Trích nội dung chương
96. Since the “plane of spirit” is the second subplane of the cosmic physical plane, it is a plane of duality. Love and Wisdom are there found in expression and both sound and light are potent factors. 96. Vì “cõi tinh thần” là cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ, nên đó là một cõi của nhị nguyên tính. Tình thương và minh triết được tìm thấy đang biểu lộ ở đó, và cả âm thanh lẫn ánh sáng đều là những yếu tố đầy mãnh lực.
95. While there are “seven types” of Monads there are only three major types.
95. Dù có “bảy loại” chân thần, chỉ có ba loại chính.
96. Since the “plane of spirit” is the second subplane of the cosmic physical plane, it is a plane of duality. Love and Wisdom are there found in expression and both sound and light are potent factors.
96. Vì “cõi tinh thần” là cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ, nên đó là một cõi của nhị nguyên tính. Tình thương và minh triết được tìm thấy đang biểu lộ ở đó, và cả âm thanh lẫn ánh sáng đều là những yếu tố đầy mãnh lực.
97. Regarding this duality on the plane of Spirit, both life and consciousness are strongly represented.
97. Liên quan đến nhị nguyên tính này trên cõi Tinh thần, cả sự sống lẫn tâm thức đều được biểu hiện mạnh mẽ.
98. As well, the duality of the plane is represented by the presence of both human and deva Monads. As important centers of the Planetary Logos are to be found on the monadic plane, it is easy to see how both human and deva Monads go to the constitution of those centers.
98. Đồng thời, nhị nguyên tính của cõi này được biểu hiện bởi sự hiện diện của cả chân thần nhân loại lẫn chân thần deva. Vì các trung tâm quan trọng của Hành Tinh Thượng Đế được tìm thấy trên cõi chân thần, nên thật dễ thấy cả chân thần nhân loại lẫn chân thần deva đều góp phần vào cấu tạo của các trung tâm ấy.
99. When we speak here of deva Monads, we are speaking of the Monads of evolutionary devas, but it is not necessarily the case that the Monads of the “returning Nirvanis” (i.e., the Solar Angels) find their monadic ‘home’ on this plane. It is entirely possible that their Monads will find on the cosmic astral plane the “Father’s Home”.
99. Khi ở đây chúng ta nói về các chân thần deva, chúng ta đang nói về các chân thần của các deva tiến hoá, nhưng không nhất thiết các chân thần của các “nirvani hồi quy” (tức các Thái dương Thiên Thần) lại tìm thấy “quê nhà” chân thần của mình trên cõi này. Hoàn toàn có thể là các chân thần của họ sẽ tìm thấy “Nhà của Cha” trên cõi cảm dục vũ trụ.
Students should ever bear in mind that these occult subjects can be expressed in a twofold manner:
Các đạo sinh nên luôn ghi nhớ rằng những chủ đề huyền bí này có thể được diễn đạt theo cách nhị phân:
In terms of the three worlds, or from the standpoint of the logoic dense physical body.
Theo thuật ngữ của ba cõi giới, hoặc từ quan điểm của thể hồng trần đậm đặc của Logos.
100. We are dealing here with material expression, considered both microcosmically and macrocosmically.
100. Ở đây chúng ta đang bàn đến biểu hiện vật chất, được xét cả theo tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa.
101. When we speak of the three worlds we are speaking largely in human terms. These are, at this time, the three worlds within which human consciousness is focussed.
101. Khi nói về ba cõi giới, phần lớn chúng ta đang nói theo thuật ngữ của con người. Hiện nay, đó là ba cõi giới trong đó tâm thức con người được tập trung.
102. This same material expression can be considered macrocosmically as to the lowest aspect of the Solar Logos, apparently—His dense physical body.
102. Cùng biểu hiện vật chất này có thể được xét theo đại thiên địa như là phương diện thấp nhất của Thái dương Thượng đế, rõ ràng là—thể xác hồng trần đậm đặc của Ngài.
103. We are not sure here whether DK is here referring to the Planetary Logos or the Solar Logos. Usually, when the term “Logos” is used by itself, the Solar Logos is meant.
103. Ở đây chúng ta không chắc Chân sư DK đang quy chiếu đến Hành Tinh Thượng Đế Hành Tinh hay Thái dương Thượng đế. Thông thường, khi thuật ngữ “Logos” được dùng riêng, người ta muốn nói đến Thái dương Thượng đế.
104. However, the “three worlds” usually do not include the higher mental plane and if they do not, then DK is speaking of a Planetary Logos, for the dense physical body of a Planetary Logos do not include the higher mental plane.
104. Tuy nhiên, “ba cõi giới” thường không bao gồm cõi thượng trí, và nếu không bao gồm, thì Chân sư DK đang nói về một Hành Tinh Thượng Đế, vì thể xác hồng trần đậm đặc của một Hành Tinh Thượng Đế không bao gồm cõi thượng trí.
In terms of force or energy, or from the standpoint of the logoic body of prana or vitality, the four cosmic ethers.
Theo thuật ngữ của mãnh lực hay năng lượng, hoặc từ quan điểm của thể prana hay sinh lực của Logos, bốn dĩ thái vũ trụ.
105. This is the higher perspective, the perspective of the arupa planes of the cosmic ethers.
105. Đây là viễn tượng cao hơn, viễn tượng của các cõi vô sắc của các dĩ thái vũ trụ.
106. So we have two perspectives:
106. Vì vậy, chúng ta có hai viễn tượng:
a. The material perspective
a. Viễn tượng vật chất
b. The ethereal perspective
b. Viễn tượng dĩ thái
What we understand by the fifth principle is but the expression on the causal plane of that force or energy which emanates from the logoic causal body on the fifth cosmic plane, via the logoic correspondence to the mental unit.
Điều chúng ta hiểu là nguyên khí thứ năm chỉ là sự biểulộ trên cõi nguyên nhân của mãnh lực hay năng lượng phát ra từ thể nguyên nhân của Logos trên cõi vũ trụ thứ năm, thông qua đối phần của Logos với đơn vị hạ trí.
107. It becomes evident that the Logos has a mental unit. This lifts the existence of the mental unit from being a special instance applicable only to the human being.
107. Rõ ràng là Logos có một đơn vị hạ trí. Điều này nâng sự hiện hữu của đơn vị hạ trí lên khỏi chỗ là một trường hợp đặc biệt chỉ áp dụng cho con người.
108. We have to learn whether the mental unit of the Logos appears in a manner analogous to the appearance of the mental unit of humanity (a mental unit which appears on the fourth subplane of the mental plane as “instinct approximates mentality”). If the analogy holds good on the cosmic planes, we will have to speak in terms of cosmic instinct and cosmic mentality.
108. Chúng ta phải tìm hiểu xem đơn vị hạ trí của Logos có xuất hiện theo cách tương tự với sự xuất hiện của đơn vị hạ trí nơi nhân loại hay không (một đơn vị hạ trí xuất hiện trên cõi phụ thứ tư của cõi trí khi “bản năng tiến gần đến trí tuệ”). Nếu phép tương đồng này đúng trên các cõi vũ trụ, chúng ta sẽ phải nói theo thuật ngữ của bản năng vũ trụ và trí tuệ vũ trụ.
109. We are given an excellent definition of the “fifth principle” and we see that it has a cosmic source.
109. Chúng ta được trao cho một định nghĩa rất hay về “nguyên khí thứ năm”, và thấy rằng nó có một nguồn gốc vũ trụ.
110. The human mind is simply an extension of cosmic mind.
110. Trí tuệ con người chỉ đơn giản là một sự mở rộng của trí tuệ vũ trụ.
111. Who, then, really is the Thinker?
111. Vậy thì ai thật sự là Đấng Tư Tưởng?
(These correspondences involve a concept far in advance of what is possible even to an initiate at this time).
(Những tương ứng này bao hàm một khái niệm vượt xa điều có thể có ngay cả đối với một điểm đạo đồ vào lúc này).
112. By an initiate, DK means an initiate of the third degree, at least.
112. Khi nói đến một điểm đạo đồ, Chân sư DK muốn nói ít nhất là một điểm đạo đồ cấp ba.
113. We are given a correspondence involving the cosmic mental plane, but for us it must remain only a correspondence, the factual nature of which is entirely beyond our range of immediately possible experience.
113. Chúng ta được trao cho một tương ứng liên quan đến cõi trí vũ trụ, nhưng đối với chúng ta nó chỉ có thể vẫn là một tương ứng mà bản chất sự kiện của nó hoàn toàn vượt ngoài phạm vi kinh nghiệm có thể có ngay tức khắc của chúng ta.
In the fifth round, the inner significance may become more apparent to the disciple.
Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, thâm nghĩa bên trong có thể trở nên hiển nhiên hơn đối với đệ tử.
114. What is suggested is that the relationship between man and the Solar Angels may be much greater in the fifth round than it is now. In that case, an understanding of the fifth principle, as it originates from the cosmic mental plane, will probably be clearer.
114. Điều được gợi ý là mối liên hệ giữa con người và các Thái dương Thiên Thần có thể lớn lao hơn nhiều trong cuộc tuần hoàn thứ năm so với hiện nay. Trong trường hợp đó, sự thấu hiểu nguyên khí thứ năm, như nó phát sinh từ cõi trí vũ trụ, có lẽ sẽ rõ ràng hơn.
115. The numerical resonance then in effect will facilitate this understanding.
115. Khi ấy, sự cộng hưởng số học đang có hiệu lực sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự thấu hiểu này.
As the logoic will is gradually transmuted into desire and thus the physical incarnation is produced,
Khi ý chí của Logos dần dần được chuyển hoá thành dục vọng và như thế sự lâm phàm hồng trần được tạo ra,
116. We note the sequence for the production of incarnation—will/desire/incarnation.
116. Chúng ta lưu ý chuỗi trình tự tạo ra sự lâm phàm—ý chí/dục vọng/lâm phàm.
a tremendous downflow of vitalising force from the fifth cosmic plane takes place, until it arrives at our fifth plane, the mental.
một dòng tuôn đổ mãnh liệt của mãnh lực tiếp sinh lực từ cõi vũ trụ thứ năm diễn ra, cho đến khi nó đến cõi thứ năm của chúng ta, cõi trí.
117. We are seeing that not only is human individualization a planetary event involving the Planetary Logos but, apparently, a solar logoic event.
117. Chúng ta thấy rằng không chỉ biệt ngã hóa của con người là một biến cố hành tinh liên quan đến Hành Tinh Thượng Đế mà rõ ràng còn là một biến cố của Thái dương Thượng đế.
118. There is no certainty whether the term “Logos” (in the past few sections of text) has meant Planetary Logos or Solar Logos. Maybe the term “the three worlds” gives the clue.
118. Không có gì chắc chắn rằng thuật ngữ “Logos” (trong vài đoạn văn vừa qua) có nghĩa là Hành Tinh Thượng Đế Hành Tinh hay Thái dương Thượng đế. Có lẽ thuật ngữ “ba cõi giới” cho ta đầu mối.
