← Commentary_S6_574_679_song ngữ

12. We note the words “lotus isle” and can connect them with the egoic lotuses through which the Solar Angels express part of their nature.

Trích nội dung chương

12. We note the words “lotus isle” and can connect them with the egoic lotuses through which the Solar Angels express part of their nature. 12. Chúng ta lưu ý các từ “đảo hoa sen” và có thể nối chúng với các hoa sen chân ngã mà qua đó các Thái dương Thiên Thần biểu lộ một phần bản chất của họ.


12. We note the words “lotus isle” and can connect them with the egoic lotuses through which the Solar Angels express part of their nature.

12. Chúng ta lưu ý các từ “đảo hoa sen” và có thể nối chúng với các hoa sen chân ngã mà qua đó các Thái dương Thiên Thần biểu lộ một phần bản chất của họ.

The angels are called by various names as planetary spirits, Asuras, etc.,

Các thiên thần được gọi bằng nhiều tên khác nhau như các tinh thần hành tinh, Asura, v.v.,

13. Their names are, indeed, many, and in the many names are important hints as to their diversified nature.

13. Quả thật tên gọi của họ rất nhiều, và trong nhiều tên gọi ấy có những gợi ý quan trọng về bản chất đa dạng của họ.

14. The Asuras have an unjustified bad reputation. The Secret Doctrine tells us they have been vilified as demons when exactly the opposite is the truth.

14. Các Asura mang một tiếng xấu không chính đáng. Giáo Lý Bí Nhiệm cho chúng ta biết họ đã bị phỉ báng như ma quỷ trong khi sự thật hoàn toàn ngược lại.

15. As for “planetary spirits” we must be careful not to associate them with the “spirit of the planet”—an involutionary entity. The Planetary Spirit is a Great Being (a Logos); “planetary spirits” are Solar Angels who, one day, collectively, are destined to form a Planetary Logos. The “Sprit of the Planet” is a vast, unconscious involutionary entity.

15. Còn về “các tinh thần hành tinh”, chúng ta phải cẩn thận không liên kết họ với “tinh linh địa cầu”—một thực thể giáng hạ tiến hoá. Vị Tinh Thần Hành Tinh là một Đấng Vĩ Đại (một Logos); còn “các tinh thần hành tinh” là các Thái dương Thiên Thần, những vị mà một ngày kia, với tư cách tập thể, được định sẵn sẽ tạo thành một Hành Tinh Thượng Đế. “Tinh linh của Hành Tinh” là một thực thể giáng hạ tiến hoá rộng lớn, vô thức.

16. Thus, we see how carefully we must read if we wish to discriminate properly with orders of B/beings entirely different from each other.

16. Như vậy, chúng ta thấy mình phải đọc cẩn thận đến mức nào nếu muốn phân biện đúng đắn giữa các cấp bậc H/hữu thể hoàn toàn khác nhau.

but in order to get a proper idea of their nature, you may consider them as standing in the same relation to the spiritually regenerated and released world Brahmins or the Nirmanakayas as these stand to the ordinary humanity.

nhưng để có được một ý niệm đúng đắn về bản chất của họ, bạn có thể xem họ đứng trong cùng một tương quan đối với các Bà-la-môn thế giới đã được tái sinh tinh thần và giải thoát, hay các Nirmanakaya, như những vị này đứng đối với nhân loại bình thường.

17. Here we are given an astonishing analogy which should confer upon us a sense of proportion.

17. Ở đây chúng ta được trao cho một phép loại suy đáng kinh ngạc, điều nên ban cho chúng ta một Ý thức về tỉ lệ.

18. The “spiritually release world Brahmans or Nirmanakayas” are initiates of the sixth degree minimally. If they were simply “released” we could consider them initiates of the fourth degree, but because they are “spiritually released” they are released from the spiritual planes, which are the planes of the spiritual triad (including atma) and must thus be minimally initiates of the sixth degree focussed on the monadic plane.

18. Các “Bà-la-môn thế giới được giải thoát tinh thần hay các Nirmanakaya” tối thiểu là các điểm đạo đồ cấp sáu. Nếu họ chỉ đơn giản là “được giải thoát” thì chúng ta có thể xem họ là các điểm đạo đồ cấp bốn, nhưng vì họ được “giải thoát tinh thần” nên họ được giải thoát khỏi các cõi tinh thần, tức các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần (bao gồm atma), và do đó tối thiểu phải là các điểm đạo đồ cấp sáu tập trung trên cõi chân thần.

19. Nirmanakayas can also be of a higher order than the sixth degree.

19. Các Nirmanakaya cũng có thể thuộc một trật tự cao hơn cấp sáu.

20. Now let us seek to understand the proportion. The Solar Angels are much higher than the Masters (a Master per se, is not even an initiate of the sixth degree). In fact, these Angels are called “initiates of all degrees” (meaning, probably, all degrees open to the human being). In a previous mahamanvantara they were human beings.

20. Giờ đây chúng ta hãy tìm cách hiểu tỉ lệ này. Các Thái dương Thiên Thần cao hơn các Chân sư rất nhiều (một Chân sư, chính Ngài, thậm chí chưa phải là một điểm đạo đồ cấp sáu). Thật vậy, các Thiên Thần này được gọi là “các điểm đạo đồ của mọi cấp” (có lẽ có nghĩa là mọi cấp mở ra cho con người). Trong một Đại giai kỳ sinh hóa trước, họ đã là những con người.

The applicant has become soul conscious, and is therefore an initiate; remember always that the soul on its own plane is an initiate of all degrees. (R&I 247)

Người thỉnh cầu đã trở nên có tâm thức linh hồn, và do đó là một điểm đạo đồ; hãy luôn nhớ rằng linh hồn trên cõi riêng của nó là một điểm đạo đồ của mọi cấp. (R&I 247)

21. This is a profound statement causing one the need to research the meaning of the phrase “on its own plane”—a occult blind may be therein hidden. It would not make entire sense for “its own plane” to mean the higher mental plane, for even a Master (to whom the Solar Angel is as an advanced Being) is focussed on planes higher than the higher mental.

21. Đây là một phát biểu sâu sắc khiến người ta cần phải nghiên cứu ý nghĩa của cụm từ “trên cõi riêng của nó”—một bức màn huyền bí học có thể được che giấu ở đó. Sẽ không hoàn toàn hợp lý nếu “cõi riêng của nó” có nghĩa là cõi thượng trí, vì ngay cả một Chân sư (mà đối với Ngài Thái dương Thiên Thần là một Hữu thể tiến bộ hơn) cũng tập trung trên những cõi cao hơn cõi thượng trí.

22. The gulf between a Master or Nirmanakaya and the average man can perhaps be likened to the spiritual distance between an average man and an animal. We can begin to understand something of the exalted spiritual of the Solar Angel.

22. Khoảng cách giữa một Chân sư hay một Nirmanakaya với con người trung bình có lẽ có thể được ví với khoảng cách tinh thần giữa một người trung bình và một con vật. Chúng ta có thể bắt đầu hiểu được phần nào tính tinh thần cao cả của Thái dương Thiên Thần.

The angels were such Brahmins in previous Mahamanvantaras,

Các thiên thần đã là những Bà-la-môn như thế trong các Đại giai kỳ sinh hóa trước,

23. Presumably, this means Masters and great Initiates. The Solar Angels had attained in a “previous mahamanvantaras” a spiritual status which a human initiate would consider elevated.

23. Có lẽ điều này có nghĩa là các Chân sư và các Điểm đạo đồ vĩ đại. Các Thái dương Thiên Thần đã đạt được trong “các Đại giai kỳ sinh hóa trước” một địa vị tinh thần mà một điểm đạo đồ nhân loại sẽ xem là cao cả.

24. Now if “Mahamanvantaras” are occult centuries, Solar Angels may have reached a very high spiritual status not only in the previous Mahamanvantara, but in Mahamanvantaras preceding it.

24. Giờ đây nếu “Đại giai kỳ sinh hóa” là các thế kỷ huyền bí, thì các Thái dương Thiên Thần có thể đã đạt tới một địa vị tinh thần rất cao không chỉ trong Đại giai kỳ sinh hóa trước mà còn trong những Đại giai kỳ sinh hóa đi trước nó.

25. If the word “Mahamanvantaras” means occult century, then the Solar Angels can be very old beings when compared to the human being.

25. Nếu từ “Đại giai kỳ sinh hóa” có nghĩa là thế kỷ huyền bí, thì các Thái dương Thiên Thần có thể là những Hữu thể rất cổ xưa khi so với con người.

26. Usually we consider that they passed through all human stages of initiation in the previous Mahamanvantara. Here, however, we are given the plural—“Mahamanvantaras”, and this expands our estimation of their antiquity.

26. Thông thường chúng ta cho rằng họ đã đi qua mọi giai đoạn điểm đạo của con người trong đại giai kỳ sinh hóa trước. Tuy nhiên ở đây, chúng ta được cho ở dạng số nhiều—“các Đại giai kỳ sinh hóa”, và điều này mở rộng sự ước lượng của chúng ta về tính cổ xưa của họ.

who spent those enormous periods in suffering and toil for the sake of rearing wisdom in the world

những vị đã trải qua các thời kỳ khổng lồ ấy trong đau khổ và lao nhọc vì mục đích nuôi dưỡng minh triết trong thế gian

27. The Solar Angels seem to have been following what we would call the vow of the Bodhisattva.

27. Các Thái dương Thiên Thần dường như đã đi theo điều mà chúng ta gọi là lời nguyện của Đức Bồ Tát.

28. Occult centuries are “enormous periods”—according to the occult chronology, literally hundreds of trillions of years.

28. Các thế kỷ huyền bí là “những thời kỳ khổng lồ”—theo niên đại huyền bí học, đúng nghĩa là hàng trăm ngàn tỉ năm.

29. There is, however, no way for us to confirm the duration of occult centuries. We simply have the information we have been given which is disputed by some high initiates such as Sri Yukteswar, the Teacher of Yogananda.

29. Tuy nhiên, chúng ta không có cách nào xác nhận thời lượng của các thế kỷ huyền bí. Chúng ta chỉ đơn giản có thông tin đã được trao, và thông tin ấy bị một số điểm đạo đồ cao cấp như Sri Yukteswar, huấn sư của Yogananda, tranh luận.

and hence they emerged as angels from the infinite womb of Aditi under their karmic impulse after a period of Mahapralaya.

và do đó họ xuất hiện như các thiên thần từ lòng dạ vô biên của Aditi dưới xung lực nghiệp quả của họ sau một thời kỳ Đại giai kỳ qui nguyên.

30. A very interesting idea is here revealed. The pralaya discussed is not that of the entire Cosmos, but only of our Solar Logos, yet it is called “Mahapralaya”. Our Solar Logos is, relatively, only the tiniest of Beings, from the cosmic perspective. We must be watchful when terms like “maha” are used. We may think the term refers to the vast entirety of Universal Cosmos, but in fact it probably has a much more restricted meaning, as it does in this instance.

30. Ở đây một ý tưởng rất thú vị được mặc khải. Giai kỳ qui nguyên được bàn đến không phải là của toàn thể Vũ trụ mà chỉ của Thái dương Thượng đế của chúng ta, tuy vậy nó vẫn được gọi là “Đại giai kỳ qui nguyên”. Xét từ quan điểm vũ trụ, Thái dương Thượng đế của chúng ta tương đối chỉ là một trong những Hữu thể nhỏ bé nhất. Chúng ta phải cảnh giác khi những thuật ngữ như “maha” được dùng. Chúng ta có thể nghĩ thuật ngữ ấy chỉ toàn thể bao la của Vũ trụ phổ quát, nhưng thật ra có lẽ nó mang một ý nghĩa hạn định hơn nhiều, như trong trường hợp này.

