thống trong bốn rung động liên kết thấp hơn của nó;

101. The occultist is the true realist. The lower three dense physical subplanes are simply not occultly real. They are vestigial, reactive and non-principled. They are the residue of an earlier solar system and are not qualified by anything we could call a progressive pattern of interactivity.

101. Nhà huyền bí học là nhà duy thực chân chính. Ba cõi phụ hồng trần đậm đặc thấp hơn đơn giản là không thực theo nghĩa huyền bí học. Chúng là tàn tích, phản ứng và không có nguyên khí. Chúng là cặn dư của một hệ mặt trời trước đây và không được định tính bởi bất cứ điều gì mà chúng ta có thể gọi là một mô hình tương tác tiến bộ.

102. Are we, then, functioning as occultists or as those whose perception is conditioned by the mass consciousness?

102. Vậy thì chúng ta đang hoạt động như những nhà huyền bí học hay như những người mà tri nhận bị tâm thức quần chúng tác động?

similarly macrocosmically the lowest logoic vibration with which the greater Adepts are concerned is the cosmic etheric.

tương tự, ở cấp đại thiên địa, rung động logoic thấp nhất mà các chân sư cao hơn quan tâm là dĩ thái vũ trụ.

103. Who are the “greater Adepts”? May it be that They are those Whose spiritual status is beyond that of Master?

103. Những “chân sư cao hơn” là ai? Có thể chăng Các Ngài là những Đấng có địa vị tinh thần vượt quá địa vị của Chân sư?

104. This would seem necessary, as Masters still work with the souls of men embodied in causal bodies. Perhaps this approach to souls within an egoic lotus has somewhat changed since the majority of Ashrams, especially Ashrams on the soft-line rays, were transferred to the buddhic plane.

104. Điều này dường như là cần thiết, vì các Chân sư vẫn còn làm việc với các linh hồn của những người nam và nữ được nhập thể trong các thể nguyên nhân. Có lẽ cách tiếp cận này đối với các linh hồn bên trong một Hoa Sen Chân Ngã đã phần nào thay đổi kể từ khi đa số các ashram, đặc biệt là các ashram trên các cung tuyến mềm, được chuyển lên cõi Bồ đề.

105. The Masters, however, do focus their attention mainly within the realms of buddhi and atma and, thus, within the highest two aspects of the spiritual triad.

105. Tuy nhiên, các Chân sư quả thực tập trung sự chú ý của Các Ngài chủ yếu trong các lĩnh vực của Bồ đề và atma, và do đó trong hai phương diện cao nhất của Tam nguyên tinh thần.

The three lowest systemic and cosmic vibrations are the result of:

Ba rung động hệ thống và vũ trụ thấp nhất là kết quả của:

106. We note that DK is speaking of both systemic and cosmic vibrations. There are subplanes which systemically are not principled and cosmic subplanes which cosmically are not principled.

106. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đang nói về cả rung động hệ thống lẫn rung động vũ trụ. Có những cõi phụ mà xét theo hệ thống thì không có nguyên khí, và những cõi phụ vũ trụ mà xét theo vũ trụ thì không có nguyên khí.

107. The astral and mental subplanes which, from a systemic point of view are home to some of the microcosmic principles, are not considered principled from the cosmic point of view.

107. Các cõi phụ cảm dục và trí tuệ mà, từ quan điểm hệ thống, là nơi cư ngụ của một số nguyên khí vi mô, lại không được xem là có nguyên khí từ quan điểm vũ trụ.

Reflex action on the part of negative substance for the lower three are negative to the higher four.

Phản xạ nơi chất liệu âm tính vì ba thấp là âm tính đối với bốn cao.

108. Reflex action is automatic. No decision and no hesitation are involved in carrying this type of action forward.

108. Phản xạ là tự động. Không có quyết định nào và cũng không có do dự nào liên quan đến việc thực hiện loại hành động này.

Synchronous vibration, inherent in negative substance, the residue of an earlier system, and embodying therefore past karma for the Logos and for man.

Rung động đồng bộ, vốn cố hữu trong chất liệu âm tính, là cặn dư của một hệ thống trước đây, và do đó hiện thân cho nghiệp quả quá khứ của Logos và của con người.

