Trích nội dung chương
[Point Two] Next, to secure control over the mind. This involves [Page 956] certain important things: A realisation of the nature of the mind and brain through concentration, an understanding of the relation which should exist between the physical brain and Man, the real Thinker on the physical plane, an ability, gradually developed once the mind is brought under control through concentration, to meditate in the occult sense, and thus bring through the plan from higher levels, ascertain his individual share in the plan, and then co-operate in the work of some particular group of Nirmanakayas. [Point Two] Tiếp theo, đạt được sự kiểm soát đối…
[Point Two] Next, to secure control over the mind. This involves [Page 956] certain important things: A realisation of the nature of the mind and brain through concentration, an understanding of the relation which should exist between the physical brain and Man, the real Thinker on the physical plane, an ability, gradually developed once the mind is brought under control through concentration, to meditate in the occult sense, and thus bring through the plan from higher levels, ascertain his individual share in the plan, and then co-operate in the work of some particular group of Nirmanakayas.
[Point Two] Tiếp theo, đạt được sự kiểm soát đối với thể trí. Điều này bao hàm [Page 956] một số điều quan trọng: sự chứng nghiệm về bản chất của thể trí và bộ não thông qua tập trung, sự thấu hiểu về mối liên hệ nên tồn tại giữa bộ não hồng trần và Con Người, Nhà Tư Tưởng thực sự trên cõi hồng trần, một khả năng, được phát triển dần dần một khi thể trí được đặt dưới sự kiểm soát nhờ tập trung, để tham thiền theo nghĩa huyền bí, và nhờ đó đưa Thiên Cơ từ các cấp độ cao hơn xuống, xác định phần chia cá nhân của mình trong Thiên Cơ, rồi hợp tác trong công việc của một nhóm Nirmanakayas đặc biệt nào đó.
231. This section of text is so amazingly practical. If we are to be impressed rightly by these requirements, tabulation serves us.
231. Phần văn bản này thật đáng kinh ngạc về tính thực tiễn. Nếu chúng ta muốn được gây ấn tượng đúng đắn bởi những đòi hỏi này, thì việc lập bảng sẽ giúp ích cho chúng ta.
232. The following are involved in the second task of securing control over the mind:
232. Những điều sau đây được bao hàm trong nhiệm vụ thứ hai là đạt được sự kiểm soát đối với thể trí:
a. A realization of the mind and brain through concentration
a. Một sự chứng nghiệm về thể trí và bộ não thông qua tập trung
b. An understanding of the relation which should exist between the physical brain and Man, the real Thinker on the physical plane
b. Một sự thấu hiểu về mối liên hệ nên tồn tại giữa bộ não hồng trần và Con Người, Nhà Tư Tưởng thực sự trên cõi hồng trần
c. An ability to meditate in this occult sense. This is gradually developed once the mind is brought under control through concentration
c. Một khả năng tham thiền theo nghĩa huyền bí này. Khả năng ấy được phát triển dần dần một khi thể trí được đặt dưới sự kiểm soát nhờ tập trung
d. An ability, through meditation, to bring through the plan from higher levels
d. Một khả năng, thông qua tham thiền, đưa Thiên Cơ từ các cấp độ cao hơn xuống
e. An ability, through meditation, to ascertain one’s individual share in the Plan
e. Một khả năng, thông qua tham thiền, xác định phần chia cá nhân của mình trong Thiên Cơ
f. An ability, through meditation, and action on behalf of the Plan, to cooperate in the work of some particular group of Nirmanakayas. (This last point is of great interest and demonstrates the high origin of the impulse with which a true cooperator with the Plan is in touch.)
f. Một khả năng, thông qua tham thiền, và hành động thay mặt cho Thiên Cơ, hợp tác trong công việc của một nhóm Nirmanakayas đặc biệt nào đó. (Điểm cuối này rất đáng quan tâm và chứng tỏ nguồn gốc cao cả của xung lực mà một người hợp tác chân chính với Thiên Cơ đang tiếp xúc.)
[Point Three] This is succeeded by a consideration of the laws of energy. A man discovers how to build a thought form of a particular quality and tone, to energise it with his own life, and thus have—on mental levels—a small creation, the child of his will, which he can use as a messenger, or as a means for the manifestation of an idea. Students will do well to consider these points with care, if they seek to become conscious operators.
[Point Three] Tiếp theo là sự xem xét các định luật của năng lượng. Một người khám phá cách kiến tạo một hình tư tưởng có phẩm tính và âm điệu đặc thù, để tiếp năng lượng cho nó bằng chính sự sống của mình, và nhờ đó có được—trên các cấp độ trí tuệ—một sáng tạo nhỏ, đứa con của ý chí y, mà y có thể dùng như một sứ giả, hoặc như một phương tiện để biểu hiện một ý tưởng. Các đạo sinh sẽ làm tốt nếu suy xét những điểm này một cách cẩn trọng, nếu họ tìm cách trở thành những người hoạt động có ý thức.
233. The next point for those of high nature who would build thoughtforms successfully is “a consideration of the laws of energy”.
233. Điểm kế tiếp đối với những người có bản chất cao cả muốn kiến tạo hình tư tưởng thành công là “sự xem xét các định luật của năng lượng”.
234. Let us tabulate what is required:
234. Chúng ta hãy lập bảng những gì được đòi hỏi:
a. The magician must build a thoughtform of a particular quality
a. Nhà huyền thuật phải kiến tạo một hình tư tưởng có một phẩm tính đặc thù
b. The magician must build a thoughtform of a particular tone
b. Nhà huyền thuật phải kiến tạo một hình tư tưởng có một âm điệu đặc thù
c. The magician must energize that thoughtform with his own life
c. Nhà huyền thuật phải tiếp năng lượng cho hình tư tưởng ấy bằng chính sự sống của mình
d. The magician having created the thoughtform, a child of his will, must use the thoughtform as a messenger
d. Nhà huyền thuật, sau khi đã sáng tạo hình tư tưởng, đứa con của ý chí mình, phải dùng hình tư tưởng ấy như một sứ giả
e. The magician must use the thoughtform for the purpose of manifesting some idea
e. Nhà huyền thuật phải dùng hình tư tưởng ấy nhằm mục đích biểu hiện một ý tưởng nào đó
235. DK is dealing with amazing practicality. He is trying to teach us how to become “conscious operators”. This would mean that we would become practical magicians.
235. Chân sư DK đang đề cập đến tính thực tiễn đáng kinh ngạc. Ngài đang cố dạy chúng ta cách trở thành “những người hoạt động có ý thức”. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ trở thành những nhà huyền thuật thực tiễn.
[Point Four] Finally, having constructed a thought form, the next thing the servant of humanity has to learn is how to send it on its mission, whatever that may be, holding it through his own vital energy in its due form, keeping it vibrating to its own measure, and eventually bringing about its destruction when it has fulfilled its mission.
[Điểm Bốn]Sau cùng, sau khi đã kiến tạo một Hình tư tưởng, điều kế tiếp mà người phụng sự nhân loại phải học là cách gửi nó đi thi hành sứ mạng của nó, dù sứ mạng ấy là gì, giữ nó trong hình dạng thích hợp bằng chính năng lượng sinh lực của mình, duy trì cho nó rung động theo nhịp độ riêng của nó, và cuối cùng đưa đến sự hủy diệt của nó khi nó đã hoàn tất sứ mạng.
236. The final stage of the task (and in DK’s instructions here we can see that He is preparing us for the forthcoming section on White Magic) has to do with sending the thoughtform on its mission:
236. Giai đoạn cuối cùng của công việc này (và trong những chỉ dẫn ở đây của Chân sư DK, chúng ta có thể thấy rằng Ngài đang chuẩn bị cho chúng ta phần sắp tới về Chánh Thuật) liên quan đến việc gửi Hình tư tưởng đi thi hành sứ mạng của nó:
a. The magician must send the thoughtform on its mission
a. Nhà huyền thuật phải gửi Hình tư tưởng đi thi hành sứ mạng của nó
b. To send the thoughtform on its mission, he must hold the thoughtform in due form using his own vital energy to do so
b. Để gửi Hình tư tưởng đi thi hành sứ mạng, y phải giữ Hình tư tưởng trong hình dạng thích hợp bằng cách dùng chính năng lượng sinh lực của mình để làm điều đó
c. The magician must keep the thoughtform vibrating to its own measure
c. Nhà huyền thuật phải giữ cho Hình tư tưởng rung động theo nhịp độ riêng của nó
d. The magician, eventually, must bring about the destruction of the thoughtform when it has fulfilled its mission.
d. Cuối cùng, nhà huyền thuật phải đưa đến sự hủy diệt của Hình tư tưởng khi nó đã hoàn tất sứ mạng của nó.
237. Let us review the main categories of all the magician or worker in mental matter must do if he is to create the type of thoughtforms necessary to serve the Plan:
237. Chúng ta hãy điểm lại những phạm trù chính của tất cả những gì nhà huyền thuật hay người hoạt động trong chất liệu trí tuệ phải làm nếu y muốn tạo ra loại Hình tư tưởng cần thiết để phụng sự Thiên Cơ:
a. The would-be magician must purify his desires (Scorpio)
a. Nhà huyền thuật tương lai phải thanh lọc các ham muốn của mình (Hổ Cáp)
b. The magician must achieve clear vision (Sagittarius)
b. Nhà huyền thuật phải đạt được linh thị rõ ràng (Nhân Mã)
c. The magician must secure control over his mind (Capricorn)
c. Nhà huyền thuật phải bảo đảm sự kiểm soát đối với thể trí của mình (Ma Kết)
d. The magician must consider the laws of energy (Aquarius)
d. Nhà huyền thuật phải xem xét các định luật của năng lượng (Bảo Bình)
e. The magician must send the thoughtform on its mission in the proper manner and then, later, destroy the thoughtform once the mission is achieved. (Aquarius and Pisces)
e. Nhà huyền thuật phải gửi Hình tư tưởng đi thi hành sứ mạng của nó theo cách thức đúng đắn rồi sau đó, về sau, hủy diệt Hình tư tưởng một khi sứ mạng đã hoàn thành. (Bảo Bình và Song Ngư)
The average man is often the victim of his own thought forms. He constructs them, but is neither strong enough to send them out to do their work, nor wise enough to dissipate them when required.
