Trích nội dung chương
300. Knowing the keys, vibratory rates and words of power of each of these subplanes would be a necessity. 300. Biết các chìa khóa, các tốc độ rung động và các Quyền năng từ của từng cõi phụ này là điều tất yếu.
300. Knowing the keys, vibratory rates and words of power of each of these subplanes would be a necessity.
300. Biết các chìa khóa, các tốc độ rung động và các Quyền năng từ của từng cõi phụ này là điều tất yếu.
301. We remember that the White Brother does not usually work upon the systemic etheric-physical plane but white magicians who are not yet Masters, may, on some occasions, work etherically.
301. Chúng ta nhớ rằng Huynh đệ Chánh đạo thường không hoạt động trên cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống, nhưng các nhà huyền thuật chánh đạo chưa phải là Chân sư đôi khi có thể hoạt động trên cõi dĩ thái.
Given a certain physical phenomenon—such as the weight of water, for instance, upon a planet—and an initiate of the higher orders can form deductions from it as to the quality of the exalted Life manifesting through a plane.
Cho một hiện tượng hồng trần nhất định—chẳng hạn như trọng lượng của nước trên một hành tinh—và một điểm đạo đồ thuộc các cấp cao hơn có thể từ đó suy luận về phẩm tính của Sự sống cao cả đang biểu hiện qua một cõi.
302. This would be, for us, quite an amazing extrapolation.
302. Đối với chúng ta, đây hẳn là một sự ngoại suy hết sức đáng kinh ngạc.
303. From the weight and quality of water on a planet, such an initiate can learn much about the cosmic astral body of the Planetary Logos manifesting through that planet. Since the soul nature is always related to the astral body, something about the true psyche or soul nature of the Planetary Logos may also be inferred.
303. Từ trọng lượng và phẩm tính của nước trên một hành tinh, một điểm đạo đồ như thế có thể học được nhiều điều về thể cảm dục vũ trụ của Hành Tinh Thượng Đế đang biểu hiện qua hành tinh ấy. Vì bản chất linh hồn luôn liên hệ với thể cảm dục, nên cũng có thể suy ra đôi điều về psyche đích thực hay bản chất linh hồn của Hành Tinh Thượng Đế.
304. We can expect that since our Planetary Logos is achieving some degree of victory on the cosmic astral plane, there should be noticeable changes in the physical water of our planet. Perhaps purification of the waters will lie immediately ahead.
304. Chúng ta có thể chờ đợi rằng vì Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang đạt được một mức độ chiến thắng nào đó trên cõi cảm dục vũ trụ, nên hẳn phải có những thay đổi đáng chú ý trong nước hồng trần của hành tinh chúng ta. Có lẽ sự thanh lọc các nguồn nước đang ở ngay phía trước.
He arrives at this knowledge through a process of reasoning from the liquid (sixth) subplane of the systemic physical plane to:
Y đạt đến tri thức này qua một tiến trình suy luận từ cõi phụ lưu chất (thứ sáu) của cõi hồng trần hệ thống đến:
a. The liquid subplane of the cosmic physical, our systemic astral plane.
a. cõi phụ lưu chất của cõi hồng trần vũ trụ, tức cõi cảm dục hệ thống của chúng ta.
b. The fourth cosmic ether, the buddhic plane.
b. dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề.
c. The second cosmic ether, the monadic plane, or the plane of the seven Heavenly Men.
c. dĩ thái vũ trụ thứ hai, tức cõi chân thần, hay cõi của bảy Đấng Thiên Nhân.
d. The cosmic astral plane, thus getting in touch with the desire nature of the God.
d. cõi cảm dục vũ trụ, nhờ đó tiếp xúc được với bản chất dục vọng của Thượng đế.
305. Again we follow a line of ascent based upon numerical resonance.
305. Một lần nữa chúng ta theo một đường đi lên dựa trên sự cộng hưởng số học.
306. We can see that our efforts to establish accurate alignment between the various aspects of our nature (in this case those lying along the same ray line) will pay big dividends later in our development.
306. Chúng ta có thể thấy rằng những nỗ lực của mình nhằm thiết lập sự chỉnh hợp chính xác giữa các phương diện khác nhau của bản chất mình (trong trường hợp này là những phương diện nằm trên cùng một tuyến cung) sẽ đem lại lợi ích lớn về sau trong sự phát triển của chúng ta.
307. God, in this case, may be the Solar Logos. We have been given a line of ascent which will, eventually and if followed in the correct manner, reveal something of the desire nature of—first, the Planetary Logos, and then, perhaps, of the Solar Logos.
307. Trong trường hợp này, Thượng đế có thể là Thái dương Thượng đế. Chúng ta đã được trao cho một đường đi lên mà rốt cuộc, nếu được theo đúng cách, sẽ tiết lộ đôi điều về bản chất dục vọng trước hết của Hành Tinh Thượng Đế, rồi có lẽ của cả Thái dương Thượng đế.
This method naturally involves a vast knowledge of the deva substance and predicates an intuitive realisation of their orders and groups, the keynotes of those orders and of the planes, and also of the triple nature of substance and a knowledge of how to work with the third type of electrical force, which is the type of energy which puts a man in touch with extra-systemic phenomena.
Phương pháp này tự nhiên bao hàm một tri thức rộng lớn về chất liệu thiên thần và đòi hỏi một sự chứng nghiệm trực giác về các cấp và các nhóm của họ, các chủ âm của những cấp ấy và của các cõi, cùng cả bản chất tam phân của chất liệu và tri thức về cách hoạt động với loại mãnh lực điện thứ ba, tức loại năng lượng đặt con người vào tiếp xúc với các hiện tượng ngoài hệ thống.
308. The requirements for successfully following out such a line of inference are staggering.
308. Những đòi hỏi để theo đuổi thành công một đường suy luận như thế thật choáng ngợp.
309. Let us tabulate the requirements for the sake of impact. Such an initiate will need:
309. Để tạo ấn tượng rõ hơn, chúng ta hãy liệt kê các đòi hỏi ấy. Một điểm đạo đồ như thế sẽ cần:
a. vast knowledge of the deva substance
a. tri thức rộng lớn về chất liệu thiên thần
b. an intuitive realisation of the orders and groups of the devas involved in the ascent
b. một sự chứng nghiệm trực giác về các cấp và các nhóm thiên thần liên quan trong đường đi lên
c. the keynotes of those orders
c. các chủ âm của những cấp ấy
d. the keynotes of the planes involved
d. các chủ âm của các cõi liên quan
e. knowledge of the triple nature of substance
e. tri thức về bản chất tam phân của chất liệu
f. knowledge of how to work with the third type of electrical force
f. tri thức về cách hoạt động với loại mãnh lực điện thứ ba
310. Earlier, the third type of force, equilibrizing force or electricity, was correlated with the buddhic plane.
310. Trước đây, loại mãnh lực thứ ba, mãnh lực quân bình hay điện lực, đã được liên hệ với cõi Bồ đề.
311. It is this third type of electrical force which can put the initiate in touch with extra-systemic phenomena. This seems a big stretch if the type of force we are discussing is to be found upon the buddhic plane.
311. Chính loại mãnh lực điện thứ ba này có thể đặt điểm đạo đồ vào tiếp xúc với các hiện tượng ngoài hệ thống. Điều này dường như là một bước nhảy rất lớn nếu loại mãnh lực đang được bàn đến được tìm thấy trên cõi Bồ đề.
312. The cosmic astral plane, we must remember, is, strictly speaking, “extra-systemic”. The solar system, per se, is only found upon the cosmic physical plane.
312. Chúng ta phải nhớ rằng, nói cho đúng, cõi cảm dục vũ trụ là “ngoài hệ thống”. Chính hệ mặt trời chỉ được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ mà thôi.
313. We seem to be speaking of a type of knowledge which is not about to acquired by many at this time—perhaps not even in this round.
313. Dường như chúng ta đang nói đến một loại tri thức mà vào lúc này không nhiều người sắp đạt được—có lẽ ngay cả trong cuộc tuần hoàn này cũng chưa.
Hence that force still remains unknown, and is only contacted as yet by high Initiates.
Do đó mãnh lực ấy vẫn còn chưa được biết đến, và cho đến nay chỉ được các điểm đạo đồ cao cấp tiếp xúc mà thôi.
314. The force of which we are speaking is contacted not just by normal initiates of the third degree, but perhaps only by initiates of the fourth or fifth degrees.
314. Mãnh lực mà chúng ta đang nói đến không chỉ được tiếp xúc bởi các điểm đạo đồ bình thường ở cấp độ thứ ba, mà có lẽ chỉ bởi các điểm đạo đồ ở cấp độ thứ tư hay thứ năm.
315. It would seem that equilibrizing electricity has a direct connection with the harmonizing powers expressed upon the buddhic plane.
315. Dường như điện lực quân bình có một liên hệ trực tiếp với các quyền năng điều hòa được biểu lộ trên cõi Bồ đề.
316. It is possible that it is sufficient to be an initiate of the fourth degree because it is at that time that the nature and presence buddhic force becomes a great reality in the life.
316. Có thể chỉ cần là một điểm đạo đồ cấp độ thứ tư là đủ, bởi vì chính vào lúc ấy bản chất và sự hiện diện của mãnh lực Bồ đề trở thành một thực tại lớn lao trong đời sống.
It will again be apparent why the Agnisuryans are of such supreme importance;
Một lần nữa sẽ hiển nhiên vì sao các Agnisuryans lại có tầm quan trọng tối thượng;
317. The word is “supreme”. We are not to gloss over this point.
317. Từ ở đây là “tối thượng”. Chúng ta không được lướt qua điểm này.
they embody force which is a direct emanation from the cosmic astral plane and which reveals—when triply blended—the desire nature of our Heavenly Man, and of any particular planetary Logos.
họ hiện thân cho mãnh lực là một phát xạ trực tiếp từ cõi cảm dục vũ trụ và bộc lộ—khi được hòa trộn tam phân—bản chất dục vọng của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, và của bất kỳ Hành Tinh Thượng Đế đặc thù nào.