109. The past karma for man is related to the lower three systemic physical subplanes.

109. Nghiệp quả quá khứ của con người liên hệ với ba cõi phụ hệ thống hồng trần thấp hơn.

110. The past karma for a Solar Logos is related the lower three cosmic subplanes.

110. Nghiệp quả quá khứ của một Thái dương Thượng đế liên hệ với ba cõi phụ vũ trụ thấp hơn.

111. We have always to keep these analogies in mind and be watchful for the moments in which DK shifts His discussion from one level to the other.

111. Chúng ta luôn luôn phải ghi nhớ những định luật tương đồng này và cảnh giác trước những lúc Chân sư DK chuyển sự bàn luận của Ngài từ cấp độ này sang cấp độ khác.

Vibrations that are gradually being superseded by the imposition of a higher note; therefore for both man and the Logos, they occultly form the “body of death.”

Những rung động đang dần dần được thay thế bởi sự áp đặt của một âm điệu cao hơn; do đó đối với cả con người lẫn Thượng đế, chúng một cách huyền bí tạo thành “thể chết”.

112. The lower three cosmic subplanes of the cosmic physical plane are part of the logoic “body of death”. This tells us that the vast majority of our experiences take place within this body and that, spiritually, we are more ‘dead than alive’

112. Ba cõi phụ vũ trụ thấp hơn của cõi hồng trần vũ trụ là một phần của “thể chết” của Thượng đế. Điều này cho chúng ta biết rằng đại đa số kinh nghiệm của chúng ta diễn ra bên trong thể này và rằng, về mặt tinh thần, chúng ta “chết nhiều hơn sống”.

113. The “body of death” vibrates to the note F. The note G. is being imposed upon it. This imposition produces what in music is called a “major second”. It is not a particularly harmonious interval, nor is it entirely dissonant.

113. “Thể chết” rung động theo nốt F. Nốt G. đang được áp đặt lên nó. Sự áp đặt này tạo ra điều trong âm nhạc được gọi là một “quãng hai trưởng”. Đây không phải là một quãng đặc biệt hài hòa, nhưng cũng không hoàn toàn nghịch tai.

This brings us to the point which we are seeking to make anent this third group of the lowest devas. They are very destructive where man is concerned, for they embody the final and therefore powerful vibration of the past system, the conscious activity of dense matter.

Điều này đưa chúng ta đến điểm mà chúng ta đang tìm cách nêu ra liên quan đến nhóm thứ ba này của các thiên thần thấp nhất. Chúng có tính hủy diệt rất mạnh đối với con người, vì chúng hiện thân cho rung động cuối cùng và do đó đầy quyền năng của hệ mặt trời trước, tức hoạt động hữu thức của vật chất đậm đặc.

114. There were other vibrations from the past solar system, but this third and lowest group of devas embodies the “final” such vibration.

114. Đã có những rung động khác từ hệ mặt trời trước, nhưng nhóm thiên thần thứ ba và thấp nhất này hiện thân cho rung động “cuối cùng” như thế.

115. We are now speaking microcosmically, for the most part. The devas of the lower three systemic subplanes embody what in white magical process are called the “ancient fires”.

115. Hiện nay phần lớn chúng ta đang nói theo Tiểu thiên địa. Các thiên thần của ba cõi phụ hệ thống thấp hơn hiện thân cho điều trong tiến trình huyền thuật chánh đạo được gọi là “những ngọn lửa cổ xưa”.

116. We might question to what degree “dense matter” is conscious. We may say that it is “conscious” but not self-conscious.

116. Chúng ta có thể đặt câu hỏi rằng “vật chất đậm đặc” hữu thức đến mức nào. Chúng ta có thể nói rằng nó “hữu thức” nhưng không có ngã thức.

Hence there is consequently a profound truth in the [Page 640] statement that man is at the “mercy of the elements.”

Do đó có một chân lý sâu xa trong lời phát biểu ở [Page 640] rằng con người ở dưới “sự chi phối của các nguyên tố”.