31. Gaining a clear conception of the nature of the Solar Angels is one of the most important things we can do as students of occultism, yet there are fundamental mysteries involved with this subject and it is not easy to penetrate despite some apparently clear things said about these Angels.

31. Có được một quan niệm rõ ràng về bản chất của các Thái dương Thiên Thần là một trong những điều quan trọng nhất mà chúng ta có thể làm với tư cách đạo sinh huyền bí học, tuy nhiên có những huyền nhiệm căn bản gắn với đề tài này và không dễ thâm nhập, dù có một số điều dường như khá rõ ràng đã được nói về các Thiên Thần này.

—Some Thoughts on the Gita, page 137.

—Vài Suy Tưởng về Gita, trang 137.

32. Because we are referencing a book by T. Subba Row, there is no way to know whether he uses such terms as “Mahamanvantara”, “Mahamanvantaras” or “Mahapralaya” in the same way the Tibetan does.

32. Vì chúng ta đang tham chiếu một quyển sách của T. Subba Row, nên không có cách nào biết được liệu ông có dùng những thuật ngữ như “Đại giai kỳ sinh hóa”, “các Đại giai kỳ sinh hóa” hay “Đại giai kỳ qui nguyên” theo cùng cách như Chân sư Tây Tạng hay không.

For all practical purposes, and for the elucidation of the spiritual evolution of man, this immediate section is of the greatest interest and importance;

Xét cho mọi mục đích thực tiễn, và để làm sáng tỏ sự tiến hoá tinh thần của con người, phần ngay trước mắt này có mối quan tâm và tầm quan trọng lớn nhất;ual evolution of man, this immediate section is of the greatest interest and importance;

33. Many wonderful things are written in A Treatise on Cosmic Fire, but the section of text we are now undertaking is for us the most important.

33. Nhiều điều kỳ diệu được viết trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nhưng phần văn bản mà giờ đây chúng ta đang đảm nhận là phần quan trọng nhất đối với chúng ta.

it should be one of the most widely studied sections of this treatise.

nó nên là một trong những phần được nghiên cứu rộng rãi nhất của bộ luận này.

34. Much more widely studied than the first section of the text which dealt mostly with the fires of matter.

34. Rộng rãi hơn nhiều so với phần đầu của văn bản vốn chủ yếu bàn về các lửa của vật chất.

35. Our great and immediate objective is the unfoldment of consciousness.

35. Mục tiêu lớn lao và cấp thiết của chúng ta là sự khai mở tâm thức.

Man is ever profoundly interested in himself,

Con người luôn luôn quan tâm sâu sắc đến chính mình,

36. This is the Leo tendency in the human psyche. We remember how important is the sign Leo is the individualization of man and also in the initiatory process, beginning with the first initiation.

36. Đây là khuynh hướng Sư Tử trong tâm lý con người. Chúng ta nhớ dấu hiệu Sư Tử quan trọng thế nào trong sự biệt ngã hóa của con người và cả trong tiến trình điểm đạo, bắt đầu với lần điểm đạo thứ nhất.

37. The Delphic Injunction, “Man, Know Thyself” remains profoundly important for modern man in search of his soul.

37. Huấn lệnh Delphi, “Hỡi người, hãy biết chính mình” vẫn còn vô cùng quan trọng đối với con người hiện đại đang tìm kiếm linh hồn mình.

and before he can duly develop must comprehend scientifically the laws of his own nature, and the constitution of his own "mode of expression."

và trước khi có thể phát triển đúng mức, y phải thấu hiểu một cách khoa học các định luật của bản chất riêng của mình, và cấu tạo của “phương thức biểu lộ” riêng của mình.

38. Thus, it is critically that man understand his own nature, and it must be an accurate, scientific important understanding.

38. Vì vậy, điều tối quan trọng là con người phải thấu hiểu bản chất riêng của mình, và đó phải là một sự thấu hiểu chính xác, khoa học và quan trọng.

39. Interestingly, the acquisition of this type of understanding involves the fifth ray which, with the first ray, conditions the sign Leo.

39. Điều thú vị là việc đạt được loại thấu hiểu này liên quan đến cung năm, cung cùng với cung một tác động lên dấu hiệu Sư Tử.

40. Man is the Monad. All other vehicles he possesses are, to him, instrumental, and simply modes of expression.

40. Con người là chân thần. Tất cả các vận cụ khác mà y sở hữu, đối với y, đều chỉ có tính công cụ, và đơn giản chỉ là các phương thức biểu lộ.

He must realise likewise somewhat of the inter-relation of the three fires in order that he may himself at some future date "blaze forth."

Tương tự, y cũng phải chứng nghiệm phần nào mối tương quan của ba ngọn lửa để chính y vào một ngày nào đó trong tương lai có thể “bừng cháy.”

41. This blazing forth is consummated for the strictly human being at the fourth initiation.

41. Sự bừng cháy này được hoàn tất đối với con người theo nghĩa thuần nhân loại ở lần điểm đạo thứ tư.

42. We notice that the understanding of the three fires need not be complete. Only later, following well after the fourth initiation will the relationship between electric fire, electric fire and fire by friction be fully understood.

42. Chúng ta lưu ý rằng sự thấu hiểu về ba ngọn lửa không nhất thiết phải hoàn toàn trọn vẹn. Chỉ về sau, khá lâu sau lần điểm đạo thứ tư, mối liên hệ giữa Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát mới được hiểu đầy đủ.

The question of these Fire Dhyanis

Vấn đề về các Hỏa Dhyani

43. Thus far we have been given five names for these great Beings. There are quite a few more:

43. Cho đến nay chúng ta đã được cho năm tên gọi của các Hữu thể vĩ đại này. Còn có khá nhiều tên khác nữa:

a. Agnishvattas

a. Agnishvatta

b. Planetary spirits

b. Các tinh thần hành tinh

c. Asuras

c. Asura

d. Solar Angels

d. Thái dương Thiên Thần

e. Fire Dhyanis

e. Hỏa Dhyanis

f. We have also called them “manasadevas”

f. Chúng ta cũng đã gọi các Ngài là “manasadevas”

and their relation to man is a most profound mystery,

và mối liên hệ của các Ngài với con người là một huyền nhiệm hết sức thâm sâu,

44. At first it may not seem to be the case, but carefully investigation into the matter will reveal how thoroughly the subject is occultly blinded. This can be frustrating. However, even if we do not entirely understand the origin of the Solar Angels and their modus operandi in relation to man, we can access the energy they radiate throughout the egoic lotus and through the permanent atoms.

44. Thoạt đầu có thể dường như không phải vậy, nhưng sự khảo cứu cẩn trọng về vấn đề này sẽ cho thấy chủ đề ấy bị che mờ một cách huyền bí đến mức nào. Điều này có thể gây nản lòng. Tuy nhiên, ngay cả nếu chúng ta không hoàn toàn hiểu nguồn gốc của các Thái dương Thiên Thần và phương thức hoạt động của các Ngài liên hệ với con người, chúng ta vẫn có thể tiếp cận năng lượng mà các Ngài phát ra khắp Hoa Sen Chân Ngã và xuyên qua các Nguyên tử trường tồn.

and the entire matter is so clothed in intricate legends that students are apt to despair of ever arriving at the desired, and necessary clarity of thought.

và toàn bộ vấn đề này được bao phủ trong những huyền thoại rắc rối đến thế khiến các đạo sinh dễ tuyệt vọng vì không bao giờ đạt được sự sáng tỏ tư tưởng cần thiết và mong muốn.

45. Those who have made a sincere study of the matter can only confirm what DK is saying.

45. Những ai đã chân thành nghiên cứu vấn đề này chỉ có thể xác nhận điều mà Chân sư DK đang nói.

46. There are many parts and pieces to these legends, all of which mean something symbolically but which are very difficult to reconcile with parallel legends in other systems of thought.

46. Có nhiều phần và mảnh của các huyền thoại này, tất cả đều mang ý nghĩa biểu tượng nào đó, nhưng rất khó dung hòa với những huyền thoại song hành trong các hệ tư tưởng khác.

47. We might wonder, ‘How can Beings who are so close to man seem so remote to his understanding?’

47. Chúng ta có thể tự hỏi: ‘Làm sao những Đấng gần gũi với con người đến thế lại dường như xa vời đối với sự thấu hiểu của y đến vậy?’

Not yet will it be possible entirely to dispel the clouds which veil the central mystery,

Hiện עדיין chưa thể hoàn toàn làm tan đi những đám mây che phủ huyền nhiệm trung tâm,

48. There is, perhaps, an occult hint in the Tibetan’s phraseology. One of the names of the Fifth Ray Lord is “The Cloud upon the Mountain Top”. As we may know, the Fifth Ray Lord is intimately related to the Solar Angels and Their manifestation.

48. Có lẽ có một gợi ý huyền bí trong cách dùng từ của Chân sư Tây Tạng. Một trong những danh xưng của Đấng Chúa Tể Cung năm là “Đám Mây trên Đỉnh Núi”. Như chúng ta có thể biết, Đấng Chúa Tể Cung năm có liên hệ mật thiết với các Thái dương Thiên Thần và sự biểu hiện của Các Ngài.

49. What does that “cloud” conceal? What will be revealed when the clouds surrounding this subject of the Solar Angels are dispelled?

49. “Đám mây” ấy che giấu điều gì? Điều gì sẽ được mặc khải khi những đám mây bao quanh chủ đề các Thái dương Thiên Thần này được làm tan đi?

50. We might say that the Mystery of the Solar Angels is the “central mystery” of man and one that it is vital for him to solve.

50. Chúng ta có thể nói rằng Huyền Nhiệm của các Thái dương Thiên Thần là “huyền nhiệm trung tâm” của con người và là điều tối quan trọng để y giải quyết.

but perhaps, by due tabulation and synthesis, and by a cautious amplification of the data already imparted, the thoughts of the wise student may become somewhat less confused.

nhưng có lẽ, bằng sự lập bảng và tổng hợp thích đáng, cùng bằng một sự khai triển thận trọng đối với dữ kiện đã được truyền đạt, tư tưởng của đạo sinh minh triết có thể bớt phần nào rối rắm.

51. We are not really offered the possibility of clarification, but only of reducing our confusion. Shall we “take what we can get”?

51. Thực ra chúng ta không được trao cho khả năng làm sáng tỏ, mà chỉ là khả năng giảm bớt sự rối rắm của mình. Chúng ta có nên “nhận lấy điều gì có thể nhận được” không?

52. What approach shall we use to reduce our confusion:

52. Chúng ta sẽ dùng cách tiếp cận nào để giảm bớt sự rối rắm của mình:

a. We shall tabulate

a. Chúng ta sẽ lập bảng

b. We shall synthesize

b. Chúng ta sẽ tổng hợp

c. We shall amplify the data already imparted, but only cautiously so. Great leaps to conclusion are not warranted

c. Chúng ta sẽ khai triển dữ kiện đã được truyền đạt, nhưng chỉ một cách thận trọng. Những bước nhảy vọt đến kết luận là không có cơ sở

There are two statements in the Secret Doctrine which are often overlooked by the casual reader but which, if [Page 681] duly pondered upon, convey much information.

Có hai phát biểu trong Giáo Lý Bí Nhiệm thường bị độc giả hời hợt bỏ qua, nhưng nếu được [Page 681] suy ngẫm đúng mức, chúng sẽ chuyển tải nhiều thông tin.