119. It probably does not make that much difference as it can be inferred that because the Solar Logos is undergoing a type of fourth initiation through our Earth-scheme, He is probably involved in the initiation undergone by our Planetary Logos as human individualization takes place and a dense physical plane is appropriated.
119. Có lẽ điều đó không tạo nên khác biệt quá lớn, vì có thể suy ra rằng bởi Thái dương Thượng đế đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư thông qua hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta, nên có lẽ Ngài có liên quan đến cuộc điểm đạo mà Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta trải qua khi sự biệt ngã hóa của con người diễn ra và một cõi hồng trần đậm đặc được chiếm hữu.
This force it is which—at the correct cyclic moment — causes certain eventualities in time and space and in the three worlds, His dense physical body.
Chính mãnh lực này—vào đúng thời điểm chu kỳ—gây ra những kết quả nhất định trong thời gian và không gian và trong ba cõi giới, thể xác hồng trần đậm đặc của Ngài.
120. The “force” of which we are speaking is the force from the fifth cosmic plane, emanating form the logoic causal body.
120. “Mãnh lực” mà chúng ta đang nói đến là mãnh lực từ cõi vũ trụ thứ năm, phát ra từ thể nguyên nhân của Logos.
121. We wondered whether DK had been talking of the appearance of the objective vehicle of a Logos or of the infusion of the already present lower vehicles of that Logos by the higher principles of that Logos. The latter option seemed to be correct. When we think of how the coming of Sanat Kumara is described, His coming pertains to the second process.
121. Chúng ta đã tự hỏi liệu Chân sư DK đang nói về sự xuất hiện của vận cụ khách quan của một Logos hay về sự thấm nhập của các vận cụ thấp vốn đã hiện diện của Logos ấy bởi các nguyên khí cao hơn của Logos ấy. Phương án sau dường như là đúng. Khi nghĩ đến cách sự giáng lâm của Đức Sanat Kumara được mô tả, sự giáng lâm của Ngài thuộc về tiến trình thứ hai.
122. DK now seems to be switching between solar logoic and planetary events and will be speaking of the actual tangible appearance of the physical body of a Logos—whether solar or planetary.
122. Giờ đây Chân sư DK dường như đang chuyển đổi giữa các biến cố của Thái dương Thượng đế và các biến cố hành tinh, và sẽ nói về sự xuất hiện thực sự hữu hình của thể xác hồng trần của một Logos—dù là thái dương hay hành tinh.
123. From what is said in the section immediately following, it appears that we will first be speaking of the Solar Logos and then of Planetary Logoi.
123. Từ điều được nói trong đoạn ngay sau đây, có vẻ như trước hết chúng ta sẽ nói về Thái dương Thượng đế rồi sau đó về các Hành Tinh Thượng Đế.
The first of these events is the appropriation by the Logos of that dense physical vehicle, and the flashing into manifestation [Page 692] of the physical Sun and the physical planets.
Biến cố thứ nhất trong số này là sự chiếm hữu bởi Logos vận cụ hồng trần đậm đặc ấy, và sự lóe bừng vào biểu hiện [Page 692] của Mặt Trời hồng trần và các hành tinh hồng trần.
124. We are speaking of certain great cosmic/systemic events.
124. Chúng ta đang nói về một số biến cố vũ trụ/hệ thống lớn lao.
125. We are definitely speaking of the objectification of the solar system of the Solar Logos. This is the literal appearance of the dense physical plane.
125. Chúng ta rõ ràng đang nói về sự khách thể hóa của hệ mặt trời của Thái dương Thượng đế. Đây là sự xuất hiện theo nghĩa đen của cõi hồng trần đậm đặc.
126. We had also been speaking of another kind of appropriation which was equivalent to a greater presence or focus of consciousness by a Logos in His lower vehicles.
126. Chúng ta cũng đã nói về một loại chiếm hữu khác tương đương với một sự hiện diện hay một tiêu điểm tâm thức lớn hơn của một Logos trong các vận cụ thấp của Ngài.
127. For the Solar Logos, this “appropriation” must be a type of initiation just as the appropriation of a dense physical body by our Planetary Logos is a type of initiation.
127. Đối với Thái dương Thượng đế, sự “chiếm hữu” này hẳn phải là một loại điểm đạo, cũng như việc Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta chiếm hữu một thể xác hồng trần đậm đặc là một loại điểm đạo.
128. Even the physical Sun does not flash into manifestation without an impulse from the logoic egoic lotus on the cosmic mental plane.
128. Ngay cả Mặt Trời hồng trần cũng không lóe bừng vào biểu hiện nếu không có một xung lực từ Hoa Sen Chân Ngã của Logos trên cõi trí vũ trụ.
Though this, from our standpoint, covers an inconceivably vast period of time, to the Logos it is but the brief period of gestation which all bodies undergo.
Mặc dù điều này, từ quan điểm của chúng ta, bao trùm một khoảng thời gian rộng lớn không thể nghĩ bàn, đối với Logos đó chỉ là thời kỳ thai nghén ngắn ngủi mà mọi thể đều phải trải qua.
129. The Hindu Chronology indicates to us how long a solar system may last—100 Years of Brahma. Much of the duration of a manifestation of a Solar Logos occurs ‘above’ the cosmic physical plane and certainly above the dense layers of the cosmic physical plane.
129. Niên đại học Ấn Độ cho chúng ta biết một hệ mặt trời có thể kéo dài bao lâu—100 Năm của Brahma. Phần lớn thời lượng của một biểu hiện của Thái dương Thượng đế diễn ra “bên trên” cõi hồng trần vũ trụ và chắc chắn ở bên trên các tầng đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ.
130. The process here discussed has probably occurred a number of times—once for each incarnation of our Solar Logos.
130. Tiến trình được bàn ở đây có lẽ đã xảy ra nhiều lần—mỗi lần cho một lần lâm phàm của Thái dương Thượng đế của chúng ta.
131. We are speaking of a kind of cosmic birth which, naturally, must be preceded by a cosmic gestation process.
131. Chúng ta đang nói về một loại sinh ra vũ trụ mà dĩ nhiên phải được đi trước bởi một tiến trình thai nghén vũ trụ.
132. The cosmic gestation process must occur on planes other than those on which the physical body of a Solar Logos (or Planetary Logos) appears.
132. Tiến trình thai nghén vũ trụ phải diễn ra trên những cõi khác với những cõi mà trên đó thể xác hồng trần của một Thái dương Thượng đế (hay Hành Tinh Thượng Đế) xuất hiện.
133. To the perception of man such a process would be invisible and would occur on the cosmic ethers, on the cosmic astral plane and also the cosmic mental plane.
133. Đối với tri giác của con người, một tiến trình như thế sẽ là vô hình và sẽ diễn ra trên các dĩ thái vũ trụ, trên cõi cảm dục vũ trụ và cả cõi trí vũ trụ.
A second momentous occurrence is the appropriation by the various Prajapatis,30 or Heavenly Men of their physical bodies—again at varying times and according to their evolutionary stage.
Một biến cố trọng đại thứ hai là sự chiếm hữu bởi các Prajapatis,30 hay Đấng Thiên Nhân, các thể xác hồng trần của Các Ngài—một lần nữa vào những thời điểm khác nhau và tùy theo giai đoạn tiến hoá của Các Ngài.
134. In answer to our questions above regarding the focus of DK’s thoughts (whether solar logoic or planetary logoic), it appears that we are speaking about both solar logoic processes and planetary logoic processes.
134. Để trả lời những câu hỏi ở trên của chúng ta về tiêu điểm tư tưởng của Chân sư DK (dù là tiến trình của Thái dương Thượng đế hay của Hành Tinh Thượng Đế), có vẻ như chúng ta đang nói về cả các tiến trình của Thái dương Thượng đế lẫn các tiến trình của Hành Tinh Thượng Đế.
135. DK is speaking of the way in which these great Beings appropriate bodies and how They flash into objectivity.
135. Chân sư DK đang nói về cách các Hữu Thể Vĩ Đại này chiếm hữu các thể và cách Các Ngài lóe bừng vào tính khách quan.
136. To review—there may be at least two approaches to appropriating a dense physical vehicle:
136. Để ôn lại—có thể có ít nhất hai cách tiếp cận đối với việc chiếm hữu một vận cụ hồng trần đậm đặc:
a. In the first of these approaches the focus is on the way in which the dense physical vehicle of the Logos or Planetary Logos appears, or flashes into objectivity.
a. Trong cách tiếp cận thứ nhất, trọng tâm là cách vận cụ hồng trần đậm đặc của Logos hay Hành Tinh Thượng Đế xuất hiện, hay lóe bừng vào tính khách quan.
b. In the second of these approaches, the focus in on the way in which Logos or Planetary Logos creates an especially focal presence within the already objectified dense physical vehicle. This, too, is called “taking an incarnation”.
b. Trong cách tiếp cận thứ hai, trọng tâm là cách Logos hay Hành Tinh Thượng Đế tạo ra một sự hiện diện đặc biệt tập trung bên trong vận cụ hồng trần đậm đặc đã được khách thể hóa. Điều này cũng được gọi là “đảm nhận một lần lâm phàm”.
137. We note that not all Prajapatis appropriate a physical body at the same time. The time of appropriation depends somewhat on Their evolutionary status, though there is not necessarily an easy formula to determine this and to compare evolutionary status to any easily understood sequence of planetary manifestation.
137. Chúng ta lưu ý rằng không phải mọi Prajapati đều chiếm hữu một thể xác hồng trần cùng một lúc. Thời điểm chiếm hữu phần nào tùy thuộc vào tình trạng tiến hoá của Các Ngài, dù không nhất thiết có một công thức dễ dàng để xác định điều này và để so sánh tình trạng tiến hoá với bất kỳ trình tự biểu hiện hành tinh nào dễ hiểu.
138. When we speak of the physical body of a Prajapati, we realize that we are not only speaking of the manifestation upon the systemic dense physical plane, but upon the cosmic dense physical plane, which includes the systemic astral and mental planes.
138. Khi nói về thể xác hồng trần của một Prajapati, chúng ta nhận ra rằng mình không chỉ nói về sự biểu hiện trên cõi hồng trần đậm đặc của hệ thống, mà còn trên cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ, vốn bao gồm các cõi cảm dục và cõi trí của hệ thống.
30: Prajapatis. The Progenitors; the givers of life to all on this
30: Prajapatis. Những Đấng Sinh Thành; những Đấng ban sự sống cho mọi sự trên
earth. They are seven and then ten corresponding to the seven and ten Sephiroth.
địa cầu này. Có bảy vị rồi đến mười vị, tương ứng với bảy và mười Sephiroth.