Con người trung bình thường là nạn nhân của chính các Hình tư tưởng của mình. Y kiến tạo chúng, nhưng không đủ mạnh để gửi chúng ra ngoài làm công việc của chúng, cũng không đủ minh triết để làm tiêu tan chúng khi cần thiết.
238. DK is telling us how we create our own prison of thought.
238. Chân sư DK đang nói cho chúng ta biết cách chúng ta tự tạo nên nhà tù tư tưởng của chính mình.
239. We create, but cannot rid ourselves of what we have created. We can neither send nor destroy.
239. Chúng ta sáng tạo, nhưng không thể tự giải thoát mình khỏi điều mình đã sáng tạo. Chúng ta không thể gửi đi cũng không thể hủy diệt.
240. Note that wisdom is required for the dissipation of thoughtforms.
240. Cần lưu ý rằng minh triết là điều cần thiết cho sự làm tiêu tan các Hình tư tưởng.
This has brought about the thick swirling fog of half-formed, semi-vitalised forms in which eighty five percent of the human race is surrounded.
Điều này đã tạo ra màn sương mù dày đặc xoáy cuộn của những hình thể nửa thành hình, nửa được tiếp sinh lực, bao quanh tám mươi lăm phần trăm nhân loại.
241. DK could be giving us quite an important hint. Is this another way of telling us that eighty-five percent of humanity is kama-manasic in consciousness?
241. Chân sư DK có thể đang đưa cho chúng ta một gợi ý khá quan trọng. Đây có phải là một cách khác để nói với chúng ta rằng tám mươi lăm phần trăm nhân loại có tâm thức trí-cảm không?
242. There are different classifications of human beings. Those who individualized on the Earth-chain are still largely kama-manasic in their consciousness. While many of those who individualized on the Moon-chain are also kama-manasic, a fair number of them will be mentally polarized. Is DK subtly hinting at the numbers of those who are Earth-chain humanity compared with those who individualized on the Moon-chain?
242. Có những cách phân loại khác nhau về con người. Những người đã biệt ngã hóa trên Dãy Địa Cầu vẫn phần lớn còn trí-cảm trong tâm thức của họ. Trong khi nhiều người trong số những người đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng cũng là trí-cảm, thì một số khá đông trong họ sẽ phân cực trí tuệ. Phải chăng Chân sư DK đang kín đáo gợi ý về số lượng những người thuộc nhân loại Dãy Địa Cầu so với những người đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng?
243. When we think of half-formed, semi-vitalised forms we are given a strong incentive to think things through to conclusion. One does not want to swell the proportion of vague, half-formed thoughts. This incentive will also apply to the production of speech.
243. Khi chúng ta nghĩ đến những hình thể nửa thành hình, nửa được tiếp sinh lực, chúng ta được thúc đẩy mạnh mẽ để suy nghĩ mọi sự cho đến kết luận. Người ta không muốn làm tăng thêm tỉ lệ những tư tưởng mơ hồ, nửa thành hình. Sự thúc đẩy này cũng sẽ áp dụng cho việc tạo ra lời nói.
In his work as thought builder, man has to show forth the characteristics of the Logos, the great Architect or Builder of the universe.
Trong công việc của mình với tư cách là người kiến tạo tư tưởng, con người phải biểu lộ những đặc tính của Thượng đế, Đấng Kiến Trúc Sư Vĩ Đại hay Đấng Kiến Tạo vĩ đại của vũ trụ.
244. In this case, the “universe” means our solar system.
244. Trong trường hợp này, “vũ trụ” có nghĩa là hệ mặt trời của chúng ta.
245. The Solar Logos, it appears, is both the Architect and the Builder of our solar system.
245. Có vẻ như Thái dương Thượng đế vừa là Kiến Trúc Sư Vĩ Đại vừa là Đấng Kiến Tạo của hệ mặt trời chúng ta.
246. Man is to model himself on far higher Examples.
246. Con người phải lấy những Tấm Gương cao cả hơn rất nhiều làm mẫu.
He has to parallel His work as:
Y phải song hành với công việc của Ngài như là:
The one who conceives the idea.
Đấng thai nghén ý tưởng.
247. Conception of the idea is achieved under the impulse of Aries.
247. Sự thai nghén ý tưởng đạt được dưới xung lực của Bạch Dương.
The one who clothes the idea in matter. [Page 957]
Đấng khoác ý tưởng bằng vật chất. [Trang 957]
248. Clothing the idea with matter is achieved in Taurus and relates to the plane of desire over which Taurus has an important influence.
248. Việc khoác ý tưởng bằng vật chất được thực hiện trong Kim Ngưu và liên hệ đến cõi dục vọng mà Kim Ngưu có ảnh hưởng quan trọng trên đó.
The one who energises the idea, and thus enables the form to preserve its outline and perform its mission.
Đấng tiếp năng lượng cho ý tưởng, và nhờ đó làm cho hình thể có thể giữ được đường nét của nó và thực hiện sứ mạng của nó.
249. The energizing of the idea is an etheric process and occurs under the influence of Gemini. The idea achieves a vital coherence.
249. Việc tiếp năng lượng cho ý tưởng là một tiến trình dĩ thái và xảy ra dưới ảnh hưởng của Song Tử. Ý tưởng đạt được một sự cố kết sinh lực.
The one who—in time and space—through desire and love, directs that thought form, vitalises it continuously, until the objective is attained.
Đấng mà—trong thời gian và không gian—thông qua dục vọng và tình thương, điều khiển Hình tư tưởng ấy, tiếp sinh lực cho nó liên tục, cho đến khi mục tiêu đạt được.
250. Here many astrological influences are involved. All three major rays play their part. Directing the thoughtform occurs under the first ray. Continuous vitalization occurs under the third ray, and desire and love (under the second ray) sustains the entire process.
250. Ở đây có nhiều ảnh hưởng chiêm tinh liên quan. Cả ba cung chính đều góp phần của mình. Việc điều khiển Hình tư tưởng diễn ra dưới cung một. Việc tiếp sinh lực liên tục diễn ra dưới cung ba, còn dục vọng và tình thương (dưới cung hai) duy trì toàn bộ tiến trình.
251. The persistent energy of Cancer helps see the entire process through into manifestation.
251. Năng lượng bền bỉ của Cự Giải giúp đưa toàn bộ tiến trình này đi trọn vào biểu hiện.
The one who, when the desired end has been accomplished, destroys or disintegrates the thought form by withdrawing his energy (occultly, the "attention is withdrawn," or "the eye is no longer upon" it), so that the lesser lives (which had been built into the desired form) fall away and return to the general reservoir of deva substance.
Đấng mà, khi mục đích mong muốn đã được hoàn thành, hủy diệt hay phân rã Hình tư tưởng bằng cách rút năng lượng của mình (một cách huyền bí, “sự chú ý được rút lại”, hay “con mắt không còn đặt trên nó nữa”), để cho các sự sống nhỏ hơn (đã được xây vào hình thể mong muốn) rơi rụng đi và trở về kho chứa chung của chất liệu thiên thần.
252. We note that there is no deliberate attempt to smash the thoughtform or apply psychic brute force. Rather, the method of destruction is far more subtle.
252. Chúng ta lưu ý rằng không có nỗ lực cố ý nào nhằm đập tan Hình tư tưởng hay áp dụng bạo lực thông linh thô bạo. Trái lại, phương pháp hủy diệt tinh tế hơn rất nhiều.
253. What we might call the ‘Eye of Cohesion’ is averted. The holding, cohering power of the second ray no longer holds in cohesion the substances which comprised the thoughtform. A new and absorbing interest has taken the place of interest in the thoughtform. Left without the sustaining, integrating power of the eye, the thoughtform falls apart.
253. Điều mà chúng ta có thể gọi là “Con Mắt Cố Kết” được quay đi. Quyền năng duy trì và cố kết của cung hai không còn giữ các chất liệu cấu thành Hình tư tưởng trong sự cố kết nữa. Một mối quan tâm mới và cuốn hút đã thay thế cho sự quan tâm đối với Hình tư tưởng. Bị bỏ lại mà không có quyền năng duy trì và tích hợp của con mắt, Hình tư tưởng tan rã.
254. From this perspective, to ignore is to kill. The ‘Eye’ enlivens.
254. Từ góc nhìn này, phớt lờ tức là giết chết. “Con Mắt” làm cho sống động.
255. Withdrawal of energy and subsequent devitalization can be associated with Pluto and with the signs which Pluto rules—namely Scorpio and Pisces (both signs of death).
255. Việc rút năng lượng và sự mất sinh lực tiếp theo có thể được liên kết với Sao Diêm Vương và với những dấu hiệu hoàng đạo mà Sao Diêm Vương cai quản—tức là Hổ Cáp và Song Ngư (cả hai đều là những dấu hiệu của cái chết).
256. Let us tabulate the five steps which reflect the work of the Logos:
256. Chúng ta hãy lập bảng năm bước phản ánh công việc của Thượng đế:
a. Conceiving
a. Thai nghén
b. Clothing
b. Khoác vào
c. Energizing
c. Tiếp năng lượng
d. Directing and Vitalizing
d. Điều khiển và tiếp sinh lực
e. Destroying through Energy Abstraction
e. Hủy diệt thông qua sự rút năng lượng
Thus, in all creative work in mental matter, man is likewise to be seen as a Trinity at work; he is the creator, preserver, and destroyer.
Như vậy, trong mọi công việc sáng tạo trong chất liệu trí tuệ, con người cũng được thấy như một Tam Vị đang hoạt động; y là người sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt.
257. In this way we are all Brahma, Vishnu and Shiva and should be more aware of these functions within us.
257. Theo cách này, tất cả chúng ta đều là Brahma, Vishnu và Shiva, và nên ý thức hơn về những chức năng này bên trong chúng ta.
e. In all occult work in mental matter which has to manifest upon the physical plane, and thus achieve objectivity, man has to work as a unit.
e. Trong mọi công việc huyền bí học trong chất liệu trí tuệ phải biểu hiện trên cõi hồng trần, và nhờ đó đạt được tính khách quan, con người phải làm việc như một đơn vị.
