Trích nội dung chương
but the ability of physical plane man to create upon the mental plane those vehicles for energy which—when set in motion by his conscious will—will produce certain specific effects upon the physical plane. nhưng là năng lực của con người cõi hồng trần trong việc tạo ra trên cõi trí những vận cụ cho năng lượng mà—khi được đặt vào chuyển động bởi ý chí hữu thức của y—sẽ tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó trên cõi hồng trần.
but the ability of physical plane man to create upon the mental plane those vehicles for energy which—when set in motion by his conscious will—will produce certain specific effects upon the physical plane.
nhưng là năng lực của con người cõi hồng trần trong việc tạo ra trên cõi trí những vận cụ cho năng lượng mà—khi được đặt vào chuyển động bởi ý chí hữu thức của y—sẽ tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó trên cõi hồng trần.
100. Here DK is dealing specifically with the white magical process. Man’s lesser and often personal creativity upon the lower mental plane is a reflection of the Ego’s creativity on the higher.
100. Ở đây Chân sư DK đang bàn riêng về tiến trình huyền thuật chánh đạo. Tính sáng tạo nhỏ hơn và thường mang tính cá nhân của con người trên cõi hạ trí là sự phản chiếu của tính sáng tạo của chân ngã trên cõi cao hơn.
101. Thoughtforms are those “vehicles of energy which…will produce certain specific effects upon the physical plane”.
101. Hình tư tưởng là những “vận cụ cho năng lượng mà… sẽ tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó trên cõi hồng trần”.
102. The magical creator utilizes the “conscious will”. We remember in the chart above how the atmic portion of the Ego on the higher mental plane is directly connected with the mental unit.
102. Nhà sáng tạo huyền thuật sử dụng “ý chí hữu thức”. Chúng ta nhớ trong biểu đồ trên rằng phần atma của chân ngã trên cõi thượng trí được nối trực tiếp với đơn vị hạ trí.
This is brought about by egoic energy passed down the sutratma to the physical brain, and retransmitted back to the mental plane, plus or minus that which has been gained or lost in the process.
Điều này được tạo ra bởi năng lượng chân ngã truyền xuống theo sutratma đến bộ não hồng trần, rồi được truyền ngược trở lại cõi trí, cộng hoặc trừ phần đã thu được hay mất đi trong tiến trình ấy.
103. This is a most interesting piece of information. In it we can see the modus operandi of soul-mind-brain coordination.
103. Đây là một mẩu thông tin hết sức thú vị. Trong đó chúng ta có thể thấy phương thức vận hành của sự phối hợp linh hồn-trí tuệ-bộ não.
104. This process of touching all points, then refocussing in a higher point that has already been touched, is found in several references and seems to be a customary process.
104. Tiến trình chạm đến mọi điểm này, rồi tái tập trung vào một điểm cao hơn đã được chạm đến trước đó, được thấy trong nhiều chỗ tham chiếu và dường như là một tiến trình thông thường.
105. The method is one which moves towards increasing integration.
105. Phương pháp này là một phương pháp tiến tới sự tích hợp ngày càng tăng.
The true Adept, through knowledge, conserves all energy while in process of transmission, and augments it with the energy contacted.
Chân sư đích thực, nhờ tri thức, bảo toàn mọi năng lượng trong khi đang được truyền dẫn, và gia tăng nó bằng năng lượng được tiếp xúc.
106. We can see how the Adept works with the Law of Economy—a law closely related to the atmic plane whereon the Adept is focussed.
106. Chúng ta có thể thấy Chân sư vận dụng Định luật Tiết Kiệm như thế nào—một định luật liên hệ mật thiết với cõi atma, nơi Chân sư tập trung.
107. The Adept works with the energy of the planet Saturn, conserving and augmenting where possible.
107. Chân sư làm việc với năng lượng của hành tinh Sao Thổ, bảo toàn và gia tăng ở nơi nào có thể.
108. All energies are to be wisely used and the Adept knows how. For ourselves, and at our present stage of evolution, an eye to the wise expenditure of energy would be useful.
108. Mọi năng lượng đều phải được sử dụng một cách minh triết và Chân sư biết cách làm điều đó. Đối với chúng ta, và ở giai đoạn tiến hoá hiện nay của chúng ta, việc lưu tâm đến sự tiêu dùng năng lượng một cách minh triết sẽ rất hữu ích.
It is, therefore, the energy of will, plus that of desire, fed by the energy of the physical brain.
Vì vậy, đó là năng lượng của ý chí, cộng với năng lượng của dục vọng, được nuôi dưỡng bởi năng lượng của bộ não hồng trần.
109. It is as if the two higher energies, of will and desire, are augmented or fed by the lower energy—that of the physical brain.
109. Dường như hai năng lượng cao hơn, của ý chí và dục vọng, được gia tăng hay được nuôi dưỡng bởi năng lượng thấp hơn—đó là năng lượng của bộ não hồng trần.
110. We know little of the additive nature of energies, but as wave can be added to wave, so different forms of energy, when added, may lead to an augmentation of wave amplitude.
110. Chúng ta biết rất ít về bản chất cộng thêm của các năng lượng, nhưng cũng như sóng có thể cộng vào sóng, thì những hình thức năng lượng khác nhau, khi được cộng lại, có thể dẫn đến sự gia tăng biên độ sóng.
111. The egoic energy, it would seem, does not descend directly to the physical brain without engaging the higher energies during the descent.
111. Dường như năng lượng chân ngã không đi thẳng xuống bộ não hồng trần mà không huy động các năng lượng cao hơn trong khi giáng xuống.
Literally, therefore, it is a small resume of the creative process of the Godhead, being the [Page 963] energy of the three persons unified, and considered from the standpoint of the physical.
Theo nghĩa đen, vì vậy, đó là một bản tóm lược nhỏ về tiến trình sáng tạo của Thượng đế, vì đó là [Page 963] năng lượng của ba ngôi vị được hợp nhất, và được xét từ quan điểm của cõi hồng trần.
112. We have been given an analogy. The greater Creative Process is reflected in the creative process utilized by the microcosm as it creates thoughtforms.
112. Chúng ta đã được ban cho một phép loại suy. Tiến trình Sáng Tạo lớn lao hơn được phản chiếu trong tiến trình sáng tạo mà tiểu thiên địa sử dụng khi nó tạo ra các hình tư tưởng.
113. We can practice this type of descent and reascent to see if we notice the unification of energies and their augmentation.
113. Chúng ta có thể thực hành loại giáng xuống và thăng trở lại này để xem liệu chúng ta có nhận thấy sự hợp nhất của các năng lượng và sự gia tăng của chúng hay không.
114. There is something about this process of descent and reascent which suggest the curvature of the Second Outpouring—the Outpouring of form-building.
114. Có điều gì đó trong tiến trình giáng xuống và thăng trở lại này gợi ý về đường cong của Lần Tuôn Đổ Thứ Hai—lần tuôn đổ của sự kiến tạo hình tướng.
It is the at-one-ment of the three fires in man, being in fact:
Đó là sự hợp nhất của ba ngọn lửa trong con người, thực ra là:
a. That much of the fire of spirit, or electric fire, which any particular Ego is embodying (relatively little prior to the third Initiation) or is able to transmit, coupled with,
a. Chừng ấy lửa của tinh thần, hay Lửa Điện, mà bất kỳ chân ngã riêng biệt nào đang thể hiện (tương đối ít trước lần điểm đạo thứ ba) hoặc có thể truyền dẫn, kết hợp với,
115. This is a most interesting angle on the subject. Not all Egos on the higher mental plane embody the same quantity of electric fire. The Spirit within the Jewel in the Lotus is not much released except in and through the Egos of those who have taken the third initiation.
115. Đây là một góc nhìn hết sức thú vị về đề tài này. Không phải mọi chân ngã trên cõi thượng trí đều thể hiện cùng một lượng Lửa Điện. Tinh thần bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen không được giải phóng bao nhiêu ngoại trừ trong và qua các chân ngã của những người đã trải qua lần điểm đạo thứ ba.
116. We note that the magical creative process requires the union of three fires, though not very much of ‘Spirit-fire’ is to be found until the creator is a true initiate.