53. One of the most important things we learn when studying The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire is that, if one wishes to understanding, one cannot read casually. The Tibetan is extremely careful in His use of words. Thus, does He both reveal and conceal much. Are we aware of when He is revealing and when concealing?

53. Một trong những điều quan trọng nhất chúng ta học được khi nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm và Luận về Lửa Vũ Trụ là, nếu muốn thấu hiểu, người ta không thể đọc một cách hời hợt. Chân sư Tây Tạng cực kỳ cẩn trọng trong cách Ngài dùng từ. Vì thế, Ngài vừa mặc khải vừa che giấu rất nhiều. Chúng ta có nhận ra khi nào Ngài đang mặc khải và khi nào đang che giấu không?

Let us make note of these two statements:

Chúng ta hãy ghi nhận hai phát biểu này:

1. Two connecting principles are needed. This requires a living spiritual Fire of the middle principle from the Fifth and third states of Pleroma. This fire is the possession of the Triangles.

1. Cần có hai nguyên khí nối kết. Điều này đòi hỏi một Hỏa tinh thần sống động của nguyên khí trung gian từ các trạng thái thứ Năm và thứ ba của Pleroma. Hỏa này là sở hữu của các Tam Giác.

54. When we speak of the “Fifth and third states of Pleroma” one is probably speaking of the dimensions we know as the seven systemic planes. We can wonder why the word “Fifth” is capitalized and the word “third” is not.

54. Khi nói về “các trạng thái thứ Năm và thứ ba của Pleroma”, có lẽ người ta đang nói đến những chiều kích mà chúng ta biết là bảy cõi hệ thống. Chúng ta có thể tự hỏi vì sao từ “Năm” được viết hoa còn từ “ba” thì không.

55. To follow capitalizations carefully is often revealing, but there is often no telling when editorial choice (or merely inattention to detail) has determined the capitalization and not the Tibetan at all.

55. Theo dõi cẩn thận cách viết hoa thường thường rất gợi mở, nhưng nhiều khi không thể biết được liệu việc viết hoa là do lựa chọn biên tập (hay chỉ đơn thuần là thiếu chú ý đến chi tiết) chứ hoàn toàn không phải do Chân sư Tây Tạng.

56. As we attempt to interpret this statement, we remember that B/beings are fires, and that souls or Solar Angels are called “Triangles”.

56. Khi cố gắng diễn giải phát biểu này, chúng ta nhớ rằng các H/hữu thể là những ngọn lửa, và rằng các linh hồn hay Thái dương Thiên Thần được gọi là “Tam Giác”.

57. When we consider this first sentence, we have to wonder to what degree the Solar Angels are connected with the “Triple Flowers” or the Builders who are called “Lesser Builders” and who are representative of the Third Creative Hierarchy. As “Triple Flowers” they are also “Triads” and “Triangles”.

57. Khi xét câu đầu tiên này, chúng ta phải tự hỏi các Thái dương Thiên Thần có liên hệ đến mức nào với “Những Hoa Tam Phân” hay các đấng kiến tạo được gọi là “vị tiểu kiến tạo” và là đại diện của Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba. Với tư cách là “Những Hoa Tam Phân”, các Ngài cũng là “Tam Nguyên” và “Tam Giác”.

58. Refusing to be trained by the Solar Angel is very much like refusing to become a Christ (achieved through alignment with “the Triads”). Unlike the Solar Angels, however, they stand “aloof from incarnation”. While the entirety of the Solar Angel does not incarnate in man, a certain presence or aspect of the Solar Angel does.

58. Từ chối được Thái dương Thiên Thần huấn luyện rất giống với việc từ chối trở thành một Christ (đạt được qua sự chỉnh hợp với “các Tam Nguyên”). Tuy nhiên, không giống các Thái dương Thiên Thần, các Ngài đứng “tách biệt khỏi sự lâm phàm”. Dù toàn thể Thái dương Thiên Thần không nhập thể vào con người, một sự hiện diện hay phương diện nào đó của Thái dương Thiên Thần thì có.

2. These Beings are Nirvanis from a preceding Mahamanvantara.

2. Các Hữu thể này là các nirvani từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước đó.

59. This statement echoes that by T. Subba Row initiate Some Thoughts on the Gita.

59. Phát biểu này vang vọng điều do điểm đạo đồ T. Subba Row nêu ra trong Một Vài Tư Tưởng về Gita.

60. Our Solar Logos has had a number of incarnations and those whom we now call Solar Angels had achieve a type of Nirvana perhaps in the previous incarnation of our Solar Logos—perhaps in the previous solar system. This is the probability.

60. Thái dương Thượng đế của chúng ta đã có một số lần lâm phàm, và những vị mà hiện nay chúng ta gọi là các Thái dương Thiên Thần đã đạt được một loại Niết Bàn có lẽ trong lần lâm phàm trước của Thái dương Thượng đế của chúng ta—có lẽ trong hệ mặt trời trước. Đây là khả năng có xác suất cao.

61. But there is no certainty that the achievement of all of them took place in the preceding Mahamanvantara. The word “a” is used and not “the”, so the achievement may have taken place two or three Mahamanvantaras ago.

61. Nhưng không có gì chắc chắn rằng thành tựu của tất cả các vị ấy đã diễn ra trong Đại giai kỳ sinh hóa ngay trước đó. Từ “một” được dùng chứ không phải “đó”, nên thành tựu ấy có thể đã diễn ra từ hai hay ba Đại giai kỳ sinh hóa trước.

62. These are mysteries buried in the mists of time and we are in no position to clarify them.

62. Đây là những huyền nhiệm bị chôn vùi trong màn sương của thời gian và chúng ta không ở vị thế để làm sáng tỏ chúng.

We have been considering somewhat the devas of evolutionary tendency who are grouped roughly together as the lunar Pitris.20

Chúng ta đã phần nào xem xét các thiên thần của xuhướng tiến hoá mà được gom lại một cách đại khái thành các thái âm tổ phụ.20

63. This is a most important statement. There have been references which make it easy to think of the Lunar Pitris as involutionary.

63. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Đã có những tham chiếu khiến người ta dễ nghĩ về các thái âm tổ phụ như là giáng hạ tiến hoá.

64. There are many references in which the terms “Lunar Pitris” and Lunar Lords are equivalent.

64. Có nhiều chỗ tham chiếu trong đó các thuật ngữ “các thái âm tổ phụ” và nguyệt tinh quân là tương đương.

65. What seems to be important is to differentiate an elemental life from a Lunar Pitri or Lunar Lord.

65. Điều có vẻ quan trọng là phải phân biệt một sự sống hành khí với một thái âm tổ phụ hay nguyệt tinh quân.

66. An elemental life is involutionary; a Lunar Pitri is evolutionary.

66. Một sự sống hành khí là giáng hạ tiến hoá; một thái âm tổ phụ là thăng thượng tiến hoá.

Karma demonstrates in those streams of energy and of primordial substance which pour into and through the created world, including the lower three worlds where work the lunar pitris and the elemental essences of all forms. (EH 292)

Nghiệp quả biểu lộ trong những dòng năng lượng và chất liệu nguyên sơ tuôn vào và xuyên qua thế giới được tạo thành, kể cả ba cõi thấp nơi các thái âm tổ phụ và các tinh chất hành khí của mọi hình tướng hoạt động. (EH 292)

67. From the above it will be evident that elemental essences and Lunar Pitris are distinct. The word “and” is important in this respect.

67. Từ điều trên, hiển nhiên rằng tinh chất hành khí và các thái âm tổ phụ là khác biệt. Từ “và” rất quan trọng về phương diện này.

68. There is some ambiguity in this whole subject as the term “elemental” is usually associated with a life which is involutionary. Yet “elementals” can be associated, as below, with “Lunar Lords” and Lunar Lords with Lunar Pitris (which, we have been told, are evolutionary devas).

68. Có một ít mơ hồ trong toàn bộ chủ đề này vì thuật ngữ “hành khí” thường gắn với một sự sống là giáng hạ tiến hoá. Tuy nhiên, “các hành khí” có thể được liên kết, như dưới đây, với “các nguyệt tinh quân”, và các nguyệt tinh quân với các thái âm tổ phụ (mà chúng ta đã được cho biết là các thiên thần thăng thượng tiến hoá).

In theosophical literature, there is much talk anent the various elementals or lunar lords which compose, constitute and control the lower nature.

Trong văn liệu Thông Thiên Học, có rất nhiều bàn đến các hành khí khác nhau hay các nguyệt tinh quân cấu thành, tạo nên và kiểm soát bản chất thấp.

69. To “constitute” is one thing but to “control” may be quite another.

69. “Tạo nên” là một chuyện, nhưng “kiểm soát” có thể lại là chuyện hoàn toàn khác.

These, in their triple totality, form the personality. They are of man's own creation, and form the basis of the problem which he, as a soul, has always to face until the final liberation is achieved. The mental elemental, the astral elemental and the physical elemental have a definite life of their own which is coloured by the rays upon which these various bodies or elementals have their being, until the man has reached a relatively high point in evolution. (EP II 290)

Những vị này, trong tổng thể tam phân của mình, tạo thành phàm ngã. Chúng là do chính con người tạo ra, và tạo thành nền tảng của vấn đề mà y, với tư cách một linh hồn, luôn luôn phải đối diện cho đến khi đạt được sự giải thoát cuối cùng. Hành khí trí tuệ, hành khí cảm dục và tinh linh thể xác có một đời sống xác định của riêng chúng, được tô màu bởi các cung mà trên đó các thể hay các hành khí khác nhau này tồn tại, cho đến khi con người đã đạt đến một điểm tiến hoá tương đối cao. (EP II 290)

70. Note immediately below that the “lunar Lords” are also called “Pitris”. Yet the “Pitris” are evolutionary. So, we have Lunar Lords called “elementals” and Lunar Lords called “Pitris”. Elementals are, however, not evolutionary.

70. Hãy lưu ý ngay bên dưới rằng các “nguyệt tinh quân” cũng được gọi là “Pitris”. Tuy nhiên, các “Pitris” lại là thăng thượng tiến hoá. Vì vậy, chúng ta có các nguyệt tinh quân được gọi là “hành khí” và các nguyệt tinh quân được gọi là “Pitris”. Tuy nhiên, các hành khí thì không thăng thượng tiến hoá.

3. Essential fire, or the fire elementals who are themselves the essence of fire. They are mainly divided into two groups:

3. Hỏa cốt yếu, hay các hành khí của lửa vốn chính là tinh chất của lửa. Chúng chủ yếu được chia thành hai nhóm:

a. Fire devas or evolutionary entities.

a. Các thiên thần lửa hay các thực thể thăng thượng tiến hoá.

b. Fire elementals or involutionary entities. (TCF 52)

b. Các hành khí của lửa hay các thực thể giáng hạ tiến hoá. (TCF 52)

The violet devas are on the evolutionary path; the elementals are on the involutionary path, the goal for them being to pass into the deva kingdom of violet hue. (TCF 914)

Các thiên thần tím ở trên con đường tiến hoá; các hành khí ở trên con đường giáng hạ tiến hoá, mục tiêu của chúng là đi vào giới thiên thần sắc tím. (TCF 914)

c. The aggregate of these lives which constitute in themselves four types of elementals or separate coherent, though not self-conscious, existences. These four lunar lords constitute what the Ageless Wisdom teaching calls "the four sides of the square." They are the "lower quaternary," "the imprisoning cubes," or the cross upon which the inner spiritual Man is to be crucified. These four elementals have an intelligence all their own, are upon the involutionary arc,

c. Tổng thể của các sự sống này, tự chúng cấu thành bốn loại hành khí hay những hiện hữu riêng biệt có tính cố kết, tuy không có ngã thức. Bốn nguyệt tinh quân này cấu thành điều mà giáo huấn Minh Triết Ngàn Đời gọi là “bốn cạnh của hình vuông”. Chúng là “bộ tứ thấp”, “những khối lập phương giam hãm”, hay thập giá mà trên đó Con Người tinh thần nội tại phải bị đóng đinh. Bốn hành khí này có một trí tuệ riêng của chúng, ở trên cung giáng hạ tiến hoá,

71. Here we must ask whether it is the “four elementals”, per se, who are upon the involutionary arc or whether it is the elemental essence of the lunar bodies which is upon that arc.