318. We usually begin by thinking of the Agnisuryans as expressing on the systemic astral plane. We later learned that there are Agnisuryans expressing on the buddhic plane.
318. Chúng ta thường bắt đầu bằng cách nghĩ về các Agnisuryans như biểu lộ trên cõi cảm dục hệ thống. Về sau chúng ta biết rằng có những Agnisuryans biểu lộ trên cõi Bồ đề.
319. Now we learn that the line of Agnisuryans may extend to much higher dimensional levels—even to the cosmic astral plane. I did not say, ‘vibrational levels’, because the substantial nature of the cosmic astral plane is unknown to us. Is anything vibrating on the cosmic astral plane? Is there cosmic astral matter?
319. Giờ đây chúng ta biết rằng tuyến Agnisuryans có thể vươn đến những cấp độ chiều kích cao hơn nhiều—thậm chí đến cả cõi cảm dục vũ trụ. Tôi không nói “các cấp độ rung động”, vì bản chất chất liệu của cõi cảm dục vũ trụ là điều chúng ta chưa biết. Có điều gì đang rung động trên cõi cảm dục vũ trụ không? Có vật chất cảm dục vũ trụ không?
320. We gather that ‘agnisuryanic force’ is traceable to the cosmic astral plane.
320. Chúng ta hiểu rằng “mãnh lực agnisuryan” có thể được truy nguyên đến cõi cảm dục vũ trụ.
321. The triple blending of this ‘agnisuryanic force’ probably suggests the blending of the energies of the second, fourth and sixth orders of devas.
321. Sự hòa trộn tam phân của “mãnh lực agnisuryan” này có lẽ gợi ý sự hòa trộn các năng lượng của các cấp thiên thần thứ hai, thứ tư và thứ sáu.
322. In our solar system, Desire is really the main issue. We are being shown ways to understand it, to trace it to its origins, to note the types of devic lives which embody it, etc. It is obviously a vast subject of the greatest import for humanity, our planet and even for our Solar Logos.
322. Trong hệ mặt trời của chúng ta, Dục vọng thực sự là vấn đề chính. Chúng ta đang được chỉ cho những cách để hiểu nó, truy nguyên nó về nguồn gốc của nó, ghi nhận các loại sự sống thiên thần hiện thân cho nó, v.v. Rõ ràng đây là một chủ đề bao la có tầm quan trọng lớn lao nhất đối với nhân loại, hành tinh chúng ta và ngay cả đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta.
In the two opposites, which are called by the theologians “Heaven and Hell,” we have two of these types of force hinted at, and in this thought we have indicated one of the keys to the astral plane.
Trong hai đối cực, được các nhà thần học gọi là “Thiên Đàng và Địa Ngục”, chúng ta có hai loại mãnh lực này được gợi ý đến, và trong tư tưởng này chúng ta có một trong những chìa khóa của cõi cảm dục.
323. Conventionally, heavenly worlds and hellish worlds are found on the different levels of the astral plane.
323. Theo cách hiểu thông thường, các cõi thiên đàng và các cõi địa ngục được tìm thấy trên những cấp độ khác nhau của cõi cảm dục.
324. Hell is a condition of bondage cause by downward-tending desire. Heaven is a condition of release prepared by upward-tending desire.
324. Địa ngục là một trạng thái bị trói buộc do dục vọng hướng xuống gây ra. Thiên đàng là một trạng thái giải thoát được chuẩn bị bởi dục vọng hướng lên.
325. It would seem that Agnisuryans are involved in both phenomena. The lower levels of the astral plane are the “hell worlds”. The upper levels, the “heaven worlds”—or at least what has been called a kind of “summer-land”.
325. Dường như các Agnisuryans có liên quan trong cả hai hiện tượng. Các cấp thấp của cõi cảm dục là các “cõi địa ngục”. Các cấp cao là các “cõi thiên đàng”—hay ít nhất là điều từng được gọi là một loại “miền hạ”.
326. It is the responsibility of the initiate to transcend both “Heaven and Hell”. he must learn to walk between these pairs of opposites if he is ever to achieve release from Desire.
326. Trách nhiệm của điểm đạo đồ là vượt lên trên cả “Thiên Đàng và Địa Ngục”. Y phải học cách bước đi giữa những cặp đối cực này nếu y muốn đạt được sự giải thoát khỏi Dục vọng.
2. Summary. [of “1. The Function of the Agnisuryans” p. 661] Before passing to the consideration of [Page 676] those devas who are concerned with the construction of man's causal body, and who are the linking group between the Triad and the Quaternary, both in man and the Logos,
2. Tóm lược. [của “1. Chức Năng của các Agnisuryans” tr. 661] Trước khi chuyển sang việc xem xét [Page 676] những thiên thần liên quan đến việc kiến tạo thể nguyên nhân của con người, và là nhóm nối kết giữa Tam nguyên tinh thần và Bộ Tứ, cả trong con người lẫn trong Thượng đế,
327. In the sentence immediately above, DK has just given a brief summary of the nature of the Agnishvattas.
327. Trong câu ngay phía trên, Chân sư DK vừa đưa ra một bản tóm lược ngắn về bản chất của các Agnishvattas.
328. We will have to attend carefully to the nature of the Agnishvattas and see if,and to what extent, the devas of the lower mental plane are to be numbered among them.
328. Chúng ta sẽ phải chú ý cẩn thận đến bản chất của các Agnishvattas và xem liệu, và ở mức độ nào, các thiên thần của cõi hạ trí có được kể vào số họ hay không.
we will briefly enumerate the principal groups of Agnisuryans on the systemic astral plane, as they, in their totality, form the body of manifestation of the great deva or Raja-Lord of the plane.
chúng ta sẽ ngắn gọn liệt kê các nhóm Agnisuryans chính trên cõi cảm dục hệ thống, vì họ, trong tổng thể của mình, tạo thành thể biểu hiện của vị đại thiên thần hay Raja-Lord của cõi ấy.
329. We now focus on matters “closer to home”, enumerating certain devic groups which are to be found on the systemic astral plane.
329. Giờ đây chúng ta tập trung vào những vấn đề “gần gũi hơn”, liệt kê một số nhóm thiên thần được tìm thấy trên cõi cảm dục hệ thống.
First. The Raja-Lord of the Plane, the great deva Varuna, Who is the central Life of the substance of the astral plane of our planetary scheme. He is Himself an outpost of the consciousness of that greater Deva Who embodies the substance of the solar astral plane, or the sixth subplane of the cosmic physical plane. He again in His turn reflects His prototype, that great cosmic Entity Who ensouls the cosmic astral plane.
Thứ nhất. Raja-Lord của Cõi, đại thiên thần Varuna, Đấng là Sự sống trung tâm của chất liệu của cõi cảm dục trong hệ hành tinh của chúng ta. Chính Ngài là một tiền đồn của tâm thức của Đại Thiên thần lớn hơn ấy là Đấng hiện thân cho chất liệu của cõi cảm dục thái dương, hay cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ. Đến lượt mình, Ngài lại phản ánh nguyên mẫu của Ngài, tức Thực Thể vũ trụ vĩ đại phú linh cõi cảm dục vũ trụ.
330. Some very important information is given here. When we think of the great Raja Deva Lords such as Kshiti, Varuna, lesser Agni, Indra, etc., we are liable to think in systemic terms. This, we see, would be incorrect.
330. Ở đây có một số thông tin rất quan trọng được đưa ra. Khi chúng ta nghĩ đến các đại Raja Deva Lords như Kshiti, Varuna, Agni nhỏ hơn, Indra, v.v., chúng ta dễ nghĩ theo các thuật ngữ hệ thống. Như chúng ta thấy, điều đó là không đúng.
331. We learn the following:
331. Chúng ta học được những điều sau:
a. Varuna is the Raja Deva Lord of the astral plane of our Earth-scheme only. We can see that this makes sense as Varuna is a kind of emanation from the planet Neptune, which would hardly be the case if He were the Raja Deva Lord for the entire astral plane (from which plane even the astral body of Neptune would be derived)
a. Varuna là Raja Deva Lord của cõi cảm dục chỉ riêng của hệ Địa Cầu chúng ta mà thôi. Chúng ta có thể thấy điều này hợp lý vì Varuna là một loại phát xạ từ Sao Hải Vương, điều khó có thể đúng nếu Ngài là Raja Deva Lord của toàn bộ cõi cảm dục (một cõi mà ngay cả thể cảm dục của Sao Hải Vương cũng sẽ được rút ra từ đó)
b. There exists a still greater Raja Deva Lord Who ensouls the solar astral plane—the astral plane as it is found throughout the solar system. No name is given to this great Devic Lord.
b. Có tồn tại một Raja Deva Lord còn vĩ đại hơn nữa, Đấng phú linh cõi cảm dục thái dương—cõi cảm dục như nó được tìm thấy khắp hệ mặt trời. Không có tên nào được nêu ra cho vị Devic Lord vĩ đại này.
c. There exists a mighty Devic Lord Who is the Life of the cosmic astral plane throughout the solar system.
c. Có tồn tại một Devic Lord hùng mạnh là Sự sống của cõi cảm dục vũ trụ xuyên suốt hệ mặt trời.
332. These three Deva Lords are all interrelated.
332. Ba Deva Lords này đều có liên hệ với nhau.
Second. Seven great Devas, who are the positive force of each of the seven subplanes of the systemic astral plane.