139. The numbering of the Prajapatis is related to the Tree of Life.
139. Số lượng các Prajapati có liên hệ với Cây Sự Sống.
140. As we have often stated, in occultism, whenever there is a seven there is implied a ten.
140. Như chúng ta thường nói, trong huyền bí học, hễ có bảy thì hàm ý có mười.
141. The Progenitors give life not only to “this earth” but to all the planets which are Their vehicles.
141. Những Đấng Sinh Thành không chỉ ban sự sống cho “địa cầu này” mà còn cho mọi hành tinh là các vận cụ của Các Ngài.
Cosmically, they are the seven Rishis of the Great Bear;
Về mặt vũ trụ, Các Ngài là bảy Rishi của Đại Hùng Tinh;
142. The Seven Rishis correspond to the Seven Planetary Logoi. There are systemic Prajapatis (the seven major Planetary Logoi) and cosmic Prajapatis (the seven Rishis of the Great Bear).
142. Bảy Rishi tương ứng với Bảy Hành Tinh Thượng Đế. Có các Prajapati của hệ thống (bảy Hành Tinh Thượng Đế chính) và các Prajapati vũ trụ (bảy Rishi của Đại Hùng Tinh).
143. We might think of the Seven Rishis as giving life to each of the "Seven Solar Systems of Which Ours is One" as well as to the lesser Prajapatis—the Planetary Logoi.
143. Chúng ta có thể nghĩ đến Bảy Rishi như ban sự sống cho từng “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một” cũng như cho các Prajapati nhỏ hơn—các Hành Tinh Thượng Đế.
systemically they are the seven planetary Logoi, and from the standpoint of our planet they are the seven Kumaras. [see S.D. I, 109, 122, 459, 661; II, 33, 36; note 80.]
về mặt hệ thống, Các Ngài là bảy Hành Tinh Thượng Đế, và từ quan điểm của hành tinh chúng ta, Các Ngài là bảy Kumara. [xem Giáo Lý Bí Nhiệm I, 109, 122, 459, 661; II, 33, 36; chú thích 80.]
144. We are given some important correspondences: The Seven Rishis are reflected in the Seven Planetary Logoi, Who are reflected (on our planet at least) by our “Seven Kumaras” of which Sanat Kumara is One (the First Kumara as well as the Fourth Kumara).
144. Chúng ta được trao cho một số tương ứng quan trọng: Bảy Rishi được phản chiếu trong Bảy Hành Tinh Thượng Đế, các Ngài này lại được phản chiếu (ít nhất trên hành tinh chúng ta) bởi “Bảy Kumara” của chúng ta mà Đức Sanat Kumara là Một trong số đó (Kumara Thứ Nhất cũng như Kumara Thứ Tư).
This is of later date for the seven than for the three.
Điều này đến muộn hơn đối với bảy vị so với ba vị.
145. Are we speaking here of the appropriation by Prajapatis of dense physical bodies?
145. Ở đây có phải chúng ta đang nói về việc các Prajapati chiếm hữu các thể xác hồng trần đậm đặc không?
146. We seem to be given certain hints about the moment of objectification of the Heavenly Men.
146. Có vẻ như chúng ta được trao cho một số gợi ý về thời điểm khách thể hóa của các Đấng Thiên Nhân.
147. Is it here suggested that the three greater Heavenly Men appropriate Their dense physical bodies earlier in the solar systemic process than the lesser Planetary Logoi (even thought they may unfold later in the solar systemic process than the lesser Planetary Logoi).
147. Ở đây có phải đang gợi ý rằng ba Đấng Thiên Nhân lớn hơn chiếm hữu các thể xác hồng trần đậm đặc của Các Ngài sớm hơn trong tiến trình hệ mặt trời so với các Hành Tinh Thượng Đế nhỏ hơn (dù các Ngài có thể khai mở muộn hơn trong tiến trình hệ mặt trời so với các Hành Tinh Thượng Đế nhỏ hơn).
148. Since, however, the planet Venus lasts throughout the mahamanvantara, a complication arises, since Venus is, obviously, not one of the synthesizing planets or of the true Greater Three. It is however the conduit for one of the three super-principles at this particular phase of solar systemic development.
148. Tuy nhiên, vì hành tinh Sao Kim tồn tại suốt Đại giai kỳ sinh hóa, nên nảy sinh một sự phức tạp, vì Sao Kim rõ ràng không phải là một trong các hành tinh tổng hợp hay thuộc về Ba Đấng Vĩ Đại đích thực. Tuy vậy, nó là ống dẫn cho một trong ba siêu nguyên khí ở giai đoạn đặc biệt này của sự phát triển hệ mặt trời.
An idea of the meaning of this distinction can be gleaned by the student, as he studies the process of the incarnating ego.
Đạo sinh có thể lĩnh hội được một ý niệm về ý nghĩa của sự phân biệt này khi y nghiên cứu tiến trình của chân ngã đang lâm phàm.
149. When matters become abstruse, we must resort to the clarifying power of analogy. We focus on what we can grasp in the attempt to fathom the dimension outlines of what we cannot yet grasp.
149. Khi các vấn đề trở nên quá trừu tượng, chúng ta phải dùng đến năng lực làm sáng tỏ của phép tương đồng. Chúng ta tập trung vào điều mình có thể nắm bắt trong nỗ lực dò thấu những đường nét chiều kích của điều mình chưa thể nắm bắt.
What do we consequently find? First of all, impulse, or the will-to-be, emanating from the mental plane; then desire, emanating from the astral plane, producing manifestation on the dense physical.
Vậy hệ quả là chúng ta thấy gì? Trước hết là xung lực, hay ý chí-tồn tại, phát ra từ cõi trí; rồi đến dục vọng, phát ra từ cõi cảm dục, tạo ra sự biểu hiện trên cõi hồng trần đậm đặc.
150. This is the normal manifestational process which occurs within the microcosm.
150. Đây là tiến trình biểu hiện bình thường xảy ra trong tiểu thiên địa.
151. The will-to-be is followed by desire which, in turn, is followed body the manifestation of the dense physical body.
151. Ý chí-tồn tại được tiếp theo bởi dục vọng, rồi đến lượt nó được tiếp theo bởi sự biểu hiện của thể xác hồng trần đậm đặc.
This idea must be extended to the three Logoi or logoic Aspects and we then have the key to the mystery of the nine Sephiroth, the triple Trimurti.
Ý tưởng này phải được mở rộng đến ba Logos hay các Phương diện của Logos, và khi ấy chúng ta có chìa khóa cho huyền nhiệm của chín Sephiroth, Tam Vị Trimurti.
152. We are speaking of the logoic Trinity surrounding the Solar Logos.
152. Chúng ta đang nói về Ba Ngôi của Logos bao quanh Thái dương Thượng đế.
153. The “three Logoi or logoic Aspects” do not express through only one planet, but through three at a time.
153. “Ba Logos hay các Phương diện của Logos” không biểu lộ chỉ qua một hành tinh, mà qua ba hành tinh cùng một lúc.
154. We might wonder whether the objectifications of the Planetary Logoi, per se, begin to appear as the “three Logoi or logoic Aspects” move towards manifestation.
154. Chúng ta có thể tự hỏi liệu các sự khách thể hóa của chính các Hành Tinh Thượng Đế có bắt đầu xuất hiện khi “ba Logos hay các Phương diện của Logos” tiến về phía biểu hiện hay không.
155. To clarify these thoughts we should consult EP II, 99.
155. Để làm sáng tỏ những tư tưởng này, chúng ta nên tham khảo EP II, 99.
156. The three great Lives which each express through three of our usual planets are, it seems, involved with the nine Sephiroth and the “triple Trimurti”.
156. Ba Sự sống lớn, mỗi Sự sống biểu lộ qua ba hành tinh quen thuộc của chúng ta, dường như có liên quan đến chín Sephiroth và “Tam Vị Trimurti”.
157. The three groups are:
157. Ba nhóm là:
a. Earth, Mars and Saturn for the Third Ray Life
a. Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thổ cho Sự Sống Cung ba
b. Venus, Jupiter and Uranus for the Second Ray Life
b. Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thiên Vương cho Sự Sống Cung hai
c. Vulcan, Neptune and Pluto for the First Ray Life
c. Vulcan, Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương cho Sự Sống Cung một
d. Mercury, the Divine Intermediary, links all together and is not associated with any one of these Great logoic Lives.
d. Sao Thủy, Đấng Trung Gian thiêng liêng, liên kết tất cả lại với nhau và không gắn với bất kỳ một Sự Sống logoic Vĩ Đại nào trong số này.
158. Given what we know about the mahamanvantaric duration of Venus, however, it is difficult to say that the planets appear in order of the appearance of the Three Logoi containing them (in the usual three, two, one sequence).
158. Tuy nhiên, xét theo điều chúng ta biết về thời lượng Đại giai kỳ sinh hóa của Sao Kim, thật khó để nói rằng các hành tinh xuất hiện theo thứ tự xuất hiện của Ba Thượng đế chứa đựng chúng (theo trình tự thông thường ba, hai, một).
159. What we are suggesting is that the third aspect of divinity usually manifests first in the threefold sequence, followed by the second aspect and finally by the first aspect.
159. Điều chúng tôi muốn gợi ý là phương diện thứ ba của thiên tính thường biểu hiện trước tiên trong trình tự tam phân, tiếp theo là phương diện thứ hai và sau cùng là phương diện thứ nhất.
The other event might be noted,—the appropriation at a still later period in time and space by the individual Monads of their bodies of manifestation.
Biến cố khác cũng có thể được lưu ý,—đó là sự chiếm hữu, vào một thời kỳ còn muộn hơn nữa trong thời gian và không gian, của các chân thần cá biệt đối với các thể biểu hiện của chúng.
112. We continue to discuss “certain eventualities in time and space”.
112. Chúng ta tiếp tục bàn đến “một số khả tính chung cuộc trong thời gian và không gian”.
113. We are dealing with three periods of appropriation:
113. Chúng ta đang đề cập đến ba thời kỳ chiếm hữu:
a. The appropriation of the Solar Logos of a body of manifestation
a. Sự chiếm hữu của Thái dương Thượng đế đối với một thể biểu hiện
b. The appropriation by the Planetary Logoi or Prajapatis or Progenitors of a body of manifestation.
b. Sự chiếm hữu của các Hành Tinh Thượng Đế hay các Prajapati hay các Đấng Tiên Tổ đối với một thể biểu hiện.
c. The appropriation by the “individual Monads” of a body of manifestation.
c. Sự chiếm hữu của các “chân thần cá biệt” đối với một thể biểu hiện.
114. We note, here, that the Monads are called “individual”—a term usually reserved to the individualized aspects of them expressing through egoic lotuses.
114. Ở đây, chúng ta lưu ý rằng các chân thần được gọi là “cá biệt”—một thuật ngữ thường dành cho các phương diện đã được biệt ngã hóa của chúng đang biểu lộ qua các hoa sen chân ngã.
The pouring in of this force of energy, emanating from the fifth logoic Principle, brings about two things:
Sự tuôn đổ vào của mãnh lực năng lượng này, phát ra từ nguyên khí logoic thứ năm, đem lại hai điều:
The appropriation by the sevenfold Logos of His dense physical body.
Sự chiếm hữu của Thượng đế thất phân đối với thể xác đậm đặc của Ngài.
The appearance on the fifth systemic plane of the causal bodies of the human Monads.