117. DK is telling us that what we usually consider the elements can be found upon the lower three systemic subplanes. These subplanes are home to physical fire, physical earth, physical air and physical water. Of course the higher correspondences exist, with the astral plane considered as water plane and the lower mental plane considered as fire (and air, as air is related to gas). The buddhic plane, however, is the home of true “air”.

117. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng điều mà chúng ta thường xem là các nguyên tố có thể được tìm thấy trên ba cõi phụ hệ thống thấp hơn. Các cõi phụ này là nơi cư ngụ của lửa hồng trần, đất hồng trần, khí hồng trần và nước hồng trần. Dĩ nhiên các tương ứng cao hơn vẫn tồn tại, với cõi cảm dục được xem là cõi nước và cõi hạ trí được xem là lửa (và khí, vì khí liên hệ với thể khí). Tuy nhiên, cõi Bồ đề là nơi cư ngụ của “khí” đích thực.

118. The old adage—”man is at the mercy of the elements”—brings home, in a most forcible manner the real danger to man of the lowest elementals—the elementals of the three lowest systemic subplanes.

118. Câu ngạn ngữ xưa — “con người ở dưới sự chi phối của các nguyên tố” — nhấn mạnh một cách rất mạnh mẽ mối nguy thực sự đối với con người từ các hành khí thấp nhất — các hành khí của ba cõi phụ hệ thống thấp nhất.

Man can physically be burned and destroyed by fire; he is helpless before volcanic action, and cannot protect himself from the ravages of fire, unless in the initial stages of such deva endeavour.

Con người có thể bị lửa thiêu đốt và hủy diệt về mặt thể xác; y bất lực trước hoạt động núi lửa, và không thể tự bảo vệ mình khỏi sự tàn phá của lửa, trừ phi ở những giai đoạn đầu của nỗ lực thiên thần như thế.

119. We are speaking of physical fire and of “latent heat”. DK is quite emphatic about man’s helplessness in the face of fire, unless the deva activity which accounts for fire is still in its earliest stages.

119. Chúng ta đang nói về lửa hồng trần và về “nhiệt tiềm ẩn”. Chân sư DK nhấn mạnh khá rõ về sự bất lực của con người trước lửa, trừ phi hoạt động thiên thần tạo ra lửa ấy vẫn còn ở những giai đoạn sớm nhất của nó.

The occult importance of the war man wages on the fire devas for instance is very real in connection with the fire department in any city. The time lies far ahead as yet, but it will surely come, when the personnel of these departments will be chosen for their ability to control the agnichaitans when manifesting destructively, and their methods will no longer be that of water (or the calling in of the water devas to neutralise the fire devas), but that of incantation,

Tầm quan trọng huyền bí của cuộc chiến mà con người tiến hành chống lại các thiên thần của lửa, chẳng hạn, là rất thực tế trong mối liên hệ với sở cứu hỏa ở bất kỳ thành phố nào. Thời điểm ấy còn ở rất xa phía trước, nhưng chắc chắn nó sẽ đến, khi nhân sự của các cơ quan này sẽ được tuyển chọn vì khả năng kiểm soát các agnichaitan khi chúng biểu hiện một cách hủy diệt, và phương pháp của họ sẽ không còn là dùng nước (hay kêu gọi các thiên thần của nước để hóa giải các thiên thần của lửa), mà là dùng thần chú,

120. It becomes clear that progress in this direction will be made during the seventh ray Aquarian Age. The art and science of incantation belongs largely to the seventh ray.

120. Rõ ràng là sự tiến bộ theo hướng này sẽ được thực hiện trong Kỷ nguyên Bảo Bình cung bảy. Nghệ thuật và khoa học về thần chú phần lớn thuộc về cung bảy.

and a knowledge of the sounds that will swing into action forces which will control the fiery destructive elements.

và một tri thức về những âm thanh sẽ đưa vào hoạt động các mãnh lực có thể kiểm soát các nguyên tố lửa hủy diệt.

121. The throat center will be involve in this kind of work. It is interesting that the throat center of a disciple is ruled in large measure by the seventh ray and no longer entirely by the third as in the case of the average individual.