258. A “unit” is an integrated wholeness. Only an integrated human being, infused by the presence of the soul, dares undertake magical creation and become a conscious operator.
258. Một “đơn vị” là một toàn thể tích hợp. Chỉ một con người tích hợp, được linh hồn thấm nhuần bởi sự hiện diện của linh hồn, mới dám đảm nhận sự sáng tạo huyền thuật và trở thành một người vận hành có ý thức.
This infers the ability, therefore, of the threefold lower man to be subordinated to the Ego, so that the dynamic will of the Ego may be imposed upon the physical brain.
Điều này vì thế hàm ý khả năng để phàm nhân tam phân được đặt dưới chân ngã, để ý chí năng động của chân ngã có thể được áp đặt lên bộ não hồng trần.
259. The energy of the Ego, the will of the Ego, must reach all the way ‘down’ to the physical brain of man.
259. Năng lượng của chân ngã, ý chí của chân ngã, phải vươn xuống tận bộ não hồng trần của con người.
260. White magic is the magic of the soul. It is originated and enacted by man-as-soul. Unless a man is quite fully soul-conscious, he cannot become an operator in white magic.
260. Chánh Thuật là huyền thuật của linh hồn. Nó được khởi phát và thực hiện bởi con người-như-linh-hồn. Trừ phi một người có tâm thức linh hồn khá trọn vẹn, y không thể trở thành một người vận hành trong chánh thuật.
The method of the man on the physical plane who is engaged in conscious work in mental matter is to be considered in two divisions:
Phương pháp của con người trên cõi hồng trần đang tham gia vào công việc có ý thức trong chất liệu trí tuệ phải được xem xét theo hai phân đoạn:
first, the initial process of alignment with the Ego, so that the plan, purpose and method of achievement may be impressed upon the physical brain,
thứ nhất, là tiến trình ban đầu của sự chỉnh hợp với chân ngã, để kế hoạch, mục đích và phương pháp thành tựu có thể được ghi khắc lên bộ não hồng trần,
261. There can be no white magic unless there is a spiritual impulse. For practical purposes, this impulse emanates from the Ego (the Higher Self upon the higher mental plane).
261. Không thể có chánh thuật nếu không có một xung lực tinh thần. Vì những mục đích thực tiễn, xung lực này phát ra từ chân ngã (Bản Ngã Cao Siêu trên cõi thượng trí).
262. We see how important is alignment, without which there is no clear channel for the necessary impression.
262. Chúng ta thấy sự chỉnh hợp quan trọng biết bao, vì nếu không có nó thì sẽ không có một kênh rõ ràng cho sự ghi khắc cần thiết.
and then a secondary process in which the man, using the physical brain consciously, proceeds to carry out the plan, construct through will and purpose the necessitated form, and then, having built and energised the form, to "keep his eye upon it."
và rồi là một tiến trình thứ yếu trong đó con người, dùng bộ não hồng trần một cách có ý thức, tiến hành thực hiện kế hoạch, kiến tạo bằng ý chí và mục đích hình thể cần thiết, rồi sau đó, khi đã xây dựng và tiếp năng lượng cho hình thể, thì “giữ mắt mình trên nó.”
263. Man institutes alignment with the Ego and identifies as the Ego. The Solar Angel in its own right has much to contribute to this process of initial impression.
263. Con người thiết lập sự chỉnh hợp với chân ngã và đồng hóa như chân ngã. Thái dương Thiên Thần, theo quyền riêng của nó, có nhiều điều để đóng góp vào tiến trình ghi khắc ban đầu này.
264. The next stage is almost entirely in the care of the man on the physical plane.
264. Giai đoạn kế tiếp gần như hoàn toàn do con người trên cõi hồng trần đảm trách.
265. He must.
265. Y phải.
a. Use the physical brain consciously
a. Dùng bộ não hồng trần một cách có ý thức
b. Carry out the plan
b. Thực hiện kế hoạch
c. Construct, using will and purpose, the necessary form
c. Kiến tạo, bằng ý chí và mục đích, hình thể cần thiết
d. Energize the form
d. Tiếp năng lượng cho hình thể
e. Keep an eye on the form.
e. Giữ mắt trên hình thể.
This is stating occultly the great truth back of all processes of energising. "The eye of the Lord" is much referred to in the Christian Bible, and occultly understood, the eye is that which brings power to its servant, the thought form.
Điều này đang phát biểu một cách huyền bí chân lý lớn lao nằm sau mọi tiến trình tiếp năng lượng. “Con mắt của Chúa” được nhắc đến rất nhiều trong Kinh Thánh Cơ Đốc, và được hiểu theo huyền bí học, con mắt là điều mang quyền năng đến cho người phụng sự của nó, tức Hình tư tưởng.
266. The “Lord”, in this instance, is the Ego.
266. “Chúa”, trong trường hợp này, là chân ngã.
267. Man-as-Ego-in-extension, keeps his eye on the created thoughtform.
267. Con người-như-chân-ngã-trong-sự-mở-rộng giữ mắt mình trên Hình tư tưởng đã được tạo ra.
268. The thoughtform is the “servant” of the “Lord”.
268. Hình tư tưởng là “người phụng sự” của “Chúa”.
269. We are being given some very practical advice. If we wish to energize any creation, we have to “keep our eye upon it”.
269. Chúng ta đang được trao cho một số lời khuyên rất thực tiễn. Nếu chúng ta muốn tiếp năng lượng cho bất kỳ sáng tạo nào, chúng ta phải “giữ mắt mình trên nó”.
270. From another perspective, if we manage to capture the “Eye” or attention of the Solar Angel, that which we propose to do (if in alignment with the intentions of the Angel) will be energized.
270. Từ một góc nhìn khác, nếu chúng ta xoay xở để thu hút được “Con Mắt” hay sự chú ý của Thái dương Thiên Thần, thì điều mà chúng ta đề xuất làm (nếu chỉnh hợp với các ý định của Thiên Thần) sẽ được tiếp năng lượng.
271. If the “eye of the Lord” is upon one, an abundant source of sustaining energy flows.
271. Nếu “con mắt của Chúa” đặt trên một người, một nguồn năng lượng duy trì dồi dào sẽ tuôn chảy.
Scientists [Page 958] are becoming interested in the power of the human eye, and that faculty of control and of recognition [i.e., sight] which is everywhere seen as existing will have its scientific and occult explanation when it is studied as an instrument of initiatory energy.
Các nhà khoa học [Trang 958] đang bắt đầu quan tâm đến quyền năng của mắt người, và năng lực kiểm soát cùng nhận biết [tức là thị giác] được thấy là hiện hữu ở khắp nơi ấy sẽ có được lời giải thích khoa học và huyền bí khi nó được nghiên cứu như một công cụ của năng lượng điểm đạo.
272. The eye has many faculties. It not only registers but it is an instrument of control.
272. Con mắt có nhiều năng lực. Nó không chỉ ghi nhận mà còn là một công cụ kiểm soát.
273. The eye is also an initiator—a transmitter and conveyer of energy. A practical example of this is the “Eye” which is seen regarding the initiate at the time of the fourth initiation.
273. Con mắt cũng là một đấng khởi phát—một bộ truyền dẫn và chuyển tải năng lượng. Một ví dụ thực tiễn về điều này là “Con Mắt” được thấy đang nhìn điểm đạo đồ vào lúc lần điểm đạo thứ tư.
274. If a “word to the wise is sufficient”, a look or a glance can also convey illumination and power.
274. Nếu “một lời cho người minh triết là đủ”, thì một cái nhìn hay một ánh mắt cũng có thể truyền đạt sự soi sáng và quyền năng.
275. By the ‘looks’ we give we can either open or close doors. The right kind of look can confer upon another than which one sees. The recipient is allowed to look through the ‘Eye’ of one greater than himself.
275. Bằng những “cái nhìn” mà chúng ta trao đi, chúng ta có thể hoặc mở hoặc đóng các cánh cửa. Loại ánh mắt đúng đắn có thể ban cho người khác nhiều hơn điều người ta thấy. Người tiếp nhận được phép nhìn qua “Con Mắt” của một đấng lớn hơn chính mình.
276. Really, the eye has the power of all the first three aspects of divinity. It can direct according to the first ray. It can register and “take in” according to the second ray. It can manipulate, rearrange and reconfigure according to the third ray.
276. Thật ra, con mắt có quyền năng của cả ba phương diện đầu tiên của thiên tính. Nó có thể điều khiển theo cung một. Nó có thể ghi nhận và “thu nhận” theo cung hai. Nó có thể thao tác, sắp xếp lại và tái cấu hình theo cung ba.
Therefore, it will be apparent that a thought form is the result of two types of energy:
Do đó, sẽ rõ ràng rằng một Hình tư tưởng là kết quả của hai loại năng lượng:
That emanating in the first instance from the Ego on abstract levels.
Loại phát ra trước hết từ chân ngã trên các cấp độ trừu tượng.
277. We are speaking principally of the higher mental plane, but the Ego as the spiritual triad, is also the source of ideas from within the cosmic ethers.
277. Chúng ta chủ yếu đang nói đến cõi thượng trí, nhưng chân ngã, như Tam Nguyên Tinh Thần, cũng là nguồn của các ý tưởng từ bên trong các dĩ thái vũ trụ.
That originating in a secondary sense from the man on the physical plane through the medium of the brain.
Loại phát sinh theo nghĩa thứ yếu từ con người trên cõi hồng trần thông qua trung gian của bộ não.
278. The man on the physical plane also energizes the thoughtform. The brain is involved in this energizing.
278. Con người trên cõi hồng trần cũng tiếp năng lượng cho Hình tư tưởng. Bộ não có liên quan trong sự tiếp năng lượng này.
279. So thoughtforms have a spiritual and a human origin. Unless the spiritual origin is there, however, the thoughtform is likely to be selfish and not useful in the execution of the Divine Plan.
279. Vì vậy Hình tư tưởng có một nguồn gốc tinh thần và một nguồn gốc nhân loại. Tuy nhiên, trừ phi nguồn gốc tinh thần hiện diện, Hình tư tưởng có khả năng sẽ ích kỷ và không hữu ích trong việc thực thi Thiên Cơ.