Sự xuất hiện trên cõi thứ năm của hệ thống của các thể nguyên nhân của các chân thần nhân loại.
160. These two statements are in the nature of a review of what has been stated in the foregoing sections of text.
160. Hai phát biểu này có tính chất như một sự điểm lại những gì đã được trình bày trong các phần văn bản trước.
161. The two occurrences are separated by a vast period of time.
161. Hai biến cố này cách nhau bởi một khoảng thời gian mênh mông.
162. This appearance of the causal bodies does not, as we have studied, occur at the same time with regard to all the Planetary Logoi.
162. Như chúng ta đã nghiên cứu, sự xuất hiện này của các thể nguyên nhân không xảy ra đồng thời đối với mọi Hành Tinh Thượng Đế.
163. Once the Solar Logos has flashed forth into physical manifestation through the physical Sun and the dense physical bodies of planets, it will be a very long time before the causal bodies of the human Monads appear on the fifth systemic plane. A number of systemic, scheme and chain rounds must run their courses.
163. Một khi Thái dương Thượng đế đã bừng phát vào biểu hiện hồng trần qua Mặt Trời vật lý và các thể xác đậm đặc của các hành tinh, thì sẽ còn rất lâu nữa trước khi các thể nguyên nhân của các chân thần nhân loại xuất hiện trên cõi thứ năm của hệ thống. Một số cuộc tuần hoàn của hệ thống, hệ hành tinh và dãy phải hoàn tất tiến trình của chúng.
164. Intermediary between these processes is the process of the appearance of the dense physical bodies of the Planetary Logoi.
164. Trung gian giữa các tiến trình này là tiến trình xuất hiện của các thể xác đậm đặc của các Hành Tinh Thượng Đế.
or
hay
For the greater Life it was incarnation.
Đối với Sự sống lớn hơn, đó là sự lâm phàm.
165. We are learning that the appearance of the dense physical body of the Solar Logos should not be called “Individualization”. Perhaps the time of that type of cosmic individualization occurred five solar systems ago when He Who is now the Solar Logos expressed in a completely physical incarnation—a cosmically Lemurian incarnation.
165. Chúng ta đang học rằng sự xuất hiện của thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế không nên được gọi là “Biệt ngã hóa”. Có lẽ thời điểm của loại biệt ngã hóa vũ trụ ấy đã xảy ra cách đây năm hệ mặt trời khi Đấng hiện nay là Thái dương Thượng đế biểu lộ trong một lần lâm phàm hoàn toàn hồng trần—một lần lâm phàm Lemuria theo nghĩa vũ trụ.
For the lesser lives it was individualisation.
Đối với các sự sống nhỏ hơn, đó là sự biệt ngã hóa.
166. The pouring in of force from the fifth cosmic plane causes these two events (really three, if the appropriation of a body of manifestation by the Planetary Logoi is considered), but the events take a long time to occur. That which is caused, is caused in sequence and not simultaneously, although in The Secret Doctrine we are told that the Sun and His seven Brothers appeared more or less simultaneously—as comets!
166. Sự tuôn đổ vào của mãnh lực từ cõi vũ trụ thứ năm gây ra hai biến cố này (thật ra là ba, nếu tính cả sự chiếm hữu một thể biểu hiện của các Hành Tinh Thượng Đế), nhưng các biến cố ấy cần một thời gian dài mới xảy ra. Điều được gây ra, được gây ra theo trình tự chứ không đồng thời, mặc dù trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta được cho biết rằng Mặt Trời và bảy Huynh Đệ của Ngài đã xuất hiện gần như đồng thời—như những sao chổi!
167. It is probable that for each type of conscious L/life there is a period and type of individualization unique to the nature and scope of that L/life.
167. Có lẽ đối với mỗi loại Sự sống/sự sống có tâm thức đều có một thời kỳ và một loại biệt ngã hóa độc nhất theo bản chất và tầm mức của Sự sống/sự sống ấy.
168. A human Monad has its own kind of individualization; so does a Planetary Logos (an Individualization of a cosmic nature). A Planetary Logos did not individualize as a human Monad but as a planetary logoic Monad. A Solar Logos also has its own kind of Individualization (also of a cosmic nature).
168. Một chân thần nhân loại có loại biệt ngã hóa riêng của nó; một Hành Tinh Thượng Đế cũng vậy (một sự Biệt ngã hóa có bản chất vũ trụ). Một Hành Tinh Thượng Đế đã không biệt ngã hóa như một chân thần nhân loại mà như một chân thần hành tinh logoic. Một Thái dương Thượng đế cũng có loại Biệt ngã hóa riêng của Ngài (cũng mang bản chất vũ trụ).
169. This means, for instance, that although the units of life (Monads) which go to the formation of the centres of a Planetary Logos undergo a type of microcosmic individualization, the Planetary Logos as a group Being consisting of many microcosmically individualized Monads, undergoes a kind of cosmic Individualization which is far in advance of the individualization undergone by a human Monad. An extension and elevation of this process can be applied to the individualization of a Solar Logos.
169. Điều này có nghĩa, chẳng hạn, rằng mặc dù các đơn vị sự sống (các chân thần) góp phần tạo thành các trung tâm của một Hành Tinh Thượng Đế trải qua một loại biệt ngã hóa tiểu thiên địa, thì Hành Tinh Thượng Đế, với tư cách một Hữu thể nhóm gồm nhiều chân thần đã được biệt ngã hóa theo cách tiểu thiên địa, lại trải qua một loại Biệt ngã hóa vũ trụ vượt xa sự biệt ngã hóa mà một chân thần nhân loại trải qua. Sự mở rộng và nâng cao của tiến trình này có thể được áp dụng cho sự biệt ngã hóa của một Thái dương Thượng đế.
170. The matter is not easy to solve. Microcosmic individualization and cosmic Individualization (experienced by Planetary Logoi, Solar Logoi and Cosmic Logoi) are each of a very different nature, and each of these type of Individualization is distinct.
170. Vấn đề này không dễ giải quyết. Biệt ngã hóa tiểu thiên địa và Biệt ngã hóa vũ trụ (được các Hành Tinh Thượng Đế, các Thái dương Thượng đế và các Vũ trụ Thượng đế kinh nghiệm) mỗi loại đều có bản chất rất khác nhau, và mỗi loại Biệt ngã hóa này đều riêng biệt.
This needs pondering upon.
Điều này cần được suy ngẫm.
115. We can do that, but the entire question will remain obscure until we understand how groups of Solar Angels ‘become’ Planetary Logoi and how groups of Planetary Logoi ‘become’ Solar Logoi, etc.
115. Chúng ta có thể làm điều đó, nhưng toàn bộ vấn đề vẫn sẽ còn mờ tối cho đến khi chúng ta hiểu được cách các nhóm Thái dương Thiên Thần “trở thành” các Hành Tinh Thượng Đế và cách các nhóm Hành Tinh Thượng Đế “trở thành” các Thái dương Thượng đế, v.v.
116. What might be called the ‘cosmic, pyramidal, amalgamative group process’ must be fathomed.
116. Điều có thể được gọi là “tiến trình nhóm vũ trụ, hình tháp, dung hợp” phải được thấu hiểu.
117. The trouble lies with our understanding of the principle of hierarchy in a cosmic sense. Is it built up from below or does it descend from above or both?
117. Khó khăn nằm ở sự thấu hiểu của chúng ta về nguyên lý thứ bậc theo một nghĩa vũ trụ. Nó được xây dựng từ dưới lên, hay giáng xuống từ trên, hay là cả hai?
[Page 693]
[Page 693]
It will, therefore, be apparent to all thinkers why this fifth principle stirred the third aspect into self-conscious activity.
Do đó, mọi nhà tư tưởng sẽ thấy rõ vì sao nguyên khí thứ năm này đã khuấy động phương diện thứ ba vào hoạt động ngã thức.
171. DK has been explaining how it happened.
171. Chân sư DK đã giải thích điều đó đã xảy ra như thế nào.
172. It seems that a dual stimulation (both systemically-buddhic relating to the chakras of the Planetary Logos or Solar Logos, and cosmically mental) was applied, and that causal bodies arose simultaneously with a bridging initiative (towards the third aspect) from the Fifth Creative Hierarchy which represents the far greater energy from the cosmic mental plane.
172. Dường như một sự kích thích kép (vừa có tính hệ thống-Bồ đề liên hệ đến các luân xa của Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế, vừa có tính trí tuệ vũ trụ) đã được áp dụng, và các thể nguyên nhân phát sinh đồng thời với một sáng kiến bắt cầu (hướng tới phương diện thứ ba) từ Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, vốn tượng trưng cho năng lượng lớn lao hơn nhiều từ cõi trí vũ trụ.
(b.) Hylozoistically considered.31
(b.) Xét theo thuyết vật hoạt luận.31
31: Hylozoism:—From Greek "ule," matter; "zoon," animal; and "ism." Ism is a suffix embodying the doctrine or abstract idea of the noun to which it is attached. Hylozoism is the doctrine that all matter is endowed with life.
31: Hylozoism:—Từ tiếng Hy Lạp "ule", vật chất; "zoon", động vật; và "ism". Ism là một tiếp vĩ ngữ bao hàm học thuyết hay ý niệm trừu tượng của danh từ mà nó gắn vào. Thuyết vật hoạt luận là học thuyết cho rằng mọi vật chất đều được phú cho sự sống.
173. It is most needed that this doctrine enter modern thought. Its entry would end the illusory split in men’s minds as they consider that which appears to them as ‘alive’ or organic and that which appears ‘dead’ or inorganic—animate and inanimate substance.
173. Học thuyết này hết sức cần được đưa vào tư tưởng hiện đại. Sự đi vào của nó sẽ chấm dứt sự phân chia ảo tưởng trong tâm trí những người nam và nữ khi họ xem xét điều hiện ra với họ là “sống” hay hữu cơ và điều hiện ra là “chết” hay vô cơ—chất liệu hữu sinh và vô sinh.
"When we have attained to this conception of hylozoism of a living material universe, the mystery of nature will be solved."—Standard Dictionary.
"Khi chúng ta đạt tới quan niệm này về thuyết vật hoạt luận của một vũ trụ vật chất sống động, thì bí ẩn của thiên nhiên sẽ được giải quyết."—Từ điển Chuẩn.