71. Ở đây chúng ta phải hỏi liệu chính “bốn hành khí”, chính chúng, ở trên cung giáng hạ tiến hoá hay là tinh chất hành khí của các thể thái âm mới ở trên cung đó.

are following the law of their own being when they tend to become powerful, and thereby fully express that which is in them. (R&I 9)

đang tuân theo định luật của chính hiện hữu của chúng khi chúng có xu hướng trở nên mạnh mẽ, và nhờ đó biểu lộ trọn vẹn điều vốn có trong chúng. (R&I 9)

71. We really need to distinguish between “elemental essence” and “elementals”, with elemental essence being definitely involutionary, and “elementals” when considered as Lunar Pitris or Lunar Lords (and only when so considered) deemed evolutionary—though, of course, unconscious. This is one of the main potential confusions—between the stuff of the lunar bodies and the lives evolutionary though unconscious lives (“elementals”) which have a grip upon those evolutionary lives.

71. Thực sự chúng ta cần phân biệt giữa “tinh chất hành khí” và “các hành khí”, trong đó tinh chất hành khí thì rõ ràng là giáng hạ tiến hoá, còn “các hành khí” khi được xem như các thái âm tổ phụ hay nguyệt tinh quân (và chỉ khi được xem như vậy) thì được coi là thăng thượng tiến hoá—dù dĩ nhiên là vô thức. Đây là một trong những chỗ dễ gây nhầm lẫn chính—giữa chất liệu của các thể thái âm và các sự sống thăng thượng tiến hoá nhưng vô thức (“các hành khí”) vốn có một sự nắm giữ đối với những sự sống thăng thượng tiến hoá ấy.

72. If there is any question whether Lunar Pitris are evolutionary (and remember, they are sometimes called “Lunar Lords”) the following excerpt delineating their next steps forward should clarify.

72. Nếu có bất kỳ nghi vấn nào về việc các thái âm tổ phụ có phải là thăng thượng tiến hoá hay không (và hãy nhớ, đôi khi chúng cũng được gọi là “nguyệt tinh quân”), thì đoạn trích sau đây, phác họa những bước tiến tiếp theo của chúng, sẽ làm sáng tỏ.

7.The lunar PitrisTo become men. They will in their higher grades pass directly into the animal evolution of the next cycle and so eventually individualise. Their three higher grades will become animal-men, and the lower four will contribute to the quaternic forms of the men of the next creation. (TCF 844)

7.Các thái âm tổ phụTrở thành người. Ở các cấp cao hơn, chúng sẽ trực tiếp đi vào tiến hoá động vật của chu kỳ kế tiếp và như thế cuối cùng sẽ biệt ngã hóa. Ba cấp cao hơn của chúng sẽ trở thành người-thú, và bốn cấp thấp hơn sẽ góp phần vào các hình tướng tứ phân của con người trong cuộc sáng tạo kế tiếp. (TCF 844)

73. In the next excerpt, we may be differentiating between the “lunar bodies” composed of elemental essence and the “lunar Lords or Pitris” who are related to those bodies. Though their effect upon the elevating of the fires is deleterious, there is nothing below to make us suspect that they are not evolutionary beings—even if unconscious.

73. Trong đoạn trích kế tiếp, có lẽ chúng ta đang phân biệt giữa “các thể thái âm” được cấu thành từ tinh chất hành khí và “các nguyệt tinh quân hay Pitris” có liên hệ với những thể ấy. Dù tác động của chúng đối với việc nâng cao các ngọn lửa là có hại, không có gì bên dưới khiến chúng ta nghi ngờ rằng chúng không phải là các hữu thể thăng thượng tiến hoá—dù là vô thức.

The material effect, or the result of this stimulation [monadic stimulation] upon the forms and upon the atoms in the forms, is to render them radioactive, or to set loose the energy of substance. This is the liberating of the energy imprisoned within the form, and concerns the Brahma aspect, and the evolution of matter itself. It affects the lunar bodies, and therefore relates to the lunar Lords or Pitris, causing a weakening of their hold upon the lesser builders, bringing them more under the force streams from the solar Angels, and leading to a situation which will eventually result in a return of the lunar Pitris of all degrees to the central point for force substance. (TCF 885-886)

Tác động vật chất, hay kết quả của sự kích thích này [kích thích chân thần] lên các hình tướng và lên các nguyên tử trong các hình tướng, là làm cho chúng trở nên phóng xạ, hay giải phóng năng lượng của chất liệu. Đây là sự giải thoát năng lượng bị giam giữ bên trong hình tướng, và liên quan đến phương diện Brahma, cũng như sự tiến hoá của chính vật chất. Nó tác động đến các thể thái âm, và do đó liên hệ đến các nguyệt tinh quân hay Pitris, gây ra sự suy yếu trong sự nắm giữ của chúng đối với các vị tiểu kiến tạo, khiến các vị này chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ các dòng mãnh lực của các Thái dương Thiên Thần, và dẫn đến một tình trạng mà cuối cùng sẽ đưa đến sự trở về của các thái âm tổ phụ ở mọi cấp độ về điểm trung tâm của chất liệu-mãnh lực. (TCF 885-886)

74. The “lesser builders” in this instance, can be considered as “elemental essence”—definitely involutionary. Remember, however, that “the Triads” are also called “Lesser Builders”—thus, the need of terminological caution.

74. Trong trường hợp này, “các vị tiểu kiến tạo” có thể được xem là “tinh chất hành khí”—rõ ràng là giáng hạ tiến hoá. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng “các Tam Nguyên” cũng được gọi là “vị tiểu kiến tạo”—do đó cần phải thận trọng về thuật ngữ.

75. No wonder there is some degree of confusion about these matters because consistency of terminology is not to be found.

75. Không lạ gì khi có một mức độ nhầm lẫn nào đó về những vấn đề này, bởi không thể tìm thấy sự nhất quán trong thuật ngữ.

a. Lunar Lords can be considered involutionary or evolutionary

a. Các nguyệt tinh quân có thể được xem là giáng hạ tiến hoá hoặc thăng thượng tiến hoá

b. Lunar Pitris associated with Lunar Lords can be considered involutionary or evolutionary

b. Các thái âm tổ phụ gắn với các nguyệt tinh quân có thể được xem là giáng hạ tiến hoá hoặc thăng thượng tiến hoá

c. Evolutionary devas are called “Lunar Pitris”

c. Các thiên thần thăng thượng tiến hoá được gọi là “các thái âm tổ phụ”

76. It is very important to note when DK is speaking of evolutionary devas (even if they are not self-consciousness) and where he is speaking of involutionary lives, whether of tiny elemental lives or of aggregates of those elemental lives we sometimes call our “lunar elementals”. It may be, however, that the “lunar Lords” are more than aggregates of elemental essence. Thus let us hold in mind the possible distinction between--

76. Điều rất quan trọng là phải lưu ý khi nào Chân sư DK đang nói về các thiên thần thăng thượng tiến hoá (dù chúng không có ngã thức) và khi nào Ngài đang nói về các sự sống giáng hạ tiến hoá, dù là những sự sống hành khí nhỏ bé hay những tập hợp của các sự sống hành khí ấy mà đôi khi chúng ta gọi là “các hành khí thái âm” của mình. Tuy nhiên, có thể “các nguyệt tinh quân” còn hơn cả những tập hợp của tinh chất hành khí. Vì vậy, chúng ta hãy ghi nhớ sự phân biệt có thể có giữa--

a. Elemental essence, definitely involutionary

a. Tinh chất hành khí, rõ ràng là giáng hạ tiến hoá

b. Aggregated and formed elemental essence, still involutionary and sometimes called “lunar elementals”.

b. Tinh chất hành khí được tập hợp và tạo hình, vẫn là giáng hạ tiến hoá và đôi khi được gọi là “các hành khí thái âm”.

c. Lunar Lords who are associated with elemental essence and bring about the aggregation of that elemental essence into lunar bodies, but who, themselves, are evolutionary even though unconscious.

c. Các nguyệt tinh quân gắn với tinh chất hành khí và tạo ra sự tập hợp của tinh chất hành khí ấy thành các thể thái âm, nhưng bản thân chúng lại là thăng thượng tiến hoá dù vô thức.

d. When attempting to remain clear about the terminology usually used in discussing these matters, it may be of the utmost importance to distinguish Lunar Lords who are Lunar Pitris from “lunar elementals” which are aggregations of elemental essence. This should be pondered.

d. Khi cố gắng giữ cho rõ ràng về thuật ngữ thường được dùng khi bàn đến những vấn đề này, có lẽ điều tối quan trọng là phải phân biệt các nguyệt tinh quân vốn là các thái âm tổ phụ với “các hành khí thái âm” là những tập hợp của tinh chất hành khí. Điều này cần được suy ngẫm.

20: The Lunar Pitris are all Nature Spirits.—S. D., II, 107.

20: Các thái âm tổ phụ đều là các tinh linh tự nhiên.—S. D., II, 107.

77. Since DK has just called Lunar Pitris “devas of evolutionary tendency” and since Lunar Pitris are “Nature Spirits”, we must consider at least some Nature Spirits as “devas of evolutionary tendency”.

77. Vì Chân sư DK vừa gọi các thái âm tổ phụ là “các thiên thần có xu hướng tiến hoá”, và vì các thái âm tổ phụ là “các tinh linh tự nhiên”, nên ít nhất chúng ta phải xem một số tinh linh tự nhiên là “các thiên thần có xu hướng tiến hoá”.

1. The Spiritual Hierarchy of our planet, nature spirits or angels and human spirits, who stand at a peculiar point on the ladder of evolution. (TWM 47)

1. Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta, các tinh linh tự nhiên hay thiên thần và các tinh thần nhân loại, đứng tại một điểm đặc biệt trên nấc thang tiến hoá. (TWM 47)

1. They possess, or are the containers of the fire of the third aspect.—S. D., II, 81.

1. Chúng sở hữu, hay là những vật chứa của hỏa thuộc phương diện thứ ba.—S. D., II, 81.

78. We are speaking of fire by friction.

78. Chúng ta đang nói về Lửa ma sát.

3. Their work precedes that of the Solar Angels.—S. D., I, 268.

3. Công việc của chúng đi trước công việc của các Thái dương Thiên Thần.—S. D., I, 268.

79. These Lunar Pitris are aspects of the Raja Deva Lord of the plane upon which they are working.

79. Các thái âm tổ phụ này là những phương diện của Chúa Tể Raja Deva của cõi mà trên đó chúng đang hoạt động.

80. They build the lower bodies of man and animal out of elemental essence—in a way building themselves into these bodies.