116. Chúng ta lưu ý rằng tiến trình sáng tạo huyền thuật đòi hỏi sự hợp nhất của ba ngọn lửa, dù không có nhiều ‘Lửa-tinh thần’ được tìm thấy cho đến khi nhà sáng tạo là một điểm đạo đồ đích thực.
b. That much of the fire of the solar Angel (solar fire) or the egoic aspect which the Ego is able to transmit. This is but little in average man, a good deal in the man on the probationary path, and a full downpour by the time the third Initiation is reached.
b. Chừng ấy lửa của Thái dương Thiên Thần (Lửa Thái dương) hay phương diện chân ngã mà chân ngã có thể truyền dẫn. Điều này chỉ rất ít nơi con người trung bình, khá nhiều nơi người trên Con Đường Dự Bị, và một sự tuôn đổ trọn vẹn vào lúc lần điểm đạo thứ ba đạt đến.
117. Here we are speaking of the transmission of solar fire. While there is a full downpour of solar fire at the third initiation, the flow is Spirit-fire is much less.
117. Ở đây chúng ta đang nói về sự truyền dẫn Lửa Thái dương. Dù có một sự tuôn đổ trọn vẹn của Lửa Thái dương ở lần điểm đạo thứ ba, dòng chảy của Lửa-tinh thần thì ít hơn nhiều.
118. The fire of the Ego is essentially the fire of the Solar Angel which has invested an aspect of itself within the egoic form, the causal body.
118. Lửa của chân ngã về bản chất là lửa của Thái dương Thiên Thần, Đấng đã đầu tư một phương diện của chính mình vào trong hình tướng chân ngã, tức thể nguyên nhân.
119. It seems that Egos are differentiated regarding how much of the fire of the Solar Angel they are able to transmit (or bear?).
119. Dường như các chân ngã được biến phân theo mức độ lửa của Thái dương Thiên Thần mà chúng có thể truyền dẫn (hay chịu đựng?).
120. We are given three stages: one for the average man; one for the probationer; and another for the initiate of the third degree. Each is characterized by a different degree of soul-infusion.
120. Chúng ta được cho ba giai đoạn: một cho con người trung bình; một cho người dự bị; và một cho điểm đạo đồ bậc ba. Mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi một mức độ được linh hồn thấm nhuần khác nhau.
121. Can we, in our own lives, sense what DK here calls the “downpour”?
121. Trong chính đời sống của mình, chúng ta có thể cảm nhận điều mà ở đây Chân sư DK gọi là “sự tuôn đổ” hay không?
c. That much of the fire of substance in its purified state which can penetrate. This is dependent upon the purity of the three sheaths, and in the case of a highly advanced man is the kundalinic fire as it swells the blaze produced by the other two.
c. Chừng ấy lửa của chất liệu trong trạng thái thanh luyện của nó có thể xuyên thấu. Điều này tùy thuộc vào sự thanh khiết của ba thể, và trong trường hợp của một người rất tiến bộ thì đó là lửa kundalini khi nó làm bùng lên ngọn lửa do hai ngọn lửa kia tạo ra.
122. The lower augments the higher. Just as the energy of the physical brain feeds the energy of will and desire, so does the fire of kundalini swell the blaze produced by the union of solar fire and electric fire.
122. Cái thấp gia tăng cái cao. Cũng như năng lượng của bộ não hồng trần nuôi dưỡng năng lượng của ý chí và dục vọng, thì lửa kundalini cũng làm bùng lên ngọn lửa được tạo ra bởi sự hợp nhất của Lửa Thái dương và Lửa Điện.
123. We note that if the “fire of substance” is to be involved in the creative process it must be in a purified state—a state which can “penetrate”. Is this penetration related to the ascent of the lower fire once it is touched by the descent of the higher fire? It would seem so.
123. Chúng ta lưu ý rằng nếu “lửa của chất liệu” được tham dự vào tiến trình sáng tạo thì nó phải ở trong trạng thái thanh luyện—một trạng thái có thể “xuyên thấu”. Sự xuyên thấu này có liên hệ với sự đi lên của ngọn lửa thấp một khi nó được chạm đến bởi sự giáng xuống của ngọn lửa cao hơn chăng? Dường như là như vậy.
When, therefore, the alignment is corrected, and the physical head centres are awakening, it becomes possible for man to become a conscious creator in mental matter.
Khi, vì vậy, sự chỉnh hợp được điều chỉnh đúng, và các trung tâm đầu hồng trần đang thức tỉnh, con người có thể trở thành một nhà sáng tạo hữu thức trong chất liệu trí tuệ.
124. This is the summary statement.
124. Đây là phát biểu tóm lược.
125. What is the sequence?
125. Trình tự là gì?
a. Alignment
a. Chỉnh hợp
b. Activation of the head centers—notice the plural
b. Hoạt hóa các trung tâm đầu—hãy lưu ý số nhiều
c. Conscious creation in mental matter.
c. Sáng tạo hữu thức trong chất liệu trí tuệ.
126. The foregoing section has dealt largely with the processes of alignment and of impression of higher or egoic energies upon the physical brain.
126. Phần trên chủ yếu đã bàn về các tiến trình chỉnh hợp và sự ghi nhận của các năng lượng cao hơn hay năng lượng chân ngã lên bộ não hồng trần.
S8S4 Part II
TCF 963 - 967
TCF 963 - 967
28 November – 13 December 2008
28 tháng 11 – 13 tháng 12 năm 2008
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được để ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được để ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
IV. MAN AND THE FIRE SPIRITS OR BUILDERS
IV. CON NGƯỜI VÀ CÁC HỎA LINH HAY CÁC ĐẤNG KIẾN TẠO
This section we will consider in somewhat greater detail than the previous one, as it concerns much of present practical value to man. This will be seen particularly as we study the effects of speech, and the occult significance of the spoken word.
Phần này chúng ta sẽ xem xét chi tiết hơn đôi chút so với phần trước, vì nó liên quan đến nhiều điều có giá trị thực tiễn hiện nay đối với con người. Điều này sẽ thấy rõ đặc biệt khi chúng ta nghiên cứu các hiệu quả của lời nói, và ý nghĩa huyền bí của lời được phát ra.
1. Here we have the study of one of the most occult building processes under man’s control.
1. Ở đây chúng ta có sự nghiên cứu một trong những tiến trình kiến tạo huyền bí nhất nằm dưới sự kiểm soát của con người.
2. By “fire spirits” are meant the builders who work within the lower three worlds.
2. “Hỏa linh” được hiểu là các đấng kiến tạo làm việc trong ba cõi thấp.
1. The Will Aspect and Creation.
1. Phương diện Ý chí và Sáng tạo.
In a previous division, we dealt somewhat with the transmission of the will of the Ego to the physical brain, and we saw how only in those persons who (through evolutionary development) had the sutratma and the antaskarana connected, and whose three physical head centres were more or less awakened, was the will of the Ego capable of transmission.
Trong một phần trước, chúng ta đã bàn phần nào về sự truyền dẫn ý chí của chân ngã đến bộ não hồng trần, và chúng ta đã thấy rằng chỉ nơi những người mà (nhờ sự phát triển tiến hoá) sutratma và antahkarana đã được nối kết, và ba trung tâm đầu hồng trần của họ đã thức tỉnh ít nhiều, thì ý chí của chân ngã mới có khả năng được truyền dẫn.
3. DK offers us an important summary of teaching given in the previous section of text: If the Ego is successfully to impress its will upon the physical brain the following are needed:
3. Chân sư DK đưa ra cho chúng ta một bản tóm lược quan trọng về giáo huấn đã được nêu trong phần văn bản trước: Nếu chân ngã muốn ghi dấu ý chí của nó thành công lên bộ não hồng trần thì cần có những điều sau:
a. The sutratma and antahkarana must be connected. This only occurs in advanced individuals—those of sufficient evolutionary development.
a. Sutratma và antahkarana phải được nối kết. Điều này chỉ xảy ra nơi những cá nhân tiến bộ—những người có sự phát triển tiến hoá đầy đủ.
b. The three physical head centers must sufficiently awakened.
b. Ba trung tâm đầu hồng trần phải được thức tỉnh đầy đủ.
4. In lower types of human beings, only the sutratma exists. The antahkarana has not yet been built, though latent consciousness, the seed of the antahkarana, is always present.