118. The universe is to be considered one great, animated, living ‘body’.
118. Vũ trụ phải được xem là một “thể” vĩ đại, sống động, được linh hoạt.
119. The Doctrine of Hylozoism helps us overcome the “Great Heresy of Separateness”.
119. Học thuyết Vật Hoạt Luận giúp chúng ta vượt qua “Đại Tà thuyết về sự tách biệt”.
In continuing our consideration of the fifth logoic Principle, we will now view it in its hylozoistic aspect. We have seen that it can be regarded as the force, the energy or the quality which emanates from the logoic mental unit on the cosmic mental plane;
Khi tiếp tục xem xét nguyên khí logoic thứ năm, giờ đây chúng ta sẽ nhìn nó trong phương diện vật hoạt luận của nó. Chúng ta đã thấy rằng nó có thể được xem như mãnh lực, năng lượng hay phẩm tính phát ra từ đơn vị hạ trí logoic trên cõi trí vũ trụ;
174. If analogy holds, the logoic mental unit will be found on the fourth cosmic subplane of the cosmic mental plane.
174. Nếu định luật tương đồng đúng, đơn vị hạ trí logoic sẽ được tìm thấy trên cõi phụ vũ trụ thứ tư của cõi trí vũ trụ.
175. We suspect, however, that the energy pouring through the logoic mental unit must originate within the logoic causal body or egoic lotus. There does not seem to be any good reason to exclude the cosmic higher mental plane as the Source of the fifth principle or of logoic manas.
175. Tuy nhiên, chúng ta nghi ngờ rằng năng lượng tuôn qua đơn vị hạ trí logoic hẳn phải phát sinh bên trong thể nguyên nhân logoic hay hoa sen chân ngã. Dường như không có lý do xác đáng nào để loại trừ cõi thượng trí vũ trụ như là Nguồn của nguyên khí thứ năm hay của manas logoic.
176. In fact, Sources can be inferred upon the Super-Cosmic Planes.
176. Thật ra, có thể suy ra các Nguồn trên các cõi Siêu Vũ Trụ.
this necessarily has a definite effect on the fifth systemic plane,
điều này tất yếu có một tác động xác định trên cõi thứ năm của hệ thống,
177. Presumably, on the entirety of the fifth systemic plane.
177. Có lẽ là trên toàn thể cõi thứ năm của hệ thống.
and on the fifth subplane of the physical plane, the gaseous.
và trên cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, tức cõi khí.
178. On the entirety of the systemic gaseous plane and not on four sevenths of it.
178. Trên toàn thể cõi khí của hệ thống chứ không phải trên bốn phần bảy của nó.
Before taking up the subject of the Agnishvattas in detail, there are three points which should be borne in mind.
Trước khi bàn chi tiết về các Agnishvatta, có ba điểm cần được ghi nhớ.
First, it should be remembered that all the planes of our system, viewing them as deva substance,
Thứ nhất, cần nhớ rằng mọi cõi của hệ thống chúng ta, nếu xem chúng như chất liệu thiên thần,
179. This means that we view our systemic planes as both elemental substance and the substance of the evolutionary devas.
179. Điều này có nghĩa là chúng ta xem các cõi hệ thống của mình vừa là chất liệu hành khí vừa là chất liệu của các thiên thần tiến hoá.
form the spirillae in the physical permanent atom of the solar Logos.
tạo thành các loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế.
180. This is another of those very important statements. Systemic planes are solar logoic spirillae.
180. Đây là một phát biểu rất quan trọng khác. Các cõi hệ thống là các loa tuyến của Thái dương Thượng đế.
181. We know that the degree of activation of the spirillae of the permanent atoms of the human beings correspond with the stage of evolution at which a human being stands. We can analogically infer that the degree of activation or stimulation of the systemic planes relates to the evolutionary stage at which a Planetary Logos or Solar Logos stands.
181. Chúng ta biết rằng mức độ hoạt hóa của các loa tuyến trong các nguyên tử trường tồn của con người tương ứng với giai đoạn tiến hoá mà một con người đang đứng ở đó. Theo phép loại suy, chúng ta có thể suy ra rằng mức độ hoạt hóa hay kích thích của các cõi hệ thống liên hệ với giai đoạn tiến hoá mà một Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế đang đứng ở đó.
This has earlier been pointed out, but needs re-emphasising here. All consciousness, all memory, all faculty is stored up in the permanent atoms, and we are consequently dealing here with that consciousness;
Điều này đã được chỉ ra trước đây, nhưng cần được nhấn mạnh lại ở đây. Mọi tâm thức, mọi ký ức, mọi năng lực đều được tích trữ trong các nguyên tử trường tồn, và do đó ở đây chúng ta đang đề cập đến tâm thức ấy;
182. We are dealing with the consciousness, memory and faculty of a Planetary Logos or Solar Logos, as that consciousness, memory or faculty applies to the cosmic physical plane.
182. Chúng ta đang đề cập đến tâm thức, ký ức và năng lực của một Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế, khi tâm thức, ký ức hay năng lực ấy được áp dụng vào cõi hồng trần vũ trụ.
183. Let us compare the memory chips of modern computer technology with the incomparably more sophisticated ‘memory chips’ represented by the permanent atoms.
183. Hãy so sánh các chip nhớ của công nghệ máy tính hiện đại với những “chip nhớ” tinh vi hơn không thể so sánh được do các nguyên tử trường tồn tượng trưng.
the student should nevertheless bear in mind that it is on the atomic subplanes that the logoic consciousness (remote as even that may be from the Reality) centres itself.
tuy vậy đạo sinh vẫn nên ghi nhớ rằng chính trên các cõi phụ nguyên tử mà tâm thức logoic (dù ngay cả điều đó vẫn còn xa với Thực Tại) tự tập trung.
184. DK may also be saying that the solar logoic consciousness expresses itself through the systemic atomic planes of the systemic planes—at least through the atomic subplanes of the cosmic ethers.
184. Chân sư DK cũng có thể đang nói rằng tâm thức thái dương logoic biểu lộ qua các cõi nguyên tử hệ thống của các cõi hệ thống—ít nhất là qua các cõi phụ nguyên tử của các dĩ thái vũ trụ.
185. If we are speaking cosmically, then the subplanes have to be considered from the cosmic perspective.
185. Nếu chúng ta đang nói theo nghĩa vũ trụ, thì các cõi phụ phải được xét từ quan điểm vũ trụ.
186. The logoic subplane of the cosmic physical plane is the atomic subplane for the cosmic physical plane. The Solar Logos will express especially through the logoic physical permanent atom on the logoic level of the cosmic physical plane.
186. Cõi phụ logoic của cõi hồng trần vũ trụ là cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Thái dương Thượng đế sẽ biểu lộ đặc biệt qua nguyên tử trường tồn hồng trần logoic trên cấp độ logoic của cõi hồng trần vũ trụ.
187. We could wonder about solar logoic expression on the atomic subplane of the cosmic astral plane. It may be that the Solar Logos is not yet developmentally ready to work with the permanent atom found on the atomic level of the cosmic mental plane.
187. Chúng ta có thể tự hỏi về sự biểu lộ thái dương logoic trên cõi phụ nguyên tử của cõi cảm dục vũ trụ. Có thể là Thái dương Thượng đế chưa sẵn sàng về mặt phát triển để làm việc với nguyên tử trường tồn được tìm thấy trên cấp độ nguyên tử của cõi trí vũ trụ.
188. The Reality of the Solar Logos is far from even His highest level of etheric expression—i.e., His expression through His physical permanent atom.
188. Thực Tại của Thái dương Thượng đế còn xa ngay cả mức biểu lộ dĩ thái cao nhất của Ngài—tức là sự biểu lộ của Ngài qua nguyên tử trường tồn hồng trần của Ngài.
This permanent atom of the solar system, which holds the same relation to the logoic physical body as the human permanent atom does to that of a man,
Nguyên tử trường tồn này của hệ mặt trời, vốn giữ cùng một tương quan với thể hồng trần logoic như nguyên tử trường tồn của con người đối với thể xác của một người,
189. We are speaking of the logoic physical permanent atom on the first or logoic cosmic subplane of the cosmic physical plane.
189. Chúng ta đang nói về nguyên tử trường tồn hồng trần logoic trên cõi phụ vũ trụ thứ nhất hay cõi phụ logoic của cõi hồng trần vũ trụ.
190. In this case the analogical relationship between man and the Solar Logos is closer than that between man and the Planetary Logos.
190. Trong trường hợp này, mối tương quan loại suy giữa con người và Thái dương Thượng đế gần hơn mối tương quan giữa con người và Hành Tinh Thượng Đế.
is a recipient of force, and is, therefore, receptive to force emanations from another extra-systemic source.
là một nơi tiếp nhận mãnh lực, và do đó tiếp nhận được các phát xạ mãnh lực từ một nguồn ngoài hệ thống khác.
191. We must be cautious when we encounter the term “extra-systemic”. It can simply mean a source which is ‘above’ the cosmic physical plane. It can also mean a source which is entirely beyond the ring-pass-not of the entire aura of the Solar Logos.
191. Chúng ta phải thận trọng khi gặp thuật ngữ “ngoài hệ thống”. Nó có thể chỉ đơn giản có nghĩa là một nguồn ở “bên trên” cõi hồng trần vũ trụ. Nó cũng có thể có nghĩa là một nguồn hoàn toàn vượt ra ngoài vòng-giới-hạn của toàn bộ hào quang của Thái dương Thượng đế.
Some idea of the illusory character of manifestation, both human and logoic, may be gathered from the relation of the permanent atoms to the rest of the structure. Apart [Page 694] from the permanent atom, the human physical body does not exist.
Một ý niệm nào đó về tính chất ảo tưởng của biểu hiện, cả nơi con người lẫn logoic, có thể được rút ra từ mối liên hệ của các nguyên tử trường tồn với phần còn lại của cấu trúc. Ngoài [Page 694] nguyên tử trường tồn ra, thể xác của con người không tồn tại.
120. The physical permanent atom has engendered the entire etheric-physical body of the human being. The physical permanent atom is, at least, relatively permanent, whereas the physical body, per se, is extremely transitory, a maya, an illusion.
120. Nguyên tử trường tồn hồng trần đã sinh ra toàn bộ thể dĩ thái-hồng trần của con người. Nguyên tử trường tồn hồng trần, ít nhất, là tương đối trường tồn, trong khi thể xác, chính nó, lại cực kỳ tạm bợ, là ảo lực, là ảo tưởng.
121. DK has referred to the physical body as a “congestion”:
121. Chân sư DK đã gọi thể xác là một “sự tắc nghẽn”:
the dense physical vehicle is not so much the result of their work as it is the result of the meeting of the seven streams of force or electricity, which causes that apparent congestion in matter that we call the dense physical planes (the three lower subplanes). This apparent congestion is, after all, but the exceeding electronic activity or energy of the mass of negative atoms awaiting the stimulation that will result from the presence of a certain number of positive atoms. This needs to be borne in mind. (TCF 321)
thể hồng trần đậm đặc không hẳn là kết quả công việc của các Ngài cho bằng là kết quả của sự gặp gỡ của bảy dòng mãnh lực hay điện lực, gây nên sự tắc nghẽn biểu kiến trong vật chất mà chúng ta gọi là các cõi hồng trần đậm đặc (ba cõi phụ thấp). Sự tắc nghẽn biểu kiến này, rốt cuộc, chỉ là hoạt động điện tử hay năng lượng cực độ của khối các nguyên tử âm đang chờ sự kích thích sẽ phát sinh từ sự hiện diện của một số nguyên tử dương nhất định. Điều này cần được ghi nhớ. (TCF 321)
Again, forms differ as do kingdoms according to the nature of the force flowing through them.