121. Trung tâm cổ họng sẽ tham dự vào loại công việc này. Điều đáng chú ý là trung tâm cổ họng của một đệ tử phần lớn được cung bảy cai quản và không còn hoàn toàn do cung ba chi phối như trong trường hợp của cá nhân trung bình.

The throat centre of the average integrated personality is governed by the third ray and is strongly energised by third ray energies (again seven in number), whilst the throat centre of the spiritual aspirant, of disciples and initiates below the third initiation is responding primarily to seventh ray influence, and this is peculiarly the case now as the seventh ray is in incarnation. (TEV 137)

Trung tâm cổ họng của Phàm ngã tích hợp trung bình được cung ba cai quản và được các năng lượng cung ba (cũng gồm bảy loại) tiếp sinh lực mạnh mẽ, trong khi trung tâm cổ họng của người chí nguyện tinh thần, của các đệ tử và các điểm đạo đồ dưới lần điểm đạo thứ ba thì đáp ứng chủ yếu với ảnh hưởng cung bảy, và điều này đặc biệt đúng vào lúc này vì cung bảy đang lâm phàm. (TEV 137)

122. The effects of fire and water together are not altogether beneficial as they have been related (when considering the water of the astral plane and the fire of the mental plane) to the arising of glamour.

122. Các tác động của lửa và nước cùng nhau không hoàn toàn có lợi vì chúng đã được liên hệ (khi xét nước của cõi cảm dục và lửa của cõi trí) với sự phát sinh của ảo cảm.

The third group of these devas is very definitely connected with the control of the Manu's department, and of the great devas associated with that department on this planet.

Nhóm thứ ba của các thiên thần này rất rõ ràng có liên hệ với sự kiểm soát của ban của Đức Manu, và của các đại thiên thần gắn liền với ban đó trên hành tinh này.

123. The Manu and His Department are in charge of raising and lower continents, volcanic action and of other great earth changes, especially of a purificatory nature.

123. Đức Manu và Ban của Ngài phụ trách việc nâng lên và hạ xuống các lục địa, hoạt động núi lửa và những biến đổi lớn khác của Trái Đất, đặc biệt là những biến đổi có tính thanh lọc.

124. It is interesting and important to see that the third and most material group of Agnichaitans are not only controlled by the great Raja Deva Lords but also by advanced members of the Fourth Creative Hierarchy such as the Manu.

124. Thật thú vị và quan trọng khi thấy rằng nhóm Agnichaitan thứ ba và vật chất nhất không chỉ được các đại Đấng Chúa Tể Raja Deva kiểm soát mà còn bởi các thành viên tiến hóa cao của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư như Đức Manu.

125. It is obvious that the influence of the planet Vulcan has much to do with the expression of these devas as well as with their control.

125. Rõ ràng là ảnh hưởng của hành tinh Vulcan có liên hệ rất nhiều đến sự biểu hiện của các thiên thần này cũng như đến sự kiểm soát chúng.

Through their activity during certain cycles the entire surface of the Earth is changed through the medium of volcanic action; continents are raised and submerged; volcanoes are active or quiescent, and thus the world is purified by fire.

Thông qua hoạt động của chúng trong những chu kỳ nhất định toàn bộ bề mặt Trái Đất được biến đổi qua trung gian của hoạt động núi lửa; các lục địa được nâng lên và chìm xuống; các núi lửa hoạt động hoặc yên lặng, và như thế thế giới được thanh lọc bằng lửa.

126. The destruction of Lemuria was of this nature. We have also been told of an attempt to destroy the Aryan Race by fire. Perhaps this has already occurred; perhaps not. It seems that the Aryan Race still has some time to run.

126. Sự hủy diệt của Lemuria thuộc loại này. Chúng ta cũng đã được cho biết về một nỗ lực hủy diệt nhân loại Arya bằng lửa. Có lẽ điều này đã xảy ra; có lẽ chưa. Có vẻ như nhân loại Arya vẫn còn một thời gian để tiếp diễn.

127. Even if destruction of a civilization is not complete or final, periodic purifications can occur. When we witness the condition of our environment at this time we may wonder if we are in line for just such a purification.