That men do not recognise the first factor as a general rule is that which is responsible for much that is evil.
Việc con người nói chung không nhận ra yếu tố thứ nhất chính là điều chịu trách nhiệm cho nhiều điều ác.
280. They do not know how to create thoughtforms with spiritual content because they are not aligned and linked, during the act of creation, to a spiritual source.
280. Họ không biết cách tạo ra các Hình tư tưởng có nội dung tinh thần vì trong hành vi sáng tạo, họ không được chỉnh hợp và liên kết với một nguồn tinh thần.
When the "Science of the Self"
Khi “Khoa Học về Bản Ngã”
281. This, in a way, is the Science of Esoteric Psychology.
281. Theo một cách nào đó, đây là Khoa Học của Tâm Lý Học Nội Môn.
282. There are so many generally unsuspected aspects to the “Self” of man. Knowledge of the constitution of man is indispensable for the next steps to be taken by evolving humanity.
282. Có rất nhiều phương diện của “Bản Ngã” nơi con người mà nói chung không được ngờ tới. Kiến thức về cấu tạo của con người là điều không thể thiếu cho những bước kế tiếp mà nhân loại đang tiến hoá phải thực hiện.
has assumed due proportions men will be careful to ascertain the egoic impulses in all thought process, and to utilise true egoic energy before they begin manipulating deva substance, and building forms of deva lives.
đã đạt được tỉ lệ thích đáng con người sẽ cẩn trọng xác định các xung lực chân ngã trong mọi tiến trình tư tưởng, và sử dụng năng lượng chân ngã chân chính trước khi họ bắt đầu thao tác chất liệu thiên thần, và xây dựng các hình thể của các sự sống thiên thần.
283. Men will be so wisely trained that unless the Ego is involved in the creative process, men will not create thought.
283. Con người sẽ được huấn luyện minh triết đến mức trừ phi chân ngã có dự phần trong tiến trình sáng tạo, con người sẽ không sáng tạo tư tưởng.
284. Therefore alignment with the Ego will be a paramount requirement before creation is undertaken.
284. Do đó sự chỉnh hợp với chân ngã sẽ là một đòi hỏi tối quan trọng trước khi công việc sáng tạo được đảm nhận.
285. This will reduce hasty, ill-considered and often selfish creation of thought and word.
285. Điều này sẽ làm giảm bớt sự sáng tạo tư tưởng và lời nói hấp tấp, thiếu cân nhắc và thường ích kỷ.
286. We have spoken much of the manipulating devas. We see, however, that man is, himself, on the way to becoming a manipulator of deva substance.
286. Chúng ta đã nói nhiều về các thiên thần thao tác. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng chính con người cũng đang trên đường trở thành một kẻ thao tác chất liệu thiên thần.
287. It is just that he must follow certain rules if he is to do so successfully and in line with the Plan.
287. Chỉ là y phải tuân theo một số quy luật nhất định nếu muốn làm điều đó thành công và phù hợp với Thiên Cơ.
S8S4 Part I
TCF 959-963
TCF 958-963
28 November – 13 December 2008
28 tháng Mười Một – 13 tháng Mười Hai 2008
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Cước chú và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF đặt sẵn bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
1. We now enter a very practical section of A Treatise on Cosmic Fire—one which touches on the development of the disciple as a worker in white magic.
1. Giờ đây chúng ta bước vào một phần rất thực tiễn của Luận về Lửa Vũ Trụ—một phần chạm đến sự phát triển của đệ tử như một người hoạt động trong chánh thuật.
2. in the Three Worlds.
2. trong Ba Cõi Giới.
I have a few more words to say anent this subject of man as a Creator in mental matter. The words are addressed to all those students who—through their ability to concentrate—have developed a certain measure of thought control, and who desire to understand the process of creation with greater scientific accuracy.
Tôi còn vài lời nữa muốn nói liên quan đến chủ đề con người như một Đấng Sáng Tạo trong chất liệu trí tuệr. Những lời này được gửi đến tất cả những đạo sinh mà—nhờ khả năng tập trung—đã phát triển được một mức độ kiểm soát tư tưởng nhất định, và mong muốn hiểu tiến trình sáng tạo với độ chính xác khoa học lớn hơn.
2. We see that the capacity to concentrate is the sine qua non of thought control. Who has not wrestled with the lower mind?
2. Chúng ta thấy rằng năng lực tập trung là điều kiện tiên quyết của sự kiểm soát tư tưởng. Ai mà chưa từng vật lộn với Hạ trí?
3. We are engaged with the science thoughtform building. We have build thoughts for millions of years—relatively unconsciously. We have not really understood what we were constantly doing.
3. Chúng ta đang làm việc với khoa học kiến tạo Hình tư tưởng. Chúng ta đã xây dựng tư tưởng trong hàng triệu năm—một cách tương đối vô thức. Chúng ta thực sự chưa hiểu mình liên tục đang làm gì.
We will, therefore, consider two factors in the process of thought-form building:
Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét hai yếu tố trong tiến trình kiến tạo Hình tư tưởng:
a. That of aligning with the Ego.88 [Alignment: See Letters on Occult Meditation, pp. 1-7.]
a. Yếu tố chỉnh hợp với chân ngã.88 [Chỉnh hợp: Xem Thư về Tham Thiền Huyền Bí, tr. 1-7.]
4. Man as “Ego” is considered to reside upon the third or second subplanes of the higher mental plane.
4. Con người như “chân ngã” được xem là cư ngụ trên cõi phụ thứ ba hoặc thứ hai của cõi thượng trí.
5. It can be questioned how many minutes or hours of the day we are actually aligned with the Ego. In a way, alignment is both the beginning and the end (as the prelude to absorption).
5. Người ta có thể đặt câu hỏi rằng trong một ngày, thực sự có bao nhiêu phút hay giờ chúng ta được chỉnh hợp với chân ngã. Theo một nghĩa nào đó, sự chỉnh hợp vừa là khởi đầu vừa là kết thúc (như khúc dạo đầu cho sự hấp thu).
b. The process of impressing the egoic will, on the physical brain, or (to word it otherwise) the initial utilisation of egoic energy. [Page 959]
b. Tiến trình ghi khắc ý chí chân ngã lên bộ não hồng trần, hay (nói cách khác) việc sử dụng ban đầu năng lượng chân ngã. [Trang 959]
6. We note that the egoic will must make its way to the very lowest portion of the human apparatus. Matter of the dense physical plane must be impressed.
6. Chúng ta lưu ý rằng ý chí chân ngã phải đi xuống đến phần thấp nhất của bộ máy con người. Vật chất của cõi hồng trần đậm đặc phải được ghi khắc.
7. It is also significant that it is the will that must impress the brain. Will and brain are fundamentally related—one the power to direct, the other the physical organ of direction.
7. Cũng đáng chú ý là chính ý chí phải ghi khắc lên bộ não. Ý chí và bộ não có liên hệ căn bản với nhau—một bên là quyền năng điều khiển, bên kia là cơ quan hồng trần của sự điều khiển.
8. We note that this type of impression concerns the “initial” use of egoic energy. There must be other and subsequent uses.
8. Chúng ta lưu ý rằng loại ghi khắc này liên quan đến việc sử dụng năng lượng chân ngã “ban đầu”. Hẳn phải có những cách sử dụng khác và tiếp theo.
Let us take them one by one:
Chúng ta hãy lần lượt xét từng điều:
a. Alignment with the Ego. This, as we know, is only possible to the man who has reached the Probationary Path, or a certain very definite point in evolution.
a. Chỉnh hợp với chân ngã. Điều này, như chúng ta biết, chỉ có thể đối với con người đã đạt đến Con Đường Dự Bị, hay một điểm tiến hoá rất xác định nào đó.
9. It appears, in this sentence, that the “certain very definite point in evolution” is equivalent to the Probationary Path.
9. Có vẻ như, trong câu này, “một điểm tiến hoá rất xác định nào đó” tương đương với Con Đường Dự Bị.
10. If it is so “definite”, one wonders exactly what the Masters ‘see’ to confirm that this point in evolution has been reached. Perhaps there are certain activation in the fifth petal of the egoic lotus which reveal the status.
10. Nếu nó “xác định” đến như vậy, người ta tự hỏi chính xác các Chân sư “thấy” điều gì để xác nhận rằng điểm tiến hoá này đã đạt tới. Có lẽ có những sự hoạt hóa nhất định trong cánh hoa thứ năm của Hoa Sen Chân Ngã bộc lộ tình trạng ấy.
11. The obvious implication is by far the vast majority of human beings are not aligned with the Ego, much less directed or consciously directed by that Ego.
11. Hàm ý hiển nhiên là đại đa số con người không được chỉnh hợp với chân ngã, huống chi được chân ngã ấy điều khiển hay điều khiển một cách có ý thức.
12. We also realize that alignment with the Ego is certainly possible before a man has taken the first initiation, as the Probationary Path begins before the first degree is consummated.
12. Chúng ta cũng nhận ra rằng sự chỉnh hợp với chân ngã chắc chắn có thể xảy ra trước khi một người trải qua lần điểm đạo thứ nhất, vì Con Đường Dự Bị bắt đầu trước khi cấp độ thứ nhất được hoàn tất.
13. A the initial reversal of the wheel, some degree of alignment with the Ego occurs.
13. Khi bánh xe bắt đầu đảo chiều, một mức độ chỉnh hợp nào đó với chân ngã xuất hiện.
Through knowledge and practice, the power has been acquired of automatically and scientifically utilising the sutratma (or channel) as a means of contact.
Thông qua tri thức và thực hành, quyền năng đã được đạt tới để tự động và một cách khoa học sử dụng sutratma (hay kênh dẫn) như một phương tiện tiếp xúc.
14. We note it is the “life thread” by means of which the personality contacts the Ego. DK is not here speaking of even the lower portion of the antahkarana connecting the mental unit with the causal body, though such a link is implied. Yet, since he is speaking of “power” to contact the Ego, it is understandable why the sutratma is necessary for such contact. The power to achieve certain levels of consciousness precedes the achievement of consciousness itself.