Thứ hai. Bảy đại thiên thần, là mãnh lực dương của mỗi một trong bảy cõi phụ của cõi cảm dục hệ thống.
333. We are not studying the seven great Devas who are the positive force of the other systemic planes—only those related to the systemic astral plane.
333. Chúng ta không nghiên cứu bảy đại thiên thần là mãnh lực dương của các cõi hệ thống khác—chỉ nghiên cứu những vị liên hệ với cõi cảm dục hệ thống.
334. We notice that although they ensoul only systemic subplanes, they are still considered “great”.
334. Chúng ta lưu ý rằng dù các vị ấy chỉ phú linh các cõi phụ hệ thống, các vị ấy vẫn được xem là “vĩ đại”.
335. They embody and express “positive” force. This is to be noted.
335. Các vị ấy hiện thân và biểu lộ mãnh lực “dương”. Điều này cần được lưu ý.
Third. Various groups of devas, performing different functions carrying out varying activities, and producing constructive results. They might be enumerated as follows, bearing in mind the fact that we are but touching upon a few of the many groups, and that there are numbers whose name is utterly unknown to man and would be unintelligible if mentioned:
Thứ ba. Nhiều nhóm thiên thần khác nhau, thực hiện những chức năng khác nhau, tiến hành những hoạt động khác nhau, và tạo ra những kết quả kiến tạo. Chúng có thể được liệt kê như sau, đồng thời ghi nhớ rằng chúng ta chỉ đang đề cập đến một vài trong rất nhiều nhóm, và rằng có những số lượng mà tên gọi hoàn toàn không được con người biết đến và sẽ không thể hiểu nổi nếu được nêu ra:
336. These are the subsidiary groups.
336. Đây là các nhóm phụ thuộc.
337. DK’s knowledge of this subject is much wider and deeper than can ever be shared, even in such a book as A Treaties on Cosmic Fire.
337. Kiến thức của Chân sư DK về chủ đề này rộng lớn và sâu xa hơn nhiều so với bất cứ điều gì có thể được chia sẻ, ngay cả trong một cuốn sách như Luận về Lửa Vũ Trụ.
338. The subject is stupendous, and truthfully, we are being given the opportunity to grasp only the ABC’s.
338. Chủ đề này thật mênh mông, và nói đúng ra, chúng ta chỉ đang được trao cơ hội để nắm lấy những điều ABC mà thôi.
1. Those devas who form the permanent atomic substance of all the Monads, both in and out of physical incarnation.
1. Những thiên thần tạo thành chất liệu nguyên tử trường tồn của mọi chân thần, cả đang lâm phàm lẫn không ở trong lâm phàm hồng trần.
They are divided into seven groups according to the Ray of the Monad.
Chúng được chia thành bảy nhóm tùy theo cung của chân thần.
339. From this it is quite obvious that there are Monads on all the seven rays, even if the major or primary ray of the Monad can only be one of the major three.
339. Từ đây khá hiển nhiên rằng có những chân thần trên cả bảy cung, dù cung chính hay cung sơ cấp của chân thần chỉ có thể là một trong ba cung chính.
340. By “permanent atomic substance” is meant the substance of the permanent atoms of the Monad. Man has five such permanent atoms and an additional mental unit. However, it appears that we are only speaking of the devas who form the atomic substance of the astral permanent atom.
340. Bởi “chất liệu nguyên tử trường tồn” là muốn nói đến chất liệu của các nguyên tử trường tồn của chân thần. Con người có năm nguyên tử trường tồn như thế và thêm một đơn vị hạ trí. Tuy nhiên, dường như ở đây chúng ta chỉ đang nói đến những thiên thần tạo thành chất liệu nguyên tử của nguyên tử trường tồn cảm dục.
2. Those devas who form the “liquid” aspect in the physical body of the planetary Logos and of the solar Logos. They are myriads in number, and include deva existences ranging all the way from those who ensoul the astral plane, and the astral currents of the highest religious and aspirational nature, to the little water [Page 677] spirits which are reflections of such astral entities precipitated in watery physical matter.
2. Những thiên thần tạo thành phương diện “lưu chất” trong thể xác của Hành Tinh Thượng Đế và của Thái dương Thượng đế. Chúng có số lượng vô số, và bao gồm những hiện hữu thiên thần trải dài từ những vị phú linh cõi cảm dục, và các dòng chảy cảm dục có bản chất tôn giáo và khát vọng cao nhất, cho đến những tinh linh nước nhỏ bé [Page 677] là những phản chiếu của các thực thể cảm dục như thế được ngưng tụ trong vật chất hồng trần thuộc nước.
341. DK is discussing a vast range of deva existences found mostly upon the systemic astral plane, both within the body of expression of the Planetary Logos and within the dense physical body of the Solar Logos in His entirety.
341. Chân sư DK đang bàn đến một phạm vi rất rộng các hiện hữu thiên thần, phần lớn được tìm thấy trên cõi cảm dục của hệ, cả trong thể biểu hiện của Hành Tinh Thượng Đế lẫn trong toàn bộ thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.
342. We have already mentioned those great devas who ensoul the systemic astral plane and its divisions. As far as our Earth is concerned, Varuna is greatest of these devas. The seven great Devas Who ensoul the astral subplanes are subsidiary to Varuna.
342. Chúng ta đã nhắc đến những thiên thần vĩ đại phú linh cõi cảm dục của hệ và các phân bộ của nó. Xét về Trái Đất của chúng ta, Varuna là vị vĩ đại nhất trong các thiên thần này. Bảy Đại thiên thần phú linh các cõi phụ cảm dục đều phụ thuộc vào Varuna.
343. It may be possible to think of a deva as a stream of energy or a “current”.
343. Có thể hình dung một thiên thần như một dòng năng lượng hay một “dòng chảy”.
344. Some devas of the systemic astral plane contribute to the sustained existence of inspiring religious impulses. These would be found upon the higher levels of the astral plane.
344. Một số thiên thần của cõi cảm dục của hệ góp phần vào sự tồn tại bền vững của những xung lực tôn giáo đầy cảm hứng. Chúng được tìm thấy trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục.
345. Other devas are water spirits who are reflections in physical plane water of the more developed devas found on the higher subplanes of the systemic astral plane.
345. Những thiên thần khác là các tinh linh nước, là những phản chiếu trong nước của cõi hồng trần của các thiên thần phát triển hơn được tìm thấy trên các cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục của hệ.
346. With the word “precipitated” are given an important hint. Higher devas can be reflected by lower devas (who, in fact, are reflections of the higher devas). These reflections are in the nature of precipitations. A precipitation of deva substance found upon the systemic astral plane can even be precipitated into dense physical matter, finding expression in a division of physical matter which corresponds to the astral levels on which the higher devas are found.
346. Với từ “ngưng tụ”, một gợi ý quan trọng đã được đưa ra. Các thiên thần cao hơn có thể được phản chiếu bởi các thiên thần thấp hơn (mà thật ra là những phản chiếu của các thiên thần cao hơn). Những phản chiếu này có bản chất của các sự ngưng tụ. Một sự ngưng tụ của chất liệu thiên thần được tìm thấy trên cõi cảm dục của hệ thậm chí có thể được ngưng tụ vào vật chất hồng trần đậm đặc, tìm thấy sự biểu hiện trong một phân bộ của vật chất hồng trần tương ứng với các cấp độ cảm dục nơi các thiên thần cao hơn được tìm thấy.
347. When I think of ways of describing deva and their bodies, I think of “conscious currents of energy-force” or “strands of conscious energy-force”. Some are currents and strands of self-conscious energy-force.
347. Khi tôi nghĩ đến những cách mô tả thiên thần và các thể của họ, tôi nghĩ đến “những dòng mãnh lực-năng lượng có tâm thức” hay “những sợi mãnh lực-năng lượng có tâm thức”. Một số là những dòng và những sợi mãnh lực-năng lượng có ngã thức.
3. A group of devas, who form the desire body of that great entity who ensouls the animal kingdom. They are the total kamic manifestation (divorced from mentality) of animal desire in its incentive impulsive aspect.
3. Một nhóm thiên thần tạo thành thể dục vọng của thực thể vĩ đại phú linh giới động vật. Chúng là toàn bộ biểu hiện kama (tách rời khỏi trí tuệ) của dục vọng động vật trong phương diện xung lực thúc đẩy của nó.
348. These are a lower group of devas than those who form the desire body of that great entity who ensouls the human kingdom.
348. Đây là một nhóm thiên thần thấp hơn những vị tạo thành thể dục vọng của thực thể vĩ đại phú linh giới nhân loại.
349. Kama is desire and it is an animal impulse. These devas do not mix with manasic devas. There is, in relation to them, no kama-manas. So often with respect to the human emotional response, kama and manas are closely interrelated.
349. Kama là dục vọng và là một xung lực động vật. Những thiên thần này không hòa trộn với các thiên thần manas. Liên hệ với chúng, không có trí-cảm. Rất thường, đối với đáp ứng cảm xúc của con người, kama và manas liên hệ chặt chẽ với nhau.
350. These devas are streams and currents of animal desire as it provides animal-incentive and animal-impulse. When these devas are activated the animal moves to fulfill its desires.
350. Những thiên thần này là các dòng và các luồng của dục vọng động vật khi nó cung cấp động cơ và xung lực cho động vật. Khi những thiên thần này được hoạt hóa, con vật chuyển động để thỏa mãn các dục vọng của nó.
4. Certain devas who—being of the third order—form the Heaven of the average orthodox Christian or believer of any faith.
4. Một số thiên thần—thuộc về trật tự thứ ba—tạo thành Thiên Đàng của người Kitô hữu chính thống trung bình hay của tín đồ thuộc bất kỳ đức tin nào.