127. Ngay cả khi sự hủy diệt của một nền văn minh không hoàn toàn hay chung cuộc, những sự thanh lọc định kỳ vẫn có thể xảy ra. Khi chứng kiến tình trạng môi trường của chúng ta vào lúc này, chúng ta có thể tự hỏi liệu mình có đang ở trong tiến trình của chính một sự thanh lọc như thế hay không.

128. Let us tabulate the result of the activity of this group of Agnichaitans when wielded by those who know the Divine Plan:

128. Hãy lập bảng kết quả của hoạt động của nhóm Agnichaitan này khi được vận dụng bởi những ai biết Thiên Cơ:

a. Earth is changed through volcanic action

a. Trái Đất được biến đổi qua hoạt động núi lửa

b. Continents are raised and submerged

b. Các lục địa được nâng lên và chìm xuống

c. Volcanoes are active or quiescent

c. Các núi lửa hoạt động hoặc yên lặng

d. The world is purified by fire

d. Thế giới được thanh lọc bằng lửa

In their own department these Agnichaitans are kept busy building the mineral forms through the agency of fire;

Trong ban riêng của chúng, các Agnichaitan này luôn bận rộn xây dựng các hình tướng kim thạch thông qua tác nhân của lửa;

129. The chemist will have much interest in this process. By “mineral forms” are mineral atoms and molecules meant, or larger structures.

129. Nhà hóa học sẽ rất quan tâm đến tiến trình này. “Các hình tướng kim thạch” có nghĩa là các nguyên tử và phân tử kim thạch, hay những cấu trúc lớn hơn?

130. The word “busy” is significant. We are told: “The army of the voice, the devas in their serried ranks work ceaselessly…” They are, as we realize, representatives of the activity aspect of divinity.

130. Từ “bận rộn” có ý nghĩa quan trọng. Chúng ta được bảo rằng: “Đạo Quân của Âm Thanh, các thiên thần trong hàng ngũ chỉnh tề của chúng làm việc không ngừng nghỉ…” Như chúng ta nhận ra, chúng là những đại diện của phương diện hoạt động của thiên tính.

they are the alchemists of the lower regions, and through contact with them, and through the knowledge of “the words” by which they are controlled, the future scientific alchemists (I use this expression in contradistinction to the idealistic alchemists of the past) will work with minerals and with the lives embodied in all mineral forms.

chúng là những nhà luyện kim của các vùng thấp, và qua sự tiếp xúc với chúng, cùng qua tri thức về “những linh từ” nhờ đó chúng được kiểm soát, các nhà luyện kim khoa học tương lai (tôi dùng cách diễn đạt này để phân biệt với các nhà luyện kim duy tâm của quá khứ) sẽ làm việc với các khoáng vật và với các sự sống hiện thân trong mọi hình tướng kim thạch.

131. Here a line of future occult service is presented. We can understand that those strongly conditioned by the fifth and seventh rays will be engaged in this work.

131. Ở đây một đường hướng phụng sự huyền bí trong tương lai được trình bày. Chúng ta có thể hiểu rằng những ai được cung năm và cung bảy tác động mạnh sẽ tham gia vào công việc này.

132. The “idealistic alchemists” of the past were conditioned significantly by the sixth ray in a sixth ray Age. Now the seventh ray is coming into expression. The Seven Ray Lord is called “The Divine Alchemical Worker”. It is not that the idealistic, spiritual quest of Alchemy will be dropped, but that true transmutative work will be accomplished in relation to the mineral kingdom. This may also assist the more spiritual side of Alchemy.

132. Các “nhà luyện kim duy tâm” của quá khứ đã được cung sáu tác động đáng kể trong một Kỷ nguyên cung sáu. Nay cung bảy đang đi vào biểu hiện. Đấng Chúa Tể Cung bảy được gọi là “Người Hoạt Động Luyện Kim Thiêng Liêng”. Không phải là cuộc truy cầu duy tâm, tinh thần của thuật luyện kim sẽ bị từ bỏ, mà là công việc chuyển hoá đích thực sẽ được hoàn thành trong mối liên hệ với giới kim thạch. Điều này cũng có thể hỗ trợ phương diện tinh thần hơn của thuật luyện kim.

133. We note that future alchemists will work not only with minerals but with the lives (presumably somewhat higher lives) which embody or inform mineral forms.