4. Ở những loại người thấp hơn, chỉ có sutratma hiện hữu. Antahkarana vẫn chưa được xây dựng, dù tâm thức tiềm ẩn, hạt giống của antahkarana, luôn luôn hiện diện.
In the other cases, such as the average man and little developed man, the purpose [Page 964] affecting the physical brain emanated from the astral or lower mental levels,
Trong các trường hợp khác, như nơi con người trung bình và con người ít phát triển, mục đích [Page 964] tác động lên bộ não hồng trần phát xạ từ các cấp độ cảm dục hay hạ trí,
5. What source of energy animates the physical brain of man at different stages of evolution? During the early stages of man’s development and even during the stage of average man, it is not the Ego which impresses the physical brain and the sutratma and antahkarana (because still unbuilt) cannot be connected.
5. Nguồn năng lượng nào làm sinh động bộ não hồng trần của con người ở các giai đoạn tiến hoá khác nhau? Trong các giai đoạn đầu của sự phát triển của con người và ngay cả trong giai đoạn con người trung bình, không phải chân ngã ghi dấu lên bộ não hồng trần và sutratma cùng antahkarana (vì vẫn chưa được xây dựng) không thể được nối kết.
6. Rather, it is the astral body and eventually the lower mental body, and the tendencies of these lunar vehicles which impact the physical brain. Man is not yet, during those earlier stages, directed from solar sources.
6. Đúng hơn, chính thể cảm dục và cuối cùng là thể hạ trí, cùng các khuynh hướng của những vận cụ nguyệt tính này tác động lên bộ não hồng trần. Trong những giai đoạn sớm hơn ấy, con người vẫn chưa được định hướng từ các nguồn thái dương.
7. We begin to see how important to spiritual expression is the physical brain, even though the physical body is not an occult principle.
7. Chúng ta bắt đầu thấy bộ não hồng trần quan trọng thế nào đối với sự biểu hiện tinh thần, dù thể xác không phải là một nguyên khí huyền bí.
and was, therefore, more likely to be the impulse of some lunar Lord, even if of a high order, than the divine will of the solar Angel, who is the true man.
và vì vậy, có nhiều khả năng là xung lực của một nguyệt tinh quân nào đó, dù thuộc một cấp cao, hơn là ý chí thiêng liêng của Thái dương Thiên Thần, Đấng là con người chân thực.
8. This is an important sentence. We learn that lunar lords can be of a high order but are not to be considered the “true man”. The true man is not lunar.
8. Đây là một câu quan trọng. Chúng ta học được rằng các nguyệt tinh quân có thể thuộc một cấp cao nhưng không được xem là “con người chân thực”. Con người chân thực không phải là nguyệt tính.
9. It is interesting to see the “true man” called the “solar Angel”. In one respect the Solar Angels are “the returning nirvanis of a previous logoic incarnation”. (TCF 1125) Thus they are greater than the human beings whose higher nature they inform.
9. Thật thú vị khi thấy “con người chân thực” được gọi là “Thái dương Thiên Thần”. Ở một phương diện, các Thái dương Thiên Thần là “những nirvani trở về của một lần nhập thể logoic trước đó”. (TCF 1125) Vì vậy Các Ngài vĩ đại hơn những con người mà bản chất cao hơn của họ được Các Ngài thấm nhuần.
10. From another perspective, however, these Solar Angels are so closely identified with man’s egoic nature, so thoroughly invested in it, that they are, reasonably considered, the “true man” expressing on the higher mental plane. Yet, as is well known, the true man (or ‘even truer man’) is the human Monad and the human Monad is distinct from the Solar Angel.
10. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, các Thái dương Thiên Thần này đồng hoá chặt chẽ đến thế với bản chất chân ngã của con người, đầu tư vào đó triệt để đến thế, nên một cách hợp lý có thể xem Các Ngài là “con người chân thực” biểu hiện trên cõi thượng trí. Tuy vậy, như ai cũng biết, con người chân thực (hay ‘con người còn chân thực hơn nữa’) là chân thần nhân loại và chân thần nhân loại thì khác biệt với Thái dương Thiên Thần.
11. We note that the will of the “solar Angel” is to be considered a “divine will”. This makes attentiveness to the “solar Angel” of great importance in the carrying out of the Divine Will of the Planetary Logos. The term “divine” usually refers to the level of Spirit and is distinguished from “spiritual” which refers to the soul and spiritual triad.
11. Chúng ta lưu ý rằng ý chí của “Thái dương Thiên Thần” được xem là một “ý chí thiêng liêng”. Điều này khiến sự chú tâm đến “Thái dương Thiên Thần” trở nên hết sức quan trọng trong việc thực hiện Ý Chí thiêng liêng của Hành Tinh Thượng Đế. Thuật ngữ “thiêng liêng” thường quy chiếu đến cấp độ của Tinh thần và được phân biệt với “tinh thần”, vốn quy chiếu đến linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần.
12. Below we enter an important discussion on White Magic. This subject is of sufficient importance that the Tibetan expanded what He said here into a full treatise—A Treatise on White Magic.
12. Dưới đây chúng ta đi vào một cuộc thảo luận quan trọng về Chánh Thuật. Đề tài này đủ quan trọng để Chân sư Tây Tạng đã khai triển điều Ngài nói ở đây thành một luận thuyết trọn vẹn—Luận về Chánh Thuật.
13. Yet there is certain condensed information conveyed in A Treatise on Cosmic Fire which is not conveyed in that later and more popular book.
13. Tuy nhiên, có một số thông tin cô đọng được truyền đạt trong Luận về Lửa Vũ Trụ mà không được truyền đạt trong quyển sách ra đời sau và phổ thông hơn ấy.
a. The condition of the Magician.
a. Điều kiện của nhà huyền thuật.
14. The white magician is ever the advanced individual. As students of occultism, we are all in process of becoming white magicians, even though our ray may not be the seventh.
14. Nhà huyền thuật chánh đạo luôn luôn là cá nhân tiến bộ. Là những đạo sinh của huyền bí học, tất cả chúng ta đều đang trong tiến trình trở thành những nhà huyền thuật chánh đạo, dù cung của chúng ta có thể không phải là cung bảy.
15. If we are soul-inspired creators, we are white magicians.
15. Nếu chúng ta là những nhà sáng tạo được linh hồn cảm hứng, chúng ta là những nhà huyền thuật chánh đạo.
It is of value to remember that when the physical head centres are awakened (through alignment of the etheric centres) we have the very lowest aspect of egoic influence.
Điều hữu ích cần nhớ là khi các trung tâm đầu hồng trần được thức tỉnh (nhờ sự chỉnh hợp của các trung tâm dĩ thái) chúng ta có phương diện thấp nhất của ảnh hưởng chân ngã.
16. This etheric alignment resulting in the alignment of the centers in the physical brain permits of the influence of the egoic will upon the physical brain, but this is considered “the very lowest aspect of egoic influence” even though it requires quite a degree of advancement in the disciple.
16. Sự chỉnh hợp dĩ thái này, dẫn đến sự chỉnh hợp của các trung tâm trong bộ não hồng trần, cho phép ý chí chân ngã ảnh hưởng lên bộ não hồng trần, nhưng điều này được xem là “phương diện thấp nhất của ảnh hưởng chân ngã” dù nó đòi hỏi một mức tiến bộ khá lớn nơi người đệ tử.
17. It appears that we are not yet speaking of the complete triangular coordination and activation of these awakened etheric and physical centers.
17. Dường như chúng ta vẫn chưa nói đến sự phối hợp tam giác hoàn chỉnh và sự hoạt hóa của các trung tâm dĩ thái và hồng trần đã thức tỉnh này.
From these three centres, man on the Probationary Path, and up to the third Initiation, directs and controls his sheath,
Từ ba trung tâm này, con người trên Con Đường Dự Bị, và cho đến lần điểm đạo thứ ba, điều khiển và kiểm soát thể,
18. Presumably we are speaking of the control of the dense physical sheath particularly.
18. Có lẽ ở đây chúng ta đang nói đặc biệt đến sự kiểm soát thể hồng trần đậm đặc.
19. If we were to involve the higher and subtler counterparts of these etheric centers, we could speak of the control of the astral body and lower mental body.