351. We gather that this type of “Heaven” is found upon the third subplane of the astral plane. It is the correspondence in the astral body of the egoic lotus on the third subplane of the higher mental plane (the mental subplane whereon the egoic lotus of such average, ‘believing’ individuals is likely to be found).
351. Chúng ta có thể suy ra rằng loại “Thiên Đàng” này được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục. Nó là sự tương ứng trong thể cảm dục của hoa sen chân ngã trên cõi phụ thứ ba của Cõi thượng trí (cõi phụ trí tuệ nơi hoa sen chân ngã của những cá nhân trung bình, “có đức tin” như thế có khả năng được tìm thấy).
Another group—being the seventh order—form the Hell for the same class of thinker.
Một nhóm khác—thuộc về trật tự thứ bảy—tạo thành Địa Ngục cho cùng loại người suy tưởng ấy.
352. This is a hint concerning ‘where’ this type of “Hell” can be found. We may infer that it is to be found on the seventh subplane of the astral plane.
352. Đây là một gợi ý về “nơi” có thể tìm thấy loại “Địa Ngục” này. Chúng ta có thể suy ra rằng nó được tìm thấy trên cõi phụ thứ bảy của cõi cảm dục.
353. We notices that the seventh, sixth and fifth orders of evolutionary devas were found on systemic planes seven, six and five.
353. Chúng ta nhận thấy rằng các trật tự thứ bảy, thứ sáu và thứ năm của các thiên thần thăng thượng tiến hoá được tìm thấy trên các cõi của hệ thứ bảy, thứ sáu và thứ năm.
354. We are now dealing with lesser orders of devas found upon the subplanes of the systemic astral plane, but they too have their orders and if we follow the analogy, these orders will correlate with astral subplanes just as the groups of devas of higher order correlated with the cosmic subplanes—our normal systemic planes.
354. Hiện nay chúng ta đang bàn đến những trật tự thiên thần thấp hơn được tìm thấy trên các cõi phụ của cõi cảm dục của hệ, nhưng chúng cũng có các trật tự của mình, và nếu theo định luật tương đồng, các trật tự này sẽ tương quan với các cõi phụ cảm dục cũng như các nhóm thiên thần thuộc trật tự cao hơn đã tương quan với các cõi phụ vũ trụ—tức các cõi bình thường của hệ chúng ta.
355. What is interesting about the seventh subplane of the systemic astral plane is that matter of this type (and of the sixth type) does not enter the composition of the astral body of the human being. The human being is to have nothing to do with the seventh and sixth astral subplanes, and so it is somehow fitting that the “Hell Worlds” (as usually conceived by the average believer or thinker) are to be found upon subplanes which are, as it were, “off limits” for the normal human being.
355. Điều thú vị về cõi phụ thứ bảy của cõi cảm dục của hệ là vật chất thuộc loại này (và loại thứ sáu) không đi vào thành phần cấu tạo của thể cảm dục con người. Con người không được có liên hệ gì với các cõi phụ cảm dục thứ bảy và thứ sáu, và vì vậy có phần thích hợp khi các “Thế giới Địa Ngục” (như thường được người tín đồ hay người suy tưởng trung bình hình dung) lại được tìm thấy trên những cõi phụ vốn, có thể nói, là “ngoài giới hạn” đối với con người bình thường.
356. Whether demons inhabit such worlds is a possibility.
356. Khả năng có các quỷ dữ cư ngụ trong những thế giới như thế là điều có thể.
5. Those devas who form the astral life of any thought-form. These we will deal with later when studying thought-form construction.
5. Những thiên thần tạo thành sự sống cảm dục của bất kỳ hình tư tưởng nào. Những vị này chúng ta sẽ bàn đến sau khi nghiên cứu việc kiến tạo hình tư tưởng.
357. Many thoughtforms carry an astral charge or impact. This is the case because of the energy-force of the astral deva appended to various kama-manasic thoughts.
357. Nhiều hình tư tưởng mang một điện tích hay tác động cảm dục. Điều này xảy ra do mãnh lực-năng lượng của thiên thần cảm dục được gắn vào nhiều tư tưởng trí-cảm khác nhau.
358. We have been told as well that it is possible to construct ‘astral thoughtforms’ but perhaps it would be wiser to call them ‘desire forms’.
358. Chúng ta cũng đã được cho biết rằng có thể kiến tạo các “hình tư tưởng cảm dục”, nhưng có lẽ khôn ngoan hơn nếu gọi chúng là các hình thức dục vọng.
6. A mysterious group of devas intimately connected at this time with the sex expression in the human family on the physical plane. They are a group who are, at this juncture, swept into being, and they embody the fire of sex expression as we understand it.
6. Một nhóm thiên thần huyền bí có liên hệ mật thiết vào lúc này với sự biểu hiện tính dục trong gia đình nhân loại trên cõi hồng trần. Chúng là một nhóm hiện đang được cuốn vào hiện hữu, và chúng thể hiện lửa của sự biểu hiện tính dục như chúng ta hiểu nó.
359. This must be a prominent group at this time when the sacral center of humanity is so excessively stimulated through the incoming of the seventh ray (which rules the sacral center).
359. Đây hẳn phải là một nhóm nổi bật vào lúc này khi trung tâm xương cùng của nhân loại đang bị kích thích quá mức do sự đi vào của cung bảy (cung cai quản trung tâm xương cùng).
360. If, however, we compared today’s sex expression with that which was extant in Lemurian and certain periods of the Atlantean civilization, it would seem tame.
360. Tuy nhiên, nếu chúng ta so sánh sự biểu hiện tính dục ngày nay với điều đã tồn tại trong Lemuria và trong một số thời kỳ của nền văn minh Atlantis, thì nó có vẻ còn nhẹ.
361. DK calls this group “mysterious”. The “mystery of sex” is often a theme of human thought. The mysterious nature of this group may account somewhat for the “mystery of sex”.
361. Chân sư DK gọi nhóm này là “huyền bí”. “Bí ẩn của tính dục” thường là một chủ đề trong tư tưởng nhân loại. Bản chất huyền bí của nhóm này có thể phần nào giải thích cho “bí ẩn của tính dục”.
They are the impulse, or instinct, back of physical sex desire.
Chúng là xung lực, hay bản năng, đứng sau dục vọng tính dục hồng trần.
362. Let us notice the use of words. The devas are “the impulse or instinct”. They are a moving energy or force which manifests as physical sex desire.
362. Hãy lưu ý cách dùng từ. Các thiên thần là “xung lực hay bản năng”. Chúng là một năng lượng hay mãnh lực chuyển động biểu hiện thành dục vọng tính dục hồng trần.
They were peculiarly dominant in the fourth root-race, at which time sex conditions reached a stage of unbelievable horror from our point of view.
Chúng đặc biệt chiếm ưu thế trong giống dân gốc thứ tư, vào thời điểm mà các điều kiện tính dục đã đạt đến một giai đoạn kinh hoàng không thể tin nổi theo quan điểm của chúng ta.
363. DK is suggesting that sex conditions in Atlantis were even worse than those in Lemuria (where, we have been told, extremes were also reached).
363. Chân sư DK đang gợi ý rằng các điều kiện tính dục ở Atlantis còn tệ hơn cả ở Lemuria (nơi, như chúng ta đã được biết, những cực đoan cũng đã bị đẩy tới mức cao).
364. The Black Lodge emerged into prominence in the fourth rootrace and so we can see why dire conditions in sexual expression occurred.
364. Hắc đoàn đã nổi lên thành thế lực nổi bật trong giống dân gốc thứ tư, và vì thế chúng ta có thể hiểu tại sao những điều kiện khủng khiếp trong sự biểu hiện tính dục lại xảy ra.
365. The number four suggests polarities and the relationship between male and female, whether inharmonious or harmonious.
365. Con số bốn gợi ý các cực tính và mối liên hệ giữa nam và nữ, dù bất hòa hay hài hòa.
366. Note the phrase “from our point of view”. Perhaps the Atlanteans did not view the then prevalent conditions of sex expression as unbelievably horrible.
366. Hãy lưu ý cụm từ “theo quan điểm của chúng ta”. Có lẽ người Atlantis không xem các điều kiện biểu hiện tính dục đang phổ biến khi ấy là kinh hoàng không thể tin nổi.
They are gradually being controlled, and when the last of the Lemurian Egos has passed into the fifth root-race they will be slowly passed out of the solar system altogether.
Chúng đang dần dần được kiểm soát, và khi chân ngã cuối cùng của Lemuria đã chuyển sang giống dân gốc thứ năm chúng sẽ từ từ bị loại ra khỏi toàn bộ hệ mặt trời.
367. This will not occur any time soon, perhaps not until later rounds, and presumably, not before the fifth.
367. Điều này sẽ không xảy ra trong thời gian gần, có lẽ không cho đến các cuộc tuần hoàn sau, và có lẽ không trước cuộc tuần hoàn thứ năm.
368. The majority of the Lemurian Egos are still focussed within the first tier of petals of the egoic lotus and probably within the first and second petals of that tier.
368. Đa số các chân ngã Lemuria vẫn còn tập trung trong tầng cánh hoa thứ nhất của hoa sen chân ngã và có lẽ trong cánh hoa thứ nhất và thứ hai của tầng ấy.
369. If we take the hint, we shall realize that there are quite a number of those who individualized in Lemuria who are still in the Atlantean rootrace, at least in terms of their consciousness.
369. Nếu chúng ta nắm được gợi ý này, chúng ta sẽ nhận ra rằng có khá nhiều người đã biệt ngã hóa ở Lemuria mà vẫn còn ở trong giống dân gốc Atlantis, ít nhất là xét theo tâm thức của họ.