80. Chúng xây dựng các thể thấp của người và thú từ tinh chất hành khí—theo một nghĩa nào đó, xây chính mình vào trong các thể ấy.

3. They exist in seven classes as do the Solar Angels.—S. D., II, 96.

3. Chúng tồn tại trong bảy loại cũng như các Thái dương Thiên Thần.—S. D., II, 96.

81. This is an intriguing thought. The seven classes, whether of Solar Angels or Lunar Pitris must be divided according to ray or, perhaps, according to evolutionary status.

81. Đây là một ý tưởng hấp dẫn. Bảy loại, dù là của các Thái dương Thiên Thần hay các thái âm tổ phụ, hẳn phải được phân chia theo cung hoặc có lẽ theo trạng thái tiến hoá.

a. Three incorporeal, which are the three elemental kingdoms of nature, providing man with his etheric, astral and mental bodies.

a. Ba loại vô thể, là ba giới hành khí của thiên nhiên, cung cấp cho con người thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí của y.

82. We can see how the Lunar Pitris (working upon elemental essence) could provide man with his etheric astral and mental bodies. The Lunar Pitris are not the elemental essence of those bodies, but build the bodies or, as it were, ‘hold the field’ for the formation of those bodies.

82. Chúng ta có thể thấy cách các thái âm tổ phụ (hoạt động trên tinh chất hành khí) có thể cung cấp cho con người thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí của y. Các thái âm tổ phụ không phải là tinh chất hành khí của các thể ấy, mà xây dựng các thể, hay có thể nói là “giữ hiện trường” cho sự hình thành các thể ấy.

83. Caution again—the “three elemental kingdoms of nature” may be evolutionary, but not the elemental essence with which they work.

83. Lại một lần nữa cần thận trọng—“ba giới hành khí của thiên nhiên” có thể là thăng thượng tiến hoá, nhưng tinh chất hành khí mà chúng làm việc cùng thì không.

84. One wonders whether these “kingdoms” were inherited from the Moon-chain when the seeds of its lives were transported to after pralaya to the fourth or Earth-chain.

84. Người ta tự hỏi liệu các “giới” này có được thừa hưởng từ Dãy Mặt Trăng khi các hạt giống của các sự sống của nó được chuyển sau Giai kỳ qui nguyên sang dãy thứ tư hay Dãy Địa Cầu hay không.

b. Four corporeal which are the forms of the four kingdoms of nature.—S. D., II, 93.

b. Bốn loại hữu thể là các hình tướng của bốn giới trong thiên nhiên.—S. D., II, 93.

85. Must those builders we call Lunar Pitris consist, in their own energy bodies, of corporeal matter? Could they build in corporeal matter without themselves being composed of that matter?

85. Có phải những đấng kiến tạo mà chúng ta gọi là các thái âm tổ phụ, trong chính các thể năng lượng của mình, phải gồm vật chất hữu thể không? Liệu chúng có thể xây dựng trong vật chất hữu thể mà bản thân không được cấu thành từ vật chất ấy không?

86. These are the kinds of questions which arise when we seek to careful about the language we are using.

86. Đây là những loại câu hỏi nảy sinh khi chúng ta tìm cách cẩn trọng với ngôn ngữ mình đang dùng.

87. The question is, are there four order of Lunar Pitris who, themselves, are corporeal (i.e., whose bodies are composed of dense material substance—dense, liquid and gaeous) OR do these Lunar Pitris build vehicles of dense, liquid and gaseous matter from within and, as it were, ‘behind’ such matter.

87. Câu hỏi là, có phải có bốn cấp thái âm tổ phụ mà bản thân chúng là hữu thể (tức là các thể của chúng được cấu thành từ chất liệu vật chất đậm đặc—rắn, lỏng và khí) HAY là các thái âm tổ phụ này xây dựng các vận cụ bằng vật chất rắn, lỏng và khí từ bên trong và, có thể nói, “đằng sau” loại vật chất ấy.

88. As usual, we are trying to keep the distinction between involutionary lives and evolutionary lives.

88. Như thường lệ, chúng ta đang cố giữ sự phân biệt giữa các sự sống giáng hạ tiến hoá và các sự sống thăng thượng tiến hoá.

c. See S. D., II, 233.

c. Xem S. D., II, 233.

These lunar Pitris are divided into four groups and are concerned with the building of man's dual physical body, with his astral body and with his lower mental body;

Các thái âm tổ phụ này được chia thành bốn nhóm và liên quan đến việc xây dựng thể hồng trần kép của con người, thể cảm dục của y và thể hạ trí của y;

89. We should keep in mind that there are “builders” and more primitive substance (elemental essence) which is used as building material by the builders.

89. Chúng ta nên ghi nhớ rằng có những “đấng kiến tạo” và có chất liệu nguyên sơ hơn (tinh chất hành khí) được các đấng kiến tạo dùng làm vật liệu xây dựng.

90. We are dealing with greater forces using lesser forces. All these forces have consciousness. We are dealing with the union of two kinds of conscious (though not self-conscious) forces—one evolutionary and the other involutionary.

90. Chúng ta đang xử lý các mãnh lực lớn hơn sử dụng các mãnh lực nhỏ hơn. Tất cả các mãnh lực này đều có tâm thức. Chúng ta đang xử lý sự kết hợp của hai loại mãnh lực hữu thức (dù không có ngã thức)—một loại thăng thượng tiến hoá và loại kia giáng hạ tiến hoá.

91. DK’s description of the “Lunar Pitris” is a little different from that of HPB. DK is not listing the Lunar Pitris in seven groups as did HPB, but rather according to the type of matter they work with and the type of vehicles they construct—namely the four vehicles of the personality, even though, from another perspective, there are only three.

91. Mô tả của Chân sư DK về “các thái âm tổ phụ” hơi khác với mô tả của HPB. Chân sư DK không liệt kê các thái âm tổ phụ thành bảy nhóm như HPB đã làm, mà đúng hơn là theo loại vật chất mà chúng làm việc cùng và loại vận cụ mà chúng kiến tạo—cụ thể là bốn vận cụ của phàm ngã, dù từ một góc nhìn khác thì chỉ có ba.

92. Notice that we are speaking of “Lunar Pitris” working with the lower mental body. Agnishvattas are those Pitris which are usually considered in relation to the higher mental plane. Are some Agnishvattas also to be considered lunar Pitris? When we are told that the Fifth Creative Hierarchy is “dual” could a division between a solar aspect of the Hierarchy and the a lunar aspect account for its duality? Or is the duality of this Hierarchy to be accounted for in a different manner?

92. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về “các thái âm tổ phụ” làm việc với thể trí thấp. Agnishvattas là những Pitris thường được xét trong liên hệ với Cõi thượng trí. Có phải một số Agnishvattas cũng được xem là các Pitris thái âm không? Khi chúng ta được cho biết rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm là “kép”, liệu sự phân chia giữa một phương diện thái dương của Huyền Giai và một phương diện thái âm có giải thích được tính nhị nguyên của nó không? Hay tính nhị nguyên của Huyền Giai này phải được giải thích theo một cách khác?

these sheaths are energised by their force through the medium of the permanent atoms.

các lớp vỏ này được tiếp năng lượng bởi mãnh lực của chúng qua trung gian của các Nguyên tử trường tồn.

93. We are learning that the evolutionary devas under consideration work through the permanent atoms.

93. Chúng ta đang học rằng các thiên thần thăng thượng tiến hoá đang được xét đến hoạt động xuyên qua các Nguyên tử trường tồn.

94. We are also leaning that elemental essence is energized (and held coherent) by their force—the force of these Lunar Pitris who are often called “Lunar Lords”.

94. Chúng ta cũng đang học rằng tinh chất hành khí được tiếp năng lượng (và được giữ cố kết) bởi mãnh lực của chúng—mãnh lực của các thái âm tổ phụ này, những vị thường được gọi là “các nguyệt tinh quân”.

But for the purposes of the subjective nature of man, they are to be considered in their three groups—etheric, astral and lower mental.

Nhưng đối với các mục đích của bản chất chủ quan của con người, chúng phải được xét trong ba nhóm của chúng—dĩ thái, cảm dục và hạ trí.

95. In this case, “subjective” means “subtle”. The dense physical elemental is in a category of its own and accounts for the densest level of ancient, unredeemed substance (unredeemed according to the standard of this solar system).

95. Trong trường hợp này, “chủ quan” có nghĩa là “vi tế”. Tinh linh thể xác đậm đặc thuộc một phạm trù riêng của nó và giải thích cấp độ đậm đặc nhất của chất liệu cổ xưa, chưa được cứu chuộc (chưa được cứu chuộc theo tiêu chuẩn của hệ mặt trời này).

The work of the Agnishvattas (the self-conscious principles, the Builders or constructors of the egoic body on the higher mental levels) is to unite the higher three principles—atma, buddhi, manas—and the lower three, and thus become in very truth the middle principle in man.

Công việc của các Agnishvattas (các nguyên khí có ngã thức, các đấng kiến tạo hay kiến trúc sư của thể chân ngã trên các cấp độ thượng trí) là hợp nhất ba nguyên khí cao hơn—atma, buddhi, manas—và ba nguyên khí thấp hơn, và như thế thực sự trở thành nguyên khí trung gian trong con người.

96. In this instance, we see the Agnishvattas definitely separated from the Lunar Pitris of the lower mental plane. The Agnishvattas are considered constructors of the higher mental body and not at all of the lower mental body.

96. Trong trường hợp này, chúng ta thấy các Agnishvattas được tách biệt rõ ràng khỏi các thái âm tổ phụ của cõi trí thấp. Các Agnishvattas được xem là những đấng kiến tạo của thể trí cao chứ hoàn toàn không phải của thể trí thấp.

97. Thus, via the work of the Agnishvattas, a link is made between atma, buddhi and manas (which are, in many respects, solar) and the lower mental body, the astral body and etheric body.

97. Như vậy, qua công việc của các Agnishvattas, một mối liên kết được tạo ra giữa atma, buddhi và manas (vốn, về nhiều phương diện, là thái dương) với thể trí thấp, thể cảm dục và thể dĩ thái.

98. Two more names have been added to our list of names for the Solar Angels.

98. Hai tên gọi nữa đã được thêm vào danh sách tên gọi của chúng ta dành cho các Thái dương Thiên Thần.

a. The self-consciousness principles

a. Các nguyên khí có ngã thức

b. The Builders of the egoic body, and adding the names previously mentioned, we have…

b. Các Đấng Kiến Tạo của thể chân ngã, và thêm vào các tên đã nêu trước đây, chúng ta có…

c. Agnishvattas

c. Agnishvattas

d. Planetary spirits

d. Các tinh thần hành tinh

e. Asuras

e. Asuras

f. Solar Angels

f. Các Thái dương Thiên Thần

g. Fire Dhyanis

g. Hỏa Dhyanis

h. We have also called them “manasadevas”

h. Chúng ta cũng đã gọi các Ngài là “manasadevas”

i. Later in text we encounter another name: “Sons of Wisdom”. And also the following terms…

i. Về sau trong văn bản, chúng ta gặp một tên gọi khác: “Các Con của Minh Triết”. Và cả những thuật ngữ sau đây…

j. The vehicles of the Divine Mind

j. Các vận cụ của Trí thiêng liêng

k. The dhyan-chohanic forces

k. Các mãnh lực dhyan-chohanic

l. The aggregate of the Ah-hi

l. Tổng thể của Ah-hi

They themselves originate from the logoic middle principle.21 [S. D., II, 83] Thus the esoteric seven is completed. The physical body in its denser manifestation is, as we know, not esoterically considered a principle.