19. Nếu chúng ta bao gồm các đối phần cao hơn và vi tế hơn của các trung tâm dĩ thái này, chúng ta có thể nói đến sự kiểm soát thể cảm dục và thể hạ trí.
20. If the Path of Probation begins even before the first initiation, we can see that the three head centers are at least somewhat awakened and active even then.
20. Nếu Con Đường Dự Bị bắt đầu ngay cả trước lần điểm đạo thứ nhất, chúng ta có thể thấy rằng ba trung tâm đầu ít nhất cũng đã thức tỉnh và hoạt động phần nào ngay từ khi ấy.
21. We can ask ourselves, can we not, whether any disciple before he has achieved the third degree is to be considered as treading the Path of Probation? Certainly, before that point, he is to be considered a probationary initiate.
21. Chúng ta có thể tự hỏi, phải chăng bất kỳ đệ tử nào trước khi đạt bậc ba đều được xem là đang bước trên Con Đường Dự Bị? Chắc chắn, trước điểm đó, y được xem là một điểm đạo đồ dự bị.
and from them spreads that illumination which will irradiate the physical plane life.
và từ chúng lan tỏa sự soi sáng sẽ chiếu rạng đời sống cõi hồng trần.
22. The three physical centers in the head are to be considered sources of illumination. A certain radiance emanates from them and according to the quality and intensity of this radiance, the evolutionary status of the man can be judged.
22. Ba trung tâm hồng trần trong đầu phải được xem là những nguồn soi sáng. Một mức độ rạng ngời nào đó phát ra từ chúng, và tùy theo phẩm tính cùng cường độ của sự rạng ngời này mà có thể phán đoán tình trạng tiến hoá của con người.
By the time the third Initiation is reached, the internal triangle is in full process of circulatory transmission, and the whole life of the Personality is subjected to the will of the Ego.
Đến lúc lần điểm đạo thứ ba đạt tới, tam giác nội tại đang ở trong tiến trình truyền dẫn tuần hoàn trọn vẹn, và toàn bộ đời sống của Phàm ngã bị đặt dưới ý chí của chân ngã.
23. We can see that the importance of the triangle of physical centers begins long before the third initiation, but not until that initiation is this “internal triangle…in full process of circulatory transmission”.
23. Chúng ta có thể thấy rằng tầm quan trọng của tam giác các trung tâm hồng trần bắt đầu từ rất lâu trước lần điểm đạo thứ ba, nhưng chỉ đến lần điểm đạo ấy thì “tam giác nội tại… mới ở trong tiến trình truyền dẫn tuần hoàn trọn vẹn”.
24. In various references we read over and again that the personality is to be subjected to the Ego by the time the third initiation is reached.
24. Trong nhiều chỗ tham chiếu khác nhau, chúng ta đọc đi đọc lại rằng phàm ngã phải bị đặt dưới chân ngã vào lúc lần điểm đạo thứ ba đạt tới.
25. From various references we gather just how high a state of development and control the third initiation represents. Let us think and measure ourselves: “the whole life of the Personality is subjected to the will of the Ego”. Is this true of us?
25. Từ nhiều chỗ tham chiếu khác nhau, chúng ta hiểu được lần điểm đạo thứ ba biểu thị một trạng thái phát triển và kiểm soát cao đến mức nào. Hãy suy nghĩ và tự đo lường mình: “toàn bộ đời sống của Phàm ngã bị đặt dưới ý chí của chân ngã”. Điều này có đúng với chúng ta không?
"The Star absorbs the light of the moon, so that the rays of the Sun may be reflected back" is the occult way of expressing the truth anent this point in evolution.
"Ngôi Sao hấp thụ ánh sáng của mặt trăng, để những tia của Mặt Trời có thể được phản chiếu trở lại" là cách huyền bí diễn đạt chân lý liên quan đến điểm tiến hoá này.
26. This is an important occult aphorism. We cannot say that the “Star” is the Monad even though the Monad is frequently knows as a “Star”. There is no reason why, at the third initiation, it should be said that the Monad absorbs the light of the lunar vehicles. If anything this absorption would be the function of the soul on the higher mental plane.
26. Đây là một cách ngôn huyền bí quan trọng. Chúng ta không thể nói rằng “Ngôi Sao” là chân thần dù chân thần thường được biết đến như một “Ngôi Sao”. Không có lý do gì để nói rằng, ở lần điểm đạo thứ ba, chân thần hấp thụ ánh sáng của các vận cụ nguyệt tính. Nếu có gì, thì sự hấp thụ này phải là chức năng của linh hồn trên cõi thượng trí.
27. Can we say that the “Star”, in this case, is the so-called “soul star” above the head? We can be sure that the term “Star” (in this reference) has a very occult meaning.
27. Chúng ta có thể nói rằng “Ngôi Sao”, trong trường hợp này, là cái gọi là “ngôi sao linh hồn” phía trên đầu chăng? Chúng ta có thể chắc chắn rằng thuật ngữ “Ngôi Sao” (trong chỗ tham chiếu này) có một ý nghĩa rất huyền bí.
28. If the light of the lunar vehicles is dimmed, no longer overpowering the “rays of the Sun”, then these are the rays (the solar rays) which will be reflected in the lower nature and which will rise again to their solar source. From the Ego emanate symbolically and qualitatively the “the rays of the Sun” and, because the lunar nature has be reconditioned, those solar rays can at the time of the third degree, condition the lower vehicles. Rather than be overpowered by the “light of the moon” (as heretofore they have been), these solar rays now become prominent and characterize the manner in which the lunar vehicles relate to the solar source, the Ego.
28. Nếu ánh sáng của các vận cụ nguyệt tính bị làm mờ đi, không còn lấn át “những tia của Mặt Trời”, thì đó là những tia ấy (các tia thái dương) sẽ được phản chiếu trong bản chất thấp hơn và sẽ lại vươn lên nguồn thái dương của chúng. Từ chân ngã phát ra, một cách biểu tượng và về phẩm tính, “những tia của Mặt Trời” và, bởi vì bản chất nguyệt tính đã được tác động lại, những tia thái dương ấy vào lúc bậc ba có thể tác động lên các vận cụ thấp hơn. Thay vì bị lấn át bởi “ánh sáng của mặt trăng” (như trước đây vẫn thế), các tia thái dương này nay trở nên nổi bật và đặc trưng cho cách thức mà các vận cụ nguyệt tính liên hệ với nguồn thái dương, tức chân ngã.
It might be of value here also to point out the condition of the etheric centres during this process of direct solar control.
Ở đây cũng có thể hữu ích khi chỉ ra tình trạng của các trung tâm dĩ thái trong tiến trình kiểm soát thái dương trực tiếp này.
29. In this section of text we are speaking of the manner in which the Ego (the solar source within man) gains increasing control of the lunar vehicles.
29. Trong phần văn bản này chúng ta đang nói về cách thức chân ngã (nguồn thái dương bên trong con người) giành được sự kiểm soát ngày càng tăng đối với các vận cụ nguyệt tính.
30. Notice, too, that we are not speaking of mediated solar control but of “direct solar control”. Eventually an unimpeded channel must be created between the Ego and the physical brain. This will mean that the astral body, which is so often the personality vehicle that is out of alignment, has been subdued and no longer thwarts the direct impress of the Ego upon the physical brain.
30. Cũng hãy lưu ý rằng chúng ta không nói về sự kiểm soát thái dương được trung gian mà là về “kiểm soát thái dương trực tiếp”. Cuối cùng phải tạo ra một kênh không bị ngăn trở giữa chân ngã và bộ não hồng trần. Điều này sẽ có nghĩa là thể cảm dục, vốn rất thường là vận cụ phàm ngã bị lệch chỉnh hợp, đã được chế ngự và không còn cản trở sự ghi dấu trực tiếp của chân ngã lên bộ não hồng trần.
31. “Direct solar control” is a state characteristic of the third initiation.
31. “Kiểm soát thái dương trực tiếp” là một trạng thái đặc trưng của lần điểm đạo thứ ba.