Một lần nữa, các hình tướng khác nhau cũng như các giới khác nhau tùy theo bản chất của mãnh lực chảy qua chúng.
122. It is the interplay of forces which produces the form and the appearance of that form.
122. Chính sự tương tác của các mãnh lực tạo ra hình tướng và sắc tướng của hình tướng ấy.
123. Forces and forms will make a worthy study. Through the form of each kingdom diversified forces flow. Which and why?
123. Các mãnh lực và các hình tướng sẽ là một đề tài nghiên cứu xứng đáng. Qua hình tướng của mỗi giới, các mãnh lực đa dạng chảy qua. Là những mãnh lực nào và vì sao?
In the animal kingdom that which corresponds to the permanent atom responds to force of an involutionary character, emanating from a particular group.
Trong giới động vật, điều tương ứng với nguyên tử trường tồn đáp ứng với mãnh lực có tính chất giáng hạ tiến hoá, phát ra từ một nhóm đặc biệt.
124. We seem still to be speaking of the physical permanent atom.
124. Dường như chúng ta vẫn đang nói về nguyên tử trường tồn hồng trần.
125. Let us assume that DK is speaking of the physical permanent atom (though it would also make sense, in this case, to speak of the astral permanent atom).
125. Chúng ta hãy giả định rằng Chân sư DK đang nói về nguyên tử trường tồn hồng trần (mặc dù trong trường hợp này, nói về nguyên tử trường tồn cảm dục cũng có ý nghĩa).
126. The physical permanent atom of the animal directs its physical nature in a manner which holds the animal within the lower worlds of form.
126. Nguyên tử trường tồn hồng trần của con vật điều khiển bản chất hồng trần của nó theo cách giữ con vật ở trong các thế giới thấp của hình tướng.
127. We might ask the nature of the “particular group” which DK mentions. Group of what?
127. Chúng ta có thể hỏi bản chất của “nhóm đặc biệt” mà Chân sư DK nhắc đến là gì. Nhóm của cái gì?
The human permanent atom responds to force emanating from a group on the evolutionary arc
Nguyên tử trường tồn của con người đáp ứng với mãnh lực phát ra từ một nhóm trên cung tiến hoá
128. DK is still ambiguous about the “group” which stimulates various kinds of permanent atoms—in this permanent atom of the animal kingdom and the permanent atom of the human kingdom.
128. Chân sư DK vẫn còn mơ hồ về “nhóm” kích thích các loại nguyên tử trường tồn khác nhau—trong nguyên tử trường tồn của giới động vật và nguyên tử trường tồn của giới nhân loại này.
129. We could assume that He is referring to groups of devas. We already have discovered that the permanent atoms of man are stimulated by various kinds of evolutionary devas.
129. Chúng ta có thể giả định rằng Ngài đang nói đến các nhóm thiên thần. Chúng ta đã khám phá rằng các nguyên tử trường tồn của con người được kích thích bởi nhiều loại thiên thần tiến hoá khác nhau.
130. Are there involutionary lives which stimulate the permanent atoms of the animal kingdom and the other lower kingdoms?
130. Có phải có những sự sống giáng hạ tiến hoá kích thích các nguyên tử trường tồn của giới động vật và các giới thấp khác không?
131. Is there a good reason, however, for supposing that there are no evolutionary devas (of the Agnichaitans or Agnisuryans type) stimulating the permanent atoms of the members of the animal kingdom? The animal kingdom is, as we know, an evolutionary kingdom.
131. Tuy nhiên, có lý do xác đáng nào để giả định rằng không có các thiên thần tiến hoá (thuộc loại Agnichaitan hay Agnisuryan) kích thích các nguyên tử trường tồn của các thành viên trong giới động vật không? Giới động vật, như chúng ta biết, là một giới tiến hoá.
and the Ray of a particular planetary Logos in Whose body a human Monad as a definite place.
và cung của một Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt mà trong thân thể của Ngài một chân thần nhân loại có một vị trí xác định.
132. Each human Monad has place within the body of a particular Planetary Logos.
132. Mỗi chân thần nhân loại có vị trí trong thân thể của một Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt.
133. Although each of us as Monads can be said to hold place within a particular center of the Planetary Logos of the Earth-scheme, it is inferred that, as Monads, we also have a definite place in another and greater Planetary Logos (probably one of the Planetary Logoi working through a sacred planet).
133. Mặc dù mỗi chúng ta với tư cách các chân thần có thể được nói là giữ vị trí trong một trung tâm đặc biệt của Hành Tinh Thượng Đế của hệ Địa Cầu, nhưng có thể suy ra rằng, với tư cách các chân thần, chúng ta cũng có một vị trí xác định trong một Hành Tinh Thượng Đế khác và lớn hơn (có lẽ là một trong các Hành Tinh Thượng Đế đang hoạt động qua một hành tinh thiêng liêng).
134. We are not told which Ray of the Planetary Logos stimulates the permanent atoms. Is it the personality ray? This would be likely when we consider the lower permanent atoms. Or is it the soul ray, which might be more likely in relation to the higher or triadal permanent atoms?
134. Chúng ta không được cho biết cung nào của Hành Tinh Thượng Đế kích thích các nguyên tử trường tồn. Có phải là cung phàm ngã không? Điều này có vẻ hợp lý khi chúng ta xét các nguyên tử trường tồn thấp. Hay là cung linh hồn, điều có thể hợp lý hơn liên hệ đến các nguyên tử trường tồn cao hơn hay các nguyên tử trường tồn tam nguyên tinh thần?
135. With respect to the animal kingdom, we are not told that its permanent atom is stimulated by any ray of the Planetary Logos but only by an involutionary group. Animals are evolving, but not evolving self-consciously.
135. Đối với giới động vật, chúng ta không được cho biết rằng nguyên tử trường tồn của nó được kích thích bởi bất kỳ cung nào của Hành Tinh Thượng Đế mà chỉ bởi một nhóm giáng hạ tiến hoá. Động vật đang tiến hoá, nhưng không tiến hoá một cách ngã thức.
Secondly, it must be noted that in view of the above it will be apparent that we are, at this period of manasic inflow and development, concerned with the coming into full vitality and activity of the fifth logoic spirilla;
Thứ hai, cần lưu ý rằng xét theo điều trên, sẽ rõ ràng rằng trong thời kỳ hiện nay của sự tuôn đổ vào và phát triển của manas, chúng ta đang quan tâm đến sự đi vào sinh lực và hoạt động trọn vẹn của loa tuyến logoic thứ năm;
136. If systemic planes are spirillae for the Solar Logos, can we infer that it is fifth spirilla (counting from above) that is coming into full vitality? Or should we think that it is the spirilla that corresponds to the systemic atmic plane?
136. Nếu các cõi hệ thống là các loa tuyến đối với Thái dương Thượng đế, liệu chúng ta có thể suy ra rằng chính loa tuyến thứ năm (đếm từ trên xuống) đang đi vào sinh lực trọn vẹn không? Hay chúng ta nên nghĩ rằng đó là loa tuyến tương ứng với cõi atma của hệ thống?
137. We must remember that a Solar Logos is a cosmic Initiate of the second degree and has not yet taken His third cosmic initiation.
137. Chúng ta phải nhớ rằng một Thái dương Thượng đế là một Điểm đạo đồ vũ trụ bậc hai và Ngài chưa nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ ba của Ngài.
138. Man has four spirillae activated and when He begins to come under the influence of his soul ray, it is his fifth spirilla that is activated and then, also under the egoic ray, the sixth.
138. Con người có bốn loa tuyến được hoạt hóa và khi y bắt đầu chịu ảnh hưởng của cung linh hồn của mình, thì loa tuyến thứ năm của y được hoạt hóa và rồi, cũng dưới cung chân ngã, loa tuyến thứ sáu được hoạt hóa.
139. If the analogy holds good, and the Solar Logos is pushing towards His cosmic third initiation, it should be His fifth spirilla which is coming into full vitality (that fifth spirilla being higher than His fourth, and thus correlating with the atmic systemic plane).
139. Nếu phép loại suy là đúng, và Thái dương Thượng đế đang tiến tới lần điểm đạo vũ trụ thứ ba của Ngài, thì hẳn là loa tuyến thứ năm của Ngài đang đi vào sinh lực trọn vẹn (loa tuyến thứ năm ấy cao hơn loa tuyến thứ tư của Ngài, và do đó tương ứng với cõi atma của hệ thống).
140. These conclusions are drawn upon the basis that for the Solar Logos, systemic planes are spirillae.
140. Những kết luận này được rút ra trên cơ sở rằng đối với Thái dương Thượng đế, các cõi hệ thống là các loa tuyến.
141. Yet, the text below indicates the importance of the mental plane in connection with the fifth spirilla, and when a man has his fifth spirilla stimulated, he is entering the fifth kingdom (the Kingdom of Souls) and thus for him, the higher mental plane and the lower mental plane as well, are coming into intense stimulation.
141. Tuy vậy, đoạn văn dưới đây cho thấy tầm quan trọng của cõi trí liên hệ với loa tuyến thứ năm, và khi một người có loa tuyến thứ năm được kích thích, y đang đi vào giới thứ năm (Thiên Giới của các linh hồn) và do đó đối với y, cõi thượng trí và cả cõi hạ trí nữa đều đang đi vào sự kích thích mãnh liệt.
142. So, perhaps, for the Solar Logos, the counting is done from ‘above’ to ‘below’ and the fifth spirillae is, indeed, the systemic mental plane.
142. Vì vậy, có lẽ đối với Thái dương Thượng đế, sự đếm được thực hiện từ “trên” xuống “dưới” và loa tuyến thứ năm quả thực là cõi trí của hệ thống.
143. From another perspective, it is unlikely that the logoic atmic plane would be achieving full stimulation because the Solar Logos is not yet a sufficiently high cosmic Initiate to warrant such stimulation.
143. Từ một góc nhìn khác, khó có khả năng cõi atma logoic lại đang đạt đến sự kích thích trọn vẹn vì Thái dương Thượng đế chưa phải là một Điểm đạo đồ vũ trụ đủ cao để xứng với sự kích thích như vậy.
144. Perhaps only when the Solar Logos is a Cosmic Master will the atmic plane (as a spirilla) be stimulated.
144. Có lẽ chỉ khi Thái dương Thượng đế là một Chân sư Vũ trụ thì cõi atma (như một loa tuyến) mới được kích thích.
this vitalisation shows itself in the intense activity of the mental plane, and the threefold nature of the electrical phenomena to be witnessed upon it.
sự tiếp sinh lực này biểu lộ trong hoạt động mãnh liệt của cõi trí, và bản chất tam phân của các hiện tượng điện lực có thể được chứng kiến trên đó.
a. The atomic subplane...manasic permanent atoms...Positive
a. Cõi phụ nguyên tử...các nguyên tử trường tồn manas...Dương
b. The fourth subplane....mental units........................Negative
b. Cõi phụ thứ tư....các đơn vị hạ trí........................Âm
c. The egoic groups........causal bodies......................Equilibrium or neutral
c. Các nhóm chân ngã........các thể nguyên nhân......................Quân bình hay trung tính
145. The egoic groups must be especially connected with the third kind of electricity—equilibrizing electricity even though they contain within them all three types.