Chính các Ngài phát sinh từ nguyên khí trung gian của Thượng đế.21 [S. D., II, 83] Như vậy bộ bảy huyền bí được hoàn tất. Thể xác trong biểu hiện đậm đặc hơn của nó, như chúng ta biết, không được xem là một nguyên khí theo huyền bí học.

99. This is a very important section of text.

99. Đây là một đoạn văn hết sức quan trọng.

100. We have studied the seven principles of man quite carefully in an earlier commentary. (Semester 3, Section 5) It was then sometimes questioned whether the soul or Solar Angel should be considered as a principle. Here the matter is clearly stated.

100. Chúng ta đã nghiên cứu bảy nguyên khí của con người khá cẩn thận trong một phần bình giải trước đây. (Học kỳ 3, Phần 5) Khi ấy đôi lúc người ta đặt câu hỏi liệu linh hồn hay Thái dương Thiên Thần có nên được xem là một nguyên khí hay không. Ở đây vấn đề được phát biểu rõ ràng.

101. The principles would then be:

101. Khi đó các nguyên khí sẽ là:

a. Atma

a. Atma

b. Buddhi

b. Buddhi

c. Manas

c. Manas

d. A solar principle arising through the presence of the Agnishvattas or Solar Angels constituting the “middle principle” of man

d. Một nguyên khí thái dương phát sinh qua sự hiện diện của các Agnishvattas hay các Thái dương Thiên Thần, cấu thành “nguyên khí trung gian” của con người

e. The principle associated with the lower mental plane, lower manas

e. Nguyên khí gắn với cõi hạ trí, hạ manas

f. The principle associated with the astral body, kama

f. Nguyên khí gắn với thể cảm dục, kama

g. The principle associated with the etheric body—prana. Sometimes the etheric body, itself, is listed as a principle

g. Nguyên khí gắn với thể dĩ thái—prana. Đôi khi chính thể dĩ thái cũng được liệt kê như một nguyên khí

102. The Agnishvattas originate from the causal body of the Solar Logos—the “logoic middle principle”.

102. Các Agnishvattas phát sinh từ thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế—“nguyên khí trung gian của Thượng đế”.

The devas of the lower mental levels in relation to [Page 682] man work through the mental unit,

Các thiên thần của các cấp độ hạ trí trong liên hệ với [Page 682] con người hoạt động qua đơn vị hạ trí,

103. This is how they work upon the bodies of elemental substance.

103. Đây là cách họ tác động lên các thể bằng chất liệu hành khí.

104. It is not only the lower-but-evolutionary devas who work through the members of the atomic triangle. The Solar Angels work constantly through the members of that triangle, including the mental unit.

104. Không chỉ các thiên thần hạ cấp nhưng thuộc thăng thượng tiến hoá mới hoạt động qua các thành phần của tam giác nguyên tử. Các Thái dương Thiên Thần liên tục hoạt động qua các thành phần của tam giác ấy, kể cả đơn vị hạ trí.

and are, roughly speaking, divided into four groups, being in fact the first condensation of the threefold lower body of man.

và, nói một cách khái quát, được chia thành bốn nhóm, thực ra là sự ngưng tụ đầu tiên của thể thấp tam phân của con người.

105. The lower body of man is threefold and is considered a condensation. The mental vehicle is the first condensation in the general precipitation of higher forces we call the threefold lower body of man..

105. Thể thấp của con người là tam phân và được xem là một sự ngưng tụ. Vận cụ trí tuệ là sự ngưng tụ đầu tiên trong tiến trình ngưng tụ tổng quát của các mãnh lực cao hơn mà chúng ta gọi là thể thấp tam phân của con người.

106. The four groups of devas of the lower mental levels exist because there are four subplanes on the lower mental plane.

106. Bốn nhóm thiên thần của các cấp độ hạ trí tồn tại vì có bốn cõi phụ trên cõi hạ trí.

They form part of his lunar body.

Họ tạo thành một phần của thể nguyệt tinh của y.

107. It is significant that these devas not only manipulate the elemental substance which comprises the vehicles of the lunar bodies but actually form “part of his lunar body”. It is very important for us to know exactly what kind of lives go to the formation of the lunar body.

107. Điều có thâm nghĩa là các thiên thần này không chỉ vận dụng chất liệu hành khí cấu thành các vận cụ của các thể nguyệt tinh mà thực sự còn tạo thành “một phần của thể nguyệt tinh của y”. Điều rất quan trọng đối với chúng ta là phải biết chính xác loại sự sống nào góp phần tạo thành thể nguyệt tinh.

108. Somehow, the force of these devas of the lower mental plane also goes to the constitution of the lower mental body as well as the force of the mental elemental essence.

108. Bằng cách nào đó, mãnh lực của các thiên thần thuộc cõi hạ trí này cũng góp phần vào cấu tạo của thể hạ trí cũng như mãnh lực của Tinh chất hành khí trí tuệ.

109. The devas of the lower mental plane form part of the human being’s lunar body. This is true of the devas of the astral plane, of the etheric plane and the dense physical plane. But, none of these devas form the entirety his lunar body. Elemental essence also goes to this formation.

109. Các thiên thần của cõi hạ trí tạo thành một phần của thể nguyệt tinh của con người. Điều này cũng đúng với các thiên thần của cõi cảm dục, của cõi dĩ thái và của cõi hồng trần đậm đặc. Nhưng không thiên thần nào trong số này tạo thành toàn thể thể nguyệt tinh của y. Tinh chất hành khí cũng góp phần vào sự hình thành này.

110. We need to understand how force is combined with force—lesser force with greater force.

110. Chúng ta cần hiểu cách mãnh lực được kết hợp với mãnh lực—mãnh lực nhỏ hơn với mãnh lực lớn hơn.

They are directly linked with the highest spiritual essences,

Họ được nối kết trực tiếp với các tinh chất cao nhất tinh thần,

111. How high, we may ask? Apparently, as high as the cosmic mental plane.

111. Cao đến đâu, chúng ta có thể hỏi? Rõ ràng là cao đến tận cõi trí vũ trụ.

112. Why, however, is the word “highest” used, when the Agnishvattas of the cosmic higher mental plane are higher still.

112. Tuy nhiên, tại sao lại dùng từ “cao nhất”, khi các Agnishvatta của cõi thượng trí vũ trụ còn cao hơn nữa.

and represent the lowest manifestation of force emanating from the cosmic mental plane,

và biểu hiện thấp nhất của mãnh lựcphát ra từ cõi trí vũ trụ,

113. There are Great Agnishvattas on the cosmic mental plane. But there may also be higher counterparts of lower mental devas on the cosmic mental plane—i.e., on the lower four subplanes of the cosmic mental plane.

113. Có những Agnishvatta Vĩ Đại trên cõi trí vũ trụ. Nhưng cũng có thể có những đối phần cao hơn của các thiên thần hạ trí trên cõi trí vũ trụ—tức là trên bốn cõi phụ thấp của cõi trí vũ trụ.

War wages cosmically as yet between the systemic "lunar" lords, and those Entities who are analogous to the solar Lords on cosmic levels. Until our students extend their concept to include in their calculations the logoic astral and mental bodies as the Logos seeks to express emotion and mind on the physical plane (through His physical body, a solar system) they will not progress far towards the heart of the solar mystery. Until the force of the cosmic lunar Lords is sought for, the fact of there being entire constellations beyond our solar system in process of disintegration in time and space in a manner similar to the disintegration of the moon will not be known nor the effects of this traced. (TCF 834-835)

Chiến tranh vẫn đang diễn ra trên bình diện vũ trụ giữa các chúa tể “nguyệt tinh” của hệ, và những Thực Thể tương tự với các Chúa Tể thái dương trên các cấp độ vũ trụ. Chừng nào các đạo sinh của chúng ta chưa mở rộng khái niệm của mình để bao gồm trong các tính toán của họ các thể cảm dục và thể trí logoic, khi Logos tìm cách biểu lộ cảm xúc và trí tuệ trên cõi hồng trần (qua thể xác của Ngài, là một hệ mặt trời), thì họ sẽ không tiến xa được đến trung tâm của huyền nhiệm thái dương. Chừng nào mãnh lực của các Chúa Tể nguyệt tinh vũ trụ chưa được truy tìm, thì sự kiện có những chòm sao trọn vẹn bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta đang trong tiến trình tan rã trong thời gian và không gian theo cách tương tự như sự tan rã của mặt trăng sẽ không được biết đến, và các hiệu quả của điều này cũng sẽ không được truy nguyên. (TCF 834-835)

114. Because the devas of the systemic mental plane are the lowest manifestation of force emanating from the cosmic mental plane, we might infer that the systemic Agnishvattas are a somewhat higher manifestation of force emanating from the cosmic mental plane.

114. Bởi vì các thiên thần của cõi trí hệ thống là biểu hiện thấp nhất của mãnh lực phát ra từ cõi trí vũ trụ, chúng ta có thể suy ra rằng các Agnishvatta hệ thống là một biểu hiện cao hơn đôi chút của mãnh lực phát ra từ cõi trí vũ trụ.

115. The link between of systemic devas the cosmic devas is an important fact.

115. Mối liên kết giữa các thiên thần hệ thống và các thiên thần vũ trụ là một sự kiện quan trọng.

and finding its link with the human Hierarchy through the mental units.

và tìm thấy mối liên kết của mình với Huyền Giai nhân loại qua các đơn vị hạ trí.

116. A great deal is here being revealed.

116. Ở đây rất nhiều điều đang được tiết lộ.

117. We have a link from the lower cosmic mental plane, to the lower systemic mental plane and from thence to the mental units of human beings. We should ponder on this linking.

117. Chúng ta có một mối liên kết từ cõi hạ trí vũ trụ đến cõi hạ trí hệ thống và từ đó đến các đơn vị hạ trí của con người. Chúng ta nên suy ngẫm về sự nối kết này.

They [the lower mental devas] are the gaseous devas of the logoic physical body.

Họ [the lower mental devas] là các thiên thần thể khí của thể xác logoic.

118. We are speaking of the evolutionary devas of the systemic mental plane.

118. Chúng ta đang nói về các thiên thần thuộc thăng thượng tiến hoá của cõi trí hệ thống.

119. We might ask, “To what extent can the Agnishvattas who control the systemic higher mental plane be considered gaseous devas of the logoic physical body?”

119. Chúng ta có thể hỏi: “Ở mức độ nào các Agnishvatta kiểm soát cõi thượng trí hệ thống có thể được xem là các thiên thần thể khí của thể xác logoic?”

We will not deal with them in greater detail at this moment for as we study the subject of the fifth principle certain points will become clearer;

Hiện giờ chúng ta sẽ không bàn đến họ chi tiết hơn, vì khi nghiên cứu chủ đề về nguyên khí thứ năm, một số điểm nhất định sẽ trở nên sáng tỏ hơn;

120. We must keep clear and distinct in our minds the discussions concerning the Agnishvattas which control the systemic higher mental plane and those evolutionary devas who are more lunar (whatever their name might be) in nature and who control the systemic lower mental plane.

120. Chúng ta phải giữ thật rõ ràng và phân biệt trong trí óc mình các bàn luận liên quan đến các Agnishvatta kiểm soát cõi thượng trí hệ thống và các thiên thần thuộc thăng thượng tiến hoá có bản chất nguyệt tinh hơn (dù tên gọi của họ là gì) và kiểm soát cõi hạ trí hệ thống.