133. Chúng ta lưu ý rằng các nhà luyện kim tương lai sẽ làm việc không chỉ với khoáng vật mà còn với các sự sống (có lẽ là những sự sống cao hơn đôi chút) hiện thân hoặc thấm nhuần các hình tướng kim thạch.

134. It is significant that the Agnichaitans are to be controlled by “words”. This is true of all the devas of the elements within the physical body of the Logos. We may infer that it is also true regarding the control of the still higher devas of the cosmic ethers.

134. Điều có ý nghĩa là các Agnichaitan sẽ được kiểm soát bằng “các linh từ”. Điều này đúng với tất cả các thiên thần của các nguyên tố bên trong thể xác của Thượng đế. Chúng ta có thể suy ra rằng điều này cũng đúng đối với việc kiểm soát các thiên thần còn cao hơn của các dĩ thái vũ trụ.

135. Some control may occur through words and other through sounds.

135. Một số sự kiểm soát có thể diễn ra qua các linh từ và một số khác qua các âm thanh.

The secret of the transmutation of the baser metals into gold will be revealed when world conditions are such that gold is no longer the standard and hence the free manufacture of gold will not lead to disaster,

Bí mật của sự chuyển hoá các kim loại hạ đẳng thành vàng sẽ được mặc khải khi các điều kiện thế giới trở nên sao cho vàng không còn là tiêu chuẩn nữa và do đó việc chế tạo vàng tự do sẽ không dẫn đến tai họa,

136. It has already been shown that gold has many uses other than as a standard of human wealth. Gold will be released for these other uses when it is no longer a monetary symbol.

136. Đã từng được chỉ ra rằng vàng có nhiều công dụng khác ngoài việc làm tiêu chuẩn cho của cải của con người. Vàng sẽ được giải phóng cho những công dụng khác ấy khi nó không còn là một biểu tượng tiền tệ nữa.

137. We can see how cautious are the Masters not to disrupt the precarious social balance in which humanity presently lives.

137. Chúng ta có thể thấy các Chân sư thận trọng đến mức nào để không phá vỡ thế cân bằng xã hội mong manh mà nhân loại hiện đang sống trong đó.

and [Page 641] when scientists work with the life aspect, or with positive electrical life, and not with the substance or form aspect.

và [Page 641] khi các nhà khoa học làm việc với phương diện sự sống, hay với sự sống điện dương, chứ không phải với phương diện chất liệu hay hình tướng.

138. Just as man is discovering the will or Spirit aspect within his own nature, so he is on the verge of discovering the positive electrical aspect within mineral life. The discovery of radioactivity is a step in this direction.

138. Cũng như con người đang khám phá phương diện ý chí hay tinh thần bên trong bản chất riêng của mình, thì y cũng đang ở ngưỡng cửa khám phá phương diện điện dương bên trong sự sống kim thạch. Việc khám phá tính phóng xạ là một bước theo hướng này.

139. It is quite evident that there is a great deal about the structure and dynamics of even the matter of the physical plane about which we know very little.

139. Khá rõ ràng là có rất nhiều điều về cấu trúc và động lực học ngay cả của vật chất cõi hồng trần mà chúng ta biết rất ít.

We have seen that the work of the lowest group of Agnichaitans is to build continents by fire, to purify by fire during alternate cycles, and to construct the metals and the minerals.

Chúng ta đã thấy rằng công việc của nhóm Agnichaitan thấp nhất là xây dựng các lục địa bằng lửa, thanh lọc bằng lửa trong những chu kỳ xen kẽ, và kiến tạo các kim loại cùng khoáng vật.

140. For the sake of visual impact, let us tabulate the work of the lowest group of Agnichaitans:

140. Vì mục đích tạo ấn tượng trực quan, hãy lập bảng công việc của nhóm Agnichaitan thấp nhất:

a. To build continents by fire

a. Xây dựng các lục địa bằng lửa

b. To purify by fire during alternate cycles. (Does this mean with fair regularity, every other cycle?)

b. Thanh lọc bằng lửa trong những chu kỳ xen kẽ. (Điều này có nghĩa là với tính đều đặn khá công bằng, cứ mỗi chu kỳ khác một lần chăng?)

c. To construct the metals and minerals.

c. Kiến tạo các kim loại và khoáng vật.

d. To tend the fires of the hearth, to warm, cheer and produce livable conditions on the planet and in the home.

d. Chăm nom những ngọn lửa của lò sưởi, sưởi ấm, làm vui tươi và tạo ra những điều kiện có thể sinh sống được trên hành tinh và trong gia đình.