Before the three physical head centres awaken, man is largely subjected to force flowing through the four minor etheric centres;
Trước khi ba trung tâm đầu hồng trần thức tỉnh, con người phần lớn bị đặt dưới các mãnh lực chảy qua bốn trung tâm dĩ thái phụ;
32. This is an interesting and important statement. It is obvious that the ajna is one of the three centers in the head and the pituitary body is its physical correspondence. Because the head, heart and throat centers are considered the three major centers, it becomes clear that the “four minor etheric centers” must be the sub-diaphragmatic centers and must include the spleen, because the ajna and pituitary (being part of the head apparatus) cannot be numbered among the three major centers.
32. Đây là một phát biểu thú vị và quan trọng. Rõ ràng ajna là một trong ba trung tâm trong đầu và tuyến yên là đối phần hồng trần của nó. Bởi vì các trung tâm đầu, tim và cổ họng được xem là ba trung tâm chính, nên rõ ràng “bốn trung tâm dĩ thái phụ” phải là các trung tâm dưới cơ hoành và phải bao gồm cả luân xa lá lách, bởi ajna và tuyến yên (vì là một phần của bộ máy đầu) không thể được tính vào ba trung tâm chính.
33. Notice that we are speaking of three physical head centers and four minor etheric centers. There is a mixture here of physicality and of ethereality.
33. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về ba trung tâm đầu hồng trần và bốn trung tâm phụ dĩ thái. Ở đây có một sự pha trộn giữa tính hồng trần và tính dĩ thái.
34. DK often intermixes the physical and etheric centers, perhaps because He does not want us to separate them too completely.
34. Chân sư DK thường đan xen các trung tâm hồng trần và dĩ thái, có lẽ vì Ngài không muốn chúng ta tách biệt chúng quá hoàn toàn.
later the three major centres—the head, the heart, and the throat —begin to vibrate, gradually assuming a greater sweep of activity, till their energy tends to negate that of the lower centres,
về sau ba trung tâm chính—đầu, tim và cổ họng—bắt đầu rung động, dần dần đảm nhận một phạm vi hoạt động lớn hơn, cho đến khi năng lượng của chúng có khuynh hướng phủ định năng lượng của các trung tâm thấp hơn,
35. The activity of the greater negates the activity of the lower.
35. Hoạt động của cái lớn hơn phủ định hoạt động của cái thấp hơn.
36. It would be an interesting study to discover the negation of lower energies by higher. What is the real meaning of this negation?
36. Sẽ là một nghiên cứu thú vị nếu khám phá sự phủ định các năng lượng thấp hơn bởi các năng lượng cao hơn. Ý nghĩa thực sự của sự phủ định này là gì?
to absorb their vitality and deflect the direction of their vitality, until the three higher wheels are in full fourth dimensional activity.
để hấp thụ sinh lực của chúng và làm chệch hướng sinh lực ấy, cho đến khi ba bánh xe cao hơn ở trong hoạt động chiều thứ tư trọn vẹn.
37. “The three higher wheels”, in this context, are the three major centers—head, heart and throat. (Of course, in other contexts, the three higher wheels could be crown, ajna and alta major center.)
37. “Ba bánh xe cao hơn”, trong ngữ cảnh này, là ba trung tâm chính—đầu, tim và cổ họng. (Dĩ nhiên, trong những ngữ cảnh khác, ba bánh xe cao hơn có thể là đỉnh đầu, ajna và trung tâm alta major.)
38. The sake of clarity, let us tabulate the effect of the three major centers upon the lower four centers, as these higher three assume a “greater sweep of activity” (this, in itself, an interesting phrase)—
38. Để rõ ràng, chúng ta hãy lập bảng hiệu quả của ba trung tâm chính đối với bốn trung tâm thấp hơn, khi ba trung tâm cao hơn này đảm nhận một “phạm vi hoạt động lớn hơn” (bản thân đây cũng là một cụm từ thú vị)—
a. The major centers “negate” the activity of the lower centers
a. Các trung tâm chính “phủ định” hoạt động của các trung tâm thấp hơn
b. The major centers absorb the vitality of the lower centers
b. Các trung tâm chính hấp thụ sinh lực của các trung tâm thấp hơn
c. The major centers deflect the direction of the vitality of the lower centers
c. Các trung tâm chính làm chệch hướng sinh lực của các trung tâm thấp hơn
39. These actions should be pondered.
39. Những tác động này cần được suy ngẫm.
40. Through the accomplishment of these three results, the higher centers enter full fourth dimensional activity.
40. Thông qua việc hoàn thành ba kết quả này, các trung tâm cao hơn đi vào hoạt động chiều thứ tư trọn vẹn.
41. We have read earlier in this Treatise that when chakras develop fourth dimensional activity, it is a sign that initiation is either imminent or in process.
41. Trước đây trong bộ Luận này chúng ta đã đọc rằng khi các luân xa phát triển hoạt động chiều thứ tư, đó là dấu hiệu cho thấy điểm đạo hoặc sắp xảy ra hoặc đang diễn ra.
Before initiation [meaning, in this case, the very first initiation], all the centres will be rotating in fourth-dimensional order, but after initiation they become flaming wheels, and—seen clairvoyantly—are of rare beauty, [we note the effect of the Rod of Initiation upon the centers] The fire of Kundalini is then awakened and is progressing in the necessary spirals. At the second initiation the emotional centres are similarly awakened, and at the third initiation those on the mental plane are touched. The initiate can then stand in the Presence of the Great King, the One Initiator. (LOM 74-75)
Trước điểm đạo [nghĩa là, trong trường hợp này, chính là lần điểm đạo thứ nhất], tất cả các trung tâm sẽ xoay chuyển theo trật tự bốn chiều, nhưng sau điểm đạo chúng trở thành những bánh xe rực lửa, và—được thấy bằng thông nhãn—có một vẻ đẹp hiếm có, [chúng ta lưu ý tác động của Thần Trượng Điểm đạo lên các trung tâm] Lửa Kundalini khi ấy được đánh thức và đang tiến triển theo những vòng xoắn cần thiết. Ở lần điểm đạo thứ hai, các trung tâm cảm xúc cũng được đánh thức tương tự, và ở lần điểm đạo thứ ba, những trung tâm trên cõi trí được chạm đến. Điểm đạo đồ khi ấy có thể đứng trong Hiện Diện của Đại Vương, Đấng Điểm đạo Duy Nhất. (LOM 74-75)
As this proceeds, the three physical head centres begin to awake from dormancy into activity, the effect being felt as follows:
Khi tiến trình này diễn ra, ba trung tâm đầu hồng trần bắt đầu thức dậy từ trạng thái ngủ yên để đi vào hoạt động, và tác động được cảm nhận như sau:
42. Due to the activity of the three major centers—head, heart and throat—and their effect upon the lower four sub-diaphragmatic centers, the physical head centers begin to awaken.
42. Do hoạt động của ba trung tâm chính—đầu, tim và cổ họng—và tác động của chúng lên bốn trung tâm thấp dưới cơ hoành, các trung tâm đầu hồng trần bắt đầu thức tỉnh.
43. It would seem that this awakening must follow or proceed pari passu with the awakening with the three etheric head centers to which the physical head centers correspond.
43. Dường như sự thức tỉnh này phải theo sau hoặc tiến hành song song với sự thức tỉnh của ba trung tâm đầu dĩ thái mà các trung tâm đầu hồng trần tương ứng với chúng.
a. As the major head centre awakens, the pineal gland begins to function.
a. Khi trung tâm đầu chính thức tỉnh, tuyến tùng bắt đầu hoạt động.
44. The pineal gland remains relatively dormant before the awakening of the head center.
44. Tuyến tùng vẫn tương đối ngủ yên trước khi trung tâm đầu được đánh thức.
b. As the heart centre becomes fully alive, the pituitary body enters into activity. [Page 965]
b. Khi trung tâm tim trở nên hoàn toàn sống động, thể tuyến yên đi vào hoạt độngy. [Page 965]
45. This connection is important and perhaps unexpected. It is the ajna center which is usually related to the pituitary body. Here we learn that the heart center is also related to this body. Expanding the implicit network of connections, we remember that the heart center and the ajna center are often considered related—both, at certain points in the development of man’s energy system, are correlated with the second aspect of divinity.
45. Mối liên hệ này quan trọng và có lẽ không được chờ đợi. Chính trung tâm ajna thường được liên hệ với thể tuyến yên. Ở đây chúng ta biết rằng trung tâm tim cũng liên hệ với cơ quan này. Mở rộng mạng lưới liên hệ hàm ẩn ấy, chúng ta nhớ rằng trung tâm tim và trung tâm ajna thường được xem là có liên hệ—cả hai, tại những điểm nhất định trong sự phát triển của hệ thống năng lượng của con người, đều tương quan với phương diện thứ hai của thiên tính.
46. If the pituitary through its connection with the ajna center is related to the expression of the personality, then there must be aspects of heart center functioning which are also related to personal expression. We do note that even during very personality centered stages of development, the heart center is always one of the principal three emphasized.
46. Nếu thể tuyến yên, thông qua mối liên hệ của nó với trung tâm ajna, có liên quan đến sự biểu lộ của phàm ngã, thì hẳn phải có những phương diện hoạt động của trung tâm tim cũng liên quan đến sự biểu lộ cá nhân. Chúng ta quả có lưu ý rằng ngay cả trong những giai đoạn phát triển rất tập trung vào phàm ngã, trung tâm tim luôn là một trong ba trung tâm chính được nhấn mạnh.
c. As the throat centre assumes its right place in the process of evolution, the alta major centre vibrates adequately.
c. Khi trung tâm cổ họng đảm nhận đúng vị trí của nó trong tiến trình tiến hoá, trung tâm alta major rung động đầy đủ.
47. Hitherto, the vibration of the alta major center was considered inadequate—inadequate to play its part in the full development of the major triangle in the head.
47. Cho đến nay, sự rung động của trung tâm alta major được xem là chưa đầy đủ—chưa đầy đủ để đảm nhiệm phần việc của nó trong sự phát triển trọn vẹn của tam giác chính trong đầu.
48. We might expect that the order of unfoldment would be:
48. Chúng ta có thể chờ đợi rằng trật tự khai mở sẽ là:
a. Alta major center, followed by
a. Trung tâm alta major, tiếp theo là
b. Pituitary body, followed by
b. Thể tuyến yên, tiếp theo là
c. Pineal gland
c. Tuyến tùng
49. There are also reasons to be believe that the alta major center reaches full development only later in the process of fully vitalizing the triangle in the head, just as the base of the spine center (while initially active in the primitive man) is only fully active at the most advanced stages of evolution—i.e., mastership.
49. Cũng có những lý do để tin rằng trung tâm alta major chỉ đạt đến sự phát triển đầy đủ muộn hơn trong tiến trình tiếp sinh lực trọn vẹn cho tam giác trong đầu, cũng như trung tâm đáy cột sống (dù ban đầu hoạt động nơi con người nguyên thủy) chỉ hoàn toàn hoạt động ở những giai đoạn tiến hoá cao nhất—tức là, chân sư quả vị.
When the triangle of force that these three physical centres form is in circulatory effect, the greater triangle can be seen in circulation;
Khi tam giác mãnh lực do ba trung tâm hồng trần này tạo thành ở trong hiệu ứng tuần hoàn, tam giác lớn hơn có thể được thấy đang tuần hoàn;
50. By the “greater triangle” is only perhaps meant the etheric triangle of head, heart and throat.
50. Bởi “tam giác lớn hơn” có lẽ chỉ có thể được hiểu là tam giác dĩ thái của đầu, tim và cổ họng.
51. It would seem, however, that the major etheric triangle in the head consisting of crown center, ajna center and alta major center would necessarily be in full circulation.
51. Tuy nhiên, dường như tam giác dĩ thái chính trong đầu gồm trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major tất yếu phải ở trong sự tuần hoàn trọn vẹn.
it then becomes a "wheel turning upon itself."
khi ấy nó trở thành một “bánh xe tự xoay trên chính nó”.
52. As we study this section the relationship between the heart center and ajna center becomes important.
52. Khi nghiên cứu phần này, mối liên hệ giữa trung tâm tim và trung tâm ajna trở nên quan trọng.
53. Of which triangle is DK speaking when saying that the greater triangle “becomes a ‘wheel turning upon itself’. Is it the triangle of head, heart and throat? If so, this is hard to conceive, and yet the foregoing text could point in this direction.
53. DK đang nói đến tam giác nào khi nói rằng tam giác lớn hơn “trở thành một ‘bánh xe tự xoay trên chính nó’”? Có phải là tam giác đầu, tim và cổ họng không? Nếu vậy, điều này khó hình dung, tuy nhiên đoạn văn đi trước có thể chỉ theo hướng này.
54. Yet if the ajna center is substituted for the heart center, and the alta major center for the throat (the alta major center being arguably the higher correspondence to the throat center) the major triangle would be considered crown, ajna center and alta major center and the completed relationship between these three centers in the head can easily be conceived as a “wheel turning upon itself”.
54. Tuy nhiên, nếu trung tâm ajna được thay cho trung tâm tim, và trung tâm alta major thay cho cổ họng (vì trung tâm alta major có thể được xem là đối ứng cao hơn của trung tâm cổ họng) thì tam giác chính sẽ được xem là đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major, và mối liên hệ hoàn tất giữa ba trung tâm này trong đầu có thể dễ dàng được hình dung như một “bánh xe tự xoay trên chính nó”.
The major etheric centres are in full action, and the man is nearing the moment of liberation.
Các trung tâm dĩ thái chính đang hoạt động trọn vẹn, và con người đang tiến gần đến khoảnh khắc giải thoát.
55. Again, these major etheric centers are either:
55. Một lần nữa, các trung tâm dĩ thái chính này hoặc là:
a. Head, heart and throat
a. Đầu, tim và cổ họng
b. Or head (i.e., crown), ajna center and alta major center
b. Hoặc đầu (tức là đỉnh đầu), trung tâm ajna và trung tâm alta major
In the work of creation, as occultly carried on, all these three physical centres have to be utilised,
Trong công việc sáng tạo, như được tiến hành một cách huyền bí, cả ba trung tâm hồng trần này đều phải được sử dụng,
56. DK is stating that the work of the magician requires the use not only the etheric centers, but the three physical centers which correspond to them. DK is indicating the strictly physical aspect of the magical work.
56. DK đang nói rằng công việc của nhà huyền thuật đòi hỏi việc sử dụng không chỉ các trung tâm dĩ thái, mà còn cả ba trung tâm hồng trần tương ứng với chúng. DK đang chỉ ra phương diện thuần hồng trần của công việc huyền thuật.
and from a consideration of the subject it will become apparent why it has been necessary to deal with them in this order.
và từ việc xem xét chủ đề này, sẽ trở nên hiển nhiên vì sao cần phải bàn đến chúng theo trật tự này.
57. Does DK mean an order beginning with the pineal gland and ending with the alta major center? Or does He mean that the material centers have to be dealt with first—even before the strictly etheric centers?
57. DK có muốn nói đến một trật tự bắt đầu với tuyến tùng và kết thúc với trung tâm alta major không? Hay Ngài muốn nói rằng các trung tâm vật chất phải được đề cập đến trước—ngay cả trước các trung tâm thuần dĩ thái?
By means of the pineal gland,89 the organ of spiritual perception, man ascertains the will and purpose of the Ego,
Nhờ tuyến tùng,89 cơ quan của tri giác tinh thần, con người xác định ý chí và mục đích của chân ngã,
58. This is the clearest of statements. We understand that all possible must be done to render the pineal gland fully functional. This requires the proper direction of the bodily energies.
58. Đây là lời phát biểu rõ ràng nhất. Chúng ta hiểu rằng phải làm mọi điều có thể để làm cho tuyến tùng hoạt động đầy đủ. Điều này đòi hỏi sự định hướng đúng đắn của các năng lượng trong thể.
59. We see that it is not only by means of the head center that man ascertains the will and purpose of the Ego. The pineal gland is definitely involved.
59. Chúng ta thấy rằng không chỉ nhờ trung tâm đầu mà con người xác định ý chí và mục đích của chân ngã. Tuyến tùng chắc chắn có liên can.
60. We remember that spiritual perception and intuitive instinct indicate preparedness for the third initiation. From this we understand that the activation of the pineal gland plays an important role in the third initiation.
60. Chúng ta nhớ rằng tri giác tinh thần và bản năng trực giác cho thấy sự sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ ba. Từ đó chúng ta hiểu rằng sự hoạt hóa tuyến tùng đóng một vai trò quan trọng trong lần điểm đạo thứ ba.
and from thence he draws the necessary energy [Page 966] from the higher levels, via the head centre and the sutratma.
và từ đó y rút ra năng lượng cần thiết [Page 966] từ các cấp độ cao hơn, qua trung tâm đầu và sutratma.
61. So the pineal gland is to be considered magnetic. Energy is to be drawn into it. That energy comes through the head center (from higher levels via the sutratma).
61. Vì vậy tuyến tùng phải được xem là có tính từ tính. Năng lượng phải được rút vào đó. Năng lượng ấy đến qua trung tâm đầu (từ các cấp độ cao hơn qua sutratma).
By means of the pituitary body, the second element of desire or of the form-building energy, becomes available, and under the law of attraction he can mould, and build in deva substance.
Nhờ thể tuyến yên, yếu tố thứ hai của dục vọng hay của năng lượng kiến tạo hình tướng, trở nên khả dụng, và dưới định luật hấp dẫn y có thể nắn đúc, và xây dựng trong chất liệu thiên thần.
62. From this we understand that the second aspect of divinity is closely related to the pituitary body as are the astral body and the solar plexus. The second aspect is the form building aspect. Imagination is a form-building faculty. We realize the close relation between an activated pituitary body and an activated imagination.
62. Từ đây chúng ta hiểu rằng phương diện thứ hai của thiên tính có liên hệ mật thiết với thể tuyến yên, cũng như thể cảm dục và tùng thái dương. Phương diện thứ hai là phương diện kiến tạo hình tướng. Sự tưởng tượng là một năng lực kiến tạo hình tướng. Chúng ta nhận ra mối liên hệ chặt chẽ giữa một thể tuyến yên được hoạt hóa và một sự tưởng tượng được hoạt hóa.
Footnote 89
Chú thích 89
The Pineal Gland. The Third Eye.—S. D., III, 548.
Tuyến Tùng. Con Mắt Thứ Ba.—S. D., III, 548.
1. Goal of evolution to develop the inner vision.
1. Mục tiêu của tiến hoá là phát triển linh thị bên trong.
63. This would end the long excommunication of the outer man from his true inner nature.
63. Điều này sẽ chấm dứt sự tuyệt thông lâu dài của con người bên ngoài khỏi bản chất bên trong chân thực của mình.
2. The occult significance of the eye.—S. D., III, 577.
2. Ý nghĩa huyền bí của con mắt.—S. D., III, 577.
64. The eye can be a vehicle for all three major aspects of divinity. It is, however, particularly connected with the second aspect and with consciousness.
64. Con mắt có thể là một vận cụ cho cả ba phương diện chính của thiên tính. Tuy nhiên, nó đặc biệt được nối kết với phương diện thứ hai và với tâm thức.
3. The "eye of Taurus the Bull."—(Compare bull's-eye.)
3. “Con mắt của Kim Ngưu.” —(So sánh với bull's-eye.)
65. We have been considering the constructive, form-building aspects of the eye (especially the pituitary body which correlates with the ajna center and with the two eyes). Taurus has two rulers, Venus and Vulcan. Venus is connected with the ajna center, the pituitary body and thus with form building. Venus, we realize, is a planet closely associated with the visual faculty. Vulcan is closely connected with the head center and, thus, with the pineal gland.
65. Chúng ta đã xem xét các phương diện xây dựng, kiến tạo hình tướng của con mắt (đặc biệt là thể tuyến yên, vốn tương quan với trung tâm ajna và với hai mắt). Kim Ngưu có hai chủ tinh, Sao Kim và Vulcan. Sao Kim liên hệ với trung tâm ajna, thể tuyến yên và do đó với việc kiến tạo hình tướng. Chúng ta nhận ra rằng Sao Kim là một hành tinh gắn bó chặt chẽ với năng lực thị giác. Vulcan gắn bó chặt chẽ với trung tâm đầu và do đó với tuyến tùng.
66. Interestingly, Mercury is also a planet connected with Taurus. We have a triangle in Taurus, Mercury and the Buddha. “Buddha” is the Sanskrit name for Mercury.
66. Điều thú vị là Sao Thủy cũng là một hành tinh liên hệ với Kim Ngưu. Chúng ta có một tam giác trong Kim Ngưu, Sao Thủy và Đức Phật. “Buddha” là tên Sanskrit của Sao Thủy.
67. So we have Vulcan, Venus and Mercury, all rulers of or closely related to Taurus, and all instruments of vision: from one perspective—Venus the left eye, Mercury the right eye and Vulcan the third eye.
67. Vì vậy chúng ta có Vulcan, Sao Kim và Sao Thủy, tất cả đều là các chủ tinh của hoặc có liên hệ chặt chẽ với Kim Ngưu, và tất cả đều là những công cụ của tầm nhìn: từ một góc độ—Sao Kim là mắt trái, Sao Thủy là mắt phải và Vulcan là con mắt thứ ba.
68. Venus and Mercury, thus, can be considered related to the pituitary body (for they both are closely associated with the ajna center) and Vulcan (ruling the head center) to the pineal gland.
68. Do đó, Sao Kim và Sao Thủy có thể được xem là liên hệ với thể tuyến yên (vì cả hai đều gắn bó chặt chẽ với trung tâm ajna) và Vulcan (cai quản trung tâm đầu) liên hệ với tuyến tùng.
69. The three planets together (and the functioning of the two glands) provide man with much of his constructive power. Constructiveness, form-building and the power to see are all intimately related.
69. Ba hành tinh cùng nhau (và hoạt động của hai tuyến) cung cấp cho con người phần lớn quyền năng xây dựng của y. Tính xây dựng, việc kiến tạo hình tướng và năng lực thấy đều liên hệ mật thiết với nhau.
The constellation of Taurus was called the Mother of Revelation and the interpreter of the divine Voice.—S. D., I, 721.
Chòm sao Kim Ngưu được gọi là Mẹ của Mặc Khải và là kẻ diễn giải Tiếng Nói thiêng liêng.—S. D., I, 721.
70. Taurus is also called the “Mother of Illumination”.
70. Kim Ngưu cũng được gọi là “Mẹ của Soi Sáng”.
71. Taurus stimulates the “Eye of the Bull” within man. From this perspective Taurus can be considered allied to the ajna center.
71. Kim Ngưu kích thích “Con Mắt của Con Bò Đực” bên trong con người. Từ góc độ này, Kim Ngưu có thể được xem là đồng minh với trung tâm ajna.
"Then the Bull of God carries the light in his forehead, and his eye transmits the radiance; (TWM 109)
“Bấy giờ Con Bò Đực của Thượng đế mang ánh sáng trên trán nó, và mắt nó truyền phát sự rạng ngời; (TWM 109)
72. Taurus, also, however, rules the Eye of Wisdom, the “Single Eye”, the “Blue Eye”, the “Eye of Shiva”, and, thus, must have a close connection with the head center.
72. Tuy nhiên, Kim Ngưu cũng cai quản Con Mắt Minh Triết, “Con Mắt Đơn Nhất”, “Con Mắt Xanh”, “Con Mắt của Shiva”, và do đó hẳn phải có một liên hệ chặt chẽ với trung tâm đầu.
73. We know well that the time of Shamballa’s strongest yearly impact is the Taurus Full Moon. Shamballa is the head center of the planet. Thus, Taurus, must be connected with the planetary head center even though Aries, usually, is considered the sign associated with the head—and is of course, also particularly related to Shamballa
73. Chúng ta biết rõ rằng thời điểm tác động hằng năm mạnh nhất của Shamballa là Trăng Tròn Kim Ngưu. Shamballa là trung tâm đầu của hành tinh. Vì vậy, Kim Ngưu hẳn phải liên hệ với trung tâm đầu hành tinh mặc dù Bạch Dương thường được xem là dấu hiệu gắn với đầu—và dĩ nhiên quả thật cũng đặc biệt liên hệ với Shamballa
4. The organs of inner vision:
4. Các cơ quan của linh thị bên trong:
a. The exoteric organ......Pineal gland......physical.
a. Cơ quan ngoại môn......Tuyến tùng......hồng trần.
74. It is interesting to see the pineal gland referred to as an “exoteric” organ, when its true purpose and functioning are so occult. Yet, for all that, the pineal gland is indeed a physical “body”.
74. Thật thú vị khi thấy tuyến tùng được gọi là một cơ quan “ngoại môn”, trong khi mục đích và hoạt động thực sự của nó lại huyền bí đến thế. Tuy vậy, dù sao đi nữa, tuyến tùng quả thật là một “thể” hồng trần.
b. The esoteric organ......the third eye.....etheric.
b. Cơ quan nội môn......con mắt thứ ba.....dĩ thái.
75. The third eye is an etheric eye.
75. Con mắt thứ ba là một con mắt dĩ thái.
76. We have an important triangle in the head center, the third eye and the pineal gland.
76. Chúng ta có một tam giác quan trọng trong trung tâm đầu, con mắt thứ ba và tuyến tùng.
Note: Students must be careful to distinguish between the third eye and the pineal gland.—See S. D., II, 308. "The third eye is dead and acts no longer." It has left behind a witness to its existence in the Pineal gland.
Lưu ý: Các đạo sinh phải cẩn thận phân biệt giữa con mắt thứ ba và tuyến tùng.—Xem S. D., II, 308. “Con mắt thứ ba đã chết và không còn hoạt động nữa.” Nó đã để lại một chứng tích về sự hiện hữu của nó trong tuyến tùng.
77. Well, this is an interesting statement as we are looking forward to the future activation of the third eye, if by “the third eye” H.P.B. means that organ of synthetic vision which is evoked into activity when the triangle of energy between the crown, ajna center and alta major center is flowing freely.
77. Đây là một phát biểu thú vị vì chúng ta đang hướng tới sự hoạt hóa trong tương lai của con mắt thứ ba, nếu bởi “con mắt thứ ba” H.P.B. muốn nói đến cơ quan của tầm nhìn tổng hợp được gợi vào hoạt động khi tam giác năng lượng giữa trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major đang lưu chuyển tự do.
78. The days of the reawakening of the third eye and, correspondingly, the pineal gland, are soon to be with us.
78. Những ngày tái thức tỉnh của con mắt thứ ba và, tương ứng, của tuyến tùng, sắp đến với chúng ta.
5. The Pineal gland is a small pea-like mass of grey nervous matter attached to the back of the third ventricle of the brain.
5. Tuyến tùng là một khối nhỏ giống hạt đậu của chất thần kinh xám gắn vào phía sau não thất thứ ba của bộ não.
79. Although the anatomists in our groups are rare, this piece of specific information is of value for everyone.
79. Mặc dù các nhà giải phẫu trong các nhóm của chúng ta rất hiếm, mẩu thông tin cụ thể này có giá trị đối với mọi người.
80. Probably it would be good to study the position and relations between the ventricles of the brain, as they have great occult significance.
80. Có lẽ sẽ là điều tốt nếu nghiên cứu vị trí và các mối liên hệ giữa các não thất của bộ não, vì chúng có ý nghĩa huyền bí lớn lao.
81. What do we make of the fact that the pineal gland (organ of the third eye) is at the back of the third ventricle of the brain?
81. Chúng ta hiểu thế nào về sự kiện rằng tuyến tùng (cơ quan của con mắt thứ ba) nằm ở phía sau não thất thứ ba của bộ não?
6. The Pituitary Body stands to the Pineal gland as manas does to Buddhi, or mind to wisdom.—S. D., III, 504, 505.
6. Thể tuyến yên đối với tuyến tùng cũng như manas đối với Bồ đề, hay trí tuệ đối với minh triết.—S. D., III, 504, 505.
82. A very logical statement. The implications connect the ajna center with manas and the pineal gland with buddhi. This makes sense if one thinks of the heart in the head center as connected with both buddhi and the pineal gland.
82. Một phát biểu rất hợp lý. Những hàm ý của nó nối kết trung tâm ajna với manas và tuyến tùng với Bồ đề. Điều này có ý nghĩa nếu người ta nghĩ đến tim trong trung tâm đầu như được nối kết với cả Bồ đề lẫn tuyến tùng.
83. The goal of the disciple is to create the union of buddhi and manas as buddhi-manas. The goal is also to merge the head center and the ajna center and the pineal gland with the pituitary body.
83. Mục tiêu của đệ tử là tạo ra sự hợp nhất của Bồ đề và manas thành buddhi-manas. Mục tiêu cũng là hợp nhất trung tâm đầu và trung tâm ajna, và tuyến tùng với thể tuyến yên.
7. The Pineal gland reached its highest development proportionately with the Lowest Physical development.—S. D., II, 308, 313.
7. Tuyến tùng đạt đến sự phát triển cao nhất của nó tương ứng với sự phát triển Hồng trần Thấp nhất.—S. D., II, 308, 313.
84. Perhaps we are speaking of a very primitive period during which man had one eye rather than two. It could have been an early ‘cyclopean’ period. This type of third eye may literally have been physical, and the pineal gland may not have descended to its present position within the head. In fact, the pineal gland may be the remnant of a physical third eye which descended into the middle of the head.
84. Có lẽ chúng ta đang nói đến một thời kỳ rất nguyên thủy trong đó con người có một mắt thay vì hai. Đó có thể là một thời kỳ “cyclopean” sơ khai. Loại con mắt thứ ba này có thể theo nghĩa đen đã là hồng trần, và tuyến tùng có thể chưa hạ xuống vị trí hiện nay của nó trong đầu. Thật vậy, tuyến tùng có thể là tàn tích của một con mắt thứ ba hồng trần đã hạ xuống giữa đầu.
85. In any case, the Ancient Tradition seems to speak of early man as, literally, “one-eyed”. Spiritually, this will again become the case through the initiation process.
85. Dù sao đi nữa, Truyền Thống Cổ dường như nói về con người sơ khai như, theo nghĩa đen, là “một mắt”. Về mặt tinh thần, điều này sẽ lại trở thành trường hợp như vậy qua tiến trình điểm đạo.
8. The third eye exists in etheric matter.
8. Con mắt thứ ba tồn tại trong vật chất dĩ thái.
a. In front of the head.
a. Ở phía trước đầu.
b. On a level with the eyes.
b. Ngang tầm với hai mắt.
86. More useful occult information to be experimented with during profound meditation.
86. Thêm những thông tin huyền bí hữu ích để được thử nghiệm trong tham thiền sâu xa.
87. Is the exact location of the third eye (etheric) “in front of the head” or more surrounding the pineal gland?
87. Vị trí chính xác của con mắt thứ ba (dĩ thái) là “ở phía trước đầu” hay bao quanh tuyến tùng nhiều hơn?
9. It is an energy centre formed by a triangle of force:
9. Nó là một trung tâm năng lượng được hình thành bởi một tam giác mãnh lực:
a. The Pituitary Body.
a. Thể tuyến yên.
b. The Pineal Gland.
b. Tuyến tùng.
c. The alta major centre.
c. Trung tâm alta major.
88. Again we notice that be have two physical ‘bodies’ and one “centre”. The word “centre” in this case can indicate that which is either etheric or densely physical.
88. Một lần nữa chúng ta lưu ý rằng chúng ta có hai “thể” hồng trần và một “trung tâm”. Từ “trung tâm” trong trường hợp này có thể chỉ điều gì đó hoặc là dĩ thái hoặc là hồng trần đậm đặc.
89. If DK were being strictly literal, He might have used the term “carotid gland”.
89. Nếu DK hoàn toàn theo nghĩa đen, Ngài có thể đã dùng thuật ngữ “carotid gland”.
10. The opened or third eye does not convey direct clairvoyance but is the organ through which direct and certain knowledge is obtained.—S. D., I, 77.
10. Con mắt đã mở hay con mắt thứ ba không truyền đạt thông nhãn trực tiếp mà là cơ quan nhờ đó tri thức trực tiếp và chắc chắn được đạt đến.—S. D., I, 77.
90. In this respect we remember that clairvoyance upon the mental plane is not the highest faculty to be found upon that plane.
90. Về phương diện này, chúng ta nhớ rằng thông nhãn trên cõi trí không phải là năng lực cao nhất có thể tìm thấy trên cõi ấy.
91. From this perspective, we might consider the third eye as the organ of straight knowledge or intuition.
91. Từ góc độ này, chúng ta có thể xem con mắt thứ ba như cơ quan của tri thức trực tiếp hay trực giác.