145. Các nhóm chân ngã hẳn phải đặc biệt liên hệ với loại điện lực thứ ba—điện lực quân bình hóa, dù chúng chứa trong mình cả ba loại.
146. The triangle of force to be found upon mental planes (whether systemic or cosmic) display the archetypal relationship between positive, negative and neutral (harmonizing or equilibrizing).
146. Tam giác mãnh lực được tìm thấy trên các cõi trí (dù là hệ thống hay vũ trụ) biểu lộ mối tương quan nguyên mẫu giữa dương, âm và trung tính (điều hòa hay quân bình hóa).
147. We may also infer that the energy of the sign Libra has much to do with the egoic groups as the type of electricity concerned brings equilibrium.
147. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng năng lượng của dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình có liên hệ rất nhiều với các nhóm chân ngã vì loại điện lực được bàn đến đem lại sự quân bình.
This is in process of demonstration during the course of evolution.
Điều này đang trong tiến trình được chứng minh trong suốt diễn trình tiến hoá.
148. Upon the mental plane, Sprit, soul and body are all represented.
148. Trên cõi trí, tinh thần, linh hồn và thể đều được biểu hiện.
149. The three types of electricity are unfolded in manifestation sequentially.
149. Ba loại điện lực được khai mở trong biểu hiện theo trình tự.
We are dealing here with the substance aspect and considering energy in its various manifestations. The response of deva substance to the inflow of force on the mental plane has a threefold effect in connection with the Logos or the Septenate:
Ở đây chúng ta đang đề cập đến phương diện chất liệu và xem xét năng lượng trong các biểu hiện khác nhau của nó. Sự đáp ứng của chất liệu thiên thần đối với sự tuôn đổ vào của mãnh lực trên cõi trí có một tác động tam phân liên hệ với Thượng đế hay Thất Nguyên:
150. We are still dealing with the Solar Logos and that which is taking place within His body of manifestation.
150. Chúng ta vẫn đang đề cập đến Thái dương Thượng đế và điều đang diễn ra trong thể biểu hiện của Ngài.
1. It produces a greatly increased vitality in the logoic centres on the fourth cosmic ether, due to reflex action, which is felt both above and below the plane of activity.
1. Nó tạo ra một sinh lực gia tăng rất lớn trong các trung tâm logoic trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, do tác động phản hồi, được cảm nhận cả bên trên lẫn bên dưới cõi hoạt động.
151. We are speaking of the inflow of force from the cosmic mental plane to the systemic mental plane.
151. Chúng ta đang nói về sự tuôn đổ vào của mãnh lực từ cõi trí vũ trụ xuống cõi trí của hệ thống.
152. The main recipient of force from the cosmic mental plane is the systemic mental plane, the plane below the buddhic plane.
152. Nơi tiếp nhận chính của mãnh lực từ cõi trí vũ trụ là cõi trí của hệ thống, cõi bên dưới cõi Bồ đề.
153. But as we see, the reflex action here discussed “is felt both above and below the plane of activity”.
153. Nhưng như chúng ta thấy, tác động phản hồi được bàn đến ở đây “được cảm nhận cả bên trên lẫn bên dưới cõi hoạt động”.
154. We have a feedback loop created. Those chakras of the Planetary Logos or Solar Logos found upon the fourth cosmic ether cause stimulation on the systemic mental plane and the stimulation coming to the systemic mental plane from the cosmic mental plane causes stimulation in the fourth cosmic ether, the buddhic plane.
154. Một vòng phản hồi đã được tạo ra. Những luân xa của Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế được tìm thấy trên dĩ thái vũ trụ thứ tư gây ra sự kích thích trên cõi trí của hệ thống, và sự kích thích đến với cõi trí của hệ thống từ cõi trí vũ trụ lại gây ra sự kích thích trong dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề.
2. It stimulates the efforts of the highest specimens of the third kingdom, and a dual effect is produced [Page 695] through this, for the fourth kingdom in nature makes its appearance on the physical plane and the Triads are reflected on the mental plane in the causal bodies to be found thereon.
2. Nó kích thích các nỗ lực của những mẫu mực cao nhất của giới thứ ba, và qua đó một tác động kép được tạo ra [Page 695], vì giới thứ tư trong thiên nhiên xuất hiện trên cõi hồng trần và các Tam nguyên tinh thần được phản chiếu trên cõi trí trong các thể nguyên nhân được tìm thấy tại đó.
155. Stimulation from the cosmic mental plane as it affects the systemic mental plane, stimulates the highest specimens of animal man and also causes the appearance of the fourth kingdom.
155. Sự kích thích từ cõi trí vũ trụ khi tác động lên cõi trí của hệ thống sẽ kích thích những mẫu mực cao nhất của người thú và cũng gây ra sự xuất hiện của giới thứ tư.
156. We have a very clear statement telling us that the spiritual triad is reflected in the causal body. Chart X, TCF 961, shows the triad (the higher Ego) reflected in the Ego as it expresses on the higher mental plane.
156. Chúng ta có một phát biểu rất rõ cho biết rằng Tam Nguyên Tinh Thần được phản chiếu trong thể nguyên nhân. Biểu đồ X, TCF 961, cho thấy tam nguyên tinh thần (chân ngã cao hơn) được phản chiếu trong Chân ngã khi nó biểu lộ trên cõi thượng trí.
157. It stands to reason that the spiritual triad antedates the establishing of the causal body.
157. Có lý khi nói rằng Tam Nguyên Tinh Thần có trước việc thiết lập thể nguyên nhân.
3. As earlier said, the dense physical is linked and co-ordinated with the etheric bodies of the solar logos and of the planetary Logos. Therefore, the lower three planes are synthesised with the higher four, and the devas of an earlier mahamanvantara or solar cycle are brought into conjunction with those of a newer order who were awaiting just conditions.
3. Như đã nói trước đây, thể hồng trần đậm đặc được liên kết và phối hợp với các thể dĩ thái của thái dương thượng đế và của Hành Tinh Thượng Đế. Do đó, ba cõi thấp được tổng hợp với bốn cõi cao, và các thiên thần của một Đại giai kỳ sinh hóa hay chu kỳ mặt trời trước được đưa vào đồng vị với những thiên thần thuộc một trật tự mới hơn đang chờ đợi những điều kiện thích đáng.
158. It is quite obvious that a kind of ‘marriage’ is taking place—the old is being merged with the new under the influence of Libra, the sign of the “just”.
158. Rõ ràng là một loại “hôn phối” đang diễn ra—cái cũ đang được hòa nhập với cái mới dưới ảnh hưởng của Thiên Bình, dấu hiệu của sự “công chính”.
159. It is reiterated that the devas of the lower three planes are from an earlier mahamanvantara.
159. Một lần nữa, điều này được nhắc lại rằng các thiên thần của ba cõi thấp là từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước.
160. We read of the reflex action above and below. The synthesizing of which we are here speaking pertains to the reflex action applying to planes below the systemic higher mental plane.
160. Chúng ta đọc về tác động phản hồi ở trên và ở dưới. Sự tổng hợp mà ở đây chúng ta đang nói đến liên quan đến tác động phản hồi áp dụng cho các cõi bên dưới cõi thượng trí của hệ thống.
The physical incarnation of the Logos is completed
Sự lâm phàm hồng trần của Thượng đế được hoàn tất
161. The linking of the four and the three constitutes the physical incarnation of the Solar Logos.
161. Sự liên kết của bốn và ba cấu thành sự lâm phàm hồng trần của Thái dương Thượng đế.
162. We discussed, above, two types of incarnation for the Solar Logos. This is the second kind. In this type of incarnation, the dense levels of the cosmic physical plane already exists, but a linking process occurs allowing the Presence of the Solar Logos to be focussed in relation to those lower, non-principled planes.
162. Ở trên, chúng ta đã bàn đến hai loại lâm phàm của Thái dương Thượng đế. Đây là loại thứ hai. Trong loại lâm phàm này, các cấp độ đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ đã hiện hữu sẵn, nhưng một tiến trình liên kết xảy ra, cho phép Sự Hiện Diện của Thái dương Thượng đế được tập trung trong tương quan với những cõi thấp, không nguyên khí ấy.
The lower three kingdoms, being negative to the higher force, the mutual attraction of these two and their interaction bring into being the fourth or human kingdom. The three fires of mind, Spirit and matter are brought together and the work of full self-consciousness begun.
Ba giới thấp, vốn âm tính đối với mãnh lực cao hơn, sự hấp dẫn hỗ tương của hai bên này và sự tương tác của chúng làm phát sinh giới thứ tư hay giới nhân loại. Ba ngọn lửa của trí tuệ, tinh thần và vật chất được đưa lại với nhau và công việc của ngã thức trọn vẹn được bắt đầu.
163. We can see that to produce self-consciousness it is not enough to link solar fire with fire by friction. Rather, all three fires must be brought together. The Monad/Spirit is definitely involved.
163. Chúng ta có thể thấy rằng để tạo ra ngã thức thì chỉ liên kết Lửa Thái dương với Lửa ma sát là chưa đủ. Đúng hơn, cả ba ngọn lửa phải được đưa lại với nhau. Chân thần/Tinh thần chắc chắn có dự phần.
164. The Monad, as we realized, establishes its presence as the “central flame” within the egoic lotus.
164. Như chúng ta đã chứng nghiệm, chân thần thiết lập sự hiện diện của nó như “ngọn lửa trung tâm” bên trong Hoa Sen Chân Ngã.
Finally, the student should very carefully study here the significance of the numbers three, four and five in the evolution of consciousness.
Sau cùng, đạo sinh nên nghiên cứu ở đây thật cẩn thận thâm nghĩa của các số ba, bốn và năm trong sự tiến hoá của tâm thức.
165. These are the number which most concern the development of three kingdoms—our own and the kingdoms most proximate to ours, the animal kingdom and the Kingdom of Souls.
165. Đây là những con số liên hệ nhiều nhất đến sự phát triển của ba giới—giới của chính chúng ta và những giới gần với chúng ta nhất, giới động vật và giới các linh hồn.
166. We are not speaking as much of the evolution of form as of consciousness. The three numbers suggest animal consciousness, human consciousness and soul consciousness.
166. Chúng ta không nói nhiều về sự tiến hoá của hình tướng bằng nói về tâm thức. Ba con số ấy gợi ra tâm thức động vật, tâm thức con người và tâm thức linh hồn.
167. As well, certain of the Creative Hierarchies are also brought into close cooperation via these numbers.
167. Đồng thời, một số Huyền Giai Sáng Tạo cũng được đưa vào sự hợp tác mật thiết qua các con số này.
a. The Fourth Creative Hierarchy of Human Monads
a. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư của các Chân thần nhân loại
b. The Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels
b. Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm của các Thái dương Thiên Thần
c. The Third Creative Hierarchy of “Triple Flowers” Who are instrumental in relaying the Christ Consciousness to the developing human being.
c. Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba của các “Hoa Tam phân”, những Đấng có vai trò truyền chuyển Tâm thức Christ đến con người đang phát triển.