141. It does seem that the law of the indestructibility of matter will have to be re-examined. It seems that metal elements and mineral elements are being constructed and not just combined and recombined. This construction however, will still be related to the law of the conservation of energy.

141. Quả thật có vẻ như định luật về tính bất khả hủy diệt của vật chất sẽ phải được khảo xét lại. Có vẻ như các nguyên tố kim loại và các nguyên tố kim thạch đang được kiến tạo chứ không chỉ được kết hợp và tái kết hợp. Tuy nhiên, sự kiến tạo này vẫn sẽ liên hệ với định luật bảo toàn năng lượng.

It is also concerned with the tending of the fires of the hearth, or those fires which warm, cheer and produce livable conditions in a planet, and incidentally in a home.

Điều này cũng liên quan đến việc chăm nom những ngọn lửa của lò sưởi, hay những ngọn lửa sưởi ấm, làm vui tươi và tạo ra những điều kiện có thể sinh sống được trên một hành tinh, và ngẫu nhiên là trong một gia đình.

142. We often hear of the “cheery blaze” and have, no doubt, experienced it ourselves many times.

142. Chúng ta thường nghe nói đến “ngọn lửa vui tươi” và hẳn là chính mình cũng đã nhiều lần trải nghiệm điều đó.

143. It may occur to us what variety there is the expression of the Agnichaitans. We owe much to them.

143. Chúng ta có thể chợt nghĩ đến sự đa dạng trong biểu hiện của các Agnichaitan. Chúng ta mang ơn chúng rất nhiều.

This is of very vital import, for it means that they are connected with the central basic fires in the bowels of the Earth, with the central basic fire that nourishes and warms the physical forms of all the kingdoms of nature, and consequently with the kundalini fire at the base of the spine in individual man.

Điều này có tầm quan trọng hết sức thiết yếu, vì nó có nghĩa rằng chúng có liên hệ với những ngọn lửa căn bản trung tâm trong lòng Trái Đất, với ngọn lửa căn bản trung tâm nuôi dưỡng và sưởi ấm các hình tướng hồng trần của mọi giới trong thiên nhiên, và do đó với hỏa kundalini ở đáy cột sống nơi con người cá biệt.

144. Let us tabulate these important points relating the Agnichaitans of this lowest group to the latent fires within matter. These Agnichaitans are connected with:

144. Hãy lập bảng những điểm quan trọng này liên hệ các Agnichaitan của nhóm thấp nhất này với những ngọn lửa tiềm ẩn bên trong vật chất. Các Agnichaitan này có liên hệ với:

a. Central basic Fires in the bowels of the earth

a. Những ngọn Lửa căn bản trung tâm trong lòng đất

b. The central basic fire that nourishes and warms the physical forms of all kingdoms of nature

b. Ngọn lửa căn bản trung tâm nuôi dưỡng và sưởi ấm các hình tướng hồng trần của mọi giới trong thiên nhiên

c. The kundalini fire at the base of the spine center of individual man

c. Hỏa kundalini tại trung tâm đáy cột sống của con người cá biệt

It is not advisable for us further to enlarge upon their functions. It should be noted that in connection with the matter aspect there is less to be said than on consciousness, and on the hylozoistic aspect of manifestation. The reason lies in the fact that exoteric science is slowly, yet steadily, finding out the nature of phenomena, and discovering for itself the character of electrical manifestation. In their slowness of discovery lies safety.

Chúng ta không nên khai triển thêm về các chứcnăng của chúng. Cần lưu ý rằng liên quan đến phương diện vật chất có ít điều để nói hơn là về tâm thức, và về phương diện hylozoistic của biểu hiện. Lý do nằm ở chỗ khoa học ngoại môn đang chậm rãi nhưng vững chắc khám phá bản chất của các hiện tượng, và tự mình phát hiện đặc tính của biểu hiện điện. Chính trong sự chậm chạp của việc khám phá ấy có sự an toàn.

145. All the work of the Agnichaitans is electrical in nature.

145. Mọi công việc của các Agnichaitan đều có bản chất điện.

146. Since the matter aspect is, to man, the most accessible divine aspect, and since man has the tendency to meddle immediately with that which he discovers, the “go slow” approach is the safest. Later, when consciousness and morality are more developed, more will be revealed.

146. Vì phương diện vật chất là phương diện thiêng liêng dễ tiếp cận nhất đối với con người, và vì con người có khuynh hướng lập tức can thiệp vào điều mình khám phá ra, nên cách tiếp cận “đi chậm” là an toàn nhất. Về sau, khi tâm thức và đạo đức phát triển hơn, nhiều điều sẽ được mặc khải hơn.

147. Throughout this treatise it will be the rule that more will be revealed concerning consciousness (which, after all, in this second ray solar system should be our focus) than will be revealed concerning matter. Our principle task is to develop and spiritualize our consciousness.

147. Xuyên suốt bộ luận này, quy luật sẽ là nhiều điều sẽ được mặc khải hơn liên quan đến tâm thức (vốn dĩ, sau cùng, trong hệ mặt trời cung hai này phải là trọng tâm của chúng ta) hơn là liên quan đến vật chất. Nhiệm vụ nguyên khí của chúng ta là phát triển và tinh thần hóa tâm thức của mình.

148. This is also the case with astrology. The focus of the modern, spiritually inclined astrologer must be on the astrology of consciousness and not on the astrology of form (though the latter cannot be neglected when information concerning it assists with the development of consciousness).

148. Điều này cũng đúng với chiêm tinh học. Trọng tâm của nhà chiêm tinh học hiện đại có khuynh hướng tinh thần phải là chiêm tinh học của tâm thức chứ không phải chiêm tinh học của hình tướng (dù điều sau không thể bị bỏ qua khi thông tin về nó hỗ trợ cho sự phát triển của tâm thức).

It is not wise nor right yet for the true nature of these different forces and powers to be fully known; therefore, it is not possible for us to do more than indicate certain broad general lines.

Chưa phải là khôn ngoan cũng chưa đúng đắn để bản chất đích thực của những mãnh lực và quyền năng khác nhau này được biết đến đầy đủ; do đó, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một số đường nét khái quát rộng lớn.

134. For all the comprehensive detail we may be offered in this and the other books, we are assured that we are receiving but a thumb-nail sketch of the esoteric realities concerned. It is clear that accurate knowledge of the Agnichaitans could be turned immediately to the development of weaponry and, given the state of development of human consciousness at this time, this would almost certainly be the case.

134. Dù chúng ta có thể được cung cấp bao nhiêu chi tiết bao quát trong quyển này và các quyển khác đi nữa, chúng ta vẫn được bảo đảm rằng điều mình đang nhận chỉ là một phác họa rất sơ lược về các thực tại huyền bí liên quan. Rõ ràng là tri thức chính xác về các Agnichaitan có thể ngay lập tức bị chuyển sang việc phát triển vũ khí, và xét theo trạng thái phát triển của tâm thức nhân loại vào lúc này, điều đó gần như chắc chắn sẽ xảy ra.

135. There are also other far more occult reasons why such knowledge must be withheld from man at his present stage of development.

135. Cũng còn có những lý do huyền bí hơn nhiều khiến tri thức như thế phải bị giữ lại không trao cho con người ở giai đoạn phát triển hiện nay của y.

136. Nevertheless, we benefit by knowing of these deva forces and the approximate place they play within the general scheme. Our understanding of Plan and Purpose is thus enhanced.

136. Tuy nhiên, chúng ta vẫn được lợi khi biết về các mãnh lực thiên thần này và vị trí gần đúng mà chúng giữ trong hệ hành tinh tổng quát. Nhờ vậy sự thấu hiểu của chúng ta về Thiên Cơ và Thiên Ý được tăng cường.