14. Chúng ta lưu ý rằng chính “sợi dây sự sống” là phương tiện nhờ đó phàm ngã tiếp xúc với chân ngã. Ở đây Chân sư DK không nói đến ngay cả phần thấp hơn của antahkarana nối đơn vị hạ trí với thể nguyên nhân, dù một liên kết như thế được hàm ý. Tuy nhiên, vì ông đang nói đến “quyền năng” để tiếp xúc với chân ngã, nên có thể hiểu được vì sao sutratma là cần thiết cho sự tiếp xúc ấy. Quyền năng để đạt tới những cấp độ tâm thức nhất định đi trước sự đạt được chính tâm thức ấy.
15. It is the ‘energy presence’ of the Ego which is utilized to achieve contact.
15. Chính “sự hiện diện năng lượng” của chân ngã được sử dụng để đạt được sự tiếp xúc.
16. Without practice, knowledge alone will not provide the necessary contact.
16. Nếu không có thực hành, chỉ riêng tri thức sẽ không cung cấp được sự tiếp xúc cần thiết.
17. Apparently, even upon the Probationary Path, the contact is to be automatic and scientifically executed.
17. Dường như, ngay cả trên Con Đường Dự Bị, sự tiếp xúc cũng phải được thực hiện một cách tự động và khoa học.
When to this ability is added that of utilising with equal ease the antaskarana (or bridge between the Triad and the personality) then we have a powerful agent of the Hierarchy on the earth.
Khi vào khả năng này được thêm vào khả năng sử dụng antaskarana với sự dễ dàng tương đương (hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã) thì chúng ta có một tác nhân hùng mạnh của Thánh Đoàn trên trần gian.
18. To be a true and powerful “agent of the Hierarchy on earth” necessitates contact with the spiritual triad. Power (the will aspect) descends via the antahkarana. True hierarchical workers are triadally focussed.
18. Để là một “tác nhân của Thánh Đoàn trên trần gian” chân chính và hùng mạnh, cần phải có sự tiếp xúc với Tam Nguyên Tinh Thần. Quyền năng (phương diện ý chí) giáng xuống qua antahkarana. Những người hoạt động đích thực của Thánh đoàn được tập trung trong Tam nguyên tinh thần.
19. For those of us who may find the process of building and utilising the antahkarana somewhat vague, DK assures us that utilization of this more subtle “inner organ” is to become as easy as utilizing one’s contact with the causal body (the vehicle of the soul)—i.e., utilizing the lower portion of the “bridge”.
19. Đối với những ai trong chúng ta có thể thấy tiến trình xây dựng và sử dụng antahkarana phần nào mơ hồ, Chân sư DK bảo đảm với chúng ta rằng việc sử dụng “cơ quan nội tại” tinh tế hơn này sẽ trở nên dễ dàng như việc sử dụng sự tiếp xúc của mình với thể nguyên nhân (vận cụ của linh hồn)—tức là, sử dụng phần thấp của “cây cầu”.
20. The antahkarana gives access to the true Ego—the spiritual triad. That which we call the Ego on the two lower subplanes of the higher mental plane is the Ego ‘enshrouded’ in the causal body.
20. Antahkarana cho phép tiếp cận chân ngã đích thực—Tam nguyên tinh thần. Điều mà chúng ta gọi là chân ngã trên hai cõi phụ thấp của Cõi thượng trí là chân ngã được ‘bao bọc’ trong thể nguyên nhân.
We might generalise in the following manner as to the stages of growth and consequent ability to become the agent of ever increasing powers,
Chúng ta có thể khái quát hóa theo cách sau đây về các giai đoạn tăng trưởng và năng lực hệ quả để trở thành tác nhân của những quyền năng ngày càng gia tăng,
21. The “powers” are resident ‘above’ and descend when proper contact is established.
21. Các “quyền năng” cư ngụ ở ‘bên trên’ và giáng xuống khi sự tiếp xúc thích đáng được thiết lập.
22. Ponder on the thought—“ever-increasing powers”.
22. Hãy suy ngẫm về tư tưởng—“những quyền năng ngày càng gia tăng”.
tapping the resources of dynamic energy in the three worlds.
khai mở các nguồn lực của năng lượng năng động trong ba cõi giới.
23. Dynamic energy is of the will, of the Spirit and to a lesser extent of the Triad.. Dynamic energy is capable of creating ‘movements’ within the lower three worlds. In addition there are energies within the lower three worlds which contact with higher sources (for instance, the Ego or Triad) will set loose.
23. Năng lượng năng động thuộc về ý chí, thuộc về tinh thần và ở mức độ thấp hơn thuộc về Tam nguyên tinh thần.. Năng lượng năng động có khả năng tạo ra những ‘chuyển động’ trong ba cõi thấp. Ngoài ra còn có những năng lượng bên trong ba cõi thấp mà sự tiếp xúc với các nguồn cao hơn (chẳng hạn chân ngã hay Tam nguyên tinh thần) sẽ giải phóng ra.
Lower types of humanity use the sutratma as it passes through the etheric body.
Những loại thấp của nhân loại sử dụng sutratma khi nó đi qua thể dĩ thái.
24. The sutratma always supports of empowers the consciousness of the vibratory field through which it passes. There can be no consciousness without life support.
24. Sutratma luôn nâng đỡ hoặc tiếp năng lực cho tâm thức của trường rung động mà nó đi qua. Không thể có tâm thức nếu không có sự nâng đỡ của sự sống.
25. Such people (“lower types of humanity”) are basically physically polarized, recognizing that the etheric body is essentially a physical vehicle.
25. Những người như thế (“những loại thấp của nhân loại”) về căn bản được phân cực hồng trần, nhận biết rằng thể dĩ thái về bản chất là một vận cụ hồng trần.
26. The first personality vehicle to become fully activated is the etheric-physical body. This is literally and symbolically a Lemurian activation.
26. Vận cụ phàm ngã đầu tiên trở nên được hoạt hóa đầy đủ là thể dĩ thái-hồng trần. Điều này theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa biểu tượng là một sự hoạt hóa Lemuria.
Average men utilise almost entirely that part of the sutratma which passes through the astral plane. Their reactions are largely based on desire, and are emotional.
Những người trung bình sử dụng gần như hoàn toàn phần sutratma đi qua cõi cảm dục. Những phản ứng của họ phần lớn dựa trên dục vọng, và mang tính cảm xúc.
27. Average man is definitely emotional in his responses. Average man is rather Atlantean in consciousness. Yet average men, also think (though that thinking be kama-manasic). Thus, the use of the term, “almost entirely”.
27. Con người trung bình rõ rệt là cảm xúc trong các đáp ứng của y. Con người trung bình khá Atlantis trong tâm thức. Tuy nhiên, những người trung bình cũng suy nghĩ (dù sự suy nghĩ ấy là trí-cảm). Vì vậy mới dùng cụm từ “gần như hoàn toàn”.
28. The sutratma (being the “life thread”) naturally passes through all personality vehicles, without which they could not be sustained in livingness.
28. Sutratma (vốn là “sợi dây sự sống”) tự nhiên đi qua mọi vận cụ phàm ngã, nếu không có nó thì chúng không thể được duy trì trong trạng thái sống động.
Intellectual men utilise the sutratma as it passes through the lower levels of the mental plane, down through the astral to the physical in its two sections.
Những người trí thức sử dụng sutratma khi nó đi qua các mức thấp của cõi trí, đi xuống qua cõi cảm dục đến cõi hồng trần trong hai phần của nó.
29. At each successive stage, the progressing man does not lose the sutratma function that demonstrates in the previous stage or stages.
29. Ở mỗi giai đoạn kế tiếp, con người đang tiến hóa không đánh mất chức năng của sutratma đã biểu lộ trong giai đoạn hay các giai đoạn trước đó.
30. Intellectual man is definitely focussed in his lower concrete mind. If a human being were focussed any higher upon the mental plane, he would no longer be strictly “intellectual”.
30. Con người trí thức rõ rệt được tập trung trong hạ trí cụ thể của y. Nếu một con người được tập trung cao hơn trên cõi trí, y sẽ không còn hoàn toàn là “trí thức” nữa.
Their activities are energised by mind and not by desire, as in the earlier cases.
Các hoạt động của họ được tiếp năng lượng bởi trí tuệ chứ không phải bởi dục vọng, như trong các trường hợp trước.
31. Still very few human beings are those whose activities are energized principally by mind. It is not said that no desire is involved in this higher type of energizing.
31. Tuy vậy, vẫn có rất ít con người mà các hoạt động của họ được tiếp năng lượng chủ yếu bởi trí tuệ. Không phải là nói rằng không có dục vọng nào dính líu trong kiểu tiếp năng lượng cao hơn này.
32. Have you checked the sources of your own motivation? Have mental motivations superseded emotionally-based motivations?
32. Các bạn đã kiểm tra các nguồn động cơ của chính mình chưa? Những động cơ trí tuệ đã thay thế các động cơ dựa trên cảm xúc chưa?
Aspirants on the physical plane
Những người chí nguyện trên cõi hồng trần
33. DK seems to be hinting that there are effective aspirants on the subtler planes.
33. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng có những người chí nguyện hữu hiệu trên các cõi tinh tế hơn.
use the sutratma as it passes through the two lower subplanes of the abstract levels of the mental plane, and are beginning gradually to build the antaskarana, or the bridge between the Triad and the Personality. The power of the Ego can begin to make itself felt
sử dụng sutratma khi nó đi qua hai cõi phụ thấp của các mức trừu tượng của cõi trí, và đang bắt đầu dần dần xây dựng antaskarana, hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã. Quyền năng của chân ngã có thể bắt đầu làm cho chính nó được cảm nhận
34. Technically, the aspirant has advanced to a higher stage of development than the strictly intellectual man, though many aspirants have preserved their intellectual orientation.
34. Về mặt kỹ thuật, người chí nguyện đã tiến đến một giai đoạn phát triển cao hơn con người thuần túy trí thức, dù nhiều người chí nguyện vẫn giữ định hướng trí thức của mình.