121. This section of the book is given mostly to the Agnishvattas (considered as the Lords of the systemic higher mental plane. Information on the evolutionary devas of the lower mental plane will also be found and must be attended to closely.

121. Phần này của sách chủ yếu dành cho các Agnishvatta (được xem như các Chúa Tể của cõi thượng trí hệ thống. Thông tin về các thiên thần thuộc thăng thượng tiến hoá của cõi hạ trí cũng sẽ được tìm thấy và phải được chú ý kỹ lưỡng.

their work in connection with man can be enlarged upon as we proceed.

công việc của họ liên hệ với con người có thể được khai triển thêm khi chúng ta tiếp tục.

More detail at this moment would but serve to complicate.

Chi tiết hơn vào lúc này chỉ làm cho vấn đề thêm phức tạp.

96. DK as pedagogue is cautious.

96. Chân sư DK với tư cách nhà sư phạm là người thận trọng.

Let us be quite clear in our minds just what we are in process of considering. We are dealing with:

Chúng ta hãy thật rõ ràng trong trí óc mình về chính điều mà chúng ta đang xem xét. Chúng ta đang bàn đến:

1. That fifth state of consciousness called the mental plane,

1. Trạng thái tâm thức thứ năm ấy được gọi là cõi trí,

97. This is the case whether we are speaking of the systemic mental plane or the cosmic mental plane.

97. Điều này đúng dù chúng ta đang nói về cõi trí hệ thống hay cõi trí vũ trụ.

2. The substance of that plane as it exists in its dual aspect, rupa and arupa,22 [see pages 615, 616]

2. Chất liệu của cõi ấy như nó tồn tại trong phương diện kép của nó, rupa và arupa,22 [see pages 615, 616]

98. This is true of both the systemic mental plane and the cosmic mental plane.

98. Điều này đúng cho cả cõi trí hệ thống lẫn cõi trí vũ trụ.

99. Rupa means “form”. Arupa means “formless”.

99. Rupa có nghĩa là “hình tướng”. Arupa có nghĩa là “vô tướng”.

3. The lives who ensoul that matter, especially in their relation to man,

3. Các sự sống phú linh chất liệu ấy, đặc biệt trong liên hệ của họ với con người,

100. There are lives who ensoul rupa levels and those who ensoul arupa levels.

100. Có những sự sống phú linh các cấp độ rupa và những sự sống phú linh các cấp độ arupa.

101. When thinking about the systemic mental plane, the Agnishvattas ensoul the arupa levels of the systemic mental plane and the mental evolutionary devas ensoul the lower four rupa levels of the systemic mental plane.

101. Khi suy nghĩ về cõi trí hệ thống, các Agnishvatta phú linh các cấp độ arupa của cõi trí hệ thống và các thiên thần thuộc thăng thượng tiến hoá trí tuệ phú linh bốn cấp độ rupa thấp của cõi trí hệ thống.

4. The Egos or the self-conscious units who form the middle point in manifestation,

4. Các Chân ngã hay các đơn vị ngã thức tạo thành điểm ở giữa trong biểu hiện,

102. The Solar Angels are more than the Egos, but there would be no Egos without the participation of the Solar Angels. “Having pervaded the entire universe with a fragment of myself, I remain.”

102. Các Thái dương Thiên Thần còn hơn cả các Chân ngã, nhưng sẽ không có Chân ngã nếu không có sự tham dự của các Thái dương Thiên Thần. “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ bằng một mảnh của chính ta, ta vẫn tồn tại.”

103. They form the middle point but are not entirely the middle point.

103. Họ tạo thành điểm ở giữa nhưng không hoàn toàn là điểm ở giữa.

5. The building of the causal body, the opening of the egoic Lotus, and the construction of those groups we call egoic groups,

5. Việc xây dựng thể nguyên nhân, sự khai mở Hoa Sen Chân Ngã, và sự kiến tạo những nhóm mà chúng ta gọi là các nhóm chân ngã,

104. The initial building of the causal body takes place at individualization.

104. Việc xây dựng ban đầu của thể nguyên nhân diễn ra vào lúc biệt ngã hóa.

105. The opening of the causal body takes place over millions of years.

105. Sự khai mở của thể nguyên nhân diễn ra trong hàng triệu năm.

106. Egoic groups are based upon ray similarities and, to an extent, upon phases of egoic development.

106. Các nhóm chân ngã dựa trên những điểm tương đồng về cung và, ở một mức độ nào đó, trên các giai đoạn phát triển chân ngã.

107. They may also be grouped according to monadic ray.

107. Chúng cũng có thể được nhóm lại theo cung chân thần.

108. Just a little of what has been revealed about the constitution of egoic groups shows how very logical and yet complex the formation of such groups can be.

108. Chỉ một ít điều đã được tiết lộ về cấu tạo của các nhóm chân ngã cũng cho thấy sự hình thành của những nhóm như thế vừa rất hợp lý vừa rất phức tạp.

6. The individuality of those Existences whom we call:

6. Tính cá thể của những Hiện Hữu mà chúng ta gọi là:

a. Agnishvattas.

a. Agnishvattas.

b. Manasa devas.

b. Manasa devas.

c. Fire dhyanis.

c. Fire dhyanis.

d. Solar angels, or solar Pitris.

d. Các Thái dương Thiên Thần, hay thái dương tổ phụ.

e. The Asuras.

e. Các Asura.

and many other names mentioned in the occult books.

và nhiều tên gọi khác được nhắc đến trong các sách huyền bí học.

109. Here are five names for the Solar Angels or Solar Pitris.

109. Ở đây là năm tên gọi dành cho các Thái dương Thiên Thần hay thái dương tổ phụ.

110. We will have to watch carefully the name “Manas devas” to see to what rank of Agnishvatta it applies.

110. Chúng ta sẽ phải theo dõi cẩn thận tên gọi “Manas devas” để xem nó áp dụng cho cấp bậc Agnishvatta nào.

[Page 683]

[Page 683]

Much confusion exists in the minds of students as to the distinction between the Agnishvattas who incarnated in man, and those who simply were responsible for the implanting of the manasic or mental spark in animal man.

Trong trí óc của các đạo sinh tồn tại nhiều nhầm lẫn liên quan đến sự phân biệt giữa các Agnishvatta đã nhập thể vào con người, và những vị chỉ chịu trách nhiệm cấy vào người thú tia lửa manas hay tia lửa trí tuệ.

111. Here is mentioned a most important distinction.

111. Ở đây có nhắc đến một sự phân biệt hết sức quan trọng.

112. Many were the Agnishvattas who were responsible for implanting the manasic spark or mental spark in animal man.

112. Có rất nhiều Agnishvatta chịu trách nhiệm cấy tia lửa manas hay tia lửa trí tuệ vào người thú.

113. Far fewer were those who made the great sacrifice of incarnating in the “huge tabernacles of clay” which were the physical vehicles of animal man.

113. Ít hơn rất nhiều là những vị đã thực hiện sự hi sinh lớn lao là nhập thể vào những “nhà tạm bằng đất sét khổng lồ”, vốn là các vận cụ hồng trần của người thú.

This opens up for us the entire question of individualisation itself, and the incarnation of certain spiritual existences who—when in bodily form—are spoken of as Avatars, as Buddhas of Activity, or as direct manifestations of the Logos.

Điều này mở ra cho chúng ta toàn bộ vấn đề về chính sự biệt ngã hóa, và sự nhập thể của một số hiện hữu tinh thần—những vị mà khi ở trong hình hài thể xác thì được gọi là các Đấng Hoá Thân, các Đức Phật Hoạt Động, hay những biểu hiện trực tiếp của Logos.

114. From this sentence we gather (apparently) that the process of individualization involved the Buddhas of Activity Who are also known as Avatars. We have been told, in fact, that one of the Buddhas of Activity was very much involved in the individualization process.

114. Từ câu này chúng ta rút ra được (dường như là) rằng tiến trình biệt ngã hóa có liên quan đến các Đức Phật Hoạt Động, các Ngài cũng được biết đến như các Đấng Hoá Thân. Thật vậy, chúng ta đã được cho biết rằng một trong các Đức Phật Hoạt Động đã liên quan rất nhiều đến tiến trình biệt ngã hóa.

115. It does not seem to be saying that the Solar Angels are Buddhas of Activity and Avatars, though it is possible that a Solar Angel, fully in incarnation, could be considered as an Avatar.

115. Dường như câu này không nói rằng các Thái dương Thiên Thần là các Đức Phật Hoạt Động và các Đấng Hoá Thân, dù có thể một Thái dương Thiên Thần, khi hoàn toàn nhập thể, có thể được xem như một Đấng Hoá Thân.

The entire mystery

Toàn bộ huyền nhiệm

116. Are we speaking of the Mystery of the Solar Angels or the mystery of difference between those Solar Angels who implanted the spark of mind in animal man and those who incarnated directly.

116. Chúng ta đang nói về Huyền nhiệm của các Thái dương Thiên Thần hay huyền nhiệm về sự khác biệt giữa những Thái dương Thiên Thần đã cấy tia lửa trí tuệ vào người thú và những vị đã trực tiếp nhập thể.

is hidden in the relationship of the individual Monads who form the various centres in the body of a planetary Logos and the self-conscious Identity of that planetary Logos Himself.

được ẩn giấu trong mối liên hệ giữa các Chân thần cá biệt tạo thành các trung tâm khác nhau trong thân thể của một Hành Tinh Thượng Đế và Bản Sắc ngã thức của chính Hành Tinh Thượng Đế ấy.

117. Human Monads (Monads within the Fourth Creative Hierarchy) go to the constitution of various of the centres of a Planetary Logos. This is also true of some deva Monads. Is it true of the Monads of Solar Angels? Or would this have been the case when the Solar Angels were human beings in a previous mahamanvantara?

117. Các Chân thần nhân loại (các Chân thần trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư) góp phần vào cấu tạo của nhiều trung tâm khác nhau của một Hành Tinh Thượng Đế. Điều này cũng đúng với một số Chân thần thiên thần. Có đúng như vậy đối với các Chân thần của các Thái dương Thiên Thần không? Hay điều này đã từng đúng khi các Thái dương Thiên Thần là những con người trong một Đại giai kỳ sinh hóa trước đó?

118. What is the relationship between a Planetary Logos and the monadic units who go to the constitution of His centres? And are Solar Angels to be numbered among such units? These are questions we cannot yet resolve.

118. Mối liên hệ giữa một Hành Tinh Thượng Đế và các đơn vị chân thần góp phần vào cấu tạo các trung tâm của Ngài là gì? Và các Thái dương Thiên Thần có được tính vào những đơn vị như thế không? Đây là những câu hỏi mà chúng ta chưa thể giải quyết.

119. We know that Solar Angels have or are Monads, and it is Monads which go to the constitution of the cosmic etheric centers of the Planetary Logos, but it is not certain on which systemic or cosmic plane the Monads of the Solar Angels may be focussed. Perhaps such Monads are focussed on the cosmic astral plane. If this were the case, any planetary logoic centers of which they might be constituent parts would be cosmic astral centers. Of course, if the analogy holds good, there will be cosmic astral chakras just as there are systemic astral chakras, etc.