370. It seems that conditions on Earth are in a retarded state. We can deduce this from the thought that when certain developments have occurred on Earth, these devas of physical passion will pass out of the solar system and not only away from our planet. It is as if the rest of the solar system has been waiting for us to accomplish certain adjustments and achieve a certain control.
370. Dường như các điều kiện trên Trái Đất đang ở trong một trạng thái chậm tiến. Chúng ta có thể suy ra điều này từ ý nghĩ rằng khi một số phát triển nhất định đã xảy ra trên Trái Đất, các thiên thần của đam mê hồng trần này sẽ rời khỏi hệ mặt trời chứ không chỉ rời khỏi hành tinh của chúng ta. Dường như phần còn lại của hệ mặt trời đã chờ chúng ta hoàn tất một số điều chỉnh và đạt được một mức kiểm soát nhất định.
They are connected with the passional “fire” of the solar Logos and with one of His centres in particular;
Chúng có liên hệ với “lửa” đam mê của Thái dương Thượng đế và đặc biệt với một trong các trung tâm của Ngài;
371. In astrology, passional fire is usually associated with Mars. Mars has been hypothesized as the sacral center of the Solar Logos.
371. Trong chiêm tinh học, lửa đam mê thường được liên kết với Sao Hỏa. Sao Hỏa đã được giả thuyết là trung tâm xương cùng của Thái dương Thượng đế.
372. Yet our Planetary Logos is “too full of passion”. Still, our Planetary Logos is further advanced that the Planetary Logos of Mars, and the sixth ray of Mars naturally accords with this group of agnisuryanic devas associated with sixth or sacral center.
372. Tuy vậy, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta lại “quá đầy đam mê”. Dẫu sao, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta tiến hóa hơn Hành Tinh Thượng Đế của Sao Hỏa, và cung sáu của Sao Hỏa tự nhiên phù hợp với nhóm thiên thần agnisuryan này liên kết với trung tâm thứ sáu hay trung tâm xương cùng.
this centre is being gradually obscured
trung tâm này đang dần dần bị che mờ
373. We are also told in The Secret Doctrine that Mars is in a state of obscuration.
373. Chúng ta cũng được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng Sao Hỏa đang ở trong một trạng thái che mờ.
and its fire transferred into a higher centre.
và lửa của nó được chuyển dịch vào một trung tâm cao hơn.
374. This transference, however, is uncertain, as Mars still has a long way to go in this solar system before its development is complete. In the fifth round upon our planet, the “Judgment Day” will occur. At that time two fifths of the Egos on Earth will be transferred to another planet, probably Mars. So it is necessary for Mars to remain in manifestation for millions of years.
374. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này còn chưa chắc chắn, vì Sao Hỏa vẫn còn một chặng đường dài phải đi trong hệ mặt trời này trước khi sự phát triển của nó hoàn tất. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm trên hành tinh chúng ta, “Ngày Phán Xét” sẽ xảy ra. Vào lúc đó, hai phần năm các chân ngã trên Trái Đất sẽ được chuyển sang một hành tinh khác, có lẽ là Sao Hỏa. Vì thế Sao Hỏa cần phải tiếp tục biểu hiện trong hàng triệu năm.
These two fifths will pass into temporary pralaya, preparatory to their transference to another scheme, as the Earth scheme will no longer provide for them an adequate place of nurture. (TCF 391)
Hai phần năm này sẽ đi vào Giai kỳ qui nguyên tạm thời, để chuẩn bị cho sự chuyển dịch của họ sang một hệ hành tinh khác, vì hệ hành tinh Địa Cầu sẽ không còn cung cấp cho họ một nơi nuôi dưỡng thích hợp nữa. (TCF 391)
375. Of course the planet cited could be other than Mars. Venus is entering a state of obscuration, but it does not seem correct to connect Venus, which has been so victorious in the struggle for redemption, with the “passional fires” of the solar system.
375. Dĩ nhiên, hành tinh được nêu ra có thể không phải là Sao Hỏa. Sao Kim đang đi vào một trạng thái che mờ, nhưng dường như không đúng khi liên kết Sao Kim, vốn đã chiến thắng đến thế trong cuộc đấu tranh cứu chuộc, với các “ngọn lửa đam mê” của hệ mặt trời.
376. We recall that our Planetary Logos was more “full of passion” than His Brothers. Could the planet in question be our own Earth?
376. Chúng ta nhớ rằng Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta “đầy đam mê” hơn các Huynh Đệ của Ngài. Liệu hành tinh được nói đến có thể là chính Trái Đất của chúng ta chăng?
7. There is also a group of devas connected with the Lodge of Masters, whose work it is to build the aspirational forms towards which average man may aspire.
7. Cũng có một nhóm thiên thần liên kết với Thánh đoàn các Chân sư, công việc của chúng là xây dựng các hình thức khát vọng mà con người trung bình có thể khát vọng hướng tới.
377. This is an uplifting and inspiring group of forms constructed by the Masters.
377. Đây là một nhóm hình thức nâng cao và truyền cảm hứng được các Chân sư kiến tạo.
378. The higher visions of aspirants and disciples may be ensouled or stimulated by this group of devas.
378. Những linh ảnh cao hơn của người chí nguyện và đệ tử có thể được nhóm thiên thần này phú linh hoặc kích thích.
They are divided into certain groups—three in number—connected with science, religion and philosophy,
Chúng được chia thành một số nhóm—ba nhóm—liên kết với khoa học, tôn giáo và triết học,
379. Each of these vehicles offers a means for humanity to rise.
379. Mỗi vận cụ này đều mang lại một phương tiện để nhân loại vươn lên.
380. These devas ensoul forms which become the ‘dreams’ of advancing scientists, religionists and philosophers.
380. Những thiên thần này phú linh các hình thức trở thành những “giấc mơ” của các nhà khoa học, tín đồ tôn giáo và triết gia đang tiến bộ.
and through these groups of deva substance the Heads of the three departments reach men.
và thông qua các nhóm chất liệu thiên thần này, các Đấng đứng đầu ba ban tiếp cận con người.
381. We are speaking of the Manu, the Bodhisattva and the Mahachohan.
381. Chúng ta đang nói đến Đức Manu, Đức Bồ Tát và Đức Mahachohan.
382. Great visions of possibilities are ensouled by these devas.
382. Những linh ảnh lớn lao về các khả năng được các thiên thần này phú linh.
It is one of Their [Page 678] channels for work.
Đó là một trong những [Page 678] kênh hoạt động của Các Ngài.
383. We have sometimes wondered what Masters actually do, subjectively. Here we have been given one of Their lines of work. The Masters build forms into which are ‘built’ the types of devas we are discussing.
383. Đôi khi chúng ta tự hỏi các Chân sư thật sự làm gì, trên phương diện chủ quan. Ở đây chúng ta đã được cho biết một trong những đường hoạt động của Các Ngài. Các Chân sư xây dựng những hình thức mà trong đó các loại thiên thần chúng ta đang bàn đến được “xây vào”.
The Master Jesus is particularly active at this time along this line, working in collaboration with certain adepts on the scientific line, who—through the desired union of science and religion—seek to shatter the materialism of the west on the one hand and on the other the sentimental devotion of the many devotees of all faiths.
Chân sư Jesus đặc biệt hoạt động tích cực vào lúc này theo đường này, làm việc cộng tác với một số chân sư trên đường khoa học, những vị—thông qua sự hợp nhất mong muốn giữa khoa học và tôn giáo—tìm cách phá tan chủ nghĩa duy vật của phương Tây ở một phía và ở phía kia là lòng sùng tín cảm tính của nhiều tín đồ thuộc mọi đức tin.
384. The Master Jesus is building forms which offer a vision of that (the union of religion and science) which will magnetize the striving of the many devotees associated with Him.
384. Chân sư Jesus đang xây dựng những hình thức mang lại một linh ảnh về điều đó (sự hợp nhất giữa tôn giáo và khoa học), điều sẽ từ hóa nỗ lực vươn lên của nhiều tín đồ liên kết với Ngài.
385. The cooperation between the sixth and fifth ray Ashrams is interesting and important.
385. Sự hợp tác giữa các ashram cung sáu và cung năm thật đáng chú ý và quan trọng.
386. We understand that the Master Jesus and the Master Hilarion work in close cooperation and that Hilarion, on the fifth ray, has even taken some of Master Jesus’ students for training.
386. Chúng ta hiểu rằng Chân sư Jesus và Chân sư Hilarion làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ, và rằng Chân sư Hilarion, trên cung năm, thậm chí đã nhận một số đạo sinh của Chân sư Jesus để huấn luyện.
In the same way the Master Hilarion is lifting a good deal of the work of training sixth ray disciples off the shoulders of the Master Jesus. (DINA I 624)
Theo cùng cách ấy, Chân sư Hilarion đang gánh bớt khá nhiều công việc huấn luyện các đệ tử cung sáu khỏi vai Chân sư Jesus. (DINA I 624)
387. Each of these rays has what the other needs.
387. Mỗi cung này đều có điều mà cung kia cần.
388. Fifth ray concrete thought can lead to materialism; thoughtless sixth ray tendencies can lead to an unrealistic, childishly sentimental devotion.
388. Tư tưởng cụ thể cung năm có thể dẫn đến chủ nghĩa duy vật; các khuynh hướng cung sáu thiếu suy nghĩ có thể dẫn đến một lòng sùng tín phi thực tế, cảm tính non nớt.
This is made possible now through the passing out of the sixth Ray and the coming in of the seventh.
Điều này hiện nay trở nên khả hữu nhờ sự rút đi của cung sáu và sự đi vào của cung bảy.
389. It is interesting how the merging of two rays (one of them passing out) can be facilitated by the coming in of the seventh ray. Perhaps this seventh ray induces greater realism in the sixth ray types and a higher and more subtle reach in the fifth ray types.
389. Thật thú vị khi sự hòa nhập của hai cung (một trong số đó đang rút đi) có thể được tạo điều kiện bởi sự đi vào của cung bảy. Có lẽ cung bảy này tạo ra tính hiện thực lớn hơn nơi những người thuộc cung sáu và một tầm vươn cao hơn, tinh tế hơn nơi những người thuộc cung năm.
390. Already we can see certain physicists (clearly working on the fifth ray) responding to the transcendental idealism of the sixth ray.
390. Ngay từ bây giờ chúng ta đã có thể thấy một số nhà vật lý học (rõ ràng hoạt động trên cung năm) đang đáp ứng với chủ nghĩa duy tâm siêu việt của cung sáu.
It should be borne in mind by all students when considering the planes, plane substance and energy that they are in a condition of flux and change all the time.
Mọi đạo sinh cần ghi nhớ khi xem xét các cõi, chất liệu cõi và năng lượng rằng chúng luôn luôn ở trong một tình trạng lưu chuyển và biến đổi.
391. Everything is in motion and the higher we ascend the greater the motion.
391. Mọi sự đều đang chuyển động, và chúng ta càng đi lên cao thì chuyển động càng lớn.
The matter of all planes circulates, and cyclically certain portions become more energised than others;
Vật chất của mọi cõi đều tuần hoàn, và theo chu kỳ, một số phần nhất định trở nên được tiếp năng lượng nhiều hơn những phần khác;
392. Matter on the various planes is of seven qualities. Certain streams of matter will become energized while others will find their activity reduced—all depending on ray and astrological cycles.
392. Vật chất trên các cõi khác nhau có bảy phẩm tính. Một số dòng vật chất sẽ trở nên được tiếp năng lượng trong khi những dòng khác sẽ thấy hoạt động của mình giảm xuống—tất cả tùy thuộc vào các chu kỳ cung và chiêm tinh.
393. Also the planar circulation from East to West may contribute to the selective energizing of which DK speaks.
393. Ngoài ra, sự tuần hoàn theo cõi từ Đông sang Tây cũng có thể góp phần vào sự tiếp năng lượng có chọn lọc mà Chân sư DK đang nói đến.
the matter of the planes is thus under a threefold influence, or—to word it otherwise—deva substance is subjected to a threefold cyclic stimulation:
vì thế vật chất của các cõi chịu một ảnh hưởng tam phân, hay—nói cách khác—chất liệu thiên thần chịu một sự kích thích chu kỳ tam phân:
394. The following are very real and effective energies.
394. Sau đây là những năng lượng rất thực và hữu hiệu.
1. Ray stimulation, dependent upon any Ray being in or out of power. It is inter-systemic and planetary.
1. Sự kích thích của cung, tùy thuộc vào việc một cung nào đó đang ở trong hay ngoài quyền lực. Nó có tính liên-hệ-thống và hành tinh.
395. Ray stimulation comes also from the other solar systems allied with our own—those which are part of the “Seven Solar Systems of Which Ours is One”. This assumes that DK is not using the word “inter-systemic” to mean ‘intra-systemic’.
395. Sự kích thích của cung cũng đến từ các hệ mặt trời khác liên kết với hệ của chúng ta—những hệ là một phần của “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một”. Điều này giả định rằng Chân sư DK không dùng từ “liên-hệ-thống” để có nghĩa là ‘nội-hệ-thống’.
396. Ray stimulation comes via the planetary Ray Lords Who ensoul planetary schemes. When He speaks of “inter-systemic” stimulation, He might mean such stimulation as occurs between planets in the same solar system.
396. Sự kích thích của cung đến qua các Đấng Chúa Tể Cung hành tinh phú linh các hệ hành tinh. Khi Ngài nói về sự kích thích “liên-hệ-thống”, Ngài có thể muốn nói đến loại kích thích xảy ra giữa các hành tinh trong cùng một hệ mặt trời.
397. Ray stimulation can also arise within the planet itself. Planetary Ray Lords in Shamballa are the source of such cyclic stimulation. The intra-planetary Kumara may also be involved in this stimulation.
397. Sự kích thích của cung cũng có thể phát sinh từ bên trong chính hành tinh. Các Đấng Chúa Tể Cung hành tinh trong Shamballa là nguồn của loại kích thích chu kỳ này. Các Kumara nội hành tinh cũng có thể liên quan đến sự kích thích này.
2. Zodiacal stimulation, which is an extra-systemic stimulation, and is also cosmic and cyclic.
2. Sự kích thích hoàng đạo, là một sự kích thích ngoài-hệ-thống, và cũng có tính vũ trụ và chu kỳ.
398. The Lords of the zodiacal constellations are extra-systemic, even cosmic beings. Cyclic stimulation comes via these Entities through such cycles as the precession of the equinoxes.
398. Các Chúa Tể của các chòm sao hoàng đạo là những thực thể ngoài-hệ-thống, thậm chí là các thực thể vũ trụ. Sự kích thích chu kỳ đến qua các Thực Thể này thông qua những chu kỳ như sự tiến động của điểm phân.
399. Right now, on our planet, we are preparing to receive zodiacal stimulation from the Lord of the Constellation Aquarius.
399. Ngay lúc này, trên hành tinh chúng ta, chúng ta đang chuẩn bị tiếp nhận sự kích thích hoàng đạo từ Chúa Tể của Chòm Sao Bảo Bình.
3. Solar stimulation, or the impact of direct solar force or energy upon the substance of a plane; this emanates from the “Heart of the Sun” and is peculiarly potent.
3. Sự kích thích thái dương, hay tác động của mãnh lực hay năng lượng thái dương trực tiếp lên chất liệu của một cõi; điều này phát xuất từ “Trái Tim của Mặt Trời” và đặc biệt mãnh liệt.
400. The Sun itself is a great and direct source of stimulation for the matter of the various planes.
400. Chính Mặt Trời là một nguồn kích thích lớn lao và trực tiếp đối với vật chất của các cõi khác nhau.
401. The Heart of the Sun is the Egoic nature of the Solar Logos. There are obviously cycles, unknown to man, through which the Heart of the Sun acts upon our planet and, in fact, upon all the planets.
401. Trái Tim của Mặt Trời là bản chất chân ngã của Thái dương Thượng đế. Hiển nhiên có những chu kỳ, con người chưa biết đến, qua đó Trái Tim của Mặt Trời tác động lên hành tinh chúng ta và thật ra là lên mọi hành tinh.
402. Sun spot cycles are an indication of a solar cycle, but we cannot be sure if such cycles represent the pulsations of the solar “Heart”.
402. Các chu kỳ vết đen mặt trời là một dấu hiệu của một chu kỳ thái dương, nhưng chúng ta không thể chắc rằng những chu kỳ như thế có đại diện cho các nhịp đập của “Trái Tim” thái dương hay không.
All the planes are subjected to this threefold influence but in the case of the buddhic and the astral planes, the force of this third stimulation is very great.
Mọi cõi đều chịu ảnh hưởng tam phân này nhưng trong trường hợp của cõi Bồ đề và cõi cảm dục, mãnh lực của sự kích thích thứ ba này là rất lớn.
403. This stands to reason. The intended occurrence of the Externalization and Reappearance may well be timed (at least in part) with the Heart of the Sun cycle.
403. Điều này là hợp lý. Sự dự định xảy ra của Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn và sự Tái Lâm rất có thể được định thời theo chu kỳ của Trái Tim của Mặt Trời.
The adepts—working in conjunction with the great devas—utilise cyclic opportunity to effect definitely constructive results.
Các chân sư—làm việc phối hợp với các đại thiên thần—sử dụng cơ hội chu kỳ để tạo ra những kết quả có tính kiến tạo rõ rệt.
404. What might be called the ‘Law of Opportunity’ and the “Law of Cycles” are closely correlated.
404. Điều có thể được gọi là “Định luật Cơ Hội” và “Định luật Chu Kỳ” có tương quan chặt chẽ với nhau.
405. If the times and seasons are known, full advantage can be taken of the energy available for application.
405. Nếu thời điểm và mùa kỳ được biết, có thể tận dụng đầy đủ năng lượng sẵn có để ứng dụng.
406. Transformational opportunities and timing are inseparable.
406. Các cơ hội chuyển đổi và sự định thời là không thể tách rời.
8. A group of devas closely connected with the mysteries of initiation. They form what is esoterically called the “path of the Heart,” and are the bridge between the astral and the buddhic planes.
8. Một nhóm thiên thần có liên hệ mật thiết với các huyền nhiệm của điểm đạo. Họ tạo thành điều được gọi một cách huyền bí là “Con Đường của Trái Tim,” và là cây cầu nối giữa cõi cảm dục và cõi Bồ đề.
407. For this reason, these devas will be found involved in the conscious building of the antahkarana as, during the phase called Imagination, a link is made between the astral and buddhic planes.
407. Vì lý do này, các thiên thần này sẽ được thấy là có dự phần vào việc xây dựng antahkarana một cách có ý thức vì, trong giai đoạn được gọi là Sự tưởng tượng, một mối liên kết được tạo ra giữa cõi cảm dục và cõi Bồ đề.
408. During the phase of Projection the line of living light may well touch the buddhic plane.
408. Trong giai đoạn Phóng chiếu, đường ánh sáng sống động rất có thể chạm tới cõi Bồ đề.
409. The ‘energy feelings’ which arise in us at certain moments of high contact are the activation of certain devic currents and streams which bridge from a lower dimension to a higher and vise-versa.
409. Những ‘cảm giác năng lượng’ phát sinh trong chúng ta vào những lúc nhất định của sự tiếp xúc cao là sự hoạt hóa của một số dòng và luồng thiên thần nhất định, vốn bắt cầu từ một chiều thấp lên một chiều cao hơn và ngược lại.
They are in no way [Page 679] connected with the permanent atoms in the causal body, but are very definitely associated with the central tier of petals in the egoic lotus, or with the “petals of love.”
Chúng hoàn toàn không [Page 679] liên hệ với các nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân, nhưng lại rất rõ rệt gắn liền với tầng cánh hoa trung tâm trong Hoa Sen Chân Ngã, hay với “các cánh hoa bác ái.”
410. A different group of devas—who form the “permanent atomic substance” of the permanent atoms must be distinguished from these devas who form the “Path of the Heart”.
410. Một nhóm thiên thần khác—những vị tạo thành “chất liệu nguyên tử trường tồn” của các nguyên tử trường tồn—phải được phân biệt với các thiên thần tạo thành “Con Đường của Trái Tim” này.
411. We might expect that as the love petals open, these devas will become increasingly active.
411. Chúng ta có thể mong đợi rằng khi các cánh hoa bác ái khai mở, các thiên thần này sẽ ngày càng hoạt động mạnh hơn.
412. The line of energy involved suggests movement from the astral body, through the love petals of the egoic lotus and to the buddhic vehicle. This is a triple alignment. From a certain point of view, the antahkarana can be conceived as triangular. One can touch the buddhic plane through direct projection from the soul-infused mental unit, but it also seems possible to touch buddhi through the meditation of the manasadevic energies associated with the love petals.
412. Đường năng lượng liên hệ ở đây gợi ý một chuyển động từ thể cảm dục, xuyên qua các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã và đến vận cụ Bồ đề. Đây là một sự chỉnh hợp tam phân. Từ một quan điểm nào đó, antahkarana có thể được hình dung như có tính tam giác. Người ta có thể chạm tới cõi Bồ đề qua sự phóng chiếu trực tiếp từ đơn vị hạ trí được linh hồn thấm nhuần, nhưng dường như cũng có thể chạm tới buddhi qua sự tham thiền của các năng lượng manasadeva liên hệ với các cánh hoa bác ái.
Force interacts between these three petals on the one hand,
Mãnh lực tương tác giữa ba cánh hoa này ở một phía,
413. These are manasadevic forces…
413. Đây là các mãnh lực manasadeva…
and the devas who form the “Path of the Heart” upon the other, those who are the bridge of astral-buddhic matter whereby initiates of a certain mystic type make the “great approach.”
và các thiên thần tạo thành “Con Đường của Trái Tim” ở phía kia, tức những vị là cây cầu của chất liệu cảm dục-Bồ đề nhờ đó các điểm đạo đồ thuộc một loại thần bí nhất định thực hiện “sự tiếp cận vĩ đại.”
414. We are not so much talking about the deliberate, occult building of the antahkarana. Rather we are talking about mystical aspiration resulting in mystical ecstasy and inspiration. These are two distinct lines of approach, one approach involving the egoic lotus and the other, as it were, “bypassing the soul”.
414. Chúng ta không hẳn đang nói về việc xây dựng antahkarana một cách có chủ ý, huyền bí học. Đúng hơn, chúng ta đang nói về khát vọng thần bí dẫn đến xuất thần thần bí và cảm hứng. Đây là hai đường tiếp cận riêng biệt, một đường tiếp cận liên quan đến Hoa Sen Chân Ngã và đường kia, có thể nói, “đi vòng qua linh hồn”.
415. These devas must be known for their ‘spontaneous arising’. It does not seem that they can be easily controlled or compelled. They become activated when conditions between the two termini of the bridge are correct and factors of resonance suitable.
415. Các thiên thần này phải được biết đến vì sự ‘tự phát sinh khởi’ của họ. Dường như họ không thể dễ dàng bị kiểm soát hay cưỡng bách. Họ được hoạt hóa khi các điều kiện giữa hai đầu mút của cây cầu là đúng đắn và các yếu tố cộng hưởng là thích hợp.
416. They can, as it seems, be trained to respond by the deliberate, scientific building of the antahkarana.
416. Dường như họ có thể được huấn luyện để đáp ứng qua việc xây dựng antahkarana một cách có chủ ý và khoa học.
9. Devas of all degrees and vibratory capacity who make up the bulk of the desire forms of every kind.
9. Các thiên thần ở mọi cấp độ và năng lực rung động, tạo thành phần lớn của mọi loại hình tướng dục vọng.
417. These are not astral thoughtforms but rather desire forms.
417. Đây không phải là các hình tư tưởng cảm dục mà đúng hơn là các hình tướng dục vọng.
418. The astral body is a form-building vehicle. So often the arising of desire is accompanied by a rather concrete desire-image of that which is desired.
418. Thể cảm dục là một vận cụ tạo hình. Rất thường khi sự phát sinh của dục vọng đi kèm với một hình ảnh dục vọng khá cụ thể về điều được ham muốn.
419. It is of such forms that DK is speaking.
419. Chính về những hình tướng như thế mà Chân sư DK đang nói.
10. The devas of transmutative force. They are a peculiar group of devas who embody the “fires of transmutation” and are called by various names, such as:
10. Các thiên thần của mãnh lực chuyển hoá. Họ là một nhóm thiên thần đặc biệt, hiện thân cho “những ngọn lửa của sự chuyển hoá” và được gọi bằng nhiều tên khác nhau, như:
The furnaces of purifications.
Các lò thanh luyện.
The melting elements.
Các nguyên tố nung chảy.
The gods of incense.
Các vị thần của hương trầm.
420. The names are beautiful. These seem to be devas involved in the Alchemical Process.
420. Những tên gọi này thật đẹp. Dường như đây là các thiên thần dự phần vào Tiến Trình luyện kim.
421. Aspirational fires are involved in purification.
421. Những ngọn lửa khát vọng có liên hệ đến sự thanh luyện.
422. The term “melting elements” suggests a connection with the fusing and melting fires of the buddhic plane.
422. Thuật ngữ “các nguyên tố nung chảy” gợi ý một liên hệ với những ngọn lửa dung hợp và nung chảy của cõi Bồ đề.
423. Incense suggests a sublimatory rising of energy.
423. Hương trầm gợi ý một sự thăng hoa đi lên của năng lượng.
424. Let us think of the following definition of transmutation:
424. Chúng ta hãy suy nghĩ về định nghĩa sau đây của sự chuyển hoá:
“Transmutation is the passage across from one state of being to another, through the agency of fire.” (TCF 476)
“Chuyển hoá là sự đi qua từ trạng thái hiện hữu này sang trạng thái hiện hữu khác, thông qua tác nhân của lửa.” (TCF 476)
425. The following definition of transmutation should be considered in this context:
425. Định nghĩa sau đây về sự chuyển hoá nên được xem xét trong bối cảnh này:
3. Transmutation—the method whereby that which is lower is absorbed by the higher, whereby force is transmuted into energy, whereby the energy of the three lower centres is carried up into the three higher centres (head, heart and throat) and which later enables the initiate to centralise all the energies in the three directing centres in the head. This transmuting process goes forward under the pressure of daily life experience, under the magnetic effect of soul contact, and as the inevitable result of evolution itself. (R&I 278-279)
3. Chuyển hoá—phương pháp nhờ đó cái thấp được cái cao hấp thu, nhờ đó mãnh lực được chuyển hoá thành năng lượng, nhờ đó năng lượng của ba trung tâm thấp được đưa lên ba trung tâm cao (đầu, tim và cổ họng) và về sau giúp điểm đạo đồ tập trung mọi năng lượng vào ba trung tâm chỉ đạo trong đầu. Tiến trình chuyển hoá này diễn ra dưới áp lực của kinh nghiệm đời sống hằng ngày, dưới hiệu ứng từ tính của sự tiếp xúc với linh hồn, và như kết quả tất yếu của chính tiến hoá. (R&I 278-279)
426. One of the names of the Seventh Ray Lord is appropriate when considering the uplifting process of transmutation:
426. Một trong những danh hiệu của Đấng Chúa Tể Cung bảy là thích hợp khi xem xét tiến trình nâng lên của sự chuyển hoá:
The One Who lifts to Life (EP I 85)
Đấng Nâng lên đến Sự sống (EP I 85)
It is impossible to enumerate more now, and likewise profitless and it has only been deemed advisable to bring these many types of deva substance to the notice of students on account of the pre-eminent importance of the astral body in the three worlds.
Hiện giờ không thể liệt kê thêm nữa, và cũng không có ích; chỉ được xem là thích đáng khi đưa nhiều loại chất liệu thiên thần này đến sự chú ý của các đạo sinh vì tầm quan trọng nổi trội của thể cảm dục trong ba cõi thấp.
427. DK is possessed of vastly more knowledge than we can ever absorb. Although at times that which is conveyed may seem overwhelming, it is, from His perspective, only a very little—that which will be profitable and can be used.
427. Chân sư DK sở hữu tri thức rộng lớn hơn rất nhiều so với điều chúng ta có thể hấp thu. Dù đôi khi điều được truyền đạt có vẻ quá sức, nhưng từ quan điểm của Ngài, đó chỉ là một phần rất nhỏ—phần có ích và có thể được sử dụng.
It is by the domination of these deva lives, and the “transmutation of desire” into aspiration, and by the purificatory fires of the astral plane that man eventually succeeds in attaining buddhic consciousness.
Chính nhờ sự chế ngự các sự sống thiên thần này, và sự “chuyển hoá dục vọng” thành khát vọng, và nhờ những ngọn lửa thanh luyện của cõi cảm dục mà con người cuối cùng thành công trong việc đạt tới tâm thức Bồ đề.
428. If we have wondered how we may access buddhi, it is not only through the building of the antahkarana. Success in that building process requires previously applied purification and the “transmutation of desire” into aspiration.
428. Nếu chúng ta từng tự hỏi làm thế nào có thể tiếp cận buddhi, thì không chỉ qua việc xây dựng antahkarana. Thành công trong tiến trình xây dựng đó đòi hỏi phải có sự thanh luyện được áp dụng từ trước và “sự chuyển hoá dục vọng” thành khát vọng.
429. The one who has not aspired and who does not continue to aspire will have difficulty in working up sufficient intensity to build the bridge.
429. Người chưa từng khát vọng và không tiếp tục khát vọng sẽ gặp khó khăn trong việc khơi dậy đủ cường độ để xây dựng cây cầu.
It has been the recognition of the cleansing power of the occult fluids—water and blood—that has led to the emphasis laid by Christians (even though erroneously interpreted) upon these two.
Chính sự nhìn nhận quyền năng tẩy sạch của các lưu chất huyền bí—nước và máu—đã dẫn đến sự nhấn mạnh mà các tín đồ Cơ Đốc đặt lên hai điều này (dù được giải thích sai lạc).
430. VSK suggests: “This may relate then to the blue and red, blue and red/rose of the astral plane, as the colours of blood; or of water and wine.”
430. VSK gợi ý: “Điều này có thể liên hệ đến màu xanh lam và đỏ, xanh lam và đỏ/hồng của cõi cảm dục, như các màu của máu; hoặc của nước và rượu.”
431. When speaking of purification both water and blood are involved and both are related to the sixth ray.
431. Khi nói về sự thanh luyện thì cả nước lẫn máu đều có liên hệ, và cả hai đều liên hệ với cung sáu.
432. Water is related to Neptune and Mars to the blood and the color red.
432. Nước liên hệ với Sao Hải Vương và Sao Hỏa liên hệ với máu và màu đỏ.
the sixth ray energy of Mars is transmuted into the sixth ray energy of Neptune, for the one is “objective and full of blood” and the other is “subjective and full of life.” (EA 217)
năng lượng cung sáu của Sao Hỏa được chuyển hoá thành năng lượng cung sáu của Sao Hải Vương, vì một bên thì “khách quan và đầy máu” còn bên kia thì “chủ quan và đầy sự sống.” (EA 217)
433. The “clear cold light” of the buddhic plane relates to the transparent condition of water and the waters once they have been purified by passing through many bloody, sacrificial experiences.
433. “Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” của cõi Bồ đề liên hệ với trạng thái trong suốt của nước và của những dòng nước một khi chúng đã được thanh luyện bằng cách đi qua nhiều kinh nghiệm đẫm máu, hi sinh.
434. We have been speaking largely of the astral plane and of higher correspondences to that plane—the buddhic plane, the monadic plane, and the cosmic astral plane.
434. Chúng ta phần lớn đã nói về cõi cảm dục và về các tương ứng cao hơn của cõi đó—cõi Bồ đề, cõi chân thần, và cõi cảm dục vũ trụ.
435. There is a fluid element connected with all of them and all of them are involved in the cleansing and purifying process which at first is experience on the systemic astral plane.
435. Có một nguyên tố lưu chất liên hệ với tất cả các cõi ấy, và tất cả đều dự phần vào tiến trình tẩy sạch và thanh luyện mà lúc đầu là kinh nghiệm trên cõi cảm dục của hệ mặt trời.
436. On our planet and in our solar system it is particularly the astral nature which must be cleansed, and particularly the Agnisuryans which are involved in the cleansing process. Buddhic Agnisuryans enter later to create harmony. Are there Agnisuryans connected with the monadic plane? There are certainly higher correspondences to Agnisuryans on the cosmic astral plane.
436. Trên hành tinh của chúng ta và trong hệ mặt trời của chúng ta, đặc biệt chính bản chất cảm dục là điều phải được tẩy sạch, và đặc biệt các Agnisuryan là những vị dự phần vào tiến trình tẩy sạch. Các Agnisuryan Bồ đề đi vào sau để tạo ra hài hòa. Có những Agnisuryan liên hệ với cõi chân thần chăng? Chắc chắn có những tương ứng cao hơn với Agnisuryan trên cõi cảm dục vũ trụ.
437. These devas have been designated as of paramount importance to man on this planet and in this astral-buddhic solar system.
437. Các thiên thần này đã được chỉ định là có tầm quan trọng tối thượng đối với con người trên hành tinh này và trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề này.
438. After reading this section of text we should have a better reason why this is so.
438. Sau khi đọc phần văn bản này, chúng ta nên có lý do rõ hơn vì sao điều đó là như vậy.
TCF 679-692: S6S9
23 January – 6 February 2008
23 tháng 1 – 6 tháng 2 năm 2008
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the analysis.
Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần phân tích.
1. We now begin a very important section on the Solar Angels or Agnishvattas.
1. Giờ đây chúng ta bắt đầu một phần rất quan trọng về các Thái dương Thiên Thần hay các Agnishvatta.
2. We may notice that, although we have discussed the Agnichaitans and the Agnisuryans, it does not seem that the devas which work upon the lower mental plane are named or discussed in this section. We must decide whether this is really the case.
2. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, dù đã bàn đến các Agnichaitan và các Agnisuryan, dường như các thiên thần hoạt động trên cõi hạ trí không được nêu tên hay bàn đến trong phần này. Chúng ta phải quyết định liệu điều này có thật sự là như vậy hay không.
3. THE SOLAR ANGELS, THE AGNISHVATTAS.
3. CÁC THÁI DƯƠNG THIÊN THẦN, CÁC AGNISHVATTA.
Introductory Remarks.
Những nhận xét mở đầu.
We start here upon the consideration of the Agnishvattas, or the Fire devas of the mental plane,
Ở đây chúng ta bắt đầu việc xem xét các Agnishvatta, hay các thiên thần Lửa của cõi trí,
3. It is not specified whether only the higher mental plane is meant or all aspects of the mental plane.
3. Không xác định rõ liệu chỉ cõi thượng trí được nói đến hay mọi phương diện của cõi trí.
4. The names of all these evolutionary devas we have been studying begin with the word “Agni”, so they must necessarily all be fire devas.
4. Tên của tất cả các thiên thần thăng thượng tiến hoá mà chúng ta đã nghiên cứu đều bắt đầu bằng từ “Agni”, vì thế tất yếu tất cả họ đều phải là các thiên thần lửa.
5. Sometimes the fire devas of the mental plane are called “manasadevas”. It is not clear that all manasadevas are Solar Angels.
5. Đôi khi các thiên thần lửa của cõi trí được gọi là “manasadeva”. Không rõ rằng mọi manasadeva đều là Thái dương Thiên Thần.
and are [Page 680] thus launched upon the most stupendous subject in connection with our planetary evolution;
và như thế [Page 680] chúng ta được đưa vào đề tài kỳ vĩ nhất liên quan đến tiến hoá hành tinh của chúng ta;
6. Indeed, this is the subject, and in many respects, the most important subject of the Secret Doctrine.
6. Quả thật, đây là chính đề tài, và trên nhiều phương diện, là đề tài quan trọng nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm.
it is the one having the most occult significance for man, for these solar Angels19 concern his own essential nature, and are also the creative power by which he works.
đó là đề tài có ý nghĩa huyền bí học lớn nhất đối với con người, vì các Thái dương Thiên Thần này19 liên quan đến bản chất cốt yếu của chính y, và cũng là quyền năng sáng tạo mà nhờ đó y hoạt động.
7. Let us note this carefully:
7. Chúng ta hãy lưu ý điều này thật cẩn thận:
a. The subject relates to the essence of man—considering man as a soul and not as a Monad.
a. Đề tài này liên hệ đến bản chất tinh túy của con người—xét con người như một linh hồn chứ không phải như một chân thần.
b. The subject relates to the “creative power” through which a man works.
b. Đề tài này liên hệ đến “quyền năng sáng tạo” mà qua đó một người hoạt động.
8. There is no occultism (as we know it) without a thorough understanding of the Solar Angels.
8. Không có huyền bí học nào (như chúng ta biết) nếu không có sự thấu hiểu thấu đáo về các Thái dương Thiên Thần.
FOOTNOTE 19:
CHÚ THÍCH 19:
Solar angels are therefore entities of a high spiritual order—with a refined consciousness that corresponds to the material substance in which they are clothed.
Do đó, các Thái dương Thiên Thần là những thực thể thuộc một trật tự tinh thần cao—với một tâm thức tinh luyện tương ứng với chất liệu vật chất mà họ khoác lấy.
9. In what material substance are they clothed? Is it the substance of the higher mental plane? Is “their own plane” the higher mental plane or a plane much higher?
9. Họ được khoác trong chất liệu vật chất nào? Có phải là chất liệu của cõi thượng trí không? “Cõi riêng của họ” là cõi thượng trí hay là một cõi cao hơn nhiều?
10. There are certainly some manasadevas who express through petal substance of the egoic lotus on the higher mental plane. We must determine to what extent all manasadevas can be called Solar Angels.
10. Chắc chắn có một số manasadeva biểu lộ qua chất liệu cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã trên cõi thượng trí. Chúng ta phải xác định đến mức nào mọi manasadeva đều có thể được gọi là Thái dương Thiên Thần.
In order to connect this with what I have said already, you may consider the solar angels as collectively forming the Lord Brahma of the lotus isle.
Để nối điều này với những gì tôi đã nói trước đây, bạn có thể xem các Thái dương Thiên Thần như cùng nhau tạo thành Chúa Brahma của đảo hoa sen.
11. The Solar Angels are associated with the Brahmic energy of intelligence as well as with love.
11. Các Thái dương Thiên Thần liên hệ với năng lượng Brahma của trí tuệ cũng như với bác ái.