168. We notice that the three numbers sum to twelve, which is a number of completion and the number of all heart centers
168. Chúng ta nhận thấy rằng ba con số này cộng lại thành mười hai, là con số của sự hoàn tất và là con số của mọi trung tâm tim
Numerology has hitherto been studied primarily, and rightly, from the substance aspect, but not so much from the standpoint of conscious energy.
Cho đến nay, số học chủ yếu đã được nghiên cứu, và đúng như vậy, từ phương diện chất liệu, nhưng không nhiều từ quan điểm của năng lượng có tâm thức.
169. We might say the same of astrology, for it is the personal astrology which has so much occupied the attention of those who might be interested.
169. Chúng ta cũng có thể nói như vậy về chiêm tinh học, vì chính chiêm tinh học cá nhân đã chiếm nhiều sự chú ý của những ai có thể quan tâm.
The Triad, for instance, is usually looked upon by our students as the triangle formed by the manasic-buddhic and atmic permanent atoms; the cube stands for the lower material man, and the five-pointed star has frequently a very material interpretation.
Chẳng hạn, Tam nguyên tinh thần thường được các đạo sinh của chúng ta xem là tam giác được tạo thành bởi các nguyên tử trường tồn manas, Bồ đề và atma; khối lập phương tượng trưng cho con người vật chất thấp; còn ngôi sao năm cánh thường có một cách giải thích rất vật chất.
170. The triangle, the cube and the five-pointed star also have correspondences in consciousness.
170. Tam giác, khối lập phương và ngôi sao năm cánh cũng có những tương ứng trong tâm thức.
171. The triangle represents liberated consciousness—liberated from the confines of the egoic nature on the higher mental plane. Essentially full triadal consciousness is liberated consciousness.
171. Tam giác tượng trưng cho tâm thức được giải thoát—được giải thoát khỏi những giới hạn của bản chất chân ngã trên Cõi thượng trí. Về căn bản, tâm thức tam nguyên tinh thần trọn vẹn là tâm thức được giải thoát.
172. The cube represents consciousness within the limitations of the three worlds of illusion.
172. Khối lập phương tượng trưng cho tâm thức ở trong những giới hạn của ba cõi thấp của ảo tưởng.
173. The five-pointed star represents transfigured soul consciousness.
173. Ngôi sao năm cánh tượng trưng cho tâm thức linh hồn đã được Biến hình.
All these angles of vision are necessary, and must precede the study of the subjective aspect, but they lay the emphasis upon the material rather than upon the subjective; the subject nevertheless should be studied psychologically.
Tất cả những góc độ tầm nhìn này đều cần thiết, và phải đi trước việc nghiên cứu phương diện chủ quan, nhưng chúng nhấn mạnh vào vật chất hơn là vào chủ quan; tuy nhiên chủthể vẫn nên được nghiên cứu theo tâm lý học.
174. As human beings develop they pass through various stages of consciousness represented by various numbers.
174. Khi con người phát triển, họ đi qua nhiều giai đoạn tâm thức khác nhau được biểu thị bằng những con số khác nhau.
175. Psychology has much to do with the state of consciousness in which a man finds himself and how to relate that consciousness to the environment in which he finds himself.
175. Tâm lý học liên hệ rất nhiều đến trạng thái tâm thức mà một người đang ở trong đó và cách liên hệ tâm thức ấy với môi trường mà y đang ở trong đó.
In this solar system, the above numbers are the most important from the angle of the evolution of consciousness.
Trong hệ mặt trời này, các con số trên là quan trọng nhất xét từ góc độ tiến hoá của tâm thức.
176. This is a solar system in which the soul aspect of the Solar Logos is emerging into prominence. The numbers three, four and five (central numbers) are associated with that emergence—the emergence of the “Middle Principle”.
176. Đây là một hệ mặt trời trong đó phương diện linh hồn của Thái dương Thượng đế đang nổi bật lên. Các số ba, bốn và năm (những số trung tâm) gắn liền với sự xuất hiện ấy—sự xuất hiện của “Nguyên Khí Trung Gian”.
[Page 696] In the earlier system, the numbers six and seven held the mystery hid.
[Page 696] Trong hệ trước, các số sáu và bảy che giấu huyền nhiệm.
177. The previous system (or systems) was involved with the development of the irrational part of the Solar Logos—the desire aspect and the physical activity aspect.
177. Hệ trước đó (hay các hệ trước đó) liên quan đến sự phát triển phần phi lý trí của Thái dương Thượng đế—phương diện dục vọng và phương diện hoạt động hồng trần.
178. We should not expect to see the mental aspect missing as it was a very mental and intelligent solar system. The number five can be conceived as important to that kind of evolution, but it would be five as applied to the lower concrete mind.
178. Chúng ta không nên mong đợi phương diện trí tuệ vắng mặt, vì đó là một hệ mặt trời rất trí tuệ và thông minh. Số năm có thể được xem là quan trọng đối với loại tiến hoá ấy, nhưng đó sẽ là số năm áp dụng cho hạ trí cụ thể.
179. In addition to stimulation from the cosmic physical plane, there must have been stimulation from the cosmic astral plane in that earlier solar system.
179. Ngoài sự kích thích từ cõi hồng trần vũ trụ, hẳn còn phải có sự kích thích từ cõi cảm dục vũ trụ trong hệ mặt trời trước đó.
180. We notice that the numbers progress: 7,6,5,4,3.
180. Chúng ta nhận thấy các con số tiến triển: 7,6,5,4,3.
In the next system, it will be two and one.
Trong hệ kế tiếp, sẽ là hai và một.
181. Thus, the sequence will be complete.
181. Như vậy, chuỗi này sẽ hoàn tất.
182. The suggestion is that the monadic and logoic planes will be strongly involved in the next solar system.
182. Hàm ý ở đây là các cõi chân thần và logoic sẽ dự phần mạnh mẽ trong hệ mặt trời kế tiếp.
This refers only to the psychical development.
Điều này chỉ nói đến sự phát triển tâm thức.
183. If the numbers refer to psychical development or the development of consciousness, we will have to relate these numbers to the seven principles, numbering from below.
183. Nếu các con số nói đến sự phát triển tâm thức hay sự phát triển của tâm thức, chúng ta sẽ phải liên hệ các con số này với bảy nguyên khí, đếm từ dưới lên.
184. There may or may not be a one-to-one correspondence of these numbers to the numbering of the planes.
184. Có thể có hoặc không có một sự tương ứng một-một giữa các con số này với cách đánh số các cõi.
Let me illustrate: The five-pointed star on the mental plane signifies (among other things) the evolution, by means of the five senses in the three worlds (which are also capable of a fivefold differentiation) of the fifth principle, the attainment of self-consciousness, and the development of the fifth spirilla.
Hãy để tôi minh hoạ: ngôi sao năm cánh trên cõi trí biểu thị (trong nhiều điều khác) sự tiến hoá, bằng phương tiện của năm giác quan trong ba cõi giới (vốn cũng có khả năng biến phân ngũ phân), của nguyên khí thứ năm, sự đạt đến ngã thức, và sự phát triển của loa tuyến thứ năm.
185. In this section of text and following we are discussing the difference of meaning to be assigned when comparing the five-pointed star upon the mental plane to the star of initiation as it flashes forth on the buddhic plane when the initiations of manas are begun.
185. Trong phần văn bản này và phần tiếp theo, chúng ta đang bàn đến sự khác biệt về ý nghĩa cần được gán khi so sánh ngôi sao năm cánh trên cõi trí với ngôi sao điểm đạo khi nó loé sáng trên cõi Bồ đề lúc các điểm đạo của manas được bắt đầu.
186. We may remember from earlier studies (cf. TCF 185-202) that each of the five senses were discussed in terms of their correspondences on five planes—physical, astral, mental, buddhic and atmic.
186. Chúng ta có thể nhớ từ những nghiên cứu trước đây (x. TCF 185-202) rằng mỗi một trong năm giác quan đã được bàn đến theo những tương ứng của chúng trên năm cõi—hồng trần, cảm dục, trí tuệ, Bồ đề và atma.
187. Let us tabulate that which the five-pointed star represent in relation to the mental plane.
187. Chúng ta hãy lập bảng những gì mà ngôi sao năm cánh biểu thị trong liên hệ với cõi trí.
a. The evolution of the fifth principle through the development of the five senses in the three worlds
a. Sự tiến hoá của nguyên khí thứ năm qua sự phát triển của năm giác quan trong ba cõi giới
b. The attainment of self-consciousness
b. Sự đạt đến ngã thức
c. The development of the fifth spirilla
c. Sự phát triển của loa tuyến thứ năm
188. We see that the same symbol means different things in relation to the same plane and naturally in relation to different planes.
188. Chúng ta thấy rằng cùng một biểu tượng mang những ý nghĩa khác nhau trong liên hệ với cùng một cõi và dĩ nhiên trong liên hệ với những cõi khác nhau.
On the buddhic plane, when flashing forth at initiation, this number signifies the full development of the fifth principle or quality, the completed cycle of the Ego upon the five Rays under the Mahachohan,
Trên cõi Bồ đề, khi loé sáng lúc điểm đạo, con số này biểu thị sự phát triển trọn vẹn của nguyên khí hay phẩm tính thứ năm, chu kỳ hoàn tất của Chân ngã trên năm Cung dưới Đức Mahachohan,
189. The star flashes forth at each of the first three initiations. The appearance of the star also occurs at later initiations but the initiate has different relationship to it than as a witness.
189. Ngôi sao loé sáng ở mỗi một trong ba lần điểm đạo đầu tiên. Sự xuất hiện của ngôi sao cũng xảy ra ở các lần điểm đạo sau, nhưng điểm đạo đồ có một tương quan khác với nó chứ không chỉ như một người chứng kiến.
190. The flashing forth here described definitely suggests the first initiation as, at that time, the cycle of development is complete with respect to the five brahmic rays (at least as they apply to the personality and its aspects). The Ego completes the cycle here described by working on the five brahmic personality rays. Rays one and two on the level of personality are not part of this completed cycle for one cannot have them as personality rays until one begins to tread the Path.
190. Sự loé sáng được mô tả ở đây rõ ràng gợi đến lần điểm đạo thứ nhất vì vào lúc đó, chu kỳ phát triển đã hoàn tất đối với năm cung brahmic (ít nhất là khi chúng áp dụng cho phàm ngã và các phương diện của nó). Chân ngã hoàn tất chu kỳ được mô tả ở đây bằng cách hoạt động trên năm cung phàm ngã brahmic. Cung một và cung hai ở cấp độ phàm ngã không thuộc chu kỳ hoàn tất này vì người ta không thể có chúng làm cung phàm ngã cho đến khi bắt đầu bước đi trên Con Đường.