35. We might ask whether the stage of aspiration begins before the Ego is focussed on the second subplane of the mental plane. Apparently this is the case. Even though the Ego of average man and even of intellectual man is polarized on the third subplane of the mental plane, the sutratma does not activate the third level of the abstract mental plane until the man has become an aspirant.
35. Chúng ta có thể hỏi liệu giai đoạn chí nguyện có bắt đầu trước khi chân ngã được tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi trí hay không. Rõ ràng là như vậy. Dù chân ngã của con người trung bình và ngay cả của con người trí thức được phân cực trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, sutratma không hoạt hóa mức thứ ba của cõi trí trừu tượng cho đến khi con người ấy đã trở thành một người chí nguyện.
36. Here the antahkarana is defined as the “bridge between the Triad and the Personality”. In other contexts, the entire triangle connecting the mental unit, the Jewel in the Lotus and the manasic permanent atom is seen as the antahkarana.
36. Ở đây antahkarana được định nghĩa là “cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và Phàm ngã”. Trong những ngữ cảnh khác, toàn bộ tam giác nối đơn vị hạ trí, Viên Ngọc trong Hoa Sen và nguyên tử trường tồn manas được xem là antahkarana.
37. We have here the implication that for the aspirant some degree of abstract or higher mental thought is present for the higher mental plane is involved in their internal energy dynamics.
37. Ở đây hàm ý rằng đối với người chí nguyện, một mức độ nào đó của tư tưởng trừu tượng hay tư tưởng thượng trí hiện diện, vì Cõi thượng trí có liên quan trong động lực năng lượng nội tại của họ.
38. An aspirant is definitely subject to egoic influence whereas a strictly intellectual man is not.
38. Người chí nguyện rõ rệt chịu ảnh hưởng chân ngã, trong khi con người thuần túy trí thức thì không.
39. Even as an aspirant, one can begin to build the antahkarana.
39. Ngay cả khi là một người chí nguyện, người ta vẫn có thể bắt đầu xây dựng antahkarana.
40. The term “aspirant” covers a wide range of development as even an initiate of the second degree can be considered an aspirant.
40. Thuật ngữ “người chí nguyện” bao trùm một phạm vi phát triển rất rộng, vì ngay cả một điểm đạo đồ của cấp thứ hai cũng có thể được xem là một người chí nguyện.
41. From what is said below we may gather that the term “aspirant” (as just used above) indicates one who has stepped upon the Probationary Path but is not necessarily an initiate of the first degree. The Ego refocuses its polarization onto the second subplane of the mental plane when the individual becomes an aspirant. Such re-polarization may even be true of an “advanced man”. In this case “advanced man” would indicate a stage higher than strictly intellectual man.
41. Từ điều được nói bên dưới, chúng ta có thể suy ra rằng thuật ngữ “người chí nguyện” (như vừa được dùng ở trên) chỉ người đã bước lên Con Đường Dự Bị nhưng chưa nhất thiết là một điểm đạo đồ của cấp thứ nhất. Chân ngã tái tập trung sự phân cực của nó lên cõi phụ thứ hai của cõi trí khi cá nhân trở thành một người chí nguyện. Sự tái phân cực như thế thậm chí có thể đúng với một “con người tiến bộ”. Trong trường hợp này, “con người tiến bộ” sẽ chỉ một giai đoạn cao hơn con người thuần túy trí thức.
42. Some types of intellectual men (at least we call them that) have access also to the abstract mind. DK speaks of intellectual man as if he were only capable of thinking concretely. The higher types of intellectual men have the capacity for abstract thought. Perhaps, in DK’s terminology, we would have to call them “aspirants”.
42. Một số loại người trí thức (ít nhất chúng ta gọi họ như thế) cũng có khả năng tiếp cận cả trí trừu tượng. Chân sư DK nói về con người trí thức như thể y chỉ có khả năng suy nghĩ cụ thể. Những loại người trí thức cao hơn có năng lực tư tưởng trừu tượng. Có lẽ, theo thuật ngữ của Chân sư DK, chúng ta sẽ phải gọi họ là “những người chí nguyện”.
Applicants for initiation and initiates up to the third initiation use both the sutratma and the antaskarana, employing them as a unit.
Những người xin điểm đạo và các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ ba sử dụng cả sutratma và antaskarana, dùng chúng như một đơn vị.
43. The antahkarana is employed as the human being becomes increasingly conscious.
43. Antahkarana được sử dụng khi con người trở nên ngày càng hữu thức.
44. When DK speaks of “applicants for initiation” it seems He is including even applicants for the first initiation. He seems to discriminate between aspirants/probationers and those who are truly “applicants” even for the first degree.
44. Khi Chân sư DK nói về “những người xin điểm đạo”, dường như Ngài bao gồm cả những người xin lần điểm đạo thứ nhất. Dường như Ngài phân biệt giữa những người chí nguyện/người dự bị và những ai thật sự là “người xin” ngay cả đối với cấp thứ nhất.
45. It might be that the type of “applicant” which Master DK has in mind is no lower than the applicant to the second degree, at which time the antahkarana is built to a noticeable extent.
45. Có thể loại “người xin” mà Chân sư DK nghĩ đến không thấp hơn người xin cấp thứ hai, vào lúc mà antahkarana đã được xây dựng đến một mức đáng kể.
46. To use the sutratma and antahkarana simultaneously suggests an empowered penetration into higher worlds. This simultaneous usage reminds one of the phase of projection in the sixfold method of building the antahkarana.
46. Việc sử dụng sutratma và antahkarana đồng thời gợi ý một sự xuyên nhập được tiếp năng lực vào các thế giới cao hơn. Việc sử dụng đồng thời này gợi nhớ đến giai đoạn phóng chiếu trong phương pháp lục phân xây dựng antahkarana.
The power of the Triad begins to pour through, thus energising all human [Page 960] activities upon the physical plane, and vitalising in ever increasing degree the man's thought forms.
Quyền năng của Tam nguyên tinh thần bắt đầu tuôn chảy qua, nhờ đó tiếp năng lượng cho mọi hoạt động của con người [Page 960] trên cõi hồng trần, và tiếp sinh lực ở mức độ ngày càng tăng cho các hình tư tưởng của con người.
47. We are speaking of the process of thoughtform vitalization as it occurs for those who are applicants for initiation.
47. Chúng ta đang nói về tiến trình tiếp sinh lực cho hình tư tưởng như nó xảy ra nơi những người xin điểm đạo.
48. Where there is triadal contact, all aspects of human nature are energized.
48. Ở đâu có sự tiếp xúc tam nguyên tinh thần, mọi phương diện của bản chất con người đều được tiếp năng lượng.
49. Can we discriminate within ourselves between—
49. Chúng ta có thể phân biện trong chính mình giữa—
a. Thoughtforms energized from the lower levels of the mental plane
a. Những hình tư tưởng được tiếp năng lượng từ các mức thấp của cõi trí
b. Thoughtforms energized from the Ego on the third and second subplane of the mental plane
b. Những hình tư tưởng được tiếp năng lượng từ chân ngã trên cõi phụ thứ ba và thứ hai của cõi trí
c. Thoughtforms energized body the power of the Triad
c. Những hình tư tưởng được tiếp năng lượng bởi quyền năng của Tam nguyên tinh thần
The key to the formation of the Mayavirupa is found in the right comprehension of the process.
Chìa khóa cho sự hình thành của Mayavirupa được tìm thấy trong sự thấu hiểu đúng đắn về tiến trình này.
50. It is clear that the mayavirupa is formed from an impulse originating within the spiritual triad. It may be supposed that the impact of triadal energy upon the lower mental field creates the mental thoughtform on which the mayavirupa is to be built. As the mayavirupa cannot be formed until after the fourth initiation, and as, following the fourth initiation there is no mental unit, per se, the triadal energy must recreate a kind of mental unit through which to work on the lower mental plane in carrying forward this act of creation.
50. Rõ ràng là mayavirupa được hình thành từ một xung lực phát sinh bên trong Tam nguyên tinh thần. Có thể giả định rằng tác động của năng lượng tam nguyên tinh thần lên trường hạ trí tạo ra hình tư tưởng trí tuệ mà trên đó mayavirupa sẽ được xây dựng. Vì mayavirupa không thể được hình thành cho đến sau lần điểm đạo thứ tư, và vì sau lần điểm đạo thứ tư không còn đơn vị hạ trí, chính nó, nên năng lượng tam nguyên tinh thần phải tái tạo một loại đơn vị hạ trí nào đó để hoạt động qua đó trên cõi hạ trí trong khi xúc tiến hành vi sáng tạo này.
If students will study carefully the above differentiations, much light will be thrown upon the quality of the energy employed in thought-form building.
Nếu các đạo sinh nghiên cứu cẩn thận những sự phân biệt trên, nhiều ánh sáng sẽ được soi rọi lên phẩm tính của năng lượng được sử dụng trong việc xây dựng hình tư tưởng.
51. Our immediate task is to understand the levels from which our thoughtforms are impulsed. Probably for all, there is a mixture of effective impulses. Perhaps our thoughtforms are more concrete than we may have supposed?
51. Nhiệm vụ trước mắt của chúng ta là thấu hiểu những cấp độ mà từ đó các hình tư tưởng của chúng ta được thúc đẩy. Có lẽ đối với tất cả mọi người, có một sự pha trộn của các xung lực hữu hiệu. Có lẽ các hình tư tưởng của chúng ta cụ thể hơn điều chúng ta từng giả định?
In the early stages of alignment, it has to be concisely and carefully brought about through concentration and meditation.
Trong các giai đoạn đầu của sự chỉnh hợp, nó phải được được tạo ra một cách súc tích và cẩn thận qua sự tập trung và tham thiền.
52. This is the method of “practice” which DK mentioned above.
52. Đây là phương pháp “thực hành” mà Chân sư DK đã đề cập ở trên.
53. We learn that alignment is not a natural process but rather an achievement hardly won. This we can verify for ourselves if we have become sensitive to the times when we are truly aligned and the many moments when we may not be.
53. Chúng ta học được rằng sự chỉnh hợp không phải là một tiến trình tự nhiên mà đúng hơn là một thành tựu khó nhọc mới đạt được. Chúng ta có thể tự kiểm chứng điều này nếu đã trở nên nhạy cảm với những lúc mình thật sự được chỉnh hợp và nhiều khoảnh khắc khi mình có thể không được như vậy.
Later, when the right rhythm has been set up in the bodies, and the purification of the sheaths has been rigidly pursued, the dual activity will become practically instantaneous,
Về sau, khi nhịp điệu đúng đắn đã được thiết lập trong các thể, và sự thanh luyện các thể vỏ đã được theo đuổi một cách nghiêm ngặt, hoạt động kép sẽ trở nên hầu như tức thời,
54. Concentration and meditation become practically instantaneous.
54. Sự tập trung và tham thiền trở nên hầu như tức thời.
55. Notice the requirements—right rhythm and purification. It would seem that each body must be rendered rhythmic, rather than characterized by disjointed activity or even chaos, and that the rhythm in one vehicle must correlate relatively harmoniously with the rhythm in the other two.
55. Hãy lưu ý các yêu cầu—nhịp điệu đúng đắn và sự thanh luyện. Dường như mỗi thể phải được làm cho có nhịp điệu, thay vì mang đặc tính hoạt động rời rạc hay thậm chí hỗn loạn, và nhịp điệu trong một vận cụ phải tương quan tương đối hài hòa với nhịp điệu trong hai vận cụ kia.
56. What comes to mind when you think of submitting your three personality vehicles to “right rhythm”? Perhaps it is not so difficult when thinking of the physical body, but what of the astral vehicle or the lower mental vehicle?
56. Điều gì xuất hiện trong tâm trí các bạn khi nghĩ đến việc đặt ba vận cụ phàm ngã của mình dưới “nhịp điệu đúng đắn”? Có lẽ điều đó không quá khó khi nghĩ đến thể xác, nhưng còn vận cụ cảm dục hay vận cụ hạ trí thì sao?
57. Perhaps giving due attention to cycles of activity and of receptivity/passivity will give a necessary clue.
57. Có lẽ việc chú ý thích đáng đến các chu kỳ hoạt động và tiếp nhận/thụ động sẽ cung cấp một đầu mối cần thiết.
and the student can then turn his attention to the work of conscious building and vitalisation; his point of concentration will not then be given to the attainment of alignment.
và khi đó đạo sinh có thể hướng sự chú ý của mình đến công việc xây dựng và tiếp sinh lực một cách hữu thức; khi ấy điểm tập trung của y sẽ không còn dành cho việc đạt được sự chỉnh hợp nữa.
58. Let us tabulate the sequence:
58. Chúng ta hãy lập bảng trình tự:
a. Concentration
a. Tập trung
b. Meditation
b. Tham thiền
c. Conscious building
c. Xây dựng hữu thức
d. Vitalization
d. Tiếp sinh lực
59. If there is to be conscious building and vitalization, then concentration cannot be constantly expended on the attainment of alignment.
59. Nếu phải có sự xây dựng và tiếp sinh lực một cách hữu thức, thì sự tập trung không thể liên tục bị tiêu hao vào việc đạt được sự chỉnh hợp.
60. We can see why it is so important to achieve alignment before any really creative work can be accomplished. One must not leap into supposed creativity before one is sure that alignment is established.
60. Chúng ta có thể thấy vì sao việc đạt được sự chỉnh hợp lại quan trọng đến thế trước khi bất kỳ công việc sáng tạo thực sự nào có thể được hoàn thành. Người ta không được lao vào cái gọi là sáng tạo trước khi chắc chắn rằng sự chỉnh hợp đã được thiết lập.
Accurate alignment entails,
Sự chỉnh hợp chính xác bao hàm,
Mental quiescence, or stable vibration,
Sự tĩnh lặng của thể trí, hay rung động ổn định,
61. The contents of the mind cannot be ‘leaping about’ or it will disturb the energy which seeks to descend.
61. Nội dung của thể trí không thể ‘nhảy loạn lên’ nếu không nó sẽ làm xáo trộn năng lượng đang tìm cách giáng xuống.
62. Steady, long breaths will assist in the quieting of the mind.
62. Những hơi thở dài và đều sẽ giúp làm lắng dịu thể trí.
Emotional stability, resulting in limpid reflection,
Sự ổn định cảm xúc, đưa đến sự phản chiếu trong sáng,
63. Eventually, the emotional body is to be a reflector of the intuition or buddhi.
63. Cuối cùng, thể cảm dục phải trở thành một tấm phản chiếu của trực giác hay Bồ đề.
64. We all know that it is impossible to meditate properly in a state of emotional agitation. One must first calm down.
64. Tất cả chúng ta đều biết rằng không thể tham thiền đúng đắn trong trạng thái kích động cảm xúc. Trước hết người ta phải bình tĩnh lại.
65. What would be the quality of thoughtforms built while in an emotional state? They would hardly reflect the Ego.
65. Phẩm tính của những hình tư tưởng được xây dựng trong khi ở trong trạng thái cảm xúc sẽ là gì? Chúng khó có thể phản chiếu chân ngã.
66. The type of meditation we are studying is not kama-manasic.
66. Loại tham thiền mà chúng ta đang nghiên cứu không phải là trí-cảm.
Etheric poise, producing a condition in the head centre which would permit of the direct application of force to the physical brain via the centre.
Sự quân bình dĩ thái, tạo ra một tình trạng trong trung tâm đầu cho phép mãnh lực được áp dụng trực tiếp vào bộ não hồng trần qua trung tâm ấy.
67. This is a poised quiescence of the ethers. Again, long, steady breaths will facilitate this. Both aspects of the physical apparatus (the etheric and the dense physical) must be quieted.
67. Đây là một sự tĩnh lặng quân bình của các dĩ thái. Một lần nữa, những hơi thở dài và đều sẽ tạo thuận lợi cho điều này. Cả hai phương diện của bộ máy hồng trần (dĩ thái và hồng trần đậm đặc) đều phải được làm cho yên lặng.
68. We are given the mode through which the dense physical brain can be impacted from the etheric levels. The line of transmission seems to be from the head center above the head, through the etheric brain and thence to the dense physical brain.
68. Chúng ta được cho biết phương thức mà qua đó bộ não hồng trần đậm đặc có thể nhận tác động từ các mức dĩ thái. Đường truyền dường như là từ trung tâm đầu phía trên đầu, qua não dĩ thái và từ đó đến bộ não hồng trần đậm đặc.
69. We have examined alignment and now take up the question of “physical brain impression”.
69. Chúng ta đã khảo sát sự chỉnh hợp và giờ đây bàn đến vấn đề “sự ghi nhận của bộ não hồng trần”.
c. Physical brain impression. The accurate realisation by the physical brain of what the Ego is seeking to convey concerning the work to be done only becomes possible when two things are realised:
c. Sự ghi nhận của bộ não hồng trần. Sự chứng nghiệm chính xác của bộ não hồng trần về điều mà chân ngã đang tìm cách truyền đạt liên quan đến công việc phải làm chỉ trở nên khả hữu khi hai điều được chứng nghiệm:
70. Within the dense physical brain there must be accurate egoic impression. This means that we, in our normal, waking consciousness, must know what it is that the Ego intends. Are we truly aware of such impression? And if so, with accuracy?
70. Trong bộ não hồng trần đậm đặc phải có sự ghi nhận chân ngã chính xác. Điều này có nghĩa là chúng ta, trong tâm thức thức tỉnh bình thường của mình, phải biết điều mà chân ngã dự định. Chúng ta có thật sự nhận biết được sự ghi nhận ấy không? Và nếu có, có chính xác không?
Direct alignment.
Sự chỉnh hợp trực tiếp.
71. Direct, unimpeded alignment is required, and the meditator must realize that it is occurring.
71. Cần có sự chỉnh hợp trực tiếp, không bị cản trở, và người hành thiền phải chứng nghiệm rằng điều đó đang xảy ra.
The transmission of the egoic energy or will to one or other of the three physical centres in the head:
Sự truyền dẫn năng lượng hay ý chí chân ngã đến một trong ba trung tâm hồng trần trong đầu:
72. These glands are definitely involved in the process of transmission. Note, however, that DK speaks of the alta major center and not of the carotid gland. Yet, what is the meaning of the term “centre”?
72. Những tuyến này rõ rệt có liên quan trong tiến trình truyền dẫn. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng Chân sư DK nói đến trung tâm alta major chứ không phải tuyến cảnh. Tuy vậy, ý nghĩa của thuật ngữ “trung tâm” là gì?
The pineal gland.
Tuyến tùng quả.
The pituitary body.
Thể tuyến yên.
The alta major centre, or that nerve centre at the top of the spine, where the cranium and the spine make approximate contact.
Trung tâm alta major, hay trung tâm thần kinh ở đỉnh cột sống, nơi hộp sọ và cột sống tiếp xúc xấp xỉ với nhau.
73. Perhaps His use of the word “center” does not signify an etheric center but, rather, a physical center. The term “center” can indicate either.
73. Có lẽ việc Ngài dùng từ “trung tâm” không chỉ một trung tâm dĩ thái mà đúng hơn là một trung tâm hồng trần. Thuật ngữ “trung tâm” có thể chỉ một trong hai.
When this congery of nerves is fully developed,
Khi cụm dây thần kinh này được phát triển đầy đủ,
74. DK is definitely speaking in physical terms. He is not indicating, in this reference, an etheric center.
74. Chân sư DK rõ rệt đang nói theo thuật ngữ hồng trần. Trong chỗ dẫn này, Ngài không chỉ một trung tâm dĩ thái.
it forms a centre of communication between the vital energy of the spinal column (the kundalini fire) and the energy of the two head centres above enumerated.
nó tạo thành một trung tâm giao tiếp giữa sinh lực của cột sống (lửa kundalini) và năng lượng của hai trung tâm đầu được liệt kê ở trên.
75. This is a most important piece of occultism. We see that there can be no true connection between the kundalini and the higher centers in the head unless the alta major center, physically considered, plays its role.
75. Đây là một điểm huyền bí học hết sức quan trọng. Chúng ta thấy rằng không thể có sự nối kết chân thực nào giữa kundalini và các trung tâm cao hơn trong đầu trừ khi trung tâm alta major, xét về mặt hồng trần, đóng vai trò của nó.
It is the physical correspondence to the antaskarana on higher levels. [Page 961]
Nó là sự tương ứng hồng trần với antaskarana trên các mức cao hơn. [Page 961]
76. There is also an etheric correspondence to the antahkarana at this anatomical location, but DK seems to be referencing the alta major nerve center or congery of nerves as a kind of lower correspondence to the antahkarana.
76. Cũng có một sự tương ứng dĩ thái với antahkarana tại vị trí giải phẫu này, nhưng Chân sư DK dường như đang nói đến trung tâm thần kinh alta major hay cụm dây thần kinh như một loại tương ứng thấp với antahkarana.
CHART X — THE SCIENCE OF MEDITATION
BIỂU ĐỒ X — KHOA HỌC THAM THIỀN
77. We can learn certain things of importance by studying this chart.
77. Chúng ta có thể học được một số điều quan trọng bằng cách nghiên cứu biểu đồ này.
78. Note that the spiritual triad (atma/buddhi/manas) is directly reflected in the Ego on the higher mental plane. We might consider the sacrifice petals the reflection of atma; the love petals the reflection of buddhi; and the knowledge petals as the reflection of manas.
78. Hãy lưu ý rằng Tam nguyên tinh thần (atma/buddhi/manas) được phản chiếu trực tiếp trong chân ngã trên Cõi thượng trí. Chúng ta có thể xem các cánh hoa hi sinh là sự phản chiếu của atma; các cánh hoa bác ái là sự phản chiếu của buddhi; và các cánh hoa tri thức là sự phản chiếu của manas.
79. We also notice that there is a direct alignment with atma (as it is reflected within the Ego on the higher mental plane) and the mental unit. Obviously, then, the mental unit is an instrument for conveying the will.
79. Chúng ta cũng nhận thấy rằng có một sự chỉnh hợp trực tiếp với atma (như nó được phản chiếu trong chân ngã trên Cõi thượng trí) và đơn vị hạ trí. Hiển nhiên, như vậy, đơn vị hạ trí là một công cụ để truyền đạt ý chí.
80. The mental unit is the only permanent atom (of a kind) that is directly connected to the reflection of atma, buddhi or manas within the Ego.
80. Đơn vị hạ trí là nguyên tử trường tồn duy nhất (theo một nghĩa nào đó) được trực tiếp nối kết với sự phản chiếu của atma, buddhi hay manas bên trong chân ngã.
81. The manasic portion of the Ego does, however, connect with the alta major center. The buddhic portion of the Ego connects with the pituitary body. The atmic portion of the ego does, also, connect with the pineal gland.
81. Tuy nhiên, phần manas của chân ngã có nối kết với trung tâm alta major. Phần Bồ đề của chân ngã nối kết với thể tuyến yên. Phần atma của chân ngã cũng nối kết với tuyến tùng quả.
82. We notice, by studying the vertical dotted line, that the atmic portion extends its influence through all members of the atomic triangle, but the line is only solid in relation to the mental unit.
82. Khi nghiên cứu đường chấm dọc, chúng ta nhận thấy rằng phần atma mở rộng ảnh hưởng của nó qua mọi thành viên của tam giác nguyên tử, nhưng đường này chỉ là đường liền đối với đơn vị hạ trí.
83. Since the members of the atomic triangle are directing centers with respect to the three lower vehicles, we can understand why they are all connected to the atmic portion of the Ego.
83. Vì các thành viên của tam giác nguyên tử là những trung tâm chỉ đạo đối với ba vận cụ thấp, chúng ta có thể hiểu vì sao tất cả chúng đều được nối kết với phần atma của chân ngã.
84. In this particular map, however, we do not see the permanent atoms of the spiritual triad represented as connected to the atmic, buddhic, and manasic portions of the Ego on the higher mental plane. Other charts seem to show this connection.
84. Tuy nhiên, trong sơ đồ đặc biệt này, chúng ta không thấy các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần được trình bày như nối kết với các phần atma, Bồ đề và manas của chân ngã trên Cõi thượng trí. Những biểu đồ khác dường như cho thấy sự nối kết này.
[Page 962]
[Page 962]
The pituitary body (in all cases of correct normal development) forms the centre which receives the threefold vitalisation pouring through the sutratma from the lower mental, the astral, and the etheric planes.
Thể tuyến yên (trong mọi trường hợp phát triển bình thường đúng đắn) tạo thành trung tâm tiếp nhận sự tiếp sinh lực tam phân tuôn chảy qua sutratma từ cõi hạ trí, cõi cảm dục và cõi dĩ thái.
85. The pituitary body is particularly connected with the personality composed of the mental, astral and etheric-physical bodies.
85. Thể tuyến yên đặc biệt liên hệ với phàm ngã gồm thể trí, thể cảm dục và thể dĩ thái-hồng trần.
86. Notice, however, that the Tibetan speaks of “planes” and not of bodies, per se. Reception within the pituitary body from planes, and not just from within the personality vehicles, is suggested.
86. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng nói đến “các cõi” chứ không phải các thể, chính chúng. Điều này gợi ý sự tiếp nhận trong thể tuyến yên từ các cõi, chứ không chỉ từ bên trong các vận cụ phàm ngã.
87. One wonders what may befall the pituitary body in cases of abnormal development.
87. Người ta tự hỏi điều gì có thể xảy đến với thể tuyến yên trong những trường hợp phát triển bất thường.
88. Notice that, in this context, we are speaking of the sutratma and of vitalization and not of consciousness, per se.
88. Hãy lưu ý rằng, trong ngữ cảnh này, chúng ta đang nói về sutratma và về sự tiếp sinh lực chứ không phải về tâm thức, chính nó.
89. The sutratma is really the attenuated presence of the Monad in all phases of personality life. With this attenuated presence comes attenuated monadic awareness. The presence of life supports the presence of consciousness.
89. Sutratma thực sự là sự hiện diện được làm mảnh đi của chân thần trong mọi giai đoạn của đời sống phàm ngã. Cùng với sự hiện diện được làm mảnh đi này là sự nhận biết chân thần được làm mảnh đi. Sự hiện diện của sự sống nâng đỡ sự hiện diện của tâm thức.
The pineal gland comes into activity when this action is enhanced by the pouring through of energy from the Ego on its own plane.
Tuyến tùng quả đi vào hoạt động khi hoạt động này được tăng cường bởi sự tuôn chảy của năng lượng từ chân ngã trên chính cõi của nó.
90. We learn that there is a direct connection between the Ego “on its own plane” and the pineal gland.
90. Chúng ta học được rằng có một sự nối kết trực tiếp giữa chân ngã “trên chính cõi của nó” và tuyến tùng quả.
91. Usually, “on its own plane” represents the higher mental plane, but the planes of the spiritual triad (characterized by will—thus relating to the pineal gland) may also be indicated.
91. Thông thường, “trên chính cõi của nó” chỉ Cõi thượng trí, nhưng các cõi của Tam nguyên tinh thần (được đặc trưng bởi ý chí—do đó liên hệ với tuyến tùng quả) cũng có thể được hàm ý.
When the antaskarana is in process of utilisation the alta major centre is likewise employed,
Khi antaskarana đang trong tiến trình sử dụng thì trung tâm alta major cũng được dùng,
92. This seems to be a later development, even as the full activation of the base of the spine center comes well after all the other centers (perhaps with the exception of the crown center) are very unfolded.
92. Điều này dường như là một sự phát triển muộn hơn, cũng như sự hoạt hóa đầy đủ của trung tâm đáy cột sống đến rất lâu sau khi mọi trung tâm khác (có lẽ ngoại trừ trung tâm đỉnh đầu) đã được khai mở rất nhiều.
93. It is one thing for the antahkarana to be built and yet another for it to be utilized. The full activation of the alta major center seems to follow the activation of the pituitary body.
93. Việc antahkarana được xây dựng là một chuyện, còn việc nó được sử dụng lại là chuyện khác. Sự hoạt hóa đầy đủ của trung tâm alta major dường như theo sau sự hoạt hóa của thể tuyến yên.
and the three physical head centres begin to work as a unit, thus forming a kind of triangle.
và ba trung tâm đầu hồng trần bắt đầu hoạt động như một đơn vị, nhờ đó hình thành một loại tam giác.
94. The interactivity of these three physical centers is paralleled on the etheric plane by the interactivity of the crown center, the ajna center and the alta major center considered etherically.
94. Sự tương tác của ba trung tâm hồng trần này được song hành trên cõi dĩ thái bởi sự tương tác của trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major xét về mặt dĩ thái.
By the time the third Initiation is reached, this triangle is fully awakened and the fire (or energy) is circulated freely.
Vào lúc lần điểm đạo thứ ba đạt đến, tam giác này hoàn toàn thức tỉnh và lửa (hay năng lượng) được lưu chuyển tự do.
95. VSK notes: “This triangle is implicated in Stanza 1.”
95. VSK ghi chú: “Tam giác này được hàm ý trong Bài kệ 1.”
96. Fire or energy circulates through the physical triangle and also through the etheric triangle.
96. Lửa hay năng lượng lưu chuyển qua tam giác hồng trần và cũng qua tam giác dĩ thái.
It will be apparent, therefore, that man's ability to create in mental matter grows as he treads the Path.
Do đó, sẽ rõ ràng rằng khả năng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ của con người tăng trưởng khi y bước đi trên Con Đường.
97. Higher impulsive sources can be accessed as he evolves.
97. Các nguồn xung lực cao hơn có thể được tiếp cận khi y tiến hóa.
He needs to remember that (from the angle from which we are studying) we are not considering the power of the Ego to produce forms on the mental plane,
Y cần nhớ rằng (từ góc độ mà chúng ta đang nghiên cứu) chúng ta không xét đến quyền năng của chân ngã trong việc tạo ra các hình tướng trên cõi trí,
98. That is a higher type of ability…
98. Đó là một loại năng lực cao hơn…
99. The personality of man is just such a creation, beginning with an Ego-created mental vehicle.
99. Phàm ngã của con người chính là một sáng tạo như thế, bắt đầu với một vận cụ trí tuệ do chân ngã tạo ra.