119. Chúng ta biết rằng các Thái dương Thiên Thần có hoặc là các Chân thần, và chính các Chân thần góp phần vào cấu tạo các trung tâm dĩ thái vũ trụ của Hành Tinh Thượng Đế, nhưng không chắc các Chân thần của các Thái dương Thiên Thần có thể được tập trung trên cõi hệ thống hay cõi vũ trụ nào. Có lẽ các Chân thần như thế được tập trung trên cõi cảm dục vũ trụ. Nếu đúng như vậy, thì bất kỳ trung tâm hành tinh logoic nào mà chúng có thể là thành phần cấu tạo sẽ là các trung tâm cảm dục vũ trụ. Dĩ nhiên, nếu phép loại suy là đúng, sẽ có các luân xa cảm dục vũ trụ cũng như có các luân xa cảm dục hệ thống, v.v.

The student must here bear in mind the fact that the mental plane is the first aspect of the dense physical body of the planetary Logos, the buddhic plane being a cosmic etheric plane, and the one whereon are to be found the etheric centres of a Heavenly Man.

Ở đây đạo sinh phải ghi nhớ sự kiện rằng cõi trí là phương diện đầu tiên của thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế, còn cõi Bồ đề là một cõi dĩ thái vũ trụ, và là cõi nơi có thể tìm thấy các trung tâm dĩ thái của một Đấng Thiên Nhân.

120. This distinction seems clear enough.

120. Sự phân biệt này dường như đủ rõ ràng.

121. Can it truly be said that all the centers of a Heavenly Man are to be found on the buddhic plane? It would seem that certain of the centers (the ones of which human Monads most likely form a part) are to be found as well on the third and second cosmic ethers but, not the first cosmic ether—i.e., the atmic and monadic ethers, but not the logoic ether. This inference is gathered by studying Chart VIII, TCF 817, in which four chakras of man are to be found on the fourth systemic ether, the throat center on the third ether, the heart center on the second ether and the head center on the atomic ether.

121. Liệu có thể thật sự nói rằng mọi trung tâm của một Đấng Thiên Nhân đều được tìm thấy trên cõi Bồ đề không? Có vẻ như một số trung tâm nào đó (những trung tâm mà các Chân thần nhân loại rất có thể là một phần của chúng) cũng được tìm thấy trên dĩ thái vũ trụ thứ ba và thứ hai, nhưng không phải dĩ thái vũ trụ thứ nhất—tức là các dĩ thái atma và chân thần, nhưng không phải dĩ thái logoic. Suy luận này được rút ra khi nghiên cứu Biểu đồ VIII, TCF 817, trong đó bốn luân xa của con người được tìm thấy trên dĩ thái hệ thống thứ tư, trung tâm cổ họng trên dĩ thái thứ ba, trung tâm tim trên dĩ thái thứ hai và trung tâm đầu trên dĩ thái nguyên tử.

122. The analogy (if valid) probably breaks down when comparing the systemic atomic ether with the cosmic atomic ether (the logoic plane) because the human Monad, from what our diagrams indicate, can (as a Monad within a monadic vehicle) ascend no higher than the monadic plane (and still maintain the kind of monadic structure it now possesses). Of course, it can and must ascend beyond the monadic plane eventually, but this will be after the destruction of the “Temple of Ezekiel” on the monadic plane, and so that which we call the Monad will be differently habilitated.

122. Phép loại suy này (nếu có giá trị) có lẽ không còn đúng khi so sánh dĩ thái nguyên tử hệ thống với dĩ thái nguyên tử vũ trụ (cõi logoic), bởi vì Chân thần nhân loại, theo những gì các sơ đồ của chúng ta chỉ ra, có thể (với tư cách một Chân thần trong một vận cụ chân thần) thăng lên không cao hơn cõi chân thần (mà vẫn duy trì loại cấu trúc chân thần mà nó hiện có). Dĩ nhiên, cuối cùng nó có thể và phải thăng vượt quá cõi chân thần, nhưng điều này sẽ xảy ra sau sự hủy diệt của “Đền thờ Ezekiel” trên cõi chân thần, và khi đó cái mà chúng ta gọi là Chân thần sẽ được trang bị theo một cách khác.

123. If we are told that human Monads form part of the centers of the Planetary Logos and those center are on the buddhic plane, how is it that Monads-as-Monads (focussed on the monadic plane) can focus on the buddhic plane? The Monads so focussing would have to focus through a buddhic vehicle and if focussed on the atmic plane, then through an atmic vehicle. These are, for us at least, mysteries.

123. Nếu chúng ta được bảo rằng các Chân thần nhân loại tạo thành một phần của các trung tâm của Hành Tinh Thượng Đế và các trung tâm ấy ở trên cõi Bồ đề, thì làm sao các Chân thần-với-tư-cách-Chân-thần (được tập trung trên cõi chân thần) lại có thể tập trung trên cõi Bồ đề? Các Chân thần tập trung như thế sẽ phải tập trung qua một vận cụ Bồ đề và nếu tập trung trên cõi atma, thì qua một vận cụ atma. Ít nhất đối với chúng ta, đây là những huyền nhiệm.

124. It makes one wonder through which centers of the Planetary Logos the human Monads may focus? There are seven great wheels upon the monadic plane. Are those the centers in which the human Monad is to be considered a constituent? Yet the Planetary Logos has chakras on planes other than the monadic!

124. Điều này khiến người ta tự hỏi qua những trung tâm nào của Hành Tinh Thượng Đế mà các Chân thần nhân loại có thể tập trung? Có bảy bánh xe lớn trên cõi chân thần. Liệu những trung tâm ấy có phải là những trung tâm mà Chân thần nhân loại được xem là một thành phần cấu tạo không? Tuy nhiên Hành Tinh Thượng Đế lại có các luân xa trên những cõi khác ngoài cõi chân thần!

From the buddhic plane (in a planetary or solar sense) comes the vitality and impulse which galvanises the dense physical vehicle into purposeful and coherent action;

Từ cõi Bồ đề (theo nghĩa hành tinh hay thái dương) phát ra sinh lực và xung lực làm cho vận cụ thể xác đậm đặc được tiếp sinh lực để hành động có mục đích và cố kết;

125. This makes sense of course. We would have to wonder why the higher cosmic ethers were not also sources of vitality for the dense physical vehicle. If we think of man, is not his throat center vitalized from the third systemic ether and his heart from the second?

125. Điều này dĩ nhiên là hợp lý. Chúng ta sẽ phải tự hỏi vì sao các dĩ thái vũ trụ cao hơn cũng không là những nguồn sinh lực cho vận cụ thể xác đậm đặc. Nếu nghĩ đến con người, chẳng phải trung tâm cổ họng của y được tiếp sinh lực từ dĩ thái hệ thống thứ ba và trung tâm tim từ dĩ thái hệ thống thứ hai sao?

126. Almost inevitably, the higher cosmic ethers would also have to be sources of vitalization, however, perhaps the vitalization of which the atmic cosmic ether and the monadic cosmic ether are the source would have to pass through the buddhic plane in order to reach the dense physical vehicle so the Planetary Logos.

126. Gần như tất yếu, các dĩ thái vũ trụ cao hơn cũng phải là những nguồn tiếp sinh lực; tuy nhiên, có lẽ sự tiếp sinh lực mà dĩ thái vũ trụ atma và dĩ thái vũ trụ chân thần là nguồn phát ra sẽ phải đi qua cõi Bồ đề để đến được vận cụ thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế.

it is on the mental plane, therefore, that this impulse is first felt and the contact between the two realised.

do đó, chính trên cõi trí mà xung lực này được cảm nhận đầu tiên và sự tiếp xúc giữa hai bên được chứng nghiệm.

127. As the lower mental plane is the first precipitation of the dense physical body of the Planetary Logos, it is on the lower mental plane that the first effect of cosmic etheric vitalization will be felt.

127. Vì cõi hạ trí là sự ngưng tụ đầu tiên của thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế, nên chính trên cõi hạ trí mà hiệu quả đầu tiên của sự tiếp sinh lực dĩ thái vũ trụ sẽ được cảm nhận.

128. The higher mental plane will also feel the effects of cosmic etheric vitalization, but whereas the egoic structures on the higher mental plane are in the dense physical plane of the Solar Logos, they are, from all appearances, above the dense physical plane of the Planetary Logos.

128. Cõi thượng trí cũng sẽ cảm nhận các hiệu quả của sự tiếp sinh lực dĩ thái vũ trụ, nhưng trong khi các cấu trúc chân ngã trên cõi thượng trí nằm trong cõi xác thân đậm đặc của Thái dương Thượng đế, thì theo mọi biểu hiện, chúng lại ở trên cõi xác thân đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế.

Herein lies a hint which will serve a purpose if pondered upon. The student should study the place and purpose of the mental plane, and its relation to the planetary Logos and a solar Logos.

Chính trong đây có một gợi ý sẽ hữu ích nếu được suy ngẫm. Đạo sinh nên nghiên cứu vị trí và mục đích của cõi trí, cùng mối liên hệ của nó với Hành Tinh Thượng Đế và một Thái dương Thượng đế.

129. We have suggested some thoughts concerning the relationship of the Planetary Logos and Solar Logos to the lower part of the cosmic gaseous plane.

129. Chúng ta đã gợi ra một số tư tưởng liên quan đến mối liên hệ của Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế với phần thấp của cõi thể khí vũ trụ.

130. For the Planetary Logos, the lower mental plane is the first precipitation of His dense physical plane (or more specifically, his lower mental body is the first precipitation within His dense physical body). For the Solar Logos, the higher mental plane is the first precipitation of His dense physical plane (and more specifically, the higher mental plane holds the first precipitation of the solar logoic dense physical body).

130. Đối với Hành Tinh Thượng Đế, cõi trí thấp là sự ngưng tụ đầu tiên của cõi xác thân đậm đặc của Ngài (hay nói chính xác hơn, thể hạ trí của Ngài là sự ngưng tụ đầu tiên bên trong thể xác đậm đặc của Ngài). Đối với Thái dương Thượng đế, cõi trí cao là sự ngưng tụ đầu tiên của cõi xác thân đậm đặc của Ngài (và nói cụ thể hơn, cõi thượng trí chứa sự ngưng tụ đầu tiên của thể xác đậm đặc thái dương logoic).

131. The gaseous plane always serves as a linking intermediary between the ethers, the liquid and truly dense portions of the dense physical body whether of a Logos or a man.

131. Cõi thể khí luôn đóng vai trò trung gian nối kết giữa các dĩ thái, phần lỏng và các phần thật sự đậm đặc của thể xác đậm đặc, dù là của một Logos hay của con người.

132. Hence the special effectiveness of breathing exercises to bring etheric vitalization into the lowest levels of the dense physical body—whether of a man or a greater Logos.

132. Do đó có hiệu quả đặc biệt của các bài tập thở trong việc đưa sự tiếp sinh lực dĩ thái vào các cấp độ thấp nhất của thể xác đậm đặc—dù là của con người hay của một Logos lớn hơn.

As he investigates more closely the nature of his own etheric body, he must extend that knowledge to higher levels, and must endeavour to comprehend the constitution of the greater sphere of which he is but a part.

Khi y khảo sát kỹ hơn bản chất của chính thể dĩ thái của mình, y phải mở rộng tri thức ấy lên các cấp độ cao hơn, và phải cố gắng thấu hiểu cấu tạo của khối cầu lớn hơn mà y chỉ là một phần của nó.

133. This we have been attempting to do, and it is this attempt which leads us to speculate upon the role of chakras on the higher cosmic ethers in the vitalization of the dense physical vehicle of the Planetary Logos and Solar Logos.

133. Đây là điều chúng ta đã cố gắng thực hiện, và chính nỗ lực này dẫn chúng ta đến chỗ suy đoán về vai trò của các luân xa trên các dĩ thái vũ trụ cao hơn trong việc tiếp sinh lực cho vận cụ thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế.