← Commentary_S6_574_679_song ngữ

The Law of Analogy always holds good.

Trích nội dung chương

With this as a basis, the three laws of the personality become replete with life, and can be summed up in the well-known term, “The Law of Rebirth and Death in the three worlds.” Lấy điều này làm nền tảng, ba định luật của phàm ngã trở nên tràn đầy sự sống, và có thể được tóm lại trong thuật ngữ quen thuộc: “Định luật Tái Sinh và Tử Vong trong ba cõi thấp.”


The Law of Analogy always holds good.

Định luật tương đồng luôn luôn đúng.

With this as a basis, the three laws of the personality become replete with life, and can be summed up in the well-known term, “The Law of Rebirth and Death in the three worlds.”

Lấy điều này làm nền tảng, ba định luật của phàm ngã trở nên tràn đầy sự sống, và có thể được tóm lại trong thuật ngữ quen thuộc: “Định luật Tái Sinh và Tử Vong trong ba cõi thấp.”

142. DK is telling us that the three lower laws are to be considered “laws of the personality”. When they work together they result in “The Law of Rebirth and Death in the three worlds”.

142. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng ba định luật thấp cần được xem là “các định luật của phàm ngã”. Khi chúng cùng hoạt động, chúng dẫn đến “Định luật Tái Sinh và Tử Vong trong ba cõi thấp”.

143. If desire (six) turns towards physical form (seven) rather than towards the higher mind (five), then a return to the lowest world (seven) via reincarnation is mandated. This return is impulsed from the plane of mind (five).

143. Nếu dục vọng (sáu) hướng về hình tướng hồng trần (bảy) thay vì hướng về thượng trí (năm), thì sự trở lại thế giới thấp nhất (bảy) qua tái sinh là điều bắt buộc. Sự trở lại này được thúc đẩy từ cõi trí (năm).

The fifth law governs a fixed point in the personality, that of the fifth principle.

Định luật thứ năm chi phối một điểm cố định trong phàm ngã, đó là điểm của nguyên khí thứ năm.

144. The mind can be used as a stabilizing factor to sustain a necessary point of tension.

144. Trí tuệ có thể được dùng như một yếu tố ổn định để duy trì một điểm tập trung nhất tâm cần thiết.

145. When one thinks of a fixed point in the personality which is related to the fifth law and the fifth ray, one thinks of the mental unit (as that unit is stimulated by the fifth principle).

145. Khi người ta nghĩ đến một điểm cố định trong phàm ngã có liên hệ với định luật thứ năm và cung năm, người ta nghĩ đến đơn vị hạ trí (vì đơn vị ấy được kích thích bởi nguyên khí thứ năm).

146. In considering the relationship between the first and fifth rays, we realize that the first ray is a ‘ray of fixity’. It destroys through crystallization. We are well acquainted with the crystallized thoughtforms of the lower concrete mind and how these thoughtforms must be destroyed if they are not to become destructive themselves.

146. Khi xem xét mối liên hệ giữa cung một và cung năm, chúng ta nhận ra rằng cung một là một ‘cung của tính cố định’. Nó hủy diệt qua sự kết tinh. Chúng ta rất quen thuộc với những hình tư tưởng đã kết tinh của hạ trí cụ thể và cách những hình tư tưởng này phải bị hủy diệt nếu chúng không muốn tự trở nên có tính hủy diệt.

[Page 591]

[Page 591]

The Law of Love in the astral body also has its points for consideration. There is a direct link between the astral body (love in the personality), the buddhic vehicle (love in the Triad), and the Monads of Love.

Định luật Bác ái trong thể cảm dục cũng có những điểm cần được xemxét. Có một mối liên kết trực tiếp giữa thể cảm dục (bác ái trong phàm ngã), vận cụ Bồ đề (bác ái trong Tam nguyên tinh thần), và các Chân thần Bác ái.

147. By now this is a familiar idea:

147. Đến nay đây đã là một ý tưởng quen thuộc:

a. The astral body—love in the personality

a. Thể cảm dục—bác ái trong phàm ngã

b. The buddhic vehicle—love in the Triad

b. Vận cụ Bồ đề—bác ái trong Tam nguyên tinh thần

c. The monadic vehicle—love upon the plane of Sprit (universal love). From this we can see that Aquarius, the sign of “universal love” must, in its own way, be related to the Monad (a solar factor even as Aquarius is directly related to the Sun and Leo because it is the sign opposite Leo).

c. Vận cụ chân thần—bác ái trên cõi tinh thần (bác ái phổ quát). Từ đây chúng ta có thể thấy rằng Bảo Bình, dấu hiệu của “bác ái phổ quát”, hẳn phải, theo cách riêng của nó, có liên hệ với chân thần (một yếu tố thái dương cũng như Bảo Bình có liên hệ trực tiếp với Mặt Trời và Sư Tử vì nó là dấu hiệu đối diện với Sư Tử).

Later on, this will be understood more fully, but it is the main channel for the basic law of the system, Love.

Về sau, điều này sẽ được thấuhiểu đầy đủ hơn, nhưng đó là kênh chính cho định luật căn bản của hệ, Bác ái.

148. We are learning about many lines of transmission, but here is the one which is most important for us at this time:

148. Chúng ta đang học về nhiều đường truyền dẫn, nhưng đây là đường quan trọng nhất đối với chúng ta vào lúc này:

a. The Monads of Love

a. Các Chân thần Bác ái

b. Working through the buddhic plane and producing “love in the Triad” which is unitive love

b. Hoạt động qua cõi Bồ đề và tạo ra “bác ái trong Tam nguyên tinh thần”, tức là bác ái hợp nhất

c. Working through the astral plane producing “love in the personality” which is love of the form for other forms.

c. Hoạt động qua cõi cảm dục tạo ra “bác ái trong phàm ngã”, tức là tình yêu của hình tướng đối với những hình tướng khác.

These three points mark periods of completion, and likewise starting-points for fresh endeavour in the life of the evolving Monad—from the personality to the Triad, from the Triad to the Monad, from the Monad back again to its source.

Ba điểm này đánh dấu những giai đoạn hoàn tất, đồng thời cũng là những điểm khởi đầu cho nỗ lực mới trong đời sống của chân thần đang tiến hoá—từ phàm ngã đến Tam nguyên tinh thần, từ Tam nguyên tinh thần đến chân thần, từ chân thần trở lại nguồn cội của nó.

149. Consummated personality love awakens a realization of the need for triadal love (a wider love which we can call the “love of God”—really a reflection of the “Love of God”).

149. Bác ái của phàm ngã khi được hoàn tất sẽ đánh thức sự chứng nghiệm về nhu cầu đối với bác ái triadal (một bác ái rộng lớn hơn mà chúng ta có thể gọi là “bác ái của Thượng đế”—thực ra là một phản chiếu của “Bác ái của Thượng đế”).

150. Consummated triadal love awakens a realization of the need for the ‘love of the Spirit’—universal love, the true love of the ‘Solar God’, our Solar Logos.

150. Bác ái triadal khi được hoàn tất sẽ đánh thức sự chứng nghiệm về nhu cầu đối với ‘bác ái của Tinh thần’—bác ái phổ quát, bác ái chân thực của ‘Thượng đế Thái dương’, Thái dương Thượng đế của chúng ta.

151. We are reminded that the Monad has a “source” and that source is not to be found upon the monadic plane.

151. Chúng ta được nhắc rằng chân thần có một “nguồn cội” và nguồn cội ấy không thể được tìm thấy trên cõi chân thần.

152. If the Monad is “that which finds its home within the sun”, then we must consider the Sun (in one of its aspects) as the “source” of the Monad—at least for practical purposes and within this particular solar system. The real “Source” of the Monad is a profound mystery to be traced back to the fathomless beginning of Cosmos on planes far higher than we can even imagine.

152. Nếu chân thần là “điều tìm thấy ngôi nhà của nó trong mặt trời”, thì chúng ta phải xem Mặt Trời (trong một phương diện của nó) là “nguồn cội” của chân thần—ít nhất là cho những mục đích thực tiễn và trong hệ mặt trời đặc thù này. “Nguồn Cội” thực sự của chân thần là một huyền nhiệm sâu xa, phải được truy nguyên về khởi đầu vô đáy của Vũ trụ trên những cõi cao hơn rất nhiều so với điều chúng ta có thể hình dung.

5. The Law of Fixation.—This is the governing law of the mental plane, finding its greater correspondence in the Law of Karma on cosmic mental levels.

5. Định luật Cố Định.—Đây là định luật chi phối cõi trí, có sự tương ứng lớn hơn của nó trong Định luật Nghiệp Quả trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ.

153. If the Law of Karma arises from cosmic mental levels; if it is a Sirian law; and if Sirius is focussed in many respects upon the cosmic mental plane, then the “Law of Fixation” must have a higher cosmic correspondence which relates to Sirius.

153. Nếu Định luật Nghiệp Quả phát sinh từ các cấp độ trí tuệ vũ trụ; nếu đó là một định luật Sirian; và nếu Sirius trong nhiều phương diện được tập trung trên cõi trí vũ trụ, thì “Định luật Cố Định” hẳn phải có một sự tương ứng vũ trụ cao hơn liên hệ với Sirius.

154. The karma for human beings, for instance, is, in any one cycle, largely fixed and determined. This may be one of the effects of the “Law of Fixation”.

154. Chẳng hạn, nghiệp quả của con người, trong bất kỳ một chu kỳ nào, phần lớn được cố định và xác định. Đây có thể là một trong những hiệu quả của “Định luật Cố Định”.

“As a man thinks, so is he;” according to his thoughts are his desires and acts, and so results the future.

“Con người nghĩ sao, y là vậy;” theo những tư tưởng của y mà dục vọng và hành động của y hình thành, và như thế tương lai được tạo ra.

155. We might also say that “as a man thinks”, ‘so he becomes’. He becomes objectively what he is subjectively.

155. Chúng ta cũng có thể nói rằng “con người nghĩ sao”, ‘y trở thành như vậy’. Y trở thành một cách khách quan điều mà y là một cách chủ quan.

He fixes for himself the resultant karma.

Y tự cố định nghiệp quả kết thành cho chính mình.

156. By the persistent fixity of his thoughts he creates a resultant karma. Thought fixates karma.

156. Bằng tính cố định bền bỉ của những tư tưởng của y, y tạo ra một nghiệp quả kết thành. Tư tưởng cố định hóa nghiệp quả.

157. Thoughtforms are structured under the influence of Saturn and Saturn is the most powerful of our systemic Lords of Karma.

157. Các hình tư tưởng được cấu trúc dưới ảnh hưởng của Sao Thổ, và Sao Thổ là vị quyền năng nhất trong các Chúa Tể Nghiệp Quả của hệ chúng ta.

158. A passing thought will not generate that which we call karma, but when one persists in a line of thought, it becomes a ‘fixed actuality’ and results in outer developments which are correlated to the thought.

158. Một tư tưởng thoáng qua sẽ không tạo ra điều mà chúng ta gọi là nghiệp quả, nhưng khi người ta kiên trì trong một đường tư tưởng, nó trở thành một ‘thực tại cố định’ và dẫn đến những phát triển bên ngoài tương ứng với tư tưởng ấy.

The word “Fixation” is chosen for two purposes: First, because the word implies the capacity of the thinker to shape his own destiny,

Từ “Cố Định” được chọn vì hai mục đích: Thứ nhất, vì từ này hàm ý năng lực của thức giả trong việc định hình vận mệnh của chính mình,

159. “Fixation” is a Saturnian and Vulcanian word. These are two planets which, indeed, shape or formulate destiny.

159. “Cố Định” là một từ mang tính Sao Thổ và Vulcan. Quả thật, đây là hai hành tinh định hình hay tạo khuôn vận mệnh.

160. A future intended pattern is held through all vicissitudes and the one within insists that it be. By insistence is meant the deflection of all other possibilities. Fixing/fixating and holding are, in this case, identical.

160. Một mô hình tương lai đã được dự định được giữ vững qua mọi thăng trầm, và đấng bên trong khăng khăng đòi nó phải là như vậy. Bởi sự khăng khăng, điều được hàm ý là sự gạt lệch mọi khả năng khác. Trong trường hợp này, cố định/cố định hóa và giữ vững là đồng nhất.

161. Fixed thought shapes destiny.

161. Tư tưởng cố định định hình vận mệnh.

and secondly because the word implies a stabilising idea, for as evolution progresses, the Ego evolves the faculty of forming definite concrete thought-forms, and, through these stable products, of subduing the fluctuations of the astral body.

và thứ hai vì từ này hàm ý một ý tưởng ổn định, vì khi tiến hoá tiến triển, chân ngã phát triển năng lực tạo ra những hình tư tưởng cụ thể xác định, và, thông qua những sản phẩm ổn định này, chế ngự những dao động của thể cảm dục.

162. Fixation subdues fluctuation. This is another way of saying, symbolically, that the stable ‘Sun’/Vulcan subdues the fluctuating ‘Moon’.

162. Cố định chế ngự dao động. Đây là một cách khác để nói, theo biểu tượng, rằng ‘Mặt Trời’/Vulcan ổn định chế ngự ‘Mặt Trăng’ dao động.

163. We have, in sum:

163. Tóm lại, chúng ta có:

a. The shaping of destiny through fixation

a. Sự định hình vận mệnh thông qua sự cố định

b. Through fixation, the holding of stabilized thoughts which subdue astral fluctuations and thus lead to intended accomplishment.

b. Thông qua sự cố định, việc giữ vững những tư tưởng đã được ổn định, vốn chế ngự những dao động cảm dục và do đó dẫn đến sự thành tựu đã được dự định.

This law of the fifth, or mental plane is one of the most important laws with which we have to do at any time, and it will find its most complete demonstration in the next, or fifth round.

Định luật này của cõi thứ năm, hay cõi trí, là một trong những định luật quan trọng nhất mà chúng ta phải đề cập đến vào bất cứ lúc nào, và nó sẽ tìm thấy sự biểu hiện đầy đủ nhất của nó trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, hay cuộc tuần hoàn thứ năm.

164. This is a statement with great implications. Not only is this “Law of Fixation” important now but it is one of the most important laws to consider “at any time”.

164. Đây là một phát biểu có những hàm ý lớn lao. “Định luật Cố Định” này không chỉ quan trọng hiện nay mà còn là một trong những định luật quan trọng nhất cần xem xét “vào bất cứ lúc nào”.

165. It would appear that we are still in very early days of understanding the full significance of the law. The next round is the fifth round and, numerically, will be the one in which a much fuller understanding and demonstration of the “Law of Fixation” will be achieved.

165. Có vẻ như chúng ta vẫn còn ở những ngày đầu trong việc thấu hiểu đầy đủ thâm nghĩa của định luật này. Cuộc tuần hoàn kế tiếp là cuộc tuần hoàn thứ năm, và về mặt số học, đó sẽ là cuộc tuần hoàn trong đó một sự thấu hiểu và biểu hiện đầy đủ hơn nhiều của “Định luật Cố Định” sẽ đạt được.

166. What kind of ‘fixation’ will occur in the middle of the fifth round at the “Judgment Day”? May we say that some will be ‘fixed’ upon the Earth to pursue their further evolution; others will be dispatched elsewhere.

166. Loại ‘cố định’ nào sẽ xảy ra vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm trong “Ngày Phán Xét”? Chúng ta có thể nói rằng một số sẽ được ‘cố định’ trên Trái Đất để theo đuổi sự tiến hoá tiếp theo của họ; những người khác sẽ được gửi đi nơi khác.

167. We might say that the polarization-in-consciousness of humanity (and, by extension, of the Planetary Logos) will be fixed in relation to the second aspect of divinity. Those who have no orientation to that aspect will be ‘expelled’ for progress elsewhere.

167. Chúng ta có thể nói rằng sự phân cực trong tâm thức của nhân loại (và, theo sự mở rộng, của Đức Hành Tinh Thượng Đế) sẽ được cố định trong liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính. Những ai không có định hướng đối với phương diện ấy sẽ bị ‘trục xuất’ để tiến bộ ở nơi khác.

In relation to this fourth round the following facts may be gathered about its working:

Trong liên hệ với cuộc tuần hoàn thứ tư này, có thể thu thập những sự kiện sau đây về hoạt động của nó:

It is the law under which the evolving personality builds up, during the course of many lives, the causal body;

Đó là định luật mà dưới đó phàm ngã đang tiến hoá xây dựng thể nguyên nhân trong tiến trình của nhiều kiếp sống;

168. The causal body is upon the higher levels of the fifth plane. As the light of mind grows within the personality it becomes possible to act in such a manner that value may be extracted from personality experience and fixed as content within the causal body.

168. Thể nguyên nhân ở trên các cấp độ cao hơn của cõi thứ năm. Khi ánh sáng của trí tuệ tăng trưởng trong phàm ngã, thì việc hành động theo cách sao cho giá trị có thể được rút ra từ kinh nghiệm của phàm ngã và được cố định như nội dung bên trong thể nguyên nhân trở nên khả hữu.

it fixes the matter inhering in that body, placed there by the man as the ages slip away, and crystallises it.

nó cố định vật chất vốn nội tại trong thể ấy, được con người đặt vào đó khi các thời đại trôi qua, và kết tinh nó.

169. The “matter…placed there” is the substance which embodies faculty. Fixation is, in this case, an act of construction.

169. “Vật chất… được đặt vào đó” là chất liệu hiện thân cho năng lực. Trong trường hợp này, sự cố định là một hành vi kiến tạo.

170. Considering the relative size of a newly made causal body and a causal body possessed by an experienced unit of consciousness, there is a great contrast, the latter having, in fact, much more “matter” within it.

170. Khi xét đến kích thước tương đối của một thể nguyên nhân mới được tạo thành và một thể nguyên nhân do một đơn vị tâm thức giàu kinh nghiệm sở hữu, có một sự tương phản lớn, vì thể sau thực sự có nhiều “vật chất” hơn bên trong nó.

Before the fourth Initiation the crystallisation is complete, and the inevitable shattering that is the result of crystallisation in all forms, takes place,

Trước lần Điểm Đạo thứ tư, sự kết tinh hoàntất, và sự tan vỡ không thể tránh khỏi, vốn là kết quả của sự kết tinh trong mọi hình tướng, diễn ra,

171. Shall we relate “fixation” and “crystallisation”?

171. Liệu chúng ta có nên liên hệ “cố định” và “kết tinh” chăng?

172. Crystallization is a Vulcanian process, relating fixation to this planet of unbendable will.

172. Sự kết tinh là một tiến trình Vulcan, liên kết sự cố định với hành tinh của ý chí bất khuất này.

setting the [Page 592] indwelling life free for further progress. All forms are but hindrances and limitations, and ultimately must go, but they have their needed place in the development of the race. Eventually the causal body of the entire race itself disintegrates.

giải phóng [Page 592] sự sống nội tại để tiếp tục tiến bộ. Mọi hình tướng chỉ là những chướng ngại và giới hạn, và rốt cuộc đều phải ra đi, nhưng chúng có vị trí cần thiết của chúng trong sự phát triển của nhân loại. Cuối cùng, chính thể nguyên nhân của toàn thể nhân loại cũng tan rã.

173. The disintegration of the causal body of the race will mark the period in which the race reaches the point of tension at the fourth great cycle of attainment. The race itself will be an Arhat. Will we be closer to this eventuality when the personality ray of humanity becomes the fourth and its soul ray, the second?

173. Sự tan rã của thể nguyên nhân của nhân loại sẽ đánh dấu giai đoạn trong đó nhân loại đạt đến điểm tập trung nhất tâm ở đại chu kỳ thành tựu thứ tư. Bản thân nhân loại sẽ là một Arhat. Liệu chúng ta có gần hơn với biến cố này khi cung phàm ngã của nhân loại trở thành cung bốn và cung linh hồn của nó trở thành cung hai chăng?

This law governs the crystallisation of all forms prior to their shattering in the process of evolution.

Định luật này chi phối sự kết tinh của mọi hình tướng trước khi chúng bị tan vỡ trong tiến trình tiến hoá.

174. So far, of the “Law of Fixation” in relation to man, we may say:

174. Cho đến nay, về “Định luật Cố Định” trong liên hệ với con người, chúng ta có thể nói:

a. It builds up the causal body

a. Nó xây dựng thể nguyên nhân

b. It fixes matter inhering in the causal body

b. Nó cố định vật chất nội tại trong thể nguyên nhân

c. It crystallizes the ‘forms of faculty’ built into the causal body. When human experience has no more to teach the Arhat, the form of the causal body arrives at a crystallized state ripe for shattering.

c. Nó kết tinh các ‘hình tướng của năng lực’ được xây dựng vào trong thể nguyên nhân. Khi kinh nghiệm của con người không còn gì để dạy Arhat nữa, hình tướng của thể nguyên nhân đạt đến một trạng thái kết tinh chín muồi để tan vỡ.

175. In governing the crystallizing of all forms prior to shattering, the fifth law works in tandem with the first ray of the destroyer. The fifth ray prepares the way for the act of destruction which comes through the application of the first ray.

175. Trong việc chi phối sự kết tinh của mọi hình tướng trước khi tan vỡ, định luật thứ năm hoạt động song hành với cung một của đấng hủy diệt. Cung năm chuẩn bị con đường cho hành vi hủy diệt đến qua việc áp dụng cung một.

It governs the time of rebirth, being one of the subsidiary branches of the Law of Karma.

Nó chi phối thời điểm tái sinh, là một trong những nhánh phụ của Định luật Nghiệp Quả.

176. We remember that the Law of Karma is an “Intermediary Law”, positioned between the three cosmic laws and the seven systemic laws.

176. Chúng ta nhớ rằng Định luật Nghiệp Quả là một “Định luật Trung gian”, được đặt giữa ba định luật vũ trụ và bảy định luật hệ thống.

177. The fifth ray is a highly mathematical ray. The “time of rebirth” is calculated with mathematical precision by the Lords of Karma. All manner of cycles have to be taken into consideration.

177. Cung năm là một cung có tính toán học rất cao. “Thời điểm tái sinh” được các Đấng Nghiệp Quả tính toán với độ chính xác toán học. Mọi loại chu kỳ đều phải được cân nhắc.

178. DK is telling us that the “Law of Fixation” is “one of the subsidiary branches of the Law of Karma”.

178. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng “Định luật Cố Định” là “một trong những nhánh phụ của Định luật Nghiệp Quả”.

179. Those who are upon the fifth ray take a cosmic Path which leads to “Absolute Sonship” and the possibility of becoming a Lipika Lord. It is, among many other things, a mathematical Path.

179. Những ai thuộc cung năm đi theo một Con Đường vũ trụ dẫn đến “Tình Con Tuyệt Đối” và khả năng trở thành một Chúa Tể Lipika. Trong nhiều điều khác, đó là một Con Đường toán học.

180. Sirius is the source of the Law of Karma as far as our solar system is concerned. The faculty of manas is highly developed on Sirius; it is great manasic star and thus expresses the fifth ray, just as does the “Law of Fixation”.

180. Sirius là nguồn của Định luật Nghiệp Quả xét theo hệ mặt trời của chúng ta. Năng lực manas được phát triển rất cao trên Sirius; đó là một ngôi sao manas vĩ đại và do đó biểu lộ cung năm, cũng như “Định luật Cố Định” vậy.

Each of the seven subsidiary laws is linked to one of the cosmic laws, or with the Sirian Law of Karma.

Mỗi một trong bảy định luật phụ đều được liên kết với một trong các định luật vũ trụ, hoặc với Định luật Nghiệp Quả Sirian.

181. This is an important point. Earlier it seemed that each of the seven systemic laws must be linked with one or other of the three cosmic laws. This is true in a way, but here DK offers another option—”or within the Sirian Law of Karma”.

181. Đây là một điểm quan trọng. Trước đây dường như mỗi một trong bảy định luật hệ thống đều phải được liên kết với một hay một định luật khác trong ba định luật vũ trụ. Điều này đúng theo một cách nào đó, nhưng ở đây Chân sư DK đưa ra một khả năng khác—”hoặc trong Định luật Nghiệp Quả Sirian”.

182. The “Law of Fixation” is definitely linked with the Sirian Law of Karma. I would not be surprised of the “Law of Magnetic Control” is also linked.

182. “Định luật Cố Định” chắc chắn được liên kết với Định luật Nghiệp Quả Sirian. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu “Định luật Kiểm Soát Từ Tính” cũng được liên kết như vậy.

We need always to remember that the consciousness of the cosmic mental plane is the logoic goal of attainment,

Chúng ta luôn cần nhớ rằng tâm thức của cõi trí vũ trụ là mục tiêu thành tựu của Thượng đế,

183. Our Solar Logos is not yet mentally polarized and is seeking to become so.

183. Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa phân cực trí tuệ và đang tìm cách trở nên như vậy.

and that the Sirian Logos is to our solar Logos what the human Ego is to the personality.

và rằng Thượng đế Sirian đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như chân ngã con người đối với phàm ngã.

184. The Sirian Logos (the Logos of the star Sirius, and perhaps of the small companion star, Sirius B) is mentally polarized.

184. Thượng đế Sirian (Thượng đế của ngôi sao Sirius, và có lẽ cả ngôi sao đồng hành nhỏ, Sirius B) được phân cực trí tuệ.

185. We have the division—when the polarization is astral, the focus is still personal. When the polarization is mental, the polarization can be egoic.

185. Chúng ta có sự phân chia này—khi sự phân cực là cảm dục, tiêu điểm vẫn còn mang tính cá nhân. Khi sự phân cực là trí tuệ, sự phân cực có thể là chân ngã.

The Law of Karma, or cosmic Fixation, is the law of the cosmic mental plane, and controls the corresponding law in our system.

Định luật Nghiệp Quả, hay Cố Định vũ trụ, là định luật của cõi trí vũ trụ, và kiểm soát định luật tương ứng trong hệ chúng ta.

186. Here we have a direct statement confirming what was earlier suggested. Not only is the “Law of Fixation” an aspect of the Sirian Law of Karma but the Sirian Law of Karma is a “Law of Fixation”—a cosmic “Law of Fixation”.

186. Ở đây chúng ta có một phát biểu trực tiếp xác nhận điều đã được gợi ý trước đó. “Định luật Cố Định” không chỉ là một phương diện của Định luật Nghiệp Quả Sirian mà Định luật Nghiệp Quả Sirian là một “Định luật Cố Định”—một “Định luật Cố Định” vũ trụ.

187. The idea is that each cosmic law has lower correspondences within the system. The systemic “Law of Fixation” is the systemic correspondence to the cosmic “Law of Fixation”—the Sirian Law of Karma.

187. Ý tưởng ở đây là mỗi định luật vũ trụ đều có những sự tương ứng thấp hơn bên trong hệ. “Định luật Cố Định” của hệ là sự tương ứng trong hệ đối với “Định luật Cố Định” vũ trụ—Định luật Nghiệp Quả Sirian.

188. The Solar Angels which attend the human race must have much to do with the systemic “Law of Fixation”. There are logoic Solar Angels on the cosmic mental plane, and they probably have much to do with the cosmic “Law of Fixation”.

188. Các Thái dương Thiên Thần phụng sự nhân loại hẳn phải có liên hệ rất nhiều với “Định luật Cố Định” của hệ. Có những Thái dương Thiên Thần của Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, và có lẽ các Ngài cũng có liên hệ rất nhiều với “Định luật Cố Định” vũ trụ.

A solar Logos uses for His energy centres the planetary schemes, each of which embodies a peculiar type of energy, and each of which, therefore, vibrates to the key of the logoic solar Angel, of which the human solar Angel is a dim reflection. (TCF 1161)

Một Thái dương Thượng đế sử dụng các hệ hành tinh làm các trung tâm năng lượng của Ngài, mỗi hệ trong số đó hiện thân cho một loại năng lượng đặc thù, và do đó, mỗi hệ rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần của Thượng đế, mà Thái dương Thiên Thần con người chỉ là một phản chiếu mờ nhạt. (TCF 1161)

In the fifth round this law will act as the divider, temporarily crystallising and fixing into two great classes the human Monads, as they evolve.

Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, định luật này sẽ hoạt động như đấng phân chia, tạm thời kết tinh và cố định thành hai giai cấp lớn các Chân thần con người khi họ tiến hoá.

189. The fifth ray expresses itself through the “Law of Cleavages” or of division.

189. Cung năm biểu lộ chính nó qua “Định luật Phân Ly” hay định luật phân chia.

190. Initiation itself is an ‘act of fiery fixation’. Electrical Uranus, associated with the Hierophant, and with the first and fifth rays, carries the power of ‘electrical fixation’. Perhaps this is what the Rod of Power provides during the initiation ceremony.

190. Bản thân điểm đạo là một ‘hành vi cố định bằng lửa’. Sao Thiên Vương điện, được liên kết với Đấng Điểm đạo, và với cung một cùng cung năm, mang quyền năng của ‘sự cố định bằng điện’. Có lẽ đây là điều mà Thần Trượng Điểm đạo cung cấp trong nghi thức điểm đạo.

191. The classes which are divided one from another are really classes of human monads. Some of these Monads work through personalities which are “on the Path” and some through personalities which are not—yet.

191. Những giai cấp được phân chia khỏi nhau thực ra là các giai cấp chân thần con người. Một số Chân thần này hoạt động qua những phàm ngã đang ở “trên Con Đường”, và một số khác qua những phàm ngã chưa ở đó—ít nhất là hiện chưa.

192. We see that all such division is only temporary, and we may infer that after the period of division, greater unities lie ahead.

192. Chúng ta thấy rằng mọi sự phân chia như thế chỉ là tạm thời, và chúng ta có thể suy ra rằng sau giai đoạn phân chia, những hợp nhất lớn lao hơn đang ở phía trước.

193. When fixation occurs a law is in progress. A ring-pass-not is created and one cannot violate the law (first ray) by moving outside the ring-pass-not.

193. Khi sự cố định xảy ra, một định luật đang vận hành. Một vòng-giới-hạn được tạo ra và người ta không thể vi phạm định luật ấy (cung một) bằng cách di chuyển ra ngoài vòng-giới-hạn.

194. That which is crystallized cannot move. The fifth ray fixes the consciousness of certain entities within a certain field of experience. The field is set and cannot be breached.

194. Điều đã kết tinh thì không thể chuyển động. cung năm cố định tâm thức của một số thực thể trong một trường kinh nghiệm nhất định. Trường ấy đã được thiết lập và không thể bị vượt qua.

One group then (containing those who will reach the goal), will pass gradually out from under the domination of this law, and will come under the Law of Magnetic Control.

Khi đó, một nhóm (gồm những người sẽ đạt mục tiêu) sẽ dần dần thoát khỏi sự chi phối của định luật này, và sẽ đi vào dưới Định luật Xung Động Từ Tính.

195. These are those who are on their way into the realm of the spiritual triad. They are transferring from the auspices of the fifth law to the auspices of the fourth. They are the five becoming the four. From manas they pass to buddhi via buddhi-manas.

195. Đó là những người đang trên đường đi vào cõi của Tam nguyên tinh thần. Họ đang chuyển từ sự bảo trợ của định luật thứ năm sang sự bảo trợ của định luật thứ tư. Họ là năm đang trở thành bốn. Từ manas họ đi sang Bồ đề qua buddhi-manas.

196. Earlier in the text we studied how many fifths or tenths would reach the sixth, fifth or third initiations, or would be in earlier stages of the Path. (cf. TCF 422)

196. Trước đó trong bản văn, chúng ta đã khảo sát bao nhiêu phần năm hay phần mười sẽ đạt đến lần điểm đạo thứ sáu, thứ năm hay thứ ba, hoặc sẽ còn ở những giai đoạn sớm hơn của Con Đường. (xem TCF 422)

The other will remain under the law in a static condition,

Những người khác sẽ vẫn ở dưới định luật này trong một trạng thái tĩnh,

197. Fixation produces stasis.

197. Sự cố định tạo ra sự đình trệ.

until in a later period a fresh opportunity will come;

cho đến khi trong một thời kỳ về sau một cơ hội mới sẽ đến;

198. Will this opportunity come upon the Earth or on another sphere, such as the planet Mars? Or on both at different times?

198. Cơ hội này sẽ đến trên Trái Đất hay trên một khối cầu khác, chẳng hạn như hành tinh Sao Hỏa? Hay trên cả hai vào những thời điểm khác nhau?

199. When this second group goes into temporary pralaya, will the condition be one of stasis? This seems to be the implication.

199. Khi nhóm thứ hai này đi vào giai kỳ qui nguyên tạm thời, liệu trạng thái ấy có phải là một trạng thái đình trệ không? Dường như đó là điều được hàm ý.

old forms will break, and in another mahamanvantara, and in its fifth period, will come the chance for which they will have waited, when they can again swing into the current of evolution and the imprisoned spirits may mount again towards their source.

các hình tướng cũ sẽ tan vỡ, và trong một Đại giai kỳ sinh hóa khác, và trong thời kỳ thứ năm của nó, sẽ đến cơ hội mà họ đã chờ đợi, khi họ có thể lại hòa vào dòng tiến hoá và các tinh thần bị giam hãm có thể lại vươn lên hướng về cội nguồn của mình.

200. Little has been said of those who at the “Judgment Day” will be sent into pralaya and, thence, transferred to another sphere for development suitable to them.

200. Người ta đã nói rất ít về những ai vào “Ngày Phán Xét” sẽ bị đưa vào giai kỳ qui nguyên và từ đó được chuyển sang một khối cầu khác để phát triển theo cách thích hợp với họ.

201. Will these segregated Monads (two-fifths) have to wait until another solar system to resume their progressive activity, or is the word “mahamanvantara” variously used, sometimes meaning an entire occult century and sometimes a rather shorter span of time.

201. Liệu các Chân thần bị tách riêng này (hai phần năm) sẽ phải chờ đến một hệ mặt trời khác mới tiếp tục hoạt động tiến bộ của mình, hay từ “mahamanvantara” được dùng theo nhiều nghĩa, đôi khi chỉ toàn bộ một đại chu kỳ huyền bí và đôi khi chỉ một khoảng thời gian ngắn hơn khá nhiều.

202. Is it being suggested that the transference of the two-fifths into pralaya and thence, into another sphere, is a retardation and imprisonment, or that opportunity is offered in this transference? When transferred are they somehow removed “from the current of evolution”, having only later to return.

202. Có phải ở đây đang gợi ý rằng việc chuyển hai phần năm vào giai kỳ qui nguyên rồi từ đó sang một khối cầu khác là một sự trì hoãn và giam hãm, hay rằng cơ hội được ban cho trong chính sự chuyển dịch này? Khi được chuyển đi, bằng cách nào đó họ có bị đưa ra khỏi “dòng tiến hoá”, để rồi chỉ về sau mới phải quay lại hay không.

203. We note the following suggesting that the two-fifths may not go into a condition of stasis. It seems to be suggested that the place to which they are transferred will be a place of nurture.

203. Chúng ta lưu ý điều sau đây, gợi ý rằng hai phần năm ấy có thể không đi vào một trạng thái đình trệ. Dường như nơi họ được chuyển đến sẽ là một nơi nuôi dưỡng.

These two fifths will pass into temporary pralaya, preparatory to their transference to another scheme, as the Earth scheme will no longer provide for them an adequate place of nurture. (TCF 391)

Hai phần năm này sẽ đi vào giai kỳ qui nguyên tạm thời, chuẩn bị cho việc được chuyển sang một hệ hành tinh khác, vì hệ hành tinh Địa Cầu sẽ không còn cung cấp cho họ một nơi nuôi dưỡng thích đáng nữa. (TCF 391)

204. It is interesting that only when a designated fifth cycle returns can then again reach the point of opportunity which was presented to them at the “Judgment Day”.

204. Điều đáng chú ý là chỉ khi chu kỳ thứ năm được chỉ định quay trở lại thì khi ấy họ mới có thể lại đạt đến điểm cơ hội đã được trình ra cho họ vào “Ngày Phán Xét”.

205. That fifth period in another “mahamanvantara” is a kind of fifth round. Will it be a scheme-round (in which case the term “mahamanvantara” will mean a span much less than an occult century) or will it be a ‘systemic-round’ through a solar system and its various planets, in which case the term “mahamanvantara” will mean, exactly, an occult century.

205. Thời kỳ thứ năm ấy trong một “mahamanvantara” khác là một loại cuộc tuần hoàn thứ năm. Liệu đó sẽ là một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh (trong trường hợp ấy từ “mahamanvantara” sẽ có nghĩa là một khoảng thời gian ngắn hơn nhiều so với một đại chu kỳ huyền bí) hay sẽ là một ‘cuộc tuần hoàn hệ thống’ xuyên qua một hệ mặt trời và các hành tinh khác nhau của nó, trong trường hợp ấy từ “mahamanvantara” sẽ có nghĩa chính xác là một đại chu kỳ huyền bí.

In an occult sense this law is for us the one with which we are the most intimately concerned.

Theo nghĩa huyền bí, đối với chúng ta đây là định luật mà chúng ta có liên hệ mật thiết nhất.

206. This is so because we are in process of transferring from the fourth kingdom of nature into the fifth.

206. Điều này là như vậy vì chúng ta đang trong tiến trình chuyển từ giới thứ tư của thiên nhiên sang giới thứ năm.

207. The “Law of Fixation” touches on our very humanity and its possible spiritualization.

207. “Định luật Cố Định” chạm đến chính nhân tính của chúng ta và khả năng được tinh thần hóa của nó.

It plays an important part in the hands of the Lords of Flame, and is one of Their main factors in controlling the three worlds.

Nó giữ một vai trò quan trọng trong tay các Đấng Chúa Tể của Lửa, và là một trong những yếu tố chính của Các Ngài trong việc kiểm soát ba cõi giới.

208. The Solar Angels are really karmic Agents. Since the “Law of Fixation” is really a lesser Law of Karma (which is a greater “Law of Fixation”), we can understand that the Solar Angels would wield it.

208. Các Thái dương Thiên Thần thực sự là những Tác Nhân nghiệp quả. Vì “Định luật Cố Định” thực sự là một Định luật nhỏ của nghiệp quả (mà nghiệp quả là một “Định luật Cố Định” lớn hơn), chúng ta có thể hiểu rằng các Thái dương Thiên Thần sẽ vận dụng nó.

209. We remember also that the “Law of Magnetic Control” is another law by means of which the personality and even the ego in the causal body are controlled—presumably by the Solar Angel (and also by the Monad).

209. Chúng ta cũng nhớ rằng “Định luật Xung Động Từ Tính” là một định luật khác nhờ đó phàm ngã và ngay cả chân ngã trong thể nguyên nhân cũng được kiểm soát—có lẽ bởi Thái dương Thiên Thần (và cũng bởi chân thần).

Note here an interesting fact, that Venus is the sixth planet (esoterically the second), and is in her [Page 593] fifth round, and hence is ahead of us along every line.

Hãy lưu ý ở đây một sự kiện thú vị, rằng Sao Kim là hành tinh thứ sáu (một cách huyền bí là thứ hai), và đang ở trong [Page 593] cuộc tuần hoàn thứ năm của mình, và vì thế đi trước chúng ta trên mọi phương diện.

210. Venus has a sixth ray Monad (but this is not her “major” monadic ray). To say that Venus is the “sixth planet” correlates with this sixth ray Monad.

210. Sao Kim có một chân thần cung sáu (nhưng đây không phải là cung chân thần “chính yếu” của nó). Nói rằng Sao Kim là “hành tinh thứ sáu” tương ứng với chân thần cung sáu này.

211. To say that Venus is “esoterically the second” correlates with ‘her’ major monadic ray, the second.

211. Nói rằng Sao Kim “một cách huyền bí là thứ hai” tương ứng với cung chân thần chính yếu của ‘nó’, tức cung hai.

212. We remember that in Chart VI of TCF, Venus is shown as the second planetary scheme, and in Chart VII as the second chain. This is the more occult representation and correlates with ‘her’ deeply esoteric second ray Monad.

212. Chúng ta nhớ rằng trong Biểu đồ VI của TCF, Sao Kim được trình bày là hệ hành tinh thứ hai, và trong Biểu đồ VII là dãy thứ hai. Đây là cách trình bày huyền bí hơn và tương ứng với chân thần cung hai sâu kín của ‘nó’.

213. Notice that the term “her” is used in relation to Venus, indicating ‘her’ temporarily feminine nature, for ‘she’ is in a feminine incarnation.

213. Hãy lưu ý rằng từ “her” được dùng liên hệ với Sao Kim, cho thấy bản chất nữ tính tạm thời của ‘nó’, vì ‘nó’ đang trong một lần lâm phàm nữ tính.

214. The round in which Venus finds herself is a ‘planetary round’ or a ‘scheme round’. It is a round which concerns the entire planetary scheme and not just a chain within the scheme.

214. Cuộc tuần hoàn mà Sao Kim đang ở trong đó là một ‘cuộc tuần hoàn hành tinh’ hay một ‘cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh’. Đó là một cuộc tuần hoàn liên quan đến toàn bộ hệ hành tinh chứ không chỉ một dãy bên trong hệ hành tinh.

215. We, on the other hand, are the fourth planet and are in our fourth scheme-round as well as the fourth chain round of the fourth chain. On Earth we have not yet made the transition from the four to the five. And still, in another way, we are preoccupied with the five and have not entered the synthesis which the four makes possible.

215. Ngược lại, chúng ta là hành tinh thứ tư và đang ở trong cuộc tuần hoàn hệ hành tinh thứ tư của mình cũng như cuộc tuần hoàn dãy thứ tư của Dãy Thứ Tư. Trên Trái Đất, chúng ta vẫn chưa thực hiện sự chuyển tiếp từ bốn sang năm. Tuy nhiên, theo một cách khác, chúng ta lại bận tâm với năm và chưa đi vào sự tổng hợp mà bốn làm cho có thể.

This law demonstrates the static quality of love, static temporarily, but necessarily so when viewed from the standpoint of time, the great deluder.

Định luật này chứng minh phẩm tính tĩnh của tình thương, tạm thời là tĩnh, nhưng tất yếu là như vậy khi được nhìn từ quan điểm của thời gian, kẻ đại lừa dối.

216. We must relate the “Law of Fixation” to experience upon the Fixed Cross—the Cross of the Soul.

216. Chúng ta phải liên hệ “Định luật Cố Định” với kinh nghiệm trên Thập Giá Cố Định—Thập Giá của Linh hồn.

217. Through the soul we experience ‘fixed love’ or ‘static love’—a type of love which is non-fluctuating.

217. Qua linh hồn, chúng ta kinh nghiệm ‘tình thương cố định’ hay ‘tình thương tĩnh’—một loại tình thương không dao động.

218. Upon the higher mental plane where the “Law of Fixation” also applies, there is experienced one phase of the overcoming of the illusion of time. A more complete overcoming occurs in relation to the buddhic plane at and after the fourth degree.

218. Trên Cõi thượng trí, nơi “Định luật Cố Định” cũng được áp dụng, người ta kinh nghiệm một giai đoạn của việc vượt qua ảo tưởng về thời gian. Một sự vượt qua trọn vẹn hơn xảy ra liên hệ với cõi Bồ đề vào và sau cấp độ thứ tư.

219. Why is time called “the great deluder”? “Time then and form agree. Being and Time do not agree.” Time veils Being. Saturn veils Uranus (Space, the Heavenly One, and the ‘God of Simultaneity’).

219. Vì sao thời gian được gọi là “kẻ đại lừa dối”? “Khi ấy thời gian và hình tướng đồng thuận. Bản Thể và Thời Gian không đồng thuận.” Thời gian che phủ Bản Thể. Sao Thổ che phủ Sao Thiên Vương (Không Gian, Đấng Thiên Nhân, và ‘Thượng đế của Tính Đồng Thời’).

On the path of involution this law again works with the permanent atoms in the three worlds, with the building in of material around those atoms, in connection with the building devas and the reincarnating Egos.

Trên con đường giáng hạ tiến hoá, định luật này lại hoạt động với các Nguyên tử trường tồn trong ba cõi giới, với việc xây đắp vật chất quanh các nguyên tử ấy, liên hệ với các thiên thần kiến tạo và các chân ngã tái sinh.

220. We see that the “Law of Fixation” is also a constructive law. It contributes to the building process before contributing to the process of destruction

220. Chúng ta thấy rằng “Định luật Cố Định” cũng là một định luật xây dựng. Nó góp phần vào tiến trình xây dựng trước khi góp phần vào tiến trình hủy diệt

221. Along this line, the fifth ray is not only related to the first but also to the second. In fact, it is closely related to the third. This threefold relationship must be closely examined when we study the Word of Power, “Three Minds Unite”.

221. Theo đường hướng này, cung năm không chỉ liên hệ với cung một mà còn với cung hai. Thật ra, nó liên hệ mật thiết với cung ba. Mối liên hệ tam phân này phải được khảo sát kỹ khi chúng ta nghiên cứu Quyền năng từ, “Ba trí hợp nhất”.

222. Presumably the “building in of material around those atoms” means the building of the vehicles through which the Ego is to function.

222. Có lẽ “việc xây đắp vật chất quanh các nguyên tử ấy” có nghĩa là việc xây dựng các vận cụ mà qua đó chân ngã sẽ hoạt động.

223. This building-in and the building, in general, must be a highly technical and ‘karmically mathematical’ process, for which the fifth ray is needed.

223. Việc xây đắp này và việc xây dựng nói chung hẳn phải là một tiến trình có tính kỹ thuật rất cao và ‘toán học theo nghiệp quả’, cần đến cung năm.

224. There is much scientific knowledge required for work with the permanent atoms. The members so the Fifth Creative Hierarchy (the Solar Angels) have this type of knowledge.

224. Cần có rất nhiều tri thức khoa học cho công việc với các Nguyên tử trường tồn. Các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm (các Thái dương Thiên Thần) có loại tri thức này.

The devas are the mother aspect, the builders of the body, and the reincarnating Jivas are the son aspect; yet the two are but one, and the result is the divine hermaphroditic man. [See page 512.]

Các thiên thần là phương diện mẹ, là những đấng kiến tạo của thể, và các Jiva tái sinh là phương diện con; tuy nhiên cả hai chỉ là một, và kết quả là con người lưỡng tính thiêng liêng. [See page 512.]

225. The Planetary Logos is a Divine Hermaphrodite; so is man on a lesser scale.

225. Hành Tinh Thượng Đế là một Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng; con người cũng vậy ở một quy mô nhỏ hơn.

226. We are dealing with the mystery of the Mother and the Son. The Jiva is the Son—the solar aspect in man. The Jiva is emanative extension of the monadic “spark”. It is sun-like.

226. Chúng ta đang bàn đến huyền nhiệm của Mẹ và Con. Jiva là Con—phương diện thái dương trong con người. Jiva là sự mở rộng phát xạ của “tia lửa” chân thần. Nó có tính chất như mặt trời.

227. If any relationship is to be stable, some degree of fixity is required. Fixation leads to stabilization and stabilization leads to the perpetuation of relationship. Perpetuated relationships can be equated with perpetuated forms through which man can manifest. Without the “Law of Fixation”, man would have no stable vehicles through which to manifest.

227. Nếu bất kỳ mối liên hệ nào muốn bền vững, thì cần có một mức độ cố định nào đó. Sự cố định dẫn đến sự ổn định và sự ổn định dẫn đến sự kéo dài của mối liên hệ. Những mối liên hệ được kéo dài có thể được xem tương đương với những hình tướng được kéo dài mà qua đó con người có thể biểu hiện. Không có “Định luật Cố Định”, con người sẽ không có những vận cụ ổn định để biểu hiện.

6. The Law of Love.—It is not easy, in this brief digest, to approach the tremendous problem of the place love plays in the evolving scheme of things as understood by three-dimensional man.

6. Định luật Tình thương.—Trong bản tóm lược ngắn này, không dễ để tiếp cận vấn đề to lớn về vai trò mà tình thương giữ trong hệ tiến hoá của vạn vật như được con người ba chiều thấu hiểu.

228. In the higher reaches of our identity we are more than “three dimensional man”, and perhaps must repair to those heights in order to understand the true nature of Love.

228. Trong những tầng cao hơn của bản sắc chúng ta, chúng ta còn hơn cả “con người ba chiều”, và có lẽ phải vươn lên những tầng cao ấy mới có thể hiểu bản chất đích thực của Tình thương.

A treatise could be written on the subject, and yet leave it unexhausted.

Có thể viết cả một bộ luận về chủ đề này mà vẫn chưa cạn hết.

229. When DK says this, He means exactly what He says.

229. Khi Chân sư DK nói điều này, Ngài có ý đúng như những gì Ngài nói.

230. He can foresee how a subject could be elaborated. His task, in giving us all these writings, is to essentialize His voluminous vision and understanding. It must have been a great act of discrimination to decide what to write about and in what length. Obviously, our capacity to assimilate and the time available to us to assimilate, must have presented Him with a very great challenge.

230. Ngài có thể thấy trước một chủ đề có thể được khai triển như thế nào. Nhiệm vụ của Ngài, khi trao cho chúng ta toàn bộ những trước tác này, là cô đọng tầm nhìn và sự thấu hiểu đồ sộ của Ngài thành phần tinh yếu. Hẳn đó là một hành vi phân biện lớn lao khi quyết định nên viết về điều gì và viết dài đến mức nào. Rõ ràng năng lực đồng hóa của chúng ta và thời gian dành cho chúng ta để đồng hóa hẳn đã đặt trước Ngài một thách thức rất lớn.

Much light comes if we can ponder deeply on the three expressions of Love: Love in the Personality, Love in the Ego, and Love in the Monad.

Rất nhiều ánh sáng sẽ đến nếu chúng ta có thể suy gẫm sâu xa về ba biểu hiện của Tình thương: Tình thương trong Phàm ngã, Tình thương trong Chân ngã, và Tình thương trong Chân thần.

231. These three, and the laws with which they correlate are constantly repeated in the sections of text we have been studying during this and the preceding commentary.

231. Ba điều này, cùng các định luật tương ứng với chúng, liên tục được lặp lại trong những phần bản văn mà chúng ta đã nghiên cứu trong bản luận giải này và bản trước đó.

Love in the Personality gradually develops through the stages of love of self, pure and simple and entirely selfish, to love of family and friends, to love of men and women, until it arrives at the stage of love of humanity or group love consciousness which is the predominant characteristic of the Ego.

Tình thương trong Phàm ngã dần dần phát triển qua các giai đoạn từ tình yêu bản thân, thuần túy và đơn giản, hoàn toàn ích kỷ, đến tình thương gia đình và bạn bè, đến tình thương đối với những người nam và nữ, cho đến khi đạt tới giai đoạn tình thương đối với nhân loại hay tâm thức tình thương nhóm, vốn là đặc tính nổi trội của chân ngã.

232. DK has given us an important developmental sequence. Let us try to fix it in mind through tabulation:

232. Chân sư DK đã cho chúng ta một chuỗi phát triển quan trọng. Chúng ta hãy cố ghi cố định nó trong trí qua cách liệt kê:

233. Love in the Personality develops in the following sequence:

233. Tình thương trong Phàm ngã phát triển theo trình tự sau:

a. Love of self, pure and simple, and entirely selfish

a. Tình yêu bản thân, thuần túy và đơn giản, hoàn toàn ích kỷ

b. Love of family and friends

b. Tình thương gia đình và bạn bè

c. Love of men and women who are not necessarily family and friends

c. Tình thương đối với những người nam và nữ không nhất thiết là gia đình hay bạn bè

d. Love of humanity in general—group love. This is the kind of love which expresses itself through the Ego.

d. Tình thương đối với nhân loại nói chung—tình thương nhóm. Đây là loại tình thương biểu lộ qua chân ngã.

A Master of Compassion loves, suffers with, and remains with His kind and with His kin.

Một Chúa Tể của Lòng Từ Bi yêu thương, cùng đau khổ với, và ở lại với đồng loại và với những người thân thuộc của Ngài.

234. DK is telling us about the motivation and life process of a Master of Compassion. Perhaps this type of Master is distinguished somewhat from a Master of the Wisdom.

234. Chân sư DK đang nói với chúng ta về động cơ và tiến trình sống của một Chúa Tể của Lòng Từ Bi. Có lẽ loại Chân sư này phần nào được phân biệt với một Chân sư Minh Triết.

In the hierarchy of our planet the “Lords of Compassion” are numerically greater than the “Masters of the Wisdom.” The former must therefore all pass to the sun Sirius there to undergo a tremendous manasic stimulation, for Sirius is the emanating source of manas. There the mystic must go and become what is called “a spark of mahatic electricity.” (TCF 1243)

Trong thánh đoàn của hành tinh chúng ta, các “Chúa Tể của Lòng Từ Bi” đông hơn về số lượng so với các “Chân sư Minh Triết.” Vì thế, tất cả các Ngài trước hết phải đi đến mặt trời Sirius để chịu một sự kích thích manas to lớn, vì Sirius là nguồn phát xạ của manas. Tại đó nhà thần bí phải đi đến và trở thành điều được gọi là “một tia lửa điện mahatic.” (TCF 1243)

235. Let us think of the Christ:

235. Chúng ta hãy nghĩ đến Đức Christ:

a. He loved human beings

a. Ngài yêu thương con người

b. He suffered and suffers with human beings

b. Ngài đã cùng đau khổ và đang cùng đau khổ với con người

c. He remained and remains with human being, to all of whom He feels related.

c. Ngài đã ở lại và đang ở lại với con người, với tất cả những người mà Ngài cảm thấy có liên hệ.

236. The Christ is both a “Master of the Wisdom” and a “Lord of Compassion”.

236. Đức Christ vừa là một “Chân sư Minh Triết” vừa là một “Chúa Tể của Lòng Từ Bi”.

Love in the Ego gradually develops from love of humanity into love universal—a love that expresses not only love of humanity, but also love of the deva evolutions in their totality, and of all forms of divine manifestation.

Tình thương trong Chân ngã dần dần phát triển từ tình thương đối với nhân loại thành tình thương phổ quát—một tình thương biểu lộ không chỉ tình thương đối với nhân loại, mà còn tình thương đối với toàn bộ các tiến trình tiến hoá thiên thần, và đối với mọi hình thức biểu hiện thiêng liêng.

237. We now continue with the development of love. When tracing the development of Love in the Personality, we arrived finally at group love. When discussing Love in the Ego, we now begin with group love or love of humanity—a wider form of group love.

237. Giờ đây chúng ta tiếp tục với sự phát triển của tình thương. Khi truy theo sự phát triển của Tình thương trong Phàm ngã, cuối cùng chúng ta đã đi đến tình thương nhóm. Khi bàn về Tình thương trong Chân ngã, giờ đây chúng ta bắt đầu với tình thương nhóm hay tình thương đối với nhân loại—một hình thức rộng lớn hơn của tình thương nhóm.

238. Love in the Ego develops through the following stages:

238. Tình thương trong Chân ngã phát triển qua các giai đoạn sau:

a. Love of the group

a. Tình thương đối với nhóm

b. Love of humanity

b. Tình thương đối với nhân loại

c. Love universal—including with a love of humanity, the love of the deva evolutions and of all forms of divine manifestation.

c. Tình thương phổ quát—bao gồm, cùng với tình thương đối với nhân loại, tình thương đối với các tiến trình tiến hoá thiên thần và đối với mọi hình thức biểu hiện thiêng liêng.

239. Ever the love becomes more and more inclusive.

239. Tình thương luôn luôn trở nên ngày càng bao gồm hơn.

Love in the Personality is love in the three worlds; love in the Ego is love in the solar system, and all that it contains; whilst love in the Monad demonstrates a measure of cosmic love, and embraces much that is outside the solar system altogether.

Tình thương trong Phàm ngã là tình thương trong ba cõi giới; tình thương trong Chân ngã là tình thương trong hệ mặt trời, và trong tất cả những gì nó chứa đựng; còn tình thương trong Chân thần biểu lộ một mức độ tình thương vũ trụ, và bao trùm nhiều điều hoàn toàn ở ngoài hệ mặt trời.

240. Here is an excellent comparison:

240. Đây là một sự so sánh rất tuyệt vời:

241. The three vibratory domains compared are:

241. Ba lĩnh vực rung động được so sánh là:

a. The three worlds wherein Love in the Personality prevails

a. Ba cõi giới nơi Tình thương trong Phàm ngã ngự trị

b. The seven world or seven solar planes wherein Love in the solar system prevails

b. Bảy thế giới hay bảy cõi thái dương nơi Tình thương trong hệ mặt trời ngự trị

c. Extra-systemic or Cosmic Love wherein “love in the Monad” prevails.

c. Tình thương ngoài hệ thống hay Tình thương Vũ trụ nơi “tình thương trong Chân thần” ngự trị.

242. The consciousness and love of the Monad reaches beyond even our solar system. Does the Monad begin to relate in love to the Seven Solar Systems of Which Ours is One? Is such love at least Sirian in nature?

242. Tâm thức và tình thương của chân thần vươn ra vượt quá cả hệ mặt trời của chúng ta. Phải chăng chân thần bắt đầu liên hệ trong tình thương với Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó? Phải chăng loại tình thương ấy ít nhất có bản chất Sirius?

243. Or does “love in the Monad” embrace that part of our Solar Logos which lies ‘above’ our cosmic physical plane—such as the astral nature of the Logos and His mental nature, leading eventually to the Heart of the Sun—His causal nature on the cosmic mental plane.

243. Hay “tình thương trong Chân thần” bao trùm phần ấy của Thái dương Thượng đế của chúng ta nằm ‘bên trên’ cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta—chẳng hạn như bản chất cảm dục của Thượng đế và bản chất trí tuệ của Ngài, cuối cùng dẫn đến Trái Tim của Mặt Trời—bản chất nguyên nhân của Ngài trên cõi trí vũ trụ.

[Page 594]

[Page 594]

This term “The Law of Love,” is after all too generic a term to apply to one law governing one plane, but will have to suffice for the present, as it conveys the type of idea that is needed, to our minds.

Sau cùng, thuật ngữ “Định luật Tình thương” là một thuật ngữ quá tổng quát để áp dụng cho một định luật chi phối một cõi, nhưng hiện tại sẽ phải tạm dùng như vậy, vì nó chuyển tải loại ý tưởng mà trí tuệ chúng ta cần.

244. DK realizes that one cannot confine the great “Law of Love” to one plane alone. It pervades the entire cosmic physical plane and cosmic planes beyond. So it is being used for want of a better term.

244. Chân sư DK nhận ra rằng người ta không thể giới hạn “Định luật Tình thương” vĩ đại vào chỉ một cõi. Nó thấm khắp toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ và cả những cõi vũ trụ cao hơn. Vì vậy nó được dùng do chưa có một thuật ngữ nào tốt hơn.

245. This is why He called it earlier the “astral Law of Love”.

245. Đó là lý do vì sao trước đó Ngài gọi nó là “Định luật Tình thương cảm dục”.

The Law of Love is in reality but the law of the system in demonstration on all the planes.

Định luật Tình thương thực ra chỉ là định luật của hệ đang biểu lộ trên mọi cõi.

246. Here DK gives a wider definition of the “Law of Love”

246. Ở đây Chân sư DK đưa ra một định nghĩa rộng hơn về “Định luật Tình thương”

247. When we call it the law of the system, we should not confine ourselves to the etheric-physical nature of the Solar Logos, but to other and higher cosmic aspects. Our Logos is a “God of Love” in his astral, mental and higher mental nature as well as in His etheric-physical nature.

247. Khi chúng ta gọi đó là định luật của hệ, chúng ta không nên giới hạn mình vào bản chất dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế, mà phải tính đến các phương diện vũ trụ khác và cao hơn. Thượng đế của chúng ta là một “Thượng đế của Tình thương” trong bản chất cảm dục, trí tuệ và thượng trí của Ngài cũng như trong bản chất dĩ thái-hồng trần của Ngài.

Love was the impelling motive for manifestation, and love it is that keeps all in ordered sequence; love bears all on the path of return to the Father's bosom, and love eventually perfects all that is. It is love that builds the forms that cradle temporarily the inner hidden life, and love is the cause of the disruption of those forms, and their utter shattering, so that the life may further progress. Love manifests on each plane as the urge that drives the evolving Monad onwards to its goal, and love is the key to the deva kingdom, and the reason of the blending of the two kingdoms eventually into the divine Hermaphrodite.

Tình thương là động cơ thúc đẩy sự biểu hiện, và chính tình thương giữ cho mọi sự ở trong trật tự tuần tự; tình thương mang tất cả trên Con Đường Trở Về với lòng Cha, và tình thương cuối cùng làm hoàn thiện mọi điều đang hiện hữu. Chính tình thương xây dựng những hình tướng tạm thời ấp ủ sự sống ẩn kín bên trong, và tình thương là nguyên nhân của sự phá vỡ những hình tướng ấy, và sự tan nát hoàn toàn của chúng, để sự sống có thể tiến xa hơn. Tình thương biểu lộ trên mỗi cõi như sự thôi thúc đẩy chân thần đang tiến hoá tiến về mục tiêu của nó, và tình thương là chìa khóa của giới thiên thần, và là lý do của sự hòa trộn của hai giới cuối cùng thành con người lưỡng tính thiêng liêng.

248. Here is a magnificent paragraph defining the nature of Love.

248. Đây là một đoạn văn tráng lệ định nghĩa bản chất của Tình thương.

249. The Solar Logos is Love and so Love must be defined broadly and inclusively:

249. Thái dương Thượng đế là Tình thương và vì thế Tình thương phải được định nghĩa một cách rộng rãi và bao gồm:

250. Let us tabulate what we are learning about the nature of Love, for the sake of greater impression:

250. Chúng ta hãy liệt kê điều mình đang học về bản chất của Tình thương, để tạo ấn tượng sâu hơn:

a. Love is the impelling motive for manifestation. Love is archetypal relationship. The Divine Archetype expresses this relationship. That Archetype is magnetic and draws all units towards such relationship.

a. Tình thương là động cơ thúc đẩy sự biểu hiện. Tình thương là mối liên hệ nguyên mẫu. Nguyên Mẫu Thiêng Liêng biểu lộ mối liên hệ này. Nguyên Mẫu ấy có tính từ tính và thu hút mọi đơn vị hướng về mối liên hệ như thế.

b. Love keeps all in ordered sequence. Those who belong to each other (through Love) find each other and come and go in ordered cycles. They do not break their magnetic affinity with each other and cycle in and out accordingly.

b. Tình thương giữ cho mọi sự ở trong trật tự tuần tự. Những ai thuộc về nhau (qua Tình thương) sẽ tìm thấy nhau và đến rồi đi theo những chu kỳ có trật tự. Họ không phá vỡ sự tương hợp từ tính với nhau và vì thế tuần hoàn vào rồi ra theo đó.

c. Love bears all on the Path of Return to the Father’s Bosom. The Monad in the Father’s Bosom is a great Magnet.

c. Tình thương mang tất cả trên Con Đường Trở Về với lòng Cha. Chân thần trong lòng Cha là một Nam Châm vĩ đại.

d. Love eventually perfects all that is. Love orders all into archetypal relationship. Such an ordering leads to perfection.

d. Tình thương cuối cùng làm hoàn thiện mọi điều đang hiện hữu. Tình thương sắp đặt mọi sự vào trong mối liên hệ nguyên mẫu. Sự sắp đặt như thế dẫn đến hoàn thiện.

e. Love builds the forms that temporarily cradle the inner life. Love provides vehicles for the expression of the inner life. Life invites the inner life into expression through form and protects that inner life as it expresses through form.

e. Tình thương xây dựng những hình tướng tạm thời ấp ủ sự sống bên trong. Tình thương cung cấp các vận cụ cho sự biểu lộ của sự sống bên trong. Sự sống mời gọi sự sống bên trong đi vào biểu lộ qua hình tướng và bảo vệ sự sống bên trong ấy khi nó biểu lộ qua hình tướng.

f. Love is the cause of the disruption of such forms so that the inner hidden life may progress. A greater Love attracts the inner life beyond the form created (which, then, must be destroyed). This attraction and destruction recur until the forms created are the Archetypal Forms.

f. 44577§Tình thương là nguyên nhân của sự phá vỡ những hình tướng như thế để sự sống ẩn kín bên trong có thể tiến bộ. Một Tình thương lớn hơn thu hút sự sống bên trong vượt ra ngoài hình tướng đã được tạo ra (và khi ấy hình tướng ấy phải bị hủy diệt). Sự thu hút và hủy diệt này tái diễn cho đến khi những hình tướng được tạo ra là các Hình Tướng Nguyên Mẫu.

g. Love manifests as the urge that drives the evolving Monad on to its goal. Does Love drive or does it attract? The Monad longs for the return to perfected relationship.

g. Tình thương biểu lộ như sự thôi thúc đẩy chân thần đang tiến hoá hướng đến mục tiêu của nó. Tình thương đẩy đi hay thu hút? Chân thần khao khát sự trở về với mối liên hệ hoàn hảo.

h. Love is the key to the deva kingdom. This kingdom is the great feminine aspect and lovingly offers itself as a vehicle for the expression for the consciousness aspect. When in the “Love”, one summons the devas wisely and builds with them wisely. An ordered and beautiful life is the result.

h. Tình thương là chìa khóa của giới thiên thần. Giới này là phương diện nữ tính vĩ đại và đầy yêu thương hiến mình làm vận cụ cho sự biểu lộ của phương diện tâm thức. Khi ở trong “Tình thương”, người ta triệu gọi các thiên thần một cách minh triết và cùng họ xây dựng một cách minh triết. Kết quả là một đời sống có trật tự và đẹp đẽ.

i. Love is the reason for the blending of the two kingdoms eventually into the Divine Hermaphrodite. Love insists on completeness and inclusion. The two poles must come together to make the whole. Love brings these poles together—man and deva.

i. Tình thương là lý do cho sự hòa trộn của hai giới để cuối cùng thành Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng. Tình thương đòi hỏi sự toàn vẹn và tính bao gồm. Hai cực phải đến với nhau để tạo nên toàn thể. Tình thương đưa hai cực này đến với nhau—con người và thiên thần.

Love works through the concrete rays in the building of the system, and in the rearing of the structure that shelters the Spirit,

Tình thương hoạt động qua các cung cụ thể trong việc xây dựng hệ thống, và trong việc dựng nên cấu trúc che chở cho tinh thần,

251. How shall we look at the terms “concrete” and “abstract” in this context?

251. Trong ngữ cảnh này, chúng ta nên nhìn các thuật ngữ “cụ thể” và “trừu tượng” như thế nào?

252. Earlier we considered one—three—five—seven concrete, and especially rays five and seven.

252. Trước đó chúng ta đã xét một—ba—năm—bảy là cụ thể, và đặc biệt là cung năm và cung bảy.

253. We considered that the ‘mystic line’ of two—four—six held the “abstract rays”.

253. Chúng ta đã xét rằng “đường thần bí” của hai—bốn—sáu nắm giữ “các cung trừu tượng”.

254. We recall, however, that it is also possible to consider rays five, six and seven the “concrete rays” and rays one, two and three the “abstract rays”.

254. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng cũng có thể xem các cung năm, sáu và bảy là “các cung cụ thể” và các cung một, hai và ba là “các cung trừu tượng”.

and love works through the abstract rays for the full and potent development of that inherent divinity.

và tình thương hoạt động qua các cung trừu tượng để phát triển đầy đủ và mạnh mẽ thiên tính nội tại ấy.

255. Perhaps in this context it would be wise to consider abstract and concrete differently than before, for it is the Rays of Attribute which build the persona and the Rays of Aspect which develop the Attributes of divinity so that they can express the Aspect.

255. Có lẽ trong ngữ cảnh này sẽ là khôn ngoan nếu xem trừu tượng và cụ thể theo cách khác trước, vì chính Các Cung Thuộc Tính xây dựng phàm nhân và Các Cung Trạng Thái phát triển các Thuộc Tính của thiên tính để chúng có thể biểu lộ Phương diện.

Love demonstrates, through the concrete rays, the aspects of divinity, forming the persona that hides the one Self; love demonstrates through the abstract rays in developing the attributes of divinity, in evolving to fullest measure the kingdom of God within.

Tình thương biểu lộ, qua các cung cụ thể, các phương diện của thiên tính, tạo thành phàm nhân che giấu một Bản Ngã duy nhất; tình thương biểu lộ qua các cung trừu tượng trong việc phát triển các thuộc tính của thiên tính, trong việc tiến hóa đến mức viên mãn nhất thiên giới bên trong.

256. This is beautifully stated. The “aspects of divinity” are definitely expressed by the Rays of Aspect—rays one, two and three. These abstract qualities expressed through the Rays of Aspect develop the “Attributes” of divinity as the “Aspects” express through the “Attributes”.

256. Điều này được phát biểu thật đẹp. Các “phương diện của thiên tính” chắc chắn được biểu lộ bởi Các Cung Trạng Thái—cung một, hai và ba. Những phẩm tính trừu tượng này được biểu lộ qua Các Cung Trạng Thái phát triển các “Thuộc Tính” của thiên tính khi các “Phương diện” biểu lộ qua các “Thuộc Tính”.

257. But in all fairness, DK has been turning these words “aspects” and “attributes” in various ways, so there is no entirely clear delineation. It seems very likely that there are at least two different ways of understanding the words “abstract rays” and “concrete rays”.

257. Nhưng công bằng mà nói, Chân sư DK đã xoay chuyển các từ “phương diện” và “thuộc tính” theo nhiều cách khác nhau, nên không có một sự phân định hoàn toàn rõ ràng. Có vẻ rất có thể là có ít nhất hai cách khác nhau để hiểu các từ “các cung trừu tượng” và “các cung cụ thể”.

258. If one studies the section of text above, one could come to the conclusion that the term “attributes” indicates something more subjective than the term “aspects”, but clearly Rays of Aspect are the more general, inclusive rays and Rays of Attribute are more specific and more concrete.

258. Nếu nghiên cứu đoạn văn trên, người ta có thể đi đến kết luận rằng thuật ngữ “thuộc tính” chỉ điều gì đó chủ quan hơn so với thuật ngữ “phương diện”, nhưng rõ ràng Các Cung Trạng Thái là các cung tổng quát hơn, bao gồm hơn, còn Các Cung Thuộc Tính thì đặc thù hơn và cụ thể hơn.

259. We have to follow every sentence closely to see exactly what may evolution meant.

259. Chúng ta phải theo sát từng câu để thấy chính xác tiến hóa có thể được muốn nói là gì.

Love in the concrete rays leads to the path of occultism; love in the abstract rays leads to that of the mystic.

Tình thương trong các cung cụ thể dẫn đến con đường huyền bí học; tình thương trong các cung trừu tượng dẫn đến con đường của nhà thần bí.

260. But now we have the other point of view. The rays on the one—three—five—seven line are definitely the rays which lead to the “path of occultism”. They are not the rays of the mystic. So if this is what DK means by concrete, then the concrete rays are one, three, five and seven.

260. Nhưng giờ đây chúng ta có quan điểm kia. Các cung trên đường một—ba—năm—bảy chắc chắn là các cung dẫn đến “con đường huyền bí học”. Chúng không phải là các cung của nhà thần bí. Vì vậy nếu đây là điều Chân sư DK muốn nói bởi cụ thể, thì các cung cụ thể là một, ba, năm và bảy.

261. AND, the rays of the mystic are definitely the two—four—six line. So even though the Rays of Aspect are abstract when compared to the Rays of Attribute, in the context of this particular section of text, we must relate the abstract rays to the mystical line—rays two, four and six.

261. VÀ, các cung của nhà thần bí chắc chắn là đường hai—bốn—sáu. Vì thế dù Các Cung Trạng Thái là trừu tượng khi so với Các Cung Thuộc Tính, trong ngữ cảnh của riêng đoạn văn này, chúng ta phải liên hệ các cung trừu tượng với đường thần bí—các cung hai, bốn và sáu.

Love forms the sheath and inspires the life; love causes the logoic vibration to surge forward, carrying all on its way, and bringing all to perfected manifestation.

Tình thương tạo thành vỏ bọc và truyền cảm hứng cho sự sống; tình thương khiến rung động logoic dâng trào tiến tới, mang tất cả theo đường đi của nó, và đưa tất cả đến sự biểu hiện hoàn hảo.

262. Behind all these rays is the Great Indigo Ray of Love-Wisdom. It is Solar Love which uses all the rays and all the divine aspects.

262. Đằng sau tất cả các cung này là Cung Chàm Vĩ Đại của Bác Ái – Minh Triết. Chính Tình thương Thái dương sử dụng mọi cung và mọi phương diện thiêng liêng.

263. Love uses the occult rays and the mystical rays. Love uses the abstract rays and the concrete rays. Love uses the Rays of Aspect and the Rays of Attribute.

263. Tình thương sử dụng các cung huyền bí học và các cung thần bí. Tình thương sử dụng các cung trừu tượng và các cung cụ thể. Tình thương sử dụng Các Cung Trạng Thái và Các Cung Thuộc Tính.

264. We have two different ways of view ing the concept of concrete and abstract, but whichever is correct (and also if both are correct) it is Love that uses these lines of expression.

264. Chúng ta có hai cách khác nhau để nhìn khái niệm cụ thể và trừu tượng, nhưng dù cách nào đúng đi nữa (và cả khi cả hai đều đúng) thì chính Tình thương sử dụng các đường biểu lộ này.

In System I, Activity, Desire for Expression, and the Impulse to Move was the basic note.

Trong Hệ thống I, Hoạt động, Khát vọng Biểu lộ, và Xung lực Tiến động là chủ âm căn bản.

265. Even now those upon the third ray express this “Impulse to Move”. Stillness and centeredness, on the other hand, are the natural expression of many upon the second ray.

265. Ngay cả bây giờ những ai thuộc cung ba vẫn biểu lộ “Xung lực Tiến động” này. Mặt khác, sự tĩnh tại và tính định tâm là biểu lộ tự nhiên của nhiều người thuộc cung hai.

266. The “Desire for Expression” is related to the seventh ray “Will-to-Express”. The seventh ray, so closely related to the third, was strong in the previous solar system. (cf. EA 605)

266. “Khát vọng Biểu lộ” có liên hệ với “Ý Chí-Biểu Lộ” của cung bảy. Cung bảy, có liên hệ rất mật thiết với cung ba, đã mạnh trong hệ mặt trời trước. (xem EA 605)

267. Virgo, the sign of the zodiac which was powerful in the second half of the previous solar system is hypothesized as having expressed at that time through the third and seventh rays, whereas now it expresses through the second and sixth.

267. Virgo, dấu hiệu hoàng đạo vốn mạnh trong nửa sau của hệ mặt trời trước, được giả thuyết là vào thời đó đã biểu lộ qua cung ba và cung bảy, trong khi hiện nay nó biểu lộ qua cung hai và cung sáu.

268. Or shall we say that at that time the third and seventh rays expressed through Virgo and now the second and sixth rays express through it?

268. Hay chúng ta nên nói rằng vào thời đó cung ba và cung bảy biểu lộ qua Virgo và hiện nay cung hai và cung sáu biểu lộ qua nó?

269. There are various sources of rays; some may express through a constellation and some may be expressed by a constellations (emitted rather than transmitted as in the first case).

269. Có nhiều nguồn cung khác nhau; một số có thể biểu lộ qua một chòm sao và một số có thể được biểu lộ bởi một chòm sao (được phát ra hơn là được truyền dẫn như trong trường hợp thứ nhất).

That activity produced certain results, certain permanent effects, and thus formed the nucleus for the present system.

Hoạt động đó đã tạo ra những kết quả nhất định, những hiệu quả trường tồn nhất định, và do đó hình thành hạt nhân cho hệ thống hiện tại.

270. These “results” became the basic, “primordial” patterns upon which our present solar system was founded.

270. Những “kết quả” này đã trở thành các mô hình căn bản, “nguyên sơ”, trên đó hệ mặt trời hiện tại của chúng ta được thiết lập.

Ordered Activity is the foundation of this system of ordered [Page 595] Love,

Hoạt Động Có Trật Tự là nền tảng của hệ thống Tình thương có trật tự này, [Page 595]

271. The third and seventh rays combine. It is as if Virgo (the sign so prominent during the later part of the previous system) gave birth to our system, the second major system.

271. Cung ba và cung bảy kết hợp với nhau. Dường như Virgo (dấu hiệu nổi bật đến thế trong phần sau của hệ thống trước) đã sinh ra hệ thống của chúng ta, hệ thống lớn thứ hai.

272. We are also reminded of the nature of a certain One About Whom Naught May Be Said which can be studied in EP I 150, wherein the “active impulse towards organization” is a major quality.

272. Chúng ta cũng được nhắc đến bản chất của một Đấng Bất Khả Tư Nghị nào đó, điều có thể được nghiên cứu trong EP I 150, nơi đó “xung lực tích cực hướng tới tổ chức” là một phẩm tính chủ yếu.

273. A system of “ordered Love” suggests the union of the seventh and second rays. The Monads on the second or seventh plane are an expression of “ordered Love”.

273. Một hệ thống của “Tình thương có trật tự” gợi ý sự hợp nhất của cung bảy và cung hai. Các Chân thần trên cõi thứ hai hoặc cõi thứ bảy là một biểu lộ của “Tình thương có trật tự”.

and leads to system three, wherein ordered Activity, with ordered Love for its impulse, results in ordered loving Power.

và dẫn đến hệ thống ba, trong đó Hoạt động có trật tự, với Tình thương có trật tự làm xung lực của nó, đưa đến Quyền năng yêu thương có trật tự.

274. We must not dismiss ray three as a ray of order. We sometimes think of it as a ray of chaos, but when highly developed all proceeds cyclically and intelligently—at the right time and in the right place. In other words, ray three contributes significantly to the establishing of order. Ray seven is a more concrete expression of ray three just as it is a more concrete expression of ray one. Ray seven is especially related to these two rays.

274. Chúng ta không được gạt cung ba sang một bên như một cung của trật tự. Đôi khi chúng ta nghĩ về nó như một cung của hỗn loạn, nhưng khi phát triển cao thì mọi sự đều tiến hành theo chu kỳ và một cách thông minh—đúng lúc và đúng chỗ. Nói cách khác, cung ba góp phần đáng kể vào việc thiết lập trật tự. Cung bảy là một biểu lộ cụ thể hơn của cung ba cũng như nó là một biểu lộ cụ thể hơn của cung một. Cung bảy đặc biệt liên hệ với hai cung này.

275. So in the third system there is ordered, loving power—rays three/seven—two—one.

275. Vì vậy trong hệ thống thứ ba có quyền năng yêu thương có trật tự—các cung ba/bảy—hai—một.

276. Each system is built upon the accomplishments of the system preceding.

276. Mỗi hệ thống được xây dựng trên những thành tựu của hệ thống đi trước.

The sixth Ray of devotion and the sixth law of love have a close alliance, and on the sixth plane comes the powerful working out in the lower Triad, the Personality, of the Law of Love.

Cung sáu của sự sùng tín và định luật thứ sáu của tình thương có một sự liên minh mật thiết, và trên cõi thứ sáu diễn ra sự triển khai mạnh mẽ trong Tam nguyên tinh thần thấp, tức Phàm ngã, của Định luật Tình thương.

277. If we learn how to think in terms of ‘numerical affinity’ we shall begin to understand the “Science of Relations”

277. Nếu chúng ta học cách suy nghĩ theo “sự tương hợp số học”, chúng ta sẽ bắt đầu hiểu “Khoa Học về Các Tương Quan”